Vũ Thất

Bảo Bình 1

Sách HOT: Bên Tháng Cuộc (kỳ 10)

1. Bên Thắng Cuộc: Một cuốn sách hay (2)

Nguyễn Hưng Quốc

Về thể loại của Bên Thắng Cuộc, có hai khía cạnh cần chú ý: phương pháp nghiên cứu và cách trình bày.

Về phương pháp, Huy Đức thu thập tài liệu chủ yếu qua các cuộc phỏng vấn, “hàng ngàn cuộc phỏng vấn”, một phương pháp gắn liền với ngành khẩu sử (oral history), một lối viết thịnh hành ở Tây phương từ khoảng cuối thập niên 1960, và trở thành một ngành học ở các đại học Tây phương từ cuối thế kỷ 20. Khẩu sử khác lịch sử. Khác, trước hết, ở nguồn tài liệu: với lịch sử, chủ yếu là các văn bản viết; với khẩu sử, chủ yếu là các lời kể của những người trong cuộc hoặc chứng nhân được thu thập qua các cuộc phỏng vấn. Khác nữa, ở đối tượng: với lịch sử, đó là các tài liệu lịch sử, nói cách khác, lịch sử là lịch sử trên lịch sử; với khẩu sử, đó là ký ức, hoặc ký ức cá nhân hoặc ký ức tập thể. Khác, cuối cùng, còn ở tính chất, như là hệ quả của hai cái khác ở trên: trong khi văn bản viết là những gì đã được công bố, nghĩa là, thứ nhất, thuộc về công chúng; thứ hai, với những mức độ khác nhau, được xác minh, do đó, được xem là ít nhiều đáng tin cậy; các lời kể trong các cuộc phỏng vấn, ngược lại, gắn liền với từng cá nhân, xuất phát từ kinh nghiệm riêng, chúng có thể bị khúc xạ, bị biến dạng, thậm chí, được “viết lại” theo những thay đổi trong tâm lý của người kể. Nói cách khác, trong khi lịch sử là những gì đã được chọn lọc khá kỹ, khẩu sử thường là những vật liệu thô; trong khi những người viết sử như những người làm việc trong các tiệm kim hoàn, những người viết khẩu sử như những người làm việc với vỉa quặng trong các hầm mỏ.

Tuy nhiên, về bản chất, lịch sử và khẩu sử giống nhau ở khá nhiều điểm. Thứ nhất, chúng đều là những hình thức diễn ngôn về quá khứ (discourse about the past) chứ không phải bản thân quá khứ. Quá khứ là những gì đã qua và đã biến mất. Diễn ngôn về quá khứ là những tự sự được xây dựng để tái tạo lại quá khứ ấy nhằm đáp ứng một nhu cầu trong hiện tại. Thứ hai, là diễn ngôn, cả lịch sử lẫn khẩu sử đều có tính chất chủ quan, hoặc của một người hoặc của một nhóm người. Thứ ba, do tính chất chủ quan ấy, cả lịch sử lẫn khẩu sử đều luôn luôn được viết lại. Mỗi thời đại hoặc mỗi thế hệ đều cảm thấy có nhu cầu tái cấu trúc ký ức và diễn dịch lại quá khứ, do đó, bao giờ cũng tìm cách viết lại những gì các thế hệ đi trước đã viết.

Về cách trình bày, Bên Thắng Cuộc có tính chất báo chí hơn là lịch sử. Có hai điểm khác nhau căn bản giữa báo chí và lịch sử: Thứ nhất, trong khi lịch sử nặng về phân tích, báo chỉ nặng về miêu tả; thứ hai, trong việc sử dụng tài liệu, kể cả tư liệu lấy được từ các cuộc phỏng vấn, yêu cầu cao nhất đối với lịch sử là mức độ khả tín, nghĩa là cần được đối chiếu và xác minh cẩn thận; với báo chí, là tính chất tươi ròng của tài liệu; và vì tính chất tươi ròng ấy, nhiều lúc chưa chắc chúng đã chính xác, hoặc nếu chính xác, chưa chắc đã có ý nghĩa tiêu biểu đủ để phản ánh thực chất của vấn đề.

Nhìn Bên Thắng Cuộc như một tác phẩm báo chí dựa trên phương pháp khẩu sử, chúng ta dễ dàng chấp nhận một số khuyết điểm vốn rất dễ thấy trong cuốn sách.

Thứ nhất, về phương diện cấu trúc, đặc biệt ở tập 2, “Quyền bính”; ở đó, thứ nhất, quan hệ giữa các chương không theo một trật tự logic nào cả; thứ hai, giữa các chương cũng không có sự cân đối cần thiết: có một số chương được viết kỹ và nhiều chi tiết (ví dụ về Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt) hơn hẳn các chương khác (ví dụ về Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh). Lý do khá dễ hiểu: Huy Đức không hoàn toàn làm chủ nguồn tư liệu của mình. Với những người anh tiếp cận được dễ, anh viết sâu; với những người ở xa, anh viết cạn. Vậy thôi.

Thứ hai, về vấn đề tư liệu. Huy Đức phỏng vấn rất nhiều người, nhưng không phải TẤT CẢ mọi người ở mọi phía; hơn nữa, anh chưa tiếp cận được những nguồn tài liệu mật của Bộ Chính trị nên nhiều vấn đề vẫn khiến người đọc hoang mang. Trong số đó, có hai vấn đề lớn nhất: Một, việc cuối năm 1967, Hồ Chí Minh thường xuyên sang Trung Quốc dưỡng bệnh và Võ Nguyên Giáp thì được cử đi Hungary. Nhiều người cho đó là một cách nghi binh nhằm che giấu ý đồ tổng tấn công vào Tết Mậu Thân. Huy Đức, theo lời kể của một số người, cho hai người bị đưa đi “an trí” để Lê Đức Thọ ra tay thâu tóm quyền lực. Cách giải thích như vậy lại làm nảy sinh nhiều vấn đề khác: chẳng hạn, tại sao Lê Duẩn và Lê Đức Thọ lại tung ra cuộc đấu đá nội bộ ở vào một thời điểm quan trọng, lúc họ cần đoàn kết và tập trung nhất cho một trận chiến quyết liệt như vậy? Hai, Huy Đức cho giới lãnh đạo Việt Nam, trong những năm 1976 và 1977, không đánh giá đúng mức sự thù nghịch của Pol Pot đối với Việt Nam và từ đó, tầm vóc của cuộc chiến tranh chống Việt Nam do Pol Pot phát động, và đầu năm 1979, hoàn toàn bất ngờ trước cuộc tấn công của Trung Quốc vào biên giới phía Bắc Việt Nam (GP, tr. 76); tuy nhiên, trước đó, anh lại kể, từ cuối năm 1977, trong chuyến thăm Cần Giờ, Lê Duẩn đã trả lời thắc mắc của một số đảng viên trong huyện ủy: “Các đồng chí hỏi đúng vào một tình hình cả nước đang quan tâm. Chúng tôi đau đầu lắm, ngủ không được. Không phải là vấn đề Khmer Đỏ mà là vấn đề ai ở đằng sau Khmer Đỏ, đằng sau Pol Pot. Ta đã đưa đại quân đâu, bọn nó làm sao chống ta nổi, nhưng ta đánh nó, Trung Quốc đánh ta thôi.” (GP, tr. 72-3) Biết thế mà vẫn “bất ngờ” là sao?

Thứ ba, quan trọng nhất, nhiều chương chỉ có tính chất tự sự nhưng lại thiếu hẳn tính chất phân tích, do đó, tuy hấp dẫn, chúng không giải thích được gì cả. Ví dụ, trong tập “Giải phóng”, Huy Đức viết về Lê Duẩn khá dài, nhưng phần lớn đều tập trung vào cuộc sống và tính cách của ông: Ông có hai vợ, một ở miền Bắc và một ở miền Nam; lúc ở miền Nam, ông nổi tiếng về nhiệt tình và năng lực làm việc không biết mệt mỏi, lúc ra miền Bắc, ông lại nổi tiếng là thích nói chuyện lý thuyết, và khi nói chuyện, có thói quen hay ngắt lời người khác. Nhưng có những điểm quan trọng nhất lại không được phân tích: Một, tại sao Hồ Chí Minh lại tin cậy Lê Duẩn đến độ giao ngay cho ông chức Tổng Bí thư ngay sau khi ông mới ra Hà Nội như vậy? Lúc ấy, chung quanh Hồ Chí Minh, ngoài Trường Chinh vốn đã bị mang tiếng sau vụ cải cách ruộng đất, có rất nhiều tay chân thân thiết, kể cả hai người được ông và nhiều người khác yêu mến: Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng? Hai, tại sao, từ miền Nam mới ra Bắc, hầu như hoàn toàn đơn độc, chỉ trong vòng mấy năm, Lê Duẩn đã có thể thao túng toàn bộ guồng máy đảng Cộng sản, lấn át quyền hành của tất cả mọi người, kể cả Hồ Chí Minh, như vậy? Ông sử dụng các biện pháp gì để xây dựng vây cánh và quyền lực một cách nhanh chóng và hiệu quả như vậy? Ba, tại sao một người nổi tiếng quyền biến và, đến lúc chết, vẫn có uy tín rất lớn, không những ở miền Bắc mà còn trên cả thế giới, như Hồ Chí Minh, lại đành nhẫn nhục chịu đựng cảnh bị Lê Duẩn tước đoạt quyền hành mà không hề tìm cách kháng cự như vậy? Đó là những vấn đề giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại không thể không đặt ra.

Những khuyết điểm trên có thể được chấp nhận hoặc bỏ qua nếu chúng ta đọc Bên Thắng Cuộc như một tác phẩm tường thuật về tình hình chính trị của một thời đại. Mang tính báo chí, Bên Thắng Cuộc gần với khẩu sử hơn lịch sử. Tự bản chất, khẩu sử là ký ức. Với ký ức, quan trọng nhất là câu chuyện chứ không phải phân tích. Mà các câu chuyện trong Bên Thắng Cuộc thì không những hấp dẫn mà còn đa dạng vô cùng. Tính chất đa dạng ấy làm cho bức tranh Huy Đức mô tả trở thành đa diện. Nhìn từ góc độ ấy, chúng ta sẽ thấy có khi ngay cả những chi tiết nhí nhắt nhất cũng có thể hữu ích. Ví dụ, lời tâm sự của bà Nguyễn Thụy Nga (trong sách có lúc viết tên lót là Thụy, lúc lại viết là Thị), người “vợ miền Nam” của Lê Duẩn, về chồng bà: “Trong tình yêu anh cũng như con nít” (GP, tr. 117). Câu ấy, tự nó, không tiết lộ được điều gì cả. Thì có người đàn ông nào, trong tình yêu, lại không giống con nít? Nhưng nó vẫn giúp người đọc, khi nhìn lại Lê Duẩn, thấy ở ông, ngoài hình ảnh một nhà lãnh đạo cuồng tín, thủ đoạn và độc đoán, còn có một khía cạnh khác: một con người. Những cách nói năng kiểu “thằng này, thằng nọ” của Nguyễn Văn Linh, cũng vậy, đều tiết lộ một cá tính. Đối với người bình thường, cá tính thường bị loại trừ từ góc độ nghề nghiệp. Nhưng với các chính khách, đặc biệt khi chính khách ấy nắm giữ vai trò lãnh đạo, cá tính lại được chú ý vì nó ảnh hưởng đến chính sách, từ đó, đến đường lối chung, và cũng từ đó nữa, đến cả vận mệnh của đất nước.

Bên Thắng Cuộc hay, rất hay, nhưng cũng giống như mọi cuốn tường thuật hay khẩu sử, nó là một cái gì dở dang. Nó là một khối quặng chưa được tinh chế. Nó cung cấp cho người đọc cả hàng ngàn câu chuyện từ cả mấy trăm người kể khác nhau để người đọc, hoặc các sử gia sau này, so sánh, diễn dịch, phân tích và/hoặc tổng hợp lại để thành một bức tranh hoàn chỉnh hơn.

Ở trên (bài số 1), tôi có viết điều tôi thích nhất ở Bên Thắng Cuộc là tư liệu. Vậy điều kế tiếp? Đó là quan điểm. Một số người ở hải ngoại, chỉ nhìn vào mấy dòng lý lịch trích ngang của Huy Đức, thấy anh đã từng là bộ đội, lại là sĩ quan, đã lên tiếng phê phán và tố cáo anh, dù có khi chưa hề đọc trang nào trong cuốn sách. Đó chỉ là một nhận định vội vã và đầy thành kiến. Trong lời nói đầu tập “Giải phóng”, Huy Đức cho biết cuốn sách của anh là “công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật”. Dĩ nhiên, chúng ta biết, “sự thật” là một khái niệm rất mơ hồ. Và tương đối. Nhưng cách hiểu về cái gọi là “sự thật” ấy của Huy Đức, theo tôi, rất đơn giản nhưng chính xác: Chúng là những gì khác hẳn với “những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền” ở Việt Nam. Theo đuổi mục tiêu ấy, không thể nói lúc nào Huy Đức cũng thành công. Đó là điều dễ hiểu. Ai cũng vậy thôi. Có điều tôi cho là đáng khen ngợi nhất ở anh là anh có thiện chí và cố gắng.

Thiện chí và cố gắng ấy thể hiện ngay ở nhan đề cuốn sách: Bên Thắng Cuộc. Tại sao không phải là “thắng trận” hay “chiến thắng” như hai cách nói khác thông dụng hơn? Tôi nghĩ đó là một lựa chọn. “Thắng trận” chỉ thuần về quân sự. Nhưng đề tài Huy Đức muốn trình bày không phải chỉ là quân sự. Còn “chiến thắng”? Trong chữ “chiến thắng”, ngoài ý nghĩa “thắng”, còn có hai nét nghĩa phụ khác, đi kèm, đến từ chữ “chiến”: chính nghĩa và vinh quang. Không ai dùng chữ “chiến thắng” để nói về kẻ đi đánh lén người khác, chẳng hạn. Chữ “thắng cuộc” hoàn toàn không có những hàm ý như thế. Đánh bài: thắng cuộc. Cá cược: thắng cuộc. Dùng chữ “bên thắng cuộc”, Huy Đức, một mặt, tước bỏ các huyền thoại chung quanh từ “chiến thắng” vốn thường được sử dụng, mặt khác, xem chiến tranh, tự bản chất, như một ván bài về quyền lực. Vậy thôi. Trong ván bài, việc thắng thua tuỳ thuộc may rủi chứ không dính dáng gì đến chuyện chính nghĩa hay không chính nghĩa.

Trong tập “Quyền bính”, ở chương “XVII: Tam quyền không phân lập”, khi nói về những sự thay đổi Hiến pháp ở Việt Nam, Huy Đức viết: “Hiến pháp 1992, vì thế, đã không tiếp cận được những mô hình nhà nước tiến bộ để trở thành nền tảng cho Việt Nam xây dựng nhà nước pháp quyền.” (QB. 90) Xin lưu ý: chữ “tiến bộ” đằng sau chữ “nhà nước” và đằng trước cụm từ “nhà nước pháp quyền” ở câu trên hoàn toàn trái ngược với cách hiểu về chữ “tiến bộ” mà giới truyền thông Việt Nam thường sử dụng.

Trong giới lãnh đạo Việt Nam, rõ ràng Huy Đức tỏ ra ưu ái đặc biệt với hai người: Võ Nguyên Giáp và Võ Văn Kiệt. Nhưng ngay cả như vậy, ở cả hai, Huy Đức đều nhận thấy những khuyết điểm căn bản của họ: trung thành một cách dại dột. Phê bình như thế, Huy Đức thấy được một vấn đề thuộc về bản chất của chế độ. Bản chất được anh viết trong lời nói đầu tập “Quyền bính”: “Hệ thống chính trị, trải qua nhiều thế hệ, càng về sau lại càng có ít khả năng khắc phục sai lầm.” Nhưng nếu nó không có khả năng tự khắc phục sai lầm thì sao? Ai sẽ đảm nhận trách nhiệm ấy? Câu trả lời nằm trong những điều Huy Đức chưa nói hết: Có thể là bất cứ ai, nhưng chắc chắn là không phải từ “hệ thống”.

Đó chính là lý do chính khiến báo chí trong nước xúm vào đánh cuốn Bên Thắng Cuộc.

Dĩ nhiên, Bên Thắng Cuộc không tránh khỏi khuyết điểm. Chả có cuốn sách nào không có khuyết điểm cả. Vấn đề chỉ là nhiều hay ít. Ở cuốn Bên Thắng Cuộc, theo tôi: Ít. Điều thú vị là, hầu hết các sai lầm của anh đều liên quan đến văn học. Trong chương “XI: Campuchia” của tập “Giải phóng”, anh nhận định: “Cảnh giác với người Trung Hoa là điều đã có từ trong máu người Việt Nam. Nhưng, trong lịch sử nghìn năm kháng cự để tồn tại với ‘thiên triều’, chưa có triều đại nào lại công khai xác định Trung Quốc là ‘kẻ thù truyền kiếp và lâu dài’ trong các văn kiện chính thức như thời Tổng bí thư Lê Duẩn.” (GP, tr. 160). Sai. Huy Đức quên trong Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi có câu này: “Kẻ thế thù đâu thể đội trời chung”  (Niệm thế thù khởi khả cộng đái / 念 世讎 豈 可 共 戴). Thế thù: Kẻ thù truyền kiếp. Trong “chương XII: Cởi trói” của cuốn “Quyền bính”, nhân nhắc đến các dấu mốc lớn trong  lịch sử báo chí Việt Nam, anh viết : “Thơ Mới, cuối thập niên 1930” (QB, tr. 11).  Sai. Thời điểm ra đời của Thơ Mới là đầu chứ không phải cuối thập niên 1930. Trong vòng chưa tới 10 năm, Thơ Mới đã đi hết một chặng đường. Cũng trong chương ấy, anh trích bài “Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật như sau: “Khói bom lên trời thành những vòng đen / Và dưới mặt đất sinh ra bao vòng trắng / Tôi với bạn đi trong im lặng / Khăn tang trên đầu như một số không” (QB, tr. 18). Sai nhiều chỗ. Nguyên văn bài thơ ấy là:

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong im lặng
Cái im lặng bình thường đêm sau chiến tranh.

Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.

Ngay cả mấy câu thơ của Nguyễn Duy được trích làm đề từ cho cuốn sách cũng sai:

Suy cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh
Bên nào thắng thì nhân dân đều bại.

Nguyên văn của Nguyễn Duy như sau:

Ta mặc niệm trước Angkor đổ nát
đá cũng tàn hoang huống chi là kiếp người

Đá ơi
xin tạc lại đây lời cầu chúc hoà bình!

Nghĩ cho cùng
Mọi cuộc chiến tranh
Phe nào thắng thì nhân dân đều bại…

(In trong tập Quà tặng, nxb Văn Học, 1990, tr. 78)

“Nghĩ” khác với “suy”, “mọi” khác với “mỗi”, và “phe” khác với “bên”.

Cũng như “bên thắng cuộc” khác với “bên chiến thắng”.

Một điều cuối cùng: Không ít người cho chọn cách tiếp cận từ phía những người thắng cuộc như Huy Đức là một chọn lựa đầy thiên vị, từ đó, bức tranh anh muốn phác họa sẽ bị lệch lạc theo. Theo tôi, không đúng. Thứ nhất, trong mọi lịch sử, những người “thắng cuộc” – xưa là vua chúa, sau này, giới cầm quyền – bao giờ cũng nằm ở vị trí trung tâm, cần được nghiên cứu nhất, bởi chính họ, một cách tích cực hay tiêu cực, quyết định diện mạo của một thời đại và số phận của một dân tộc. Thứ hai, vấn đề không phải lệch lạc hay không. Vấn đề chỉ là ở mức độ. Không có một cuốn sách nào, kể cả lịch sử, chính xác hoàn toàn. Thậm chí, các nhà hậu hiện đại chủ nghĩa còn hoài nghi cái gọi là lịch sử nói chung: Họ xem lịch sử như một biểu hiện của đại tự sự (grand narrative), một tham vọng đạt đến cái nhìn bao quát toàn bộ sự thật và thực tại: Với họ, đó là điều bất khả. Hơn nữa, họ xem lịch sử bao giờ cũng gắn liền với một quan điểm và một góc nhìn nhất định: lịch sử (history) là chuyện của ông-ấy, của một gã nào đó (his-story). Chứ không có một lịch sử chung nhất cho mọi người.

Bên Thắng Cuộc là một tác phẩm hay nhưng dĩ nhiên, như mọi cuốn sách khác, không hoàn hảo. Cái không hoàn hảo ấy cần được hoàn thiện dần dần. Bằng những tác phẩm khác. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Và càng không đáng phản đối.

***

Kỳ tới: Chân dung “bên thắng cuộc”
Chú thích: Số trang trong phần chú thích ghi theo bản “Smashworlds Edition” của  Bên Thắng Cuộc.
nguồn: Blog NguyenHungQuoc-VOA

2. Những cực đoan vẫn còn đó…

        nhưng không còn đe doạ được ai

 Hoà Vân

Có lẽ chưa có một cuốn sách tiếng Việt nào đã được đón đọc rộng rãi, gây nhiều dư luận tương phản từ rất đồng thuận đến rất chống đối như cuốn sách này của Huy Đức. Bài này không trực tiếp nói về nội dung cuốn sách như một bài phê bình, điểm sách, mà tập trung nói về dư luận ấy.

Về mặt đón nhận, mặc dù độc giả Việt Nam còn một bộ phận khá lớn quen « đọc chùa » hơn là mua sách, một chỉ dấu cho thấy sức lan toả của cuốn sách : khi bạn mở website của nhà sách trên mạng smashwords.com, nơi xuất bản và bán phiên bản điện tử của sách (cùng với amazone), bấm vào từ khoá « non-fiction » (cột bên trái), và dòng đầu bên phải, chọn « sort by best-sellers », bạn sẽ thấy hai tập « Quyền Bính » và « Giải phóng » của « Bên Thắng cuộc » xếp hạng thứ nhất, trước các cuốn sách tiếng Anh. Điều này, chúng tôi đã kiểm tra mấy lần trong tháng 1.2013, và vẫn đúng khi bài báo này được lên khuôn (8.2.2013).

Nhưng nếu số người mua một cuốn sách là một chỉ dấu quan trọng về ảnh hưởng của nó, trong thời buổi internet những phản ứng muôn màu của người đọc thông qua các trang báo mạng, các blogs hay facebook (FB), còn cho thấy rõ hơn thành công hay thất bại của tác giả trong ý đồ chuyển tới người đọc những ý tưởng của mình, thông qua sự trình bày, phân tích dữ liệu mà mình dày công thu thập (tôi đang nói tới một cuốn sách « phi hư cấu », không thuộc thể loại tiểu thuyết, văn chương khác). Có thể nói ngay, số người lên tiếng về cuốn sách, hoặc qua hình thức viết bài đăng báo, đăng trên blog hay trang FB cá nhân, hoặc qua những lời bình ngắn, quen được gọi là « còm »1 , cũng chưa bao giờ nhiều, sôi động như thế, ít ra theo quan sát của người viết bài này vốn mất khá nhiều thì giờ để theo dõi tình hình trong nước qua mạng. Nếu bạn gõ hai cụm từ « Bên thắng cuộc » và « Huy Đức » lên trang google (kể cả ngoặc kép để loại những kết nối với từng từ trong các cụm từ này), bạn sẽ thấy – vào sáng ngày 8.2, 8g40, giờ Paris – hơn 2 triệu kết nối. Tất nhiên, có rất nhiều trùng hợp, hàng ngàn hoặc nhiều hơn thế đường kết nối sẽ dẫn về cùng một trang mạng, nhưng dù thế chắc cũng chẳng ai có thể đọc hết những bài viết về cuốn sách có trên mạng và những « còm » về các bài viết đó2. Chỉ riêng đọc những còm sau những bài viết được đăng trên trang Ba Sàm cũng đã khó ! Người đọc nhiều, người đọc xong viết ra phản ứng của mình như vậy cũng có thể nói là đông đảo hơn nhiều lần so với một quyển sách bình thường khác. Kể cả những người chưa đọc trang nào nhưng nghe người khác nói tới cũng nhảy vào tham gia « còm » v.v., tạo thành hiệu ứng « cơn sốt dư luận » như nói trên. Thành công đầu tiên của Huy Đức là ở đó, ở chỗ ít người đọc xong rồi có thể bỏ qua, quên đi, không bị ám ảnh, cật vấn trong chiều này hay chiều khác bởi những nội dung mà cuốn sách đề cập, hoặc bởi những phản ứng của người khác trên các nội dung ấy…

Thành công đó, nhiều người đã chỉ ra, là sự kết hợp một chủ đề « nhạy cảm » với một công phu đáng phục kéo dài nhiều năm trời trong việc tìm kiếm và sưu tầm dữ liệu3 – cả dữ liệu « sống » ghi từ các cuộc gặp, phỏng vấn các chứng nhân tới các sách vở, báo chí – và một tài năng hiếm có trong việc xử lý, sắp xếp các dữ liệu đó nhằm phục vụ nội dung mà tác giả muốn chuyển tải. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người coi Huy Đức là một nhà báo « số một » của Việt Nam hiện nay.

Cũng có những người đọc bĩu môi « biết rồi, khổ lắm », nhưng đó đa phần là những người viết các còm ngắn, ít đầu tư suy nghĩ, vào bài của những người khác. Còn trong số những người bỏ công viết bài để nói lên suy nghĩ của mình sau khi đọc sách thì số đông hơn là những người dù thích hay không cuốn sách vẫn công nhận không chỉ sự phong phú của tư liệu mà cả cái tài trình bày, độ khách quan của tác giả. Khiến cho những điều mình tưởng đã biết nay có được diễn giải, dẫn chứng cụ thể hơn, sâu chuỗi rành mạch làm nổi bật lên hơn nhiều điều quan trọng vẫn được ẩn giấu – chẳng hạn như quá trình cụ thể của một quyết định được những người cầm quyền đưa ra, như một quyết định tập thể, « nhất trí », trong khi sự nhất trí đó thường là không có thực, và trong cái « tập thể » kia vẫn có những suy nghĩ rất khác nhau, thậm chí đối kháng nhau (kiểu ông Nguyễn Văn Linh thù dai ông Võ Văn Kiệt, dẫn tới một hệ quả không hề nhỏ là ông Đỗ Mười được bầu làm thủ tướng thay ông Phạm Hùng chứ không phải ông Kiệt v.v.). Một ít người đưa ra được lời phê bình ở cấp độ « học thuật » về các tư liệu mà tác giả đưa ra, như câu này của ông Lê Mai, một người từng làm công tác ngoại giao của « bên thắng cuộc » : « Điểm mạnh của “Quyền Bính” cũng như “Giải Phóng” là nhiều tư liệu, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, được thể hiện bởi một nhà báo lão luyện – công trình mang phong cách báo chí. Tuy nhiên, tác giả Bên Thắng Cuộc tái hiện một giai đoạn lịch sử VN hiện đại nhưng tư liệu gốc chiếm tỷ trọng không nhiều lắm, chỉ có một số bức điện, một số báo cáo, một số biên bản, một số nghị quyết, còn chủ yếu sử dụng các hồi ký và phỏng vấn nhân chứng – người viết nhấn mạnh. Đối với những người am hiểu, còn rất nhiều sự kiện lịch sử VN cực kỳ quan trọng, song có thể vì lẽ này, lẽ khác chưa được tác giả đề cập. Vì vậy, tính đầy đủ và chính xác của nó chắc rằng còn phải thảo luận nhiều ». Nhưng ông Lê Mai vẫn công nhận : « Dẫu sao, Bên Thắng Cuộc thực sự là một công trình rất đáng đọc, rất đáng tìm hiểu, rất đáng suy ngẫm, với tất cả ý nghĩa đầy đủ của nó. ». Dưới những góc tiếp cận khác, với ngôn từ khác, có thể coi đó cũng là kết luận của nhiều bài viết của nhiều tác giả trong và ngoài nước như Dương Trung Quốc (bài trả lời phỏng vấn của BBC, ông Quốc không quên nhắc « không nên tuyệt đối hoá Bên thắng cuộc »), Tiêu Dao Bảo Cự, Nguyễn Xuân Long (một nhà khoa học hiện đang làm việc tại Mỹ), Vũ Anh, Đồng Phụng Việt (người Miền Nam sang Mỹ sau 1975) v.v.

btc1

Nhưng nếu công phu và tài năng của tác giả tạo nên giá trị của cuốn sách và sự đồng thuận cao trong bạn đọc về giá trị ấy, thì chủ đề của nó và sự chọn lựa cách tiếp cận, cách xử lý các nội dung được đề cập của tác giả lại là lý do gây nên các tranh cãi trong dư luận. Nhất là trong những người vì lý do này hay lý do khác, chưa « tiêu » được cuộc chiến tranh đã kết thúc gần 40 năm nay. Và như chờ đợi, những chống đối mạnh nhất dành cho Huy Đức và cuốn sách đến từ hai cực của sân khấu chính trị.

Nhà báo Vũ Ánh, một người « bên thua cuộc » từng bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo sau 1975, đã nhận xét : « Huy Đức đã sắp xếp những dữ kiện lịch sử sau 30 tháng 4 như một bản cáo trạng bày rõ những sai lầm của chính quyền được mệnh danh là cách mạng”. Bản cáo trạng ấy không hề có lời lên án được đọc lên với giọng hùng hồn và ngược lại nó được kể lể với một giọng bình thản, thầm lặng lâu lâu lại xuất hiện một lời trách cứ nhẹ nhàng nhưng nó là những nhát dao sẽ để lại nhiều vết thẹo trên khuôn mặt cường quyền ». Nhưng như thế là chưa đủ để anh được các nhà chống cộng chuyên nghiệp ở quận Cam « tha thứ » vì cái tội đã từng là nhà báo « cộng sản », đã « được » cộng sản cho đi Mỹ, một thứ tội tổ tông y như tội của những ca sĩ trong nước sang Mỹ biểu diễn từ khi hai nước nối lại bang giao. Phải biểu tình (trước toà soạn báo Người Việt, vì tội phổ biến bản in cuốn sách), phải lên mạng chửi bới, dù chưa đọc một dòng sách…

Ngược lại, cái giọng bình thản đó trong lời kể về các trại cải tạo, các vụ đánh tư sản, các diễn biến mở rồi lại trói đối với giới văn nghệ sĩ, các đấu đá giành quyền lực sau hậu trường v.v. lại làm cho các nhà tuyên giáo bế tắc, gần một tháng sau khi sách ra đời mới tìm được một người viết bài phản bác trên báo chính thống. Nhưng hình như chính tác giả bài viết đầu tiên ấy, nhà báo Nguyễn Đức Hiển trên Pháp luật TPHCM, cũng chẳng tìm thấy được lỗ hổng nào đáng kể trong các sự kiện được Huy Đức đưa ra trong « Bên Thắng Cuộc », nên đành dùng một thủ thuật là lôi tính chính thống của « lịch sử » ra để đập cuốn sách, dù hiển nhiên là nó… lạc đề. Bởi, nếu ngay câu đầu của chương 1, tập 1 « Bên Thắng Cuộc », tác giả viết : « Ba mươi tháng Tư năm 1975 là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc. Ngày chấm dứt hơn hai mươi năm “da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách” », cuốn sách không hề tranh cãi về tính chất của cuộc chiến trên cơ sở những dữ kiện lịch sử diễn ra trước khi nó xảy ra. Huy Đức đã chủ yếu nói chuyện hôm nay để nhìn lại chuyện hôm qua. Hàng loạt những sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội lớn nhỏ, sau khi chiến tranh kết thúc, được mô tả như nó đã xảy ra – ít ra là trong quan sát, tìm hiểu được của tác giả, mà như trên đã nói, sự tìm hiểu này không hề dễ dãi, hời hợt, mà công phu, kiên trì, qua hàng chục năm, hàng trăm cuộc tìm gặp để phỏng vấn các nhân vật liên quan, như chưa bao giờ người ta được thấy trong những cuốn sách, những bài báo của các tác giả trong nước. Điều đó không có nghĩa là sách không có sai sót ! Thế thì, để không lạc đề, lẽ ra Đức Hiển phải tranh luận về các dữ kiện được đưa ra chứ, chúng có được phản ánh một cách trung thực không, cụ thể có những sai sót gì, cái nào là nghiêm trọng…, tác giả sách có dựa trên các dữ kiện đó để đưa ra những lập luận sai lạc nào hay không… Còn như, nếu qua những chính sách, những con người, những sự việc được mô tả trong sách, chính quyền cộng sản hiện lên như một bộ máy toàn tâm toàn ý hướng về việc giành và giữ quyền lực chính trị chỉ cho lợi quyền phe đảng của mình thay vì giành và sử dụng quyền ấy để mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, thì vấn đề là ở những chính sách, những con người đó hay là ở người mô tả chúng ? Cũng cần nói thêm, những trang viết của Huy Đức về các nhân vật cầm quyền đâu phải là những trang bôi đen ? Có người nghĩ ngược lại là khác. Chẳng hạn như trên blog của một bạn trẻ thuộc « bên thắng cuộc » ký tên là Teq, tác giả đánh giá là cuốn sách mang lại một điều « mới mẻ lớn » ở chỗ nó « đem đến những chân dung cụ thể về các vị lãnh đạo. Các vị lãnh đạo được nhắc tới trong sách, được kể một cách sống động, rất con người thường nhật. », khiến bạn ấy nghĩ rằng « dường như cuốn sách này được viết ra để thanh minh cho các vị lãnh đạo, bao trùm hơn nữa là cho chế độ »…

Trong khi Đức Hiển « lạc đề » thì nhóm các « nhà báo » trên tờ Công an TPHCM và trên những blogs « người nhà » chọn cách đánh quen thuộc hơn của lực lượng mà họ phục vụ : đánh bẩn dưới thắt lưng. Chửi rủa, bôi nhọ, vu khống…, với mục tiêu hiển nhiên là gieo nghi ngờ để hạn chế số người muốn tìm đọc cuốn sách đầy ắp những tư liệu tố cáo cái chế độ mà chúng phục vụ. Đồng thời tung ra lời đe doạ tác giả về những biện pháp bẩn thỉu hơn mà chúng có thể sẽ sử dụng cả ở bên Mỹ hay khi về nước.

Nhưng, như Huy Đức đã trả lời một bạn đọc trên trang FB « Sách Bên thắng cuộc  » mà anh mở ra để quảng bá và tiếp nhận phản hồi về cuốn sách : « Không ai muốn hứng chịu “những điều không hay” nhưng nếu cứ trú ngụ trong sự sợ hãi thì sự thật sẽ không bao giờ được nói ra ».

Đọc những bài viết về Bên thắng cuộc và các còm đi theo, người ta khó có thể không thấy rằng câu trả lời ấy cũng được đón nhận với sự đồng cảm chẳng kém gì cuốn sách. Ngày càng nhiều người không để cho sự sợ hãi dẫn dắt cuộc sống và những suy nghĩ của mình. Đó cũng là nét sáng hiếm hoi của tình hình chính trị – xã hội trong nước năm qua, giữ cho khỏi tắt ngọn lửa hi vọng cho tương lai.

Những cực đoan còn đó, nhưng chẳng còn đe doạ được bao người.

H.V.

1 Viết tắt từ từ tiếng Anh « comment », « còm » đã trở thành một từ « thuần Việt » trong nghĩa là nó hoàn toàn không có trong từ vựng của ngôn ngữ gốc mà nó xuất phát !

2 Riêng mặt báo này đã giới thiệu trong mục « Thấy trên mạng » 12 bài viết từ nhiều chân trời chính trị khác nhau (không kể vài lần trích bài của chính tác giả Huy Đức), mỗi bài lại dẫn đến rất nhiều bình luận trên các trang báo, trang mạng khác không thể đếm hết. Để viết bài này, người viết đã chép vào một tệp riêng khoảng 40 bài đọc trên mạng, tuy nhiên do tính chất một bài báo ngắn sẽ không có các dẫn chứng cụ thể như trong một bài nghiên cứu.

3 Tập I (Giải phóng) có danh mục 126 cuốn sách tham khảo và 608 chú thích (chiếm hết 100 trang chữ nhỏ). Tập II (Quyền Bính) ghi 69 cuốn sách, 52 hồi ký, bản thảo, sách nhiều tác giả… (một số đã được kể trong danh mục sách tham khảo của tập I nhưng không phải tất cả) và 654 chú thích chiếm gần 130 trang. Nói cuốn sách « đầy ắp những sự kiện, những thông tin » không phải là nói ngoa !

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 66 other followers

%d bloggers like this: