Vũ Thất

Bảo Bình 1

Khái niệm về DÂN CHỦ

1. Khái niệm về DÂN CHỦ

 Thế Việt

Dân chủ là một hình thức chính quyền, một lối sống, môt mục tiêu hay là một lý tưởng.  Dân chủ có nghiã là do người dân tự cai trị. Tổng Thống Mỹ Abraham Lincoln (1809-1865) mô tả chính quyền tự quản như thế, là “chính quyền cuả dân, do dân, vì dân (government of the people, by the people, for the people)”.

USA LibertyCông dân của một nước dân chủ tham dự chính quyền một cách trực tiếp hay gián tiếp. Trong dân chủ trực tiếp hay dân chủ thuần túy (direct or pure democracy), người dân họp nhau ở một điạ điểm làm ra luật cho cộng đồng. Hình thức dân chủ nầy được thực thi ở Nhã Điển (Athens) ngày xưa. Hầu hết dân chủ ngày nay là dân chủ đại diện (representative democracy). Trong những cộng đồng lớn như thành phố, tiểu bang, liên bang mọi người không thể nào gặp nhau hội họp, thảo luận, vì thế họ phải bầu chọn một số công dân thay mặt họ để quyết định về luật lệ và những vấn đề có ảnh hưởng đến cộng đồng. Hình thức nhóm họp cuả những người đại biểu được gọi là một hội đồng, một cơ quan lập pháp, một nghị viện hoặc một quốc hội.

Lối sống dân chủ nhìn nhận sự bình đẳng và nhân phẩm cuả tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, phái tính, điạ vị xã hội. Dân chủ đối xử mọi người công bằng truớc toà án và những vấn đề pháp lý khác. Dân chủ tôn trọng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo… Mục đích cuả xã hội dân chủ là bảo đảm cho mọi người có cơ hội phát triển đẩy đủ những khả năng cá nhân.

Trong thực tế, việc thực thi dân chủ thường không đạt đến mức độ toàn hảo. Một số quốc gia hoặc chính quyền được xếp hạng tùy theo khoảng cách với lý tưởng dân chủ. Hầu hết các chính quyền đều tuyên bố là dân chủ nhưng một số lại là toàn trị (totalitarian). Các quốc gia cộng sản còn lại ngày nay đều thi hành chính sách toàn trị, kiểm soát hầu hết những sinh hoạt của dân chúng.

Dân chủ, chế độ chính trị được hình thành từ thời cổ Hy Lạp vào khoảng 600 TCN. Từ ngữ dân chủ “democracy” theo nghiã Hy Lạp, “demos” là nhân dân (people) và “kratos” là chính quyền (authority) . Xã hội cổ thời La Mã cũng kinh qua dân chủ. Cicero (106 TCN – 43 TCN), một nhà hoạt động chính trị La Mã cũng là một triết gia, một luật gia hùng biện đã nêu lên ý tưởng rằng con người có những quyền tự nhiên (natural rights) mà bất cứ quốc gia nào cũng phải tôn trọng.

Từ đó chế độ dân chủ ngày càng phát triển và có những hình thái khác nhau theo thời gian và không gian, tuy nhiên những đặc tính căn bản đều giống nhau trong những quốc gia dân chủ :

 NHỮNG NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA DÂN CHỦ

1/ Tự Do Bày Tỏ (Freedom of Expression). Công dân cuả một chế độ dân chủ chọn lựa người lảnh đạo là người đại diện thật sự cuả quần chúng và tạo ảnh hưởng đến chính sách của chính quyền từ điạ phương đến trung ương. Vì lý do nầy sự thảo luận và hiểu biết những vấn đề công ích là điều cần thiết. Nhằm khuyến khích sự trao đổi tư  tưởng, dân chủ phải bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp và thỉnh nguyện thư (petition).

Công dân cuả một chế độ dân chủ có nhiều cơ hội tạo nên một chính quyền thật sự đại diện cho mình, nhất là cấp điạ phương. Trong xã hội dân chủ, chính quyền phải biết người dân cảm nhận như thế nào về những vấn đề công ích. Nếu có những hiểu lầm hoặc lập trường khác nhau, chính quyền phải giải thích, hoặc nếu muốn chuyển đổi ý kiến dân chúng phải thi hành bằng những phương cách giới hạn, vừa đủ. Chính quyền trong việc tìm kiếm bảo vệ ý kiến cuả mình, phải luôn luôn tôn trọng quyền bày tỏ của người khác.

2/ Tự Do Bầu Cử. Tự do bầu cử cho người dân có cơ hội chọn lựa người lãnh đạo và bày tỏ quan điểm cùa mình về những vấn đề khác nhau. Những cuộc bầu cử được tổ chức định kỳ để bảo đảm những viên chức đắc cử là đại diện chân chính cuả nhân dân. Hầu hết các quốc gia dân chủ đều dành những điều kiện pháp lý giản dị cho tư cách cử tri và ứng cử viên, thường chỉ gồm các hạng mục : mức tuổi, tình trạng cư trú, quyền công dân. Tự do bầu cử được nhìn nhận trong những điều kiện người dân bầu phiếu trong những phòng kín, không có cưỡng ép hoặc mua chuộc và kết quả bầu cử đã được bảo vệ chống lại sự gian trá, bất lương.

3/ Qui Tắc Đa Số và Quyền Thiểu Số (Majority Rule and Minority Rights). Những quyết định trong một xã hội dân chủ được lập nên do nguyên tắc đa số. Tuy nhiên, những quốc gia dân chủ luôn bảo đảm một số quyền cuả người dân không bao giờ bị tước đoạt, ngay cả khi bị chế ngự bởi tuyệt đại đa số (extremely large majority). Những quyền nầy gồm có những quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do thờ phượng tôn giáo. Đa số buộc phải lắng nghe những quan điểm cuả thiểu số. Đa số cũng phải chấp nhận quyền cuả thiểu số tích cực hoạt động bằng những phương tiện hợp pháp để chiếm vị trí đa số

4/ Đảng Chính Trị. Đảng chính trị là yếu tố tối cần thiết trong một chế độ dân chủ . Những đảng đối lập làm cho các cuộc bầu cử có đầy đủ ý nghiã vì cử tri dễ dàng chọn lựa những ứng cử viên đại diện những quyền lợi và chính kiến khác nhau. Thông thường các đảng chính trị có quyền lợi và khuynh hướng chính trị không quá khác biệt, cố gắng liên kết với nhau để mưu tìm chiến thắng trong cuộc tranh cử. Nước Mỹ và nước Anh có hệ thống lưỡng đảng đáp úng với nhu cầu kết hợp những quyền lợi khác nhau.

Trong những quốc gia dân chủ, đảng hoặc những đảng không nắm chính quyền thuờng giữ vai trò đối lập để phê phán chính sách và việc làm cuả đảng đang cầm quyền. Bằng cách nầy, đảng đang cầm quyền được nhắc nhở điều chỉnh hoạt động và chịu trách nhiệm với dân chúng. Trong chế độ toàn trị, chỉ có một đảng chính quyền được tồn tại, sự phê  phán đảng cầm quyền bị kết tội phản loạn. Bầu cử trong chế độ toàn trị chỉ làm chiếu lệ, tượng trưng, dân chúng không có cơ hội chọn lựa ứng cử viên mong muốn và cũng không được phép bày tỏ sự bất mãn với chính quyền.

5/ Phân Quyền. Điều quan trọng trong xã hội dân chủ là phân chia và phân phối quyền lực chính trị một cách đồng đều. Những thế chế dân chủ đều có những cách thức sắp đặt khác nhau để tránh một cá nhân hay một ngành nào cuả chính quyền có quyền lực áp đảo. Thí dụ hiến pháp Hiệp Chúng Quốc phân chia quyền chính trị giữa chính quyển tiểu bang và chính quyền liên bang. Một số quyền chỉ thuộc tiểu bang, một số quyền chỉ thuộc chính phủ liên bang và một số quyền đuợc phân định cho cả tiểu bang và liên bang.

Ngoài ra hiến pháp Mỹ cũng thiết lập một chính quyền trung ương cân đối bằng cách phân chia quyền lực giữa ba ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp độc lập với nhau. Ngành hành pháp thi hành luật pháp với Tổng Thống là đại diện chính quyền trung ương, ngành lập pháp tập trung tại Quốc Hội và làm ra luật pháp, ngành tư pháp giải thích luật pháp với Tối Cao Pháp Viện là toà án liên bang có thẩm quyền trên hết. Một người chỉ được phép phục vụ một ngành cuả chính quyền mà thôi trong cùng một thời gian. Quyền lực cuả mỗi ngành được qui định để kiểm tra hay cân bằng với quyền lực cuả ngành khác. Những quyền không được hiến pháp hoặc hiến chương xác nhận giao cho chính quyền, thường được dành riêng cho công dân.

6/ Chính Quyền Hiến Định (Constitutional Government). Chính quyền hiến định là chính quyền đặt căn bản trên luật pháp. Hiến pháp qui định thẩm quyền và trách nhiệm cuả chính quyền, giới hạn những điều chính quyền được phép làm. Hiến pháp cũng nói đến luật pháp được thực thi và cưỡng hành như thế nào. Hầu hết các hiến pháp cũng bao gồm một luật chi tiết về các quyền gọi là Tuyên Ngôn Nhân Quyền (Bill of  Rights) mô tả các quyền tự do căn bản cuả nhân dân và ngăn cấm chính quyền vi phạm những quyền nầy.

Hiến pháp nước Mỹ và hầu hết các quốc gia trên thế giới, là một văn kiện chữ viết (written constitution). Hiến pháp nước Anh không viết thành văn bản mà chỉ gồm một số luật do Nghị Viện (Parliament) đã thông qua.

7/ Những Tổ Chức Tư Nhân (Private Organizations). Trong chế độ dân chủ, cá nhân và những tổ chức tư nhân điều khiển nhiều hoạt động kinh tế và xã hội không thuộc quyền kiểm soát cuả chính quyền. Thí dụ : nhật báo, tuần báo, đặc san … do tư nhân làm chủ và điều hành. Nghiệp đoàn hoạt động bênh vực quyền lợi cho người lao động chứ không vì nhà nước. Chính quyền dân chủ không can thiệp vào việc thờ phượng tôn giáo. Những trường tư thục mở lớp song song với các trường công lập. Trong xã hội dân chủ hầu hết các hoạt động thương mãi đều do tư nhân sở hữu và điều hành.

Trong xã hội toàn trị, duy chỉ chính quyền làm chủ, kiểm soát tất cả những hiệp hôị, người dân không được thành lập hoặc gia nhập một nhóm nào nếu không có phép cuả chính quyền.

PHẢI CÓ DÂN CHỦ

1/ Bảo Vệ Nhân Quyền. Dân chủ nhằm bảo vệ tự do cá nhân và thăng tiến sự bình đẳng. Tuyên Ngôn Độc Lập cuả Hiệp Chúng Quốc (The U.S. Declaration of Independence)  bày tỏ niềm tin rằng “tất cả mọi người sinh ra bình đẳng, họ được Tạo Hoá (Creator) ban tặng những quyền hạn không thể chuyển nhượng như là Đời Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc. Tuyên ngôn cũng nói thêm rằng nhân dân có thể thay đổi hoặc xoá bỏ chính quyền nếu chính quyền cản trở những quyền nầy.

Lịch sử đã minh chứng một khi người dân nghĩ rằng những cản trở to lớn đối với tự do cá nhân và sự bình đẳng vì lý do chính trị thì công việc đơn giản là phải thay đổi chính quyền từ thể chế “vương quyền” sang chế độ cộng hoà, dân chủ. Trong những quốc gia dân chủ hiện nay, chính quyền giữ vai trò tích cực nhằm bãi bỏ những bất bình đẳng đồng thời thăng tiến các quyền tự do cho toàn dân. Các quốc gia dân chủ đều có những chương trình cung cấp an ninh kinh tế, giảm nghèo, và phát triển tiềm năng nhân lực bao gồm bảo hiểm thất nghiệp, qui định mức lương tối thiểu, hưu bổng, bảo hiểm sức khoẻ, luật dân quyền, trợ cấp giáo dục. Nhiều nước dân chủ cũng có mục tiêu cung cấp cho dân chúng một đởi sống căn bản và bảo hiểm y tế đáp ứng nhu cầu

2/ Bảo Đảm Hoà Bình Trong Những Chuyển Biến. Những người có tư tưởng dân chủ tin rằng những tiến trình làm chuyển biến xã hội bằng bạo lực cách mạng là không cần thiết. Họ khẳng định rằng dân chủ phải đáp ứng những dòi hỏi chính đáng cuả người dân một cách hữu hiệu hơn bất cứ một hình thức chính quyền nào khác. Những người ủng hộ dân chủ muốn nhắc đến những biến chuyển kinh tế, xã hội tại Hoa Kỳ và Anh Quốc trong những năm đầu thế kỷ 20 đã xảy ra một cách hoà bình trong khung cảnh những định chế chính trị thời bấy giờ. Đối với những lãnh đạo chính trị, dân chủ cũng tạo ra sự chuyển đổi và tiếp nối một cách trật tự. Những hiến pháp dân chủ đều qui định những cuộc tự do bầu cử định kỳ và dự liệu những thủ tục kế thừa trong trường hợp người lãnh đạo chính quyền tử vong hoặc không còn đủ năng lực thi hành nhiệm vụ.

THỰC THI DÂN CHỦ

1/ Sự Tham Gia cuả Người Dân. Nền dân chủ đòi hỏi sự tham gia rộng rãi cuà người dân trong sinh hoạt chính trị. Đấy là bổn phận cuả tất cả công dân trưởng thành đi bầu phiếu trong các cuộc tuyển cử tại điạ phương, tiểu bang, liên bang. Những cá nhân có đủ điều kiện hợp lệ nên ra tranh cử vào những chức vụ công cử, phục vụ trong hội thẩm đoàn (juries), góp phần vào an sinh xã hội với tất cả khả năng. Người công dân cũng nên dự phần hướng dẫn dư luận bằng cách nêu lên những đề tài quan trọng và giúp đỡ chọn lựa những chính đảng tốt. Một công dân tích cực là một người năng động chống tham nhũng và chống chính quyền không đủ năng lực.

 2/ Giáo Dục và Dân Chủ. Sự tham gia chính trị rộng khắp chưa hẳn là điều cần thiết bảo đảm một chính quyền tốt. Phẩm chất cuả chính quyền lệ thuộc vào phẩm chất cuả sự tham gia. Những người công dân với đầy đủ kiến thức và học vấn mới có đủ khả năng đóng góp chính quyền một cách thông minh. Lịch sử chứng tỏ rằng dân chủ thường thành công trong những quốc gia có nền giáo dục tốt và dân chúng có nhiều cơ hội về học vấn. Với lý do nầy, những chính quyền dân chủ thường yểm trợ mạnh mẽ sự giáo dục cho toàn dân.

Nền dân chủ cần đến những công dân có học vấn vì họ có thể chia sẻ những vấn đề công ích, hiểu biết những vấn đề cuả quần chúng và bầu phiếu đúng theo nhu cầu. Từ đó, định chế dân chủ tạo  nên những nhà cầm quyền có đủ khả năng thi hành trách nhiệm và được nhân dân tin tưởng.

Trong xã hội kỹ nghệ hiện đại, hầu hết mọi người đều có những kiến thức khoa học, kỹ thuật để hiểu biết, phán xét những vấn đề cuả chính quyền, ngoại trừ một số ít cử tri quá bận rộn không  có đủ thời giờ hoặc thiếu những hiểu biết sâu xa chuyên ngành về những đề mục vượt quá tầm cỡ.  Tuy nhiên, ngay cả những viên chức đắc cử cũng cần đến những chuyên gia góp ý, giúp đỡ. Do đó, nhiệm vụ cuả cử tri trong tầm giới hạn quyết định những chính sách và phương hướng. Cử tri chuyển những  quan điểm cuả họ đến những đại biểu bằng cách bầu phiếu những ứng viên  cùng chung một dòng suy nghĩ và được họ tin cậy.

 3/ Dân Chủ và Phát Triển Kinh Tế . Lịch sử đã chứng minh rằng dân chủ là cơ hội tốt nhất để thành công trong những quốc gia ổn định, đang phát triển và sự giàu nghèo không quá chênh lệch. Một số học giả cho rằng dân chủ phát triển thích hợp trong những quốc gia thành phần trung lưu chiếm đa số.

Nhiều quốc gia dân chủ bị sụp đổ trong thời kỳ kinh tế suy thoái trầm trọng. Khi số đông dân chúng không tìm được việc làm, họ thường ủng hộ những nhóm lật đô chính quyền. Một quốc gia đang bị nạn đói hoành hành, thực phẩm cúu trợ quan trọng hơn là quyền bầu cử và những quyền năng chính trị khác .

4/ Chuyển Đổi Giai Cấp. Điều cốt yếu cuả dân chủ là sự chuyển biến cuả con người hoặc cuả nhóm người từ giai cấp nầy qua giai cấp khác. Mỗi người đều có cơ hội hoàn toàn bình đẳng để gia tăng lợi tức, thăng tiến nghề nghiệp, nâng cao điạ vị xã hội. Xã hội với một hệ thống giai cấp chặc chẽ không cung cấp cơ hội cho cá nhân thăng tiến là phản dân chủ. Một quốc gia dân chủ không có bất cứ sự hạn chế nào đối với cá nhân vì lý do chủng tộc, tôn giáo, giai cấp xã hội. 

 5/ Đồng Thuận trên Những Nền Tảng (Agreement on Fundamentals). Đây là vấn đề trọng yếu cuả dân chủ. Đa số dân chúng trong một chế độ dân chủ phải tin vào phẩm giá căn bản và sự bình đẳng cuả tất cả mọi người. Mặc dù dân chủ nhấn mạnh đến sự quan trọng cuả cá nhân, tuy nhiên người công dân phải đặt sự an nguy cuả đất nước trên quyền lợi riêng tư cuả mỗi người. Người dân cũng phải thuận thảo tổng quát những muc tiêu cuả chính quyền. Họ phải phân tách, tìm kiếm cách tốt nhất để thành đạt các mục tiêu. Nếu những mục tiêu, chính nó không trong sáng, nền móng dân chủ sẽ không vững chắc.    

DIỄN TIẾN PHÁT TRIỂN DÂN CHỦ

 1/ Nguồn Gốc Dân Chủ. Dân chủ bắt đầu khai sinh từ Hy Lạp cổ thời, vào khoảng 600 năm TCN. Từ ngữ democracy (dân chủ) phát sinh từ tiếng Hy Lạp demos có nghiã là nhân dânkratos có nghiã là cai trị hoặc chính quyền. Những nhà tư tưởng chính trị (political thinkers) Hy Lạp nhấn mạnh đến ý nghiã cai trị bằng luật pháp. Họ chỉ trích chế độ độc tài như là hình thức chính quyền tồi tệ nhất. Nhã Điển (Athens) và một số đô thị khác cuả Hy Lạp đã có chính quyền dân chủ ngay từ thời bấy giờ.

Dân chủ ngày xưa tại Nhã Điển là dân chủ trực tiếp khác với cung cách dân chủ ngày nay là dân chủ đại diện. Mỗi nam công dân có bổn phận phục vụ thường xuyên trong quốc hội để thông qua luật lệ và quyết định tất cả những chính sách quan trọng cuả chính phủ, tuy nhiên không có sự phân chia giữa hai ngành lập pháp và hành pháp trong chính quyền. Những người nô lệ chiếm một phần lớn dân số cuả Nhã Điển đều phài làm việc. Nô lệ và phụ nữ không được bầu phiếu.

Người La Mã cổ thời cũng kinh qua dân chủ nhưng thực hiện khác với cư dân Nhã Điển. Những nhà  tư tưởng chính trị La Mã chỉ dạy rằng quyền lực chính trị phát xuất từ sự đồng thuận cuả dân chúng. Chính trị gia La Mã Cicero nêu lên ý tưởng rằng con người có những quyền tự nhiên mà tất cả chính quyền đều phải tôn trọng.

 2/ Thời Trung Cổ. Cơ Đốc Giáo dạy rằng tất cả mọi người đều bình đẳng trước Thượng Đế. Lời giáo huấn nầy làm gia tăng lý tưởng dân chủ coi mọi người đều là huynh đệ. Cơ Đốc Giáo cũng khai mở thêm tư tưởng rằng tín đồ Cơ  Đốc Giáo là công dân cuả hai vương quốc : vương quốc cuả  Thiên Chuá và vương quốc cuả trần gian. Điều nầy giải thích rằng không một quốc gia nào đòi hỏi người dân phải trung thành tuyệt đối, vì lẽ người dân cũng phải tuân phục Thượng Đế và những Điều Răn Dạy. Trong suốt thời Trung Cổ (400-1500), sự tranh chấp giữa hai sự trung thành nầy là cơ hội tìm thấy nền tảng cho chính quyền dựa trên hiến pháp.

 3/Thời Phục Hưng và Thời  Cải Cách (the Renaissance and the Reformation). Cuộc bùng nổ lớn về văn hoá được gọi là Thời Phục Hưng trải khắp Âu Châu trong suốt những thế kỷ 1300’s, 1400’s, 1500’s. Một tinh thần mới về tư tưởng cá nhân và độc lập được phát triển mạnh, ành hường đến tư duy chính trị và thúc đẩy dân chủ. Con người bắt đầu đòi hỏi tự do hơn nữa về tất cả những lĩnh vực trong đời sống.

Sự chuyển hướng mới mẻ cuả tư tưởng cá nhân độc lập được thể hiện trong giáo phái Tin Lành. Sự cải cách nhấn mạnh đến sự quan trọng cuả lương tâm cá nhân. Trong suốt thế kỷ 1500’s, cả Thiên Chuá Giáo (Catholics) và Tin Lành (Protestants) đều binh vực quyền chống lại nền quân chủ chuyên chế. Cả hai tôn giáo đều lý luận rằng quyền lực chính trị cuả những kẻ cầm quyển trên thế gian (political power of earthly rulers) phát sinh từ sự thoả thuận cuả con người.

 4/ Dân Chủ ở Nước Anh. Năm 1215, quí tộc Anh ép buộc Vua John chấp thuận Bản Đại Hiến Chương (Magna Carta). Tài liệu lịch sử nầy là biểu tượng tự do cuả nhân loại được dùng để hổ trợ cho những đòi hỏi việc xét xử trước toà án với bồi thẩm đoàn, chống lại việc bắt giam vi luật (unlawfull arrest) và không đóng thuế nếu không có đại diện.

Nền dân chủ Anh Quốc phát triển chậm chạp trải dài hơn bốn trăm năm tiếp theo. Năm 1628, Quốc Hội thông qua Thỉnh Nguyện Quyền (Petition of Right). Bản thỉnh nguyện đạo đạt lên Vua Charles I xin ngưng thu thuế vì không có sự đồng ý cuả Quốc Hội, đồng thời yêu cầu Quốc Hội nên họp định kỳ. Vua Charles không chấp thuận sự giới hạn vương quyền và nội chiến bùng nổ năm 1642. Tín đồ Thanh Giáo (Puritans) do Oliver Cromwell lãnh đạo đánh bại phe bảo hoàng và Vua Charles bị chém đầu năm 1649.

Cuối cùng, cuộc cách mạng ở nước Anh năm 1688 thiết lập thẩm quyền tối cao dành cho Quốc Hội. John Locke, một triết gia cuả cuộc cách mạng tuyên bố rằng quyền hạn trên hết cuả những vấn đề chính trị thuộc về nhân dân và mục tiêu chính cuả chính quyền là bảo vệ đời sống, tự do và tài sản cuả người dân. Quốc Hội thông qua Tuyên Ngôn Nhân Quyền năm 1689, bảo đảm những quyền dân sự căn bản.

Tuy nhiên tình trạng dân chủ vẫn còn phôi thai. Một số thành phố kỹ nghệ lớn không có đại diện trong Quốc Hội mãi đến sau khi ban hành Luật Cải Cách (Reform Bill) năm 1832. Định mức tài sản cho viêc bầu phiếu dần dần tan biến. Đến năm 1918, lần đầu tiên tất cả nam công dân được phép đi bầu và mãi đến 1928 bầu phiếu nới rộng đến tất cả nữ cử tri.

5/ Những Đóng Góp cuả Người Pháp đối với Dân Chủ. Những đóng góp cuả người Pháp đối với dân chủ được thể hiện trong những năm cuả thế kỷ 1700’s, xuất phát từ những tư tưởng chính trị cuả  Montesquieu, Voltaire, và Jean Jacques Rousseau. Những bài viết cuả họ làm bùng lên cuộc Cách  Mạng Pháp bắt  đầu năm 1789. Montesquieu lý luận rằng tự do chính trị đòi hỏi phân cách riêng biệt ba ngành hành pháp, lập pháp, tư pháp. Voltaire hô hào chống lại chính quyền xâm nhập vào quyền lợi cá nhân và sự tự do. Rousseau tuyên bố trong tác phẫm Khế Ước Xã Hội (The Social Contract) năm 1762, rằng “người dân có bổn phận chỉ tuân theo những quyền lực hợp pháp (people have a duty to obey only legitimate powers)”. Ông cũng nói thêm rằng những nhà cầm quyền đứng đắn chính là những người được dân chúng tự do chọn lựa.

Paris BastilleCuộc Cách Mạng Pháp, một biến cố quan trọng trong lịch sử dân chủ, làm thăng tiến những tư tưởng về tự do và bình đẳng, tuy rằng chưa biến đồi nước Pháp thành một quốc gia dân chủ nhưng cũng ngăn cản, hạn chế những quyền lực cuả vương triều.

6/ Dân Chủ Mỹ Quốc. Nền dân chủ nuớc Mỹ bắt nguồn từ những truyền thống do những người Anh di dân đầu tiên mang đến vùng Bắc nuớc Mỹ. Những người đi tìm vùng đất hứa (Pilgrims) để tránh sự xung đột tôn giáo tại quê nhà, định cư lập nghiệp tại Massachusetts năm 1620, họp nhau ký kết Khế Ước Mayflower (Mayflower Compact) nhằm tuân chỉ “luật công bằng và bình đẳng ( just and equal laws)”. Hơn 150 năm tiếp theo, cuộc Cách Mạng Mỹ (American Revolution) bắt đầu vào năm 1775. Những nguời di dân muốn tự trị và không muốn bị đóng thuế nếu không có đại diện. Tuyên Ngôn Độc Lập (The Declaration of Independence) được Quốc Hội Lục Điạ (Continental Congress) công bố năm 1776, là một tài liệu cổ điển về dân chủ, xây dựng nhân quyền như là một lý tưởng mà chính quyền phải noi theo.

Hầu hết những Quốc Phụ (Founding Fathers) thời bấy giờ không tin vào thể chế dân chủ trực tiếp kiểu Nhã Điển vì họ nghĩ rằng giao quyền cho dân chúng nhiều quá sẽ trở thành hỗn loạn và họ muốn thành lập chính thể cộng hoà. Vì lý do nầy, những người viết Hiến Pháp Mỹ tạo nên hệ thống phân quyền giữa liên bang và tiểu bang. Họ cũng phân chia quyền lực thành các ngành lập pháp, hành pháp, tư pháp. Ngoài ra Tổng Thống không phải bầu trực tiếp mà bầu qua cử tri đoàn.

Sau khi trở thành Tổng Thống Hiệp Chúng Quốc năm 1801, Thomas Jefferson đã tuyên bố rằng việc ông đắc cử là một cuộc cách mạng. Năm 1828, cuộc bầu cử Tổng Thống Andrew Jackson đẩy mạnh nền dân chủ Mỹ tiến xa hơn nữa. Tinh thần khai phá cuả những di dân tiến về Miền Tây lập nghiệp, thúc đẩy lòng tự tin, thăng tiến tự do cá nhân, và gia tăng đồng đều cơ hội.

Khuynh hướng trường kỳ cuả Hiệp Chúng Quốc là làm cho tất cả công dân Mỹ trưởng thành đều có quyền bầu cử. Năm 1850, những nam công dân da  trắng trong các tiểu bang đều được bầu cử. Tu Chính Án thứ 15 ban hành năm 1870 cho đàn ông da đen quyền đầu phiếu. Năm 1920, Tu Chính Án thứ 19 cho phụ nữ quyền bầu cử.

7/ Dân Chủ Phát Triển và Trở Ngại. Dân chủ tiếp tục phát triển trong những năm cuả thế kỷ 1800’s tại những quốc gia theo gương nước Anh và nuớc Mỹ. Những định chế chính trị như là tuyển cử, lập pháp trở nên phổ biến. Các Vua vẫn trị vì nhưng họ mất nhiều quyền lực và thi hành những nhiệm vụ có thính cách nghi thức.

Cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ (Industrial Revolution) làm cho những thay đổi chính trị trở nên vô cùng quan trọng. Trong hậu bán thế kỷ 1800’s, giai cấp lao động đã đòi hỏi và nhận được những quyền lực chính trị nhiều hơn. Những luật lệ mới đem đến người dân quyền bầu cử. Những tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, tôn giáo, được mở rộng và lan tràn khắp nơi.

Tuy nhiên dân chủ cũng gặp trở ngại tại môt số lãnh thổ. Một số quốc gia sau khi mô phỏng mẫu mực hiến pháp Mỹ, lại trở nên toàn trị. Từ hiện tượng nầy, nhiều người nghĩ rằng chỉ với bản Hiến Pháp không đủ bảo đảm một xã hội yên vui trong một chế độ dân chủ. Tại Nga, một nhóm nổi loạn lập nên chính quyền độc tài cộng sản năm 1917, chận đứng tiến trình dân chủ. Nước Đức tuy đã hình thành được nền tảng dân chủ năm 1919, nhưng sau đó Adolf Hitler lại vùng lên nắm chính quyền dựng nên chế độ độc tài phát xít năm 1933.

Tất cả các nước trên thế giới hiện nay đều tự nhận là dân chủ, tuy nhiên những quyền tự do căn bản cuả một chế độ dân chủ vẫn bị hạn chế, lạm dụng tại một số quốc gia. Truớc đây, khi khối cộng sản đệ tam quốc tế chưa tan vỡ, hằng ngày từ MạcTư Khoa đến Bắc Kinh, Hà Nội đều lớn tiếng bênh vực một thể chế dân chủ nhân dân (people’s democracy). Ngày nay, trong thế yếu với năm quốc gia còn lại, liên kết lỏng lẻo gồm Trung cộng, Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba, Lào, vẫn tiếp tục làm lệch hướng, bẻ cong những nguyên tắc dân chủ. Tại các quốc gia cộng sản nầy, đảng cộng sản là tồ chức chính trị duy nhất lãnh đạo đất nước, nắm trong tay ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Chính quyền cộng sản ngăn cấm các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tù đày, giết chết những người chỉ trích những hành vi sai trái, tham nhũng cuả đảng cộng sản và nhà nuớc xã hội chủ nghiã.

                                                         —o—0—O—0—o—

Trải qua nhiều thế kỷ tranh đấu quả cảm và chấp nhận hy sinh, người dân tại các quốc gia Anh, Pháp, Mỹ, đã tạo được một mẫu mực chính quyển phù hợp với công đạo cuả nhân loại : Dân Chủ. Qua thời gian, thể chế dân chủ được bồi đắp, hoàn chỉnh từ lý thuyết đến thực hành, đuợc dân chúng khắp nơi hoan nghênh tiếp nhận để tạo lập một đời sống xứng đáng với nhân phẫm.

Tại Việt Nam từ đầu thế kỷ 20, một số sĩ phu tìm đường cứu nước đã đến Nhật Bản, Trung Hoa Dân Quốc, Pháp Quốc, nghiên cứu, học hỏi nề nếp sinh hoạt và lý thuyết dân chủ. Các bậc tiền bối đã nhận thấy rằng dân chủ là cơ hội nhằm khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, gây dựng sức mạnh lâu dài cho dân tộc dành lại độc lập từ thực dân Pháp và xây dựng một nước Việt Nam văn minh, giàu mạnh. Cuộc khởi nghiã Yên Bái năm 1930 là biểu tượng truyền thống dũng luợc cuả dân tộc từ lớp thanh niên nhiệt huyết, noi theo các cuộc cách mạng dân chủ Anh, Pháp.

Cũng vào đầu thập niên 1920, một thanh niên học vấn vài năm trung học, kiến văn non kém, không nghe lời khuyên bảo cuả những nhà cách mạng uyên bác và kinh nghiệm, lạc lối vào mê hồn trận cuả đệ tam quốc tế. Anh ta gia nhập đảng cộng sản và đuợc Mạc Tư Khoa huấn luyện thành một cán bộ hoạt động khu vực Đông Nam Á. Người thanh niên ấy có tên khai sanh Nguyễn sinh Cung sau đổi thành Hồ chí Minh – kẻ sáng lập đảng cộng sản Việt Nam – được đệ tam quốc tế nhồi nhét “bạo lực cách mạng vô sản”, trở nên một cuồng nhân mất trí, dồn dập gây ra nhiều tai hoạ khốc liệt cho toàn khối dân tộc từ 1945 mãi đến ngày nay vẫn còn tiếp diễn.

Dân tộc Việt Nam đang trước vực thẳm diệt vong do tham vọng bành trướng cố hữu cuả Hán tộc  hướng về Đông Nam Á. Từ một kẻ thù truyền kiếp cuả dân tộc, Trung cộng trở thành một đồng minh, một đối tác chiến lược “môi hở răng lạnh”, một người anh cả đầy quyền uy cuả đảng cộng sản Việt Nam. Việt cộng hiện nguyên hình một thế lực gian ác như một bầy rắn độc quấn quanh một lọ cổ qúi, sẵn sàng đập vở báu vật nếu bị xua đuổi. Dân chúng và những nhà tranh đấu quốc nội, hải ngoại hiện nay đều dùng lý tưởng dân chủ, nhân quyền để giải quyết vấn đề sống còn cuả dân tộc.  Công cuộc vận động dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam đuợc sự hổ trợ cuả hầu hết các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên loài thú bò sát có nọc độc vẫn ngoan cổ ôm giữ cả một giang sơn hoa gấm làm con tin, bao che quyền lợi riêng tư của đảng bán nuớc Việt gian cộng sản.

Dân chủ được xem là giải pháp thích hợp nhất cho vấn đề Việt Nam hiện tại.  Những khó khăn trên đường xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, cường thịnh và trường tồn sẽ được giải toả khi tất cả những con người, những tổ chức chống cộng đều trân qúi trên hết bốn nghìn năm lịch sử dân tộc, thật sự yêu nước, thật sự đoàn kết và chấp nhận hy sinh .

 Thế Việt (7/13)

nguồn: Email Hung Vu

2.Các khái niệm dân chủ, pháp quyền, cộng hòa và xã hội: Lý thuyết và thực tế

Đỗ Kim Thêm

Vấn đề

Một trong những góp ý tu chỉnh Hiến pháp Việt Nam là đề xuất du nhập mô hình dân chủ của nhà nước phương Tây. Dân chủ là một khái niệm luật Hiến pháp nhằm quy định hình thức cai trị, nhưng lại gắn liền với các khái niệm pháp quyền, cộng hoà và xã hội. Dù có liên hệ nhau nhưng các khái niệm này có nhiều giá trị tương đồng và dị biệt mà bài viết này sẽ giới thiệu những mối quan hệ lý thuyết để đối chiếu với thực tế của Hiến pháp Việt Nam.

Lý thuyết luật Hiến pháp

Dân chủ và pháp quyền

Ý nghiã dị biệt

Ý nghĩa chính của dân chủ là toàn dân có thẩm quyền tối thượng trong việc quyết định vận mệnh của đất nước và con người, mà không ai khác thay thế. Vào thời trung cổ giáo quyền chiếm vai trò chủ yếu trong việc quyết định mọi sinh hoạt thế quyền. Sau khi Cách mạng Pháp thành công, toàn dân trở thành nguồn quyền lực duy nhất của đất nước, điển hình là thẩm quyền lập hiến. Toàn dân là tác giả Hiến pháp mà nội dung là quy định một trật tự cho sự chung sống trong xã hội và quan trọng nhất là các nguyên tắc tổ chức nhà nước. Tại Đức, nguyên tắc quyền dân tộc tối thượng lần đầu tiên được ghi trong Hiến pháp Weimar 1919, nguyên tắc này cũng được công nhận trong Hiến pháp các tiểu bang; Hiến pháp Paulkirchen 1849 tuy đề cao một vài yếu tố dân chủ nhưng lại không công nhận quyền dân tộc tối thượng như Pháp. Dân chủ, do đó, không đi sâu về nội dung luật pháp, tính chính thống hay kiểm soát các hoạt động nhà nước.

Khái niệm dân chủ tại Hoa kỳ và châu Âu có nhiều dị biệt. Dân chủ tại Hoa kỳ không là một phong trào đấu tranh trong nội bộ của một nước mà trước tiên là đòi hỏi quyền tự do tôn giáo và quyền tự trị. Sự hình thành các tiểu bang New England (Đông Hoa Kỳ) nhằm tách rời khỏi quyền thống trị của mẫu quốc Anh là một minh chứng. Truyền thống tư duy tại châu Âu khác hơn. John Locke cho rằng dân quyền tại Anh là tình trạng tự nhiên có sẵn của xã hội mà vai trò của chính quyền là phải bảo đảm quyền này được thực thi. Locke không coi dân chủ là quyền tối thượng và nằm trong truyền thống đấu tranh như tại Pháp. Lịch sử của Pháp cho thấy toàn dân có một quá trình chống đối và với cải cách liên tục của chính quyền mà khái niệm về dân chủ mới thành hình. Nhờ thế dân chủ trở thành quyền tốí thượng và không thể chuyển nhượng

Nhà nước pháp quyền, ngược lại, đặt vấn đề nội dung, phạm vi và luật thủ tục trong việc điều hành các hoạt động của nhà nước, cụ thể là quy định mọi giới hạn của nhà nước và người dân vào luật pháp. Nguyên tắc ràng buộc này nhằm bảo đảm quyền tự do của cá nhân, cụ thể là nhà nước phải tôn trọng việc thực thi dân quyền, các thủ tục luật hành chính và có nền tư pháp độc lập. Tôn trọng luật pháp là một phương tiện cho nhà nước thực thi nguyên tắc dân chủ được hữu hiệu hơn.

Lịch sử chứng minh các chế độ quân chủ hiến định vào thế kỷ XIX, dù không dân chủ, nhưng cũng tôn trọng nguyên tắc nhà nước pháp quyền. Nguợc lại, các chế độ dân chủ hiện nay luôn đề cao trọng pháp, mà mức độ áp dụng trong thực tế bị giới hạn.

Mục tiêu tương đồng

Nội dung của khái niệm nhà nước pháp quyền nhằm bảo vệ dân quyền một cách tổng quát, không đặc biệt hướng về ý kiến của người dân trong các quyết định cụ thể. Dù khác nhau về chiều hướng nhưng hai khái niệm dân chủ và pháp quyền cùng theo đuổi một mục tiêu chung là bảo vệ dân quyền, mà tự do ngôn luận, báo chí, thông tin và hội họp là điển hình. Quyền tự do dân chủ là một điểm nối kết cho hai khái niệm này gặp nhau. Đó cũng chính làm điểm phân biệt giũa chế độ dân chủ và độc tài. Tự do có quan hệ với dân chủ vì là nguyên tắc hình thức tổ chức cho một nhà nước, trong khi chế độ độc tài, ngược lại, không tạo điều kiện này. Do đó, dân chủ và pháp quyền có một chức năng chung là bảo vệ dân quyền và tự do trong một thể thống nhất.

Hai nguyên tắc dân chủ và pháp quyền không hề cạnh tranh hay đối nghịch mà bổ sung nhau, tạo thành một khuôn khổ chung làm cho luật Hiến pháp có giá trị bền vững hơn. Ý nghĩa của phân quyền nếu nằm trong khuôn khổ dân chủ thì sẽ dễ thành hình hơn; quyền lực của nhà nước, do đó, được quân bình hơn và có điều kiện kiểm soát chặt chẽ hơn. Thí dụ điển hình nhất là vai trò độc lập của cơ quan tư pháp. Tinh thần độc lập và khách quan của tòa án làm cho việc giải quyết các tranh chấp không bị quyền lợi cá nhân hay phe nhóm gây ảnh hưởng.

Toàn dân nắm quyền lực cai trị đất nước, nên nhà nước pháp quyền cũng bị giới hạn trong nguyên tắc này. Có lập luận cho là tam quyền phân lập ngày càng chuyên môn hoá cao độ nên làm suy yếu việc thực thi dân chủ. Thực tế cho thấy phân biệt chức năng trong quyền lực của bộ máy nhà nước không làm mất đi quyền kiểm soát của người dân, vì việc quân bình và kiểm soát sẽ hữu hiệu hơn, dĩ nhiên trong điều kiện là nếu nhà nước tôn trọng uy lực của luật pháp

Dân chủ và cộng hòa

Cộng hoà là một khái niệm cổ điển của luật Hiến pháp nhằm quy định về tổ chức nhà nước và có hai nghĩa hình thức hay nội dung.

Hình thức

Miachiavelli là người đầu tiên du nhập khái niệm cộng hoà vào luật Hiến pháp. Ông cho rằng nhà nước cộng hoà có hai chức năng là nắm quyền lực và lãnh đạo mà trước đó thuộc về nhà vua. Nhà nước cộng hoà được hiểu là tương phản và thay thế cho nhà nước quân chủ. Do đó, chúng ta không thể gọi chế độ quân quyền của Anh và Thụy Điển là cộng hoà. Qua sự hình thành và phát triển của khái niệm dân chủ, chế độ cộng hoà sẽ làm dân chủ hóa cho đất nước về hình thức. Ngày nay, khái niệm cộng hoà đã thay đổi nhiều vì không chú trọng đến cá nhân lãnh đạo mà coi là một hình thức cai trị cộng đồng, bao gồm tất cả sinh hoạt chung của đất nước và con người.

Mối quan hệ giữa dân chủ và cộng hòa không đối nghịch hay đồng nghĩa vì cả hai có chiều hướng khác nhau. Nhưng du nhập khái niệm cộng hoà cho một chế độ dân chủ cũng không làm cho nguyên tắc dân chủ suy yếu hay mạnh hơn. Thực tế cho thấy các nước độc tài chuyên chế hoặc theo xã hội chủ nghĩa đã lạm dụng khái niệm cộng hòa khi khái niệm chuyên chính vô sản không hề phù hợp với cộng hoà dù theo nghĩa hình thức.

Nội dung

Nội dung của khái niệm cộng hoà được Cicero và Kant đề cao. Cicero cho là dân tộc không chỉ là một tập hợp của một số người hổn tạp mà là một sư đồng thuận chung sống trong quy luật chung và sử dụng các tài sản chung. Cộng hoà là việc điều hành các vấn đề chung cho mọi người trong cộng đồng, thí dụ như trong cùng thành phố thời cổ Hy Lạp. Do dó, quyền lợi của cá nhân hay một phe nhóm không có ý nghĩa cộng hoà mà thuộc về tất cả các thành viên trong cộng đồng. Cá nhân và lãnh đạo cùng theo đuổi mục đích chung sống trong chế độ cộng hoà trong tinh thần trọng pháp. Chế độ cộng hoà không còn là một hình thức không quân chủ hay chuyên chế mà là một chế độ chính trị, một biểu hiện có nội dung là mọi quyết định phải phù hợp với quyền lợi công cộng. Trong nội dung này, cộng hoà có ý nghiã của khái niệm nhà nước pháp quyền hiện nay.

Theo Kant, cộng hoà không có nội dung giáo điều mà là một khái niệm luật Hiến pháp đề ra các quy phạm căn bản cho sự chung sống trong xã hội và ba điều kiện tiên quyết là tự do, ràng buộc về luật pháp và bình đẳng. Nội dung này không cách biệt với khái niệm tự do dân chủ hiện đại. Kant mơ ước là nếu Hiến pháp cộng hoà thực hiện được trong từng quốc gia và có sự hợp tác quốc tế hữu hiệu thì một nền hoà bình vĩnh cữu cho nhân loại là khả thi.

Dân chủ và xã hội

Ủy nhiệm mục tiêu

Nhà nước xã hội là một khái niệm hiện đại của luật Hiến pháp, không phải là một nguyên tắc hiến định để tạo thành nhà nước XHCN, không thuộc về dân quyền hay pháp quyền, mà là một mục tiêu của nhà nước để đem lại công bình và an toàn xã hội. Đúng hơn đây là một sự ủy nhiệm của luật Hiến pháp cho nhà nước và các cơ quan chức năng thi hành các biện pháp xã hội để bảo đảm cuộc sống cho toàn dân, thí dụ tạo an sinh cộng đồng, phúc lợi xã hội, phòng chống thiên tai, công bình trong hệ thống thuế khọá, phân phối lợi tức, các biện pháp bảo hiểm sức khoẻ, thất nghiệp, hưu bổng và trợ cấp xã hội vv…

Hai khái niệm dân chủ và nhà nước xã hội không đối nghịch mà hổ trợ nhau. Nếu bất công là một hậu quả tất yếu trong đời sống xã hội, thì dân chủ là một khả năng để giải quyết vấn đề. Việc thực hiện các mục tiêu của nhà nước xã hội đề ra cần đến dân chủ. Dân chủ đem lại sư bình đẳng chính trị cho toàn dân, dân có quyền định chọn lãnh đạo qua hình thức đầu phiếu. Do đó, các bất công xã hội cũng phải do dân giải quyết qua phương thức dân chủ.

Trin vọng khó khăn

Trở ngại chính là nguyên tắc dân chủ quy định quá tổng quát, trong khi mang lại công bình và an toàn xã hội cho toàn dân là mục tiêu lý tưởng. Đồng thuận dân chủ không thể đề ra một thể chế tối ưu và một giải pháp khi nhà nước không có phương tiện. Hiện nay, bất công xã hội không thuần túy nằm trong sự bóc lột công nhân qua quá trình sản xuất như Marx mô tả mà thực tế phức tạp hơn nhiều. Toàn cầu hoá, nợ công lan tràn và suy thoái kinh tế là các vấn đề xã hội trầm trọng của các nuớc phương Tây. Khả năng giải quyết vấn đề càng thu hẹp, nên nhà nước càng cần hợp tác quốc tế và các tổ chức dân sự, kể cả sự chấp nhận hy sinh và khắc khổ của dân chúng.

Luật Hiến pháp không cho phép nguời dân có tố quyền hiến định về một quyền lợi xã hội. Triển vọng về việc phát triển quyền này thành một nhân quyền càng khó khăn hơn vì tình hình kinh tế không cho phép. Tạo công bình trong phân phối phúc lợi và an toàn xã hội cho toàn dân, giải quyết bất công qua đánh thuế doanh nghiệp, thuế di sản và thuế lợi tức là những biện pháp luật định. Do đó, vấn đề không những cần dân chủ mà còn cần đến pháp quyền. Mối quan hệ này cần được đặt ra. Việc phân chia phúc lợi xã hội công bình trong tương lai càng bất trắc hơn.

Thực tế Hiến pháp Việt Nam

Thực trạng

Dù tự hào dân chủ của Việt Nam là tốt đẹp vạn lần hơn của các nước phương Tây, nhưng Việt Nam chưa hề có một Hiến pháp nào đúng nghĩa là của dân làm ra, nên không có điều kiện tương đồng để so chiếu với các khái niệm vừa trình bày và suy diễn về tương lai Hiến pháp. Nếu chấp nhận giá trị phổ quát của các khái niệm trên để soi sáng cho thực trạng Hiến pháp thì chúng ta thấy một thực tế khác.

Hiến pháp không có dân chủ, vì ngườì dân không có cơ hội hành xử thẩm quyền lập hiến và không có tố quyền hiến định về các vi phạm nhân quyền. Hiến pháp không bảo đảm tự do báo chí mà trước đây thực dân Pháp đã triệt để tôn trọng.

Hiến pháp không có pháp quyền soi sáng vì Đảng quyền can thiệp toàn diện và triệt để vào mọi sinh hoạt xã hội, do đó vi phạm về sự phân biệt giữa chính quyền và xã hội.

Hiến pháp không theo thể chế cộng hoà dù quốc hiệu minh danh là cộng hòa xã hội chủ nghiã. Quyền dân chủ nhân dân mà chế độ Đảng cử dân bầu và quyền sở hữu nhà nước không phù hợp theo ý niệm cổ điển cộng hoà.

Hiến pháp không theo quan điểm nhà nước xã hội vì định hướng XHCN. Chính sách này không đem lại công bình trong phân chia phúc lợi và an toàn xã hội. Bốn khiếm khuyết này quá hiển nhiên nên không cần lý giải thêm.

Nguyên nhân

Lý thuyết Mác xít cho rằng các khái niệm thượng tôn luật pháp, tôn trọng nhân quyền, tam quyền phân lập, chính thể lập hiến và đại nghị là những sản phẩm sai lầm của ý thức trong xã hội tư sản mà tranh chấp quyền lợi của các giai cấp là một thực tại khách quan. Hiến pháp phản ảnh một tình trạng đấu tranh giai cấp, một phương tiện cho giai cấp thống trị đàn áp các giai cấp khác và cuối cùng đi đến thoả hiệp về hình thức hay nội dung trong một thời kỳ nhất định. Sự thoả hiệp này không còn nữa khi giai cấp công nhân thắng thế trong cuộc đấu tranh cách mạng. Giai cấp vô sản là đại diện chính thống cho toàn xã hội và có thẩm quyền tối thượng về lập hiến. Với bạo lực cách mạng và độc quyền chuyên chính vô sản Hiến pháp XHCN là một công cụ lý tưởng để xây dựng xã hội và đem lại công bình tuyệt đối. Các mối quan hệ về các khái niệm dân chủ, pháp quyền, cộng hoà và xã hội sẽ bị hủy diệt theo ánh sáng của nền dân chủ nhân dân.

Thực tế đấu tranh cách mạng dành độc lập và giải phóng dân tộc tạo cho Đảng có một ưu quyền tối thượng và Việt Nam có một đặc thù là Đảng, nhà nước và xã hội là một thể thống nhất. Soạn thảo Hiến pháp là sự cải biên các Nghị quyết và Cương lĩnh của Đảng; Hiến pháp không do thẩm quyền lập hiến của toàn dân quyết định và nội dung không là ý chí chung sống của toàn dân trong nguyên tắc đồng thuận. Từ sự áp đặt của Đảng quyền mà Hiến pháp không có giá trị về mặt pháp lý và thực tế.

Giải pháp

Lý thuyết về luật Hiến pháp rất đa dạng cần được góp ý, nhưng ít ai quan tâm, kể cả học giới. Đảng chưa thuyết phục được về khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và không còn thuyết phục được về khái niệm chuyên chính vô sản và quyền sở hữu toàn dân. Tất cả lý thuyết làm kìm chế sự thịnh vượng đất nước. Nếu Quốc hội tiếp tục sao chép Cương lĩnh của Đảng thì Hiến pháp tương lai sẽ là một áp đặt của tư bản nhà nước với giai cấp vô sản mới, nạn nhân của Đảng. Cuối cùng, Hiến pháp không phát huy được khái niệm đối lập chính trị trong sinh hoạt dân chủ mà chỉ duy trì khái niệm phản động, thế lực thù địch và suy thoái đạo đức.

Thực tế về góp ý tu chỉnh không dựa theo lý thuyết luật pháp XHCN mà theo công lý cá nhân và đạo đức xã hội để lập luận. Dân oan thấy là luật pháp không còn là công cụ của tư sản bóc lột mà đã trở thành phương tiện cưỡng chế của tư bản thân tộc. Dân không thấy có thành phần giai cấp vô sản vùng lên mà chỉ biết có các nhóm lợi ích dành nhau định đoạt vận mệnh đất nước. Dân không tự xác định được mình có thẩm quyền lập hiến tối thượng, vì cho là hoang tưởng và dè dặt hơn khi góp ý theo chỉ đạo của Đảng. Dĩ nhiên cũng có một thiểu số khác phê phán Đảng nghiêm khác hơn với tất cả thành tâm. Dù cả hai thiện chí này đều đáng được tôn trọng, nhưng không đem lại giá trị cho việc tu chỉnh được cao cả hơn, vì vô hình chung là họ chấp nhận duy trì tình trạng vô luật pháp hiện nay.

Đảng muốn tiếp tục lãnh đạo, nhưng dân cần có cơ hội đối thoại trong tinh thần bình đẳng hơn là theo sự chỉ đạo của Đảng. Giữa dân và Đảng cần hiểu nhau nhiều hơn mà hệ thống thông tin của nhà nước và cộng đồng mạng không thể đáp ứng được nhu cầu này. Để chuẩn bị tìm ra mô hình Hiến pháp mới, các khái niệm hiến định là quan trọng cho học giới, vì họ cần có cơ sở để đóng góp thiết thực hơn. Một cuộc thăm dò dư luận khách quan sẽ đem lại nguồn thông tin khả tín và phương tiện cần thiết. Tìm hiểu y kiến công luận về triển vọng hình thành các định hướng lập hiến này là một sinh hoạt bình thường của một đất nước dân chủ. Việc Đảng và dân chúng đồng thuận tham gia cho bước khởi đầu này trở thành vấn đề nghiêm túc cần thảo luận sâu rộng hơn.

Kết luận

Trình độ luật pháp biểu hiện nền văn hoá của một nước. Tu chỉnh Hiến pháp là một nhu cầu bức thiết của thời đại để chứng tỏ là một tinh hoa văn hóa đáng cho thế hệ hôm nay tự hào và mai sau kế thừa. Tiến trình cải cách thêm xa vì chúng ta không có một chủ thuyết lập hiến mở lối và cũng không có kinh nghiệm thực tế để thu ngắn.

Nguyên uỷ chuyển động cho tương lai Hiến pháp cần đến một khởi điểm tinh thần: cả nước tìm hiểu và mến yêu những giá trị cao đẹp của Hiến pháp và biến kiến thức và ý thức này thành một tinh thần yêu nước. Luận đề này do triết gia Jürgen Habermas khởi xướng. Tinh thần yêu nước hôm nay là phát huy những giá trị đích thực của tự do, công bình, nhân quyền và ràng buộc pháp luật. Toàn dân thay đổi tư duy về thẩm quyền lập hiến là khởi điểm và Đảng thăm dò dư luận theo phương cách khoa học là biện pháp.

Dr. Đỗ Kim Thêm L.L. M., M. A, Legal Member, Competition Law and Policy and Consumers Protection Branch, United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD), Geneva. Views expressed are personal. Bài viết thể hiện quan đim cá nhân.

Đ.K.T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

nguồn: Bauxitvn

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 69 other followers

%d bloggers like this: