Vũ Thất

Bảo Bình 1

Tổng thống Thiệu ra lệnh khai hỏa ở Hoàng Sa

Tổng thống Thiệu ra lệnh khai hỏa ở Hoàng Sa

Henry Kissinger với Phó Tổng thống Nelson Rockerfeller và Tổng thống Gerald Ford năm 1974

Người dân chài làm ăn thường là cần cù, lương thiện nhưng khi người lính đội lốt dân chài đi đánh cá thì thật là nguy hiểm, dù đánh cá ở Scarborough, Kinsaku hay Hoàng Sa.

Vào tháng 2 năm 1959 ngư thuyền Trung Quốc đưa người vào đánh cá trên Hoàng Sa. Không biết là dân chài thật hay dân chài giả, Tổng thống Ngô Đình Diệm cho lệnh bắt giữ rồi trục xuất ra ngay.

Bộ Ngoại Giao Mỹ dưới sự lãnh đạo của Ngoại trưởng Foster Dulles không e ngại TQ trả đũa, cũng không ngăn chặn Tổng thống Diệm.

Tới năm 1974, ngư thuyền Trung Quốc lại quay về Hoàng Sa, nhưng lần này có chiến hạm đi theo. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh ‘mời’ những tàu này ra.

Khi chiến hạm cứ tiến vào, Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã khai hỏa. Trận chiến kéo dài một ngày. Lập tức Bộ Ngoại Giao Mỹ dưới sự lãnh đạo của ông Kissinger liền khẩn cấp can ngăn Tổng thống Thiệu hãy ngừng lại, đừng đụng độ với Trung Quốc thêm nữa!

Ý nghĩa của trận Hoàng Sa

Quân đội Mỹ vừa rút đi xong, Trung Quốc đã muốn tìm hiểu xem thực sự Mỹ có can thiệp trở lại hay không, Washington có thay đổi lập trường “ngăn chặn Trung Cộng'” hay không? Đó là lý do dẫn đến biến cố Hoàng Sa ngay đầu năm 1974.

Đây là cảm tưởng chúng tôi có được sau khi hàn huyên với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về biến cố này.

Một buổi chiều mùa Thu năm 1976 tại ngôi nhà bé nhỏ của gia đình ông ở vùng Surrey ngoại ô thành phố Luân Đôn, sau bữa cơm tối tôi ngồi nhâm nhi ly rượu và tâm sự với ông về những diễn biến trước khi sụp đổ.

Khi tôi hỏi ông về trận Hoàng Sa và nhắc lại là đầu năm 1974 ông có chỉ thị cho chúng tôi phải báo cáo cho thật trung thực về tình hình viện trợ, chúng tôi đã trình bày là về tiếp liệu, quân nhu và quân cụ thì chúng tôi không biết rõ, nhưng về ngân sách dành cho Việt Nam thì sắp hết rồi vì Quốc hội Mỹ đang cắt xén rất mạnh tay.

Tôi hỏi ông là tại sao ông biết đã đến lúc cạn kiệt rồi mà vẫn còn chống cự cả Trung Quốc.

Ông không trả lời thẳng nhưng suy nghĩ giây lát rồi lẩm bẩm – chúng tôi không nhớ rõ nguyên văn nhưng đại khái ông nói: “Tôi còn định đi thêm bước nữa,” rồi nhìn tôi và lắc đầu.

Tôi muốn hỏi thêm ‘đi bước nữa là thế nào,’ nhưng thấy ông tỏ vẻ lơ đãng, ưu phiền nên nói lảng sang chuyện khác. Các bạn có thể xem thêm trong cuốn Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 25.

Ngày nay, với những tiết lộ mới đây về mật điện của Bộ Ngoại Giao Mỹ vào chính ngày có hải chiến Hoàng Sa (19/1/1974) và tìm hiểu thêm qua nhân chứng thì chúng tôi đã có thể giải mã về biến cố này.

Phân tích cho kỹ thì thấy ý nghĩa của trận Hoàng Sa thật là sâu xa: về thực tế, là để bảo tồn lãnh thổ, nhưng về mặt nguyên tắc, nó phản ảnh một cố gắng – hoàn toàn ngoài sức mạnh của VNCH – để ngăn chặn Trung Quốc khỏi tràn xuống Biển Đông.

Bối cảnh dẫn tới trận Hoàng Sa

Ngày 22 tháng 6, 1972 trong một buổi mật đàm với Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ở Bắc Kinh, Cố vấn Mỹ Henry Kissinger đã cho ông Chu biết rằng:

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong lễ khai trương một bệnh viện ở Sài Gòn

Getty Image. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong lễ khai trương một bệnh viện ở Sài  Gòn

“Nếu có một thời gian vừa đủ giữa lúc chúng tôi rút quân và những gì xẩy ra sau đó thì vấn đề gần như chắc chắn rằng có thể khoanh gọn, như chuyện nội bộ của Đông Dương” và “sau khi chúng tôi đã không còn can dự nữa thì …rất ít khả năng chúng tôi sẽ quay trở lại, rất ít khả năng.”

Cuối tháng 3/1975, toàn bộ quân lực Mỹ đã rút khỏi Miền Nam. Sau đó Quốc Hội Mỹ lấy cớ “Miền Nam đã có cả hòa bình lẫn danh dự” để cắt giảm viện trợ thật nhanh.

Như vậy là ván bài Việt Nam đã được khoanh gọn, và tới đầu năm 1974 thì chắc TQ cho rằng “khoảng thời gian vừa đủ” đã chấm dứt: Bắc Kinh muốn trắc nghiệm xem Mỹ có quay trở lại hay không.

Cho nên, ngay đầu năm, Trung Quốc đã lấn chiếm Hoàng Sa.

Dù trong hoàn cảnh nghiệt ngã, Hải quân VNCH vẫn chống trả. Ngày 18 tháng 1, Tổng thống Thiệu bay ra tận Đà Nẵng, lấy giấy ra viết tay thẳng cho Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải.

Trên đầu trang ông viết: ‘Chỉ thị cho Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải’:

“Thứ nhất là tìm đủ mọi cách ôn hòa mời các chiến hạm Trung Cộng ra khỏi lãnh thổ VNCH. Thứ hai, nếu họ không thi hành thì được nổ súng cảnh cáo trước mũi các chiến hạm này và nếu họ ngoan cố thì toàn quyền sử dụng vũ khí để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ VNCH.”

Viết lệnh xong, ông Thiệu cất giọng: “Anh Thoại, đến đây và đọc trước mặt tôi đây, có gì không rõ ràng thì cho tôi biết ngay từ bây giờ.”

Dù bị mất Hoàng Sa và chịu nhiều tổn thất và thương vong, Hải quân VNCH đã gây tổn thất lớn cho đối phương như nhiều nguồn đã đề cập.

Theo ông Thoại thì Hộ tống hạm lớp Kronshtadt 274 của Trung Quốc bị bắn chìm.

Vì tàu này là soái hạm nên hầu hết bộ tham mưu đều tử trận gồm cả Đô đốc Phương Quang Kinh, Tư lệnh Phó của Hạm đội Nam Hải, bốn đại tá, sáu trung tá, hai thiếu tá, bảy sĩ quan cấp úy và một số đoàn viên.

Ngoài ra, Trục lôi hạm số 389 và số 396 bị hư hại nặng.

Dĩ nhiên phải “cẩn tắc” để “vô ưu” nên Trung Quốc đã chuẩn bị cho những bất trắc có thể xảy ra.

Những tiết lộ mới đây cho biết Chủ tịch Mao đã sắp xếp để đưa một lực lượng quân sự lớn lao gồm hơn 40 chiến hạm để làm lá chắn cho Hoàng sa, phòng hờ Đệ Thất Hạm Đội can thiệp.

Bài học từ Hoàng Sa

Sau hải chiến, Tổng thống Thiệu ra lệnh cho Không quân oanh kích để phản công

Bây giờ thì chúng tôi lại cũng hiểu rõ về câu Tổng thống Thiệu nói “Tôi còn định đi thêm bước nữa.”

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đón khách

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đón đoàn Quốc hội Mỹ, mùa hè 1974. Tác giả Nguyễn Tiến Hưng ngồi ở bìa trái hình.

Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết rằng sau trận hải chiến, Tổng thống Thiệu đã ra lệnh cho Không Quân VNCH bay ra Hoàng Sa oanh kích để phản công, nhưng rồi lệnh được rút lại.

Tại sao như vậy? Ngày nay thì ta đã có chứng cớ và văn bản để trả lời.

Trước hết về lệnh cho Không Quân ra khơi để phản công, chúng tôi phối kiểm với Đại tá Nguyễn Quốc Hưng, (Phụ Tá Tham Mưu Phó Hành Quân, Bộ Tư lệnh Không quân, phụ trách toàn bộ 19 phi đoàn khu trục của VNCH) thì ông đã xác nhận là đúng.

Ông kể lại nhiều chi tiết, tóm tắt như sau: vào 8 giờ tối ngày 19 tháng 1/1974, Tư lệnh Không quân nhận được mật lệnh của Tổng thống phải dùng phản lực cơ chiến đấu siêu thanh F5-E để oanh kích phản công địch trên đảo Hoàng Sa.

Ngày hôm sau đoàn phi công đã cất cánh hai lần để ra khơi, một lần vào buổi trưa và một lần buổi chiều, mỗi lần gồm hai phi tuần.

Nhưng vừa bay được khoảng trên một trăm dặm thì nhận được đặc lệnh phải quay trở về đáp và hủy bỏ ngay các phi vụ không kích này.

Lý do là Đệ Thất Hạm Đội yêu cầu ngừng kế hoạch oanh tạc và nhấn mạnh rằng sẽ không có “top cover” (yểm trợ trong trường hợp bị phi cơ của Trung Quốc từ Hải Nam lên không chiến) và cũng không có “rescue” (cứu vớt nếu bị bắn rơi).

 Tàu Hải quân VNCH trong Hải chiến Hoàng Sa 1974Tàu Hải quân VNCH trong Hải chiến Hoàng Sa 1974

Trong số những quân nhân tham gia phi vụ không kích này, số nhân chứng còn sống hiện nay thì ngoài ông Quốc Hưng (hiện ở Salem, Oregon) còn có các Thiếu tá Phạm Đình Anh (California), Đàm Tường Vũ (Arizona), Vũ Viết Quý (California), và Hồ Văn Giầu (Las Vegas).

Mật điện Bộ Ngoại Giao Mỹ (19 /1/1974): Can ngăn Tổng thống Thiệu

Một chuyện thật lạ lùng: vào ngày 17 tháng 1/1974 (ngày 18 tháng 1 – giờ Sài Gòn) Bộ Ngoại Giao Mỹ do Ngoại trưởng Henry Kissinger lãnh đạo đã gọi điện thoại cho Đại sứ Martin ở Sàigòn và nhấn mạnh ý muốn của Bộ là “tình hình phải được hạ nhiệt” (cooling the situation).

Tài liệu này được giải mật ngày 30 tháng 6, 2005. Dĩ nhiên là ông Martin phải thi hành ngay và đã cố vấn ông Thiệu. Ngày hôm ấy chính là ngày Tổng thống Thiệu bay ra Đà Nẵng để ra lệnh chống cự Hải quân Trung Quốc.

Cùng ngày, Đề đốc Lâm Ngươn Tánh, Tư lệnh phó Hải quân VNCH bay ra Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng để chỉ huy lực lượng tham chiến tại Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 1 là ngày có trận hải chiến, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lại gửi mật điện can ngăn Tổng thống Thiệu đừng đi thêm bước nữa.

Bức điện đó như sau:

Ngày 19 tháng 1/1974

Người gửi: Ngoại Trưởng – Washington DC

Nơi nhận: Tòa Đại sứ Sài Gòn

Mật điện Bộ Ngoại Giao 012641

1. Xung đột quân sự tại Hoàng Sa đã đưa đến thương vong cho VNCH với hai chiến hạm bị tên lửa STYX của Trung Quốc bắn chìm. Chính phủ VNCH có yêu cầu Mỹ giúp tìm kiếm và cứu vớt các nạn nhân. Tình hình thêm phức tạp vì báo cáo là trên đảo Pattle (do VNCH đóng quân) lại có một nhân viên dân sự Mỹ làm việc cho Văn phòng Tùy viên ở Đà Nẵng. Chúng tôi không hiểu tại sao người này lại có mặt ở đó.

2. Bộ Ngoại Giao đã yêu cầu Bộ Quốc Phòng ra lệnh cho Hải quân Hoa Kỳ tránh khỏi khu vực này .

Hai ngày trước đây (17 tháng 1) chúng tôi có bàn luận với Đại sứ Martin qua điện thoại và bày tỏ ý muốn của chúng tôi là tình hình phải được hạ nhiệt…

3. Thông cáo của Bộ Ngoại Giao gửi cho báo chí về vụ này sẽ nói theo những điểm như sau:

— Chính phủ Hoa Kỳ không đứng về phe nào trong việc tranh chấp Hoàng Sa nhưng hết sức mong muốn là sự tranh chấp được giải quyết trong hòa bình.

— Lực lượng quân sự Mỹ không dính líu gì vào xung đột này.

4. Chúng tôi đang yêu cầu Tòa Đại sứ ở Sàigòn cố vấn chính phủ VNCH chỉ nên có những hành động tối thiểu để tự vệ và để cứu vớt nạn nhân (và người nhân viên Mỹ ở trên đảo) nhưng làm tất cả những gì có thể để tránh đụng độ trực tiếp thêm nữa với lực lượng Trung Quốc. Việc mà VNCH hay chúng ta không cần chút nào trong lúc này là đụng độ giữa Trung Quốc và Chính phủ Việt Nam về mấy hòn đảo, dẫn tới vai trò bất chấp của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam.

KHẨN – MẬT

Về phản ứng của Mỹ và mật điện ngày 19 tháng 1, 1974, ta có thể nhận xét như sau:

Vừa biết tin rục rịch là TT Thiệu đang sửa soạn ra lệnh chống trả chiến hạm

Trung Quốc là Bộ Ngoại Giao đã can ngăn ngay.

  • Chính phủ VNCH yêu cầu Mỹ giúp tìm kiếm và cứu vớt các nạn nhân (ngoài số tử thương còn 68 binh sĩ VNCH bị mất tích và bắt làm tù binh) nhưng bị từ chối.
  • Đã không yểm trợ chiến đấu, đã ra lệnh cho Hải quân Hoa Kỳ tránh né khỏi khu vực giao tranh, lại còn tuyên bố cho rõ ràng là “Chính phủ Mỹ không đứng về phe nào trong việc tranh chấp Hoàng Sa” và xác định (cho Bắc Kinh biết) là “Lực lượng quân sự Mỹ không dính líu gì vào vụ xung đột này.”
  • Không đứng về phe nào thì tại sao lại khuyên can chính phủ VNCH “hãy hạ nhiệt,” chỉ hành động tối thiểu để tự vệ và để cứu vớt nạn nhân thôi, nhưng làm bất cứ những gì để tránh đụng độ thêm nữa với lực lượng Trung Quốc về mấy hòn đảo? Ông Kissinger đã quên rằng chính ông đã từng soạn thảo lá thư để TT Nixon gửi TT Thiệu ngay trước khi ký kết Hiệp Định Paris nói đến lập trường vẹn toàn lãnh thổ của VNCH: “Nền tự do và độc lập của VNCH vẫn còn là mục tiêu tối cao của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ” (thư ngày 17 tháng 1, 1973).
  • Như vậy là một cửa vào Biển Đông đã bắt đầu được mở rộng. Trước đó, từ 1960 tới 1973, Trung Quốc chỉ cho tầu đi tuần tiễu vùng biển giữa quần đảo Hải Nam và Hoàng Sa trung bình khoảng năm lần một năm.

Qua eo biển Đài Loan

Trước Hoàng Sa, Mỹ đã mở một cửa nữa vào Biển Đông, đó là qua eo biển Đài Loan ở phía trên. Sau khi ông Mao Trạch Đông chiếm được Trung Hoa Lục Địa vào tháng 10/1949, Hoa Kỳ nhất quyết bảo vệ độc lập của Đài Loan hay nước ‘Trung Hoa Dân Quốc.’

Bởi vậy mỗi lần Bắc Kinh đe dọa eo biển Đài Loan như vào năm 1954-1955 và 1958 thì Mỹ phản ứng rất mạnh (xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 28). Nhưng từ 1971 thì khác.

Ngày 29 tháng 7/1971: Kissinger bí mật đi Bắc Kinh và trong dịp này đã cho Trung Quốc biết là Mỹ không còn ủng hộ một Đài Loan độc lập nữa, có nghĩa là Đài Loan sẽ chỉ là một khu vực của Trung Quốc, và như vậy Mỹ sẽ hết bảo vệ khu này và sẽ rút hạm đội và phi đội ra khỏi nơi đây.

Tháng 8/1971: sau cuộc họp, Mỹ tuyên bố hủy bỏ việc chống Trung Quốc gia nhập Liên Hiệp Quốc. Tháng 10, Liên hiệp Quốc bỏ phiếu 76 thuận, 35 chống (và 17 không bỏ phiếu) việc đẩy Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và chấp nhận chính quyền Bắc Kinh là chính phủ đại diện Trung Quốc.

Tháng 10/1971: Mỹ rút khu trục hạm của Đệ Thất Hạm Đội ra khỏi eo biển Đài Loan.

Tháng 2/ 1972: TT Nixon thăm viếng Bắc Kinh. Sau cuộc họp Nixon – Mao tại Bắc Kinh, một thông cáo chung gọi là ‘Thông Cáo Thượng Hải’ (Shanghai Communique) được tuyên bố, gián tiếp quy định “Việc Mỹ rút toàn bộ khỏi Đài Loan là mục tiêu cuối cùng,” và sẽ “từng bước giảm cả quân đội, cả những căn cứ Mỹ tại Đài Loan khi sự căng thẳng trong vùng bớt đi.”

Trấn an Trung Quốc sau khi Miền Nam sụp đổ

Ngày 1 tháng 12 năm 1975: ông Henry Kissinger đã sắp xếp để người kế vị Tổng thống Richard Nixon là Tổng thống Gerald Ford đi Bắc Kinh năm ngày và gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông.

Trước chuyến đi, ông Kissinger đã cố vấn Tổng thống Ford thật kỹ: “Ngài sẽ cố gắng hết sức để tăng cường giây liên lạc với Trung Quốc. Ngài (nên cho họ biết rằng) Ngài tin việc phát triển mối bang giao Mỹ – Trung là quyền lợi căn bản của chúng ta và Ngài sẽ theo đuổi việc này một cách mạnh mẽ trong những năm tới.”

Ngày 7 tháng 12/1975: Vừa từ Bắc Kinh về, TT Ford tuyên bố ‘Học thuyết Thái Bình Dương’ (Pacific Doctrine) kêu gọi bình thường hóa toàn diện quan hệ với Trung Quốc và cộng tác kinh tế trong toàn thể Á Châu.

Dĩ nhiên, điều kiện để bình thường hóa toàn diện với Trung Quốc là việc Mỹ rút khỏi eo biển Đài Loan.

Cuối tháng 5 năm 1975: chỉ một tháng sau khi Miền nam sụp đổ, Hoa Kỳ đã rút đội phi cơ chiến đấu cuối cùng ra khỏi Đài Loan. Có nghĩa là từ đó những hạm đội Đông Hải của TQ từ phía bắc có thể theo con đường nhanh nhất tràn xuống phía Nam.

Và từ phía nam những hạm đội Nam Hải có thể tiến thẳng vào Biển Đông qua ngả Hoàng Sa.

Tương lai của vùng này trở nên đen tối. Trung Quốc chỉ cần mua thời gian để chuẩn bị, chờ cho tới khi có đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa để ra tay: ba yếu tố này đã hội đủ vào năm 2008 (Các bạn xem thêm cuốn Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 26).

Như vậy lịch sử sẽ phải ghi nhận rằng chính hai ông Nixon và Kissinger đã đơn phương và trong vòng bí mật, mở cả hai cửa vào Biển Đông cho Trung Quốc từ trên 40 năm trước đây.

Hậu quả của mật điện Hoàng Sa ngày 19/1/1974 thật là lớn lao, nó dẫn đến tình trạng hỗn loạn tại Biển Đông ngày nay. Để mất Hoàng Sa và còn nhắn nhủ Trung Quốc rằng Mỹ không có dính líu gì vào tranh chấp hải đảo, rằng quân lực Mỹ đã được lệnh rút ra khỏi vùng này.

Như vậy là Trung Quốc được tự do tung hoành. Từ tung hoành tới lộng hành. Cái kẹt là sau khi lộng hành với các quốc gia sở tại, Trung Quốc lộng hành với chính Mỹ. Cho nên Mỹ phải xoay trục để trở về với Biển Đông, nơi đó có tới bảy quyền lợi của Mỹ như đã được xác định bằng văn bản (Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 26).

Trung Quốc lại là đối tác ngoại thương lớn nhất – tổng số xuất-nhập Trung-Mỹ lên tới $579 tỷ vào năm 2016. Mặt khác Mỹ phải cố gắng để thắt cho thật chặt quan hệ ngoại giao với các quốc gia trong vùng, nhất là với Việt Nam.

 
Chiến hạm USS John S. McCain thăm Đà Nẵng năm 2010: Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á và Việt NamChiến hạm USS John S. McCain thăm Đà Nẵng năm 2010: Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á và Việt Nam

Tại sao như vậy? Đó là một chủ đề chúng tôi sẽ đề cập trong một bài khác.

Bây giờ, muốn trở về với Biển Đông Mỹ đi hàng đôi: một mặt thì tỏ ra mềm dẻo với Trung Quốc nhưng mặt khác lại luôn luôn chuẩn bị để đối phó bằng quân sự với Trung Quốc, dù dưới thời Tổng thống Obama hay Tổng thống Trump.

Để đối phó, Mỹ đang tăng cường liên minh quân sự với một số quốc gia trong vùng, kể cả tiến tới đối tác chiến lược với Việt Nam. Tại sao như vậy? Đó là một chủ đề chúng tôi sẽ đề cập trong một bài khác.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng Kế hoạch VNCH từ năm 1973 đến 1975, phụ tá về tái thiết của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất bản các cuốn sách Khi Đồng minh tháo chạy (2005) và Khi Đồng minh nhảy vào (2016).

nguồn: bbc.com

Advertisements

Tóm tắt lịch sử giết người của đảng Cộng sản Trung Quốc

“Bác Mao nào ở đâu xa
Bác Hồ ta đó chính là bác Mao”
(Chế Lan Viên)

Tóm tắt lịch sử giết người của đảng Cộng sản Trung Quốc

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thành lập năm 1921, giành được chính quyền năm 1949. Theo thống kê, có khoảng 80 triệu người Trung Quốc đã bị chết bất thường (bức hại, đói khổ, hành quyết…) dưới thời cai trị của ĐCSTQ. Con số này nhiều hơn số người chết trong hai cuộc chiến tranh thế giới. Hãy cùng điểm lại hành trình giết và giết của ĐCSTQ…

Năm 1953, tại Phụ Khang – Tân Cương, quân sĩ của ĐCSTQ hành quyết “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng” (National Archives).
Năm 1953, tại Phụ Khang – Tân Cương, quân sĩ của ĐCSTQ hành quyết “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng” (National Archives).

Thảm sát Đoàn AB

Đoàn AB là một tổ chức thuộc Quốc dân đảng được thành lập tại Giang Tây vào tháng 12/1926, mục đích nhằm chống lại ĐCSTQ đã chiếm quyền lực của Quốc dân đảng tại Giang Tây. Tháng 4/1927 Đoàn AB tan vỡ. Nửa sau năm 1930, ĐCSTQ phát động phong trào chống Đoàn AB và đã giết hại vô số người từng làm việc cho tổ chức này.

Tháng 12/1930, Quân đoàn 20 Hồng quân Công nông Trung Quốc phát động binh biến tại Phú Điền – Giang Tây, chiếm thị trấn Phú Điền và thả tất cả người bị bắt, bắt nhân viên chính phủ bản địa của ĐCSTQ. Ngày 28/3, lãnh đạo tối cao ĐCSTQ Vương Minh (Wang Ming) cử Bật Nhậm Thời phụ trách khu Xô-Viết trung ương, tuyên bố biến cố Phú Điền là “bạo động chống cách mạng”. Ngày 18/4, lãnh đạo binh biến của Quân đoàn 20 bị bắt trong lúc đi tham gia đàm phán, sau đó bị hành quyết. Tháng Bảy cùng năm, Quân đoàn 20 bị điều đến trại Bình Đầu Giang Tây và bị quân của Bành Đức Hoài cùng Lâm Bưu bao vây tước vũ khí, hơn 700 quân bị đưa đi hành quyết.

Sau biến cố Phú Điền, phong trào tấn công Đoàn AB nổi lên cao trào mới, mức tàn khốc khác thường, “trói tay treo người lên tra tấn, kẻ nào ngoan cố còn bị dùng dầu lửa thiêu thân, thậm chí dùng đinh đóng tay vào bàn gỗ và dùng nạt tre đâm vào trong móng tay”. Chỉ trong một thời gian ngắn, mọi người tại khu Xô-Viết Giang Tây đều sống trong tình trạng nguy hiểm tính mạng, trong nhiều cơ quan của ĐCSTQ tại khu vực có đến 80 – 90% người trở thành “phần tử AB”, tổng cộng hơn 70.000 người đã bị giết.

Ông Mao Trạch Đông là người trực tiếp phụ trách trấn áp. Sau này ĐCSTQ thừa nhận, đa số những người hành quyết đều là người vô tội.

Chỉnh đốn Diên An

Từ đầu năm 1942 đến tháng 4/1945 nổ ra phong trào chỉnh đốn tại Diên An, đây cũng là phong trào quy mô lớn đầu tiên do đích thân ông Mao Trạch Đông lãnh đạo, phong trào khủng bố đẫm máu này đã đưa Mao lên địa vị quyền lực tột đỉnh trong Đảng.

Nhà văn Vương Thực Vị (Wang Shiwei) là phần tử trí thức đầu tiên bị giết hại trong chỉnh đốn Diên An.Nhà văn Vương Thực Vị (Wang Shiwei) là phần tử trí thức đầu tiên bị giết hại trong chỉnh đốn Diên An.

Trong phong trào chỉnh đốn Diên An đã giết hại hơn 1.000 người. Người bị hại nổi tiếng nhất là trí thức Vương Thực Vị. Ông Vương Thực Vị đến Diên An vào tháng 10/1937, làm việc tại phòng biên dịch học viện Marx, đã dịch tổng cộng hơn hai triệu chữ trong bộ tác phẩm kinh điển của Marx. Từ tháng 2/1942, học giả Vương Thực Vị đã viết bài cho các tạp chí Cốc Vũ, Nhật báo Giải phóng, và tạp chí của Viện Nghiên cứu Trung ương, tố cáo khoảng tối trong “cuộc sống mới” tại Diên An, đặt vấn đề chế độ đẳng cấp và xu thế quan liêu hóa của ĐCSTQ. Những bài viết đã khiêu chiến với quan điểm của Mao, và bị liệt vào phần tử chống cách mạng, đặc vụ ngầm của Quốc dân đảng.

Ngày 1/4/1943, Khang Sinh ra lệnh bắt Vương Thực Vị. Tháng 6/1947, máy bay của quân Quốc dân đảng đã phá hủy trại giam Vương Thực Vị. Bộ trưởng Công an ĐCSTQ Khang Sinh và Thứ trưởng Lý Khắc Nông chỉ đạo cho hành quyết bí mật Vương Thực Vị. Ngày 1/7/1947 tại huyện Hưng – Sơn Tây, học giả Vương Thực Vị bị đưa đi chém tại một khu hẻo lánh ven sông Hoàng Hà, thi thể bị quăng xuống sông.

Hiện nay chưa từng có công bố số liệu phong trào chỉnh đốn Diên An giết chết bao nhiêu người.

Vây khốn thành Trường Xuân

Ngày 13/3/1948, liên quân dân chủ Đông Bắc chiếm Tứ Bình, và Trường Xuân trở thành một ốc đảo bị quân của ĐCSTQ bao vây. Ngày 7/6/1948, ông Mao Trạch Đông chính thức cho phép dùng phương án bao vây cắt đường lương thực tại Trường Xuân. Khẩu hiệu được đề ra: “Không cho kẻ thù tiếp viện lương thực, cho quân tướng Trường Xuân bị chết đói trong thành”.

Ban đầu Quốc dân đảng không cho phép người dân rời khỏi thành Trường Xuân, nhưng vì số lương thực trong thành chỉ còn dùng đủ đến cuối tháng Bảy, vì thế sau đó ông Tưởng Giới Thạch chấp nhận yêu cầu từ ngày 1/8 cho sơ tán dân chúng. Nhưng ĐCSTQ thực hiện biện pháp “giới nghiêm không cho dân chúng ra khỏi thành”. Sau ba tháng bao vây, ngày 9/9 Lâm Bưu cùng La Vinh Hoàn, Lưu Á Lâu, Đàm Chính cùng nhau báo cáo với Mao: “Bao vây đã thu được thành quả, trong thành đang thiếu lương thực nghiêm trọng… nhiều người dân phải ăn lá cây, cỏ xanh lót dạ, nhiều người chết đói”.

Học giả Homare Endo lúc 5 tuổi, bà may mắn sống sót trong đợt vây khốn Trường Xuân, năm 1953 bà theo người thân trở về Nhật Bản, hiện là giáo sư danh dự Đại học Tsukuba. Cả đời bà chưa thoát khỏi ám ảnh kiếp sống đói khát trong thời gian bị vây khốn tại Trường Xuân.Học giả Homare Endo lúc 5 tuổi, bà may mắn sống sót trong đợt vây khốn Trường Xuân, năm 1953 bà theo người thân trở về Nhật Bản, hiện là giáo sư danh dự Đại học Tsukuba. Cả đời bà chưa thoát khỏi ám ảnh kiếp sống đói khát trong thời gian bị vây khốn tại Trường Xuân.

 

Ông Đoàn Khắc Văn (Duan Kewen), cựu lãnh đạo tỉnh Cát Lâm từng viết trong hồi ký tả cảnh một người lính của ĐCSTQ trông thấy nạn dân tiến lại gần đã quát: “Đồng hương, không được tiến lên, các người còn tiến lên chúng tôi sẽ nổ súng”. Nạn dân khẩn cầu: “Chúng tôi toàn người dân lương thiện, sao có thể nhẫn tâm ép chúng tôi chết đói tại đây?” Người lính kia đáp: “Đây là lệnh của Mao chủ tịch, chúng tôi không dám chống lệnh”. Một người liều mạng lao về trước, một tiếng súng “bằng” vang lên…

Ngày 24/10/1948, Nhật báo Trung ương Nam Kinh viết trong bài «Quá trình phòng thủ Trường Xuân» : “Theo tính toán thấp nhất, từ cuối tháng 6 – đầu tháng 10, tổng số hài cốt không dưới 150.000”. Con số người chết đói do phía chính quyền ĐCSTQ thừa nhận là 120.000 người, trong cuối hồi ký của Thị trưởng kiêm Giám đốc sở Dân chính Thượng Truyền Đạo (Shang Chuandao) cũng nhắc đến số liệu này.

Chính phủ Quốc dân đảng từng nhận định hành động bao vây Trường Xuân của ĐCSTQ đủ cấu thành tội ác chiến tranh.

Cải cách ruộng đất và đàn áp “phản cách mạng”

Tháng 3/1950, ĐCSTQ phát động «Chỉ thị trấn áp phần tử phản cách mạng», Mao Trạch Đông tuyên bố trong một văn bản “nhiều nơi sợ sệt không dám giương ngọn cờ giết bọn phản cách mạng”. Mao chỉ thị “giết phần tử phản cách mạng, ở nông thôn cần vượt qua tỉ lệ một phần ngàn dân số… ở thành thị nên ít hơn một phần ngàn”.

Một phần ngàn ở đây chính là chỉ tiêu giết người, nhưng trên thực tế số người bị giết hại cao hơn nhiều. Theo thống kê của ĐCSTQ, số phần tử “phản cách mạng” bị giết, cải tạo lao động hoặc quản chế vào khoảng 30 triệu người.

Theo tài liệu «Phong trào chính trị trong lịch sử ĐCSTQ từ sau khi kiến quốc» do Phòng nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương Trung Quốc biên soạn, trong kế hoạch đàn áp “phản cách mạng” từ đầu năm 1949 đến tháng 2/1952, số người bị đàn áp khoảng 15,8 triệu người, trong đó có khoảng 873.600 người bị tử hình.

Cùng với phong trào trấn áp “phản cách mạng” sôi sục là phong trào “cải cách ruộng đất”. Thực tế phong trào này tương tự như lý tưởng “có ruộng cùng cày” thời Thái Bình Thiên Quốc. Mục đích thực tế là mượn cớ giết người.

Thời cải cách ruộng đất thường tổ chức hội đấu tranh, lôi địa chủ và phú nông ra luận tội. Những kẻ luận tội là Đảng viên ĐCSTQ hoặc phần tử tích cực với Đảng, việc hành quyết thực thi khi kẻ đứng đầu hô to “nên giết!”

Mục đích của phong trào trấn áp phần tử “phản cách mạng” để củng cố chính quyền mới. Trong hình là các “địa chủ” bị thanh trừng vào năm 1951 (National Archives).

Mục đích của phong trào trấn áp phần tử “phản cách mạng” để củng cố chính quyền mới. Trong hình là các “địa chủ” bị thanh trừng vào năm 1951 (National Archives).
Quân lính ĐCSTQ hành quyết “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng” tại Phụ Khang – Tân Cương năm 1953 (National Archives)
Quân lính ĐCSTQ hành quyết “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng” tại Phụ Khang – Tân Cương năm 1953 (National Archives)

 

Theo công bố của ĐCSTQ, đến cuối năm 1952, số “phần tử phản cách mạng” bị tiêu diệt là hơn 2,4 triệu người, thực tế tổng số quan chức Quốc dân đảng, nhà giáo và địa chủ bị bức hại lên đến hơn 5 triệu người.

“Tam phản” và “ngũ phản”

Từ năm 1951 – 10/1952, ĐCSTQ triển khai phong trào “Tam phản” và “Ngũ phản”. “Tam phản” là phong trào “chống tham ô lãng phí” trong doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, “chống chủ nghĩa quan liêu”; “Ngũ phản” là phong trào “chống hối lộ, trốn thuế” đối với giới doanh nghiệp tư nhân, “chống ăn cắp tài sản quốc gia”, “chống đánh cắp thông tin tình báo kinh tế quốc gia”.

Phong trào “Tam phản” để xử lý cán bộ ĐCSTQ hủ bại, nhưng rồi ĐCSTQ cho rằng cán bộ biến chất là do bị nhà tư bản dụ dỗ, hệ quả là sau đó đã thực hiện “Ngũ phản”. Thực tế “Ngũ phản” chính là cướp tiền của nhà tư bản, là giết người cướp của. Trong mục «Lịch sử giết người của ĐCSTQ» trong «Cửu bình» có ghi: “Buổi tối mỗi ngày thị trưởng thành phố Thượng Hải ngồi trên ghế xô-pha bưng ly trà nghe báo cáo, hỏi câu hờ hững: Hôm nay có bao nhiêu lính nhảy dù?” Thực tế ý câu này là hỏi có bao nhiêu thương nhân nhảy lầu.

Theo số liệu trong «Phong trào chính trị trong lịch sử ĐCSTQ từ khi kiến quốc» xuất bản năm 1966, có hơn 323.000 người bị bắt trong phong trào “Tam phản Ngũ phản”, hơn 280 người tự sát hoặc mất tích; có hơn 5.000 người bị liên lụy và hơn 500 người bị bắt trong “phong trào chống Hồ Phong”, hơn 60 người tự sát, 12 người chết bất thường; sau đó trong phong trào “dẹp phản động” có khoảng 21.300 người bị phán tội tử hình, hơn 4.300 người tự sát và mất tích.

Phóng viên Nicholas Kristof của New York Times trú tại Bắc Kinh viết trong «Trung Quốc thức tỉnh» (China Wakes): “Theo báo cáo của cựu Bộ trưởng Công an La Thụy Khanh, từ 1948 – 1955 có bốn triệu người bị hành quyết”.

Thảm họa “Đại nhảy vọt”

Nhiều triệu người Trung Quốc đã chết bất thường trong thảm họa mất mùa vào cuối thập niên 50 – đầu 60 thế kỷ 20. Trong hình là cảnh người cha chôn người con bị chết đói.

Nhiều triệu người Trung Quốc đã chết bất thường trong thảm họa mất mùa vào cuối thập niên 50 – đầu 60 thế kỷ 20. Trong hình là cảnh người cha chôn người con bị chết đói. 

Từ 1958 – 1962, Mao Trạch Đông thực hiện kế hoạch “Đại nhảy vọt”, cưỡng chế tập thể hóa nông nghiệp và chế độ nhà ăn tập thể đã làm số người chết đói la liệt khắp nơi. Theo con số do Cục trưởng Cục Thống kê Quốc gia Tiết Mộ Kiều (Xue Muqiao) đưa ra, số lương thực bị hao hụt do những nhà ăn tập thể khổng lồ này gây ra năm 1958 là 17,5 triệu tấn. Thực tế vụ mùa năm đó không phải quá tệ, nhưng chỉ sau nửa năm đã xảy ra nạn đói.

Hồ sơ giải mật của ĐCSTQ trong vài năm gần đây đã chính thức thừa nhận có 37,56 triệu người chết đói trong “Đại nhảy vọt”. Số liệu được giới học thuật trong và ngoài Trung Quốc thừa nhận là vào khoảng 37 – 43 triệu người chết đói. Chỉ riêng vùng Tín Dương tỉnh Hà Nam đã chết một triệu người, xảy ra hiện tượng người ăn thịt người, lịch sử gọi là “sự kiện Tín Dương”.

Mùa đông năm 1959 – mùa xuân 1960 là thời đỉnh cao của nạn người chết đói, nhưng năm 1959, ĐCSTQ lại xuất khẩu 4,15 triệu tấn lương thực. Số lương thực này nếu chia cho 30 triệu người thì mỗi được có được 138,6 cân, sẽ không ai bị chết đói. Năm 1960, ĐCSTQ còn xuất khẩu 2,7 triệu tấn lương thực.

Giết người điên cuồng trong  “Cách mạng Văn hóa”

Sau “Cách mạng Văn hóa”, tướng Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) từng nói: “Cách mạng Văn hóa” đã chỉnh đốn 100 triệu người, giết chết 20 triệu người. Theo tính toán của giáo sư R.J. Rummel thuộc Đại học Hawaii (Mỹ) trong tác phẩm «Thế kỷ sắt máu Trung Quốc» (China’s Bloody Century) xuất bản năm 1991, có khoảng 7,73 triệu người chết trong “Cách mạng Văn hóa”.

Trong sách «Phong trào chính trị của ĐCSTQ từ khi xây dựng chính quyền» viết: Tháng 5/1984 ĐCSTQ thực hiện cuộc điều tra toàn diện kéo dài 2 năm 7 tháng và đưa ra con số thống kê mới về “Cách mạng Văn hóa”: 17,28 triệu người chết bất thường; 135.000 người bị hành quyết vì tội chống cách mạng; trong “Võ đấu” (1966 – 1969) giết chết 237.000 người, 70.300 người bị thương tật.

Làn sóng giết người đầu tiên vào năm 1966. Tháng Sáu năm đó, dưới chỉ thị “Quét sạch quỷ trâu thần rắn”, làn sóng càn quét của Hồng vệ binh từ Bắc Kinh nhanh chóng mở rộng trên toàn quốc nhằm tra khảo và giết “quỷ trâu thần rắn”.

Tháng 8/1966, Hồng vệ binh Bắc Kinh đã giết chết 1.772 người. Học giả Đinh Trữ (Ding Shu) bình luận: “Tại Trung Quốc đại lục chưa bao giờ có số người chết nhiều trong một thời gian ngắn như thế, chết vì những dụng cụ tra tấn kiểu cổ đại như côn và dây da. Những người bị giết bởi những kẻ mà họ không có thù oán gì, học sinh trung học mười mấy tuổi mang thầy hiệu trưởng, người hàng xóm ra tra tấn đến chết…”.

Trong sách «Tháng Tám khủng bố đỏ», học giả Vương Hữu Cầm (Wang Youqin) viết: “Nửa sau tháng 8/1966, hàng loạt người bị tra tấn chết không rõ danh tính cùng bị chất thành đống tiêu hủy. Hiệu trưởng Cao Vân (Gao Yun) và Bí thư Đỗ Quang (Du Guang) thuộc Đại học Sư phạm Bắc Kinh đều cùng bị đánh bất tỉnh và mang đi hỏa thiêu. Người làm việc tại nơi hỏa thiêu phát hiện họ chưa chết nên không thiêu. Họ lại trở về nhà. Vô số thi thể chất thành đống không thiêu kịp phải ướp băng, máu và nước trộn lẫn vào nhau”.

Ngày 26/1/1967 xảy ra sự kiện Thạch Hà Tử tại Tân Cương gióng phát súng đầu tiên trong đợt võ đấu trên toàn quốc mở ra làn sóng giết người thứ hai. Từ tháng 8/1967, đã nổ ra màn võ đấu quy mô lớn tại các địa bàn Thượng Hải, Nam Kinh, Trịnh Châu, Trường Xuân, Thẩm Dương, Trùng Khánh và Trường Sa, đến cuối năm 1968 mới tạm lắng xuống. Quân đội Vân Nam bao vây một tổ chức quần chúng có tên “đội Điền Tây” và dùng súng máy quét, sau 20 phút hàng ngàn người của tổ chức này thiệt mạng. Dự tính số người chết trong “võ đấu” khoảng 300.000 – 500.000 người.

«Phong trào chính trị của ĐCSTQ từ khi kiến quốc» ghi lại có khoảng 237.000 người chết trong đợt võ đấu. Thực tế dự tính số người chết trong võ đấu khoảng 300.000 – 500.000 người.

Đợt “thanh trừng giai cấp” 1968 – 1969 là cao trào càn quét “quỷ trâu thần rắn” của Chủ tịch Mao Trạch Đông, cũng là thời kỳ có số người chết nhiều nhất trong “Cách mạng Văn hóa”. Theo tư liệu, trong hơn 2.000 huyện trên toàn quốc, bình quân mỗi huyện khoảng 100 người bị hành quyết.

Ngoài những người bị giết hại tàn nhẫn, thời đầu “Cách mạng Văn hóa” có khoảng 100.000 – 200.000 người vì không cam chịu bị làm nhục nên tự sát, con số người tự sát này hiếm thấy trong lịch sử thế giới. Nhà văn Ba Kim nhớ lại:

Mọi người đều sống như người điên, trông thấy một người nhảy từ trên lầu xuống cũng không chút cảm xúc mà trái lại còn phê bình, dùng những lời lẽ độc địa chửi người tự sát. Mao Trạch Đông từng nói với bác sĩ Lý Chí Tuy: “Tôi vui vì thấy thiên hạ đại loạn”.

Ngoài ra còn vô số người dũng cảm lên tiếng phê phán mà bị hại thân, bị bắn chết hoặc chết oan trong tù. Ông Thái Thiết Căn, Trưởng ban huấn luyện Học viện Quân sự cao cấp Nam Kinh bị phát hiện có ghi trong nhật ký những lời bất bình đối với tướng Bành Đức Hoài, thế là lập tức bị bắt. Ngày 11/3/1970, quân lính nhà tù đến mang ông trói lại rồi đọc lệnh bắt, sau đó đọc luôn lệnh hành hình mà không cho khiếu kiện. Giáo sư Hồng Ân (Hong En), chỉ huy đoàn nhạc giao hưởng Thượng Hải vì viết xấu về ông Mao Trạch Đông trong «Mao chủ tịch ngữ lục» cũng bị xử tử hình, trước khi đưa ra pháp trường cổ họng còn bị cắt đứt.

Thảm sát Thiên An Môn

Ngày 4/6/1989, ĐCSTQ đã đàn áp đẫm máu phong trào sinh viên đòi dân chủ kéo dài hơn 50 ngày gây chấn động thế giới. Đến nay, phong trào Thiên An Môn vẫn là một đề tài cấm kỵ của ĐCSTQ. Con số người thiệt mạng trong sự kiện này không được chính quyền Trung Quốc công bố, con số dự tính của các giới đưa ra không thống nhất.

Chiều ngày 3/6/1989, ĐCSTQ quyết định trấn áp, tuyên bố “bộ đội giới nghiêm có quyền dùng các biện pháp tự vệ”. Tối hôm đó, Giải phóng quân từ vùng ngoại thành tiến vào Bắc Kinh.

Sinh viên đưa bạn đi cấp cứu vì bị bộ đội bắn giết vào sáng ngày 4/6/1989.

Sinh viên đưa bạn đi cấp cứu vì bị bộ đội bắn giết vào sáng ngày 4/6/1989.

 

Sau 10 giờ tối khi quân đội đột nhập vào Bắc Kinh đã bắt đầu bắt giết dân chúng, ban đầu các sinh viên tưởng quân đội chỉ dùng súng bắn đạn cao su và hơi cay, không ngờ quân đội lại dùng đạn thật.

Vương Quân Đào (Wang Juntao), người tổ chức phong trào sinh viên nói: “Tối ngày 3/6 tôi phát hiện có người dùng bạo lực đối với người dân rồi bỏ chạy, khi đến hiện trường tôi cảm giác có âm mưu gì đó, muốn điều tra, nhưng thấy mọi người dân bắt đầu nổi giận và dùng gạch đá ném vào quân lính, thế là quân lính bắt đầu nổ súng từ đường ngoại ô phía tây Bắc Kinh. Họ đi đến đâu thì bắn đến đó, vô số người trúng đạn thiệt mạng…”

Vương Hữu Tài (Wang Youcai), một trong những người tổ chức phong trào nói: “Từ quan sát của cá nhân tôi, khi đó có nhóm sinh viên Đại học Bắc Kinh đã đi các bệnh viện điều tra, được biết khoảng hơn hai ngàn người thiệt mạng. Dĩ nhiên tôi không có khả năng chứng minh điều này, vì khi đó tôi đang bị bắt giam”.

Nhà văn Tào Trường Thanh (Cao Changqing) viết: “Trong «Trung Quốc thức tỉnh» có đề cập số người chết trong sự kiện đàn áp tại Thiên An Môn do một số bác sĩ cung cấp thông tin, theo đó số người chết khoảng 400 – 800, hàng ngàn người bị thương. Cho dù chỉ 400 người cũng vượt quá tổng số học sinh sinh viên kháng nghị bị chính quyền Trung Quốc giết chết trong cả thế kỷ 19. Sách cũng dẫn số liệu của Chính phủ Mỹ với khoảng 3.000 người bị thiệt mạng trong sự kiện này”.

>> Xem thêm: Số người chết trong vụ thảm sát Thiên An Môn ‘là khoảng 10.000’

Bức hại Pháp Luân Công

Tháng 7/1999, ĐCSTQ phát động đàn áp những người tập Pháp Luân Công, khởi đầu giai đoạn bức hại nhân quyền kéo dài gần 18 năm. Ông Giang Trạch Dân lợi dụng cỗ máy quyền lực nhà nước thực hiện chính sách tận diệt những người theo Pháp Luân Công.

Theo thống kê chưa hoàn chỉnh của trang mạng Minh Huệ của Pháp Luân Công cho đến ngày 17/2/2017, khoảng 4.075 người tập Pháp Luân Công bị hại chết, còn số người bị mổ cướp nội tạng còn ghê rợn hơn. Ngoài ra, còn có hàng triệu người bị bắt bớ, bị cưỡng bức lao động phi pháp. Trang Minh Huệ cũng nhận định, vì tình hình bức hại bị che giấu nên con số người bị hại thực tế còn khủng khiếp hơn nhiều.

Những người theo tập Pháp Luân Công bị hành hạ đến chết trong các trại giam, trại cưỡng bức lao động, nhà tù, các trung tâm tẩy não và bệnh viện tâm thần. Họ bị đủ hình thức tra tấn như bị đánh, điện giật, tiêm thuốc độc, cố định ghế hổ, hãm hiếp… khiến vô số người bị thương tật. Rất nhiều vụ thảm án đã lan truyền ra nước ngoài phơi bày tội ác của ĐCSTQ.

Ngày 23/6/2000, Washington Post đưa tin vụ thảm án của kỹ sư máy tính Trung Quốc đại lục Tô Cương (Su Gang, 32 tuổi) vì theo tập Pháp Luân Công. Ngày 25/4/2000, Tô Cương bị bắt vì đi Bắc Kinh khiếu kiện; ngày 23/5 Tô Cương bị ép vào bệnh viện tâm thần. Ông Tô Đức An, cha của Tô Cương nói, mỗi ngày hai lần họ tiêm cho Tô Cương thứ thuốc gì đó không rõ, sau một tuần thì Tô Cương không thể ăn uống và đi lại bình thường. Ngày 10/6, Tô Cương chết vì suy tim.

Anh Trần Tương Duệ tại tỉnh Hồ Nam bị đánh chết vì theo Pháp Luân Công (Ảnh: mạng Minh Huệ)

Anh Trần Tương Duệ tại tỉnh Hồ Nam bị đánh chết vì theo Pháp Luân Công (Ảnh: mạng Minh Huệ)

Anh Trần Tương Duệ (Chen Xiangrui, 29 tuổi) người tỉnh Hồ Nam bị đánh chết vì theo Pháp Luân Công. Ngày 11/3/2003, công an thành phố Hành Dương đã bắt anh Trần Tương Duệ về đồn và tra tấn điện, dùi cui sắt, gậy cao su, trong tình trạng lục phủ ngũ tạng thương tổn nghiêm trọng, Trần Tương Duệ qua đời vào sáng hôm sau.

Tháng 3/2006, nhân chứng Anne đã tiết lộ câu chuyện về tội ác mổ cướp nội tạng những người theo Pháp Luân Công trước giới truyền thông nước ngoài.  Sau đó, luật sư nhân quyền David Matas nổi tiếng quốc tế và cựu ngoại trưởng Canada phụ trách vấn đề Châu Á-Thái Bình Dương David Kilgour đã được mời để tiến hành một cuộc điều tra độc lập. Tháng 7/2006 họ công bố báo cáo điều tra gồm 53 bằng chứng về tội ác mổ cướp nội tạng và khẳng định “đây là tội ác chưa từng có trên hành tinh này”.

>> Xem thêm: Mổ cướp nội tạng ở Trung Quốc liên quan gì đến người Việt?

Tối 30/10/2016, luật sư nhân quyền nổi tiếng David Matas và cựu Ngoại trưởng Canada phụ trách vấn đề Châu Á-Thái Bình Dương David Kilgour đã tổ chức họp báo công bố chứng cứ mới về tội ác mổ cướp nội tạng của ĐCSTQ (Ảnh: Epochtimes).
Tối 30/10/2016, luật sư nhân quyền nổi tiếng David Matas và cựu Ngoại trưởng Canada phụ trách vấn đề Châu Á-Thái Bình Dương David Kilgour đã tổ chức họp báo công bố chứng cứ mới về tội ác mổ cướp nội tạng của ĐCSTQ.

“Tổ chức Thế giới Điều tra đàn áp Pháp Luân Công” đã thực hiện điều tra hơn 10 năm và thu được nhiều chứng cứ (tài liệu và ghi âm) chứng minh: Ông Giang Trạch Dân đã dùng toàn bộ cỗ máy nhà nước kết hợp với thế lực xã hội đen tạo thành mạng lưới giết người cướp nội tạng kiếm lợi nhuận rộng khắp. Theo phân tích của tổ chức này, vì nhiều người sau khi bị giết đã bị thiêu hủy thi thể nên rất khó biết chính xác số người bị giết lấy nội tạng mang bán là bao nhiêu.

Tuyết Mai (T/H)

Tài liệu tham khảo:

  1. «Lịch sử giết người của ĐCSTQ» trong «Chín bình luận về ĐCSTQ», Epochtimes xuất bản tháng 12/2004.
  2. «Năm 60 Trung Quốc đẫm máu: Ghi chép về tội ác giết người của ĐCSTQ» Tùng Lãm Trung Quốc (Chinainperspective) xuất bản tháng 9/2009.
  3. Lãnh Đào: «Mao Trạch Đông: Lông vũ cuối cùng của ‘hệ thống thăng bằng’ ĐCSTQ», Đài Phát thanh Quốc tế Hy Vọng ngày 17/1/2017.
  4. Đường Ngọc Vi (Tang Qiwei): «Kể bạn nghe về chân tướng sự kiện Thiên An Môn 1989», Đài Á châu Tự do ngày 3/6/2009.
  5. Xuyên Nhân (Chuan Ren) «Sự thật lịch sử về cuộc chiến bao vây Trường Xuân», Nhìn Trung Quốc, ngày 1/4/2012.
  6. Trương Chính Long (Zhang Zhenglong): «Tuyết trắng máu đỏ», Nhà xuất bản Thiên Địa Đồ Thư (Hồng Kông), năm 2002.
  7. Diệp Quan Tinh (Ye Guanqing): «Từ ba năm Đại nhảy vọt nhìn bộ mặt ma quỷ của ĐCSTQ», Epochtimes ngày 11/1/2016.

nguồn: trithucvn.net

MỘT TRUYỆN NGẮN CA NGỢI TRẦN ÍCH TẮC TRÊN BÁO VĂN NGHỆ CỘNG SẢN

MỘT TRUYỆN NGẮN CA NGỢI TRẦN ÍCH TẮC TRÊN BÁO VĂN NGHỆ

 Nguyễn Xuân Diện

Báo Văn Nghệ số 50 ra ngày 16-12-2017, các trang 19-20-21 có đăng truyện ngắn “Bắt đầu và Kết thúc” của Trần Quỳnh Nga.

Truyện ngắn này có đề cập đến các nhân vật lịch sử Trần Ích Tắc, An Tư, Thoát Hoan. Về Trần Ích Tắc thì là “một kẻ vì nước, mà hy sinh cả tiền tài, danh vọng và thân phận của mình để làm một kẻ nội gián”. Còn công chúa An Tư thì che chở cho Thoát Hoan để cùng Thoát Hoan trốn về nước. Kính mời các bác đọc và bàn luận cho vui.

 


Bắt đầu và Kết thúc

Truyện ngắn của Trần Quỳnh Nga
Đã đăng trên Báo Văn Nghệ số 50 (16-12-2017).

Nàng đã chọn cho mình một cách sống.
Bởi nàng chỉ có một cuộc đời.

*
1. Bấy giờ, vào khoảng đầu năm Ất Dậu (1285), quân Nguyên đã đánh tới Gia Lâm vây hãm Thăng Long.

Kinh thành thất thủ nhanh như một hơi rượu.

Quân Trần tan tác. Tàn quân đi thuyền ngược dòng sông Hồng, lên Tam Trĩ rút về Quảng Ninh tản mát dọc các con sông bờ suối rậm rịt um tùm.

Tháng giêng. Tháng lễ hội còn chưa kết thúc. Đâu đó trên các tuyến phố trong kinh thành đèn lồng còn giăng đỏ rực. Những sới vật dở dang, những bãi chọi gà đông đúc, những góc chợ rộn rã cờ lọng giờ tan hoang dưới vó ngựa kẻ thù.

Hoa đào rụng như chém gốc.

Thăng Long kiêu sa lừng lẫy phút chốc buồn như một phế nhân.

*
Thoát Hoan dẫn đại quân Mông Cổ rầm rập tiến vào kinh thành Thăng Long như vào chỗ không người, trong lòng hắn cũng lấy làm đắc ý lắm. Đại Việt vốn dĩ từ trước tới giờ mang tiếng là quân chư hầu nhưng trong lòng không hề chịu khuất phục. Lại thêm việc khước từ cung cấp binh lương cho nhà Nguyên đánh Chiêm Thành như đổ thêm dầu vào lửa làm nên cuộc chiến tranh Đại Việt lần 2. Những tưởng Đại Việt là đấng anh hào, ấy vậy mà mới chỉ vài ba trận đánh nhỏ thôi đã như ong vỡ tổ. Thoát Hoan thừa thắng đã cho quân truy sát đám tướng lĩnh và quân đội nhà Trần. Không lâu nữa sẽ bắt được hai vua cho xứng với câu của tổ phụ: “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc cái nòi giống ương ngạnh và không chịu khuất phục của một nước nhược tiểu”. Thoát Hoan cười gằn: “Để rồi xem, vó ngựa Nguyên Mông sẽ khiến cho cỏ nước Nam các người còn sức để vươn lên nữa hay không?”

Đêm đó, Thoát Hoan khao quân ầm ĩ trong kinh thành Thăng Long.

Cũng đêm đó, thuyền nhỏ của hai vua ngược dòng Tam Trĩ. Mùa này nước lớn, dòng sông bị kẹp giữa hai bên vách núi dựng đứng, cao vút khiến dòng sông giống như một khe nước vừa sâu, vừa hẹp, với địa hình vô cùng hiểm trở. Từ trên đỉnh núi nhìn xuống chỉ thấy mây trắng bồng bềnh, những ghềnh đá lởm chởm, những khúc cua nghiêng ngả rợn ngợp.

Thượng Hoàng Trần Thánh Tông ngồi trầm ngâm đầu mũi thuyền lặng lẽ buồn. Chẳng lẽ cứ ở mãi trong chốn tận cùng hiu hắt này để trốn tránh vây bắt trong khi thế nước đang như ngàn cân treo sợi tóc.

– Hoàng thượng nắm được tình hình thế nào từ phía quân Mông Thát?- Thượng hoàng quay lại hỏi

– Bẩm phụ hoàng, Thoát Hoan là một người trẻ tuổi và rất dũng võ. Dưới trướng lại có những tướng tài nên trong cuộc chiến lần này, ta đã vì chủ quan mà thua thế quân địch. Giờ hắn đang cho mở yến tiệc khao quân ngay trong kinh thành Thăng Long.

– Hoàng thượng có nhận được tin gì từ phía Nghệ An lên không? Phải mau chóng tập hợp quân đội để bàn kế sách phản công chứ không cứ mãi ở lâu trong lau lách um tùm này được. Thế này sẽ làm nhụt chí nghĩa quân “sát thát”.

– Nhưng quân của Thoát Hoan bây giờ đang mạnh, sợ quân ta khó lòng cầm cự nổi chứ chưa tính đến chuyện phản công nhanh. Đỗ Khắc Chung đã đi sứ để làm chậm tốc độ tiến quân của quân Nguyên, nhưng không có kết quả. Trong khi lúc này tướng Trần Bình Trọng đã hi sinh, Trần Kiện, Trần Lộng và cả hoàng thúc Trần ích Tắc cũng mang gia quyến chạy sang trại giặc. Ta cần phải có thời gian để củng cố lực lượng, Thượng hoàng có kế sách gì với Thoát Hoan không để ta tạm cầu hòa?

Thượng Hoàng không nói, ngồi lặng nhìn hai bên bờ sông bạt ngàn lau lách thở dài nghĩ về Hoàng đệ của mình giờ đang bị lên án như một vết nhơ làm tổn thương cả hoàng tộc mà lấy làm đau lòng. Xét về tình thủ túc, mất một người em làm sao người không đau lòng được. Xét về tình quân vương người lại càng nuối tiếc nhiều bởi Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc là một vị tướng toàn tài mà không ai có thể sánh bằng được.

– Phụ hoàng- hoàng thượng Trần Nhân Tông ngập ngừng- nhi thần có ý này, nhân việc Hoàng thúc Trần Ích Tắc đang là điều nghi kị của quân Nguyên Mông. Chi bằng ta xử tội thúc ấy vắng mặt bằng cách…- hoàng thượng ghé vào tai Thượng hoàng thì thầm- chỉ có cách đó mới làm quân Mông Thát kia không khỏi nghi kị.

Chỉ mới nghe thôi mà Thượng hoàng đã lặng hết cả người .

*
2. Trong thung sâu hun hút này con thuyền của An Tư chỉ là một chấm đen nhỏ xíu. Những thuyền khác của hậu cung cũng nằm ở đấy, neo lại bên những bụi cây trong thung trật tự và nhường nhịn. Hình như chỉ đến nước này hậu cung mới thôi ồn ĩ và ganh tỵ lẫn nhau. Thuyền nào thuyền nấy yên ắng lạ thường. Nơi đây khuất gió. Thung trong như một tấm gương xanh.

An Tư nhìn qua rèm cửa. Trời đã dần về chiều. Trên vách đá cheo leo chỉ thấy khói sóng và mây trời ảm đạm.

– Không biết bây giờ cây đào trước phòng ta có còn nữa không nhũ mẫu?- An Tư phá tan sự tĩnh lặng bằng một câu hỏi chợt thốt ra như vậy

– Cây đào! chắc Hoàng cô lại nhớ Hoàng thúc chứ gì- một công chúa nhỏ cao giọng nghi hoặc- hoàng thúc giờ là một kẻ phản đồ. Nếu hoàng cô còn nghĩ đến hoàng thúc thì sớm muộn gì cũng bị liên đới.

– Chắc đã nở rồi thưa công chúa – nhũ mẫu trả lời khe khẽ rồi nhanh chóng phá tan sự nghi hoặc của mọi người đang nhìn công chúa nhỏ – công chúa lại đang nghĩ đến chuyện gom hoa làm phấn nụ đấy à . Hoa đó mà làm phấn nụ thì màu sắc sẽ tươi lắm đó!

– Ước gì …

Công chúa bỏ dở câu nói nửa chừng nhìn ra khoảng không trước mắt. Thung sâu lúc trời chuyển tối đen thẫm lại đáng sợ. Ánh sáng từ trên cao yếu ớt loang ra vẽ nên những hình thù kì dị khó hiểu.

Lòng An Tư như có lửa đốt. Nàng đang lo lắng cho hoàng huynh vô cùng. Ai cũng nhìn công chúa với vẻ ái ngại bởi trong cung này ai cũng biết đến mối thân tình đặc biệt của hoàng thân Trần Ích Tắc với tiểu muội của mình. Chỉ ngặt điều họ không muốn bàn ra nơi đây một chuyện mà họ xem là một mối nguy hại.

Ngoài kia yên ắng như tờ. Ánh trăng đầu tháng cong vênh tỏa ra thứ khí trời bàng bạc nhuốm trắng cả một khúc sông loang lổ.

*
3. So với các con của Trần Thái Tông, An Tư là nàng công chúa phải chịu thiệt thòi. Mẹ nàng vốn là một phi tần của Thượng hoàng nhưng lại không được sống trong cung mà ở trong một nông trại phía đông của phủ Long Hưng. Nàng sống với mẫu thân cho đến khi thân mẫu của nàng lâm bệnh rồi mất. Năm Thượng hoàng mất, mẹ nàng cũng mất. Năm đó An Tư chỉ vừa mới năm tuổi. Nàng được đưa vào cung.

Nàng không bao giờ có thể quên được cảm giác nhỏ nhoi của mình khi đứng trước những người anh em mà nàng chưa hề biết. Cả hoàng tộc đang nhìn vào đứa trẻ đứng run run trước ngai vàng với cặp mắt vừa xa lạ vừa chần chừ. Đứa trẻ cúi mặt xuống đất muốn khóc mà không thể khóc được cho đến khi có một bàn tay chạm vào bờ vai và giật mình. Trước mặt công chúa là một người thanh niên đang mỉm cười vô cùng hòa ái: “hoàng muội, đừng sợ! ta là anh của muội, tên ta là Trần Ích Tắc” là ngay lập tức, bao nhiêu niềm tin yêu vào phép màu cứu rỗi và che chở đã nằm lại ở khoảnh khắc đó vĩnh viễn. Công chúa nắm chặt lấy tay hoàng huynh.

*
An Tư nhớ lắm. Nàng nhớ rất rõ khuôn mặt hiền lành của Trần Ích Tắc huynh mỗi khi bế thốc nàng lên cổ chạy vòng vòng quanh phủ như chơi với con gái. Nàng cũng lại nhớ hình ảnh người đàn ông lực lưỡng trong bộ áo giáp, vai mang cung tên mới từ chuyến đi săn về vội vã ào vào phủ trên tay ôm một bầu cây sai người trồng ngay trước cửa sổ phòng của nàng mà dặn dò “đây là một gốc đào quý huynh kiếm được khi phường săn ngược cổ trấn Kinh Bắc. Cây đào tượng trưng cho sự ấm cúng, gieo vào lòng mỗi người niềm vui, niềm tin yêu hi vọng. Ta muốn muội phải tập cách tin vào chính bản thân mình. Và nữa, muội phải nhớ là lá ngọc cành vàng nên muội tuyệt đối phải tập cho mình cái cốt cách mỹ nhân giống như hoa đào vậy”

*
Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc- Đệ tam hoàng tử của tông thất nhà Trần thông minh hơn người, làu thông kinh sử, văn chương hơn người lại am tường võ nghệ trong thiên hạ ít người có thể sánh nổi. Người đã từng mở học đường ở bên hữu phủ đệ, tập hợp văn sĩ bốn phương quy về một mối. Người đã nhân từ đưa tay mình ra nắm lấy tay An Tư khi nàng trở nên lạc lõng trong chính gia tộc của mình…Con người toàn tài cả về phẩm chất lẫn tư cách đang được kính trọng đó trong một đêm binh biến đã trở thành tội đồ, trở thành vết nhơ cho cả hoàng tộc.

Điều đó làm An Tư sốc.

Cuộc đời nàng so với nỗi đau mất mẹ thì nỗi đau này ghê gớm hơn nhiều. Bởi với một đứa trẻ 5 tuổi như An Tư hoàng huynh chính là cha, là mẹ, là người thân duy nhất. Người đã vượt qua tất cả những rào cản, những hạn chế của xã hội mà dạy cho nàng tất cả kinh sử, lẫn võ thuật. Người đã dành tâm huyết của mình vì một lòng trung quân ái quốc, đã dạy cho nàng phải biết tu dưỡng phẩm chất và đức hạnh của người Hoàng tộc “muội là công chúa thì phẩm chất của muội cũng phải là một công chúa, phải biết đối nhân xử thế, biết thương dân như thế muội mới được nhân dân tôn trọng và nghe theo được. Học kiếm phổ cũng thế, hiểu được tuyệt kĩ của nó tự khắc con người ta sẽ đạt được đến đoạn tịnh độ. Muội hãy cố gắng học được Bạch Vân kì kiếm để phòng thân khi không còn ta bên cạnh để lo cho muội…”

Lời dặn giống như lời trối.

Người đã bỏ nàng mà đi.

Nàng đâu biết rằng, dưới màn sương dày đặc kia, bóng một con thuyền nhỏ vừa vút qua để lại một mùi thơm khiến nàng nao lòng: mùi của kinh thành, mùi của những viên kẹo hồ lô nàng được hoàng huynh Trần Ích Tắc mua cho trong những lần cùng huynh ra phố. Nàng giật mình nhìn theo vào màn sương mờ đục lặng tờ.

Tất cả chỉ là ảo giác!

Nàng thất thần.

Giọt nước mắt rơi dài trên gò má của nàng thiếu nữ vừa chạm tuổi 16.

*
4. Ngay sau khi vào kinh thành, Thoát Hoan đã ra lệnh cất quân lần theo dấu vết quân Trần hốt gọn mẻ lưới cuối cùng để cùng đoàn quân nam tiến. Vậy mà một tuần trôi qua vẫn chưa bắt được hai vua. Hắn nhìn thời gian trôi nhanh trong lòng đã thấy bồn chồn liền cho quân rời kinh thành ra ở lán trại phía tả ngạn sông Hồng chờ tin tức.

– Ta sẽ ra lán trại ở tả ngạn sông Hồng. Các người cứ ở lại đây chiếm giữ kinh thành. Hễ có biến phải san bằng kinh thành trong nháy mắt.

Thoát Hoan nói rồi nhảy lên ngựa thong dong đi ra cổng. Con ngựa hãn huyết thần thánh với bộ lông đen bóng nổi bật trên nền đá xám lạnh của sân rồng. Trên đầu, hoa đào ken kín trông xa như những đám mây khiến Thoát hoan không thể lạnh lùng qua mau được. Trước cảnh hoa đào đẹp đến lặng lẽ như thế, đột nhiên thôi, trong lòng hắn thoáng chút bồn chồn nuối tiếc “giá Đại Việt cứ khuất phục đi, khuất phục làm chư hầu như bao đời nay vẫn thế thì có phải những chốn thiên thai này sẽ còn lại mãi mãi?”

Sinh ra từ thảo nguyên, từ bé đến giờ chỉ sống trên lưng ngựa với cung kiếm và những trận chinh phạt trải dài từ nam chí bắc Thoát Hoan hiểu được rằng, dòng dõi Đại hãn không bao giờ được yếu đuổi hay để chuyện riêng tư làm ảnh hưởng đến gia tộc hùng mạnh của mình. Đó là nguyên tắc bất biến mà bất kì Khả Hãn nào cũng phải nắm vững.

Vậy mà Thoát Hoan đã gìm cương xuống ngựa, thảnh thơi dạo trong vườn thượng uyển. Vườn ngự đẹp quá, những cành hoa sà xuống gần mặt đất non tơ cỏ xanh làm sáng cả một góc vườn. Nó gợi lên trong lòng Thoát Hoan về một kinh thành tinh tế và hoa lệ nhưng cũng rất đỗi gần gũi thân thuộc. Ở Trung nguyên đại lục của hắn thiếu gì những cảnh sắc đẹp đẽ. Nhưng đẹp đến bi uất như chốn kinh thành Thăng Long tiêu điều này thì đến bây giờ Thoát Hoan mới nhận ra được. Phải chăng ngay cả lúc điêu tàn nhất, nước Nam vẫn là một điều kì dị và bí hiểm đến mê hoặc?

Đang nghĩ vẩn vơ bỗng Thoát Hoan chợt dừng lại trước một cây đào lạ. Hoa màu bích đào, hoa tám cánh nở to hơn bình thường trên những cành đào mốc thếch sần sùi những vẩy địa y bám chặt. Nhưng dáng cây lại tinh tế lạ lùng. Trông như dáng một con hạc đang kiễng chân, vỗ cánh như chuyển bị bay lên vậy:

– Đây là loại đào gì?

– Dạ bẩm, đây là hoa đào rừng ạ. Một loại bích đào hiếm có được tìm thấy trong thung sâu. Chính Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc đã tìm ra và đem về tặng cho Hoàng muội của người đó ạ.

– Hoàng muội của Trần Ích Tắc?

– Là công chúa lưu lạc trong nhân gian vừa được sắc phong.

– Sao trong đám thị tì không có nàng ấy?

– An Tư công chúa đã cùng hậu cung chạy trốn rồi ạ

– An Tư? Mỹ nữ đẹp nhất trời Nam? – Thoát Hoan nói thế rồi cười lớn- Hảo!

*
Trong đại điện lúc đó, Chiêu văn vương vừa lỡ tay làm đổ chén trà cung đình. Chén trà rơi xuống đất vỡ tan. Nước bắn tung tóe!

*
5. An Tư là người thứ ba sau hai vua được nghe tin từ phía trại giặc. Nó như một tiếng sét làm kinh động đến trái tim non nớt của nàng. An Tư nhắm chặt mắt. Nỗi sợ hãi duềnh lên trong lòng thiếu nữ. Nàng biết làm gì đây khi mang danh phận công chúa Trần triều lại bị chính tướng giặc yêu cầu cống nạp cho lần bang giao sắp tới. Bị đưa đến chốn hang hùm, nàng sẽ ra sao, sẽ bị đối xử như thế nào dưới thân phận của một nô lệ khi nàng mới chỉ vừa tròn 16 tuổi?

An Tư đã chịu đựng nỗi băn khoăn đó một cách cô độc. Cả triều đình đang nâng niu nàng như một thánh nhân mà không hề nghĩ đến nỗi sợ hãi sâu thẳm của một người thiếu nữ. Anh của nàng, Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, người vừa trao lại quyền năng cho nàng đã cùng lúc tước đi sự tự do của nàng đang ngồi im như phỗng làm nàng sợ hãi. Giá như Thượng Hoàng nói với nàng vài lời chắc An Tư cũng sẽ can đảm như những bậc trung thần khác sẵn sàng hi sinh thân mình cho đất nước nhưng người lại im lặng. Im lặng là đau lòng hay lạnh lùng thì nàng không thể nào hiểu nổi.

An Tư đi lại phía cửa sổ nhìn dòng sông mùa xuân xanh rờn một màu xanh nguyên thủy yên bình chảy. Sự tĩnh lặng làm nàng như rơi vào trạng thái ảo giác. Trong cơn hỗn độn đó nàng thấy mình đang ngồi khóc nơi bậc thềm. Dưới tán hoa đào bung như mây hồng và tiếng vó ngựa khấp khấp đổ dồn rộn rã:

– Hoàng huynh! Hoàng huynh.

– Sao hoàng muội lại khóc chứ

– Muội sợ huynh bỏ muội mà đi.

– Đời ta sinh ra là để phụng sự nước nhà. Nếu không bỏ xác ngoài sa trường thì ta sẽ không bao giờ buông tay muội. Muội là đứa em mà ta thương yêu nhất.

– Nhưng…

– Muội nên nhớ rằng bây giờ muội là hoàng cô của Hoàng thượng rồi. Dòng máu hoàng tộc không chỉ nuôi sống cơ thể chúng ta mà nó còn là huyết mạch nuôi dưỡng tinh thần quật cường, đức hi sinh, lòng kiêu hãnh của cả một triều đại.

– Thế tại sao huynh có thể…

– Ta đã chọn lựa cách sống của riêng mình và ta không hổ thẹn với nó. Cũng như muội giờ đây, muội phải lựa chọn cuộc sống cho riêng mình chứ không chỉ cứ ngồi chờ ta và khóc như một đứa trẻ nữa.

Hoàng huynh nói rồi mất hút trong một trận cuồng phong làm mặt nước nổi sóng duềnh khiến An Tư tỉnh giấc.

*
Chiều! Chiều rồi! bóng nắng khuất dần sau núi chỉ còn lại vài vệt yếu ớt từ đám mây trên đỉnh trời hắt xuống. Dòng Tam Trĩ dài dằng dặc chảy từ thượng nguồn núi Am Váp xuôi về đến hạ lưu giống như một con rắn lục khổng lồ vắt mình qua những dải rừng nguyên sinh thâm trầm bí hiểm trườn ra phía biển. An Tư nhìn dòng sông phía cuối hạ lưu thao thiết chảy. Nàng nhớ đến giấc mơ của mình thoáng chút ngỡ ngàng: chẳng lẽ đó là điều mà hoàng huynh mộng báo ?

*
Tháng 2 năm Thiệu Bảo thứ bảy – năm 1285. Mùa xuân năm đó, cây cỏ đìu hiu. Hơi thở đóng băng. Cả kinh thành được ví như hình rồng uốn lượn giờ cũng hiền lành náu mình trong sương giăng kín lối. Đêm đó, người ta trang điểm cho công chúa thật đẹp. Nàng mặc bộ áo lụa đỏ, đi hài đỏ, ngồi trên một cây kiệu đỏ có 8 người khiêng đi về phía trại giặc. Không ai biết được trong lòng công chúa nghĩ gì. Chỉ thấy khuôn mặt nàng khi tái nhợt, khi bừng đỏ. Đôi mắt nàng khi long lanh ngấn lệ, khi lạnh băng như nước hồ thu. Nàng đang đi về một nơi mà nàng không hề ngờ tới.

*
6.
– Múa đi! Múa để ta xem sức bền của người Giao Chỉ các ngươi chịu đựng đến đâu trước sức mạnh của Trung Nguyên đại lục.

Từ sau bức mành trúc, tiếng người vừa ra lệnh cho nàng múa không ai khác chính là tướng quân Mông Cổ Trấn nam vương Thoát Hoan. Người mang mặt nạ sắt đang ngồi bên bàn rượu trông uy nghi, đạo mạo, giọng nói trầm hùng.

– Đã một tuần trăng qua, thần thiếp đã múa hết các điệu múa của Đại Việt rồi, bây giờ, thần thiếp muốn múa điệu múa của người Mông Cổ.- An Tư cung kính cúi đầu trước Trấn Nam Vương rồi nhỏ nhẹ tiếp lời – Đêm nay, thiếp xin hầu Trấn Nam Vương điệu phi thiên vũ.

– Phi thiên vũ?

An Tư không đáp lại lời Trấn Nam Vương. Trong khoảnh khắc tĩnh lặng đó, tiếng đàn mã cầm đầu đột nhiên vút lên não nề. Tiếng đàn da diết mà lại rất phóng khoáng, mênh mang như tâm hồn dân du mục vùng thảo nguyên bát ngát và cánh chim thiên vũ vút lên trời xanh như một mũi tên đang kể chuyện về cuộc đời tự do của mình khiến Thái tử trung nguyên ngỡ ngàng không thể rời mắt. Từ bé tới giờ Thoát Hoan chỉ ở trên thảo nguyên rộng lớn. Cái khoáng đạt của lòng người cũng như lòng thảo nguyên bao la và có phần lãng tử. Chàng chắc cũng đã được biết nhiều đến các mỹ nhân, nhưng đẹp và tài hoa như An Tư quả là chàng chưa thấy bao giờ. An Tư đã khéo léo lột tả được vẻ đẹp của sức mạnh và sự nhu nhị lại với nhau. Bài múa là sự phối hợp giữa nội lực và sự uyển chuyển cho nên nét nhu càng nổi bật hơn. Người ta thường nói, nhu năng khắc cương là cái thần của bài múa chính là như vậy.

Từ khi thấy An Tư từ trên kiệu hoa bước xuống, Thoát Hoan đã thấy sững sờ trước đệ nhất mỹ nữ nước Nam rồi nhưng cái đẹp khiến hắn đắm say lại chính là từ điệu múa phi thiên vũ nhuần nhuyễn đến nghi hoặc này. Rốt cuộc nàng là ai? Là công chúa lưu lạc trong dân gian không danh phận hay một tiên nữ giáng trần để thử lòng kiêu hùng của tướng quân Khả Hãn? Câu hỏi chưa kịp thốt ra đã bị quên lãng. Tâm thế Thoát Hoan đã bị cuốn vào trong điệu vũ tiếp đất thanh thoát của nàng. Thế hạc tấn khiến xiêm áo nàng tung bay như một bông hoa đang nở.

– Trời!

Tiếng hét ngỡ ngàng không kìm được của Thoát Hoan làm An Tư bối rối. Nàng sững sờ chới với một lúc rồi ngã xoài ra đất. Âm nhạc tắt lịm. Không gian quánh lại nghẹt thở. Cả lán trại ồ lên phút chốc lại yên lặng đến nghẹt thở. Quần thần lặng im bởi ai cũng biết rằng mỗi khi Trấn nam vương cắt lời ai thì người đó không có quyền được sống nữa. Giờ thì đã hết! tiếng hét của Thoát Hoan là mũi tên cắm sâu vào lồng ngực. Con chim đã trúng tên rơi tự do xuống đất. Nàng nhắm mắt. Trời xanh vừa khép lại trên đầu nàng. Dẫu nàng biết rằng từ khi đến đây ngày nào với nàng cũng là ngày cuối nhưng nàng vẫn thấy sao thời gian lúc này đây dài lê thê đến thế. Nàng nằm im chờ đợi sự phán quyết cuối cùng không hề sợ hãi hay nuối tiếc bởi khi nhìn con chim bồ câu đưa tin bay lên trên bầu trời xanh thẫm sáng nay, nàng biết sứ mệnh của nàng đã hoàn toàn chấm dứt. Vì thế, nàng chọn điệu Phi thiên vũ để múa bằng tất cả những đam mê tự do cuối cùng của riêng mình.

– Hoàng huynh! …vĩnh biệt….

*
7. Vậy là sau một tháng giãn binh ở kinh thành Thăng Long, quân đội Đại Việt đã phủ đầu đại quân Mông Nguyên bằng những cuộc phản công thần tốc.

Vó ngựa rền rĩ.

Tiếng chiêng trống thúc dục liên hồi.

Bốn bề là biển lửa !

Tiếng binh khí loảng xoảng. Tiếng hò hét điên loạn: Phải bắt sống Thoát Hoan! Phải bắt sống Thoát Hoan.

*
8.
An Tư choàng mở mắt. Đêm tối đen. Ánh sáng từ cây đèn bạch lạp lấp lánh ở góc phòng không đủ sáng để soi rõ khuôn mặt người đàn ông đang ngồi trước mặt nàng. Là Thoát Hoan vừa lay gọi nàng dậy. Đây là lần đầu tiên An Tư được diện kiến khuôn mặt không mang mặt nạ sắt của kẻ khét tiếng hung tợn đất Trung Nguyên. Nàng đã từng tưởng tượng rằng đằng sau dáng ngồi kềnh càng như một con gấu lớn với tấm áo khoác da thú tanh đầy mùi máu phải là một người kì dị chứ không phải là một trang nam tử Hán trong một bộ áo dài màu nâu viền vàng gài khuy chéo được quấn bằng một dây đai nạm ngọc tinh tế làm lộ rõ thân hình đẹp đẽ.

– Nàng tỉnh rồi !

An Tư bừng tỉnh. Nàng chưa kịp hiểu ra sâu xa điều gì khi Thoát Hoan nói thế. Thoát Hoan không thể nào nói thế. Một đất nước luôn mang trong mình khát vọng bành trướng lãnh thổ bằng cách thôn tính các nước nhược tiểu chỉ có thể sản sinh ra những con người gồ ghề, máu lạnh sẵn sàng hủy hoại tất cả những gì ngáng trở trên con đường thành công của chúng. Ấy vậy mà trong hoàn cảnh tính mạng đang bị dồn đến đường cùng hắn vẫn đang ngồi đây và nói những lời gần như vô nghĩa khiến nàng không thể nào hiểu nổi. Nàng hít một hơi sâu trong lồng ngực để biết rằng mình không bị ảo giác. Mình không mơ. Nàng biết mình đã lọt vào đường cùng:

– Giết ta đi.

– Ta đã từng nghĩ rằng ta sẽ bóp chết nàng như bóp chết một con nhạn nhưng ta không thể. Vì nàng đã chạm đến trái tim ta chứ không phải mưu lược của anh nàng khiến ta bị lừa gạt. Chẳng lẽ, nàng không muốn gặp lại hoàng huynh của người sao?

– Hoàng huynh của ta?

– Chiêu văn vương Trần Ích Tắc, một kẻ ngông cuồng, một kẻ vì nước mà hi sinh cả tiền tài, danh vọng và thân phận của mình để làm một kẻ nội gián đáng chết.

– …

– Nhưng ta sẽ không cho hắn được chết. Cho hắn chết chẳng khác nào để cho hắn trở thành anh hùng trong lòng dân các ngươi ư? Ta sẽ cho hắn sống, sẽ cung phụng hắn, bao bọc hắn trong nhung lụa. Hắn đã muốn hàng ta sẽ cho hắn đầu hàng… và lúc đó không chỉ hai vua mà cả Trần triều đều coi hắn là một kẻ phản quốc. Hắn sẽ sống không bằng chết.

– Ngươi…

– Ta đã có thể thoát khỏi đây một cách nhanh chóng nhưng ta vẫn ở đây bởi vì ta yêu nàng. Vừa yêu vừa căm hận. Nàng cũng giống như hoàng huynh của nàng thôi, cũng sẽ chết trong tay ta nếu ta muốn thế.

– …

– Bây giờ chúng ta phải cùng nhau lựa chọn thôi, hoặc là bắt đầu hoặc là kết thúc – Thoát Hoan đứng dậy nhìn ra phía cửa sổ.

– Là sao?

– Là ta đã vì nàng mà trở thành tội đồ của dân tộc ta. Nàng cũng đã vì ta mà mang tội che giấu kẻ thù với triều đình. Nếu cả hai việc đều bị vỡ lở thì không chỉ ta, cả nàng cũng bị xử tội. Chi bằng chúng ta hãy chọn mở đầu để kết thúc mọi chuyện. Chúng ta sẽ sống cho cuộc đời của chúng ta. Sẽ biến mất khỏi cuộc chiến này một cách vĩnh viễn.

An Tư mở choàng mắt tỉnh hẳn. Trân trân nhìn vào con người đang ngồi trước mặt mình một cách lạnh lùng. Ngoài song, quân triều đình đã áp sát chặn mọi ngả đường hắn sẽ không còn lối thoát. Đồ ngạo mạn ấy cuối cùng cũng sẽ bị giết dưới tay quân đội triều đình thôi. Không ai khác chính nàng sẽ tự tay giết chết hắn. Nàng nghĩ thế nhưng rồi khi chạm phải ánh mắt của Thoát Hoan làm nàng chùng lòng. Ánh nhìn đó khiến nàng nhớ đến ánh mắt của hoàng huynh khi đưa tay nắm lấy tay nàng hồi thơ bé.

Lại có tiếng hò hét rượt đuổi ngoài cổng thành. Quân triều đình đã vây kín mọi lối thoát. Cánh cửa phòng nàng bật mở. Trong tích tắc, An Tư như bừng tỉnh. Nàng vùng dậy, kéo tấm chăn bằng lụa điều rồi đẩy Thoát Hoan vào đó.

Cho đến canh ba thì tiếng hò hét biến mất. Thinh không phút chốc trở lại yên ắng lạ thường. Gió lạnh ngoài sông thổi về gấp gấp. Trong đêm tối tĩnh mịch có hai người vội vã rời khỏi kinh thành. Ngựa phi nhanh như gió. Sau lưng họ, hoa đào rụng trắng như tuyết dưới ánh trăng đẫm sương ướt át. Mùi thơm còn đọng lại trên nhụy đài chan chát ngọt ngào.

T.Q.N 

Hội nhà văn Việt Nam: Từ Hội chó săn đến hội bán nước

Hội nhà văn Việt Nam: Từ Hội chó săn đến hội bán nước

Phạm Thành

 

“…Nay với việc cho in truyện ngắn “Bắt đầu và kết thúc” trên mặt tiền của báo Hội, ngợi khen giặc, bôi bẩn dân tộc thì cái Hội Nhà Văn Việt Nam đã tiến thêm một bước, không chỉ là một hội chó săn mà còn là một hội bán nước…”

batdau_ketthuc

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diên: “Báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam được xem như cái mặt tiền và là nơi ẩn chứa linh hồn của những hà văn trong Hội nhà văn này. Hiện tại, Hội Nhà văn Việt Nam do nhà thơ Hữu Thỉnh làm chủ tịch đến khóa thứ 3 liên tiếp, Báo Văn nghệ do… làm tổng biên tập. Trên báo Văn Nghệ số 50 (16-12-2017) có in truyện ngắn “Bắt đầu và Kết thúc” của Trần Quỳnh Nga. Truyện đề cập đến các nhân vật lịch sử Trần Ích Tắc, An Tư, Thoát Hoan. Về Trần Ích Tắc thì là “một kẻ vì nước, mà hy sinh cả tiền tài, danh vọng và thân phận của mình để làm một kẻ nội gián”. Còn công chúa An Tư thì che chở cho Thoát Hoan để cùng Thoát Hoan trốn về nước”.

GS Trần Đình Sử nhận định về truyện ngắn “Bắt đầu và Kết thúc” này: “Trần Ích Tắc là một tội nhân của lịch sử, là biểu tượng cõng rắn cắn gà nhà, bán nước cầu vinh, Thoát Hoan là kẻ thù của dân tộc, nêu tên trong lịch sử. Có lí do gì để phiên án, lật lại bản án lịch sử, biến kẻ tội đồ thành người yêu nước, biến kẻ thù thành kẻ mạnh mẽ đáng yêu?

Trước đây tôi có viết, nếu nước ta trở thành một khu tự trị của Trung Quốc thì tên nước bị xoá, lịch sử Việt Nam sẽ được viết lại. Bọn bán nước được viết thành anh hùng, Lẽ nào tiên đoán của tôi đã ứng nghiệm?!”.

Nhà giáo, tiến sĩ Chu Mộng Long viết: “Rốt cuộc, cả “bắt đầu” lẫn “kết thúc” đều không có gì ngoài một áng văn mang cảm hứng đồng bóng với mục đích thần tượng hóa kẻ thù. Cũ rích và nhạt thếch của lối văn nô. Đọc xong tất cả đều bốc hơi, chẳng để lại dư vị gì. Có chăng là một mùi ô uế bốc lên từ luận điệu của kẻ cướp nước với chủ nghĩa bá quyền và kẻ bán nước với luận điệu ru ngủ dân chúng. Và có chăng là hiệu ứng ngược gây phẫn nộ trong cộng đồng người Việt yêu nước. Tôi không tin Quỳnh Nga có tư tưởng ấy mà chẳng qua bị nhồi sọ quá nặng. Nếu truyện này được đăng trên Hoàn Cầu hay Phượng Hoàng của Trung Hoa thì có lẽ thích hợp hơn là trang Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam.

Lịch sử và văn chương đến lúc chấp nhận trò chơi tương tác diễn ngôn. Đã qua rồi cái thời văn chương dựa dẫm vào lịch sử, xem lịch sử là chân thực, mẫu mực. Nhưng trong trò chơi tương tác này, Trần Quỳnh Nga đã thất bại thảm hại vì những sáng tạo trong Bắt đầu và kết thúc không có gì hơn ngoài sự nô dịch về tư tưởng và lối viết. Đó là sáng tạo chết và trang Văn nghệ cũng chết theo nếu tác giả và tòa soạn không chịu khai phóng tinh thần mà chỉ nhăm nhăm tìm nguồn tài trợ để giải quyết khủng hoảng”.
Nhà Văn Hoàng Quốc Hải thì giận dữ: “một áng văn phản lịch sử”.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, Giáo sư Trần Đình Sử, nhà giáo, tiến sĩ Chu Mộng Lòng cùng sự nổi giận của Nhà văn Hoàng Quốc Hải, tất cả đều đúng, đều chuẩn, thể hiện một thái độ vì nước, rõ ràng, dứt khoát, Phạm Thành chỉ chua thêm một câu: Nếu không có Phú Trọng và phe phái Phú Trọng đã và đang thắng thế trong mưu đồ rắp tâm bán nước cho Tàu Cộng thì có mà nhử thính Văn Nghệ của Hữu Thỉnh và… cũng không dám đăng truyện này lên báo. Suy cho cùng về chính trị, truyện ngắn này cổ vũ cho bọn Việt gian hãy tin tưởng bán nước Việt Nam cho Tàu Cộng.
Vì sao vậy?
Vì báo chí, văn chương nghệ thuật là một vũ khí lợi hại, tiềm ẩn những nguy cơ trước mắt và lâu dài vô cùng to lớn. Và khi nó được chính quyền sử dụng vào mục đích xuyên tạc lịch sử, bôi bẩn dân tộc, ngợi ca kẻ thù thi sự nguy hại mất nước đã đến rất cận kề. Hồi năm 2012, trong lúc đang dậy mùi thum thủm thơ thiền của Hoàng Quang Thuận, Phạm Thành tôi đã từng khóc trên Blog Bà Đầm Xòe như thế này:

“Các bạn ơi, Bà Đầm xòe Phạm Thành khi viết bài “Thúi lắm rồi, đất nước ơi!” là Phạm Thành khóc đấy! Khóc cho đất nước, khóc cho dân tộc dường như đến hồi mạt không còn đường cứu chữa nữa rồi. Bởi vì xã hội ta đang sống không chỉ có nhung núc những sâu, những bọ tham ăn, tham quyền mà giờ đây đã ào ào nảy nòi thêm ra một đống đám trí thức lưu manh trong giới khoa học, giáo học và những nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa. Điều này như báo hiệu rằng, sự mất của dân tộc giừơng như không thể cứu chữa được nữa, vì sự lưu manh trong giới trí thức khoa học, văn học nghệ thuật là biểu hiện cuối cùng của con đường mạt của dân tộc. Các triết gia chân chính từ lâu đã chỉ ra rằng, đất đai sông núi có thể bị mất bởi quân xâm lược, nhưng chữ nghĩa, văn hóa của dân tộc ấy còn thì nước mất rồi còn có thể lấy lại, chứ mất ngôn ngữ – chữ nghĩa – văn hóa thì đất nước đó có thể còn nhưng dân tộc thì đã mất.
Phạm Thành tôi phải khóc lên “Đất nước ơi, Đất nước ơi!” là vì điều này đấy. Nhưng vì còn le lói trong lòng niềm tin về dân tộc sẽ còn, nên tôi mới khóc trong sự căm giận về một lũ trí lưu manh trên cánh đồng khoa học và chữ nghĩa như vậy”.

Tuy Phạm Thành tôi đã khóc như vậy, nhưng từ năm năm 2014 đến nay, giới lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam lại bất ngờ hiện lên trước mặt tôi y trang một Hội chó săn khi có công văn tố cáo tội phạm là tôi sang An ninh Hà Nội khi tôi đem tiểu thuyết “Cò hồn Xã nghĩa” dự thi nộp cho Hội nhà văn Việt Nam. Nay với việc cho in truyện ngắn “Bắt đầu và kết thúc” trên mặt tiền của báo Hội (Báo Văn Nghệ), ngợi khen giặc, bôi bẩn dân tộc thì cái Hội Nhà Văn Việt Nam đã tiến thêm một bước, không chỉ là một hội chó săn mà còn là một hội bán nước.

Phạm Thành

nguồn:  http://ethongluan.org

Một dân tộc đáng thương nhất thế giới

Một dân tộc đáng thương nhất thế giới

Huệ Vũ

Inline image

Người Palestine biểu tình ném đá và quân đội Do Thái gần một trạm kiểm soát của Israel tại Tây Ngạn, Bethlehem ngày 9 tháng 12, 2017, sau khi Tổng Thống Hoa Kỳ tuyên bố công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. (Musa Al Shaer/ Getty Images)
 

Dân số Palestine hiện nay khoảng trên 8 triệu người. Số người đang sống ở Dải Gaza, West Bank và trong lãnh thổ Do Thái chỉ trên 4 triệu. Hơn một nửa đang sống ở những quốc gia Arab và các nước trên thế giới được coi như người tỵ nạn Palestine. Hiện đang có khoảng 5 triệu người Palestine phải sống nhờ vào sự chăm sóc của cơ quan UNRWA (United Nations Relief and Works Agency for Palestine Refugees in the Near East).

Dân tộc Palestine có lẽ là dân tộc đau khổ nhất trên thế giới, trong lịch sử họ chưa từng có quốc gia, và họ rất khó có thể tìm được một quốc gia trong giai đoạn hiện nay khi Chủ Nghĩa Zionism chủ trương phải lấy lại tất cả “Vùng Đất Hứa” theo Cựu Ước, và người Do Thái gần như thao túng chính sách ngoại giao của nhiều cường quốc Tây Phương, trong đó có Hoa Kỳ.

Cùng lúc đó, người Palestine lại cũng là con bài mà thành phần Hồi giáo Sunni cực đoan muốn qua họ, dùng sự đàn áp của Do Thái để kích động tinh thần chống Tây phương, chống chính phủ thế quyền, vua chúa tại các nước Á Rập. Khối Shiite do Iran lãnh đạo cũng muốn dùng sự chiến đấu của người Palestine để cạnh tranh ảnh hưởng và cảm tình trong khối Hồi Giáo.

Tên gọi Palestine xuất hiện đầu tiên trong Cựu Ước là Philistin. Theo tài liệu của đền thờ cổ Medinet Habu, Palestine là dân Peleset, một dân tộc miền biển, đã xâm nhập Ai Cập dưới triều đại vua Usimare Ramesses III (cũng gọi là Ramses III hay Ramese III), là vị Pharaoh thứ nhì của Triều đại thứ 20. Peleset được dịch qua tiếng Anh là “Philistia.”

Hiện cũng không thể xác định người Palestine hiện nay có phải là con cháu người Philistines hay không. Theo lịch sử, vào năm 1000 BC, vua David của Do Thái chinh phục người Philistines. Vào năm 922 BC vương quốc Israel bị chia làm đôi: Israel ở phía bắc và Judad ở phía nam. Năm 721 BC Israel bị rơi vào tay Assyria, đến năm 586 BC Judad bị Babylon chinh phục, thành phố Jerusalem bị phá hủy, người Do Thái bị lưu đày.

Theo các nghiên cứu gần đây, người Do Thái và Palestine có cùng huyết thống. Theo họ, trong các đợt bị lưu đày, nhiều người Do Thái đã trốn tránh, cương quyết tiếp tục ở lại quê hương, nhưng theo thời gian cả ngàn năm, họ đã thay đổi ngôn ngữ, phong tục, để thích ứng với nhiều hoàn cảnh cay nghiệt, và cuối cùng họ đã theo Hồi Giáo. Những kết quả nghiên cứu trên hiện cũng chưa được chính thức xác nhận! Như vậy, dù có phải cùng là con cháu ông Abraham hay không, tiên tổ người Palestine và Do Thái cũng đã từng là anh em trong một quốc gia kéo dài trong nhiều trăm năm. Nhưng ngày hôm nay họ bị chính người anh em của mình trước kia ngược đãi, đàn áp dã man. Họ cũng là nạn nhân của tranh chấp giữa Do Thái và Hồi giáo.

Palestine, sau thời kỳ Babylon là đế quốc Ba tư, La Mã cai trị. Tiếp theo đó là người Á Rập Hồi giáo, đế quốc Thổ. Sau Thế Chiến Thứ Nhất, Palestine lại bị lệ thuộc Anh.

Người Do Thái sau khi bị đế quốc Babylon và Đế quốc La Mã lưu dày, bán làm nô lệ, đã đi sinh sống nhiều nơi trên thế giới không còn hiện diện nhiều ở vùng đất Palestine thuộc Anh (lãnh thổ Do Thái hiện nay, Tây Ngạn và Gaza), vào năm 1850 trong toàn vùng chỉ có khoảng 12 ngàn người.

Vào năm 1897, người Do Thái hợp đại hội phục quốc đầu tiên ở thành phố Basle, Thụy Sĩ, bàn cách thành lập quốc gia Do Thái. Đại hội trong năm 1904 đề nghị thành lập quốc gia Do Thái ở Á Căn Đình (Argentina), nhưng đại hội năm 1906 đã quyết định quốc gia Do Thái phải là Đất Hứa Palestine. Trong năm 1917, Ngoại Trưởng Anh Arthur J. Balfour đã gởi thư cho một lãnh tụ phục quốc Do Thái hứa hẹn sẽ giúp thành lập quốc gia Do Thái. Sau Thế Chiến Thứ Nhất, người Do Thái các nơi trên thế giới ồ ạt trở về vùng đất này. Từ năm 1920 tới năm 1945 có khoảng 350 ngàn người Do Thái di cư hợp pháp vào Palestine.

Chủ nghiã phục quốc Do Thái không chỉ đơn giản có một quốc gia Do Thái sống hòa bình bên cạnh quốc gia Palestine hay chấp nhận người Palestine sống chung với Do Thái. Quốc gia Do Thái đối với người Zionists phải là đất của vua David, Salomon, đất mà Chúa Trời hứa hẹn với con cháu ông Abraham sẽ từ sông Ai cập tới sông Euphrates có đất Kenite, Kamonite, Hittite, Perizzite, Rephain, Amorite, Canaanite, Girgashite và Jubesite. (Genesis 15:18-20) chứ không phải biên giới hiện nay.

Họ cắt nghĩa giai đoạn 1000 năm trong sách Khải Huyền (Revelation) rằng thì là… một khi người Do Thái phục hồi lại cõi bờ vua David, Salomon, sẽ tới thời kỳ mạt thế và thăng thiên khoảng 7 năm, Chúa Jesus sẽ đến từ trời, hiện rực rỡ trong mây đón rước những người tin Chúa lên thiên đàng. Sau giai đoạn này, Chúa Jesus sẽ trở lại trần thế, chọn 144,000 người Do Thái cùng Ngài cai trị các nước trên thế giới trong vòng 1000 năm cho tới ngày phán xét cuối cùng.

Những điều tin tưởng trên của người Zionist có lẽ hoàn toàn bóp méo kinh điển. Nếu Chúa Trời đã có hứa với ông Abraham thì phải chăng con cháu của ông ta, vua David cũng đã từng nhận đất mà Ngài đã hứa? Kinh Thánh đã xác định Chúa Trời đã chu toàn lời hứa qua các đoạn Joshua 21:43, Kings 8:56. Người Zeonist cũng đã quên, không nhớ rằng tổ tiên của họ đã từng chối từ không công nhận chúa Jesus là con của Chúa Trời. Qua Kings 9:6-9, Chúa Trời đã cảnh cáo nếu con cháu người Do Thái không theo Chúa, không giữ lời Chúa, Ngài sẽ tước bỏ những đất đai mà Ngài đã ban cho. Sự sụp đổ của vương quốc Israel-Juda phải chăng đã là sự trừng phạt của Chúa Trời, và tội chối Chúa Jesus không công nhận Ngài là con Chúa Trời cũng đã làm cho họ bị đế quốc La Mã bán làm nộ lệ khắp thế giới.

Tuy nhiên, không phải chỉ có người Do Thái tin tưởng những điều huyễn hoặc mà các nhà tiên tri Christian Zionists nêu lên. Nó được rộng rãi tin tưởng ở Anh và Hoa Kỳ. Chính vì những tin tưởng như vậy mà Balfour đã cam kết với người Zionist ở Anh, và Anh Quốc đã ngầm giúp cho người Do Thái trở về Palestine trong thời gian cai trị vùng Palestine.

Ở Hoa Kỳ, hội Người Thiên Chúa Đoàn Kết cho Do Thái (Christians United for Israel – CUFI) là một hội rất mạnh. Người thành lập CUFI là Mục sư John C. Hagee của Nhà thờ Cornerstone ở San Antonio/Texas có 19 ngàn tín đồ, giám đốc global Evangelism Television, đã công khai tuyên bố quốc gia Do Thái phải gồm Tây Ngạn và Gaza, đây là đất Chúa tuyệt đối dành riêng cho người Do Thái. Trong tháng 7 năm 2007, Mục sư Donald Wagner của đạo Presbyterian nói rằng điều ông lo ngại nhất là Christian Zionists với trên 1 triệu tín đồ Evangelical trên thế giới đã hết sức cực đoan chống Hồi Giáo và ủng hộ Do Thái có thể tạo thêm hận thù giữa người Christian và người Hồi Giáo. Các nhà thờ Công Giáo (Catholic), Lutheran và Orthodox trong vùng Trung Đông cũng rất lo sợ luận điệu của Evangelicals.

Người phục quốc Do Thái không chỉ tin tưởng quốc gia của họ phải bao gồm những vùng đất Tây Ngạn và Dải Gaza, Jerusalem phải là kinh đô của họ mà họ cũng không chấp nhận sống chung với người Palestine.

Trong năm 1895, ông Theodor Herzl được coi là nhà tiên tri của Zionism đã viết: “Hãy tước đoạt nghị lực của dân tộc không đáng một xu trong nước chúng ta bằng cách tước đoạt tài sản và xua đuổi chúng một cách vô cùng thận trọng.”

Người lãnh đạo Do Thái đầu tiên là ông David Ben Gurion đã triệt để thực hiện chủ trương của Herzl ngay từ lúc làn sóng di dân Do Thái mới bắt đầu trở về “Đất Hứa” với hai chính sách là “Mua đất của người Palestine” và “chỉ dùng công nhân Do Thái.” Người Do Thái đã thực sự bắt tay bí mật thực hiện chính sách thanh lọc chủng tộc ngay từ năm 1937. Sau khi Ủy ban do ông Earl Peel cầm đầu đưa ra kế hoạch phân chia Palestine, ông Ben Gurion đã tuyên bố: “Không thể có một quốc gia Do Thái trong đó có một thiểu số người Á Rập nguy hiểm” và “Không thể có quốc gia Do Thái nếu người mọi rợ điạ phương vẫn còn hiện diện trong biên giới.”

Thế chiến Thứ Hai kết thúc, người Do Thái vẫn còn kinh hoàng với thảm trạng Holocaust, nhưng ngay sau đó họ lại không có một chút lòng nhân đạo nào đối với dân tộc Palestine, để mỗi năm người Do Thái tưởng niệm Holocaust, thì người Palestine cũng mỗi năm mỗi tưởng niệm thảm trạng al-Nakba.

Thảm trạng al-Nakba không có giết người tập thể bằng hơi ngạt như Holocaust, nhưng hàng trăm, hàng ngàn người dân vô tội bị xua đuổi khỏi nhà cửa, khỏi làng mạc mà ông cha, tổ tiên của họ đã sống từ bao ngàn năm trước.

Ngày 14 tháng 5 năm 1948 là ngày Anh chấm dứt sự cai trị Palestine cũng là ngày Do Thái tuyên bố độc lập, thì từ nhiều tháng trước, Ben Gurion đã ra lệnh cho lực lượng dân quân Haganah phải dùng mọi cách từ đe doạ tới khủng bố để làm cho người Palestine phải đi khỏi lãnh thổ càng nhiều càng tốt. Nhà sử học Edgar O’balance đã viết lại thảm trạng: “Xe Do thái với máy phóng thanh ra lệnh cho người Á Rập phải nhanh chóng di tản… những làng xã người Palestine bị bao vây buộc phải ra đi trong vòng 2 hay 3 ngày… xe ủi đất Do Thái tới dỡ nhà cửa ngay trước mắt họ.”

Từ cuối năm 1947 tới tháng 3 năm 1949, Do Thái đã hệ thống xua đuổi người Palestine trong 4 đợt, số người bị buộc phải ra đi trên 800,000 người. Dọn sạch khoảng 500 thị trấn, làng mạc và bộ lạc Palestine. Theo ước tính của Liên Hiệp Quốc chỉ có 150 ngàn trong số 950 ngàn người Palestine lúc bấy giờ nhất định ở lại với quê hương của họ. Qua cuộc chiến 1967 giữa Ai Cập và Do Thái, trên 300 ngàn người Palestine nữa đã phải trở thành người tạm trú ở những nước lân cận.

Đức Chúa Trời chắc chắn phải là đấng nhân từ, nếu người Do Thái xua đuổi người Palestine để lập lại vương quốc David, Solomon, Ngài sẽ cho Chúa Jesus xuống trần để cùng người Do Thái cai trị thế giới hình như nghe cũng chẳng thuận tai chút nào. Thế nhưng, đây là sự tin tưởng của Christian Zionists, của Evangelicals, của hàng triệu người có thế lực chính trị tại nhiều cường quốc, cho nên người Palestine có lẽ khó tìm được những ngày bình an, dù họ có từ bỏ những chiến thuật đấu tranh sai lầm của họ hiện nay hay không.

Xin cầu nguyện cho người Palestine, cầu nguyện cho họ sớm thấy rằng hình thức đấu tranh của họ không thích hợp, chỉ phản lại chính nghĩa của họ. Nhưng cũng xin cầu nguyện cho những người Zionists sớm thấy rằng Chúa Trời là đấng nhân từ. Ngài có ban đất cho Do Thái thì chắc chắn cũng chọn lựa một cách nhân từ, tự nhiên chứ không phải xua đuổi, tước đoạt quyền sống, đàn áp, một dân tộc khác.

Cầu nguyện cho thảm trạng chiếm đóng trong thế kỷ thứ 21 sớm chấm dứt, dân tộc Palestine có thể sống bình an, mưu cầu hạnh phúc cho chính họ như các dân tộc khác trên thế giới. Cầu nguyện cho trẻ em Palestine không còn ngồi tù, không còn đi ném đá quân nhân, cảnh sát Do Thái để bị bắn chết. Cầu nguyện cho chúng có thể cắp sách tới trường như trẻ em các dân tộc khác trên thế giới. (hv)

nguồn: http://www.viendongdaily.com

400 Tăng Ni và Phật tử biểu tình chống Trung Cộng trước Tượng Đức Thánh Trần

Chưa từng có tại Nam Cali: Bốn trăm Tăng, Ni và Phật tử biểu tình chống Trung Cộng trước Tượng Đức Thánh Trần

Bài THANH PHONG

LITTLE SAIGON – Mặc dù ở Little Saigon có hàng chục ngôi chùa lớn nhỏ, nhưng chưa bao giờ có cuộc xuống đường ngoạn mục như cuộc xuống đường biểu tình chống Cộng của Tăng Ni, Phật tử chùa Tầm Nguyên, thuộc thành phố Indio, California do Thượng Tọa Thích Thông Lai hướng dẫn, diễn ra trước Tượng Đài Đức Thánh Trần và tuần hành trên đại lộ Bolsa vào sáng ngày Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2017.

Theo thông lệ hàng tháng, Hội Đồng Quản Trị Đền Thờ Đức Thánh Trần đều tổ chức lễ chào cờ trước Tượng Đài nhưng bất ngờ sáng Chủ Nhật, mọi người vô cùng ngạc nhiên khi thấy hàng trăm Tăng, Ni và đông đảo Phật tử từ thành phố Indio, cách xa Little Saigon hai giờ lái xe kéo đến tập trung trước tượng đài để cùng tham dự lễ chào cờ.


Chư Tăng, Ni tuần hành trên đại lộ Bolsa. (Thanh Phong/ Viễn Đông)

Rất trật tự và trang nghiêm, chư Tăng, Ni xếp hàng dài bên tay phải, các Phật tử, đa số là nữ giới mặc áo dài đủ màu sắc, tay cầm nón lá có vẽ hình cờ vàng ba sọc đỏ sắp hàng bên tay trái; chính giữa có Thị Trưởng Tạ Đức Trí, Thượng Tọa Thích Thông Lai, Linh Mục Nguyên Thanh, nhà biên khảo Phạm Trần Anh, Thiếu Tá CSQG Phan Tấn Ngưu và bốn nhà sư Tây Tạng. Tất cả đều trang nghiêm dự lễ chào cờ, và hầu hết các nhà sư đều hát bài quốc ca VNCH, một sự kiện hiếm thấy trước đây.

Không những hát vang bài quốc ca, trên tay nhiều chư Tăng, Ni và các Phật tử còn cầm các tấm biểu ngữ có nội dung như: “Tổ quốc lâm nguy / Toàn dân đứng lên bảo vệ Tổ Quốc, “Đả đảo bọn cộng sản nằm vùng gây chia rẽ Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại,” “Muốn đuổi Tàu Cộng phải diệt Việt Cộng,” “Đả đảo Việt cộng,” “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm,” và cô một biểu ngữ ghi: “Xin các linh mục, thượng tọa kêu gọi các tín đồ đừng thờ ơ vô cảm / Nếu vô cảm thì đến năm 2020 Việt Nam sẽ giống như Tây Tạng” và nhiều biểu ngữ khác bằng tiếng Việt, tiếng Anh.


Các nữ Phật tử từ thành phố Indio mặc áo dài đủ màu, tay cầm nón lá và biểu ngữ tham gia cuộc biểu tình vào sáng Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2017 tại đường Bolsa ở Little Saigon, Westminster. (Thanh Phong/ Viễn Đông)

Sau lễ chào cờ và mặc niệm, ban tổ chức trao micro lại cho phái đoàn của Thượng Tọa Thích Thông Lai. Ông Michael Hòa, phát ngôn viên của phái đoàn ngỏ lời chào và cám ơn Thị Trưởng Tạ Đức Trí, linh mục Nguyên Thanh, nguyên Tuyên Úy Sư Đoàn TQLC/VNCH, nhà biên khảo, người tù bất khuất Phạm Trần Anh, bốn vị sư Tây Tạng thuộc hệ thống của Đức Đạt Lai Lạt Ma và qúy vị trong Hội Đồng Quản Trị Đền Đức Thánh Trần.
Sau đó, ông Michael Hòa cho biết lý do có mặt của Tăng Đoàn làng A Di Đà và hệ thống chùa Tầm Nguyên. Theo ông, vì biết rằng giới hạn của khu thương mại này không rộng lắm nên Tăng Đoàn chỉ hiện diện khoảng 400 thành viên trong số 1,000 người đã về tề tựu trong ba ngày tại Indio.

Bằng giọng nói hết sức cương quyết, ông Hòa nói, “Theo cương lĩnh, là những người Phật tử Việt Nam chân chính, bởi vì chúng ta là những người uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây và trên hết sống theo Tứ Ân của đạo người Việt, chúng tôi xin chia sẻ hai quyết định mà chúng tôi đã đặt ra: Thứ nhất là cương quyết tích cực trường tồn, không sợ hãi để yểm trợ, ủng hộ trong và ngoài nước. Tích cực ủng hộ các chính đảng, hội đoàn và tập thể đồng bào tỵ nạn cộng sản Việt Nam, dưới tất cả các hình thức đấu tranh bảo vệ chính nghĩa quốc gia , bảo vệ quốc kỳ VNCH.

“Thứ hai, tích cực và ủng hộ tất cả sinh hoạt của Hải, Lục, Không Quân QL/VNCH và Cảnh Sát Quốc Gia. Song song bảo vệ và giương cao Quốc, Quân Kỳ của QL/VNCH, CSQG trong mọi sinh hoạt bất cứ ở đâu; đó là lý do tại sao Tăng Đoàn A Di Đà, hệ thống chùa Tầm Nguyên có mặt tại đây ngày hôm nay.”

Thị Trưởng Tạ Đức Trí được mời phát biểu, ông nói, “Chúng tôi thay mặt Hội Đồng TP Westminster rất hân hạnh chào đón Thượng Tọa Thích Thông Lai cùng tất cả chư tôn đức Tăng, Ni thuộc hệ thống chùa Tầm Nguyên và làng A Di Đà đến với thành phố Westminster. Ngày hôm qua, cá nhân chúng tôi cùng với linh mục Nguyên Thanh, sử gia Phạm Trần Anh và anh Michael Hòa đã có mặt tại chùa Tầm Nguyên, làng A Di Đà thuộc thành phố Indio, chúng tôi đã chứng kiến thượng tọa Thích Thông Lai, với những tâm huyết của mình, ngài đã cầu nguyện một đêm trước đó cho một Phật tử vừa qua đời. Tro cốt của vị này đã có hơn hai mươi viên xá lợi. Đây là việc làm mà tôi xem là rất kỳ diệu. Qua sự việc này chúng ta mới thấy được Chánh Pháp đã và đang nở hoa tại hệ thống chùa Tầm Nguyên, và hơn thế nữa, Thượng Tọa Thích Thông Lai đã dùng chánh pháp để tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền Việt Nam làm cho chúng tôi rất cảm phục; ngài là biểu tượng tranh đấu cho tự do và dân chủ, ngài là biểu tượng bất khuất và cũng là niềm hãnh diện cho tập thể người Việt, chúng ta phải hỗ trợ ngài để tranh đấu cho một Việt Nam có tự do, dân chủ, nhân quyền trong tương lai.”


Thượng Tọa Thích Thông Lai, LM Nguyên Thanh (bên trái) và nhà biên khảo Phạm Trần Anh (bên phải) tay bưng bình bát dẫn đầu đoàn biểu tình khất thực để nhắc nhở đồng hương đừng vô cảm trước hiện tình Tổ Quốc đang lâm nguy. Thị Trưởng Tạ Đức Trí nói Thượng Tọa Thông Lai “là biểu tượng tranh đấu cho tự do và dân chủ, ngài là biểu tượng bất khuất và cũng là niềm hãnh diện cho tập thể người Việt, chúng ta phải hỗ trợ ngài để tranh đấu cho một Việt Nam có tự do, dân chủ, nhân quyền trong tương lai.” (Thanh Phong/ Viễn Đông)

Tiếp theo, ông Michael Hòa mời Thiếu Tá CSQG Phan Tấn Ngưu, Tổng Hội Trưởng CSQG phát biểu. Chiến hữu Phan Tấn Ngưu nói, “Một điều lạ đang xảy ra cho chúng tôi, chính người mà chúng tôi đang tìm hiểu và đã muốn có dịp được gặp, đó là thượng tọa Thích Thông Lai, và hôm nay, ngày cuối năm, điều ước muốn của chúng tôi được hiện thực; điều đó rất lạ với cá nhân chúng tôi, và điều lạ nữa là quý vị mặc áo nhà tu mà quý vị vẫn còn nghĩ đến đất nước, còn nghĩ đến dân tộc. Không chỉ lo vấn đề đạo pháp của mình mà còn lo bảo vệ đến sự tồn vong của dân tộc và sự tự do, dân chủ của dân tộc chúng ta.

“Quý vị đến với tôn tượng Đức Thánh Trần, chúng tôi coi đó là sự sắp xếp của Đấng Thiêng Liêng, không phải của chúng tôi, và chúng tôi sẽ mãi ghi nhớ ngày đặc biệt này của quý vị.”

Tiếp theo, một vị Sư Tây Tạng cũng có lời phát biểu, nói lên tâm trạng của hai dân tộc Việt Nam và Tây Tạng có nhiều điểm giống nhau nên chúng ta cần đồng hành với nhau để chống Tàu Cộng xâm lược và Việt Cộng bán nước.

Sau đó, ông Michael Hòa mời thượng tọa Thích Thông Lai, vị sáng lập Tăng Đoàn làng A Di Đà và hệ thống chùa Tầm Nguyên phát biểu. Thượng Tọa nói, “Hôm nay nếu mà nói về Tăng Đoàn thì tôi là đặc cách Thượng Tọa nhưng tôi đứng tại đây tôi là đứa con của dân tộc Việt Nam. Tôi là những đứa con đã hưởng được các quyền lợi từ Quân, Dân, Cán, Chính VNCH đã hy sinh xương máu bảo vệ miền Nam từ 1954 đến 1975 để tôi học tập trong những mái chùa yên ấm cho nên hôm nay, con là con của Việt Nam, con tri ân tất cả những vị anh hùng Quân, Dân, Cán, Chính VNCH trong đó có năm vị tướng vị quốc vong thân, tướng Nguyễn Khoa Nam, tướng Phạm Văn Phú, tướng Trần Văn Hai, Tướng Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long.


Thượng Tọa Thông Lai, LM Nguyên Thanh, Thị Trưởng Tạ Đức Trí, nhà biên khảo Phạm Trần Anh, Thiếu Tá CSQG Phan Tấn Ngưu và bốn nhà sư Tây Tạng trong lễ chào cờ (Thanh Phong/ Viễn Đông)

“Con xin tri ân các vị Tướng đã vị quốc vong thân nhưng con cũng không quên tri ân các bác H.O. già qua đây đã kéo những lá cờ đi biểu tình đả đảo cộng sản. Nếu không có những người lính già vô danh đã về từ các trại tù cải tạo giờ này có lẽ không có được Đức Thánh Trần đứng tại đây, và có những lá cờ vàng ba sọc đỏ còn tung bay phất phới. Cho nên chúng ta đừng quên những người lính H.O. già vô danh tiểu tốt. Chỗ nào có những tên văn công Việt cộng xuất hiện là có những người H.O. chận đứng ngay; những người đó đáng cho con đảnh lễ một lễ tạ ơn.

“Và ngày hôm qua, Michael Hòa và ông Thị Trưởng Tạ Đức Trí đã chứng kiến con có một đêm không ngủ tụng kinh niệm Phật trước chánh điện. Con đã có một quyết định, con đã dùng cái sinh mạng , cuộc đời sự nghiệp của con thức nguyên một đêm và trú nguyện rằng (tôi cầu nguyện cho một bà Phật tử của tôi là bà Đặng Thị Bi đã xả báo thân) và xương cốt của bà đã được đem đặt trước tượng Đức Phật A Di Đà trong ngày khánh thành mà Thị Trưởng Tạ Đức Trí, linh mục Nguyên Thanh và nhà sử học Phạm Trần Anh đã có mặt với Michael Hòa. Con cầu nguyện, con xin 18 cục xá lợi mà con tụng kinh Pháp Hoa trong một đêm không ngủ. Con nguyện rằng Nếu hồn thiêng sông núi, Quốc Tổ Hùng Vương từ Đinh, Lý, Lê, Trần đến đời Vua Quang Trung mà cho con được 18 viên xá lợi thì năm 2018 này chứng minh rằng Ơn Trên cả Phật và Thiên Chúa đã cho người Việt Nam biết rằng cộng sản sẽ sụp đổ năm 2018.

“Nếu con cầu nguyện không được 18 viên xá lợi thì ngày hôm nay, ngày cuối cùng, con […] con từ chức và con sẽ lột cái màu áo này ra, con trở lại một người công dân Việt Nam có trái tim yêu nước, vì con đã ở trong chùa làm Tỳ Kheo từ khi 9 tuổi đến giờ. Con sẽ trả bốn năm cái chùa và cả 10 ngàn đệ tử để trở lại làm người Việt Nam.

“Và tôi đã thách đố như vậy, và ngày đó cộng sản nó cử hai thằng nằm vùng mà có lẽ hồn thiêng sông núi đã cho tôi bắt được và tôi đã xử ngày hôm qua. Cuối cùng, sự sàng lọc xá lợi có sự chứng kiến của Thị Trưởng Tạ Đức Trí, có linh mục Nguyên Thanh và sử gia Phạm Trần Anh và Michael Hòa; chúng tôi đã tìm được hơn 18 viên xá lợi, và khi đó ở Việt Nam, 10 ngàn đệ tử của tôi, tôi nói với họ trong đêm Giao Thừa hãy tiến về nhà thờ Đức Bà căng biểu ngữ đòi cộng sản trả lại cho dân quyền làm người, quyền được nghe, được nói, quyền được thở không khí tự do và quyền lật đổ độc tài, độc tôn. Xin tri ân những người đã xây dựng tượng Đức Trần Hưng Đạo tại đây.

“Xin tri ân Thị Trưởng Tạ Đức Trí là người trẻ thế hệ thứ hai VNCH đã có nghị quyết không cho đảng cộng sản, văn công cộng sản xuất hiện tại đây, và tôi hy vọng, những người trẻ như thế này sẽ trở về để mà tiếp quản thành phố Saigon thân yêu của chúng ta.”

Tiếp theo, Linh mục Nguyên Thanh và sử gia Phạm Trần Anh được mời phát biểu. Linh mục Nguyên Thanh xác nhận có thu được trên 20 viên xá lợi sau khi thiêu một thi hài ở nhiệt độ rất cao. Hai-mươi viên xá lợi có nhiều màu sáng lấp lánh như màu viên ngọc bích, và khi thượng tọa đổ rượu vào trong cái ly đựng 20 viên xá lợi thì màu sắc càng óng ánh nổi bật.

Linh mục cho biết ông rất ngạc nhiên về điều đó và cái ngạc nhiên thứ hai là thượng tọa Thông Lai cũng đưa lên một người sư từ Việt Nam qua mặc đồ nâu và cũng tới chùa Tầm Nguyên ở lại trong chùa Tầm Nguyên nhưng không biết tụng kinh, không biết kinh Lăng Nghiêm là gì, nên thượng tọa có dẫn tên này đến trước mặt mọi người, hóa ra là một Việt cộng giả mạo mặc áo cà sa. Cho nên các tôn giáo cần cảnh giác, vạch mặt những phần tử cộng sản xâm nhập vào tôn giáo, vào hội đoàn, đảng phái, và linh mục đã chứng kiến thượng tọa Thông Lai đã vạch mặt ra được sư trọc, công an trọc mà giống như ông Võ Văn Ái có nói “Có sáu ngàn công an cạo trọc đầu được huấn luyện tụng kinh để phái sang các chùa bên hải ngoại.”

Linh mục Nguyên Thanh và nhà biên khảo Phạm Trần Anh đều ca ngợi hành động của thượng tọa Thích Thông Lai, cám ơn thượng tọa và phái đoàn đã đến đây tham dự lễ chào cờ và biểu dương tinh thần yêu nước, tinh thần chống cộng rất rõ ràng của những vị tu hành chân chính . Sau cùng, Thượng Tọa Thích Thông Lai mời linh mục Nguyên Thanh cùng đi tuần hành khất thực. Linh mục Nguyên Thanh nhận lời ngay và được trao cho một chiếc bình bát. Hai nhà tu hành bưng bình bát dẫn đầu đoàn biểu tình tuần hành trên đại lộ Bolsa để kêu gọi đồng hương đừng thờ ơ, hãy có hành động lên tiếng chống Tàu Cộng và Việt Cộng cứu lấy tổ quốc đang lâm nguy.

Cuộc biểu tình tuần hành vô tiền khoáng hậu kết thúc hết sức tốt đẹp vào buổi trưa ngày cuối năm 2017 tại Little Saigon.

nguồn: http://www.viendongdaily.com

Thượng Tọa Thích Thông Lai vạch mặt công an trọc đầu:

 

2017: Việt Nam là một trong sáu nước giam giữ nhiều nhà báo nhất thế giới

2017: Việt Nam là một trong sáu nước giam giữ nhiều nhà báo nhất thế giới

Tô Di

Theo báo cáo mới nhất của Ủy ban Bảo vệ các Nhà báo (CPJ), Việt Nam đang giam giữ ít nhất 10 nhà báo, nằm trong danh sách sáu nước giam giữ nhiều nhà báo nhất trên thế giới.

Những tháng cuối năm 2017, hai thanh niên Nguyễn Văn Hóa (22 tuổi) và Phan Kim Khánh (24) tuổi, bị tuyên án lần lượt bảy năm và sáu năm tù giam theo Điều 88 Bộ luật Hình sự (BLHS) về tội tuyên truyền chống nhà nước.

Nếu không bị bắt giữ, Khánh – sinh viên năm cuối trường Đại học Thái Nguyên – đã có thể tốt nghiệp đại học. Theo VietNamNet, Khánh là người thành lập hai trang blog “Báo Tham Nhũng” và “Tuần Báo Việt Nam”, đồng thời quản lý hai kênh phát tin tức trên Youtube.

VnExpress thì cho biết, Công an Hà Tĩnh nói Hóa bị bắt vì đưa nhiều thông tin về thảm họa môi trường biển Formosa ở miền Trung, trong đó có thông tin về người dân biểu tình phản đối nhà máy Formosa vào ngày 02/10/2016. Công an cho rằng việc đưa tin này đã làm “phức tạp tình hình an ninh trật tự trên địa bàn”.

Hóa và Khánh đã đưa tin tức về các vấn đề chính trị, xã hội một cách độc lập, nhưng cũng chính vì điều này mà cả hai bị tù giam.

Nhà báo độc lập là những người đưa tin tức, bình luận mà không chịu bất kỳ sự kiểm soát nào của chính quyền. Họ không nhất thiết chỉ làm việc cho một tòa soạn, tạp chí, hay trang tin tức nào mà có thể là người viết blog như blogger Mẹ Nấm, doanh nhân như ông Trần Huỳnh Duy Thức, bác sĩ như Hồ Văn Hải hay cựu thiếu tá an ninh Nguyễn Hữu Vinh.

Việc bắt giữ Nguyễn Ngọc Như Quỳnh – blogger Mẹ Nấm – vào tháng 10/2016 đã mở màn cho chiến dịch đàn áp các nhà hoạt động của chính quyền. Đến nay, hơn 20 người đã bị bắt.

Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và bà Trần Thị Nga là hai nhà báo nữ trong số 10 nhà báo đang bị giam giữ và nhận bản án nặng nhất trong năm 2017 đối với các nhà hoạt động, theo Điều 88 BLHS.

Blogger Mẹ Nấm bị Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Khánh Hòa tuyên 10 năm tù giam vào tháng 6/2017. Một tháng sau đó, bà Trần Thị Nga nhận bản án chín năm tù giam. Cả hai đều không được giảm án trong hai phiên tòa phúc thẩm.

Hiện còn hai nhà báo vẫn chưa được xét xử là bác sĩ Hồ Văn Hải (blogger Hồ Hải) và ông Bùi Hiếu Võ. Blogger Hồ Hải bị bắt vào tháng 11/2016. Theo luật sư Lê Công Định, ông Hải đã chuyển sang trại giam Chí Hòa khoảng ba tuần trước, việc gửi đồ ăn và thuốc men vào trại giam này rất khó khăn, sức khỏe của ông đang suy giảm rất nhanh.

Ông Bùi Hiếu Võ bị bắt tại TP. Hồ Chí Minh vào tháng 03/2017, hiện chưa có tin tức về việc giam giữ ông.

Vietnamese-Jailed-Journalists-2017-CPJ-LK

10 nhà báo đang bị chính quyền Việt Nam giam giữ theo báo cáo của CPJ. Ảnh: Luật Khoa tạp chí.

Giữa tháng 11/2017, nhà báo Phạm Đoan Trang – đồng sáng lập viên và biên tập viên của Luật Khoa tạp chí – đã bị lực lượng công an bắt cóc sau một cuộc họp với phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Hà Nội. Nhà báo Phạm Đoan Trang bị tịch thu đồ đạc cá nhân và tiếp tục bị giam lỏng tại nhà sau gần 12 tiếng bị thẩm vấn ở đồn công an.

Đây không phải lần đầu tiên nhà báo Phạm Đoan Trang bị lực lượng công an bắt giữ tùy tiện. Việc này đã xảy ra thường xuyên từ năm 2009 khi cô bị bắt lần đầu tiên.

Từ năm 2000 đến nay, bốn nhà báo khác đã bị chính quyền Việt Nam trục xuất sang nước ngoài trong thời gian thụ án: bà Trần Khải Thanh Thủy, ông Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày), blogger Tạ Phong Tần và ông Đặng Xuân Diệu.

Bà Trần Khải Thanh Thủy (sinh năm 1960), nhà văn, bị kết án 3,5 năm tù giam vào năm 2010 vì tội cố ý gây thương tích trong một cuộc ẩu đả gây nhiều tranh cãi. Bà Thủy bị trục xuất sang Mỹ vào năm 2011.

Theo VnExpress, ông Nguyễn Văn Hải (sinh năm 1952) bị tuyên án 12 năm tù giam vào năm 2012 cùng với bà Tạ Phong Tần về tội tuyên truyền chống nhà nước. Ông Hải và bà Tần lần lượt bị trục xuất sang Mỹ vào năm 2014 và 2015.

Ông Đặng Xuân Diệu (sinh năm 1979) bị trục xuất sang Pháp vào tháng 03/2017. Năm 2011, ông Diệu bị bắt và kết án 13 năm tù giam vào năm 2013 theo Điều 79 BLHS, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, trong vụ án 14 thanh niên Công giáo – Tin Lành ở Vinh. Ông Đặng Xuân Diệu là một tín đồ Công giáo, đã tham gia viết bài cho trang tin tức Dòng Chúa Cứu Thế.

Theo cơ sở dữ liệu về giam giữ các nhà báo của CPJ, từ năm 2000 đến năm 2016, Việt Nam đã giam giữ 42 nhà báo, trong đó có 39 người là những nhà báo độc lập. Một phần lớn trong số họ bất đắc dĩ trở thành nhà báo song song với những sự kiện đình đám ở Việt Nam như dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, tranh chấp chủ quyền Biển Đông giữ Việt Nam và Trung Quốc, và gần đây nhất là thảm họa môi trường biển Formosa.

Biểu đồ: : https://goo.gl/b4PboK

Tài liệu tham khảo:

nguồn:  https://www.luatkhoa.org

2017: Việt Nam là một trong sáu nước giam giữ nhiều nhà báo nhất thế giới

2017: Việt Nam là một trong sáu nước giam giữ nhiều nhà báo nhất thế giới

 
Theo báo cáo mới nhất của Ủy ban Bảo vệ các Nhà báo (CPJ), Việt Nam đang giam giữ ít nhất 10 nhà báo, nằm trong danh sách sáu nước giam giữ nhiều nhà báo nhất trên thế giới.

Những tháng cuối năm 2017, hai thanh niên Nguyễn Văn Hóa (22 tuổi) và Phan Kim Khánh (24) tuổi, bị tuyên án lần lượt bảy năm và sáu năm tù giam theo Điều 88 Bộ luật Hình sự (BLHS) về tội tuyên truyền chống nhà nước.

Nếu không bị bắt giữ, Khánh – sinh viên năm cuối trường Đại học Thái Nguyên – đã có thể tốt nghiệp đại học. Theo VietNamNet, Khánh là người thành lập hai trang blog “Báo Tham Nhũng” và “Tuần Báo Việt Nam”, đồng thời quản lý hai kênh phát tin tức trên Youtube.

VnExpress thì cho biết, Công an Hà Tĩnh nói Hóa bị bắt vì đưa nhiều thông tin về thảm họa môi trường biển Formosa ở miền Trung, trong đó có thông tin về người dân biểu tình phản đối nhà máy Formosa vào ngày 02/10/2016. Công an cho rằng việc đưa tin này đã làm “phức tạp tình hình an ninh trật tự trên địa bàn”.

Hóa và Khánh đã đưa tin tức về các vấn đề chính trị, xã hội một cách độc lập, nhưng cũng chính vì điều này mà cả hai bị tù giam.

Nhà báo độc lập là những người đưa tin tức, bình luận mà không chịu bất kỳ sự kiểm soát nào của chính quyền. Họ không nhất thiết chỉ làm việc cho một tòa soạn, tạp chí, hay trang tin tức nào mà có thể là người viết blog như blogger Mẹ Nấm, doanh nhân như ông Trần Huỳnh Duy Thức, bác sĩ như Hồ Văn Hải hay cựu thiếu tá an ninh Nguyễn Hữu Vinh.

Việc bắt giữ Nguyễn Ngọc Như Quỳnh – blogger Mẹ Nấm – vào tháng 10/2016 đã mở màn cho chiến dịch đàn áp các nhà hoạt động của chính quyền. Đến nay, hơn 20 người đã bị bắt.

Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và bà Trần Thị Nga là hai nhà báo nữ trong số 10 nhà báo đang bị giam giữ và nhận bản án nặng nhất trong năm 2017 đối với các nhà hoạt động, theo Điều 88 BLHS.

Blogger Mẹ Nấm bị Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Khánh Hòa tuyên 10 năm tù giam vào tháng 6/2017. Một tháng sau đó, bà Trần Thị Nga nhận bản án chín năm tù giam. Cả hai đều không được giảm án trong hai phiên tòa phúc thẩm.

Hiện còn hai nhà báo vẫn chưa được xét xử là bác sĩ Hồ Văn Hải (blogger Hồ Hải) và ông Bùi Hiếu Võ. Blogger Hồ Hải bị bắt vào tháng 11/2016. Theo luật sư Lê Công Định, ông Hải đã chuyển sang trại giam Chí Hòa khoảng ba tuần trước, việc gửi đồ ăn và thuốc men vào trại giam này rất khó khăn, sức khỏe của ông đang suy giảm rất nhanh.

Ông Bùi Hiếu Võ bị bắt tại TP. Hồ Chí Minh vào tháng 03/2017, hiện chưa có tin tức về việc giam giữ ông.

Giữa tháng 11/2017, nhà báo Phạm Đoan Trang – đồng sáng lập viên và biên tập viên của Luật Khoa tạp chí – đã bị lực lượng công an bắt cóc sau một cuộc họp với phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Hà Nội. Nhà báo Phạm Đoan Trang bị tịch thu đồ đạc cá nhân và tiếp tục bị giam lỏng tại nhà sau gần 12 tiếng bị thẩm vấn ở đồn công an.

Đây không phải lần đầu tiên nhà báo Phạm Đoan Trang bị lực lượng công an bắt giữ tùy tiện. Việc này đã xảy ra thường xuyên từ năm 2009 khi cô bị bắt lần đầu tiên.

Từ năm 2000 đến nay, bốn nhà báo khác đã bị chính quyền Việt Nam trục xuất sang nước ngoài trong thời gian thụ án: bà Trần Khải Thanh Thủy, ông Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày), blogger Tạ Phong Tần và ông Đặng Xuân Diệu.

Bà Trần Khải Thanh Thủy (sinh năm 1960), nhà văn, bị kết án 3,5 năm tù giam vào năm 2010 vì tội cố ý gây thương tích trong một cuộc ẩu đả gây nhiều tranh cãi. Bà Thủy bị trục xuất sang Mỹ vào năm 2011.

Theo VnExpress, ông Nguyễn Văn Hải (sinh năm 1952) bị tuyên án 12 năm tù giam vào năm 2012 cùng với bà Tạ Phong Tần về tội tuyên truyền chống nhà nước. Ông Hải và bà Tần lần lượt bị trục xuất sang Mỹ vào năm 2014 và 2015.

Ông Đặng Xuân Diệu (sinh năm 1979) bị trục xuất sang Pháp vào tháng 03/2017. Năm 2011, ông Diệu bị bắt và kết án 13 năm tù giam vào năm 2013 theo Điều 79 BLHS, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, trong vụ án 14 thanh niên Công giáo – Tin Lành ở Vinh. Ông Đặng Xuân Diệu là một tín đồ Công giáo, đã tham gia viết bài cho trang tin tức Dòng Chúa Cứu Thế.

Theo cơ sở dữ liệu về giam giữ các nhà báo của CPJ, từ năm 2000 đến năm 2016, Việt Nam đã giam giữ 42 nhà báo, trong đó có 39 người là những nhà báo độc lập. Một phần lớn trong số họ bất đắc dĩ trở thành nhà báo song song với những sự kiện đình đám ở Việt Nam như dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, tranh chấp chủ quyền Biển Đông giữ Việt Nam và Trung Quốc, và gần đây nhất là thảm họa môi trường biển Formosa.

https://e.infogram.com/5c34f3c8-1ef0-4ad3-89a0-44d3b0164820?src=embed
Tải biểu đồ (file ảnh): https://goo.gl/b4PboK

Tài liệu tham khảo:

Chúc mừng năm mới 2018

hsppy 2018 new year colorful fireworks

happy new year animation frozen gif

happy new year gatsby champagne toast wishes animation

Vũ Thất

neo

GỞI NHÀ VĂN TRẦN HOÀI THƯ

LÁ THƯ TỪ KINH XÁNG

GỞI NHÀ VĂN TRẦN HOÀI THƯ tức ANH BA CẬN THỊ

 Kinh xáng Bốn Tổng ngày 22 tháng 12 năm 2017

 Thưa anh Ba,

 Ngày nay tui già quá mạng rồi anh Ba ơi, rồi chợt dưng mình ngồi nhớ lại chuyện đời! Nhớ lần đó, tui ngồi trong chiếc xuồng câu che hai tấm cà rèm bằng lá dừa nước giữa trời nắng gắt bên bờ con lộ tẻ vùng Cái Sắn-Thốt Nốt chờ cá dính lưới, rồi tui nghe tiếng chuông anh lắt mạnh khi anh đạp chiếc xe đạp cọc-cạch từ Cần Thơ lên vùng quê này bán cà-rem dạo ngày nào! Vậy mà rồi cũng trên bốn mươi mấy năm rồi đó anh Ba! Mau quá mạng, phải vậy hông anh?

 Chuyện đời ngày đó, qua những gì anh kể tui mới biết anh có những ngày lao lung vùng Kiên Lương, Luỳnh Quỳnh qua biết bao mùa gian khổ với muỗi-mòng, đỉa vắt giữa rừng tràm, ôi thôi biết cơ man nào mà kể cho xiết! Vậy mà rồi anh cứ một mực muốn “Ra Biển Gọi Thầm” hoài hà! Tui nghĩ anh là một bậc nhân tài không gặp thời nên thế thời phải vậy thôi mà! Câu thơ anh viết hồi ấy trong bài“Chiều Giáng sinh trở lại Núi Trầu”, tui còn nhớ:

 “Chiều Giáng sinh tôi trở lại Núi Trầu

Bè tràm theo kênh lên đồi Núi Sọ…”

 Phải mà“bè tràm theo kênh lên đồi núi Sọ” là hình ảnh mà tui cũng đã từng lội dưới kinh bè tràm hồi năm-nẳm đó mà! Lúc bấy giờ trời thì mưa, mình thì lạnh buốt, tay chưn vọp bẻ quá trời vậy mà phải gắng sức lôi bè tràm chìm trong nước lềnh-bềnh, bụng đói muốn run và hai đầu gối mỏi muốn sụm bà-chè luôn vậy đó anh Ba … Hồi đó anh kéo bè tràm về núi Trầu, còn tui thì kéo về rẩy khóm làm trại, làm chuồng… Nếu có ai hỏi Núi Trầu ở đâu? Thì anh đã chỉ ra đây này:

 “Núi Trầu là một địa danh ở Kinh Nhà Chung thuộc Kiên Lương- Hà Tiên. Núi Sọ là một ngọn đồi nhỏ có dựng một thập tự giá rất lớn. Đây là một xóm đạo. Chúng tôi, khoảng 30 người tù cải tạo, được lệnh bè tràm từ trong rừng tràm ra Nhà Chung. Con đường bè là con kênh dài khoảng 10 cây số. Buổi chiều trở về, nhìn từ xa, núi Sọ với chiếc thập tự giá nổi lên trên nền trời ráng đỏ. ..”(trang nhà Trần Hoài Thư, ngày 21-12-2017)

 Nghe anh tả cảnh sao mà buồn quá mạng! Nhưng rồi kết thúc một câu chuyện đã rồi hơn bốn chục năm, anh lại viết với tấm lòng mở ra vô tận:

 “Thì ra, tôi hiểu rồi. Cho dù tôi có đọc trăm ngàn pho sách, có ép mình trong tu viện, có đọc ngàn lời kinh, có lẽ tôi chắc không bao giờ “ngộ” được ý nghĩa của  cây thập tự giá như đêm hôm ấy . Có nghĩa là nó đến từ nỗi đau khổ, và nó làm mọc những nụ hoa. Nó mang nhân ái, từ tâm. Nó thể hiện lòng người. Khi người ta mang thánh giá trên cổ, không phải là mang vòng trang sức. Mà mang theo một biểu tượng về tinh thần, về tâm linh. Nó giúp con người sống theo lời răn của giáo lý…Điều huyền nhiệm là chỉ từ một vật tầm thường, nhưng nó là cả một phép lạ toát ra. Không phải cho một hai người, có công rèn luyện mà cho cả nhân loại” (trang nhà Thư Quán bản Thảo, 21-12-2017).

 Sắp tới ngày lễ Giáng Sinh mà nghe anh nhắc mùa Giáng Sinh nơi núi Trầu, núi Sọ ở Kiên Lương-Hà Tiên hồi đó quả là một đoạn đời nhiều chông gai trắc trở. Phải vậy hông anh Ba?!

 Nhưng nhắc đến anh tui không thể nào quên lần gặp anh và chị Yến, hiền thê của anh, lần đầu. Hồi ấy chị Yến kể hồi mấy chục năm trước, lúc người Việt mình chưa đông như bây giờ, lần đầu gặp bụi chuối ai trồng trên đường anh chị có dịp đi qua vậy mà rồi loài cây “bụi chuối sau hè” quê mùa ấy đã làm anh chị không cầm được mắt và cứ thế nước mắt từ ở đâu, ở đâu nó cứ tự nhiên chảy ướt mặt anh chị hoài hà! Nhắc điều này để thấy rằng quê hương chẳng phải đâu xa; mà nó nằm ngay trong bụng, trong lòng mình anh Ba à!

 “Có một ngày giữa tiểu bang mênh mông

Chúng tôi đã bàng hoàng dừng xe, thổn thức

Bụi chuối nhà ai bên đường đã mọc

Chuối mẹ chuối con , trời hỡi quê nhà

Có điều gì rưng rức trong tim ta

Khi cả một quê hương bổng nhiên trở lại

Thấy cả vườn sau cây xoài cây mận

Bụi chuối sau hè, lu nước, mương con

Chiếc gáo dừa còn để đấy héo hon

Thấy cả bụi chuối con nép mình nhỏ bé…”

(Bụi chuối bên đường, Ô Cửa, trang 244)

Thưa anh Ba,

Còn nữa, nhắc tới anh, tui hổng thể nào quên thơ anh tả cảnh tắm trăng hoặc thơ tình thời chiến mà thi tập Ô Cửa này của anh là một trong những thi phẩm mà tui mê nhứt đó! Tui lúc nào cũng nghêu ngao đọc mỗi lúc rảnh tay cày tay cuốc trên đồng. Tui hổng biết vì sao ông Trời lại cho nhà thơ cái tài dùng chữ đặt thơ vậy anh Ba?

 Chẳng hạn cảnh trời đất thiên nhiên bao la trong vũ trụ này dường như ai có mặt trên trái đất này cũng đều thấy hết trơn hết trọi hà; vậy mà rồi chỉ có người có máu văn nghệ mới viết chữ thành ra thơ văn được. Và thơ ấy từ chỗ chữ nghĩa riêng thôi vậy mà rồi hồn thơ lại thấm vào hồn người và ai có lòng đều phải nhận ra rằng thơ anh làm tôi nhớ hoài như mấy câu thơ đơn giản:

 “Ngôi trường cũ có bao nhiêu ô cửa,

Để tôi về đếm những đám mây

Tôi sẽ gọi một bầy chim sẻ nhỏ

Những con chim từ xa vắng lạc bầy.

(Ô Cửa, trang 235)

Vậy mà rồi hổng biết ngôi trường cũ của anh nó là ngôi trường cũ của tui hồi nào mà tha thiết nỗi nhớ mong quá vậy anh Ba?!?

Thêm nữa là cái vụ anh tả cảnh tắm trăng thì hết ý nhe anh Ba. Tôi nghĩ có lẽ một trong những vần thơ mô tả ánh trăng mà anh Ba đã lột tả thật thần kỳ là một buổi “chị có về bàn chân trần bỏ guốc”, mà lần nào cũng như lần nào cứ mỗi lần đọc lại tôi không thể tưởng tượng nhà nghệ sĩ sao quá giàu lòng rung cảm trước cảnh người phụ nữ tắm trăng bên bờ sông im vắng ấy:

 “Chị có về bàn chân trần bỏ guốc

Dòng sông đêm trăng. Thở dài não nuột

…..

Mười sáu trăng tròn hồn chị bâng khuâng

Ðêm ra tắm ngoài bến sông im vắng

Chiếc gáo dừa. Múc trăng. Trăng động

Dòng suối trăng lai láng cả bình nguyên

Ai khỏa thân lồ lộ cả trăm miền

Chị có thẹn vì trăng nhìn trên lá….”

(Khi chị về, trong Ô Cửa, trang 75, thơ tuyển toàn tập, 2004)

 Nhớ có lần trong bộ sách Người Đọc và Người Viết, tui có nhắc thế này: “Ngắm nhìn thiên nhiên với lòng yêu trăng yêu người đến nỗi thấy “trăng nhìn trên lá” là một sự cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên đến mức tuyệt diệu mới có thể nhân cách hóa cái nhìn của trăng đang đậu trên lá trên cành. Nghệ thuật đó người Trung hoa gọi là “tỉ luận”(analogie), mà không phải “tỉ luận” bởi lẽ hòa nhập và tinh luyện đến thế chúng ta phải cảm nhận rằng người nghệ sĩ đã đạt đến cái tinh túy của cảm hứng rồi.” (trang 347, Quyển I, NĐ&NV, thàng 10-2017)

 Thêm nữa, tui nghĩ, ngồi bên bờ kinh xáng này nhắc chuyện với anh là nhớ cũng mấy chục năm trước anh có lần khuyên tui mua cái máy cũ cũ, tập đánh máy lai rai chơi như tập thể dục vậy mà; rồi cứ thích gì thì ngồi ghi lại cái nấy, như chuyện nhà quê nhà mùa, vừa giải trí vừa tập cho trí não bớt quên khi tuổi mỗi ngày mỗi thêm già… Chứ mình ngồi viết tay rồi nhờ vợ, nhờ con đánh máy lại cũng hơi phiền… Nghe lời anh vậy mà rồi tui cũng lọ mọ ngồi ghi lại được một mớ chữ nhe anh Ba! Trong số chữ nghèo nàn ấy, tui gom lại thấy cũng bộn bộn và nhờ anh giúp in cho cũng được ba cuốn mà tui “scan” hình kèm theo đây để khoe cùng anh vậy đó!

 Inline image Inline image Inline image
Ba bìa sách của Hai Trầu do Thư Ấn Quán của anh Ba Cận Thị ấn hành.

Mà thú thực với anh Ba nhe, nói lòng vòng là khoe với anh chơi cho vui vậy thôi, chứ thực tình là với mấy hàng chân tình này là tui muốn bày tỏ chút lòng tạ ơn anh Ba rất nhiều; bởi lẽ hổng có anh chị hồi cách nay hơn hai chục năm về trước khuyến khích thì tui làm gì ngày nay có được tới chín cuốn sách, phải hông anh Ba!

 Ông bà mình ngày trước có dạy: “Một chữ cũng Thầy, nửa chữ cũng Thầy”, vậy kính mong anh Ba nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của Hai Trầu về một lẽ đã học ở anh Ba từ buổi đầu gặp nhau trên bước đường anh bán cà rem dạo và còn tui thì giăng lưới trên cánh đồng mùa nước ngập hồi ấy đó mà và anh Ba chắc cũng hổng quên?!.

Inline image

Bìa tác phẩm thứ 17 (sưu tầm và nhận định) của nhà văn Trần Hoài Thư.

 Nhơn mùa lễ Giáng Sinh cũng sắp về nay mai, và Năm Mới 2018 lại tới nữa, tui xin chân thành cầu chúc anh Ba và chị Yến có được những ngày mới an lành, may mắn giống như tác phẩm vừa mới ra lò của anh ba còn thơm mùi mực mới vậy mà!

Rất mong anh vui cùng chị nhe anh Ba!

Kính thư,

Hai Trầu

 =======================

  I./ Thư mục của nhà xuất bản Thư Ấn Quán

do Trần Hoài Thư chủ trương và ấn hành:

 – Bộ Văn miền Nam (4 tập, tổng cộng 2200 trang)

 – Bộ Thơ miền Nam (5 tập, tổng cộng khoảng 3000 trang) gồm: Thơ miền Nam thời chiến (tập I &II), Thơ tình miền Nam, Lục bát miền Nam, Thơ tự do miền Nam.

 – Chiến tranh Việt Nam & Tôi (thơ Nguyễn Bắc Sơn)

 – Thơ Vũ Hữu Định toàn tập

 – Kỷ vật cho em (thơ Linh Phương)

 – Túy ca (thơ Hoàng Hương Trang)

 – Thơ Hoài Khanh (4 tập):

1.Hương Sắc mong manh (xb sau năm 1975)

2. Thân phận (xb trước 1975, tái bản)  

3. Lục bát (xb trước 1975, tái bản)

 4. Gió bấc, trẻ nhỏ, đóa hồng và dế (xb trước 1975, tái bản)

 – Lục bát (thơ Hoảng Xuân Sơn)

 – Những tháng năm cuồng nộ (truyện dài cùa Khuất Đẩu)

 – Người giữ nhà thờ họ (tập truyện của Khuất Đẩu)

 – Tuyển truyện Sáng Tạo

 – Văn các số 121, 125, 132, 181, 210, giai phẩm Văn tháng 10-1973, giai phẩm Văn tháng 3-1975 (số cuối cùng) , số chủ đề Thanh Tâm Tuyền, số chủ đề Hội Họa.

 – Văn Hóa Nguyệt San chủ đề Nguyễn Du (Bộ văn hóa xã hội, năm 1963, sách dày trên 360 trang khổ lớn)

 – Tạp chí Sóng số ra mắt 1973.

 – Tạp chí Thế Đứng số 2 Xuân Canh Tuất khổ tabloid

– Hiện đại tập 4 tháng 7-1960 chủ đề Saigon ban đêm

 – Toàn bộ tạp chí Sáng Tạo bộ cũ & bộ mới

 – Màu Thời Gian (tập truyện Phạm văn Nhàn)

 – Vùng Đồi (tập truyện Phạm văn Nhàn)

 – Giỡn bóng chiêm bao (thơ Trần Phù Thế)

 – Gọi khan giọng tình (thơ Trần Phù Thế)

 – Đời thủy thủ (truyện dài của Vũ Thất)

 – Cõi đá vàng (truyện dài của Nguyễn thị Thanh Sâm)

 – Sao em không về làm chim thành phố (thơ của Lâm Vị Thủy)

 – Nghề Thầy (tạp văn Cao Vị Khanh)

 – Lệ từ Nét Ngang (thơ Cao Vị Khanh)

 – Quá Giang Thuyền Ngược (thơ Lâm Anh)

 – Bi khúc (thơ Lê văn Trung)

 – Trang sách và những giấc mơ bay (nhận định văn học của Nguyễn Lệ Uyên tập I & II)

 – Chân dung tự vệ (tập truyện của Nguyễn Lệ Uyên)

 – Sông chảy về núi (tập truyện của NGuyễn Lệ Uyên)

 – Mưa trên sông Dakbla (tập truyện của Nguyễn Lệ Uyên)

 – Biển của hai người (tập truyện Mang Viên Long)

 – Vàng lạnh (thơ Nguyễn Nho Sa Mạc)

 – Tháng tư, lính không cần hớt tóc (thơ Nguyễn Phúc Sông Hương)

 – Để trăng khuya kịp rót đầy sớm mai (thơ Đặng Kim Côn)

 – Dưới trời dạ ngọc (thơ Đặng Kim Côn)

 – Một ngày, một ngàn ngày (tập truyện Đặng Kim Côn)

 – Một mình như cánh lá (thơ Hạc Thành Hoa)

 – Tuyển truyện Một Thời Ý Thức

 – Cúi mặt (truyện dài của Bùi Đăng, do Thái Phương xuất bản năm 1969)

 – Đốt tuổi (thơ Phan Nhự Thức)

 – Ca nguyện, gởi cây xương rồng trong gió (thơ Nguyễn Thanh Châu)

 – Ca oán, đến với mùa giải oan (thơ Nguyễn Thanh Châu)

 – Điệp khúc tình yêu & trái phá (thơ Kiệt Tấn)

 – Tuyển truyện Y Uyên

 – Lẽo đẽo một phương quì (thơ Từ Thế Mộng)

 – Đan tâm (thơ Phạm Ngọc Lư)

 – Vũ trụ thơ I & II (tiểu luận của Đặng Tiến)

 – Thơ từ cõi nhiễu nhương (Nhận định thi ca thời chiến – nhiều tác giả)

– Thảo Luận (nhận định văn hoc của nhóm Sáng Tạo)

– Truyện ngắn Lê văn Thiện.

– Những cơn mưa mùa đông truyện dài của Lữ Quỳnh

– Bốn ngàn năm chen lấn (tập truyện của Hoài Ziang Duy)

– Nửa khuôn mặt (thơ Khoa Hữu)

– Chàng Nho sinh dưới gốc tùng (thử bút của Lữ Kiều)

– Thanh thi (thi phẩm của Luân Hoán)

– thơ Viêm Tịnh

– Kẻ lạ ở thiên Đường (J.Paul Sartre – bản dịch của Phùng Thăng)

– Những ruồi (J.P. Sartre – bản dịch của Phùng Thăng)

– Địa ngục có thật (bút ký của Dương Nghiễm Mậu)

– 21 khuôn mặt văn nghệ miền Nam (Phạm văn Nhàn)

– Thơ Sáng Tạo (sưu tập toàn bộ thơ xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo)

– Thảo luận Sáng Tạo

– Tuyển truyện Sáng Tạo

– Ca nguyện. Gởi cây xương rồng trong gió (thơ Nguyễn Thanh Châu – 2009)

– Ca oán. Đến với mùa giải oan (thơ Nguyễn Thanh Châu – 2011)

– Những cơn mưa mùa đông (truyện vừa của Lữ Quỳnh)

– Cào lá giữa đêm khuya (thơ Đinh Cường)

_ Thu Hoang Đường (thơ) của Lê Văn Trung 2018.

và:

– Tạp chí Thư Quán Bản Thảo. Tạp chí ra 2 tháng ra một số, hiện nay đã vào năm thứ 17. Số mới nhất là 77 phát hành tháng 11-2017

 II./Tác phẩm của Trần Hoài Thư

 A.    Văn

 1. Ra biển gọi thầm (tập truyện)

 2, Mặc niệm chiến tranh (tập truyện)

 3. Thế hệ chiến tranh (tập truyện)

 4. Đêm Rừng Tràm (Tập truyện)

 5. Đại Đội Cũ, Trang Sách Cũ (tạp văn)

 6. Thủ Đức Gọi Ta Về (Tạp văn)

 7. Hành trình của một cổ trắng (truyện vừa)

 8. Ở Một Nơi Trên Trường Sơn (tập truyện)

 9. Truyện từ Bách Khoa

 10. Về hướng mặt trời lặn (Tập truyện)

 11. Truyện từ Văn (2012)

 12.Truyện từ Trình Bày + Khởi Hành + Văn Học+ Ý Thức+ Thời Tập

 13.Truyện từ Vấn Đề

 14.Tản mạn Văn Học tập I.

 15. Những vì sao vĩnh biệt (tập truyện – tái bản)

 16. Giấc Mơ Giáng Sinh (2015)

 17. Những Tạp Chí Văn Học Miền Nam (sưu tầm và nhận định) (2018)

 B.     Thơ:

 1. Thơ Trần Hoài Thư (1998) (tuyệt bản)

2./ Qua Sông Mùa Mận Chín (2000)

3./ Người lính (2004)

4./. Ô Cửa (thi tuyển toàn tập, 2004)

 5./  Xa xứ (2011)

(Chắc còn nữa, nhưng tui nhớ hổng hết)

 Phổ nhạc: Tình Xưa