Vũ Thất

Bảo Bình 1

Vạch trần bộ mặt thật của đảng cộng sản Việt Nam

Vạch trần bộ mặt thật của đảng cộng sản Việt Nam

Trần Thị Huyền Trang

Sau khi đắn đo suy nghĩ, cuối cùng Tôi quyết định mở máy và viết ra bản luận này để giải tỏa tất cả những băn khoăn đã làm cho tôi trằn trọc bấy lâu.

Trước tiên tôi xin giới thiệu sơ qua về bản thân mình, tôi vốn chỉ là một nông dân nghèo và học vấn thấp (bần cố nông) thuộc đối tượng mà người cộng sản gọi là cùng giai cấp với họ và là mục tiêu để người cộng sản tranh đấu để giải phóng giai cấp trong mấy mươi năm qua.

Hôm nay trong bài luận này tôi xin được trình bày các quan điểm của tôi về mọi mặt liên quan tới xã hội của Việt Nam hiện nay

Trong giáo lý nhà phật, đức Phật có dạy

“Tất cả các pháp xảy ra, đều do duyên sanh và cũng đều do duyên diệt”

Chân lý này đức Phật đã nói ra cách nay hàng ngàn năm, vẫn còn nguyên giá trị cho nền văn minh hiện nay, thật vậy không có vấn đề gì mà không do yếu tố nhân duyên tạo thành, cho nên thành hay bại, vinh hay nhục cũng đều do nhân duyên tạo thành, vậy hôm nay trong bài luận ngắn này ta nên tìm hiểu sự hình thành của đảng cộng sản hiện nay và tình trạng xã hội của Việt Nam hiện nay theo góc nhìn nhân duyên của nhà Phật

Như chúng ta đều biết đảng cộng sản Việt Nam hình thành do Hồ Chí Minh thành lập với sự tiếp tay của cộng sản quốc tế, trong bối cảnh xã hội Việt Nam và thế giới đang trải qua một cuộc chiến tranh thế giới kinh hoàng, và trình độ dân chúng trong nước gần như mù chữ 90 phần trăm, và hệ thống thông tin còn rất sơ khai, Hồ Chí Minh và đảng viên của họ đã thấy được nhân duyên này và họ đã tận dụng thời thế hỗn loạn này cũng như sự thiếu nhận thức của người dân còn non nớt, để kích động căm thù đối với chế độ thuộc địa tư bản và sự thành công này còn được kết hợp với nhiều thành phần và đảng phái yêu nước thời đó để cướp chính quyền và thành lập nên chính phủ gọi là Việt Minh.

Từ đây Hồ Chí Minh và đảng cộng sản của ông mới lộ ra bản chất độc ác, xảo quyệt, tham quyền độc đoán của mình bằng cách lập mưu tiêu diệt các đảng phái khác đã có công cùng thành lập nên chính phủ nhiều thành phần với mình. Chúng ta nghĩ: “Nếu trong giai đoạn này Hồ Chí Minh và đảng phái cộng sản của ông thực sự trung thực, yêu nước không tiêu diệt các đảng phái khác; Tổ chức bầu cử trung thực, để cùng nhau lo xây dựng đất nước thì lịch sử Việt Nam chắc chắn phải thay đổi nhiều. Và đất nước Việt Nam chắc chắn sẽ sáng sủa hơn, sẽ không có cuộc đấu tố trong CCRĐ làm chết hàng trăm ngàn người dân vô tội, sẽ không có 9 năm kháng chiến và trận điện biên phủ làm chết oan không biết bao nhiêu mạng người. Vì nếu còn có chính phủ liên hiệp thông qua bầu cử hợp pháp sẽ gồm nhiều thành phần thì chắc chắn Pháp sẽ không trở lại Việt Nam. Và nếu có trở lại cũng không đến nỗi gây ra cuộc chiến tranh 9 năm đó, sẽ không có cuộc di cư vào Nam của hàng triệu người chạy trốn cộng sản và nhiều vấn đề bất cập khác”

Có lẽ vì bị ám ảnh bởi thứ chủ nghĩa cộng sản hoang tưởng thời bấy giờ, và tận dụng thời thế hổn loạn lúc đó, nên Hồ Chí Minh và các đảng viên của ông ta không còn thấy gì cả. Cái cần nhất thời bấy giờ là phải độc quyền lãnh đạo, kết hợp với các đảng cộng sản khác làm một mũi dùi để hòng nhuộm đỏ các quốc gia còn lại, cho nên dù đã loại bỏ hoàn toàn các đảng phái khác, nhuộm đỏ toàn thể miền bắc Việt Nam. Nhưng đảng cộng sản vẫn không vừa lòng, và nhờ vào sự tiếp tay của cs Trung Quốc và Liên Xô, đảng cộng sản miền bắc đã xé rào Hiệp định Genève, để mở đường Nam tiến, gây ra cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” suốt 20 năm tiếp theo (đến thời điểm này 2013 ta mới biết đây là nguyên nhân Hoa Kỳ và đồng minh phải nhảy vào can thiệp ở Miền Nam để hòng ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản)

Vậy trong bài tham luận ngắn này ta tìm hiểu vì sao đảng cộng sản lại làm được những công việc kinh tởm đó, và đến bây giờ họ vẫn còn che dấu dân tộc nhân dân những sự thật lịch sử ấy. Chúng tôi nghỉ nhiệm vụ của các học giả trung thực ở trong nước và nước ngoài cần phải minh bạch tất cả những giai đoạn lịch sử còn mờ ám, từ ngày đảng cộng sản được thành lập tới nay, để cho người dân hiểu rõ ràng về công lẫn tội của họ. Tất cả những thông tin hiện nay trên báo chí của nhà nước cộng sản viết về những giai đoạn lịch sử này gần như không thể tin tưởng được. Ngay cả trang bách khoa từ điển mở Wikipedia, các tài liệu về những giai đoạn này cũng bị người cộng sản tham gia bóp méo. Vậy thì lịch sử Việt Nam giai đoạn cận đại này có còn trung thực và chính xác không? Và sẽ như thế nào? Nếu như các nhà sử học chân chính không quan tâm đến tiền đồ của dân tộc.

Trong phần này tôi muốn nêu câu hỏi và nhấn mạnh với các nhà chuyên nghiên cứu độc lập ở nước ngoài về lịch sử Việt Nam cận đại các chi tiết sau

1. Nguyên nhân cuộc cải cách ruộng đất và đấu tố ở miền bắc năm 1945 do ai khởi xướng và hậu quả như thế nào ?

2. Nguyên nhân mất tích của các nhà lãnh đạo tôn giáo trong thời kỳ cận đại của Việt Nam

3. Làm rõ các cái chết hoặc mất tích của các chính khách thân hào, nhân sĩ, những con người không dính líu gì tới chính trị đã bị đảng cộng sản thủ tiêu vì bản thân họ không muốn phục vụ cho đảng cộng sản Việt Nam.

Những học giả chân chính của dân tộc, các ngài phải làm sao để cho đảng cộng sản phải trả lời rõ ràng về những sự thật của giai đoạn lịch sử này, để con cháu chúng ta lớp hậu bối hiện nay sẽ hiểu được dã tâm và tội ác của đảng cộng sản. Và khi bộ mặt thật của đảng cộng sản được vạch trần thì chắc chắn chúng hậu bối sẽ không còn lẫn lộn giữa “chánh – tà”. Chân ngụy để có thể không còn nhầm lẩn trở lại phục vụ cho đảng cộng sản chống lại nhân dân và dân tộc như lớp trẻ thanh niên đang còn mơ hồ về đảng cộng sản hiện nay họ đang làm. Ở đây cũng cần nói rõ thêm, bản chất con người vốn không có hẳn tốt xấu, hoặc thiện ác, nhưng tư tưởng của chế độ đã giáo dục sai lầm làm cho con người lại trở thành tàn ác. Giết người không biết gớm tay, nhất là đối với thân nhân của mình mà người cộng sản Việt Nam đã giáo dục lòng căm thù đối với nhân dân, dân tộc mình cho lớp thanh niên Việt Nam trong suốt 80 năm qua để gây ra cuộc tương tàn cho dân tộc cho đến ngày nay. Chúng ta nghĩ nếu: “Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông ấy không điên cuồng đem chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam thì Việt Nam hiện nay chắc chắn sẽ không kém Hàn Quốc và Thái Lan lẫn Singapor, và sẽ không có những cái chết vô ích của hàng triệu sinh mạng vô tội”. Vậy mà cho tới nay ban lãnh đạo của đảng cộng sản họ vẫn chưa nhận ra những sai lầm đó, dù thực chất con đường tư tưởng mà họ theo đuổi vẫn chưa bao giờ thực hiện thành công, họ vẫn cố tìm mọi cách để mị dân.

Ở Việt Nam hiện nay chính quyền của người cộng sản có vẻ thành công nhất về các mặt. Họ làm cho người dân càng lúc càng bần cùng ra, dối trá với nhau hơn để tồn tại, hoặc nghi ngờ lẫn nhau, họ muốn có một xã hội với dân trí thấp. Bởi dốt nát và đói khổ để họ dể cai trị dân, vì sao lại có những tiêu cực như vầy? Vì họ nói chính quyền của họ là chính quyền của nhân dân, của giai cấp bị bóc lột, nên mọi giai cấp khác họ đều coi là kẻ thù. Nếu có sử dụng những giai cấp trí thức và tư sản chẳng qua là việc bất khả kháng. Hảy xem từ ngày thành lập đảng cộng sản đến nay thành phần cốt cán của đảng như thế nào, thì sẽ hiểu vì sao những bất cập cứ xảy ra liên tiếp? Vì sao dân chúng cứ mãi bần cùng? Ngay cả trong thế kỷ 21 này, thử xem trong Bộ Chính Trị với 14 nhân vật chủ chốt (quyết định vận mạng của 90 triệu dân Việt Nam) này có cái bộ mặt nào mà được người dân bầu lên chăng? Và trình độ của họ như thế nào? Để lãnh đạo đất nước và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Hầu hết các nước họ đều cần những nhà lãnh đạo có trình độ, còn ở Việt Nam một vị thủ tướng lớp 2 trường làng, vì là dòng giống cộng sản nên được cất nhắc đưa lên theo kiểu phong trào, thì thử hỏi đất nước này không nghèo khổ mới là chuyện lạ.

Trong một gia đình chỉ với chừng 10 thành viên, nếu do người cha dốt nát mà độc quyền độc đoán trong mọi công việc thì chúng ta có thể hình dung là gia đình đó sẽ như thế nào rồi, huống chi cả một đất nước rộng lớn, với bao vấn đề.

Khi người lãnh đạo dốt nát mà bị bế tắc, thì phương thức sử dụng duy nhất của họ là bạo lực, mượn lực lượng công an và quân đội để bảo vệ chế độ và để răn đe mọi thế lực có ý đồ chống đối lại họ. Ở Việt Nam hiện nay phương thức này xem như có vẻ thành công, ít ra trong giai đoạn hiện nay. Điều này là hẳn nhiên vì trong thời bình hầu hết mọi người dân họ đều muốn yên ổn làm ăn họ không muốn chính quyền để ý đến, nhất là đối với chính thể độc đảng. Vì nếu lỡ vướng vào dù bất cứ lãnh vực nào họ cũng khó thể cầu cứu với ai? Vì họ biết pháp luật ở đây là pháp luật ma, luật rừng, muốn thắng phải có thế lực và có tiền, nếu không có hai điều kiện đó, dù người dân có vô tội đi nữa thì cũng trở thành người có tội. Nên người dân Việt Nam hiện nay họ dể trở thành một bầy cừu ngoan ngoãn, luôn biết nhẫn nhục và biết chụi đựng mọi bất công (Âu đây cũng là những đức tính tốt mà các giáo chủ trong các tôn giáo thường khuyên các tín đồ mình nên luôn thực hành?). Và có một điều trùng hợp và lạ lùng nữa mà người viết nhận ra là trong xã hội Việt Nam hiện nay chùa chiền mọc lên như nấm. Không phải là chùa nhỏ mà là những đại tu viện có thể chứa hàng ngàn tu sĩ, những tu viện này do những mạnh thường quân bí mật làm ra. Có người nói do tài trợ từ nước ngoài, nhưng theo cảm nghĩ của tôi: “Những cơ sở này chắc chắn do những tổ chức bí mật của nhà nước tài trợ, bởi ở Việt Nam không có một tổ chức cá nhân nào có thể bỏ ra hàng trăm hàng ngàn tỷ đồng để làm chùa. Và dù có tiền tài trợ từ nước ngoài đi nữa họ cũng không được phép tự xây dựng những cơ sở to lớn như vậy được, vì luật pháp của Việt Nam không cho phép”. Từ những cơ sở này, nhà nước họ sẽ đào tạo bí mật những nhà tu quốc doanh có nhiệm vụ quản lý tôn giáo và có nhiệm vụ đi giảng đạo để tuyên truyền cho đảng và nhà nước trong cộng đồng, đồng thời có những bộ phận bí mật chuyên theo dõi và cô lập những nhà tu có tư tưởng tự do .

Mọi ngõ ngách trong xã hội không đâu là không có những cặp mắt, và những lỗ tai bí mật để theo dõi mọi động tác của người dân. Nếu không vào chùa tu được, thì ở gia đình bạn sẽ được sự chăm sóc của rất nhiều tổ chức, như tổ dân phố, hội cựu chiến binh, tổ thanh tra, hội phụ nữ, hội người cao tuổi, công an khu vực.v.v… Bạn sẽ khó có thể qua mắt được những tổ chức này nếu bạn có những hành vi bất thường, hoặc để lộ ra tư tưởng không ưa chế độ. Tóm lại thì người dân trong nước hiện nay giống như cá nằm trong rọ, có miệng như câm, có tai như điếc, có mắt như mù, họ thường làm như vậy nếu muốn được yên thân.

Vừa qua trên mạng Youtube có phổ biến những đoạn phỏng vấn của phố Bosa TV đối với ông Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, và ông này có vẻ khá tự hào về những thành tựu của Việt Nam gần đây, và luôn nhấn mạnh về những thay đổi này, có lẽ ông muốn nói về những thay đổi về kinh tế mở cửa của Việt Nam gần đây, nhưng dưới cặp mắt tôi thì Việt Nam hoàn toàn thất bại về mọi mặt kinh tế, xã hội lẫn văn hóa.

– Về kinh tế, như chúng ta đều biết trong thời gian gần đây, hàng chục ngàn công ty lớn nhỏ của Việt Nam lần lượt bị sụp đổ, nợ xấu của ngân hàng tràn lan. Nạn thất nghiệp trong nước không biết đâu mà thống kê hết.

– Về xã hội, vì nạn thất nghiệp gia tăng, nên nạn cướp giựt cũng hoành hành, cộng với lạm phát nên vật giá lương thực, thực phẩm tăng cao nên đời sống người dân hết sức khó khăn. Nạn giựt nợ và bể hụi tràn lan trong xã hội một cách dây chuyền.

Vì kinh tế và xã hội lao đao như vậy, nên tác động vào lãnh vực văn hóa rất lớn, bản chất của chủ nghĩa xã hội cộng sản vốn làm cho văn hóa con người khô cằn thì nay trong giai đoạn khủng hoảng này, niềm tin giữa người với người hoặc giữa các thành viên trong gia đình càng trở nên lạt lẽo hơn bao giờ hết. Niềm tin với nhau đã không còn, vì người ta phải đối diện với nạn dối trá, lừa đảo, tràn lan nên nghi ngờ giữa mọi người với nhau là lẽ đương nhiên.

Đó là bộ mặt thật của xã hội Việt Nam hiện nay, mà ông thứ trưởng ngoại giao lại tự hào? Có lẽ vì ông chỉ tiếp xúc với chừng vài ba phần trăm con người cùng giai cấp thống trị với ông nên ông chủ quan chăng? Hoặc là ông định giở chiêu bài mị dân-tuyên truyền với người nước ngoài chăng? Vì ông biết là hầu hết họ đều không hiểu rõ thực chất chiều sâu của xã hội Việt Nam hiện nay chăng?

Những người nước ngoài nên hiểu rằng: “Mấy mươi năm qua, từ ngày hòa bình đến giờ đảng cộng sản chẳng làm cái gì ra hồn cho người dân ở Việt Nam cả. Chỉ thấy quan chức toàn là tham nhũng, những đồng tiền được sự giúp đỡ hoặc vay mượn từ nước ngoài là cơ hội cho các quan chức liên quan có cơ hội đục khoét. Các công trình thì “nay làm mai phá” vì bị rút ruột một cách tinh vi. Trong khi hàng triệu gia đình bữa đói bữa no, thì hầu hết các quan chức mà đảng cộng sản gọi là công bộc của dân lại thường làm việc ký hợp đồng ở các tụ điểm ăn chơi mà không cơ quan nào có thể kiểm soát nổi

Ở trong nước thử quan sát sơ qua thì ai cũng biết những tụ điểm ăn chơi đàn điếm, những cơ sở làm ra tiền không cần sức lao động nhiều đều là của các quan chức lớn địa phương, hoặc do các ngài bảo kê. Sở dĩ tôi phải nói qua những điều này, để cho người Việt ở nước ngoài hiểu rằng: “Đừng bao giờ tin những lời nói của các quan chức cộng sản, họ chỉ giỏi tuyên truyền, chứ thật sự cái cơ chế của đảng cộng sản không làm được gì cho dân nghèo cả. Cứ nhìn mấy mươi năm hòa bình đến nay dân nghèo ở Việt Nam hưởng được gì từ cái chế độ này. Ngay cả cái sổ nghèo, hoặc là nhà tình nghĩa gì cũng là do các cấp đảng chi bộ của họ quyết định, nói tóm lại họ chỉ chọn lọc dành cho người của họ. Còn dân nghèo thực thụ, những người nạn nhân của chính sách phân loại của họ thì chẳng bao giờ được sự giúp đỡ từ những chính sách của chính quyền. Đáng lẽ ra họ không nên rêu rao chế độ của họ là chế độ cộng sản hoặc là chế độ xã hội chủ nghĩa mà nên gọi chủ nghĩa của họ là chủ nghĩa Tư bản đỏ thì đúng hơn. Chủ nghĩa tư bản ở các nước trên thế giới được người cộng sản cho là bóc lột người nghèo. Nhưng ngẫm lại thì họ còn có những tổ chức nhân đạo phi nhà nước, họ còn có các nhà tư bản hảo tâm, người dân của họ còn biết đùm bọc lẩn nhau vì xã hội của họ còn có người giàu người nghèo. Còn ở Việt Nam, vì luôn vấp phải chính sách sai lầm của những nhà lãnh đạo dốt mà tài khôn, nên người dân ai cũng gặp khó khăn cả, thì đâu có thể giúp đỡ ai được! Những ông tư bản đỏ, cũng đâu dám tung tiền giúp đỡ người nghèo như các nhà tư bản nước ngoài vì họ sợ đảng để ý. Tóm lại thì cái chủ nghĩa độc tài đảng trị này nó chỉ là một thứ chủ nghĩa gần như man rợ chỉ phục vụ cho một nhóm nhỏ trong xã hội chừng khoảng vài ba phần trăm, phải gọi nó như một băng đảng MAFIA là đúng nhất. Vì hòa bình đến nay gần 40 năm rồi, có một chính quyền bang giao và làm ăn với quốc tế nào mà trong nước không có một bộ luật gì gọi là nhân bản cho người dân. Có chăng cũng chỉ là hình thức, chỉ xử theo một chiều, dân trong nước không có một quyền gì gọi là để làm người của mình, hễ chúng muốn bắt ai là bắt, tự tạo ra cớ là bắt, không khác gì thời kỳ nô lệ tàu của ngàn năm trước.

Hầu hết các quan chức lớn nhỏ trong hệ thống của đảng cộng sản, vì bị cái cơ chế trong đảng tạo ra, chẳng có tên nào là đủ tư cách làm người, chỉ giỏi nói láo nói xạo với dân. Với người nước ngoài thì bợ đỡ, khúm núm, đối với người dân trong nước thì kết bè kết cánh hùm hổ không khác gì loài quỷ đói. Trong bộ chính trị lẫn trong TƯ đảng chẳng thấy có một nhân vật nào thực tâm lo cho dân, cho nước. Suốt ngày chỉ nghe nói củng cố đảng, học gương đạo đức của “bác” mà chẳng bao giờ làm một cái gì thực tế cho người dân? Họ làm đường làm cầu làm các điểm vui chơi như công viên chẳng qua là để kinh doanh, làm giàu cho đảng của họ. Còn bệnh viện, trường học công lẫn tư đều phải đóng tiền. Người dân nếu chẳng may bị bệnh hoặc tai nạn, đưa vào bệnh viện nếu không có tiền đóng viện phí thì bác sĩ không điều trị. Trẻ em nghèo vào trường học nếu không đủ tiền đóng học phí thì sẽ bị giáo viên phụ trách làm khó dể, và áp lực nên trước sau gì cũng sẽ tự bỏ học…v.v… Nói tóm lại không có gì ở Việt Nam mà người dân được hưởng từ lợi ích của đảng cộng sản mang lại. Trong khi đó họ lai rêu rao với quốc tế và trên các phương tiện tuyên truyền là mọi người dân đều được sống hạnh phúc và bình đẳng nhờ vào sự lãnh đạo tài tình của đảng. Đáng ra điện nước, giao thông, bệnh viện trường học, người dân phải đóng tiền sòng phẳng thì người dân phải có những quyền như quyền ngôn luận, quyền bầu cử, quyền được phản biện…v.v… Nhưng đảng cộng sản đã bóp nghẹt tất cả những quyền hạn cơ bản trên, bằng lực lượng công an hùng hậu.

Như vậy thì thử hỏi những lập luận đáng tự hào về chính phủ của ông Thứ trưởng Ngoại giao của Việt Nam có đúng không? Tôi chắc chắn một điều ông thứ trưởng chỉ mị người nước ngoài thôi. Và thật đáng buồn khi những trò quỷ quái này của ông lại được một số người nước ngoài tin tưởng và hưởng ứng, trong đó có phố Bosa TV, đã tiếp tay đưa lên mạng Youtube những clip này để hòng lừa gạt những người nước ngoài nhẹ dạ, còn mơ hồ về đảng cộng sản Việt Nam. Và đáng buồn hơn nữa có những người từng vượt biên chạy trốn cộng sản, những người đã từng là tù nhân của đảng cộng sản, những người đã từng là những kẻ không đội trời chung với đảng cộng sản, bây giờ trở lại tin tưởng vào những lời ru ngọt của họ. Đáng ra chính chúng tôi những người đang nằm trong rọ của họ, chúng tôi phải sợ họ mà giả ngây, giả dại để được yên thân. Còn các vị ở trong cái nôi của dân chủ tự do, các vị lại sợ họ sao? các vị hãy chửi thẳng vào mặt họ là các ông là đồ hèn hạ và giả dối, chỉ biết ác với dân mà hèn với giặc

Nhờ mạng internet, tôi rất khâm phục ông dân biểu người việt Cao Quang Ánh đã trả lời thẳng thừng với thứ Trưởng ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn khi ông này đề nghị được gặp ngài dân biểu, để trao đổi về một số vấn đề, (chắc có lẽ là định nhờ vào uy tín của ngài dân biểu để giúp đỡ ông trong công việc tuyên truyền cho nhà nước cộng sản đối với những người việt kiều hải ngoại đây). Nhưng ngài dân biểu Cao Quang Ánh đã trả lời thẳng thừng với ông Nguyễn Thanh Sơn: “ông sẽ không tiếp phái đoàn của Việt Nam, chừng nào mà Việt Nam còn đàn áp và giam cầm những người tranh đấu cho nhân quyền trong nước, và còn áp dụng chính sách độc tài với người dân trong nước…”

Tôi nghĩ ít ra cần phải có những người thẳng thắn và minh bạch như thế thì đảng cộng sản nó mới biết nhục, hết còn cao giọng dối trá lừa bịp người khác. Và tôi cũng rất cảm phục ông Nguyễn Xuân Nghĩa chủ tịch hội người Việt Nam ở nam California, khi ông trả lời ông Ngô Đình Vận về cái nhìn của ông đối với người dân trong nước, và chính quyền của đảng cộng sản. Những câu trả lời của ông đã chứng tỏ ông ấy hiểu rất rõ về bản chất của đảng cộng sản Việt Nam hiện nay.

Đáng ra chúng tôi phải ủng hộ người cộng sản, nhưng chúng tôi đã thấy rõ sự bất lực của họ trong việc điều hành đất nước. Với đủ thứ bất công trong xã hội, một xã hội được điều hành toàn bằng công an và bằng bạo lực, thì thử hỏi người dân làm sao có thể yên tâm làm ăn được. Chẳng thà chúng tôi lên tiếng phản đối những bất công, dù chỉ một lần còn hơn cứ sống theo kiểu: “Thấy những điều bất công, tiêu cực trước mắt mà không dám nói ra, có mắt như đui, có tai như điếc, có miệng như câm thì thử hỏi có đáng sống không?”

Tôi nghĩ tất cả chúng ta dù là người dân trong nước cũng như ở nước ngoài, dù là giai cấp nào, đoàn thể nào, tôn giáo nào. Trước mắt chúng ta phải đoàn kết lại và cương quyết đồng một lòng nói “không” với người cộng sản thì mới mong xóa cái đảng MAFIA này được và xây dựng đất nước VN phồn vinh.

DƯỚI BÓNG MÁT CỦA LÁ CỜ “BA QUE”

DƯỚI BÓNG MÁT CỦA LÁ CỜ “BA QUE”

Hoàng Ngọc Mai

pic

Bài nầy tôi muốn nói cho những kẻ cứ mỗi lần vén hai cái mép mồm lên nói là phát ra tiếng “Ba Que”.

Theo tôi thấy, thì những kẻ hay dùng cái từ 3/// đó thường còn trẻ, đa số chưa đến 60, có nghĩa là vào năm 1975 chỉ còn là con nít. Còn những người lớn tuổi hơn, thậm chí cả đảng viên, họ cũng nói một cách khác. Ngay cả từ Ngụy Quân và Ngụy Quyền cũng đã được chính thức gỡ xuống.

Cho rằng họ là những kẻ “chiến thắng” một cuộc chiến đi, nhưng tâm lý mặc cảm thua kém của họ vẫn thể hiện qua rất nhiều mặt. Những giá trị của xã hội thời VNCH vẫn còn đó, làm cho kẻ chiến thắng ăn ngủ không yên. Hằng triệu người Bắc di cư vào Nam, sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Hằng triệu người khác vượt biển Đông để từ bỏ chế độ CS sau chiến thắng 1975.

Rồi sau 1975, bao nhiêu triệu người miền Bắc lũ lượt kéo vào miền Nam làm việc và sinh sống. Hà Nội là thủ đô, được đảng CS chăm sóc trước miền Nam những 30 năm cơ mà? Sao không có làn sóng dân Nam kéo về Hà Nội? Đảng tuyên truyền rằng nhờ Mỹ đổ tiền vô nên miền Nam phồn thịnh! Sao lại bảo là Mỹ ác lắm đem quân vô giết dân Việt.

Điều nào đúng? – Cả hai đều sai !

Nói rằng thiên nhiên miền Nam trù phù hơn. Đó là ngụy biện hoặc là dốt nát. Karl Marx đã sai lầm cơ bản ở điểm nầy khi xây dựng lý thuyết Cộng Sản. Theo lý thuyết đó, đất đai và phương tiện sản xuất là suối nguồn của sự giàu có, nên CS không cho tư nhân có quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất.

Nhưng thật ra sự phong phú nằm nơi con người, đất nước nào biết chăm sóc và trân trọng con người, đất nước đó sẽ hưởng được sự thịnh vượng. Hãy so sánh Nam và Bắc Hàn. Nam Việt và Bắc Việt cũng không ngoại lệ.

Miền Nam lúc nào cũng bị quân CS đánh phá và khủng bố, chính quyền dân chủ non trẻ với nhiều CS nằm vùng, mà vẫn xây dựng được cuộc sống hài hòa cho người dân. Phát triển mọi mặt từ kinh tế, giao thông công cộng, y tế , giáo dục… Đó là lý do tại sao miền Nam thịnh vượng. Và cái trình độ dân trí đó đã kéo miền Nam vượt lên hẳn so với Hà Nội.

Rồi những người miền nam liều mình vượt biển để tìm con đường sống trong cái chết. Nếu chẳng may bị bắt trở lại thì bị tù đầy với tội danh là “phản quốc”. Khi họ ổn định cuộc sống nơi nước ngoài, gửi những đồng tiền do chính sức lao động của họ về cho thân nhân ở trong nước thì  đảng lại gọi họ là “kiều bào”, “khúc ruột ngàn dặm”, nghe sự nịnh nọt trơ trẽn mắc ói! Còn mấy cái mồm tuyên truyền thì kêu đi ra nước ngoài ăn bơ thừa sữa cặn…Nhờ những đồng tiền “bơ thừa sữa cặn” đó mà kinh tế VN vượt qua thời kỳ khô cằn do đường lối kinh tế XHCN, mọi thứ đều quốc doanh hóa, nhà nước quản lý hết….Đến lúc hết thở, nên nhà nước hết hồn, đành buông xả ra gọi là “đổi mới” !

Qua đó, có phải cái bóng mát của VNCH vẫn che cho dân trong những lúc khó khăn đó đến ngày hôm nay?

Vậy đó, Cộng Sản Bắc Việt vi phạm những hiệp ước quốc tế để giành chiến thắng nhưng những giá trị Nhân Bản của VNCH càng lúc càng âm ỉ đốt nóng những trái tim Việt Nam.

Các người cứ dùng lời lẽ sấc xược để tỏ vẻ khinh miệt người khác càng làm lộ rõ các người dốt nát và kém văn hóa mà thôi. Cộng Sản Chủ Nghĩa là đỉnh cao của Xã Hội Chủ Nghĩa. Mà XHCN cũng vỡ tan theo liên bang Sô Viết rồi, còn Thiên Đàng Cộng Sản có nằm mơ cũng không gặp.

Vậy mà các người cố gào 3/// để làm cho mình cao hơn ư? Rất tiếc cái chính nghĩa Cộng Hòa đó vẫn sáng mãi trong lòng dân Việt, nhất là nhân dân miền Nam. Có lẽ phải dùng đến những con số để chứng minh cho thấy cả guồng máy của nhà nước XHCNVN đã và đang sống dưới bóng mát của lá cờ mà họ gọi là 3/// đó.

Các người cứ lục tung hết sổ sách của cái gọi là “chính quyền XHCNVN” lên mà xem tổng ngân sách nhà nước dùng để trả lương cho toàn bộ công nhân viên chức nhà nước là bao nhiêu. Rồi các người xem con số đó có phải chưa bằng một nửa số tiền Việt Kiều gửi về hàng năm, trung binh là 10 tỷ USD, có năm cao hơn. Như vậy các người không ngủ dưới bóng mát của lá cờ vàng ba sọc đỏ là gi?

Tôi sẽ dẫn giải cho các người thấy, cả nước VN từ sau 1975 đến nay vẫn tiếp tục sống dưới bóng mát của lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.

Từ ngày Sài Gòn bị “phỏng giái”, (người dân Miền Nam nói như vậy đó, nói lái là một nét đặc trưng trong văn hóa bình dân của dân nam kỳ), thì một mặt trận tiêu diệt Văn Hóa miền Nam được phát động rất quy mô và triệt để. Đó là trận chiến “Tẩy Não” dân Miền Nam, nhằm loại bỏ tư tưởng và ý thức hệ Tự Do Dân Chủ. Tất cả văn hoá phẩm từ sách báo đến âm nhạc đều bi tiêu hủy và cấm đoán. Nhưng làm sao trói buộc được tư tưởng của con người chứ?

Nhà nhà nộp sách đem đốt, việc nầy không khó, nhưng cấm dân miền Nam hát những bản nhạc đã in sâu vào tim vào óc của họ thì quả là không thể được. Khi mọi thứ đã hoang tàn đổ nát kể cả lòng người dân lành, thì những dòng nhạc trữ tình khe khẽ quay trở về như làn gió nhiệm mầu xoa dịu bớt cái nỗi thống khổ của đời thường XHCN. CSVN gọi dòng nhạc đó là “Nhạc Vàng” để cân với dòng “Nhạc Đỏ” sặc mùi chém giết mà giai điệu và tiết tấu mang đậm sắc thái TC. Nhưng tới hiện tại thì họ trở nên ganh tị với cái tên gọi đó, vì nó đích đáng và đúng trên nhiều khía cạnh.

“Nhạc Vàng” không cổ súy chiến tranh mà chỉ biểu lộ những đau thương của con người trong thời chiến. Vậy tại sao người ta cấm Nhạc Vàng? Có phải người ta sợ cái bóng dáng thiên thần dịu dàng và ngọt ngào đầy tình người sẽ làm hiện thân của Ác Quỷ nổi trội rõ nét hơn chăng?

“Nhạc Vàng” một tòa lâu đài văn hóa Việt Nam Cộng Hòa bất diệt, chẳng những không hoen rỉ qua thời gian mà còn lóng lánh hơn như một kho báu cho mọi tầng lớp con dân VN suốt 3 miền và kể cả những kẻ từng lên án, vùi dập lẫn sợ sệt nó. Bao nhiêu người đã khai thác cái kho báu vô tận nầy.

“Nhạc Vàng” loài hoa mỹ miều kiêu sa, mọc lên từ bom đạn chiến tranh, tồn tại qua bao sự vùi dập, thể hiện tính Nhân Bản của một xã hội đầy tình người, đáng được trân quý như vàng. Hơn nửa thế kỷ qua, chưa có một đối thể nào lăm le đứng gần chứ đừng nói là soán ngôi.

“Nhạc Vàng”, một thứ phụ gia kỳ diệu, không thể thiếu được khi thưởng thức một ly cà phê ngon hay một chén trà thanh thoát. Một tay guitar và nhạc vàng luôn là tâm điểm cho những buổi nhậu bình dân.

“Nhạc Vàng”, một loại trầm hương hảo hạng cho bất kỳ cuộc họp mặt nào từ quê ra tỉnh, từ đám cưới đến đám tang, từ sân khấu đại nhạc hội hàng ngàn khán thính giả đến quán cà phê dăm ba người cuối phố, thậm chí là niềm giải trí duy nhất trong chốn lao tù….

“Nhạc Vàng”, là ánh lửa rực rỡ của con Phượng Hoàng hồi sinh từ tro bụi sau khi những người nhân danh CSCN đã giết nó bằng mọi khả năng của họ. Ánh lửa đó đã bùng lên, lan tỏa đến từng trái tim của chính những người mang danh hiệu là Đảng Viên ĐCSVN, bất luận là ở đâu, Nghệ Tĩnh, Hà Nội hay Sài Gòn!

Nói mãi về “Nhạc Vàng” VNCH không bao giờ cạn ý.

Nếu những lời lẽ quanh co trên đây chưa thực sự vẽ ra cái bóng mát của lá cờ vàng, chưa chứng minh được âm nhạc VNCH là Vàng ròng 24 kara thì tôi xin được dẫn quý vị vào yếu tố kinh tế của Nhạc Vàng vậy.

Từ hải ngoại đến quốc nội, bao nhiêu doanh nghiệp phát triển nhờ Nhạc Vàng, bao nhiêu ca sĩ thành danh và nên sự nghiệp, bao nhiêu người trở nên giàu có, bao nhiêu công ăn việc làm cho cái kỹ nghệ âm nhạc nầy, từ thời băng từ, đến đĩa từ, CD, kế đến phong trào Karaoke, bao nhiêu kỹ thuật viên, phòng thâu, ca nhạc sĩ, cơ sở sản xuất, phát hành, bán sỉ lẻ, thiết bị âm thanh, v.v…  và  v.v….

Bao nhiêu Đại Nhạc Hội, tụ điểm ca nhạc… Biết bao nhiêu ca sĩ, từ Bắc chí Nam đã thành triệu phú đô la nhờ vào cái bị gọi là ” Văn Hóa Nô Dịch” đó.

“Nhạc Vàng” đã tham gia với người dân cả nước trong việc mưu sinh hàng ngày, từ quán cà phê, đến hàng loạt xe đò đường dài, đến anh bán kẹo kéo, đến những em bán hàng rong hằng đêm trên phố, đến những người hành khất . . .Lớp học hát , học đàn nở rộ, tiệm sản xuất đàn guitar gia tăng, quán cà phê nhạc sống, bình dị mà trữ tình ngày càng phổ biến.

Một chiếc điện thoại thông minh, một cái mi-crô không dây, khách ngồi uống nước mía bên vệ đường cũng có thể chia sẻ với nhau một bản tình ca… ấm áp. Cái bóng mát đó càng ngày càng mở rộng ra trên nhiều lãnh vực của cuộc sống và địa phưong, lan dần đến tận các tỉnh miền Bắc… Đó không phải là bóng mát từ nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa thì là gì, lửa hỏa ngục chăng?

Tôi đã thấy, ca sĩ bậc nhất ĐVH, tranh thủ cho ra mắt 2, 3 album nhạc vàng trong vòng một tháng, hát giành hát giựt, sợ ca sĩ khác hát trước, mất số bán. Như một tên ăn trộm, khám phá ra kho báu, hốt vội hốt vàng, nhạc vàng là vàng ròng đó.

Tôi đã thấy cũng ĐVH hát “Cho một người nằm xuống” , dĩ nhiên là hát để thu tiền, có bao giờ ĐVH nghĩ đến những trái ngọt nầy do ai vun trồng mà nên? Sao không hát cho người thương binh VNCH còn sống vất vưởng ngày hôm nay. Mang danh một diva, một nghệ sĩ , ĐVH nếu có tâm hồn nghệ sĩ, sao không dám một có lần tri ân những người đã nằm xuống để bảo vệ cho thể chế đã sản sinh ra cái kho báu âm nhạc nầy. Phải chăng vì không có tâm hồn mà chỉ hát vì lòng tham nên bị người đời gọi là Ca Nô ?

Tôi đã xem video clip của đại ca…sĩ Ngọc Sơn, đại gia từ nhạc vàng, hát trong một hội trường đầy ấp khán giả là quân đội mặc quân phục đại cán, ngực đầy huân chương “cách miệng”. Những ca khúc nhạc vàng cất cao, cả hội trường đứng dậy, hai tay đưa lên cao, đung đưa theo dòng nhạc….

Các vị đa số là đảng viên, các vị chắc đã học tập lý luận nhiều lắm, quý vị có thấy một nghịch lý vô cùng to lớn ở đây không? Hoặc là các vị có thấy xấu hổ trong lòng không? Cái mà quý vị diệt tận, giết sạch ngày hôm qua, thì hôm nay ngồi dưới cái bóng mát của cái “xác khô” VNCH mà chia sẻ hương thơm ngào ngạt của nó.

Các người là kẻ chiếm và thắng, các người hành hạ, chà đạp kẻ thất cơ lỡ vận nhiều rồi, chúng tôi không màng, lịch sử sẽ có lúc trả lại công đạo.

Nếu quý vị mạt sát VNCH thì móc cổ mà ói ra hết những gì quý vị nuốt vô từ nền văn hóa VNCH đi.

Còn như quý vị trơ trẽn, miệng thì mỉa mai : “đu càng, ba que, quần què” mà giành nhau đưa tay vào chấm mút, chúng tôi khinh lắm.

Hoàng Ngọc Mai

nguồn: bacaytruc.com

Ông Đồ và Già Hồ

Ông Đồ và Già Hồ

Ông Đồ

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay.”

Nhưng mỗi năm mổi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu.

Ông đồ vẫn ngối đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay.

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

Vũ Đình Liên
(12/11/1913- 18/1/1996)

Già Hồ

Mỗi năm mai vàng nở
Lại hận tên Hồ già
Đem Mác-Lê cờ đỏ
Hại nước bao năm qua.

Bút mực nào đủ viết
Sự tàn ác độc tài
Gian manh là đặc nét (1)
Dân sợ chạy xa bay. (2)

Cải cách – đồng hoang vắng (3)
Trăm hoa – nở nơi đâu? (4)
Ruộng ngập máu đỏ thắm
Đời tàn trong ngục sầu.

Lăng Hồ vẫn còn đấy
Nhưng chẳng có ai hay
Lịch sử sang trang giấy
Cộng sản rồi sẽ bay.

Năm nay mai lại nở
Không còn bóng Hồ xưa
Những người xưa chốn cũ
Đang ở đâu bây giờ?

N Nguyễn
(Mỗi độ Xuân về)

Chú thích:

(1) Đặc nét = Nét đặc thù của CS
(2) Dân sợ chạy xa bay = Di cư 1954, di tản 30/04/1975 và vượt biên sau 30/04/1975
(3) Cải cách = Cái cách ruộng đất
(4) Trăm hoa = Trăm hoa đua nở

nguồn: Đặc san Lâm Viên

Gạc Ma vòng tròn hèn và nhục

Gạc Ma vòng tròn hèn và nhục

Ông Bút

Tết vừa rồi đến nhà một niên trưởng chúc tết, ông tặng tôi cuốn “Gạc Ma vòng tròn bất tử”, (GM-VTBT) thấy sách còn niêm phong trong bao nhựa, nên tôi hỏi: Sao chú (1) không để đọc? Chú nói: Tôi đọc rồi, mua mấy quyển, gặp ai cũng tặng!

https://i0.wp.com/www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2019/02/37127917_884262211769910_6345464840085045248_n.jpg

Hình thức:

Sách rất đẹp, từ ngoài bìa tới những trang bên trong, toàn giấy tốt, đắc tiền, hình ảnh rõ, sáng, cỡ chữ lớn, 328 trang, không tính bìa, bố cục sách phân chia ngăn nắp hợp lý, văn phong mạch lạc, mang tính tự thuật. Chỉ những trang 236-243 mới chuyển sang nhận định, qua bài phỏng vấn chuẩn Đô Đốc Lê Kế Lâm, (người phỏng vấn không để tên) và bài viết của James Zumwalt, từ trang 229 – 301 tài liệu chứng minh chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, của Việt Nam, trang 302 không có tác giả, bài ghi lại sự kiện sau hơn 27 năm, những bộ đội Gạc Ma 1988, được đảng CS Trung Quốc “khoan hồng” và thân nhân, mới có cuộc hội ngộ, ở chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn, không rõ hội ngộ công khai, hay chui!?

Trừ phần dẫn nhập, giới thiệu, sách mở đầu:
Chương một “Tháng Ba bi tráng” , trang 13.
Chương hai: “Nén lặng những nỗi đau” trang 91-156
Chương ba: Ký ức người lính 157-228
Chương bốn: Sự thật lịch sử không thể lãng quên 229-301

Vài điều nhận định
:

Tôi bị lầm, bởi trước khi đọc sách, đã nghe phong phanh ông Lê Mã Lương, sẽ nêu đích danh chủ tịch nước Lê Đức Anh, không cho bộ đội Hoàng Sa nổ súng chống lại quân Trung Cộng xâm lược, rồi có một biện hộ rằng lệnh: “Không cho nổ súng trước,” chứ không phải là “không cho nổ súng”. Nhưng tuyệt nhiên không có một dòng nào tương tự như lời đồn đoán trên, trong suốt 320 trang, tác phẩm này nhiều lần lên án quân Trung Cộng thảm sát dã man, trong phần phỏng vấn ông Lê Kế Lâm, theo ông không công nhận đây là một trận hải chiến, vì nói tới hải chiến phải có hai bên đánh nhau, ông cho là một cuộc thảm sát, do Trung Quốc hung hăng tạo ra. Nhưng trước khi lên án quân thù, cần xem lại trang 16 cho biết “hai tháng đầu năm 1988 quân TC, đã chiếm giữ các bải đá: Chữ Thập, Châu Viên, Tư Nghĩa, Ga ven và Xu Bi, quân TC chuẩn bị mở rộng xâm lăng Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao”

– Ngày 9 tháng 1-1988 “đảng ủy quân chủng tổ chức cuộc họp khẩn cấp nhận định tình hình Biển Đông”

– Ngày 14 tháng 3 năm 1988, quân TC chính thức đánh và xâm lược Hoàng Sa

Câu hỏi là: Có hơn 60 ngày chuẩn bị, tại sao CS Việt Nam, chỉ cử các “tàu hàng” và lính không trang bị vũ khí thích hợp đến giữ đảo? Mà chỉ có lính Công Binh, xây dựng đảo, Hải Quân đi cắm cờ? Trong sách nhiều lần gọi các tàu: HQ 604, HQ 505, HQ 505 là tàu hàng, nhưng trên trang 18, viết: Sau khi họp khẩn, theo lệnh thượng khẩn ba tàu nói trên, được điều động làm nhiệm vụ giữ đảo.

Câu hỏi:Lệnh thượng khẩn điều động “tàu hàng” đi giữ đảo sao?

Đã biết trước sẽ bị xâm lược, chỉ điều động chiếu lệ, đưa bộ đội làm bia sống cho quân thù tập bắn bia, có thể kết luận lãnh đạo vừa ngu, vừa hèn, nếu thông đồng với giặc, còn thêm tội phản quốc nữa.
Nhiều lần viện cớ “tàu hàng” vũ khí bên ta không bắn tới tàu TC, trang 33 viết: Tàu TC số hiệu: 502, 503, và 504 áp sát HQ 604 của ta ở cự ly rất gần, vậy trên HQ 604 chỉ có K 54 thôi sao? Tất cả bộ đội tham chiến, từ trung tá Trần Đức Thông, chỉ huy cao cấp nhất, tới anh binh nhì, không hề nói, hay thuật lại được hoặc bị nhận lệnh cấp trên, không được nổ súng, vì không hề dám chống cự, nên sau khi áp sát tàu ta, TC lập tức thả 3 xuồng máy, chở 50 người tiến lên Gạc Ma.

Nhìn lại trận hải chiến trước đó 14 năm, chúng ta đều công nhận TT Nguyễn Văn Thiệu, ra lệnh cho Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư Lệnh vùng I duyên hải, rất rõ ràng, mạch lạc, như sau:

Chỉ thị cho Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải:
“Thứ nhất là tìm đủ mọi cách ôn hòa, mời các chiến hạm Trung Cộng ra khỏi lãnh thổ VNCH. Thứ hai, nếu họ không thi hành, thì được nổ súng cảnh cáo trước mũi các chiến hạm này, và nếu họ ngoan cố thì toàn quyền sử dụng vũ khí để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ VNCH.”
Những dòng ngắn ngủi này, lịch sử ghi nhớ ngàn đời không phai.
TT Thiệu vẫn biết tàu bè Hải Quân VN, do Mỹ viện trợ cổ lổ xỉ, từ thời thế chiến 2, trong khi đó Trung Cộng, Liên Sô hải quân và vũ khí rất tối tân. Tuy nhiên các chiến hạm VNCH cũng đã gây tổn thất nặng nề cho hải quân Trung Cộng:

“Đánh chìm 2 chiếc 271 & 389, bắn hư hại nặng 2 chiếc 274 & 396 và tiêu diệt trọn Bộ chỉ huy Tham mưu của hải quân TC trên Soái hạm 274 ngay sau mười phút khai chiến, gây tử thương cho một Đô Đốc Chính trị viên (Tư lệnh phó Phương Quang Kinh) và nhiều sĩ quan cao cấp tham mưu trên Soái hạm, gồm có 7 Đại tá, 10 Trung tá, 2 Thiếu tá, 7 sĩ quan cấp úy tử thương và hàng trăm binh sĩ chết và bị thương. Đây là chiến thắng oanh liệt của HQVNCH trong trận Hải Chiến Hoàng Sa, năm 1974” (trích HQ Phạm Quốc Nam, bài đăng trên Người Việt Tây Bắc).

Đọc tác phẩm GM-VTBT rất ngạc nhiên cho “Bộ đội Hải Quân” và Công Binh, của CSVN, quá nhu nhược, có lúc quân TC kê súng ngắn vào đầu, nói: “Mầy còn nối dây, tao bắn” họ ngoan ngoãn nghe lời, không dám gạc súng, đánh tay đôi với nó, quân TC đâm bộ đội bằng dao, bộ đội cúi đầu chịu chết, không dám đánh cận chiến với chúng.

VMLong-VnnVương Mộng Long (Ảnh Internet)

Hãy mở tựa đề: “Hồi ký của Thiếu Tá Biệt Động Vương Mộng Long” do anh Tám Tình Tang, (2) đọc, để biết Tiểu Đoàn 82 BĐQ, trưa ngày 30/4/1975, họ đang đi về hướng Sài Gòn, trong bộ điệu mệt mỏi, chợt được cấp trên ra lệnh tập trung về Đường Sơn Quán, có lẽ gặp nhau lần cuối, rồi tan hàng, cấp trên cho 2 xe be, đón họ, bất ngờ trên đường tới điểm hẹn, TĐ bị phục kích bất ngờ, BĐQ phơi mình trên mặt lộ, quân CS núp dưới hàng cây ven đường, tưới đạn như mưa bất, nhưng những chiến sĩ BĐQ, đã đánh trả oanh liệt, họ siết cò vào Việt Cộng, mà không còn kịp biết thân mình đã trúng đạn nơi đâu, có chiến sĩ một cánh tay đã tóe máu, tay còn lại vẫn siết cò, Binh Nhất Lưu Chí Cường, ôm mặt thằng Việt Cọng mà cắn! AK 47, B 40, đại liên, thi nhau quét liên hồi, máu ngập sàn xe, ngập mặt đường, máu khắp nơi.

Trận Hoàng Sa 14/3/1988 “bộ đội cụ Hồ” không làm rụng một sợi lông quân thù, tiếc thật.

Trước khi đọc GM-VTBT, tôi từng nghe video, đọc báo trên mạng, những lời cáo buộc nhóm biên tập, trung tướng bộ đội Nguyễn Thanh Tuấn, còn đòi tịch thu, đọc hết sách cũng không hiểu, nó phạm lỗi lầm nào, có lẽ CSVN quen làm báo, viết sách, làm phim, kiểu như bài ông Bùi Minh Kiểm, dũng sĩ tay không, quật ngã máy bay UH 1B của Mỹ!!

Trong lúc tác phẩm GM-VTBT, chuyển bụng, cũng khá gian nan, ông Lê Mã Lương, lạy lục khắp nơi, từ chủ tịch nước, tới bộ này bộ kia, có thể vì vậy, ông phải cậy tới Dương Trung Quốc, như là một kẻ phụ “chứng sinh” viết một bài trang 306, văn phong rỗng tuếch, lạc hơn nước ốc!

Lãnh đạo các ông hèn quá, nhục quá, hèn với quân thù và hèn với chính mình, không dám nhìn nhận thực tế.

Ông Bút

————————-
Chú thích
1 Niên trưởng này là bạn thân của ba tôi, nên không dám gọi bằng anh, nhưng ngược lại, ông ta cũng gọi tôi bằng anh, gọi thay cho các con của ông.
2. Nhân đây xin cảm ơn tác giả Th Tá Vương Mộng Long, đã bỏ ra nhiều công sức, viết rất nhiều bài hữu ích.
Cảm ơn giọng đọc ấm, chậm rải, rõ ràng của anh Tám Tình Tang.

nguồn: danchimviet.info

Một xã hội kì lạ

Một xã hội kì lạ

Xã hội ta đang diễn ra nhiều hiện tượng kì lạ.

1. Đảng Cộng sản chính thức đưa chủ nghĩa Mac- Lê nin vào Việt Nam từ 1930 và hơn nửa thế kỷ nay đã được giảng dạy trong các nhà trường, từ bậc phổ thông trở lên, thành hệ tư tưởng chính thống, chủ đạo, bao trùm toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội; mà chủ nghĩa Mac- Lê nin được giới thiệu là học thuyết Khoa học tiên tiến nhất (vô địch) – Biện chứng – Duy vật – Vô thần…

Thế nhưng ai cũng thấy: Chưa bao giờ Việt Nam xây lắm chùa, có nhiều sư như ngày nay; chưa bao giờ lắm thầy tâm linh (ngoại cảm, tử vi, tướng số, bói toán, phong thủy, thầy mo, thầy cúng…) như ngày nay; chưa bao giờ xã hội Việt Nam từ quan chức, trí thức, sinh viên, doanh nhân đến dân thường lại có lắm người mê tín, cúng lễ tùm lum như ngày nay. Tất cả những hiện tượng đó đều phản lại chủ nghĩa Mac- Lênin!

  Cố chủ tịch nước Trần Đại Quang đi cầu cúng

Karl Marx cho rằng “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”, nhưng chưa bao giờ, Phật giáo ở Việt Nam được khuyến khích đầu tư phát triển số lượng ào ạt như thời nay. Khắp đất nước đâu cũng thấy chùa mới xây; kinh kệ, đồ nghề phụ vụ cho tăng ni phật tử bán la liệt; các học viện, trường lớp đào tạo sư thành hệ thống từ trung ương đến các địa phương.

Tóm lại, chưa bao giờ Việt Nam nhiều chùa, nhiều sư, nhiều người đi chùa, đi lễ, đi cầu cũng, bói toán… như dưới chính thể nhà nước cộng sản. Kì lạ chưa!? Xin nhờ GS Nguyễn Phú Trọng, Hội đồng Lý luận Trung ương và Ban tuyên giáo lý giải cho nghịch lý này, để bà con được tỏ tường!

Ví dụ thực tế chứng minh cho nhận định trên thì nhiều vô kể.

– Mấy đời Chủ tịch nước và biết bao nhiêu quan chức trung ương, các địa phương, các đại gia về Khai ấn đền Trần và dẫn đến cảnh chen lấn, xô đẩy, giẫm đạp lên nhau để cướp Ấn, cướp lộc. Rồi Ấn được in ra bán khắp nơi, như bùa phép, khiến chính quyền Nam Định vớ bẫm…

– Các quan chức nhà nước từ Chủ tịch, Thủ tướng trở xuống hầu hết đều đầu tư khá lớn để xây Đền thờ cho họ mình, nhà mình, lo lăng mộ cho mình thật hoành tráng; nhiều người âm thầm “công đức”, “cung tiến” vào đền, chùa.. khá nhiều tiền của. Rồi họ tổ chức cúng lễ linh đình, cầu khẩn thần, phật khắp nơi … Có những quan chức có cả thầy tướng số, phong thủy thân cận để thường xuyên “tham vấn” mọi việc từ lớn đến nhỏ…

– Hiện tượng sĩ tử trước mùa thi kéo nhau đến các đền chùa cầu cúng, nhất là đến Văn Miếu- Quốc tử giám khấn vái, sờ đầu rùa đá lấy may, ngày càng rầm rộ…

– Việt Nam một năm có hơn 8000 lễ hội, hầu hết các lễ hội đều có yếu tố tâm linh. Các tầng lớp nhân dân ngày càng nhiều người mê tín, cầu cúng tùm lum, chen lấn, tranh cướp trong các lễ hội thật khủng khiếp.

Có đến hàng vạn người ngồi thâu đêm, chen lấn, bệ rạc để nộp tiền “dâng sao, giải hạn”; người ta bế cả trẻ con, trèo hàng rào, giẫm lên đầu nhau, tranh giành bằng được để mình vào cúng lễ trước; hàng trăm người xô đẩy nhau để nhúng những đồng tiền vào máu lợn tóe ra khi đao phủ vừa chém lợn, để lấy may; ở khắp các nơi thờ cúng thường thấy cảnh người ta nhét tiền vào tay thần, phật… Việc đốt vàng mã càng khủng khiếp, theo báo Nghệ An, “Mỗi năm dân ta đốt 5.000 tỷ đồng vàng mã”…Còn nhiều dẫn chứng sinh động, không sao kể hết!

2. Đến đây lại nảy ra một nghịch lý lạ kì khác. Tại sao một xã hội “sùng bái” thần phật, sợ ma quỷ, cầu cúng nhiều như vậy, mà đạo đức lại băng hoại suy đồi, nhân cách con người lại tha hóa? Tại sao xã hội lại lan tràn hành động bạo hành, độc ác, lắm mưu hèn kế bẩn, nhiều gian dối, lừa đảo như vậy?

Chùa chiền khắp nơi. (Ảnh minh họa- chùa Hương)

– Có thời nào “thiên hạ thái bình” mà bộ máy chính quyền lại cướp đất, cưỡng chế phá nhà dân tàn khốc như dưới chính thể này? Có thời nào lắm dân oan lê lết từ Nam ra Bắc, nằm đầu đường, xó chợ khiếu kiện triền miên mà vô vọng như thời nay? Có thời nào mà câu “cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” đúng như ngày nay? Quan chức ăn cắp, ăn cướp triền miên, đến mức bà Phó Chủ tịch nước phải thốt lên: “Bọn nó ăn của dân không chừa thứ gì”!

– Sự gian dối trong “toàn hệ thống chính trị” thì không ai kiểm soát được, biết, nhưng không làm gì được nhau: từ thành tích thi đua, báo cáo láo, gian lận bằng cấp, “chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy tội…” đến khai báo thu nhập, kê khai tài sản, đều chẳng ai tin. Với lương quan chức trung bình 10 triệu đồng, cao nhất 20 triệu đồng một tháng, lấy đâu ra mà nhà lầu, xe hơi, ăn chơi xa hoa như vua chúa, cho con du học, mua nhà ở nước ngoài?…Mới đây ông Thủ tướng Phúc phải hò hét “phải khắc phục bệnh dối trá, đạo đức giả, nói không đi đôi với làm”…

– Có thời nào mà Công an lại dùng bạo lực, cưỡng chế, xô xát với dân tàn bạo như thời nay?

– Có thời nào mà dân lại sản xuất và buôn bán lắm thứ hàng nhái, hàng giả, hàng độc hại như thời nay; nhất là biết là hàng độc hại, mình không dám dùng nhưng cứ bán ra để đầu độc người khác, làm nguy hại cho xã hội, cho nòi giống? Mỗi ngày hơn 300 người chết vì ung thư, nhưng dường như cũng chẳng rúng động xã hội!

– Có bao giờ tệ nạn trộm cướp, cờ bạc, mại dâm, lừa đảo rộng khắp và nguy hiểm như ngày nay không? Người ta có thể đâm chém nhau chỉ vì “nhìn đểu”, “cười đểu” hay xích mích nhỏ. Mỗi dịp Tết lại mấy ngàn người nhập bện viện cấp cứu vì đánh nhau!…

– Có thời nào ngành giáo dục lại thi cử gian dối, học hành tốn kém, bằng dởm, bằng giả nhiều và bạo lực học đường, quan hệ thầy trò tồi tệ như ngày nay?

– Có bao giờ gia đình đổ vỡ, trẻ em bị bạo hành, bị xâm hại nhiều như ngày nay?

Tóm lại, xã hội ta, đang chứa đựng đầy những nghịch lý: càng tuyên truyền giáo dục học thuyết Mac- Lênin duy vật, vô thần, con người càng duy tâm, mê tín, dị đoan, càng mất niềm tin vào khoa học, mất niềm tin vào chân lý, vào công lý… Mặt khác, đáng lẽ nhiều người đi chùa, giác ngộ Phật pháp thì con người càng bớt Tham, Sân, Si, bớt Sát, Đạo, Dâm, bớt lừa lọc, gian dối, hung bạo; con người sẽ giàu lòng Tư bi, Hỉ xả, sống lương thiện, chạy tịnh, xã hội an lạc, hòa vui…

Nhưng tất cả dường như đều ngược lại! Con người có quá nhiều hành động vô minh tăm tối, bất lương; cái ác được kích thích và “lan tỏa”; xã hội ngày càng xuống cấp về đạo đức, lối sống. Mới hôm qua, trên VTV1 có cuộc thảo luận “làm sao kinh tế thời nay, đạo đức được như ngày xưa”!?

Những vấn đề nêu trên, Hội đồng Lý luận trung ương và Ban Tuyên giáo GIẢI THÍCH thì tài lắm, nhưng bao năm nay, càng GIẢI QUYẾT thì càng trở nên tồi tệ hơn! Vậy là sao?

12/2/2019

Mạc Văn Trang (Facebook)

Những câu hỏi cho Cộng đảng

Những câu hỏi cho Cộng đảng

Bộ ảnh kinh hồn của bệnh viện ung bướu thành Hồ

Hình ảnh bệnh nhân tại Bệnh viện Ung Bướu Hồ Chí Minh: Thay vì nằm trong phòng, họ chuyển ra nằm ngoài trời để được tự do lăn lóc, tự do mỗi người một giường rộng rãi và ngắm mây trời thoải mái. Còn trong phòng chờ thì ngập lụt. Phải nói rằng, thời đại Hồ Chí Minh là thời kỳ rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam.
Quynh Thu Pham










nguồn: vietbf.com

Hãy nói trước ngày chết

Hãy nói trước ngày chết  
-Trần Trung Đạo
Trong lịch sử nhân loại, không có một chủ nghĩa nào tàn bạo hơn chủ nghĩa Cộng Sản. Từ khi Tuyên ngôn đảng cộng sản ra đời năm 1848 cho đến khi bức tường Bá Linh bị đập đổ vào 1989, khoảng gần 100 triệu người từ nhiều quốc gia đã bị giết. Hơn hai mươi năm qua, mặc dù ngọn lửa vô thần đã tắt trên phần lớn quả địa cầu, một góc trời phương đông lửa vẫn còn đỏ rực, nhà tù vẫn còn giam giữ nhiều người bất đồng với chế độ độc tài toàn trị và tự do vẫn là một bóng mây xa.
Người đời có thói quen kết án Stalin đã gây ra tội ác tày trời đối với nhân dân Liên Xô, Mao Trạch Đông đã giết trên 30 triệu nhân dân Trung Quốc và Pol Pot tiêu diệt một phần tư dân tộc Khmer bằng súng và cả bằng dao phay, cán cuốc. Những chuyện đó ngày nay nhân loại đều biết và tội ác của chúng không còn là vấn đề tranh cãi nữa. Tuy nhiên, làm thế nào một nông dân có gốc gác bình thường, nếu không muốn nói là hiền lành như Mao lại có thể trở thành sát nhân của mấy chục triệu dân Trung Quốc? Làm thế nào Pol Pot, con của một điền chủ giàu có, được gởi sang Pháp ăn học, được bạn bè nhớ lại như một người nhã nhặn, lịch sự và được gọi là trí thức trong xã hội Khmer còn chậm tiến lúc bấy giờ, nhưng sau khi nắm chính quyền đã giết hai triệu dân Khmer bằng búa, dao và những cách giết người tàn bạo hơn cả trong thời Trung Cổ?
 
Bởi vì chủ nghĩa Cộng Sản trang bị cho chúng một quyền lực tuyệt đối, một niềm tin cuối cùng, một lối thoát tinh thần, một chỗ dựa lý luận để giải thích cho hành động bất nhân của chúng. Nuon Chea, người đứng hàng thứ hai của chế độ Khờ Me Đỏ chỉ sau Pol Pot, lạnh lùng trả lời báo chí, những kẻ bị giết chỉ vì “họ là kẻ thù của nhân dân”. Đơn giản vậy thôi. Chúng ăn rất ngon và ngủ rất yên dù sau một ngày ký hàng loạt bản án tử hình.
 
Giết một vài đối thủ thì không sao nhưng để loại bỏ hàng triệu người là chuyện khác. Stalin không thể lên tận các trại lao động khổ sai ở Siberia để bỏ đói những người chống đối y. Mao Trạch Đông không thể xuống từng trường học để tra tấn các thầy cô trong Cách Mạng Văn Hóa, Hồ Chí Minh không thể đích thân xử bắn bà Nguyễn Thị Năm trong Cải Cách Ruộng Đất. Nhưng họ có khả năng huấn luyện, đầu độc một thế hệ đao phủ thủ trẻ tuổi hăng say và cuồng tín để làm thay. Quyền lực đặt vào tay đám đao thủ phủ trẻ này chẳng khác gì con dao bén để chúng thanh toán những mối thù riêng và lập công dâng Đảng.
 
Tháng 10 năm 2002, nhà báo Mỹ Amanda Pike đến Campuchia để tìm hiểu nguyên nhân tội ác diệt chủng của Pol Pot đã không được làm sáng tỏ. Amanda Pike phỏng vấn bà Samrith Phum, người có chồng bị Khờ Me Đỏ giết. Theo lời kể của bà Samrith Phum, vào nửa đêm năm 1977 chồng bà bị một Khờ Me Đỏ địa phương bắt đi và giết chết vì bị cho là “gián điệp CIA”. Hung thủ chẳng ai xa lạ mà là người cùng làng với bà Samrith. Hiện nay, kẻ giết người vẫn còn sống nhởn nhơ chung một làng với bà cách thủ đô Nam Vang vài dặm nhưng không một tòa án nào truy tố hay kết án.
 
Với chủ trương “Dân tộc Khờ Me cần đào hố để chôn đi quá khứ” Hun Sen đã cản trở Liên Hiệp Quốc rất nhiều trong việc điều tra tội diệt chủng của chế độ Pol Pot. Hun Sen cản trở vì bản thân y cũng từng là một sĩ quan Khờ Me Đỏ. Hun Sen nhiệt tình với lý tưởng CS đến mức bỏ học theo Pol Pot khi còn trong tuổi thiếu niên. Nhiều chi tiết trong quảng thời gian từ 1975 đến 1979 của cuộc đời y vẫn còn trong vòng bí mật. Khi chôn quá khứ của Campuchia, Hun Sen muốn chôn đi quá khứ tội lỗi của mình.
 
Tình trạng kẻ sát nhân và gia đình những người bị sát hại vẫn còn sống chung làng, chung xóm, chung thành phố không chỉ phổ biến tại Campuchia nhưng cũng rất phổ biến tại Huế sau vụ Thảm sát Tết Mậu Thân 1968.
 
Số người bị giết trong vụ Thảm sát Tết Mậu Thân khác nhau tùy theo nguồn điều tra nhưng phần lớn công nhận số người bị giết lên đến nhiều ngàn người và “kẻ thù nhân dân” không chỉ là công chức chính quyền VNCH mà còn rất đông sinh viên, học sinh, phụ nữ, trẻ em và ngay cả một số giáo sư ngoại quốc. Ông Võ Văn Bằng, Nghị viên tỉnh Thừa Thiên và cũng là Trưởng Ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân, kể lại: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng.” 
 
 
Tài liệu liên quan đến Thảm sát Tết Mậu Thân rất nhiều, từ điều tra của các nhà nghiên cứu nước ngoài cho đến các nhân chứng sống Việt Nam. Đến nay, thành phần được nghĩ đã gây ra biến cố đầy tang thương cho dân tộc Việt Nam này là những người Huế “nhảy núi”. Họ là những người bỏ trường, bỏ làng xóm, bỏ cố đô lên rừng theo CS và Tết Mậu Thân đã trở lại tàn sát chính đồng bào ruột thịt của mình. Họ là những kẻ vừa được giải thoát khỏi nhà giam Thừa Phủ đưa lên núi huấn luyện vài ngày rồi trở lại giết chết những kẻ bị nghi ngờ đã bỏ tù họ. Không giống quân đội chính quy tấn công Huế, những du kích nằm vùng, những thanh niên, sinh viên, học sinh là những người sinh ra và lớn lên ở Huế, thuộc từng tên phố tên đường, biết tên biết tuổi từng người. Họ lập danh sách và đến từng nhà lừa gạt người dân bằng cách “mời đi trình diện” rồi sẽ trả về nhà ăn Tết. Những người nhẹ dạ đi theo. Mà cho dù không nhẹ dạ cũng chẳng ai nghĩ mình sắp bị chôn sống chỉ vì làm chức liên gia trưởng của năm bảy gia đình, ấp trưởng một ngôi làng nhỏ, xã trưởng của vài trăm dân. Kết quả, từng nhóm, từng đoàn người lần lượt bị đem ra “tòa án nhân dân” và kết án tử hình.
 
Người “nhảy núi” nổi tiếng nhất là Hoàng Phủ Ngọc Tường.
 
Ngày 12 tháng 7 năm 1997, Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời câu hỏi của nhà văn Thụy Khuê về sự liên quan của ông đối với vụ Thảm sát Tết Mậu Thân: “Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế” và ông cũng thừa nhận Thảm sát Tết Mậu Thân là có thật chứ chẳng phải “Mỹ Ngụy” nào dàn dựng“Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng”.
 
Khi được hỏi ai là những người phải chịu trách nhiệm, Hoàng Phủ Ngọc Tường phát biểu “Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” và tiếp tục nêu thêm chi tiết chính Đại tá Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân thừa nhận trong tạp chí Sông Hương “Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi.”
 
Tóm lại, Hoàng Phủ Ngọc Tường trong buổi phỏng vấn dành cho nhà văn Thụy Khuê xác nhận ông ta không có mặt ở Huế trong suốt thời gian Huế bị CS chiếm đóng và những kẻ sát hại thường dân vô tội là do các “lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” chủ trương. 
 
Tuy nhiên 15 năm trước đó, ngày 29 tháng 2 năm 1982, trong buổi phỏng vấn truyền hình dài 15 phút dành cho hệ thống WGBH, Hoàng Phủ Ngọc Tường thừa nhận việc dư luận đang tố cáo ông là đúng, nghĩa là chính ông đã có mặt tại Huế: “Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu… Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra…” và ông cho rằng một số người dân Huế chết thảm thương là do sự trả thù của chính người Huế với người Huế “chính nhân dân đã căm thù quá lâu, đó là những người đã bị chính nó tra tấn, chính nó đã làm cho tất cả gia đình phải bị đi ở tù ra ngoài đảo v.v… và đến khi cách mạng bùng lên họ được như là lấy lại cái thế của người mạnh thì họ đi tìm những kẻ đó để trừ như là trừ những con rắn độc mà từ lâu nay nếu còn sống thì nó sẽ tiếp tục nó gây tội ác trong chiến tranh.”
 
Nếu phân tích theo thời gian và diễn biến chính trị thế giới, đặc biệt sự sụp đổ của phong trào CS quốc tế, câu trả lời của Hoàng Phủ Ngọc Tường vào năm 1982 là thành thật và sát với thực tế Mậu Thân nhất. Trong giai đoạn chuyên chính vô sản vài năm sau 1975, không chỉ ông ta mà cả các lãnh đạo CSVN vẫn nghĩ “con đường tất yếu” là con đường “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Không có một thế lực nào cản trở sức chảy của “ba dòng thác cách mạng”. Vào thời điểm 1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường chẳng những không sợ gì phải che giấu mà còn xem đó như một thành tích cần được nêu ra. Xem đoạn phim, khuôn mặt Hoàng Phủ Ngọc Tường đằng đằng sát khí khi diễn tả việc giết một viên chức VNCH: “chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng”.
 
Thái độ đó hoàn toàn khác với giọng ôn tồn khi ông ta nhắc lại lời của Đại tá CS Lê Minh như thay cho chính mình 15 năm sau “bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ”. Thời gian đổi thay, lịch sử đổi thay và con người cũng thay đổi. Không phải chỉ Hoàng Phủ Ngọc Tường mà cả những cựu lãnh đạo CS Đông Âu, một thời giết người không chút xót thương, sau 1990 cũng trả lời báo chí với giọng ngọt ngào như thế.
 
Nhiều bạn hữu của Hoàng Phủ Ngọc Tường như tác giả Ngô Minh viết trên talawas 2008, cho rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường “trong suốt những năm lên “xanh” ở A Lưới, Hoàng Phủ Ngọc Tường không được phân công về thành phố hay đồng bằng một chuyến nào cả” mà không biết hay cố tình bỏ qua sự kiện 26 năm trước chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã xác nhận mình ở Huế với những tình tiết mắt thấy tai nghe của một người trong cuộc. 
 
Hai buổi trả lời phỏng vấn hoàn toàn trái ngược chứng tỏ Hoàng Phủ Ngọc Tường phải có một khó khăn để giải thích sự liên hệ của mình đến vụ Thảm sát Mậu Thân. Lời phát biểu của ông cho thấy một điều, ngoại trừ trẻ em quá nhỏ, những người bị giết chắc chắn biết người giết mình là ai.
Không giống Hoàng Phủ Ngọc Tường mâu thuẫn, hai ông Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Phan từ trên núi theo đoàn quân CS đánh vào Huế. Hai ông không từ chối điều này nhưng đều phủ nhận đã có liên hệ gì với Thảm sát Mậu Thân. Trong bài viết Nhân đọc bài “Trịnh Công Sơn – Những hoạt động nằm vùng” Hoàng Phủ Ngọc Phan khẳng định: “Còn tôi thì có theo chiến dịch về hoạt động ở Thành nội Huế nhưng tôi không hề giết ai cả, suốt gần 10 năm đi kháng chiến cũng không hề làm thiệt mạng một con thú trên rừng chứ đừng nói là con người.” 
 
Nhà văn Nhã Ca kết án ông Nguyễn Đắc Xuân trong Giải Khăn Sô Cho Huế vì đã “đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố để xử tử” và ông Nguyễn Đắc Xuân đáp lại trong bài Hậu Quả Của “Cái Chết” của tôi: “Còn tôi, một sinh viên Phật tử mới thoát ly chưa đầy một năm rưởi, không có quyền hành gì, nếu tôi muốn làm những việc như Nhã Ca viết thì cũng không thể làm được. Không ai cho tôi làm. Nếu tôi tự ý làm, làm sao tôi có thể thoát được sự phê phán của đồng chí đồng sự của tôi, đặc biệt là những người sau nầy không còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến nữa…”
 
Chuyện “thoát ly chưa đầy một năm rưỡi” không chứng minh được ông ta không có quyền giết người, trái lại cũng có thể giải thích ngược, càng tham gia trễ càng phải chứng tỏ nhiệt tình cách mạng cao độ, càng phải giết nhiều người, càng phải lập nhiều công. Nói thế không phải để đánh bồi thêm một người đã ngã nhưng cho thấy lời biện bạch của ông không thuyết phục.
 
Trong tinh thần “Lợi ích của sự ngờ” (Benefit of the doubt), tạm cho những lời người khác kể về các ông chưa đủ bằng chứng kết tội, tuy nhiên, các ông Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân, những thành viên tích cực của phong trào đấu tranh đô thị, hoạt động 26 ngày trong lòng thành phố Huế bị rơi vào tay các ông với nhiều ngàn người dân vô tội bị giết bằng những cách dã man hơn cả bọn diệt chủng Pol Pot mà các ông nói rằng không biết gì, không thấy gì thì trẻ con ngây thơ cũng không tin được.
Và không chỉ ba ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan mà cả thế hệ “nhảy núi” ở Huế trong đó rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ cho đến nay vẫn không biết gì, không thấy gì, không viết gì về Thảm sát Tết Mậu Thân thì quả là chuyện lạ. Hãy thử đặt mình trong vị trí của gia đình các nạn nhân vụ Thảm sát Huế, các ông có nghĩ rằng chính Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân đã giết hoặc biết chắc ai đã giết thân nhân các ông các không? Chắc chắn là có, không thể có lời giải thích thứ ba.
 
Lẽ ra Thảm sát Tết Mậu Thân phải là nguồn thôi thúc cho nhiều tác phẩm văn học lớn nói lên sự đau khổ, sự chịu đựng tận cùng của đồng bào Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Lẽ ra những người đang bị dư luận kết án, nếu thật sự không tham dự vào cuộc tàn sát, thay vì than mây khóc gió trong văn chương hay lao đầu vào cơm áo, nên dành phần còn lại của đời mình đi tìm cho ra cội nguồn gốc rễ để vừa giải oan cho đồng bào mà cũng minh oan cho chính mình. Gia đình nạn nhân còn đó, nhân chứng còn đó, hầm hố còn đó, bạn bè còn đó, chứng tích còn đó, chế độ còn đó. Có thể người đọc vì sự công phẫn chưa nguôi, sẽ không tin hết các điều các ông các bà viết nhưng nếu đúng rồi lịch sử sẽ tin. Nếu không làm thế, cơ chế độc tài này chắc chắn sẽ tàn lụi nhưng tên tuổi Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh v.v… mãi mãi vẫn là những dấu đen ngàn đời không phai.
 
Dư luận khắt khe nhưng không bất công. Suốt 42 năm, các ông các bà có rất nhiều cơ hội để làm sáng tỏ một sự kiện lịch sử mà các ông các bà từng tham dự, nhưng ngoại trừ việc phải trả lời vài buổi phỏng vấn rải rác đó đây, các ông các bà im lặng. Kết án lại những người kết án không phải là cách trả lời mà nhân dân Việt Nam đang muốn biết. Ông Nguyễn Đắc Xuân được gọi là “nhà Huế học” nhưng Huế không chỉ có sông Hương, núi Ngự, lăng tẩm, đền đài mà còn có Bãi Dâu, Khe Đá Mài, khu Gia Hội và hàng chục ngôi mồ tập thể khác. Đời sống của một dân tộc không chỉ gồm những thời đẹp đẽ, vinh quang mà còn cả những giai đoạn đau buồn, tủi nhục. Tại sao các ông các bà không viết? Phải chăng những người “nhảy núi” ở Huế cũng giống như Hun Sen hay tên Khờ Me Đỏ giết chồng bà Samrith Phum năm 1977, đang cố chôn đi quá khứ? Sự im lặng của các ông các bà không phải là một công án thiền mà là lời tự tố cáo lớn tiếng nhất.
 
Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ suy vi và phân hóa nhưng sự kiện một số người dã tâm tàn sát nhiều ngàn người Việt khác trong chỉ vài tuần bằng các phương tiện phi nhân chưa từng có như ở Huế là lần đầu. Vết thương Mậu Thân sẽ không bao giờ lành một khi tội ác chưa được đưa ra ánh sáng. Nền tảng của hòa giải là công lý và sự thật chứ không phải che đậy và lãng quên.
 
Nhiều tác giả đã viết về Thảm sát Mậu Thân. Những dữ kiện trong bài viết này không có gì mới mà đã được nhắc đi nhắc lại. Dụng ý của kẻ viết bài này chỉ muốn nhấn mạnh một điều rằng, nhiều trong số những người “nhảy núi” còn sống ở Huế hay trong và cả ngoài nước, nhưng chắc không sống bao lâu nữa. Tuổi tác của các ông các bà đều trên dưới bảy mươi. Thời gian còn lại như tiếng chuông ngân đã quá dài. Tất cả sẽ là không. Các ông các bà ra đi không mang theo gì cả nhưng sẽ để lại rất nhiều. Vẫn biết con người khó tự kết án chính mình nhưng các ông, các bà vẫn còn nợ dân tộc Việt Nam, nhất là các thế hệ mai sau, câu trả lời cho cái chết của nhiều ngàn dân Huế vô tội.
 
Ngọn nến trước khi tắt thường bật sáng, vì tương lai dân tộc, các ông các bà hãy sáng lên sự thật một lần trước ngày chết.
 
Trần Trung Đạo

Sao phải “mừng đảng”?

Sao phải “mừng đảng”?

Báo Thanh tra: “GDP 190 tỷ USD, mất 20-40 tỷ USD vì tham nhũng”. Tức là tham nhũng đã lấy đi mất lên đến 21,1% tổng sản phẩm trong nước. Nói nôm na là bạn là làm ra 5 đồng thì mất tiêu 1 đồng vì tham nhũng.
Cứ vào dịp cuối năm âm lịch là từ đô thị sầm uất đến nông thôn hẻo lánh, đâu đâu cũng có câu khẩu hiệu “mừng đảng, mừng xuân”. Nhưng hỏi “đảng” là cái gì? Tại sao phải “mừng”? Thì ngay cả chính những người viết câu khẩu hiệu cũng không trả lời thuyết phục được.

1. “Đảng” là cái gì?

Tìm hiểu từ Hiến pháp trở xuống các văn bản pháp luật dưới nữa, không thấy định nghĩa “Đảng là cái gì?”

Còn tra từ điển tiếng Việt online: “đảng” là danh từ chỉ nhóm người kết nối với nhau để cùng thực hiện một mục đích chung nào đó, trong sự đối lập với những nhóm người khác; đồng nghĩa với bè, phái, phe.

Còn có ai muốn biết “đảng là cái gì” rõ hơn nữa thì nên đọc “Cửu bình” trên
Google.

Bài viết này nên hiểu “đảng” (không viết hoa) theo định nghĩa tiếng Việt.

2. Tại sao phải “mừng đảng”?

a. Báo Thanh tra: “GDP 190 tỷ USD, mất 20-40 tỷ USD vì tham nhũng”. Tức là tham nhũng đã lấy đi mất lên đến 21,1% tổng sản phẩm trong nước. Nói nôm na là bạn là làm ra 5 đồng thì mất tiêu 1 đồng vì tham nhũng.

b. Theo nhận định của ông Lê Minh Trí – Phó trưởng Ban Nội chính Trung ươngthì “Tham nhũng chỉ có cán bộ đảng viên thôi…”

c. Thiếu tướng Phan Anh Minh, Phó Giám đốc Công an Tp HCM thì nói thẳng “Hầu hết đối tượng gây ra hành vi tham nhũng từ đảng viên”
Suy luận logic: với abc nêu nêu trên, thì suy ra: “đảng” sinh ra đảng viên, tham nhũng chỉ có (hoặc hầu hết) là đảng viên; riêng tham nhũng lên đến 20% GDP.

Ông Minh còn nói thêm “mà công an không được tổ chức trinh sát đảng viên”, có nghĩa tham nhũng vẫn cứ tồn tại khi còn đảng viên, tức là còn “đảng”.

Vậy là vì có “đảng” mà nhân dân bị mất 20% tài sản và sẽ còn tiếp tục mất nữa. Mà đây là khoản mất phi pháp; còn những khoản mất hợp pháp, con số này cũng không nhỏ đâu!

Ai muốn mừng thì cứ mừng, mừng cũng là quyền con người, miễn đừng ai ép bạn “mừng” là được.

Nếu người bạn mừng đã trấn lột 20% số tiền của bạn thì bạn sẽ “vui mừng” hay “thù hận”?

Đỗ Thành Nhân (Thông Luận)

 

 

Maduro rất tệ, VN còn tệ hơn

Maduro rất tệ, VN còn tệ hơn

Võ Thị Hảo

Cuộc chính biến của Venezuela với tâm điểm bùng nổ vào ngày 23.1.2019 đã đem lại cảm hứng và niềm hy vọng lớn cho cuộc đấu tranh của những công dân nhằm thoát khỏi ách cai trị của nhóm cầm quyền mượn danh „theo con đường xã hội chủ nghĩa“.

Thủ đô Caracas – biển người biểu tình xuống đường phản đối sự điều hành kém cỏi, sự gian lận trong bầu cử và lạm dụng quyền lực, triệt hạ các đảng đối lập của chính phủ dưới quyền Tổng thống Nicolas Maduro. Thật hào hùng, thật đáng vinh danh biển người công dân tự trọng, biết tự vệ, vai kề vai bên cộng đồng để đứng lên phản đối, dám „đuổi“ những kẻ công bộc mà họ đã nộp thuế và thuê với giá quá đắt để điều hành đất nước nhưng đã biển lận, bất tài vô dụng hại dân hại nước.

Những cơn lũ ống thác người cuồn cuộn trên đường Caracas đã và sẽ mãi còn là nguồn cảm hứng kiêu hùng cho hàng tỉ người trên thế giới. Rất nhiều người VN cũng đang hồi hộp theo dõi, mừng thay cho dân Venezuela dù biết rằng tình hình vẫn còn diễn biến và phe dân chủ còn phải trải nhiều gian nan mới đến chung cuộc ngoạn mục.

Xuất hiện “Mặt trời dân chủ”

Venezuela, cũng như Trung quốc, Việt Nam, Cuba và Bắc Triều tiên, lấy cớ theo „con đường xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Marx – Lenin“ để dựng nên thể chế chính trị chỉ phục vụ cho đảng cầm quyền. Đó là thủ đoạn gian ngoan nhất mà nhóm cầm quyền dùng làm công cụ. Đây là cách mỵ dân, bao che cho việc tước đoạt quyền lợi của cộng đồng nhằm phục vụ cho quyền lợi riêng và để kéo dài tham vọng cai trị vĩnh viễn của nhà cầm quyền. Bằng sự tàn bạo không nao núng ngay cả trước mạng sống của hàng triệu người, TQ, Bắc Triều tiên, VN đã áp đặt được ách nô lệ lên người dân, nhưng với người Venezuela, đâu dễ để nô lệ hóa họ.

Một niềm hy vọng lớn, rực rỡ, – ít ra là cho đến thời điểm này- đã mọc lên trong tối tăm của những ngày mà cỗ xe thể chế chính trị phản tự nhiên, phản dân chủ tại Venezuela đang lăn đến bờ vực thẳm tự hoại.

Niềm hy vọng đó mang tên Juan Guaido – trẻ trai sung sức ở độ tuổi 35, lãnh đạo phe đối lập và Quốc hội hợp pháp mới được bầu lên từ ngày 5.1.2019 nhưng đã bị Tổng thống Nicolas Maduro vô hiệu hóa. Bị chính quyền Maduro cầm rời khỏi nơi cư trú, đóng băng tài sản và bị đe dọa tù tội, nhưng đã hiên ngang tuyên bố với gương mặt sáng ngời: „Tôi không tránh né các mối đe dọa hay tấn công vào thời điểm này. Chúng tôi vẫn ở đây và tiếp tục công việc của mình“.

Đại diện cho nhóm các nhà lãnh đạo trẻ cùng thành lập một đảng đối lập năm 2009, J. Guaido từng nhiều năm tham gia đấu tranh cho tự do ngôn luận, thậm chí tuyệt thực để đòi quyền tồn tại của các đảng đối lập và bầu cử tự do. Đến nay, khi quả bom phẫn nộ của nhân tâm đã phát nổ, theo mức độ lạm phát 1.300.000%, với sự ủng hộ của hàng trăm ngàn người dân và phe đối lập, chàng trai này đã hiên ngang tuyên bố là Tổng thống hợp pháp của Venezuela, đưa ra bằng chứng việc tái cử của Maduro là bất hợp pháp vì đã gian lận trong bầu cử, cùng những người biểu tình gây áp lực buộc ông này từ chức.

Vị Tổng thống mới này được sự công nhận nhanh chóng và hỗ trợ tích cực của một số cường quốc dân chủ, đặc biệt là Mỹ, bởi con đường đi của ông là hợp thời đại. Sự việc còn diễn biến cam go. Các nước như Nga, TQ, Cuba, Thổ Nhĩ kỳ vẫn chống lưng cho Maduro. Guaido vẫn chưa nắm chắc phần thắng, nhất là khi Maduro đang có toàn bộ nhân lực, kinh tài và quân đội trong tay, tha hồ dùng chính sách khủng bố để đàn áp lại.

Sự xuất hiện của Guaido không phải là ngẫu nhiên, cũng không xuất phát từ tham vọng giành quyền cai trị cho cá nhân. Chính sai lầm và sự đồi bại của thể chế chính trị theo mô hình xã hội chủ nghĩa đã nẩy sinh mầm độc tự hoại, buộc những nhà bất đồng chính kiến đấu tranh cho dân chủ xuất hiện. Điều đó như một phản xạ tự nhiên nhằm bảo vệ sự sống, khu trú và vô hiệu hóa mầm ung thư kia nhằm cứu lấy sự tồn tại chính đáng của các công dân Venezuela. Đây cũng chính là mô tip logig tự hoại và phản xạ tự bảo vệ của người dân khiến Liên xô và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ.

Tự do: Chính quyền NPTrọng kém chính quyền Maduro 12 bậc:

VN cùng là đồng chí của Venezuela nên có rất nhiều điểm tương đồng trong bộ máy chính trị và những sai lầm trong cách điều hành đất nước, mặc dù VN còn may mắn chưa bị sa vào nạn lạm phát và nạn đói như Venezuela.

Đương nhiên không ai có thể khẳng định rằng, cứ theo đà này, với trữ lượng dầu mỏ của VN cũng đã khai thác cạn kiệt, với những khoản nợ nước ngoài đã vượt ngưỡng nguy hiểm và nạn tham nhũng cùng sự lệ thuộc toàn diện vào TQ, nhà cầm quyền VN cũng đang tự hoại chính mình và không dẫn đến thảm họa đói kém đối với người dân như Venezuela.

Cùng theo con đường xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa Marx- Lenin, nhưng xét về xếp hạng tước đoạt tự do và nhân quyền của người dân thì VN bạo tàn hơn Venezuela tới 12 bậc.

VN bằng mọi cách khủng bố, đàn áp các nhà phản biện xã hội, người bất đồng chính kiến, tuyệt đối không cho phép một đảng nào tồn tại ngoài đảng CS. Chỉ có đảng CS độc tài toàn trị, mỗi cuộc bầu cử đều bị giới quan sát nhận định là không đáng tin cậy hoặc đều bị điều khiển định hướng theo nhà cầm quyền.

Trong khi đó, ở Venezuela, đảng cầm quyền của ông Maduro mang tên đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất – đảng của „giai cấp công nhân và nhân dân lao động“, theo học thuyết „chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21“ và chủ nghĩa Marx- Lenin …cùng vài thứ luận lý hổ lốn lạc hậu khác, dưới sự điều hành của tổng thống Nicolas Maduro,dù ngày càng tận dụng các cơ hội để chuyên quyền độc đoán nhưng vẫn chấp nhận có nhiều đảng đối lập cùng tồn tại, có phần quyền lực trong lập pháp và hành pháp.

So sánh hai đảng cầm quyền VN và Venezuela, VN vẫn nhiều phần nhục nhã hơn Venezuela nếu xét về mức độ độc tài và đàn áp nhân quyền và tự do ngôn luận. Xếp hạng tự do báo chí của VN năm 2018 tụt hạng, ở thứ 175/180, trong khi Venezuela còn khá hơn VN 12 bậc, xếp thứ 143/180 theo đánh giá của Tổ chức phóng viên không biên giới.

Mặt khác, ông Maduro chỉ là người điều hành đất nước kém cỏi, theo khuynh hướng lạm dụng và mới đặt chân sang đầu con đường độc tài, nhưng nhóm cầm quyền mà ông điều hành chưa đến mức bị nhân dân kết tội bán nước hại dân để đổi lấy quyền lực như nhà cầm quyền VN.

Đương nhiên dù chậm, nhưng rồi sẽ đến ngày VN xuất hiện những cuộc biểu tình hàng trăm ngàn người, liên tục, rộng khắp, buộc nhà cầm quyền VN phải trả lại quyền đương nhiên cho dân.

Bao giờ những „mặt trời con“ dân chủ trẻ trung như Juan Guaido của VN xuất hiện ? Họ đã nhiều lần xuất hiện nhưng đã bị triệt hạ bởi sự đàn áp tàn nhẫn của nhà cầm quyền VN để đảm bảo mọi mầm mống dân chủ và tự do đều bị “bóp chết từ thời trứng nước”.

Vì sao sự khủng bố ở VN lớn hơn, lâu dài hơn, đã gần cả trăm năm mà dân VN – ngay cả nhiều người VN sống ở hải ngoại, tại những cường quốc dân chủ – lại cam chịu nô lệ hoặc để mặc hoặc ủng hộ sự nô lệ hóa, rời rã “lạc mất linh hồn” hơn dân Venezuela và nhiều dân xứ khác? Sự sống còn của dân nước Việt buộc chúng ta trả lời và có giải pháp cho nhiều câu hỏi nhức nhối đã từng làm nhiều người nản lòng thoái chí.

Võ Thị Hảo (RFA)

Chúc mừng năm mới

chuc-mung-nam-moi-2018