Vũ Thất

Bảo Bình 1

ĐỜI THỦY THỦ 3 – Chương 3

Từ An Thới qua Hòn Đốc

Hạm trưởng Võ Bằng rời Phòng Tình Hình Bộ Tư Lệnh Vùng, về đến chiến hạm liền cho lệnh họp sĩ quan.

Mười phút sau, anh bước vào phòng họp. Tất cả đứng nghiêm. Anh ra hiệu “ngồi”.

Cố vấn Mỹ mỉm cười:

– Good morning, Captain! Have good day.

– Cám ơn. You too.

Võ Bằng nhìn quanh các sĩ quan, giọng bình thản, dứt khoát:

– Như cũ, công tác tám ngày, nghỉ bến hai. Lần này, trục Bắc đảo – Quần đảo Hải Tặc. Tàu mình từng hoạt động tuyến này chưa?

Mọi người hoặc lắc đầu, hoặc im lặng. Hạm phó lên tiếng:

– Thưa Hạm trưởng, theo tôi biết thì chưa.

– Tôi cũng vậy. Ngẫm nghĩ cũng khá thú vị! Chuyến đầu tiên với tư cách Hạm trưởng lãnh ngay cú… ngựa phi đường xa, từ Mũi Ông Đội cực Nam đến Mũi Trâu Nằm cực Bắc. Tôi tuổi Sửu chớ có là … ngựa đâu!

Tiếng cười rộ nhẹ. Cố vấn Mỹ ngơ ngác, Võ Bằng đành dịch lại, rồi tiếp:

– Phú Quốc cách Hà Tiên khoảng 70 cây số. Quần đảo Hải Tặc cách Hà Tiên chừng một phần ba. Năm 64 tôi từng lên Hòn Đốc khi còn phục vụ trên hải vận hạm. Đảo cát trắng sạch, cây rậm rạp, dân chài khoảng trăm người. Một cụ già dẫn tôi xem mốc chủ quyền – khắc chữ “VIỆT NAM CỘNG HÒA – QUẦN ĐẢO HẢI TẶC”, dưới có hình hai mỏ neo gác chéo. Trên bệ đá, ghi tên 16 đảo, trong đó có Kèo Ngựa, Kiến Vàng, được đặt tên cho hai Tuần duyên hạm.

Anh quay sang cố vấn Mỹ:

– Do you know “Pirate Islands”?

– No, sir.

Vừa dịch xong thì Thiếu úy Ngô Quang hỏi:

– Thưa Hạm trưởng, tên Hải Tặc nghe rùng rợn. Có hải tặc thật sao?

– Ngày xưa, có. Ông bà ta thường đặt tên theo sự kiện. Như đất nền cao ở Mỹ Tho trồng toàn dứa nên đặt Giồng Dứa. Hay một con sông có nhà trên bè nổi dành cho giới thương hồ ghé nghỉ ngơi gọi Nhà Bè.  Quần đảo Hải Tặc xưa là nơi hải tặc ẩn trú. Nay thì không còn. Nhưng thay vào đó, là cộng tặc — và chúng thích hành động ban đêm.

Võ Bằng mở bao thơ đóng dấu MẬT. Mắt lướt quanh bàn họp. Trong lễ bàn giao, các sĩ quan đã xưng tên, chức vụ — nhưng anh chỉ nhớ vài người.

– Sĩ quan Truyền tin? — Anh gọi.

Một người giơ tay. Võ Bằng nhìn bảng tên “Bùi Anh Tuấn”, đưa xấp tài liệu:

– Đây là đặc lệnh truyền tin. Chuẩn bị sẵn tần số liên lạc với hai Tuần duyên đỉnh, hai Chiến thuyền, và Đài kiểm báo 402 trên đảo Hòn Đốc.

Anh lại lướt qua từng người:

– Hải hành?

– Thưa tôi, Trung úy Đặng Thành Tài.

– Anh kẻ hải trình từ đây đến Quần đảo Hải Tặc. Thận trọng tránh khá xa bãi cạn, đá ngầm. Tôi cần đường an toàn, không cần nhanh nhất.

Rồi quay sang Hạm phó:

– Tình trạng kỹ thuật tàu đã kiểm soát chưa? Súng? Đạn? Xuồng? Phao nổi?

– Đã kiểm tra. Tất cả khiển dụng, đầy đủ, thưa Hạm trưởng.

– Tốt.

Anh nhìn sang Sĩ quan An ninh:

– Có ai lạ trà trộn? Tàu này có thể tin cậy chứ?

– Thưa Hạm trưởng, trăm phần trăm. Không có ai đáng nghi ngờ.

Thiếu úy Dương Công Đức – phụ trách ẩm thực – nhăn mặt:

– Về thực phẩm… An Thới quá thiếu rau thịt trái cây. Trước đây, cựu Hạm trưởng cho tàu đi chợ Hà Tiên hoặc Rạch Giá. Hiện tại, lương thực chỉ đủ ba ngày.

Võ Bằng gật đầu:

– Đồng ý. Nếu kẹt hành quân, ta ăn cá tôm cua mua từ ngư dân.

Người cười, người lắc đầu. Võ Bằng quay sang cố vấn:

– Anh hiểu chứ?

– Not all. Something about eating crab?

– Exactly. When rations are low, we look for fisherman.

Tiếng cười rộ lên. Võ Bằng nhìn sang sĩ quan cơ điện:

– Nhiên liệu tàu?

– Hầm dầu đầy, thưa Hạm trưởng.

– Tốt.

Võ Bằng đứng dậy:

– Cho tập họp tất cả. Tôi cần nói đôi lời.

Tiếng còi tập họp nổi lên. Các sĩ quan rời phòng, lên boong chính. Trên đường đi, anh dặn dò cố vấn Graham sẵn sàng không yểm khi cần.

Ít phút sau, Võ Bằng đứng trước hàng quân chỉnh tề:

– Anh em Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm. Đây là tàu của chúng ta. Là nhà, là pháo đài, là chốn sống chết. Chúng ta ăn, ngủ, hành quân cùng nó. Vì thế, mọi người đều có trách nhiệm.

Giọng anh trầm xuống:

– Tôi mong mỗi người mang hết khả năng hải nghiệp của mình để hoàn thành mỹ mãn công tác. Mọi sáng kiến cải tiến đều được hoan nghênh. Tôi đặt trọn niềm tin vào anh em.

Võ Bằng dứt lời. Cả boong tàu lặng như tờ. Rồi nở ra những nụ cười mỉm, tự hào. Lệnh giải tán được ban ra.

Năm phút sau — còi nhiệm sở vận chuyển vang lên…

***

Đứng bên hữu mạn đài chỉ huy, Võ Bằng lặng nhìn khối sắt khổng lồ rời cầu, lướt nhẹ qua từng lượn sóng nhịp nhàng thư thả tiến ra khơi.

Anh tựa tay lên thành thép mới sơn, thở nhẹ. Gió đầu mùa Đông Bắc mơn man khuôn mặt, mang theo mùi mặn dịu dàng của biển khơi. Trời cao, nước biếc đón mừng tân Hạm trưởng.

Anh bước chậm tới chiếc ghế dành riêng cho mình, thả lỏng người. Một làn hơi ấm chạy khắp sống lưng. Nhẹ nhõm. Mọi xui rủi đã lùi lại phía sau. Ước mơ ngày xưa giờ đây đã là thực tại.

Một ngày nào đó, anh sẽ về quê Đa Phước khoe với ba mẹ rằng thằng con đi học Sài Gòn, ngày ngày cuốc bộ đến trường, không tiền về quê nghỉ hè, phải mò xuống bến chợ Bình Tây xin quá giang ghe chài và chỉ dám mơ ngày được làm tài công, mà nay nó ngồi ở ghế chỉ huy một chiến hạm Hải quân.

Võ Bằng nhất định mời cho được ba mẹ lên Sài Gòn thăm viếng, nhìn tận mắt chiếc trợ chiến hạm. Anh không tưởng tượng được niềm hãnh diện của ba mẹ ra sao!

Đồng hồ chỉ đúng 10 giờ. Máy tiến 3. Tốc độ 10 hải lý. Phiên trực đầu tiên của Chi đội 1. Trung úy Đỗ Văn Lũy đứng phiên, bên mạn tả. Ba người luân phiên giữ tay lái, hai quan sát viên ở vị trí. Radar và máy đo độ sâu đang hoạt động tốt.

Chiến hạm lướt qua Hòn Rơi, đổi hướng 090 độ, cắt ngang Hòn Dăm Ngoài. Rồi rẽ lên 045, hướng về Mũi Ông Đội — điểm cực nam Phú Quốc. Nơi đó, năm xưa, anh từng chứng kiến một tai nạn lật ghe: biển lặng, trời quang, vậy mà một đợt sóng đột ngột dội vào, ghe lật úp, chìm luôn, ba ngư dân suýt mất mạng, nếu tàu không kịp cứu.

Chiến hạm không sợ sóng, chỉ ngại rạn san hô lờ mờ như bóng ma rình rập. Hải trình đã kẻ tránh chúng, nhưng chẳng bao giờ được chủ quan. Anh đang ở vào vị trí không còn ai để chia sẻ quyết định, không còn lý do để quy lỗi về người nào khác.

Trên hải đồ, dòng chảy ngầm đã hiển lộ. Gió mùa Đông Bắc chính thức bắt đầu. Võ Bằng quay sang sĩ quan trực phiên:

– Nếu không có biến cố, ba tiếng nữa sẽ đến Hải Tặc. Tức khoảng 2 giờ chiều. Kiểm soát tọa độ mỗi 15 phút. Nhớ, các anh sai, tôi mất chức đã đành, thậm chí tính mạng cả tàu lãnh đủ. Hãy luôn nhớ: một hải trình êm đềm, chỉ trên… hải đồ!

Chợt nhớ kinh nghiệm nội tuyến, anh hỏi Hạm phó:

– Lâu rồi không thực tập phòng tai?

– Dạ, khoảng ba tháng.

– Vậy rất nên thực tập. Anh cho báo động giả định “cháy ở hầm máy, chạm điện”.

– Rõ. Thưa Hạm trưởng.

Hạm phó rời đài chỉ huy. Vài phút sau — chuông khẩn cấp vang lên dồn dập, xé toạc trưa yên ả. Loa nội bộ vang tiếng Hạm phó:

“CHÁY HẦM MÁY! CHÁY HẦM MÁY! Toán 1 – vòi chữa lửa, tiếp cận cửa hầm!”

Cả chiến hạm chuyển động. Nhân viên chạy ào về sân trước – sân giữa. Tiếng bước chân rầm rập vang khắp tàu. Giọng Hạm phó gấp gáp:

– Báo cáo Hạm trưởng có tiếng nổ ở máy chính! Dầu cặn trào ra, lửa bốc cao, khói dày đặc. Hai nhân viên cơ khí đã khóa các van nhiên liệu. Lửa hạ rồi lại bùng lên ở bảng điện. Có tia lửa tóe mạnh.

Võ Bằng cầm ống loa:

“Toán 2. Mặc áo cứu hỏa, đeo mặt nạ dưỡng khí. Xuống hầm máy! Thi hành ngay!”

– Xin Hạm trưởng báo cho họ biết máy điện tắt, cầu thang, sàn trơn trợt, phải hết sức cẩn thận. Có hai nhân viên bất tỉnh, xin cho toán cấp cứu.

Một lúc sau, Hạm phó gọi lên:

– Toán 2 đã mở van CO₂. Khí trắng đục đang phun từ trần xuống. Nhân viên đã rút ra. Cửa hầm đã khóa kín.

Trên boong, hạ sĩ y tá đang ép ngực hồi sinh cho một thủy thủ bất tỉnh. Một người khác nằm quấn chăn cách nhiệt.

– Vị trí chiến hạm? – Võ Bằng hỏi.

Sĩ quan trực phiên đáp nhanh:

– Nằm trên hải trình. Cách Hòn Đốc 18 hải lý.

Võ Bằng gật đầu, rồi xuống boong quan sát trực tiếp việc cứu thương. Ngực người lính trẻ phập phồng. Mắt anh hé. Tiếng thở hắt ra.

Võ Bằng gật đầu hài lòng. Sĩ quan và nhân viên đã có phản ứng nhanh chóng và đúng bài bản. Anh ban lệnh:

– Giải tán nhiệm sở phòng tai.

Loa nội bộ vang lệnh chấm dứt báo động. Trên tàu, nhịp sinh hoạt dần trở lại. Nhưng mọi ánh mắt đều rạng rỡ – vì họ biết: trong tình huống thật, họ đã sẵn sàng.

***

Bữa cơm trưa diễn ra giản dị. Món ăn không nhiều, nhưng ai cũng vui nhất là sau một cuộc thực tập vất vả, thành công. Qua các câu chuyện trao đổi trong bữa ăn, Võ Bằng hiểu phần nào tính tình các sĩ quan. Và rất tình cờ, chưa ai lập gia đình.

Còn mệt mỏi, anh sớm rời bàn về phòng riêng. Phòng hẹp nhưng tiện nghi: tủ đứng, bàn rộng, bồn rửa mặt, phòng tắm nhỏ. Tàu chiến mà như tổ ấm. Anh mở ba lô. Lấy ra khung ảnh mẹ và con, đặt lên mặt bàn. Nhẹ tay, như đang nâng niu. Hai bộ pyjama ở tầng trên. Giữa: ba bộ quân phục, hai xanh, một trắng. Đôi giày trắng đặt ngay ngắn ở tầng cuối. Dao cạo râu, bàn chải, xà bông Dove, kem đánh răng đã dùng đêm qua. Mọi thứ đều đơn giản cho chuyến đi xa nhớ đời. Chuyến đi bất ngờ nhưng đủ cho anh thấy mình… sống thực, đáng sống.

Anh buông người xuống giường với nguyên cả bộ quân phục đang mặc. Lưng chạm nệm, mắt chạm trần, đầu óc lướt qua hai ngày đi – đứng – nói – họp … Thêm trò chuyện với cựu Hạm trưởng tới gần sáng.  Người anh mỏi đừ, mắt từ từ khép lại bằng dáng hình tiên nữ…

13 giờ 15. Võ Bằng choàng dậy. Mắt nhòe, nhưng bên tai là tiếng máy đều đều. Anh lắng nghe thêm: vẫn là âm thanh của vận tốc đường trường. Tàu êm như đang trong sông. Anh vào phòng tắm rửa mặt, chỉnh quân phục. Rồi lên đài chỉ huy…

Võ Bằng bước vào, sĩ quan trực hô lớn: “Nghiêm!”. Anh phất tay: “Nghỉ!”

Rồi đứng cạnh thành đài hữu hạm. Buổi trưa thật đẹp: trời cao, gió nhẹ, nắng ấm. Vài sợi mây trắng lặng lờ trôi. Hạm phó đứng cạnh, nói:

– Trời đẹp quá, thưa Hạm trưởng.

– Cổ nhân có nói: “Trời yên, biển lặng thường là dấu hiệu của biển sắp động mạnh.”

Anh nói mà bâng khuâng. Hai năm ở bờ, liệu thân thể anh còn quen sóng gió. Anh nâng ống dòm. Hòn Đốc đang lờ mờ hiện. Mười sáu đảo nhỏ còn ẩn đâu đó. Anh nhìn các bãi cạn trên hải đồ. Rồi nhìn xuống biển. Nước trong vắt. Những rạn san hô xa xa như những vết loang mực màu.

Anh nghiêng đầu:

– Báo chiều sâu khi có thay đổi.

– Rõ, thưa Hạm trưởng.

Tuần phòng vùng này, Võ Bằng ngại nhất là các bãi cạn và hai đảo chìm. Nhưng có lo thì cũng chẳng thể ôm đài chỉ huy 24/24. Chỉ việc nghe lời cụ Nguyễn Hiến Lê quẳng gánh lo đi và vui sống. Anh đặt hết niềm tin vào các sĩ quan. Họ đều tỏ ra linh hoạt, hiểu biết, hy vọng không phạm các sai lầm … không thể tha thứ! Ai cũng có thể sai lầm. Chính những sai lầm mới giúp họ trở thành một Hạm trưởng bản lãnh.

Võ Bằng hỏi sĩ quan đương phiên:

– Anh xuống tàu này bao lâu rồi?

– Dạ, mới một tháng.

– Đơn vị cũ?

– Giang đoàn 75 Thủy bộ.

– À, sông Cái Lớn – Cái Bé! Tôi nghe danh, chưa từng ghé qua. Đơn vị anh và Giang đoàn 74 đánh đấm ác liệt. Hết sông Cái Bé đến Trèm Trẹm. Tôi đọc báo cáo mỗi ngày.

Tuấn trố mắt nhìn Hạm trưởng. Anh cười:

– Tôi đến từ Trung Tâm Hành Quân Bộ Tư Lệnh.

Tuấn nhìn quanh rồi rụt rè:

– Nhà ba má tôi ở sông Cái Lớn. Nếu mai mốt tàu công tác vùng Rạch Giá… xin mời Hạm trưởng ghé nhà… nhậu.

Võ Bằng bật cười:

– Tôi ghé để thăm hai bác. Nhậu là không có tôi.

– Dạ… thì không nhậu!

Hạm phó lên tiếng:

– Thưa Hạm trưởng, có phải phu nhân là người ngồi cạnh Hạm trưởng đêm qua?

Võ Bằng lại bật cười:

– Dựa vào đâu mà anh có ý tưởng như vậy?

– Thì thấy nói cười thân mật.

– Hễ các cô nói cười thân mật là vợ sao?

– Chúng tôi muốn biết để chào kính cho đúng phép.

– À! Tôi chưa vợ. Đêm qua, chỉ vì lịch sự mà phải bám trụ thôi. Ngoài đời, cô nào càng đẹp tôi càng tránh xa.

Hạm phó mỉm cười:

– Coi bộ đúng câu nói của cổ nhân.

– Cổ nhân nói gì?

– Thưa Hạm trưởng, cổ nhân hiếm khi nói sai: “Ghét của nào, Trời trao của nấy!”

Tiếng cười lan nhẹ trên đài chỉ huy. Võ Bằng đứng lặng một lúc lâu. Tàu đang lướt gần một đảo thấp. Trơ đá, trơ cây. Nước xanh đến độ nhìn thấy đáy. San hô đủ sắc màu. Và rồi… hình ảnh Huỳnh Như Oanh lại hiện ra như hồn biển hóa thân, một thủy thần tuyệt sắc.

Cơ duyên nào đã đẩy đưa nàng đến ngồi cạnh anh đêm qua, cười nói như quen nhau từ tiền kiếp? Dù nàng là bào muội của Tư lệnh phu nhân, nàng vẫn bí ẩn đến… phiền lòng. Nàng chưa thực sự thuộc về ai. Sắp thôi, nhưng đủ là lý do để nàng hiện diện nơi khỉ ho cò gáy này? Đại huynh nào ở đây được cái may mắn trời cho?

Võ Bằng chợt nhận ra mình lẩm cẩm. Đã dứt khoát tránh né mọi giai nhân mà cứ ngẩn ngơ, thắc mắc…

– Trình Hạm trưởng có công điện thượng khẩn.

Võ Bằng quay người. Anh vô tuyến bước tới trao mảnh giấy. Đọc xong, anh trầm giọng:

– Có công ăn việc làm rồi. Báo hầm máy, hai máy tiến Full.

(còn tiếp)

Vũ Thất

Đời Thủy Thủ 3 – Chương 2

Tiếp nhận quyền chỉ huy

Sáng ngày 14 tháng 11 năm 1969, lúc 9 giờ 30, chiếc Cessna bốn chỗ bay vòng, chao đảo như con chim bị thương khi hạ cánh xưống phi trường An Thới lót bằng vỉ sắt. Các bánh lăn chậm dần rồi dừng hẳn trước mũi Ông Đội. Một vùng nước long lanh mở rộng xa khơi cực Nam Phú Quốc.

Art by James Flood

Võ Bằng xách ba lô xuống phi cơ cùng một quân cảnh Việt và hai quân nhân Mỹ hướng về trạm chờ có biển đề trên cao: “An Thoi International Airport.” Một cợt đùa mỉa mai cho một phi trường dã chiến chỉ dành cho phi cơ quân sự nội địa.

Anh tài xế chạy vội đến tiếp giúp mang hành lý. Hải Quân Đại Úy Lý Quý Lân Hạm trưởng sắp mãn nhiệm bắt tay người bạn cùng khóa đến thay thế.  Cả hai cười nói, rảo bước về chiếc Jeep chờ sẵn. Lân lái, Bằng ngồi cạnh. Đây là lần thứ ba Võ Bằng đến An Thới nhưng khác hai lần trước, lần này anh đến bằng đường hàng không. Con đường đất sỏi lọc xọc dọc ven biển dẫn vào khu quân sự tách thành hai ngõ: một rẽ phải dẫn lên ngọn đồi về Trại giam Phiến Cộng, và một rẽ qua Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận và Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 4.

Khi xe hướng vào cầu tàu, Lân điểm nhanh chương trình sinh hoạt trong ngày. Buổi sáng lễ bàn giao, nhân viên mặc quân phục làm việc thay vì tiểu lễ. Buổi tối, tiệc khoản đãi tại tư dinh Tư Lệnh Vùng.

Chiếc HQ 266 cập sát cầu. Những con số hiện lên rõ ràng trong trí anh: chiều dài 50 thước, chiều rộng 8 thước. Sĩ quan 7, hạ sĩ quan và đoàn viên 60. Trợ chiến hạm nhỏ hơn hộ tống hạm, bề thế một tám một mười, nhưng về hỏa lực thì trợ chiến hạm có phần lấn lướt đôi chút. Cùng trang bị một khẩu đại bác 76 ly, hai khẩu 40 ly nhưng một chiếc thì 40 ly nòng kép, một chiếc nòng đơn.

Hạm Trưởng Lân bước lên tấm ván bắc lên tàu. Sĩ quan, hạ sĩ quan trực chào tay. Tấm ván gập ghềnh, nhún nhảy khiến Võ Bằng liên tưởng đến những thử thách đợi chờ phía trước. Để ba lô trên cầu, Đại Úy Bằng theo sau. Vừa đặt chân lên boong, Võ Bằng chào Quốc kỳ treo sau lái. Anh nói khẽ với hạ sĩ quan trực:

– Nhờ anh cho người mang ba lô của tôi về phòng hạm trưởng.

Một đại úy Mỹ đứng cạnh hạm kiều chào Hạm trưởng Lân. Rồi bước sang chào Bằng:

– Lieutenant William Graham, USN.

– Nice to know you. Can you speak Vietnamese?

Đại Úy Graham bắt tay, ngọng nghịu:

– Chút chút. Hân hạnh được làm việc với ông, Captain.

Võ Bằng cảm thấy hứng khởi. Có một cố vấn biết điều cũng không đến nỗi tệ.

Thủy thủ đoàn tập họp ở sân sau. Tiếng hô “Nghiêm” vang lên. Một Trung Úy từ hàng đầu bước ra, chào trình diện:

– Sĩ quan trực báo cáo: Quân số 67, 3 đi phép. Hiện diện 64.

Hạm Trưởng Lân hô “Nghỉ”. Khi sĩ quan trực đã trở về hàng, anh nghiêm giọng nói:

– Sĩ quan, hạ sĩ quan và đoàn viên Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm HQ 266. Tôi hân hoan giới thiệu với các anh, Hải Quân Đại Úy Võ Bằng, người thay thế tôi chỉ huy chiến hạm kể từ giờ phút này.

Một tràng pháo tay nổi lên. Tân Hạm trưởng bước đến hàng sĩ quan. Người đầu tiên hất mặt:

– Hải Quân Trung Úy Phạm Lê Tiến, Hạm Phó.

Võ Bằng gật đầu, chìa tay. Hai bàn tay nắm chặt.

Dãy sĩ quan lần lượt xưng danh, chức vụ. Giọng rắn rỏi, dáng quân phong.

Tiếng hô vang:

– Sĩ quan. Bước tới hai bước.

Hàng hạ sĩ quan lần lượt giới thiệu, bắt đầu là Thượng sĩ Trọng pháo Đinh Công Tâm, Quản Nội Trưởng.

Sau khi trở về trước hàng quân, cựu Hạm Trưởng phát biểu:

– Trong mười bốn tháng qua chúng ta đã đạt thành tích đáng kể. Bắt hai tàu tiếp tế vũ khí. Khám xét và xua đuổi hàng trăm tàu đánh cá xâm phạm lãnh hải. Chúng ta cũng đã yểm trợ hải pháo hiệu quả cho các cuộc hành quân và tiền đồn ven biển. Tôi hãnh diện và biết ơn sự tận tụy của các anh. Tôi sẽ nhớ mãi các anh và mong có dịp gặp lại nhau ở các đơn vị sau này. Hôm nay mệnh lệnh cuối cùng của tôi là: Hãy tuân lệnh Đại Úy Võ Bằng như các anh đã từng tuân lệnh tôi. Cầu chúc tân Hạm trưởng và chiến hạm đạt nhiều thành tích trong thời gian tới. Tạm biệt tất cả.

Võ Bằng tiến đến máy vi âm:

– Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Đoàn viên. Tôi mong được tất cả tin tưởng, thương mến và hợp tác như đã dành cho cựu Hạm trưởng. Cám ơn các anh đã gìn giữ chiến hạm sạch sẽ, tươm tất và sẵn sàng. Cho tôi gởi lời thăm hỏi gia đình các anh.

Hạm Phó dõng dạc: “Nghiêm. Chào tay, chào.” Tất cả đồng loạt đưa tay lên ngang mày. Hai Hạm Trưởng chào đáp rồi rời vị trí hành lễ. Lệnh tan hàng vang lên.

Võ Bằng bảo Hạm Phó:

– Anh cho nhận còi nhiệm sở vận chuyển. 

Tiếng còi “te tích” dồn dập vang lên. Mọi người túa về vị trí chỉ định. Trên đài chỉ huy, Võ Bằng ngước nhìn lá cờ phất phới định hướng gió rồi ra lệnh tháo hết dây. Anh tiếp tục ban các lệnh cần thiết để tách con tàu rời cầu. Lần đầu trong tư cách chỉ huy, anh ban lệnh dứt khoát và phản ứng của tàu chính xác. Anh thấy mừng thầm và vững tin hơn.

Anh nhắc Hạm phó:

– Cho còi trực phiên hải hành.

Hạm phó đích thân nhận còi hiệu Chi đội 1 lên phiên.

Tiếng còi vang lên nhịp nhàng. Võ Bằng cho máy tiến 1 rồi tiến 2 hướng thẳng ra khơi. Anh hỏi Hạm Phó:

– Tốc độ tối đa của tàu là bao nhiêu?

Tiến đáp nhanh:

– Thưa Hạm Trưởng, tốc độ là 12 gút, máy tiến 4. Chỉ khi khẩn cấp, máy đạt tối đa là 14 gút.

– Khi tuần tiễu, thường là tốc độ nào?

– Thưa, tiến 2, tốc độ 6 gút, tiết kiệm dầu tối đa.

– Với tốc độ 6 gút, tầm hoạt động của tàu là bao xa?

– Thưa 5 ngàn hải lý.

– Hai máy chánh hiệu gì?

– Thưa, General Motors.

Võ Bằng mỉm cười hài lòng:

– Từ phút này tôi giao Hạm Phó quyền chỉ huy. Lo liệu để trở về cập cầu lúc 1 giờ.

Hai Hạm Trưởng rời đài chỉ huy, đi một vòng kiểm soát vũ khí, đạn dược; rồi đến trắc nghiệm các khu vực chức năng: Truyền Tin, Chiến Báo, Y tế; kế đến thanh tra phòng ngủ, nhà bếp, nhà ăn.  Nơi nào cũng sạch sẽ, ngăn nắp.

Cuối cùng, cả hai theo cầu thang thẳng đứng, xuống tầng đáy tàu.  Thời còn làm Hạm Phó Hộ Tống Hạm Đống Đa, mỗi lần xuống đó Võ Bằng đều hết sức thận trọng. Một là không khí nặng mùi dầu mỡ, ánh đèn thì lờ mờ. Hai là các bậc thang âm ẩm trơn trợt. Nay càng thêm thận trọng. Hạm trưởng gặp tai nạn là cả vấn đề. Nhưng dù có thế nào, đã là Hạm trưởng thì phải thông hiểu … trái tim của con tàu, phải biết vị trí máy chánh máy ở đâu, máy điện nơi nào, cách vận hành ra sao. Dù đã nghiên cứu Cẩm Nang thì cũng chỉ là… lý thuyết.

 Thiếu Úy Cơ Khí Ngô Quang nghiêm chỉnh chào đón. Tàu thì từ thế chiến hai nhưng các máy chánh và máy điện đều mới tinh. Tiếng máy lấn át tiếng người, nhưng Võ Bằng vẫn thông hiểu các hướng dẫn.

Trên đường về phòng họp, Võ Bằng khen bạn:

– Đúng là phong cách Lý Quý Lân từ thời quân trường. Dù đang công tác mà tàu đâu vào đấy!

Lân cười:

– Thật ra tao sợ tàu dơ, mày không nhận. Mày cũng đâu… dễ tánh!

Võ Bằng gục gặc:

– Sáng nay, tao thấy sàn tàu còn vài nơi lốm đốm sơn chống rỉ sét.

– Thì đang công tác mà. Trăm phần trăm sao nổi.

– Tao nhận hôm nay chỉ mong sau này bàn giao, không bị từ chối!

 Cả hai phá lên cười bước vào phòng ăn cũng là phòng họp. Chiếc bàn cho tám người đặt xuôi theo lòng tàu. Các sĩ quan đứng lên. Võ Bằng ra dấu mời ngồi.

Tân Hạm trưởng ngồi đầu bàn, bên phải ông cựu, Cố Vấn bên trái, các sĩ quan theo thâm niên. Trước mặt là chồng hồ sơ, nhiều quyển sổ bìa đen cứng.

Võ Bằng quay sang Graham:

– Mister Graham, this is a procedure of changing hands, you may leave if you like.

Giọng của Bill chân thành:

– Tôi thích dự để học.

Câu trả lời khiến Võ Bằng vui vui. Đối tác quả là biết điều.

Anh nhấc quyển Sổ Trực nhật, đọc lướt rồi cùng Hạm trưởng mãn nhiệm ký tên. Quyển sổ được giao sĩ quan trực nhật. Sổ Nhật ký Hải hành, giao cho sĩ quan hải hành. Các sổ khác lần lượt xem xét, ký tên, giao cho Trưởng ban tương ứng.

Võ Bằng hỏi Lân:

– Còn Hồ Sơ Mật?

Lân gật đầu:

– Sẽ bàn giao khi lên phòng Hạm Trưởng.

Võ Bằng nhìn qua một lượt các sĩ quan, nhắn nhủ:

– Tôi không có ý định thay đổi chức vụ của các anh. Điều tôi mong mỏi là các anh tích cực cải tiến ban của mình; đồng thời hợp tác chặt chẽ với nhau, giúp chiến hạm luôn trong tình trạng sẵn sàng.

Tiếng còi nhiệm sở vận chuyển vang lên. 12:45. Võ Bằng nhìn quanh:

– Cập cầu xong chúng ta dùng cơm trưa. Tối nay, đúng 7 giờ, trừ sĩ quan trực, chúng ta dự tiệc tống cựu nghinh tân của Tư Lệnh Vùng…

***

Sân sau Tư dinh Hải Quân Đại Tá Lương Đình Thám nằm trên đồi. Tiếng sóng rì rào và hoàng hôn vàng óng trên những cành dừa xanh. Gió rất nhẹ, như là một báo hiệu cuối mùa giông bão.

Năm chiếc bàn dài bày biện hải sản tươi, bếp lò ga lò nướng. Mỗi bếp có một dân địa phương phục vụ. Bia, rượu và ly do Cố Vấn cung cấp.

Tư Lệnh Vùng thân mật chào đón. Các sĩ quan tùy ý chọn bàn, trừ bàn dành cho sĩ quan cao cấp và hai Hạm trưởng. Do cấp bậc… không cao, Bằng và Lân đối diện nhau cạnh Tư lệnh phu nhân ngồi cuối bàn.

Qua phong thái lịch duyệt và duyên dáng, bà vui vẻ nói:

– Ông nhà tôi thường nhắc hai Hạm trưởng là hai khóa sinh ưu tú.

Lân lịch sự đáp lời:

– Tư lệnh quá khen.

Nghe tiếng kéo ghế, Võ Bằng quay lại. Tim anh như ngưng đập. Người con gái ấy – đôi mắt to tròn, tóc uốn thả lơi, môi cười mỉm – chìa tay:

– Chào anh. Tôi, Huỳnh Như Oanh.

– Võ Bằng. Hân hạnh.

Võ Bằng né tránh người đẹp suốt hai năm qua, hôm nay như một bù trừ, thượng đế giáng trần một tiên nữ cận kề không còn đường đào thoát.

Vừa ngồi an vị, tiên nữ nhìn sâu mắt Bằng:    

– Anh có đọc truyện “Ba người con gái của Lương phu nhân”? Tôi là em gái của Lương phu nhân.

Võ Bằng mỉm cười:

– Tôi biết Lương phu nhân của Pearl Buck. Bà ấy sinh vào thế kỷ trước. Thoạt đầu tôi nghĩ cô là tiên nữ giờ xin đổi là … ma nữ!

Huỳnh Như Oanh thích thú cười dòn, chỉ Tư lệnh phu nhân:

– Tôi nói thiệt mà! Lương phu nhân đang ngồi cạnh anh đó.

Đại tá Lương Đình Thám gõ chén, đứng lên. Ông tuyên bố khai mạc:

– Sáng nay lẽ ra tôi chủ tọa lễ bàn giao quyền chỉ huy chiếc Trợ Chiến Hạm Rạch Gầm nhưng ban tham mưu bận thanh tra Duyên Đoàn 46. Buổi họp mặt chiều nay mục đích là để cáo lỗi buổi sáng. Chúng ta hãy nâng ly chia tay cựu Hạm Trưởng Lý Quý Lân và đón chào Tân Hạm Trưởng Võ Bằng. Tôi cầu chúc cả hai Hạm Trưởng hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ mới.

Đợi tiếng vỗ tay chấm dứt, Tư Lệnh tóm lược bằng tiếng Mỹ, rồi tiếp tiếng Việt:

– Nhân dịp này, tôi còn muốn giới thiệu cùng các anh mười cựu khóa sinh của Trường Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân trong thời tôi giữ chức Hiệu Trưởng. Nói rõ hơn là các cựu khóa sinh khóa 11, khóa 12 và khóa 13.  Đặc biệt có hai khóa sinh khóa 11 cùng lên đại úy sớm nhất, cùng làm Hạm trưởng cùng tàu. Mời các cựu khóa sinh đứng lên trình diện quan khách.

Một tràng pháo tay vang dội ngọn đồi. Võ Bằng vừa ngồi xuống thì Như Oanh hỏi ngay:

– Cùng khóa, cùng tàu… Sao anh Bằng là Tân mà anh Lân là Cựu?

Võ Bằng cười cay đắng:

– Tại, do, bị… mỹ nhân kế!

– Thiệt hại cỡ nào?

– Đủ để thành…tân Hạm Trưởng!

Như Oanh bật cười thích thú:

– Vậy tôi nên chia vui hay chia buồn?

Lương phu nhân xen vào:

– Đại úy đừng chấp nhứt. Nó sắp lấy chồng mà lúc nào cũng nghịch ngơm. Thôi! Mời vào vào tiệc.

Phu nhân chọn mực nướng. Hạm Trưởng Lân chọn nguyên con ghẹ. Võ Bằng hỏi Như Oanh thích ăn gì. Cô hỏi lại:

– Anh thích ăn gì. Còn có biên mai, bào ngư, cá bống mú.

Cuối cùng cả hai chọn cá bống mú nướng. Trong khi chờ cá chín, Như Oanh hỏi:

– Mỹ nhân kế thế nào?

Không muốn trả lời Võ Bằng trêu ghẹo:

– Thế nào là thế nào?

– Mỹ nhân kế thì thiên hình vạn trạng. Hạm trưởng Bằng bị va vào hình trạng nào?

Bằng cười:

– Chuyện nhỏ! Bỏ đi tám. Hãy nói chuyện lớn. Chúc mừng cô…

Huỳnh Như Oanh chận ngang:

– Sắp thôi. Sắp đám hỏi. Sắp nghĩa là chưa xảy ra. Mà sắp đám hỏi thì càng mong manh, hủy bỏ lúc nào chả được!

Thấy Bằng trợn mắt, Huỳnh Như Oanh cười:

– Chuyện nhỏ. Mỹ nhân kế mới là chuyện lớn. Như Oanh rất muốn nghe.

Xem ra tiên nữ không chịu bỏ cuộc nửa chừng, Võ Bằng vắn tắt cho xong:

– Đại khái thuở còn là Hạm phó, một hôm, một người đẹp đến tận chiến hạm xin đi quá giang. Tôi xem giấy phép hợp lệ nên xin Hạm trưởng cho đi. Cô nàng dựa hơi quen biết Hạm phó, lính canh nể nang nên mang trót lọt quả bom xuống tàu. Hóa ra là nữ đặc công Việt cộng, dùng giấy phép quá giang giả.

Như Oanh trố mắt nhìn anh kêu lên:

– Trời! Có ai bị gì không?

Võ Bằng cười thật tươi:

– Không! Giờ chót, cô ta đem lòng yêu Hạm phó nên không cho bom kích nổ!

Như Oanh cười lớn:

– Nói y như thiệt!

(Còn tiếp)

Vũ Thất

ĐỜI THỦY THỦ 3 – Chương 1

                                                         … Hai năm sau

Chương 1

Trình diện Mặt Trời

Đúng 8 giờ sáng như mọi ngày, phòng thuyết trình của Trung Tâm Hành Quân Bộ Tư Lệnh Hải Quân tiếp nhận đầy đủ các quan cao cấp. Đề đốc Tư Lệnh Hải Quân đảo mắt nhìn khắp các khuôn mặt tham dự: Phó Đề đốc Tư lệnh phó; hai Phó Đề đốc phụ tá hành quân sông và biển; các Đại tá Tham Mưu Trưởng, Trưởng Khối; các Trung tá, Thiếu tá Trưởng phòng.

Như thường lệ, Trưởng Phòng Tình Báo trình bày tình hình địch. Trưởng Phòng Hành Quân điểm lại hoạt động các đơn vị bạn. Đại úy Võ Bằng thuộc Trung Tâm Hành Quân, tường trình về hoạt động các đơn vị Hải Quân 24 giờ qua. Nhiều câu hỏi được đặt ra đều được giải đáp thỏa đáng. Tiếp đó, các phòng sở báo cáo trở ngại trong điều hành. Buổi họp kéo dài một giờ kết thúc bằng câu quen thuộc của Tư Lệnh: “Cám ơn tất cả.”

Khi tất cả đã rời khỏi, Võ Bằng đến bàn giải khát, rót đầy ly cà phê rồi mang về bàn riêng trong phòng kế hoạch bên cạnh. Giai đoạn căng thẳng nhất trong ngày đã trôi tốt đẹp. Thời gian còn lại là tà tà đọc công điện từ các đơn vị khắp bốn vùng Duyên Hải và hai vùng Sông Ngòi; phân tích, tổng hợp, chuẩn bị cho buổi thuyết trình sáng hôm sau.

Võ Bằng hớp vài ngụm cà phê, châm mẩu thuốc lá, uể oải thả khói. Khay công văn đến hãy còn trống. Có lẽ xếp đang đọc và ghi chú “Đại úy Bằng thi hành.” Sếp ngồi trong phòng dành riêng, cách ba bàn viết của các sĩ quan trực hành quân và một bí thư.

Võ Bằng hít một hơi thật sâu, ngửa mặt thả khói. Các vòng tròn nho nhỏ uốn lượn nối tiếp tuôn ra, rồi tan biến. Từ phòng riêng, Sếp từng nhìn thấy qua bức vách bằng kính trong suốt, từng khen ngợi và xin… chỉ dẫn. Thỉnh thoảng Võ Bằng thấy Sếp cũng sảng khoái… nhả vòng tròn!

Tiếng chuông điện thoại reo vang. Võ Bằng bốc máy:

– Đại úy Bằng tôi nghe.

– Trung tá Chánh văn phòng Tư Lệnh đây. Đại úy lên gặp Tư Lệnh ngay. Quân phục làm việc.

Anh nghe lạnh sống lưng:

– Nhận rõ, thưa Trung tá.

Tư Lệnh đòi gặp ắt là việc lớn. Sáu tháng đổi về Trung Tâm Hành Quân, cách văn phòng Tư Lệnh chừng vài chục thước, nhưng anh chưa bao giờ bước chân tới. Đến đó, hoặc được tưởng thưởng hoặc bị trách phạt. Mà xem ra trách phạt có phần lấn lướt. Anh từng bị phạt kỷ luật ba năm, đã thi hành hai năm, trong đó bị đì chín tháng ở Năm Căn trước khi được đổi về đây. Bây giờ chẳng lẽ lại bị đẩy sang vùng khỉ ho cò gáy nào đó?

Võ Bằng ngẫm nghĩ xem bài thuyết trình vừa rồi có gì sai phạm quan trọng, rồi duyệt qua sáu tháng gần “Mặt Trời” xem anh đã phạm lỗi lầm gì. Mọi sự từ bình thường đến tốt đẹp. Tuy nhiên bụng dạ vẫn không yên.

Sau khi chỉnh sửa quần áo, cạo sạch râu ria, chải lại mái tóc, anh vào báo với Sếp về lệnh triệu hồi của Mặt Trời. Sếp cười: “Good luck!”

Trung tá Chánh văn phòng ngồi sau chiếc bàn bề bộn giấy tờ. Võ Bằng nghiêm chào. Trung tá gật đầu, ra hiệu trung úy tùy viên. Vị này bước tới gõ cửa rồi mở rộng. Võ Bằng bước vào.

Một căn phòng sang trọng, rộng rãi, tràn ngập ánh sáng. Trên vách treo ảnh Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, bên mặt là vị Tổng Tư Lệnh Quân Lực, bên trái là chính chân dung của người đang ngồi sau chiếc bàn rộng và đẹp với bản gỗ xanh dương khắc hàng chữ vàng: “Trần Văn Cung”. Mái tóc trong ảnh còn đen mướt so với mái tóc thực tế đã bạc trắng. Bộ quân phục xanh không làm giảm vẻ uy nghi. Võ Bằng giơ tay nghiêm chỉnh chào: 

– Hải quân Đại úy Võ Bằng, trình diện Đô đốc.”

Đề đốc Cung mang hai sao nhưng đối mặt phải gọi Đô đốc bốn sao, cất giọng reo vui:

– A, người ba năm không được giữ chức vụ chỉ huy, ba năm không được thăng cấp đây rồi! Ngồi xuống đi!

Võ Bằng ngồi lên chiếc ghế tựa êm ái, nón đặt trên đùi, lòng thêm bất an trước lời đùa cợt có phần mai mỉa. Đề đốc thản nhiên nhồi thuốc Half and Half vào ống vố, hít vài hơi trông rất sảng khoái rồi cười nói:

– Sáu tháng nay, ngày nào cũng gặp, mãi hôm nay mới có dịp gặp riêng. Mọi người trong gia đình bình yên cả chứ?

– Thưa, đều bình yên. Cám ơn Đô đốc.

Ông nhìn hàng huy chương trên nắp túi áo trái của Võ Bằng, gật gù:

– Có được Anh Dũng Bội Tinh Ngôi sao bạc là khá lắm. Trận nào?

– Thưa, Vũng Rô.

– Một kinh nghiệm rất cần cho nhiệm vụ sắp tới của anh.

Võ Bằng nóng lòng chờ ông tiết lộ rõ hơn nhưng ông vẫn tiếp ý cũ:

– Hai huy chương kia, Hải Vụ Bội Tinh thì tôi biết, còn lại là huy chương gì?

– Thưa, Dân Vụ Bội Tinh.

– Thành tích?

– Thưa về công tác chiêu hồi dân chúng về quận Năm Căn tân lập.

Ông cúi đọc quân bạ:

– Trong hai năm thi hành lệnh phạt quân kỷ anh còn được Giấy khen của Quận trưởng Quận Tám, Chợ Lớn; của Quận trưởng Quận Nhì, thị xã Huế về việc tận tâm cứu trợ và bảo vệ an ninh trật tự các trại tiếp cư đồng bào nạn nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân. Được lắm!

Ông hài lòng với nhiệt tình trong công vụ của Võ Bằng, nhưng còn “tư vụ” thì sao đây. Ông lại nhìn vào quân bạ:

– Quân bạ cho thấy anh còn độc thân. Vậy, bồ bịch thế nào?

Dáng vẻ vui tươi và bình dị trong ngôn từ khiến Võ Bằng vọt miệng tự nhiên:

– Không bồ cũng chẳng bịch, thưa Đô đốc!

Ông bập bập vài hơi thuốc, phà khói, mỉm cười:

– Khó tin quá! Ở tuổi của anh, dễ làm chuyện động trời! Tuần rồi có một cô còn rất trẻ đến đây nhờ tôi can thiệp việc một sĩ quan ăn ở với cô rồi… lặn mất! Chuyện đó không xảy ra với anh chứ?

Giọng cợt đùa khiến Võ Bằng bớt căng thẳng. Anh mỉm cười chua xót:

– Đô đốc hỏi, tôi xin thú thật. Trước đây tôi có nặng tình với ba cô thì cả ba đều bỏ đi lấy chồng! Từ đó tôi … tránh xa các cô! Hơn nữa, hai năm qua tôi toàn được biệt phái đến các địa điểm sôi động, thậm chí cả nơi chỉ có…. khỉ ho cò gáy!

Tư lệnh không kềm được tiếng cười, thân mật hỏi tiếp:

– Suốt sáu tháng vưa qua ở Sài Gòn, anh cũng… hiền khô sao?

– Thưa, cấm trại triền miên, Hải Quân đụng trận dài dài, công điện về dồn dập, thì giờ đâu mà… lang thang!

– Tôi tin anh. Bây giờ ta vào mục đích hôm nay.

Ông tựa ống vố vào khay, sửa lại thế ngồi, khuỷu tay chống lên bàn, hai bàn tay đan nhau:

– Anh có biết vì sao đang chịu kỷ luật mà lại được đổi về Bộ Tư Lệnh Hải Quân?

Võ Bằng khẽ lắc đầu:

– Thưa không!

– Hẳn anh còn nhớ lần tôi xuống thăm viếng Năm Căn cách nay hơn nửa năm? Hôm đó nghe anh thuyết trình hành quân tôi thấy ngay Bộ Tư Lệnh cần người như anh. Sáu tháng qua anh không làm tôi thất vọng. Nhưng rất tiếc… từ hôm nay tôi phải để anh ra đi…

Võ Bằng nín thở. Chẳng lẽ anh bị đưa trở lại Năm Căn? Hay một nơi khỉ ho cò gáy nào khác? Có thể nào bị đổi lên Pleiku làm đại diện Hải Quân cạnh Quân Đoàn thay thằng bạn cùng khóa thỉnh thoảng về Sài Gòn khoe đang giữ chức Tư Lệnh Hải Quân Hành quân Suối! Đành rằng quân nhân chỉ đâu đánh đó nhưng đâu phải cứ bị kỷ luật là cho lưu đày!

Đề đốc Cung cảm thông với nét mặt ưu tư của anh chàng sĩ quan trẻ tuổi ông dành nhiều cảm tình, cất giọng nghiêm trang:

– Mỗi ngày thuyết trình hành quân, hẳn anh để ý địch tăng cường xâm nhập bằng đường biển? Ta đã đánh chìm bốn chiếc chở vũ khí đạn dược và bắt sống hai nhưng chúng vẫn không chùn bước.  Nhiệm vụ mới của anh liên quan trực tiếp đến việc này.

Võ Bằng mừng thầm. Như vậy là anh được trở về với môi trường ưa thích của anh. Nhưng… Nhưng sẽ xuống tàu nào đây? Có được trả lại chức Hạm Phó, hay phải hạ tầng làm sĩ quan đệ tam, đệ tứ? Mà thôi, dù sao cũng được về với biển, miễn cho qua đại nạn! Anh hít một hơi thật sâu, nghe nhẹ người.

Đề đốc trìu mến nhìn bộ mặt khá tươi tỉnh của Võ Bằng, trầm giọng:

– Nói rõ hơn, từ sau ngày hàng rào điện tử McNamara ngăn chận dọc vĩ tuyến 17, đường biển trở thành trục huyết mạch tiếp tế người, vũ khí, đạn dược của Cộng Sản Bắc Việt cho bọn giải phóng Miền Nam. Anh phải tích cực góp phần bẻ gãy trục này. Anh có hứa?

Võ Bằng mạnh dạn gật đầu:

– Tôi xin dốc lòng, thưa Đô đốc.

Ông chiếu tia nhìn hóm hỉnh vào đôi mắt Võ Bằng:

– Vậy thì tôi không ngại ngần tuyên bố: Kể từ hôm nay, hình phạt năm chót của anh được hủy bỏ.

Võ Bằng mở to mắt, xúc động, lắp bắp:

– Xin… xin cảm ơn Đô đốc.

– Anh đã học khóa Tham Mưu Trung Cấp?

– Dạ rồi.

– Tốt!

Vẫn giữ nụ cười, ông tiếp:

–  Theo tờ trình của Phòng Tổng Quản Trị, một tháng nữa, vị đương kim Hạm trưởng chiếc Trợ Chiến Hạm HQ 266 sẽ sang Guam lãnh tàu mới. Do hình phạt của anh đã bãi bỏ, tôi chấp thuận cho anh làm Hạm trưởng thay thế.

Võ Bằng bàng hoàng, run giọng:

– Thưa… xin cám ơn Đô đốc.

– Tôi từng làm Hạm Trưởng chiếc Trợ Chiến Hạm HQ 260 cách nay mười hai năm. Biết đâu mười hai năm nữa anh chẳng … ngồi đây!

Ông cười to rồi đổi nét mặt nghiêm trang:

– Như anh biết, lẽ ra anh phải làm quen chức vụ Hạm trưởng từ loại tàu nhỏ, nhưng xét thành tích và năng lực, tôi tin anh đủ khả năng chỉ huy chiếc Trợ chiến hạm. Dĩ nhiên quyền từ chối là của anh.  

Võ Bằng hớn hở:

– Thưa Đô đốc, được làm Hạm trưởng là mơ ước của tôi. Tôi xin nhận.

– Vậy thì việc ưu tiên anh phải làm là tìm hiểu thấu đáo về tính năng và quán tính của loại Trợ Chiến Hạm. Tài liệu có sẵn ở Ban Tu Thư Khối Quân Huấn.

Sau vài hơi thuốc, ông tiếp:

– Anh sẽ ôn lại hai tuần về Hải Quy, Tổ Chức Chiến Hạm, nghệ thuật chỉ huy. Hai tuần kế tiếp học về chiến lược, chiến thuật Hải Quân và Quyền Lực Trên Biển. Đó là những kiến thức căn bản để chu toàn nhiệm vụ Hạm trưởng. Mong rằng anh dốc tâm học hỏi, dốc lòng đem khả năng chuyên nghiệp của mình bảo vệ hữu hiệu lãnh hải Miền Nam tự do.

Đề đốc Cung dừng lại, nghĩ xem còn gì cần nhắn nhủ thêm. Ông trầm giọng tiếp:

– Còn điều này anh cũng rất cần ghi nhớ. Chỉ huy chiến hạm là một nhiệm vụ vô cùng tế nhị, khó khăn. Chiến hạm là thế giới cô lập giữa đại dương mênh mông. Hạm trưởng là người duy nhất chịu trách nhiệm sinh mạng toàn bộ thủy thủ đoàn và tài sản quốc gia. Mệnh lệnh nhận được thì rõ ràng, nhưng cách thi hành thì không ai hướng dẫn. Hạm trưởng phải tự dùng hiểu biết, kinh nghiệm, sáng kiến của mình. Thành công thì thăng tiến, thất bại thì có khi đại dương là mồ chôn tất cả. Anh hiểu ý tôi chứ?

– Tôi hiểu, thưa Đô đốc.

Ông gật đầu hài lòng:

– Ngay hôm nay anh bàn giao công việc cho Trung Tâm Trưởng. Sáng mai trình diện Trường Chỉ Huy Tham Mưu Hải Quân. Cám ơn anh.

Võ Bằng đứng lên, đội nón, nghiêm chỉnh chào. Tư lệnh chìa tay:

– Chúc mừng tân Hạm trưởng.

Võ Bằng nắm chặt tay ông, cảm động:

– Cám ơn Tư Lệnh. Cám ơn rất nhiều…

(Còn tiếp)

Vũ Thất

ĐỜI THỦY THỦ 3 – Mở

Mở

Vũ Thất

Ngày 4 tháng 8 năm 1967, tại hải cảng Quy Nhơn, Hộ Tống Hạm Đống Đa HQ 007 cho phép một thiếu nữ quá giang về Sài Gòn sau khi xem xét giấy quá giang hợp lệ. Trạm kiểm soát an ninh của chiến hạm cũng đã lục soát hai xách tay của đương sự nhưng không khám phá quả bom thời chỉnh được ngụy trang bằng thùng dầu ăn Margarine của Mỹ bán ở chợ trời. Mãi sau khi tàu về đến Sài Gòn mới biết kẻ quá giang là đặc công Việt Cộng.

Ngày 27 tháng 9 năm 1967, tại phòng họp trong Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Hội Đồng Kỷ Luật mở phiên xử các sĩ quan liên hệ đến vụ việc. Ba vị sĩ quan chủ tọa phiên xử mặc tiểu lễ ngồi ở bàn hình chữ nhật phủ nỉ xanh. Ánh sáng lạnh lẽo từ các bóng đèn huỳnh quang càng làm tăng vẻ nghiêm trang của phiên xử.

Vị trí giữa: Hải Quân Đại tá Nguyễn Thanh Minh, Tham Mưu Trưởng Bộ Tư lệnh Hành Quân Biển, Chủ tịch Hội Đồng.
Bên phải: Hải Quân Trung tá Phạm Đình Sanh, Chánh Sở An Ninh Hải Quân.
Bên trái: Hải Quân Thiếu tá Trần Ngọc Đức, Chỉ huy phó Hải Đội Tuần Dương.
Trung sĩ Bí thư Nguyễn Văn Lũy, thư ký ghi biên bản.
Một quân cảnh nghiêm trang đứng kiểm soát cửa ra vào.

Chín giờ sáng. Vị chủ tọa ra lệnh:

– Cho mời Hạm trưởng HQ 007.

Cửa mở. Tiếng giày bước vào dứt khoát.
Một người đàn ông dáng cao, vai thẳng, mặc tiểu lễ trắng, cầu vai mang ba vạch vàng trên nền đen, bước đến đứng nghiêm chào:

– Hải Quân Thiếu tá Bùi Việt Quang trình diện Hội Đồng.

– Mời ngồi, – Đại tá Minh gật đầu.

Thiếu tá Quang ngồi xuống chiếc ghế độc nhất đối diện Hội Đồng. Gương mặt dày dạn gió sương của người từng sáu năm lăn lộn biển khơi không biểu lộ xúc cảm. Ngược lại, đôi môi còn lấp lánh nét tươi vui như thể ông đến để báo cáo một công tác hoàn thành.

Vị Chủ tọa nghiêm giọng, ánh mắt sắc lạnh:
– Thiếu tá Quang, thiếu tá biết rõ lý do phải có mặt hôm nay chứ?

– Thưa đại tá, tôi biết.

– Biết rõ thế nào?

– Thưa, vì tôi đã thiếu cảnh giác trong trách nhiệm chỉ huy, để địch trà trộn lên tàu với quả bom.

– Tức là Thiếu tá vi phạm Điều 92 Hải Quy: “Thiếu trách nhiệm, không bảo đảm an toàn đơn vị.” Thiếu tá thừa nhận?

– Thưa, tôi nhận.

– Tàu chiến không phải tàu chuyển vận. Sao lại cho quá giang?

– Theo tôi biết, không có văn bản cấm hẳn chiến hạm chở người quá giang. Và trong giấy phép có ghi rõ: nếu có tai nạn xảy ra cho đương sự, chiến hạm không chịu trách nhiệm.

Đại tá Minh lạnh lùng mỉa mai:
– Giả sử quả bom nổ gây thiệt hại thủy thủ đoàn và chiến hạm, hạm trưởng cũng… miễn trách nhiệm?

Không chờ câu trả lời, ông quay sang hai phụ thẩm.

Trung tá Chánh Sở An Ninh Hải Quân lên tiếng:

– Hạm trưởng có tận mắt xem giấy phép?

– Tôi có đọc. Người bảo lãnh là trung úy Hải quân, bạn học của Hạm phó. Chính Hạm phó xác nhận.

– Bao giờ thì phát hiện đó là giấy giả?

– Khi tàu rời Quy Nhơn, tôi chỉ thị sĩ quan an ninh so sánh con dấu trên văn thư chính thức của Phòng Chuyển Vận với con dấu trên giấy phép thì thấy con dấu trên giấy phép có vài nét đáng nghi ngờ. Tôi ra lệnh theo dõi người quá giang, đồng thời báo cáo an ninh Hạm Đội.

– Kết quả theo dõi?

– Không thấy cô ta có hành động bất thường.

– Còn quả bom cô ta mang xuống tàu, lúc nào Hạm Trưởng mới biết?

– Thưa Trung tá, sau khi cô ta bị đưa về An Ninh Hạm Đội, Hạm Phó mới thấy thư cô ta để lại. Cô ta nhờ Hạm Phó ném bỏ quả bom xuống sông nhưng Hạm Phó giao nộp ngay cho tôi và tôi báo ngay cho phòng An Ninh.

Trung tá Chánh Sở nói nhỏ với vị chủ tọa:

 – Tôi không còn gì hỏi thêm.

Phụ thẩm Đức cũng lắc đầu. Đại tá chủ tọa ôn tồn nói:

– Thiếu tá Quang có thể phát biểu lời sau cùng.

– Tôi không có gì trình bày, thưa Hội Đồng.

– Mời Thiếu tá tạm ra ngoài. Gọi Đại úy Võ Bằng.

Võ Bằng bước vào, nét mặt trầm lặng, dáng đi vững chãi nhưng ánh mắt ẩn vẻ âu lo. Anh chào kính, nghiêm trang nói:

– Hải Quân Đại úy Võ Bằng xin trình diện chủ tọa đoàn.

Đại tá gật đầu: “Mời ngồi”, rồi cao giọng:

– Đại úy Võ Bằng, Hạm phó HQ 007. Đại úy bị cáo buộc vi phạm Điều 405 Hải Quy: “Không tuân thủ các chỉ dẫn an ninh đơn vị, gây nguy hại nhân mạng và tài sản Quốc gia.” Đại úy nhận lỗi?

– Thưa đại tá, tôi nhận.

– Tốt. Chánh Sở An Ninh có gì hỏi?

Trung tá Sanh gật nhẹ:
– Đại úy Bằng hiểu nhiệm vụ của một Hạm phó chứ?

– Thưa Trung tá, hiểu rõ. Theo Tổ Chức Chiến Hạm, nhiệm vụ của tôi là thay thế Hạm trưởng khi ông ấy vắng mặt, phụ trách điều hành sinh hoạt, bảo vệ an ninh và thi hành các chỉ thị của cấp chỉ huy.

– Trong vụ việc, đại úy có thấy mình đã sơ suất?

– Thưa, hoàn toàn sơ suất. Một bài học nhớ đời.

– Cô gái ấy – đặc công – đại úy thực sự có quen biết?

– Thưa không quen.

– Hoàn toàn không quen?

– Mới gặp lần đầu ở cầu tàu Quy Nhơn, khi cô ấy đến xin quá giang.

Thiếu tá Đức chen vào, giọng nghiêm:

– Không quen mà vẫn cho quá giang?

– Thưa, cô ấy trình giấy phép với tên người bảo lãnh là bạn cùng khóa của tôi. Thoạt tiên tôi đã từ chối, nhưng suy nghĩ lại, tôi e bạn trách phiền quá thờ ơ, nên mới trình xin Hạm trưởng.

Thiếu tá Đức nhìn vị chủ tọa tỏ dấu đã xong.

– Mời Đại úy ra ngoài chờ. Gọi Thiếu úy Hoàng Văn.

Sau nghi thức trình diện, Thiếu úy Văn ngồi đối diện Hội Đồng.

– Nhiệm vụ hôm đó của Thiếu úy?

– Thưa, sĩ quan trực nhật.

– Thiếu úy có trực tiếp khám xét hành lý người lên tàu?

– Thưa không. Sau khi hạ sĩ quan khám xét xong, tôi định kiểm soát lại nhưng Hạm phó đến…

– Rồi sao?

– Tôi nghĩ… cô gái ấy là bạn Hạm phó, mà ông ấy đang hiện diện, nếu tôi lục soát sẽ làm mất mặt Hạm phó.

– Thiếu úy cho rằng sĩ diện của hạm phó quan trọng hơn an ninh tàu?

– Thưa, tôi không nghĩ đến điều đó…

– Cám ơn. Thiếu úy có lời sau cùng?

– Tôi xin nhận lỗi. Xin hứa sẽ không tái phạm.

***

Nửa giờ sau, Hội Đồng tái họp. Các đương sự được mời vào. Tất cả đứng nghiêm chỉnh. Đại tá Minh đọc bản tuyên bố:
– Vụ việc lẽ ra phải truy tố ra Tòa Án Quân Sự nhưng do cảnh giác kịp thời, đặc công bị lộ diện và hồi tâm cung khai giúp bắt được toàn bộ tổ đặc công Đô Thành nên Hội Đồng Kỷ Luật được ủy nhiệm xét xử. Qua các tường trình điều tra và khai thác an ninh, qua các lời khai của các sĩ quan phạm lỗi, sau khi thảo luận mọi khía cạnh, tình tiết, Hội Đồng quyết định:

  1. Hải Quân Thiếu tá Bùi Việt Quang, Hạm Trưởng: Cảnh cáo không ghi vào hồ sơ.
  2. Hải Quân Đại úy Võ Bằng, Hạm phó: Ngưng thăng cấp và không được giữ chức vụ chỉ huy trong 3 năm.
  3. Hải Quân Thiếu úy Hoàng Văn, sĩ quan trực nhật: 15 ngày trọng cấm.

Các đương sự có quyền khiếu nại trong vòng mười ngày. Phiên xử chấm dứt.

Vũ Thất

(còn tiếp)

Ngôi Sao Sài Gòn

Vũ Thất

Sau khi vừa ý với độ đắng của ly cà phê, tôi bước về chiếc máy tính, người bạn thân thiết mỗi ngày. Vừa ngồi lên ghế, tay vừa chạm nút “ON” tôi chợt nhận ra một phong thư trên bàn. Nét chữ viết tay xa lạ hiện rõ dòng chữ: “Kính gửi tác giả truyện ngắn “Có Một Vì Sao, trên góc trái ghi địa chỉ:

Nguyễn Thanh Lâm

Thế giới những nhân vật

Có Một Vì Sao, VT

Tôi bật cười: “Chà, nghe như liêu trai chí dị! Thử xem kẻ hậu sinh chấp bút ra sao!” Tôi mở tờ giấy trong phong thư không dán kín. Chữ viết tay dễ đọc nhưng nét không đều:

“Chào tác giả “Có Một Vì Sao”. Tôi là Nguyễn Thanh Lâm, nhân vật chính nam, xin nhờ tác giả chuyển thư này đến Linh Chi, nhân vật chính nữ.” 

Tôi lại bật cười: “Nhập đề xem táo bạo quá lắm! Dám lấy nhân vật trong truyện của mình ra giỡn hớt! Nhưng ai đùa dai thế này?”. Vợ tôi đang đi chợ, cửa nhà khóa. Chữ viết và kiểu đùa không phải của vợ tôi. Tôi tò mò đọc tiếp: 

Cháu Linh Chi thương mến, 

Tự dưng bác tha thiết muốn gửi đến cháu vài lời tâm sự… 

Mười năm rồi, không rõ cháu còn nhớ lần đầu gặp nhau ở Mỹ? Dù con gái bác từng kể nhiều điều về cháu, khi gặp bác vẫn bất ngờ. Có nhiều lý do con bác xin cho cháu về ở chung nhưng với bác thì vì vẻ duyên dáng, đẹp mặn mà. Đó cũng là lần đầu bác cảm thấy lòng rộn rã sau nhiều năm u hoài… 

Bác tự nhủ: cảm xúc ấy rồi như gợn sóng giữa đại dương. Nhưng cháu, cháu lại như vệ tinh rực rỡ, cuốn hút một hành tinh cằn cỗi. Có cháu trong nhà, bác vui hơn từng ngày. Nhưng vẫn cố giữ lòng bình lặng. Rồi một đêm mùa thu, dưới bầu trời đầy sao, bác và cháu lần đầu ngồi đối ẩm. Cháu nhấp ngụm trà, thánh thót: “Trà ngon quá bác ơi!” Nhiều năm độc ẩm, lần đầu bác tìm được người đồng điệu. Rồi cháu cất tiếng hát về một ngôi sao gợi bác nhớ nghiệp hải hồ xưa:

 Em không làm sao Mai
Anh chẳng làm sao Hôm
Chỉ làm ngôi sao không tên
Để gần nhau suốt đời
Để được gần nhau suốt đời.
Ðược gần nhau suốt đời.
 

Giọng hát của cháu thiết tha quá, thiết tha đến nghẹn ngào. Bác không còn phân biệt được mộng hay thực. Bác ngờ rằng chính cháu là nhân vật trong bài ca, khi “Anh và Em cùng làm ngôi sao không tên để được gần nhau suốt đời” thì cũng rất rõ ràng bác đã mất cháu. Mất người chưa từng là gì trong đời mà vẫn thấy đớn đau. Vì vậy bác đã gọi cháu là Ngôi Sao Sài Gòn. Ngôi sao của riêng bác. 

Cháu còn nhớ đêm dạ tiệc chia tay trên du thuyền Spirit of Washington D.C. trên dòng Potomac, cháu đã nắm bàn tay bác như một cảm thông cho việc bác mất vợ mất con trên đường vượt biển và cháu nói: “Cháu không muốn rời xa nước Mỹ!” 

Bác đã định mở miệng “Thì ở lại!” nhưng một ý thức mơ hồ kịp ngăn cản. Vì vậy bữa tiệc chia tay vẫn giữ nguyên ý nghĩa của nó. Từ đó, bác chỉ còn biết chờ cái hẹn gặp lại sau ba năm.

Rồi ba năm trôi qua, bác đã hăm hở về Sài Gòn. Bắt chước con gái, bác muốn dành cho cháu một sinh nhật ngạc nhiên nên không báo trước. Đúng 6 giờ chiều bác nôn nao đến nhà cháu. Bác đã vô cùng xúc động khi nhà của cháu giống hệt nhà bác. Chỉ khác một điều, không như bác đã hân hoan đón tiếp cháu ở Mỹ năm năm trước, lần này bác nhấn chuông mãi… Nên đành để quà sinh nhật của bác và của vợ chồng Huyền trước cửa rồi lặng lẽ ra đi.

Số Trời đã định. Thì đành coi cháu như một ngôi sao quá xa xôi. Xa xôi mà mãi là Ngôi Sao Sài Gòn.

Nguyễn Thanh Lâm

 *** 

Tôi vẫn đăm đăm nhìn lá thư. Từng dòng chữ là thật. Nhưng làm sao có thể? Ai để thư này lên bàn? Nếu là chính Nguyễn Thanh Lâm… thì lạ lùng quá!

Nguyễn Thanh Lâm là tên hư cấu của người bạn chí thân của tôi. Cách đây mười năm, trong cơn say, anh kể tôi nghe chuyện tình dở dang của mình, dặn đừng dùng tên thật. Truyện được đăng nhiều nơi, rồi tôi cũng quên. Anh vừa mất tuần rồi.

Giờ đây, cái tên hư cấu lại hiện về, nhờ tôi chuyển thư cho người xưa. Tôi ngỡ ngàng. Phải chăng vong hồn bạn tôi hiển linh, chỉ để nhắn lời cuối cùng?

Dĩ nhiên tôi đâu thể chối từ. Nhưng nhờ chuyển mà không cho địa chỉ thì gửi thế nào đây! Tôi nghĩ đến việc bịa ra một truyện ngắn trong đó có phóng ảnh lá thư, rồi mô tả rằng thư đã gửi và Linh Chi đã nhận. Viết thêm cho lâm ly là cô bé đang đọc và đang rơi nước mắt. Nhưng tôi như thấy anh không hài lòng. Ý của anh xem chừng muốn tôi chuyển đến tận tay nhân vật Linh Chi, không qua sáng tác. 

Tôi tựa lưng vào ghế, ôm đầu nghĩ ngợi. Rồi cầm phong thư lên đọc địa chỉ người gửi. Bất chợt ánh sáng lóe lên. Có thể là cách này. Tôi dùng Smart phone chụp hình lá thư, copy rồi paste vào yahoo email. Tôi đánh máy vào từng mục theo địa chỉ trên bao thư: 

To: LinhChi@comotvisao.vt                                         

Subject: Chuyển thư Nguyễn Thanh Lâm 

Tôi nghĩ bụng, cho dù yahoo báo địa chỉ không tồn tại, tôi cũng coi như nhiệm vụ hoàn thành. Tôi đã gửi đúng địa chỉ anh cho. Nhưng, thật lạ lùng. Một hàng chữ hiện lên đầu email: “Your message has been sent.” Tôi chờ thêm, chờ mãi mà không thấy yahoo báo “Rất tiếc. Địa chỉ không tồn tại.” Có nghĩa nơi nhận đã nhận được thư. Thật là lạ! Để chắc ăn, tôi thử Forward cho LamNguyen@comotvisao.vt như một thông báo nhiệm vụ hoàn thành. Kết quả yahoo cũng báo như trước “Thư đã gửi” và đã được nhận.

Hẳn bạn mình hài lòng nên đêm đó tôi ngủ say sưa.

*** 

Sáng hôm sau, như có linh tính, tôi rời giường bước thẳng đến bàn viết. Một phong thư nằm đúng vị trí lá thư hôm qua. Vẫn dòng chữ: “Kính gửi tác giả truyện ngắn “Có Một Vì Sao” nhưng bằng nét chữ nắn nót hơn.  Đọc nơi gửi: Linh Chi, tôi giật mình. Cùng lúc, từ phong thư thoang thoảng một mùi hương. Tôi chợt nhớ lời kể của bạn. Anh nói mỗi lần có dịp gặp Linh Chi là anh có dịp thưởng thức hương thơm đó mà anh gọi là mùi “hoa biển”.  Tôi rùng mình. Thư viết:

“Chào tác giả “Có Một Vì Sao”. Tôi là Linh Chi. Chân thành cám ơn đã chuyển thư bác Lâm. Xin cho gửi lại đôi dòng…”

Bác Lâm thương kính, 

Cháu không ngờ nhận được thư bác. Nhiều dòng phải ngưng đọc, để hít thở thật sâu. Khi đọc đến đoạn bác nói để quà trước cửa, cháu ôm mặt khóc ròng. Món quà đã mất, mà sáng nay cháu vẫn ra cửa tìm. Mười năm rồi… 

Cháu cứ nghĩ bác giận vì cháu không đón tiếp bác hôm ấy. Bác biết không, chính hôm ấy cháu đã về thăm làng Hòa Hảo, đúng như lời hẹn chia tay ở Washington. Lúc ở phi trường, cháu đã hỏi: “Bao giờ bác về thăm cháu?” Và bác đã trả lời “Ba năm nữa bác cháu mình gặp nhau!”. “Bác nhớ đó, ba năm mà bác không về, cháu sẽ thăm làng Hòa Hảo. Cháu đến đó, chỉ để coi như được gặp lại bác.”

Bác Lâm. Hai năm sống trong nhà bác là hai năm hạnh phúc nhất đời cháu. Mấy đêm đầu cháu không ngủ được vì sợ bác vào buồng. Có ai mà quá tốt cho ở trọ vô điều kiện! Tuy cửa có khóa nhưng cháu chỉ khép kín vì không muốn làm người bất lịch sự. Nhưng dần dần bác cho cháu niềm tin tuyệt đối…

Cháu vẫn nhớ lần đầu bác cháu mình đối ẩm ở bao lơn dưới bầu trời đầy sao. Không gian thơ mộng khiến cháu nhớ đến bài “Ngôi Sao Hà Nội” cháu ưa thích. Và cháu cất tiếng hát. Bác đã lắng nghe và đã tỏ lời cám ơn giọng ca tuyệt vời của… Ngôi Sao Sài Gòn! Cháu đã không hiểu vì sao bác gọi cháu là “Ngôi Sao Sài Gòn”. Cháu đã ngờ rằng bác muốn nhắc nhở cháu là đừng bao giờ quên gốc gác dân Sài Gòn, đừng bao giờ quên thành phố thân yêu nay đã bị mất tên. Nhưng đọc thư bác, bây giờ cháu mới hiểu và cháu… khóc! 

Cháu có bao giờ quên đâu. Suốt mười năm qua Ngôi Sao Sài Gòn đã soi rọi khắp nơi để tìm người đặt tên và nay cháu đã tìm thấy, dù chỉ là thấy… qua thư. 

Cháu vẫn nhớ đêm dạ tiêc giã từ trên sông Potomac, có lúc nào đó cháu đứng bên bác nhìn dòng sông long lanh ánh đèn. Dòng sông trôi xuôi êm ả nhưng đôi khi cháu lại cảm nhận chiếc du thuyền xôn xao lay động. Cháu những mong bác khuyên cháu ở lại nhưng bác chỉ nhìn xa xôi…

Vào giờ vui chơi, vì cháu không biết khiêu vũ nên bác và cháu ngồi yên nhìn thiên hạ. Và cháu đã hỏi: “Bác gái thích điệu gì, hả bác?” “Rumba.” Thưa bác, bây giờ cháu rất rành điệu rumba, mà vì bác không trở lại Sài Gòn nên cháu thường khiêu vũ với Sơn. Anh ấy tận tụy chăm lo cho cháu và đồng hành cùng cháu thực hiện những việc bác từng kỳ vọng. Năm nào Sơn cũng cầu hôn. Đến năm thứ tám, cháu kể về bác. Sơn cười bảo anh không quan tâm. Ký ức nào rồi cũng nhạt phai. Cháu không còn lý do để trì hoãn thêm. Sơn đã là chồng cháu hai năm nay. Anh luôn tỏ ra thương yêu cháu hết lòng, mà cháu thì đôi khi thẹn với lòng…

Bác từng hứa nếu ngày nào đó cháu muốn trở lại Mỹ, bác sẽ tặng vé máy bay. Nếu ngày đó cháu đã có chồng, sẽ tặng hai vé. Cháu rất mong gặp lại bác… 

Kính, 

Linh Chi

*** 

Tôi thẫn thờ với dòng chữ sau cùng. Cô cháu chưa biết Nguyễn Thanh Lâm ngoài đời đã chết… Chắc rồi cô cháu cũng sớm biết. 

Tôi chụp thư, gửi đến cho bạn mình – đúng địa chỉ cũ:

To: LamNguyen@comotvisao.vt 

Subject: Chuyển thư Linh Chi

Email lại báo: “Thư đã gửi.” Tôi mỉm cười. Sau mười năm bạn tôi mới dám hé lộ tâm tình và đã nhận được lời đáp ngọt ngào. Hẳn bạn tôi đang mỉm cười nơi … chín suối!

Tối hôm đó, tôi bỗng muốn ra bờ sông Potomac. Tôi kể vợ nghe câu chuyện kỳ lạ rồi rủ bà cùng đi. Chúng tôi ngồi bên công viên Riverside. Chiếc du thuyền Spirit of Washington lặng lẽ xuôi dòng trong ánh đèn lóng lánh. 

Tôi ngẩng nhìn bầu trời. Không nhiều các vì sao nhưng tôi bỗng buột miệng hát:

“Em không làm sao Mai… Anh chẳng làm sao Hôm…”

Một bàn tay siết nhẹ tay tôi, lay lay người tôi. Tôi chợt tỉnh giấc. Giọng vợ tôi dịu dàng:

– Ngủ mà cứ lải nhải Sao Hôm với Sao Mai! Bộ nhớ nghề xưa hả anh?”

Vũ Thất

6/2025

Biển Vẫn Dạt Dào

Biển Vẫn Dạt Dào

Tặng các bạn Đệ nhất Bảo Bình

Tiếng chuông điện thoại reo liên hồi. Đặng Văn Tuyên uể oải nhấc cổ tay, cố gắng hé mắt nhìn đồng hồ. Mới 8 giờ sáng. Kinh nghiệm cho biết điện thoại reo sớm chỉ là các lời quảng cáo. Bạn bè anh không ai gọi giờ này ngày cuối tuần.  Anh xoay người đè gối lên mang tai, ngủ tiếp.

     Tiếng chuông ngừng một lúc lại liên hồi. Anh miễn cưỡng vói tay bắt ống nghe, giọng càu nhàu:

     – Tôi nghe đây. Ai gọi?

     Bên kia là giọng nữ ngọt ngào, run run:

     – Em đây. Bích Ngọc đây.

     Hai tiếng Bích Ngọc và giọng ngọt ngào thân thương như cơn sóng lớn phủ ập vào người Tuyên. Anh rùng mình, ngồi bật dậy. Bích Ngọc là tên vợ anh, giọng nói kia là của vợ anh, người vợ suốt mười hai năm qua anh truy tìm không mệt mỏi. Anh phát ra từng tiếng, run run:

     – Trời ơi! Bích Ngọc. Phải thật em không?

     Có tiếng khóc òa vào tai anh. Tuyên cố gắng lấy lại bình tĩnh, hối hả hỏi:

     – Em đang ở đâu? Cho anh địa chỉ, anh đến ngay.

     Vẫn chỉ tiếng sụt sùi thương cảm. Anh quýnh quáng, nài nỉ:

     – Cho anh địa chỉ…

     Giọng Bích Ngọc nghẹn ngào:

     – Em đang ở Đức, Đức quốc.

     – Ở Đức? Sao lại ở Đức?

     – Chuyện dông dài không tiện nói qua viễn liên. Gặp anh, em sẽ kể…

     – Vậy cho anh địa chỉ anh sẽ bay ngay qua Đức.

     – Không. Anh cho địa chỉ, em và con sẽ qua Mỹ…

     Quá sức ngạc nhiên, Tuyên dè dặt hỏi :

     – Em vừa nói con… con anh?

     Giọng Bích Ngọc nồng nhiệt:

     – Sau ngày anh đi biền biệt khoảng hai tuần, nghi mang thai, em đi khám bác sĩ.  Em đã háo hức chờ anh về báo tin mừng mà chờ hoài. Năm nay con sắp là thiếu nữ mà chưa biết mặt ba nó.

     – Anh cũng đâu ngờ. Mà sao em biết số điện thoại của anh?

     Giọng Bích Ngọc vui vẻ:

     – Chắc Trời run rủi. Tuần rồi đi ăn tiệc cưới, em ngồi gần một anh Hải Quân. Em nói em là vợ anh, vợ chồng thất lạc nhau đã trên mười năm. Anh ấy hứa sẽ tìm giúp. Tưởng chỉ là lời đẩy đưa, không ngờ anh ấy vừa điện thoại cho số của anh.

Tuyên nôn nóng hỏi dồn:

     – Ở Đức em và con ở vùng nào? Sinh sống ra sao?

     – Như em vừa nói, chuyện dông dài. Em và con sẽ qua anh bằng chuyến bay sớm nhất. Anh đón ở phi trường nghe.

     – Tất nhiên rồi.

     – Em sẽ gọi lại cho anh chi tiết chuyến bay.

     – Hãy nhớ là từng phút từng giây anh trông ngóng em và con.

     Đặng Văn Tuyên có mặt tại khu đón rước phi trường Los Angeles đúng 8 giờ rưỡi sáng nhưng mãi bốn mươi phút sau Bích Ngọc mới xuất hiện. Nàng vẫn trẻ trung mảnh mai, khuôn mặt có phần mệt mỏi sau chuyến bay tám tiếng. Thế nhưng vẻ mệt mỏi lại làm nét đẹp mê hồn ngày xưa thêm nồng nàn. Ngay sau chiếc va-li nàng đang kéo là một thiếu nữ duyên dáng, bước đi sinh động. Hẳn là con gái của anh đây. Anh rộn ràng, hồi hộp vẫy tay. Cả hai giơ tay đáp lại. Khi Bích Ngọc tới gần, Tuyên mở rộng vòng tay, bắt chước hành động của vợ ngày xưa mỗi lần đón anh công tác trở về.

Bích Ngọc cũng ôm siết anh, nồng nàn. Nhưng khi anh định hôn môi thì nàng tránh né, chỉ áp má vào má chàng. Rồi nàng vội buông lỏng tay như ngại ngùng trước đông người. Tuyên nhủ thầm, rồi đây phải tập cho nàng quen tục lệ Mỹ. Anh nói với cô bé, “Chào mừng đến Hoa Kỳ”, hôn lên trán rồi đỡ lấy cán va-li từ tay Bích Ngọc. Cả ba theo dòng người đi băng qua ba con đường không dứt lưu thông đến khu đậu xe.

Suốt quãng đường dài cả tiếng đồng hồ, cô bé ngủ say ở băng sau. Bích Ngọc ngồi cạnh anh nhưng lặng thinh ngắm quang cảnh bên đường. Mỗi khi anh lên tiếng hỏi, nàng quay ngang trả lời vắn tắt rồi lại nhìn ra ngoài. Anh nghĩ cảnh lạ đang lôi cuốn sở thích của nàng. Thật ra lòng nàng đang vô cùng rối rắm chưa biết xử sự thế nào. Tuyên lặng lẽ lái xe, thầm vui: “Rồi đây em và con mặc sức ngắm cảnh đẹp nước Mỹ.”

     Theo dự trù, khi đến phố Cam, anh sẽ dừng lại tiệm ăn nổi tiếng cùng ăn sáng nhưng thấy cả hai đang say ngủ, anh lái thẳng về nhà. Anh mở khóa, bật đèn rồi cả ba bước vào. Bích Ngọc lướt nhìn nhanh quanh nhà. Bộ salon màu xanh nước biển rất đẹp. Sâu hơn là nhà bếp và bàn ăn bốn người. Độ rộng xem ra tương đương với căn nhà của nàng ở Đức nhưng trang hoàng giản đơn, tươm tất. Đặng Văn Tuyên chỉ chiếc ghế dài:

     – Em và con ngồi nghỉ đi. Chắc mỏi chân lắm rồi.

     Anh đi rót ba ly nước rồi ngồi đối diện trên chiếc ghế tựa cá nhân. Anh nhìn con gái ôm cánh tay mẹ mà nghe ấm ức. Nếu không có nó, anh đã ôm chầm Bích Ngọc hôn ngấu nghiến, đền bù cho thời gian xa cách quá dài. Thấy anh đăm đăm nhìn, cô bé cúi mặt ngượng ngùng. Anh hỏi:

     –  Con tên gì?

     –  Dạ, Đặng Ngọc Tuyền.

     Anh “A” lên thích thú. Ngày xưa, có lần anh bàn với nàng về việc đặt tên đứa con đầu lòng. Anh đề nghị hai tên rất có ý nghĩa: “Nếu là trai sẽ mang tên Đặng Chí Tuyến, vừa mang tên anh, vừa gợi hơi hướm hải quân. Nếu là gái, tên Đặng Ngọc Tuyền, vừa mang tên mẹ lẫn tên cha.” Nàng cười: “Anh khôn quá, trai hay gái đều mang tên anh. Còn em, lúc nào cũng chịu thiệt thòi.”

     Anh tươi cười hỏi Ngọc Tuyền:

     –  Con biết tên ba con chứ?

     –  Dạ, mẹ có nói. Đặng Văn Tuyên. Ở trường, con mang tên ba.

     Anh gật đầu thích thú:

     –  Con không có tên Đức sao?

     –  Dạ không.

     –  Con lên lớp mấy rồi?

     –  Dạ, mới lên trung học.

     –  Con có muốn đi học ở Mỹ không?

     Nó ngẫm nghĩ rồi lắc đầu:

     –  Con không biết. Tùy mẹ.

     Đặng Văn Tuyên nói với Bích Ngọc:

     –  Anh rất xúc động và cám ơn em về tên của con. Càng vui hơn nghe con nói rành rẽ tiếng Việt…

     Bích Ngọc vui sướng mỉm cười. Tuyên lại lên tiếng:

     – Em thấy căn nhà thế nào? Em thích nó chứ?

     Nàng lại nhìn quanh rồi dừng lại khung ảnh trên vách trước mặt. Thì ra là ảnh kỷ niệm ngày cưới. Hai nụ cười tươi tắn, hạnh phúc. Nàng xúc động nói:

     – Ảnh xưa quá rồi! Sao không treo ảnh mới người mới?

     Tuyên cười, tiếp tục ý tưởng về căn nhà:

     – Trước đây anh ở apartment một phòng ngủ. Nay thêm em và con nên anh dọn qua căn này có ba phòng. Anh nghĩ con nó cần một phòng học riêng cho tiện khi có bạn đến học chung. Nè Ngọc Tuyền, con có muốn đi xem phòng ngủ phòng học của con bây giờ không?

     Cô bé nhìn mẹ. Bích Ngọc nói nhỏ nhẹ:

     – Thật ra em đã định mướn khách sạn.    

     Tuyên ngạc nhiên. Chẳng lẽ nàng ngại ngùng xấu hổ với con vì ngủ chung với anh. Cũng có lý. Với Ngọc Tuyền, anh còn là người cha xa lạ. Anh thấy rất nên có thời gian thân mật dần. Nhưng Bích Ngọc nghĩ khác. Trước khi qua đây, nàng tự hứa là phải giữ khoảng cách, phải cố tránh không để tự mình xấu hổ với việc cùng lúc có hai chồng. Nàng chưa biết phân trần thế nào thì Tuyên đã lên tiếng:

    – Bích Ngọc, em nên ở đây. Phòng của con trang bị giường đôi. Phòng học tuy là ghế bố nhưng có nệm đàng hoàng. Hai mẹ con ngủ chung hay riêng tùy ý.

     Bích Ngọc vẫn lặng thinh. Tuyên khẽ lắc đầu:

     – Anh thấy em thay đổi nhiều. Ít nói hơn xưa!

     Bích Ngọc ráng nở nụ cười mà lòng xốn xang:

     – Em… em vẫn vậy!

     Sợ anh đặt thêm câu hỏi, nàng ngẩng mặt, nhìn thẳng vào mắt chàng:

     – Anh kể chuyện của anh đi. Vì đâu anh bỏ rơi mẹ con em?

     Tuyên hít hơi dài, rồi thở ra mạnh:

     – Đừng nghĩ vậy em. Anh đã vô cùng lo lắng cho em. Anh đã tìm kiếm em, đã nhớ thương em suốt mười hai năm qua. Anh viết thư hỏi cả Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc. Không ai biết em ở đâu. Anh không tin em chết khi vượt biển. Anh vẫn tin có ngày ta gặp lại nhau. Hiện tại anh vô cùng hạnh phúc. Hãy cho anh biết cơ duyên nào đẩy đưa em qua Đức?

     Như được dịp trút nỗi ưu phiền đeo đẳng, nàng tuôn ra một hồi:

     – Đúng ngày con đầy tháng, bọn cướp nước đuổi tất cả mọi người ra khỏi Cư xá Hải Quân. Nhà ba má em trước đó đã bị tịch thu, ba em thì đi tù, má về ở chung với con rể. Em ôm con về ở chung với ba má anh. Sau hai năm, không còn nữ trang để bán, em và con đi buôn lậu thuốc tây. Tội nghiệp con bé, mới hai tuổi mà phải chịu đựng bao nhiêu hộp thuốc tây quanh người. Như được phù hộ, nó không khóc khi xe đò bị công an khám xét. Một lần tình cờ trên xe đò, em ngồi cạnh một bạn thân cùng khóa Hải Quân với anh – Trung úy Hào. Anh ấy vừa ra tù, hỏi thăm về anh, về cuộc sống của mẹ con em.  Bỗng hai tháng sau, anh ấy đến nhà ba má, cho biết anh theo đoàn tàu di tản qua đến đảo Guam bình an. Rồi anh Hào hỏi em có muốn vượt biên qua Mỹ đoàn tụ thì anh ấy sẽ giúp. Anh ấy làm tài công, được cho bốn người vượt biên không mất tiền. Anh ấy chỉ dắt theo hai đứa em. Còn hai chỗ Ba má anh khuyến khích em nên đi. Ở lại rồi cũng chết vì đói khổ.

     Đặng Văn Tuyên nôn nóng hỏi:

     – Vậy sao em lại ở Đức?

     – Tụi em được thương thuyền Đức cứu vớt, chở thẳng về Đức. Ở Đức, em được một cặp vợ chồng già bảo trợ. Hai vợ chồng rất tử tế, cho mẹ con em một phòng riêng rộng rãi, đối xử với em và con như ruột thịt. Sáu tháng sau, ông bà rủ em đi dự lễ tốt nghiệp đại học của con trai ở Bá Linh, sẵn dịp để biết luôn thủ đô nước Đức. Em quen Jonas từ đó…

Tự dưng tim Đặng Văn Tuyên như ngưng đập. Anh lặng người nghe tiếp: Sau lễ tốt nghiệp, Jonas về nhà, thường hỏi han giúp đỡ em, dạy học và đùa giỡn với con, tỏ ra hết sức thương yêu nó. Được một tháng thì Jonas trở lên Bá Linh nhận việc. Nhưng cứ tới cuối tuần là Jonas về nhà… Ba năm sau, Jonas ngỏ lời yêu em và muốn cưới em. Ba má Jonas rất tán thành. Thú thật là em chỉ có cảm tình với Jonas, không là tình yêu. Em nói em không thể nhận lời vì em đang có chồng, là cha của Ngọc Tuyền. Ba má Jonas nói còn hy vọng gì sau tám năm không tin tức. Anh thấy đó, em và con chịu ơn ba má Jonas rất nặng, Jonas lại thật lòng thương yêu em và con, mà anh thì cứ biệt tăm biệt tích, em khó thể chối từ. Tuy vậy em cũng cố hoãn binh bằng cách xin được chờ đợi thêm một năm nữa. Đến cuối năm, Jonas lặp lại lời cầu hôn. Không thoái thác được nữa, em nhận lời với một điều kiện: Trong trường hợp em gặp lại anh, em dứt khoát sẽ trở về với anh. Jonas đồng ý. Jonas tổ chức đám cưới rất đình đám nhưng không làm hôn thú. Cho tới khi em có mang…

     Đặng Văn Tuyên đang nâng ly nước định uống, bỗng chiếc ly rơi vỡ tan tành. Bích Ngọc và con lăng xăng giúp lau dọn. Khi mọi người trở lại an vị, Bích Ngọc lặng thinh, khuôn mặt xanh xao, buồn bã.

     Tuyên cố lấy giọng tự nhiên:

     – Anh đoán là con trai?

     – Dạ đúng. Con trai, vừa lên hai.

     Tuyên nghe xót xa, thờ thẫn đưa tay lên ôm đầu. Bao nhiêu mộng đẹp xây dựng từ sau cú điện thoại Bích Ngọc báo tin qua Mỹ, giờ thành ác mộng. Trong các trận đụng độ với Việt cộng trước kia, anh rất thản nhiên điều động phản kích, thế mà giờ chỉ một thông tin cũng đủ làm anh lịm người.

     Nhìn dáng muộn phiền của cha, Ngọc Tuyền tự dưng cảm thương, thấy gần gụi cha hơn. Cô bé lên tiếng:

     – Ba. Mẹ thường nói với con về ba và thường khóc vì lo lắng không biết ba sống chết thế nào. Mẹ cũng thường than phiền là những người quen mẹ đều nhận được tin tức chồng của họ, còn mẹ thì một chữ của ba cũng không có…

     Tuyên ngẩng mặt nhìn Bích Ngọc, phân trần:

     – Trong thời gian bị Việt cộng nhốt, anh có viết cho em nhiều thư. Gửi chính thức cũng có mà gửi lậu cũng có.

     Bích Ngọc ngạc nhiên:

     – Bị nhốt? Sao lại bị nhốt? Chớ không phải theo đoàn tàu di tản?

     Tuyên cười buồn:

     – Anh đã di tản đến Guam, nhưng vì lo lắng cho em nên anh quyết quay về. Để anh kể có đầu có đuôi. Như em biết, vào cuối tháng ba, tàu anh được lệnh công tác miền Trung yểm trợ cuộc rút lui. Cuối tháng tư, trong khi đổ bộ đồng bào di tản lên Phú Quốc thì có lệnh tập trung tại Côn Sơn. Sáng ngày 1 tháng 5, tàu anh cùng trên ba mươi tàu khác khởi hành đi Phi Luật Tân rồi đến đảo Guam. Tuần lễ đầu ở đảo này, đêm nào cũng lo lắng cho em không tài nào ngủ được. Anh nhất quyết tìm cách trở về Sài Gòn. Rồi có tin rỉ tai ai trở về sẽ được chính quyền mới tiếp đón, giúp phương tiện làm ăn sinh sống. Hơn một ngàn người có hoàn cảnh tương tự như anh liền tập họp tranh đấu trở về. Tất cả biểu tình, làm dữ. Tranh đấu mãi mấy tháng Mỹ mới đồng ý cấp chiếc thương thuyền Việt Nam Thương Tín. Sáng ngày 16 tháng 10, tàu khởi hành về Việt Nam. Sau 9 ngày đêm lênh đênh, tàu vào neo ở Vũng Tàu. Việt cộng ra lệnh tàu đi Nha Trang rồi tại đây họ quy tội tất cả là gián điệp Hoa Kỳ, trở về để hoạt động phá hoại. Thế là họ ngày đêm tra khảo, đánh đập rồi đưa mọi người lên vùng rừng núi gần biên giới Lào. Ở đó, họ phát mỗi người ba thứ là dao, búa, liềm và bảo tụi anh tự làm nhà ở, tự sinh sống…

     Bích Ngọc ôm mặt, nước mắt tuôn trào. Thì ra anh đã vì nàng mà bị đánh đập tù đày suốt bảy năm. Càng tội nghiệp, Bích Ngọc thấy mình càng tệ bạc. Anh hết lòng thương yêu mà nàng lại là người vợ thiếu thủy chung.

     Đặng Văn Tuyên vói tay lấy hộp khăn giấy đưa cho nàng, nhẹ nhàng an ủi:

     – Anh không giận em đâu, đừng tủi thân. Em ở lại, một mình lo cho con mới sanh cũng đã quá khốn khổ, quá đói rách. Anh hoàn toàn hiểu hoàn cảnh của em, hiểu tấm lòng của em. Và anh thấy thương yêu em thêm hơn.

     Bích Ngọc thút thít:

     – Rồi anh được thả về năm nào, làm sao qua được Mỹ?

     – Sau bảy năm tù đày, bọn Việt cộng cần Mỹ bỏ cấm vận, nên họ buộc lòng thả tụi anh. Ngay khi ra tù có người tiếp xúc mướn anh làm tài công như Trung úy Hào. Ba má anh lúc đó đều chết hết, nên ngoài hai chỗ dành cho hai đứa em, hai chỗ còn lại đổi thành bốn cây vàng. Anh ở Mã Lai sáu tháng, đến Mỹ đầu năm 1983. Nhà bảo trợ giúp anh tìm việc làm. Lương anh bây giờ dư sức bảo bọc em và con. Bốn cây vàng anh còn giữ tới giờ, em mặc sức mua sắm.

     Bích Ngọc buồn vui lẫn lộn. Tuyên vẫn hết lòng yêu nàng. Trong bổn phận làm vợ, nàng phải trở về với chồng. Nhưng còn đứa con hai tuổi, nàng bỏ nó sao đành.

     Một ý tưởng vụt đến mang cho Bích Ngọc niềm hy vọng mong manh:

     – Anh Tuyên, cho em hỏi và xin anh thành thật: Từ ngày anh qua Mỹ đến nay, suốt bốn năm trời, anh vẫn sống… một mình?

     Tuyên cười buồn:

     – Anh luôn luôn tin là em còn sống nên đêm nào cũng cầu nguyện được đoàn tụ.

     Bích Ngọc gằn giọng:

     – Anh thật tình muốn em và con qua đây sống với anh?

     – Thì em thấy đó, nhà cửa chuẩn bị sẵn sàng.

     Bích Ngọc cúi mặt lâng lâng buồn. Tuyên chợt nghe mềm lòng:

     – Thôi được. Anh để em quyết định.

     Nàng xúc động, nghẹn ngào:

     – Không! Anh quyết định. Anh đầy đủ tư cách quyết định. Anh đã vì em mà phải chịu đựng bảy năm khổ sai, đã kiên trì chờ đợi. Còn em, em không giữ được thủy chung…

     Anh cười cố tạo một câu đùa cợt: 

     – Anh nghĩ, chúng ta như đang trên con tàu mới vượt qua bão bùng sóng gió mà biển thì vẫn dạt dào mênh mông không bờ bến…

     Bích Ngọc mỉm cười ôn tồn:

     – Thôi thì như ngày xưa, mỗi khi gặp chuyện rắc rối cần quyết định chung, anh vẫn ra oai: anh là chủ gia đình, anh quyết định!

     Tuyên nhìn con gái đang tựa sát mẹ chăm chú lắng nghe. Quyết định sao đây? Nếu anh quyết định mẹ nó ở lại Đức mà nó chịu qua Mỹ thì hẳn là giải pháp tốt đẹp nhất. Anh mất vợ nhưng còn được con. Mà chắc gì nó chịu xa mẹ nó về đây sống với anh! Còn trường hợp anh giành lại quyền làm chồng làm cha, thì Bích Ngọc phải xa đứa con hai tuổi. Dễ gì Jonas đồng ý cho Bích Ngọc mang con qua Mỹ. Có thể nào anh thản nhiên nhìn mẹ con chia cách? Nhất là thời điểm đứa bé đang ở tuổi rất cần người mẹ. Anh thấy đầu óc rối rắm như rong biển. Rõ ràng vấn đề cần suy xét chín chắn, thông suốt mọi góc cạnh. Anh hỏi Bích Ngọc:

     – Em và con ở Mỹ mấy ngày?

     – Dạ, một tuần.

     Tuyên kêu lên:

     – Một tuần? Mười hai năm gặp lại mà bù đắp chỉ một tuần?

     Bích Ngọc cười buồn:

     – Anh quên rồi sao, em còn thằng con mới lên hai. Em qua gặp anh chính yếu là muốn biết quyết định của anh. Nếu anh nhất định muốn nối lại tình vợ chồng, thực hiện quyền làm cha, em sẽ về Đức thu xếp. Trong thời gian đó anh làm thủ tục bảo lãnh em và con. Mọi việc suôn sẻ, em và con qua sống hẳn với anh.

     Anh trố mắt nhìn Bích Ngọc. Anh vẫn biết tính nàng khảng khái, tế nhị nhưng bất ngờ trước thái độ dứt khoát với tâm nguyện dành cho anh. Tuyên cảm thấy vô cùng vui sướng, hả hê. Anh hết ngắm nàng lại ngắm con. Nó quá giống anh. Từ khuôn mặt, mắt, mũi, miệng. Nhưng nét đẹp thì thanh tao giống mẹ. Thật biết bao hạnh phúc khi được cả hai cận kề. Nhưng trở về thực tế nỗi vui sướng hả hê cạn dần.  Anh buồn rầu hỏi Bích Ngọc:

     – Nếu quyền quyết định là của em, thì em quyết định thế nào?

     Bích Ngọc trân trân nhìn anh. Một lúc lâu, chính anh lại lên tiếng:

     – Mà thôi, có gì phải vội phải vàng. Mình còn tới một tuần để… tính tới. Bây giờ vấn đề lớn trước mắt là giải quyết cái bao tử. Quá ngọ rồi!

     Anh dứt khoát đứng lên.

Trên đường ra khu Phước Lộc Thọ, Tuyên quay lui thấy bộ mặt con gái đượm nét u buồn, vội cười nói:

     – Nè Ngọc Tuyền. Bảy ngày ở Cali con không có thì giờ buồn chán đâu. Ba sẽ đưa con đi thăm các thắng cảnh, các viện bảo tàng, các đài thiên văn…

     Ngọc Tuyền chồm người tới, tươi tỉnh:

     – Con muốn đi chơi Disneyland, coi Grand Canyon.

     Tuyên gục gặc:

     – OK, ưu tiên con đi viếng Disneyland, kế tiếp Grand Canyon và bất cứ nơi nào khác con thích. Ba chỉ mong con mãi mãi nhớ California, ngộ lỡ con không còn dịp trở lại.

     Bích Ngọc lên tiếng cằn nhằn:

     – Anh nói cái gì lạ vậy?

     Anh vờ không nghe, tiếp tục hỏi con

     –  Ở Đức, con có dịp ăn cơm Việt Nam?

     – Dạ có. Mẹ thỉnh thoảng nấu canh chua cá kho tộ. Con thích lắm! Ba Jonas cũng rất thích.

     Bích Ngọc vụt quay nhìn anh. Tim anh nhói đau nhưng miệng mỉm cười:

     – Vậy thì chúng ta đi ăn canh chua cá kho tộ. Ngày xưa, hai món đó mẹ cũng thường nấu cho ba. Ba mê lắm!

     Bích Ngọc mím môi, rơm rớm nước mắt…

Vũ Thất

14/4/2025

CÁO PHÓ

50 năm – còn đó nỗi buồn

50 năm – còn đó nỗi buồn

Phạm Tín An Ninh

Ngày 24.2.2025 tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ đã quay lưng trước đồng minh NATO cùng hầu hết các quốc gia thuộc thế giới tự do, chính thức đứng về phía Nga, Iran, Bắc Hàn, và những nước thân Cộng sản, bỏ phiếu chống lại nghị quyêt lên án Nga gây chiến tranh xâm lược Ukraine, nhân dịp thế giới kỷ niệm 3 năm ngày Vladimir Putin xua quân vào lãnh thổ Ukraine. Sau đó, cả thế giới lại bàng hoàng, khi vị Tổng thống thứ 47 của Hoa Kỳ đã tỏ ra thân thiện với kẻ thù Nga, ca ngợi, bênh vực tên đồ tể Putin trong khi hết lời mạt sát, nhục mạ Tổng thống Zelensky, người đồng cấp, từng là đồng minh thân tín của Hoa Kỳ. Đã vậy, Tổng thống Mỹ còn đòi phải được khai thác khoảng sản, đất quý, tài sản quốc gia của Ukraine để trừ vào số tiền viện trợ trước đây. Có lẽ đây là nguyên nhân tiềm ẩn đưa đến cuộc tranh luận gay gắt, trở thành trận cải vã nặng nề ngay tại Tòa Bạch Ốc, giữa Tổng thống Zelensky của Ukraine và Tổng thống  D. Trump cùng Phó Tổng thống  J.D Vance của Hoa Kỳ vào ngày 28.2.2025, trước sự chứng kiến của các cơ quan truyền thông hiện diện cùng cả thế giới qua màn ảnh truyền hình. Sau khi “mời” Tổng thống Zelensky cùng phái đoàn tùy tùng ra khỏi Phòng Bầu Dục, Tổng thống Trump cũng đã quyết định ngưng tức khắc mọi viện trợ quân sự cũng như cung cấp tin tức tình báo, nhằm áp lực Ukraine phải nhanh chóng ngồi vào bàn hội nghị theo sự sắp xếp của Hoa Kỳ. Đến hôm nay, kết quả hội đàm tuy chưa chính thức ngã ngũ, nhưng ai cũng đã nhìn thấy trước số phận của Ukraine!

***

Sự kiện này xảy ra đúng vào thời điểm người Việt chuẩn bị tưởng niệm 50 năm, ngày kết thúc cuộc chiến Việt Nam. Chính xác hơn là ngày miền  Nam Việt Nam hay nước VNCH bị Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm, cũng với sự phản bội tương tự của đồng minh Hoa Kỳ, khi Mỹ và Bắc Việt đã cùng bắt tay thỏa thuận ký kết hiệp định mạo danh Hòa Bình vào ngày 27.1.1973 tại Paris, quyết định số phận của VNCH, quốc gia chính trong cuộc chiến nhưng bị áp lực để (gần như) phải đứng bên lề. Trong các cuộc hội đàm, phái đoàn VNCH bị xếp ngồi ngang hàng với (cái gọi là) Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng miền  Nam, trong khi ai cũng biết đó chỉ là đám tay sai, con rối do Cộng sản Bắc Việt nặn ra.

Vẫn biết rằng, quyết định của nước lớn đối với đồng minh luôn tùy thuộc vào quyền lợi của chính đất nước họ, tuy nhiên điều đau lòng là cung cách hành xử khi quay lưng, phản bội lại những người từng một thời nhận là bạn, cùng sống chết bên nhau. Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, ngày 29.4.1975, tại Đài Loan, ngay sau đêm đầu tiên bị áp lực phải rời khỏi nước, khi trả lời cho một đại diện của chính phủ Mỹ, cũng đã lên tiếng trong ngậm ngùi, cay đắng “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó”

Ukraine và VNCH bị đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi khi cuộc chiến đấu của hai quốc gia này có cùng một đích: tự vệ, chống lại quân xâm lược. Chỉ khác là trong cùng tình huống này, Ukraine có nhiều may mắn hơn VNCH. Bởi cuộc chiến Việt Nam kéo dài quá lâu, có hơn 58.000 quân nhân Mỹ tử trận, một số khác bị bắt làm tù binh, đẩy phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ ngày một dâng cao, đỉnh điểm vào tháng 5/ 1970, đã có đến 4 triệu sinh viên thanh niên liên tục xuống đường, gây bạo động, một số đã bị cảnh sát bắn chết. Thời điểm này đại đa số dân chúng Mỹ, qua lưỡng viện Quốc hội, không còn ủng hộ cuộc chiến Việt Nam. Cũng phải thẳng thắn để thừa nhận, trên thực tế quân dân VNCH đã không chiến đấu hết lòng và dũng cảm bằng Ukraine, và các cấp lãnh đạo, đặc biệt vị tổng thống của họ rất xứng đáng. Ngoài ra, Ukraine vẫn còn được đa số dân chúng Mỹ ủng hộ, quan trọng hơn, được Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và gần như toàn bộ Âu Châu luôn hết lòng, sát cánh. Trong khi ở vào thời điểm (trước và sau) Hiệp định Paris ký kết, VNCH gần như cô thân độc mã. Cùng lúc bị Mỹ bỏ rơi, các đồng minh khác như Úc, Nam Hàn, Thái Lan, kể cả Phi Luật Tân cũng đều theo Mỹ, quay lưng!

***

Vào thời gian này, đơn vị chúng tôi đang hành quân tảo thanh tại khu vực Kontum – Tây Nguyên, sau khi vừa liên tục tạo các chiến thắng lẫy lừng, đánh tan các lực lượng hùng hậu thuộc Mặt Trận B-3 của tướng Cộng sản Hoàng Minh Thảo. Với khẩu hiệu “sinh Bắc tử Nam”, Cộng sản Bắc Việt chuyên áp dụng chiến thuật biển người, đẩy đám bộ đội, đa phần là thanh niên, sinh viên miền Bắc bị cưỡng bách nhập ngũ, như những con thiêu thân lao theo sau các trận địa pháo, để bằng mọi giá phải chiếm được căn cứ Charlie của Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù,  mở cánh cửa ngõ xua chiến xa T-54 với hỏa tiễn tầm nhiệt của Liên Xô, tràn ngập BTL Tiền Phương SĐ22BB tại Tân Cảnh, chiếm cứ một vùng Bắc Kontum. Sau đó, một lực lượng Cộng quân hùng hậu hơn, gồm Sư Đoàn 320, Sư Đoàn 2 (sau này tăng cường thêm Sư Đoàn 968 từ Lào sang), cùng 4 trung đoàn
biệt lập 66, 95, 20, 24, Trung đoàn Đặc công 400, 2 trung đoàn Pháo,  6 tiểu đoàn Phòng không và 1 tiểu đoàn Tăng T-54… tràn xuống phía Nam nhằm thôn tính thành phố Kontum, trong ý đồ tiến chiếm Pleiku, nơi có bản doanh của BTL/QĐII/VNCH hầu dùng làm bàn đạp tràn xuống đồng bằng, duyên hải, nhưng đã bị thảm bại trước một lực lượng VNCH, với chỉ duy nhất mỗi Sư Đoàn 23 BB cùng 3 tiểu đoàn Pháo Binh và 1 chi đoàn chiến xa M-41 cơ hữu, đặc biệt được Không quân (giai đoạn đầu có B-52 của Hoa Kỳ) yểm trợ. Điều này đủ để chúng tỏ khả năng chiến đấu của Quân Lực VNCH.

Ngay trong trận chiến đầu tiên tại tuyến Tây Bắc Kontum, vào sáng ngày 14.5.1972. cả hai Trung đoàn 28 và 64 của Sư Đoàn (Thép) 320 Cộng sản cùng 1 tiểu đoàn xe tăng bị tiêu diệt, làm cho cả sư đoàn có tiếng, kỳ cựu này bị kiệt quệ, không còn khả năng chiến đấu. Sau đó chỉ đúng 10 ngày, sáng sớm ngày 24.5.72. trong trận tấn công cùng lúc vào Tòa Giám Mục, Bệnh Viện 2 Dã Chiến và vòng đai phi trường Kontum, cả Trung đoàn 52 thuộc Sư Đoàn 2 (Quảng Đà) mới tăng cường từ vùng Quảng Nam vào, bị đánh tan, đã phải giải thể. Một số lớn cán binh của Trung đoàn 141 thuộc sư đoàn này bị bắt và ra hồi chánh. (Những thất bại này Cộng sản Bắc Việt đã phải công nhận qua chính các hồi ký, quân sử của họ)

Chiến thắng Kontum vào Mùa Hè 1972 của đơn vị chúng tôi ở Quân Đoàn II, cùng lúc với Bình Long ở Quân Đoàn III và Quảng Trị ở Quân Đoàn I đã bẻ gãy ý đồ thôn tính VNCH của Cộng sản Bắc Việt, khi lợi dụng việc Hoa Kỳ vừa rút hết quân về nước, đồng thời cắt giảm tối đa quân viện cho VNCH, sau chiêu bài “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”. 

Nhưng rồi Hiệp Định Paris ngày 27.1.1973 như một trận gió chướng tàn độc, cuốn trôi hầu hết những chiến công mà chúng tôi đã phải trả bằng biết bao máu xương để đạt được, cùng lúc làm tiêu hao hào khí mà quân sĩ đơn vị chúng tôi vừa dâng cao trong men say chiến thắng. Hiệp định Paris mà Hoa Kỳ và Bắc Việt đã thỏa hiệp, ký kết trên nỗi đau thương, phẫn uất cùng thân xác của những người lính khốn khổ chúng tôi, chính là huyệt mộ do chính Hoa Kỳ đào lên nhằm chôn sống quân lực và cả quốc gia đồng minh VNCH sau đó.

Ủy Ban Nobel Hòa Bình Na Uy năm 1973 đã phải vô cùng xấu hổ và ân hận khi có một quyết định vội vã, sai lầm, trao giải cho Henry Kissinger và Lê Đức Thọ. Bị cả thế giới và nhiều dân biểu Na Uy phản đối, một số thành viên bất mãn rút tên ra khỏi Ủy Ban. Sau đó chính Lê Đức Thọ đã phải từ chối nhận giải, vì hơn ai hết, chính cá nhân ông ta và cả Bộ chính trị Đảng Cộng sản đều biết trước là sẽ không hề có hòa bình, bởi họ đã mưu đồ từ trước, không hề tôn trọng hiệp định mà chỉ lợi dụng những kẽ hở có toan tính, để đẩy mạnh cuộc chiến nhằm sớm cưỡng chiếm Nam Việt Nam.

Hiệp định mang tên Hòa Bình, nhưng kỳ thực chỉ là hình thức ngưng bắn kiểu “da beo”, để các lực lượng Cộng sản Bắc Việt không phải rút về Bắc mà được tiếp tục hiện diện hợp pháp tại các phần đất mà họ vừa lấn chiếm, cùng lúc Hoa Kỷ cắt hết viện trợ quân sự cho VNCH để đổi lấy tù binh, trong khi Cộng sản Bắc Việt vẫn được Trung Cộng, Liên Xô cùng khối Cộng sản gia tăng tối đa viện trợ. Lợi dụng tình hình này, Cộng sản Bắc Việt đã ào ạt chuyển đại quân, chiến xa, vũ khí, đạn dược, nhiên liệu vào chiến trường miền Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh, và một số từ Lào sang để gia tăng cường độ các cuộc tấn công, trong khi chúng tôi phải chiến đấu trong những điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn, từ quân số, vũ khí, đạn dược, nhiên liệu, đến mọi phương tiện khác. 

Hồi tưởng thời gian này, tôi bỗng thấy đồng cảm và thấm thía với tâm trạng của người lính trẻ Paul Bäumer, nhân vật chính trong “All Quiet On The Western Front” (Mặt Trận miền  Tây Vẫn Yên Tĩnh), tác phẩm viết về chiến tranh nổi tiếng của nhà văn Đức, Erich Maria Remarque, mặc dù tình huống tương tự đã xảy ra từ thời Đê Nhất Thế Chiến, hơn 55 năm trước:

“Ngày tháng trôi qua. Mùa hè 1918 này là mùa hè đẫm máu và kinh hoàng nhất. Thời gian giống như những thiên thần đang bay lượn trên vùng hủy diệt một cách không thể hiểu nổi. Dường như ai cũng biết rằng chúng tôi sẽ phải thua trong cuộc chiến này. Nhưng rất ít ai nói ra điều ấy. Chúng tôi đang bị đẩy lui. Chúng tôi không còn đủ quân số, không đủ tiếp liệu, đạn dược để có khả năng phản kích sau cuộc tổng công kích này. Duy chỉ có các chiến dịch hành quân là còn đang tiếp diễn – và những cái chết sẽ vẫn còn tiếp tục…”

Là những người trực tiếp chiến đấu, cận kề quân sĩ, chúng tôi đã phải xót xa, đau đớn đến dường nào khi chứng kiến đồng đội của mình ngã xuống mỗi ngày trong tình trạng tức tưởi, oan khiên như thế!

Hơn mười năm phục vụ trong một đơn vị Bộ Binh bình thường, nhưng chúng tôi chưa hề một lần chiến bại, ngay cả những trận chiến gay go, đẫm máu nhất, với lực lượng địch đông gấp nhiều lần và vũ khí tối tân hơn, điển hình như trận chiến Kontum. Vậy mà bỗng dưng chúng tôi trở thành những người bại trận. Bi thảm và tủi nhục hơn là dù có “gãy súng”, “buông súng” hay không, chúng tôi cũng bị thuộc về bên phía “đầu hàng” theo lệnh của ông tướng mới lên làm tổng thống ba ngày, nhân danh Tổng Tư Lệnh. Sau này, có người bảo ông làm đến đại tướng mà ngây thơ, nghe theo lời dụ dỗ, móc nối của ai đó và một người em ở phía bên kia, tin Cộng sản sẽ thành lập “chính phủ ba thành phần”. Có người lại bảo ông giành chức tổng thống chỉ để làm một điều duy nhất – đầu hàng. Cũng có người bênh vực, bảo nhờ ông đầu hàng nên tránh được một cuộc tắm máu, và có đủ thời gian cho một số người kịp chạy đến Subic Bay hay đảo Guam, sang Mỹ sớm. Là những thằng lính khốn khổ nhất, năm tháng chỉ ở trong núi rừng, dưới các giao thông hào, ngộp thở với tiếng bom đạn cùng bao nhiêu thứ lệnh lạc chiến trường, chúng tôi đâu có biết gì về chính trị bẩn thỉu, nhất là các biến cố dồn dập, hỗn độn trong những ngày tháng cuối cùng tại thủ đô Sài gòn.

***

Trong chiến tranh, thắng bại dù sao cũng là lẽ thường tình. Cuộc nội chiến Mỹ 1861-1865, Nam quân đã đầu hàng Bắc quân, và trong Đệ Nhị Thế Chiến, nước Nhật hùng mạnh đã phải đầu hàng quân đội đồng minh, sau khi hai quả bom nguyên tử do Mỹ thả xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki. Kẻ chiến thắng đã hành xử văn minh, nhân bản như thế nào, cho dù các cuộc chiến ấy cũng vô cùng tàn khốc, cướp đi rất nhiều sinh mệnh của hai bên – cả dân lẫn lính. Nhưng cuộc bại trận của chúng tôi sao mà phẫn uất và đau đớn quá. 

Bị đồng minh phản bội, bỏ rơi trong đành đoạn, tức tưởi. Thua một kẻ địch không đáng để thua. Một chế độ tự do nhân bản, văn minh, phồn thịnh lại phải đầu hàng một chế độ man rợ, nghèo nàn, lạc hậu. Có lẽ trong lịch sử chiến tranh Đông-Tây, chưa từng có những người lính nào ở phe thắng trận lại ngồi khóc ở vệ đường trên phần đất vừa mới chiếm được – như trường hợp nhà văn bộ đội Cộng sản Dương Thu Hương và nhiều người khác nữa– bởi nhận ra mình bị lừa dối, uổng phí cả một thời trai trẻ để đi “giải phóng” một miền đất tự do, văn minh, nhân bản, giàu có, hạnh phúc gấp vạn lần “miền Bắc xã hội chủ nghĩa” của mình. 

Đến hôm nay, cuộc chiến oan nghiệt ấy đã kết thúc vừa đúng nửa thế kỷ. Hầu hết những dấu tích chiến tranh trên quê hương đã bị “bên thắng cuộc” chôn xóa, hủy diệt, ngoại trừ một số rất ít được chọn lọc, tô son thiếp vàng, trưng bày trong các viện bảo tàng, nhằm để tô vẽ, tuyên truyền. Trong số chứng tích còn sót lại là những nấm mồ xác xơ của hàng vạn tử sĩ miền Nam, nằm trong các nghĩa trang tiêu điều hoang phế, bị kẻ chiến thắng đập phá, hủy hoại, nhục mạ. Thực ra, họ rất muốn phá hủy hoàn toàn cho sạch hết chứng tích cuộc chiến mà chính họ đã làm hoen ố lịch sử dân tộc một thời, như đã từng san bằng, giải tỏa một số các nghĩa trang quân đội ở các tỉnh miền Trung, nhưng sở dĩ một số ít nghĩa trang lớn còn sót lại, dù trong tình trạng bị phá hủy, thay tên gọi (như nghĩa trang quân đội Biên Hòa trở thành một nghĩa trang dân sự địa phương lạ lẫm nào đó), chỉ nhằm để kiếm lợi trong các cuộc tuyên truyền, thương lượng, đổi chác với Hoa Kỳ cùng thế giới tự do, và cũng để gạt gẫm, lừa mị đồng bào miền Nam hầu ngụy tạo một chút gì cái “tình dân tộc” trong chiêu bài “hòa hợp hòa giải”.

Mới đây, có người phát hiện Nghĩa trang Sư Đoàn 22BB hoang phế nằm lẩn khuất trong một vùng núi rừng Bình Định. Cây cỏ và cả rác rến gần như che lấp hàng ngàn mộ phần tử sĩ rêu phong. Một số đồng đội, nhà hảo tâm trong và ngoài nước cùng hô hào đóng góp, nhờ một số các anh chị em còn nặng tấm lòng với miền Nam trong nước tiếp tay, phát quang, sơn sửa, kẻ lại tên tử sĩ và dựng lại các tấm bia gãy đổ. Vậy mà, sau đó họ đã bị chính quyền Cộng sản đe dọa, ngăn chặn, gây bao phiền muộn. Kế hoạch trùng tu “kín” một số nghĩa trang hoang phế khác trong vùng cũng vì đó mà đành phải hủy bỏ.

Hàng vạn trại tù vội vàng được dựng lên sau tháng 4/1975, trên khắp mọi miền đất nước, nhằm đày ải, hành hạ, giết dần mòn gần một triệu quân cán chính, trí thức, văn nghệ sĩ, kể cả nhà sư và linh mục miền Nam. Giờ hầu hết những trại nằm trong rừng sâu, núi thẳm đã biến mất, một số trại tù lớn ở các thành phố thì đã được nâng cấp, sửa sang để trở thành những trại giam lớn của tỉnh hay cấp nhà nước. Tuy nhiên cứ thi thoảng người dân lại phát hiện một số nấm mồ “tù cải tạo” nằm sâu trong núi rừng Lào Cai, Yên Bái hoang vu, giờ chỉ còn mỗi tấm bia xám xịt rêu phong, lẩn khuất dưới cỏ cây từ gần 50 năm trước. 

(Mộ tù cải tạo trong rừng núi Yên Bái – Ảnh từ youtube)

Một chứng tích đau lòng khác, những thương phế binh VNCH bị đối xử tệ hại, đang phải sống từng ngày khốn cùng trong nước. Phần đông, theo thời gian đã chết do nghèo đói, bệnh tật. Số còn lại cũng đã già nua, sống lây lất trên các vỉa hè góc phố. Vậy mà họ vẫn không yên với một chế độ thiếu vắng tính nhân bản, tình tự dân tộc, luôn nặng hận thù. Với nghĩa tình cùng lòng tri ân của những đồng đội, đồng bào từ hải ngoại và cả trong nước, vận động gom góp gởi về, qua các vị Linh mục nhân từ thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn, để các vị tổ chức mỗi năm một, hai lần buổi họp mặt “Bên nhau đi nốt cuộc đời”, như là một chút ủy lạo trong tinh thần huynh đệ chi binh và biết ơn những người đã hy sinh một phần thân thể, vậy mà chính quyền Cộng sản cũng đã tìm mọi cách gây khó khăn, đe dọa, ngăn chặn cấm đoán, để cuối cùng phải hủy bỏ. 

(thương phế binh VNCH – Ảnh: Dân Làm Báo)

Chứng tích quan trọng và sinh động hơn, là sự hiện diện của hơn 5 triệu người Việt đã phải bỏ nước ra đi, đang sống lưu vong trên khắp mặt địa cầu. Sau tháng 4.1975, cả một miền Nam “thua cuộc” đã nhanh chóng trở thành một vùng đất chết, khốn cùng, bi thảm. Người dân có cảm giác như bị lưu đày ngay trên chính quê hương mình. Tương lai chỉ còn là những cơn ác mộng. Thời ấy, mọi người chỉ còn biết nhìn ra biển khơi mênh mông để ước mơ một sự đổi thay nào đó ở phía bên kia chân trời mịt mờ vô định. Và còn gì đau đớn hơn khi con người nghĩ tới chuyện phải bỏ quê hương ra đi lại là một niềm khát vọng! Trong suốt lịch sử thăng trầm của dân tộc, chưa có thời kỳ nào mà người dân phải bỏ cả quê hương, nhà cửa, mồ mả ông bà cha mẹ để vượt thoát ra đi trong cái chết. Chính quyền Cộng sản từng tuyên truyền, bôi xấu họ là bọn phản quốc chạy theo chân đế quốc nhằm tìm chút bơ thừa sữa cặn, để rồi không lâu sau đó lại âu yếm, chiêu dụ, gọi họ là những “khúc ruột ngàn dặm”, những “sứ giả” của quê hương, dân tộc. Thực chất, các cộng đồng người Việt tỵ nạn trên hầu hết các quốc gia tự do – mà chính quyền Cộng sản vẫn luôn xem là “các thế lực thù địch”- đa phần đã thành công vượt bậc tại các quốc gia định cư, thế hệ con cháu thành đạt trên đủ mọi lãnh vực, từ giáo dục, khoa học kỹ thuật, chính trị, quân sự, văn học, âm nhạc. Đó là những đóng góp rất tích cực cho các quốc gia đón nhận họ, nhưng cũng là những chất xám quý báu mà chính quyền Cộng sản trong nước hằng mơ ước. 

Trong suốt 50 năm, kẻ chiến thắng đã cố tình biến miền Nam, vùng đất tự do văn minh hạnh phúc xinh đẹp một thời, trở nên nghèo nàn, khốn khổ hơn so với cái nôi “cách mạng” miền Bắc, nhưng rồi dù có bị đàn áp, bần cùng hóa. phân biệt đối xử đến đâu, người miền Nam vẫn luôn giữ được văn minh, nhân bản, và đất miền Nam vẫn luôn đáng yêu, đáng sống. Đã có hằng triệu triệu người dân miền Bắc bỏ quê cha đất tổ tìm vào đất phương Nam, mong được đổi đời. Mật độ dân số miền Nam, đặc biệt tại Sài gòn ngày một đông đúc, có khi gấp gần 5 lần so với tháng 4.1975, nhà cửa, cao ốc thi nhau dựng lên bừa bãi, đến nỗi nhiệt độ trở nên nóng bức trong cả mùa đông, và nhiều con đường phố đã trở thành sông, chỉ sau một cơn mưa, dù không lớn lắm. Ngay cả các tỉnh cao nguyên, miền Trung, giờ cũng đầy những người miền Bắc bỏ xứ vào đây lập nghiệp, giành nương chiếm rẫy của những người Thượng, vốn từng bao nhiêu đời khai sơn phá thạch, sống chết ở đây.

50 năm, nền giáo dục “xã hội chủ nghĩa” lạc hậu, xuống cấp đã làm cho bao thế hệ học trò trở nên thua kém rất xa so với thế giới chung quanh. Đến nỗi một cô giảng viên trường Đại học Sư phạm (Thái Bình) đã công khai trong một chương trình trên truyền hình Hà Nội, rằng “Tự Lực Văn Đoàn là một gánh cải lương, và ông Nhất Linh là ca sĩ cổ nhạc”. Tệ hại và tủi nhục hơn là tình trạng tha hóa trong ngành giáo dục, kể cả thầy giáo và học trò. Chuyện thầy giáo gạ tình, hiếp dâm nữ sinh cũng như chuyện học trò, kể cả nữ sinh, đánh nhau và đánh luôn cả thầy cô giáo, gần như là chuyện thường tình.

Đặc biệt, ngôn ngữ Việt (cả tiếng nói lẫn chữ viết) bị biến cải một cách tùy tiện, ngốc nghếch, kể cả muốn Tàu hóa như trường hợp ông giáo sư tiến sĩ Bùi Hiền nào đó. Lịch sử (và môn Sử học) được dựng lên từ bao điều dối trá. “Anh hùng Lê Văn Tám” được xây tượng đài, đặt tên cho các con đường lớn, công viên, trường học, bắt học trò cả nước phải học tập, noi gương như một vị anh hùng. Thực chất, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật tưởng tượng. Chính ông GS Trần Huy Liệu, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử VN đã thú nhận với GS Phan Huy Lê, nhân vật Lê Văn Tám là do mình “dựng” nên và nhờ GS Phan Huy Lê sau này khi đất nước yên ổn, nói lại giùm, lỡ khi đó ông Trần Huy Liệu không còn nữa.  (GS Phan Huy Lê: Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám, Khoa Đông phương học). Và ông Phan Huy Lê đã công bố sự thật này năm 2005,  người dân trong nước do đó đều biết câu chuyện gian dối lừa mị này, vậy mà đảng và nhà nước vẫn không hề một lời lên tiếng.

50 năm, nền văn học “xã hội chủ nghĩa” còn lại những gì, ngoài mấy trăm bài thơ tuyên truyền, nịnh lãnh tụ, tiêu biểu cỡ Tố Hữu “Ta bên người, người tỏa sáng trong ta/ Ta bỗng lớn bên Người một chút…” hay “ Xta-lin ơi!/Hỡi ôi Ông mất, đất trời có không?/Thương cha, thương mẹ, thương chồng/Thương mình thương một, thương Ông thương mười), cùng các bản nhạc “đỏ”: Bác đang cùng chúng cháu hành quânTrường Sơn Đông Trường Sơn Tây,Tiếng Chày Trên Sóc Bam Bo,  Năm Anh Em Trên Một Chiếc Xe Tăng, Cô Gái Vót Chông… mà đám văn công hát đi hát lại trong mấy ngày lễ lớn, và tất nhiên chẳng ai còn muốn nghe!

Nhưng 50 năm với những bản tình ca miền Nam, một thời bị cho là nhạc vàng, cấm đoán, đến nỗi có người hát (như Toán Xồm, Lộc Vàng) đã từng bị đàn áp,  tù đày để người phải bỏ mình, người thì gần cả một đời khốn đốn, giờ lại làm mê mẩn say đắm mọi người lớn nhỏ, kể cả những “đồng chí lãnh đạo”, công an, bộ đội, từ Nam ra Bắc, từ thành phố cho đến các hang cùng ngõ hẻm, vùng sâu vùng xa. Mà oái ăm thay, đa phần những bản nhạc tình ca này lại viết rất đẹp về lính VNCH, người lính “bên thua cuộc”.

Trong một bài tiểu luận viết vào ngày 1.1.2022, dưới nhan đề “Níu một thời, giữ một đời”, nhà văn Ban Mai, một trí thức trẻ của chế độ (giảng viên tại trường Đại Học Quy Nhơn) đã viết:

“Việt Nam, sau năm 1975 kết thúc chiến tranh giữa hai miền Nam – Bắc. Hòa bình đã đến sau mấy thập niên tang tóc vì bom rơi, đạn nổ. 

Thế nhưng, người miền Nam đã không thể tưởng tượng nổi, tiếp sau đó là một thảm cảnh kinh hoàng… Trầm trọng hơn nữa: Sự xơ xác tinh thần của trí thức miền Nam không còn được tự do trình bày suy nghĩ, không còn được tự do hấp thụ tri thức nhân loại. Thay vào đó là những đợt học tập chính trị triền miên, theo một định hướng duy nhất: Chủ nghĩa Marx. Tất cả sách báo, văn học nghệ thuật bị tịch thu tiêu hủy, nền văn chương miền Nam hoàn toàn bị bôi xóa. Giống như thời man rợ của Tần Thủy Hoàng năm 210 trước công nguyên… 

Bắt đầu sau năm 1975, những thế hệ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam không hề biết đã từng có một nền văn học nghệ thuật miền Nam vô cùng gíá trị với nhiều thể loại “trăm hoa đua nở”, đề cao tự do, dân chủ, với ý thức khai phóng, nhân bản, theo kịp trào lưu thế giới…

Bên trong nước, mấy năm gần đây có một bạn trẻ Nguyễn Trường Trung Huy ở Sài Gòn cũng dày công sưu tầm văn học miền Nam và bộ sưu tập của bạn ngày một đồ sộ đáng cho ta kinh ngạc, đó là một kỳ công. Tôi tin rằng, trên đất nước Việt Nam này có nhiều người thầm lặng âm thầm tìm kiếm, lưu giữ một nền văn chương nhân bản mà ta tưởng rằng đã chết sau năm 1975. Ngày nay, giới nghiên cứu văn học trong nước đang ngày càng tìm kiếm để nghiên cứu, mới đây trong một đề thi luận văn bậc trung học phổ thông, có một giáo viên đã đem bài thơ “Ta về” của Tô Thùy Yên cho học sinh bình giảng, với những câu thơ đầy tính nhân văn:

“Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này”.

(Tô Thùy Yên là một sĩ quan VNCH, từng bị tù đầy qua nhiều trại giam trong gần 13 năm, sau tháng 4.1975)

Tuy đây chỉ mới là một hành động đơn lẻ nhưng đó là một tín hiệu vui.
Tôi tin rằng, sẽ không còn bao lâu nữa dòng văn chương miền Nam (1954-1975) sẽ được đưa vào giảng dạy chính thức trong nhà trường, nó xứng đáng được trả về với đúng vị trí của nó trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại, không ai và không một thể chế nào có thể bôi xóa một thời đại lịch sử của nước nhà. Giữ gìn, bảo tồn và chia xẻ văn học miền Nam cho đời sau là trách nhiệm của chúng ta, của tôi và các bạn những người yêu tiếng Việt, những người yêu văn chương Việt Nam”

Một vị giáo sư khác trong nước, chuyên nghiên cứu về Văn Học Việt Nam đã khẳng định “Trong hai thập niên 1955-1975, nếu không có Văn Học miền Nam, thì nền Văn Học Việt Nam xem như không hề có, hoặc chẳng có gì cả!”

Nhà thơ, nhà giáo cũng là nhà báo nổi tiếng miền Bắc, Hoàng Hưng, trong bài viết “Về ảnh hưởng của Văn hóa miền Nam (VNCH) sau 1975”, sau khi hết lời ca ngợi lối sống, văn hóa, văn học miền Nam, đã kết luận:

“…nhìn một cách tổng thể, toàn bộ đời sống miền Nam, trong đó có đời sống văn hoá, văn học, trong 45 năm qua đã dần dần “giải phóng” người dân miền Bắc khỏi cái nhà tù lớn trong đó con người bị buộc phải giả tạo, “gồng mình” hoặc bị mê hoặc mà mù quáng tuân phục trong thời chiến và theo “định hướng XHCN…. 

Đến nay nó vẫn tiếp tục đóng góp vào tiến trình “giải Cộng” gian lao của đất nước! Chắc chắn sẽ đến một ngày, đất nước chứng kiến một cuộc phục hưng văn hoá, văn học, đi tiếp con đường mà văn hoá, văn học miền Nam đã đi. Con đường Tự Do, Nhân Bản, Hội Nhập Quốc Tế.”

***

Sau 50 năm, tất nhiên đất nước cũng đã có những đổi thay nhất định. Cơ sở hạ tầng, đặc biệt tại các đô thị có nhiều phát triển, đời sống người dân ở đây có khá hơn so với nông thôn. Tuy nhiên trên thực tế, Việt Nam vẫn còn tụt hậu khá xa so với nhiều nước chung quanh. Chính ông Tổng Bí thư Tô Lâm mới đây đã công khai tuyên bố: “Cách đây 50 năm vào những năm 1960-1970, Singapore chỉ mong được sang Bệnh viện Chợ Rẫy (Sài gòn) để chữa bệnh, giờ thì ta lại ước mơ được vào khám bệnh ở Singapore.” 

Theo thống kê của IMF (International Monetary Fund/Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế), lợi tức tính theo đầu người ở Việt Nam cho năm 2025 là 4,986 Mỹ kim (Mk), trong khi ở Singapore là 93,956 Mk, và so với hầu hết các quốc gia Đông Nam Á khác, mức sống của người dân Việt nam đều rất thấp:

-Hàn Quốc (Nam Hàn): 37,675 Mk
-Nhật Bản                   :  35,611 Mk
-Đài Loan                   :  34,944 Mk
-Malaysia                   :  14,423 Mk
-Thái Lan                   :    7,754 Mk
Tệ hơn, Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với cả Mộng Cổ (Mongolia), một nước chỉ có đồng cỏ và sa mạc, với lợi tức trung bình của người dân năm 2025 ở đây là: 7,576 Mk.

Điều đặc biệt đáng chú ý hơn là trong hầu hết các quốc gia Đông Âu, mới giã từ chế độ Cộng sản khoảng 30 năm nay, người dân đều có lợi tức cao hơn nhiều so với Việt Nam (4,896 Mk).

-Tiệp Khắc (Czech Republic) = 33,038 Mk
-Hung Gia Lợi (Hungary)       = 25,703 Mk
-Ba Lan (Poland)                     = 25,040 Mk
-Lỗ Ma Ní (Romani)               = 21,570 Mk
-Bảo Gia Lợi (Bulgari)           = 18,456 Mk 

Tuy vậy, chủ trương làm “kinh tế thị trường (với cái đuôi) theo định hướng XHCN” thực tế cũng đã làm giàu nhanh chóng cho hầu hết tầng lớp đảng viên, gia đình và phe nhóm, đưa họ sớm trở thành những nhà tư bản “đỏ”, đào thêm cái hố ngày càng sâu giữa giai cấp giàu (đảng) và nghèo (dân). Điều này hoàn toàn trái ngược mục tiêu “đấu tranh giai cấp” mà đảng Cộng sản từng hô hào; đấu tố, giết hại dã man hàng mấy vạn người vô tội trong “Cải Cách Ruộng Đất”, lộ rõ chiêu trò lừa gạt “giải phóng miền Nam”, và hiện nguyên hình một đám thảo khấu khi chủ trương “tiêu diệt tư sản mại bản” rất tàn độc ngay sau khi cướp được miền Nam.

Sự làm giàu bộc phát (và bất chính) của tầng lớp tư bản đỏ này đã kéo theo hiện tượng xuống cấp từ Giáo Dục, Văn Hóa, Y Tế, tha hóa về Đạo Đức, Xã Hội và cả Tôn Giáo. Đặc biệt nhất là vấn nạn thối nát, tham nhũng – tất nhiên ngay trong hàng ngũ đảng Cộng sản, kể cả những lãnh đạo cao cấp nhất, từ hàng tướng lãnh, thứ bộ trưởng, thủ tướng đến cả chủ tịch nước – như là một thứ quốc nạn không còn thuốc chữa. Chức quyền được chuyền tay theo kiểu “cha truyền con nối”, “gia đình trị” của thời phong kiến. Đảng đứng trên pháp luật, thu tóm mọi quyền lực, tài sản quốc gia. Đảng viên sống phè phỡn giàu sang trên đầu những người dân cùng khốn. Đám con cháu, những “hạt giống đỏ”, được đưa sang du học tại các trường tư nổi tiếng ở các nước tư bản, tất nhiên bằng tiền của nhà nước hoặc từ tham nhũng, chuẩn bị cho các vai trò kế vị.

Một ông thủ tướng (sau đó là chủ tịch nước) từng mở miệng khoe khoang “Việt nam bây giờ đang là một đất nước đáng sống nhất, cái cột đèn ở hải ngọai mà có chân thì cũng đã chạy hết về Việt Nam” (sic!). Trong khi ấy, hàng vạn cô con gái phải bỏ cha mẹ, người tình sang làm vợ cho những ông già bệnh hoạn, tàn tật ở tận Đài Loan, Nam Hàn, như một thứ nô lệ, kể cả nô lệ tình dục. Nhiều cô không liên lạc được với gia đình. Một số bị giết chết hoặc bị bán vào các động mãi dâm. Tại một số nước Á châu, báo chí công khai quảng cáo dịch vụ “mua vợ Việt Nam” với giá bằng một món đồ chơi rẻ mạt. Trong lịch sử dân tộc, dù có những giai đoạn lệ thuộc khó khăn, nhưng không có thời kỳ nào mà thân phận những người con gái, đàn bà Việt Nam lại rẻ rúng và thê lương như thế. Chính quyền đã “xuất khẩu” hàng vạn, hàng trăm ngàn người lao động đi khắp thế giới, ngay cả những nước nghèo ở tận châu Phi, nhằm kiếm sống và kiếm thêm ngoại tệ cho nhà nước. Đã vậy vẫn cứ tiếp tục những dòng người tìm mọi cách trốn khỏi Việt Nam, để một số phải chết ngạt trong những chiếc xe đông lạnh, kín mít, một số phải sống trong núi rừng, trồng á phiện và bị bắt, vì không có quốc gia nào chấp nhận để dung thân. Một sự kiện đáng xấu hổ, khi nhóm chín người tháp tùng chuyên cơ của bà Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân trong chuyến viếng thăm “hữu nghị” Hàn Quốc, vào đầu tháng 12.2018, đã bỏ trốn khi vừa mới bước chân lên đất khách. Đó là chưa kể một số ra nước ngoài chỉ để ăn cắp, làm gái điếm, đến nỗi cái “hộ chiếu” Việt Nam đã từng trở thành nỗi ô nhục.

***

Sau đúng 50 năm, tại Sài gòn, trước cả mấy tháng, nhà nước Cộng sản Việt Nam đang chuẩn bị rầm rộ mừng ngày “thống nhất”, thao dược một cuộc diễn binh rất qui mô mà tốn phí dự trù hằng chục triệu Mỹ kim, vẫn với lời ca “thề phanh thây uống máu quân thù” vẫn với các khẩu hiệu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, hừng hực không khí kiêu ngạo, hận thù. Trong khi ấy, đã có những anh bộ đội có mặt trong đoàn quân giải phóng ngày nào, theo chân nhà văn Dương Thu Hương (ngồi khóc ở vệ đường, khi nhận ra mình bị lừa gạt để chém giết đồng bào, hủy hoại cả một miền Nam nhân bản, văn mình, giàu đẹp) giờ cũng đã tột cùng ăn năn hối hận, như trường hợp cựu cán binh Bình Ngọc với bài thơ “Xin Lỗi Tháng Tư!”:

Thời trai trẻ, gác bút nghiên, gác mọi ước mơ …lên đường “ đánh Mỹ!”
Cây súng trên vai, máu đỏ trong tim!
Mụ lí trí! Hùng hục vượt Trường Sơn.
Đêm nghỉ, ngày đi, giày vẹt gót, áo sờn vai thấm lạnh!
Mẹ còng lưng vắt kiệt sức, mỏi mòn, thao thức đợi con về!
“Ba mươi tháng Tư” bên thắng cuộc, hả hê
Con trở thành kẻ “kiêu binh!” trong đoàn “quân Giải phóng!”
Nhưng! Ba mươi tám năm sau con vô cùng thất vọng!
Không hiểu mình đi Giải phóng cho ai?
Chễm chệ trên cao, toàn những kẻ bất tài!
Đáy xã hội, nhiều “dân oan!” mất đất.
Những nghịch lý, tai ương…chồng chất!
Khoảng cách “sang, hèn” cứ rộng mãi ra.
Người ở “quê” không còn tha thiết với “ao nhà”.
Tràn vào miền  Nam “ngoạ, chiếm, xâm canh…từ núi, rừng, chợ búa, thị thành, lầu cao, gác tía ….!”

Đi đâu, ở đâu cũng gặp toàn người “ngoài ấy”.

Nhà cửa, ruộng vườn ngoài ấy họ bỏ hoang???
Quê Hương tôi, tên thật đẹp (làng Vàng).
Cũng có đình, chùa, bờ xôi, ruộng mật!
Không hiểu vì sao nhiều người “bỏ tất” để vào Nam chen lấn, đua đòi?
Riêng tôi!

Đã mấy năm nay, tôi đã làm kẻ “chạy trốn!”
Trốn khỏi “sai lầm” những năm, tháng …đã đi qua!

Mỗi tháng Tư về tôi lại nhớ vào Nam!
Xin lỗi! “tháng Tư!”
Xin lỗi! miền Nam, những việc tôi đã làm!
Xin lỗi tất cả!
Cả những người “bên thua cuộc!”
Biết sao được!
Mọi người chúng ta sinh ra, đâu có thể chọn được thời cuộc
Nhưng! Lẽ đời, Đen, trắng phải phân minh!
Xin lỗi! “tháng Tư!”
Hãy tha thứ cho mình! Rất chân thành, chứ không phải lời giả dối.

Hay trường hợp của Trần Đức Thạch, cựu phân đội trưởng trinh sát, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 266, Sư đoàn 341, Quân đoàn 4, qua các bài thơ 

Tạ Lỗi miền Nam

Tôi sinh ra ở miền Bắc
Không hình dung ra giặc thế nào
Người ta hô hào
Phải căm thù giặc…?
Người ta dạy tôi là người miền Bắc
Phải biết thương yêu đồng bào miền Nam
Bà con ruột thịt đang lầm than
Dưới gót giày của Mỹ Diệm…
Những người con nông dân thật thà như đếm
Mặc áo lính vai khoác súng lên đường
Hồn nhiên tin là đi bảo vệ tổ quốc quê hương
Đánh đuổi quân xâm lược…
Thống nhất đất nước
Mới ngớ ra “Quân ta đánh dân mình
miền Nam giàu và dân sống văn minh
Không đói khát vật vờ như dân miền Bắc…”
Hận ngút trời đứa nào lừa tuổi xuân tôi coi dân mình là giặc!

Sám Hối

Thế hệ chúng tôi tội lỗi ngập đầu
Nhìn con cháu lòng muôn hổ thẹn…
Thế hệ chúng tôi một thời chinh chiến
Thắng lợi mang về là xua đuổi văn minh
Thắng lợi mang về là làm khổ dân mình
Để đểu cáng lên ngôi gây tội ác
Thế hệ chúng tôi hoàn toàn lầm lạc
Quên dân tộc mình theo chủ nghĩa Mác Lê Nin
Bệnh hoạn tư duy méo mó cách nhìn
Gieo thù hận trong lòng con cháu
Thế hệ chúng tôi đổ bao xương máu
Chẳng ý nghĩa gì khi dân tộc điêu linh
Chẳng ý nghĩa gì khi đất nước tanh bành
Lãnh thổ giang sơn bị ngoại bang gậm nhắm
Thế hệ chúng tôi cuộc đời cay đắng lắm
Mất chính mình mang tội ác với tương lai

***

Riêng những người lính miền Nam, sau nhiều năm bị tù ngục, đọa đầy, nhiều gia đình ly tán, lưu lạc khắp bốn phương trời, nếu còn sống sót giờ cũng đã trên dưới 80, nhưng vết thương từ cuộc chiến bất hạnh ấy vẫn mãi luôn âm ỉ trong lòng. Một quãng đời trai trẻ, những vinh nhục, những đớn đau tức tưởi trong giờ khắc phải buông súng, cùng những món nợ máu xương chưa trả được cho đồng đội anh em, rồi cùng sẽ xót xa theo họ về cõi vô cùng. 

Xin được đồng cảm với tâm sự của một đồng đội đàn anh, nhiều năm chiến đấu bên nhau, từng là một cấp chỉ huy trẻ tuổi, thao lược: 

“Tuổi đời chồng chất, sức khỏe và những hăng say của tuổi thanh xuân ngày tháng nguội dần. Tôi thấy cuộc sống mình hụt hẫng hoang mang. Mỗi năm lại vắng thêm đồng đội và rồi một ngày nào đó, cũng sẽ tới lượt mình. Điều tự nhiên này, thực chất chẳng phải là nỗi ưu tư bởi vì đó là quy luật. Nhưng điều làm tôi suy ngẫm là ý nghĩa về cuộc đời của chính mình, thế hệ chúng ta, qua những việc đã làm, những đau thương đã trải…thực sự là gì, hoặc chẳng là gì hết?”

    Cuối tháng 4-2025  

    Phạm Tín An Ninh (https://diendantheky.net/)

Hai mươi năm và năm mươi năm

Trần Doãn Nho

Hai mươi năm ấy và năm mươi năm ấy, biết bao nước chảy qua ghềnh, qua thác, qua suối, qua cầu, qua sông, qua biển

Trong một lần gặp gỡ bà con, một người cháu, giáo viên về hưu, thuộc thế hệ của những người trưởng thành trong nước sau 1975, thành thật hỏi tôi: “Tại sao đã gần nửa thế kỷ trôi qua rồi mà các chú các bác ở ngoài đó [hải ngoại] vẫn còn giữ mãi thái độ thù nghịch với nhà nước [Việt Nam] vậy?” 

Tôi cười, trả lời, đâu chỉ ở hải ngoại, hiện nay ở trong nước cũng có nhiều người phê phán nhà nước kia mà. Dẫu biết hễ mở miệng là bị quy cho là thù nghịch và bị bắt vào tù ngay, nhưng vẫn có người không sợ, cứ lên tiếng. Điều này không bao giờ xảy ra trong các nước dân chủ, như ở Mỹ chẳng hạn. Phê phán các chính sách của nhà cầm quyền như thế là một sinh hoạt bình thường, không những thế, là cần thiết và không những thế, là dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Nhà cầm quyền xưa nay vốn là quyền lực, nhưng đồng thời cũng là bệnh nhân. Bên cạnh cái mạnh khỏe (biểu kiến), luôn luôn tiềm tàng những mầm bệnh. Chỉ trích và phê phán là toa thuốc. Không chịu uống, cũng phải ép uống. Thuốc đắng dã tật mà! Các ông tổng thống, thủ tướng hay các dân biểu nghị sĩ hay bất cứ quan chức nào đương nhiệm vẫn bị dư luận, báo chí và phe đối lập phê phán, chỉ trích, thậm chí rủa sả hàng ngày về đủ thứ chuyện (thực cũng như bịa), nhưng chẳng ai bị lên án là phản động, là bán nước hay phá hoại. Những “tội” tày đình như thế phải được quyết định bằng các phiên xử công minh của tòa án, chứ không phải bằng sự áp đặt của kẻ cầm quyền. Người bị chỉ trích chỉ có một quyền duy nhất: lắng nghe và sửa đổi hoặc phản bác lại, cũng qua báo chí, hay kiện ra tòa. Người cầm quyền không thể mà cũng chẳng có nhu cầu quy chụp hay quay quắt tìm cách bắt bớ để hư-vô-hóa đối thủ. Vì thế, cứ mãi tâng bốc, ca tụng nhà cầm quyền hay nhu mì chịu đựng trước những sai trái của họ như tình trạng ở trong nước hiện nay, không phải là dấu hiệu lạc quan trong một xã hội văn minh. Trong lúc người dân trong nước bị bịt miệng, thì tiếng nói phản biện của hải ngoại, đóng một vai trò rất tích cực trong việc thúc đẩy đất nước tiến bộ, điều ta có thể nhìn thấy ở nhiều mặt sinh hoạt hiện nay ở trong nước. 

Người cháu gật gù, tỏ ra hiểu. Tôi đoán: hiểu nhưng chắc khó thông. Người cháu sống thời của cháu 50 năm qua: chịu đựng và làm quen với chịu đựng trở thành một nếp sống, một quán tính sinh tồn. Đụng chạm đến nhà nước, ít hay nhiều, đối với những người sống trong nước – dù trước đây đã từng chịu ảnh hưởng của chế độ cũ trước 1975 – đều là “taboo”, là phạm húy. Nó tạo thành thứ văn hóa chịu đựng, yên thân và sợ hãi. Tôi (biết) sợ nên tôi hiện hữu. Còn tôi, tôi sống thời của tôi. Vâng, thời của tôi: hai mươi năm và năm mươi năm với những quãng đời gấp, gãy, đứt, vỡ, chập chờn nổi trôi giữa cuộc thăng trầm. Nhờ đó, tôi được nếm trải và thụ hưởng (dù không hoàn chỉnh) một thứ văn hóa khác hẳn: được nói. Tôi được nói nên tôi hiện hữu.

Nhìn trở lại lịch sử nước nhà, trong lúc các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, [1] hai chúa Trịnh, Nguyễn, nhà Nguyễn, và chế độ cộng sản hiện nay ở trong nước [2] là kéo dài khá lâu, thì một số triều đại khác chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi: nhà Ngô (939-965) 26 năm, nhà Tiền Lê (980-1010) 30 năm, nhà Tây Sơn (1778-1802) 24 năm [3]; hay quá ngắn ngủi: nhà Đinh (968-980) 12 năm và nhà Hồ (1400-1407) 7 năm. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tồn tại vỏn vẹn có 20 năm (1955-1975), [4] ngắn hơn nhà Ngô, nhà Tiền Lê và nhà Tây Sơn, nhưng dài hơn nhà Đinh, nhà Hồ. Dù được hình thành trong một hoàn cảnh lịch sử rối rắm, thực tế là lúc đó, VNCH là một quốc gia như mọi quốc gia khác: có cương thổ, có quân đội, có chủ quyền pháp lý, bang giao với trên 80 quốc gia trên thế giới và là thành viên của nhiều Ủy Ban Liên Hiệp Quốc. Tôi xin được nhắc lại cách nhìn của tôi về VNCH đã từng được trình bày trong một bài viết trước đây. [5]

Khi nói đến VNCH, thường thì người ta chỉ xét đến các chính quyền: chính quyền Ngô Đình Diệm, chính quyền Nguyễn Khánh, chính quyền Nguyễn Cao Kỳ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, vân vân. Khi nghĩ đến các chính quyền, người ta chỉ nhìn thấy một VNCH đầy những hình ảnh tiêu cực: tham nhũng thối nát, thay ngôi đổi chủ xoành xoạch, lệ thuộc ngoại bang và dựa vào đó, quy cho VNCH là phồn vinh giả tạo, là đầy rẫy các tệ nạn xã hội, là bất công, áp bức, vân vân và vân vân. Thực ra, cũng như những quốc gia non trẻ khác, trong quá trình tiến đến một xã hội văn minh, dân chủ, VNCH nhất đinh phải trải qua những khiếm khuyết và tiêu cực, nhất là trong khi, một mặt, bị đồng minh o ép và mặt khác, phải tận lực chống đỡ những phá hoại và lũng đoạn từ nhiều mặt được sự chỉ đạo của nhà nước miền Bắc. Tuy nhiên, xét về nhiều khía cạnh khác, VNCH có rất nhiều ưu điểm; những ưu điểm này thường bị che giấu bởi thiên kiến và bị (kẻ thù lẫn đồng minh) xuyên tạc một cách bất công. Trong tập hồi ký “Nhìn Lại Những Chặng Đường Đã Qua”, [6] giáo sư Nguyễn Văn Trung, một trong những khuôn mặt trí thức tả khuynh nổi tiếng hàng đầu ở miền Nam trước năm 1975, đã nêu lên một số ưu điểm đó, tóm tắt như sau: 

  • Cơ chế công chức: trong vòng 20 năm (1955-1975), dù có nhiều thay đổi trong chính phủ, cái hệ thống hành chánh, guồng máy đó vẫn như thế, vẫn chạy đều như không có gì xảy ra. Công chức cấp dưới có trình độ văn hóa tương đối, còn công chức cao cấp tối thiểu cũng có bằng tú tài hay tốt nghiệp đại học. Và dù ở cấp nào, giới công chức vẫn giữ phong cách của những người làm việc công: mực thước, tôn trọng của công, tôn trọng luật pháp và phục vụ công chúng. 
  • Xã hội dân sự: một xã hội đa dạng với vô số tổ chức, hội đoàn tư nhân lớn, nhỏ hoạt động độc lập và hợp pháp, được chính quyền tôn trọng và giúp đỡ từ tôn giáo, nghề nghiệp, cho đến kinh doanh, văn nghệ, vân vân. 
  • Pháp lý và đạo lý: Về mặt pháp lý, thì cộng sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Tuy nhiên, một người có người thân hay họ hàng đi theo cộng sản, con cái họ chẳng gặp khó khăn gì trong việc học hành, thi cử và những quyền lợi hợp pháp khác và khi lớn lên, nếu không trực tiếp tham gia hoạt động cho cộng sản thì vẫn được đi làm việc bình thường, không bị phân biệt đối xử. Có người còn được cấp học bổng đi du học nước ngoài, trong số đó, có người về sau lại hoạt động chống đối kịch liệt VNCH. 
  • Quân đội: các khóa học của trường Võ Bị Đà lạt, Nha Trang, Thủ Đức từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa đến sau này dần dà tạo được một giới sĩ quan có trình độ tú tài hay đại học không hề mặc cảm là lính đánh thuê của quân đội viễn chinh, trái lại họ có được một điều mà nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã tạo cho họ đó là một bản sắc, một căn cước quốc gia (identité nationale).”

Chính vì thế, “Dù người dân có khinh ghét chính quyền Sài Gòn thế nào đi nữa, có lẽ ít ai nghĩ rằng mình đang sống trong vùng Mỹ-Ngụy, vùng tạm chiếm mà chỉ nhìn nhận: Việt Nam là một dân tộc, nhưng hiện đang bị chia cắt, có hai thể chế chính trị: Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, và mong muốn một ngày nào đó có thống nhất trong hòa bình,” theo Nguyễn Văn Trung.

Tôi hoàn toàn tán thành ý kiến này của Nguyễn Văn Trung. Như nhiều người cùng thế hệ, tôi đã sống trọn hai mươi năm trong lòng chế độ đó và lúc nào cũng cảm thấy tự hào mình là người Việt Nam. Nhìn trở lại, với tôi, đó là một quá khứ thân thuộc, êm đềm, sinh động. Tôi được học hành vui chơi, được mơ ước, được phục vụ, được hưởng thụ và không những thế, tham gia tranh đấu chống lệ thuộc ngoại bang, chống bất công, chống đàn áp, đòi hỏi bầu cử tự do, dân chủ. Và đã từng ăn cơm nhà tù vài lần. Với tôi, VNCH không hoàn hảo, nhưng rộng mở, đa dạng, có chỗ cho thế hệ chúng tôi mở mang kiến thức nhiều mặt, có chỗ cho những tư tưởng và chính kiến khác biệt – thậm chí đối chọi nhau – tồn tại, và có chỗ cho kẻ sĩ và người bình thường sống một cách lương thiện, không cần phải nhịn nhục, bợ đỡ và hô khẩu hiệu. 

Những ưu điểm đó làm nên cái mà tôi gọi là “giá trị VNCH”. Giá trị đó là một sản phẩm xã hội, chứ không phải là một lý thuyết chính trị hay lý thuyết đạo đức, cũng không thoát thai từ một nhà cầm quyền nào. Còn nhớ, sáng 30/4/1975, đứng trên đường Trương Minh Giảng, Sài Gòn, nhìn những chiếc xe tăng bộ đội cộng sản chạy vào từ hướng phi trường Tân Sơn Nhất, tôi bàng hoàng nghe như cả bầu trời sụp xuống. Trời nắng mà tràn đầy bóng tối. Trong phút chốc, giá trị đó tưởng như đã vĩnh viễn đi vào hư vô. Không! Hóa ra, cũng như không khí, ta chỉ khám phá ra sự hiện hữu của nó khi không còn chỗ để thở. Không những chỉ với những ai phục vụ cho chế độ VNCH hay người dân bình thường, mà ngay với những thành phần nằm vùng trong hàng ngũ trí thức, sinh viên, học sinh…miền Nam. Sau 1975, chính họ cũng ngột thở. Tự bịt miệng và bị bịt miệng. Khác với các triều đại ngắn ngủi trước đây, tuy chế độ thì không còn nữa, nhưng “giá trị VNCH” dần dần sống lại. Nó “biến” nhưng không hề “mất”, vẫn tiếp tục tồn tại và kéo dài đến ngày nay, 50 năm sau. Ở hải ngoại, đã đành, mà còn lan tỏa vào trong nước dưới nhiều khía cạnh và hình thức khác nhau. Khởi đầu, do những đợt vượt biên, vượt biển liên tục làm chấn động lương tâm nhân loại sau năm 1975. Từ đó, dù vì chính trị hay kinh tế, dù định cư ở Hoa Kỳ, Úc, Pháp, Anh hay các nước khác ở Âu Châu, Phi Châu, Á châu, những người rời bỏ đất nước mang theo tấm lòng của những người sống trong, sống với và yêu mến các giá trị đó. Nói như nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, đó là những “Sài Gòn hôm qua” và những “Sài Gòn mai sau” trong tâm thức “hồi hương” của họ:

Những thành phố em sẽ đi qua
Đây Ba-Lê, đây Luân Đôn, đây Vienne
Nhưng có đâu bằng Sàigòn hôm qua
Nhưng có đâu bằng Sàigòn mai sau
Em có mơ ngày hát câu hồi hương

(Em Còn Nhớ Mùa Xuân/Ngô Thụy Miên)

“Ra đi” này kéo theo “ra đi” kia. “Ra đi”, cuối cùng, không còn có nghĩa là “bỏ đi” mà là để trốn thoát, để gìn giữ và để nối dài. Tôi thích nhóm chữ “VNCH nối dài” của sử gia Tạ Chí Đại Trường. [7] Vâng, có một VNCH nối dài. Đó là sự “nối dài” đầy ý nghĩa của một mô thức xã hội, vừa có tính thừa kế những giá trị có sẵn, vừa được bổ sung thêm những giá trị mới từ văn minh phương Tây. Nó đánh dấu sự tồn tại những nét son của phe thua cuộc. Người miền Nam ra đi kéo theo người miền Bắc (cũng tìm cách) ra đi. Những đợt ra đi “không có phép” được nối tiếp với những cuộc ra đi “có phép”. Cho đến nay, người ta vẫn tiếp tục ra đi, dưới dạng này hay dạng khác (vượt biên, vượt biển, lao động, du học, bảo lãnh, hôn nhân, đầu tư…). Trong số đó, không thiếu những người đã từng hoạt động cho cộng sản và con cháu của họ, kể cả con cháu của nhân vật cao cấp trong chính quyền. Bây giờ, dù ở trong hay ngoài nước, hiếm khi nghe nói “giấc mơ hồi hương”. Mà chỉ nghe giấc mơ Mỹ, giấc mơ Nhật, giấc mơ Hàn, giấc mơ Đài hay bất cứ loại giấc mơ gì, miễn là ra khỏi nước. Quê hương, “chùm khế ngọt”, (buồn thay!) chỉ còn là cái “sân sau”. Hải ngoại trở thành “nhà mặt tiền” hấp dẫn, khiến nhiều người trong phe thắng cuộc cũng âm thầm tìm cách bước theo chân kẻ thua cuộc. Nghe nói nhiều cán bộ cao cấp cũng chạy vạy xin (hay mua) sẵn một cái hộ chiếu nước ngoài, dù của một nước Phi châu hay một đảo quốc nho nhỏ nào đó, “Cyprus” (the Republic of Cyprus) chẳng hạn, để …phòng thân. 

Nối dài và nối dài và nối dài…

Những “nối dài” đó khiến cho cộng đồng Việt Nam, trong 50 năm qua, từ những nhóm người tị nạn tả tơi, rách nát trong quá khứ cho đến hiện nay, bành trướng ra, lớn mạnh hơn, có mặt hầu như trên khắp thế giới, hình thành nên một hiện thực chưa hề có trong lịch sử nước nhà: Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại. Hai chữ “hải ngoại” vừa là một khái niệm địa lý lại vừa đồng nghĩa với một cái gì “khác hẳn” – và trong một số trường hợp, “đối lập” – với (nhà cầm quyền) trong nước. Hiểu cách nào thì hải ngoại cũng là một chỗ dựa, là chỗ bù đắp cho những gì thiếu vắng, thiếu thốn hay bị cấm đoán – cả tinh thần lẫn vật chất – ở trong nước. Hải ngoại động viên, dung chứa, lưu giữ và phổ biến, không những nền văn hóa dân tộc đa dạng, mà còn những tiếng nói phản biện mọi mặt từ trong nước ra toàn thế giới. Các cuộc phỏng vấn, các ca khúc, các tác phẩm văn chương, các sách biên khảo xã hội và chính trị của họ được hải ngoại tiếp nhận, xuất bản, phổ biến, phát hành. Hải ngoại trở thành một đối trọng (contre-poids) cần thiết, góp phần thúc đẩy tiến bộ và cải cách đất nước. Có lẽ chính vì điều này mà nhà cầm quyền (và một số cây bút) trong nước vẫn cảm thấy không mấy thoải mái khi sử dụng hai chữ “hải ngoại” chăng!

Ở một mặt nào đó, có thể nói “hải ngoại” là một thực thể Việt Nam khác, phong phú, cởi mở và tự do. Nhất là ở Hoa Kỳ. Với tổng dân số được ước tính hiện nay hơn 2,2 triệu người, cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ chiếm khoảng một nửa số người Việt trên toàn thế giới, với một cái tên mà cũng là một nơi chốn đã trở thành biểu tượng để hướng về: Little Saigon. Little Saigon – “thủ đô” của người Việt tị nạn – bây giờ là “ID” (căn cước) của một VNCH nối dài. Tuy không phải là một chính quyền, một tổ chức, một cơ cấu, nhưng Little Saigon hoàn toàn mang không khí và hơi thở của những tháng năm VNCH ngày cũ, từ chợ búa, truyền thanh, truyền hình, báo chí cho đến văn chương, âm nhạc và, tất nhiên, lá cờ vàng, bây giờ  được xem là “Lá Cờ Tự Do và Di Sản” (Vietnamese Freedom and Heritage Flag)[8] của người Mỹ gốc Việt [9]Little Saigon – Sài Gòn Nhỏ – tượng trưng cho sự tồn tại của một Sài Gòn Lớn, vốn là thủ đô của VNCH, đã bị đổi tên. Cứ nhìn những ứng cử viên người Việt ra ứng cử các chức vụ hành pháp và lập pháp (trung ương hay địa phương) trong các cuộc bầu cử tháng 11/2024 tại Little Saigon là thấy rõ sự kiện đó: ứng cử viên, dù thuộc đảng nào, đều nêu bật những “giá trị VNCH” để thu hút sự ủng hộ của cử tri. Ngay cả một ứng cử viên người Mỹ gốc Hàn, bà Michelle Steel, khi vận động tái tranh cử dân biểu liên bang, cũng đi theo phương thức đó; thậm chí, trước khi mãn nhiệm (do thua một ứng cử viên Việt Nam là Derek Trần trong cuộc bầu cử dân biểu ngày 5/11/2024), bà đã vận động quốc hội Hoa Kỳ yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do cho nhà báo Lê Hữu Minh Tuấn thông qua Dự án Bảo vệ Quyền Tự do của Ủy ban Nhân quyền Tom Lantos vào giữa tháng 12/2024. [10]

Sự lớn mạnh và ảnh hưởng về nhiều mặt của Little Saigon khiến nó trở thành đề tài nghiên cứu cấp đại học. Chẳng hạn như tiểu luận “Creating a Sense of Place: The Vietnamese-Americans and Little Saigon” của Sanjoy Mazumdar, Shampa Mazumdar, Faye Docuyanan và Colette Marie McLaughlin. [11] Theo các tác giả, ở Hoa Kỳ, hầu hết những nhóm người mới đến định cư đều có nhu cầu phải diễn tả căn cước cộng đồng của họ bằng cách tạo ra một không gian và nơi chốn riêng của họ. Chẳng hạn “Chinatown” (Khu Phố Tàu), “Polish enclave” (Cộng Đồng Ba Lan), “Lebanese enclave” (Cộng Đồng Li-Băng/Lebanon), Germantown (Khu Phố Đức), “Little Havana” (Tiểu Havana/cho người Cuba). Tương tự, các tác giả cho biết, “Kinh nghiệm của người Việt Nam là câu chuyện về sự đau đớn và mất mát, mất nước, mất nhà, mất gia đình, mất văn hóa và căn cước.” [12] Cho nên, Little Saigon xuất hiện như là “trung tâm của căn cước và sự gắn bó của cộng đồng” [13] Nó đã trở nên, “không chỉ là trung tâm thương mãi mà còn là trọng điểm xúc động của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ.” [14] Vì thế, những người Việt nào không cư trú ngay tại Little Saigon, thì đến “Little Saigon giống như thực hiện một cuộc hành hương. Đối với họ, đó là một ngôi nhà thay thế, một ngôi nhà cách xa nhà (a home away from home), một nơi chốn họ có thể dễ dàng đến để có được một chuyến về thăm nhà. (…) Đối với một cộng đồng người tị nạn đã mất quê hương, trong đó có thủ đô Sài Gòn, việc thành lập Little Saigon tượng trưng cho niềm hy vọng từ ‘không nhà’ (homeless) trở thành ‘có nhà’ trở lại (a ‘home’ again). Cuối cùng, chính sự hiện diện của Little Saigon đã truyền tải một cách đầy biểu tượng đến xã hội sở tại khao khát của cộng đồng di dân Việt Nam muốn bám rễ thường trực trên vùng đất tạm dung mới (trong đất Mỹ) trong lúc vẫn duy trì được bản sắc dân tộc riêng của họ thông qua sự chuyển dịch thành công tôn giáo, văn hóa và doanh nghiệp của họ.” [15] 

Nhân đây, để bổ sung với ý kiến trên của những người nước ngoài, tôi xin trích dẫn vài nhận xét của Đỗ Ngọc Dũng, một cán bộ cộng sản trong nước, khi, lần đầu tiên, ông đặt chân đến Little Saigon:

“Đặc biệt là quận Cam, cái tên đã trở nên quen thuộc không chỉ đối với người Việt ở sở tại, mà còn với cả người Việt ở trong nước. Những người Việt xa xứ ở đây đã xây dựng trung tâm sinh hoạt của mình “Sài Gòn Nhỏ”, hay còn gọi là Little Saigon (…) Tôi đặc biệt quan tâm đến đời sống văn học nghệ thuật của người Việt ở đây. Không khó để nhận ra Little Saigon có khá nhiều các quầy sách văn học. Ở đây có cả những bộ “Truyện Kiều” song ngữ Việt-Anh, hay sách của các nhà văn lớn như Tô Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Ngọc Tư… (…) Tất cả các chương trình hải ngoại đều được phát hành tại đây. Ở đây có hai đài phát thanh phát sóng tiếng Việt là Little Saigon Radio và Radio Bolsa; có bốn đài truyền hình phát sóng 24/24 giờ bằng Tiếng Việt và hai đài truyền hình vệ tinh Saigon Broadcasting Television Network (SBTN) và Hồn Việt TV xem được trên toàn nước Mỹ. Little Saigon – đặc biệt là Westminster – còn là trung tâm của ngành truyền thông giải trí của người Việt sở tại. Những chương trình đặc sắc được tổ chức tại các sân khấu nổi tiếng như Paris By Night, Vân Sơn… Có rất nhiều các ca sĩ, nhạc sĩ, nhà văn, họa sĩ, nghệ sĩ hải ngoại… ngụ cư và hành nghề tại đây. (…) Chúng tôi dành thời gian gần cả buổi sáng dạo quanh tuyến phố Little Saigon, gặp rất nhiều hình ảnh quen thuộc. Đó là những ngôi chùa Việt, mô hình chợ Bến Thành, hay những tiệm cơm, phở, phòng khám nha khoa, tiệm spa, nail, văn phòng trung tâm tài chính, văn phòng việc làm, ngân hàng… tất cả đều viết song ngữ Việt – Anh. (…) Người mua, kẻ bán đều niềm nở, thân thiện. Không khí ở đây luôn tấp nập, nhất là vào các dịp cuối tuần, khi diễn ra các phiên chợ đêm (thứ 6, thứ 7, Chủ nhật) (…) Mỗi sáng, người Việt thường qua khu Phước Lộc Thọ để ăn sáng, uống cà phê, đọc sách báo, nghe nhạc, hoặc tán gẫu, đánh cờ tướng… Phía trước khu Phước Lộc Thọ còn có hẳn một dãy bàn ghế dành cho những người cao tuổi, nhà văn, nghệ sĩ ngồi uống café thư giãn, đàm đạo văn chương, nghệ thuật, bàn bạc thế sự…(…) Chúng tôi đã tiếp xúc nhiều người Việt xa xứ có chính kiến khác nhau, nhưng họ chẳng thể phủ nhận, quê hương Việt Nam chỉ có một mà thôi. Và, Little Saigon có vai trò quan trọng duy trì bản sắc văn hóa Việt, giữ mối liên lạc tinh thần giữa cộng đồng người Việt hải ngoại với quê hương.” [16]

Điều thú vị là: Little Saigon này làm phát sinh ra những Little Saigon khác. 

Hiện nay, đã có khá nhiều Little Saigon hiện diện tại nhiều địa phương, ở Hoa Kỳ cũng như ở một vài nước khác. Cái tên dễ thương này đã trở thành – hoặc đang được vận động để trở thành – chính thức, như Little Saigon San Jose (California), Little Saigon San Francisco (California), Little Saigon Sacramento (California), Little Saigon Houston (Texas), Little Saigon Vancouver (Canada), Little Saigon in Sydney (Úc), Little Saigon Plaza Bankstown (Úc). Ở những nơi mà cộng đồng người Việt nhỏ bé hơn, lại sống tản mác, không có đại diện trong chính quyền địa phương để vận động đặt tên, cư dân Việt vẫn tự gọi khu sinh hoạt hay khu thương mại địa phương mình cư trú là Little Saigon. Dần dà, dưới mắt người Mỹ, Little Saigon đồng nghĩa với “Khu Phố Việt”. Tại các khu phố này, có nơi tuy chỉ thu gọn trong một vài cơ sở thương mại (đôi khi chỉ là một cái chợ nhỏ), mọi mặt sinh hoạt hàng ngày của chúng đều đậm nét quê hương, hình thành những thỏi nam châm thu hút và quy tụ đồng hương. 

Có thể nói, các “Khu Phố Việt” là những tổ ấm đồng hương. Chúng gắn liền với nỗ lực bảo vệ truyền thống của mọi người Việt Nam khi họ bị buộc phải xa rời cội nguồn, được biểu hiện một cách sống động qua hình thức ẩm thực và lễ hội. Trong suốt năm mươi năm ở xứ người, năm nào cũng như năm nào, ở đâu có người Việt cư ngụ là ở đó có hội Tết, dù nhỏ dù lớn. Tha hương thì buồn, thì nhớ, nhưng vẫn “Ăn” và “Mừng”. “Ăn” Tết, “Mừng” Xuân là mang quê hương đến với mình. Đồng thời, cột chặt mình với quê hương. Có Tết là có quê hương. Không kể Little Saigon, nơi mà không khí Tết rộn ràng và rực rỡ mà cao điểm là các cuộc Diễn Hành Tết và Hội Chợ Tết, ở các vùng khác, sinh hoạt Tết vẫn diễn ra hàng năm được gọi là “Tết Cộng Đồng”, cũng thấm đẫm màu sắc quê hương không kém. Khác với sinh hoạt Tết ở nước ngoài thường do các đại sứ của nhà nước cộng sản tổ chức tại sứ quán của họ, nhóm chữ “Tết Cộng Đồng” ở đây để chỉ lễ hội truyền thống (với đủ thứ sinh hoạt: hội chợ, đánh bài, thi áo dài, thi tiếng Việt, chợ hoa, xổ số, hái lộc, múa lân, đốt pháo…) do những di dân tị nạn tự thực hiện. Tết Cộng Đồng diễn ra ở nơi công cộng (thuê hội trường của một cơ quan hay tổ chức nào đó), dành cho, không những tất cả cư dân Việt trong vùng, mà còn mở rộng ra chào đón cư dân các sắc tộc khác, với sự tham dự của các viên chức hành pháp và lập pháp địa phương, như thị trưởng hay nghị viên hội đồng thành phố. Sinh hoạt này, một mặt, duy trì và chuyển tải truyền thống văn hóa cho các thế hệ sau; một mặt, giới thiệu và giao lưu văn hóa Việt Nam với các cộng đồng sắc tộc bạn. Đặc biệt lúc nào, ban tổ chức cũng mời cho kỳ được một hay nhiều “ca sĩ Cali” đến hát trong chương trình văn nghệ. Sự hiện diện của họ vừa để giúp vui, lại cũng vừa để các Little Saigon “địa phương” chia sẻ phần nào không khí rộn ràng của Little Saigon “thủ đô”. Thay vì về quê hương, người Việt xa xứ tạo quê hương ngay trên xứ người. 

Một điều lý thú khác cũng cần được ghi nhận, đó là ngôn ngữ. Qua một thời gian dài sống chung với nhiều nền văn hóa khác nhau, ngôn ngữ Việt Nam dần dà được phổ biến. Một số từ ngữ Việt Nam như “banh mi” (bánh mì), “pho” (phở), “ao dai” (áo dài), “nước mắm”, “tet” (Tết) trở thành những từ vựng có tính cách quốc tế, được đưa vào một số tự điển tiếng Anh, như Merriam-Webster, Cambridge Dictionary, Oxford English Dictionary, Collins Dictionary, Dictionary.com, vân vân. [17]

Dictionary.com định nghĩa “banh mi”: a Vietnamese sandwich on a crisp baguette spread with mayonnaise, typically containing pork or chicken and pâté, with pickled vegetables, cucumber, and cilantro (Một loại bánh mì kẹp giòn có phết sốt mayonnaise kẹp thịt heo hoặc thịt gà và pa-tê kèm thêm rau giầm, dưa leo và ngò).

William-Webster định nghĩa “ao dai”: the traditional dress of Vietnamese women that consists of a long tunic with slits on either side and wide trousers (Trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam gồm áo dài xẻ hai bên và quần ống rộng).

Cambridge Dictionary định nghĩa “nuoc mam”: a sauce made of fish (such as anchovies) fermented in brine. [18] (Nước sốt làm từ cá (chẳng hạn như cá cơm) lên men trong nước muối). Trong lúc đó, Merriam-Webster chi li hơn một chút: a type of sweet, salty, and spicy fish sauce, originally from Vietnam. [19] (Một loại nước sốt ngọt, mặn và cay làm bằng cá, có nguồn gốc ở Việt Nam)

Riêng chữ “Tet”, trước đây, nó đã được người nước ngoài sử dụng, nhưng chỉ giới hạn trong một nghĩa để chỉ biến cố Tết Mậu Thân 1968: “Tet Offensive”. Bây giờ, Tết với nghĩa phổ thông hơn, đã chính thức được ghi vào tự điển tiếng Anh. Xin ghi lại định nghĩa về chữ “Tet” trong hai tự điển tiếng Anh nổi tiếng:

  • Tự điển Merriam-Webster: Tet (noun): the Vietnamese New Year observed during the first several days of the lunar calendar beginning at the second new moon after the winter solstice. [20] (Tết là Lễ Mừng Năm Mới của người Việt được tổ chức vào những ngày đầu tiên của âm lịch bắt đầu từ ngày trăng non thứ hai sau ngày đông chí).
  • Tự điển Dictionary.com: Tet (noun): the Vietnamese New Year celebration, occurring during the first seven days of the first month of the lunar calendar. [21] (Tết là Lễ Mừng Năm Mới của người Việt, diễn ra vào bảy ngày đầu tiên của tháng Giêng âm lịch).

Ba chữ “banh mi”, “pho” và “Tet” cũng được tìm thấy trong tự điển “Larousse” của Pháp: [22] 

  • banh mi (nom masculin): Sandwich fait d’une demi-baguette garnie de viande marinée et cuite, accompagnée de légumes crus (carottes, notamment) et/ou de pickles et de coriandre fraîche. [23] (Loại bánh kẹp làm từ nửa chiếc bánh mì dài, kẹp thịt ướp gia vị và nướng chín, ăn kèm với rau sống (đặc biệt là cà rốt), và/hoặc dưa chua và rau mùi tươi).
  • pho (nom masculin): Bouillon de bœuf agrémenté de nouilles de riz, de fines tranches de viande et de diverses herbes aromatiques. [24] (Nước xúp bò kết hợp với bánh phở, những lát thịt bò mỏng và các loại rau thơm khác nhau).
  • Têt (nom masculin, abréviation du vietnamien Têt Nguyên Danfête [du premier de l’an]): Au Viêt Nam, célébration du premier jour de l’année du calendrier lunaire d’origine chinoise, qui débute entre le 20 janvier et le 19 février du calendrier grégorien. [25] (Ở Việt Nam, lễ hội mừng ngày đầu tiên của năm âm lịch có nguồn gốc từ Trung Quốc, bắt đầu trong khoảng thời gian từ 20 tháng 1 đến 19 tháng 2 dương lịch).

Tết Việt Nam, như thế, đã được “độc lập”, tách hẳn khỏi Tết Tàu, “Chinese New Year”. 

Xét cho cùng, đó cũng là một thành tựu. Thành tựu nho nhỏ này nằm trong những thành tựu lớn lao hơn, một vết son của năm mươi năm xa xứ: sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của văn hóa Việt Nam ở nước ngoài. Hiện nay, các nhóm chữ “âm nhạc hải ngoại”, “báo chí hải ngoại” hay “văn chương hải ngoại” để chỉ các hoạt động văn hóa của người Việt trên toàn thế giới (bên ngoài lãnh thổ Việt Nam) đã trở thành từ vựng chính thức trong ngôn ngữ Việt Nam. Hoạt động của các trung tâm hay cơ sở văn hóa quá đa dạng và quá phong phú đến nỗi, chưa có một ai có đủ điều kiện để tìm biết và liệt kê đầy đủ. Về mặt âm nhạc và báo chí, ngoài những cái tên vô cùng quen thuộc như Thúy Nga, Asia, Vân Sơn hay Người Việt, Việt Báo, Thời Luận, vân vân, nằm ngay trong Little Saigon “thủ đô”, còn có nhiều cơ sở âm nhạc và hàng trăm, hàng ngàn tạp chí hay tuần báo, nguyệt san khác (vừa giấy vừa mạng) nằm rải rác trong tất cả các Little Saigon “địa phương”, cung cấp món ăn tinh thần cho hàng triệu người Việt. 

Về mặt văn chương, tuy không sôi động và gây ảnh hưởng tức thời như hai lãnh vực trên, cộng đồng người Việt hải ngoại đã tạo nên được một “nền văn học” riêng (cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh hay tiếng Pháp) vô cùng phong phú với một số lượng tác giả, tác phẩm và tạp chí văn chương dồi dào. 

Nền văn học đó bắt đầu từ lúc nào?

Theo nhà nghiên cứu Thụy Khuê, [26] những tờ báo có khuynh hướng văn học nghệ thuật xuất hiện sớm nhất ở hải ngoại có thể là:
– Nguyệt san Hồn Việt Nam của Minh Đức Hoài Trinh, số 1 ra ngày 15/10/1975 ở Paris, số chót Xuân Mậu Ngọ 1978.
– Báo Quê Mẹ của Võ Văn Ái ở Paris, số 1 đầu năm 76, chuyên về văn học nghệ thuật. Sau đó ngừng. Tiếp theo là tạp chí Quê Mẹ, chuyên về thời sự, chính trị, đấu tranh, có thêm trang văn học.
– Báo Quê Hương của Du Tử Lê, Đinh Thạch Bích, Võ Văn Hà, Phạm Cao Dương ở Costa Mesa, đầu năm 76, ra được ba số thì đình bản. Sau đó Du Tử Lê chủ thương tờ Nhân Chứng. Nhân Chứng tồn tại được hai năm, ra khoảng 20 số.
– Báo Đất Mới với Huy Quang Vũ Đức Vinh, Nguyễn Văn Giang là một trong những tờ báo đầu tiên xuất bản tại Hoa Kỳ từ tháng 7/75. Đến tháng 4/76, Thanh Nam được mời cộng tác. Rồi từ 79 đến 81 có thêm Mai Thảo.
  – Báo Hồn Việt của Nguyễn Hoàng Đoan ở San Diego, ra đời đầu năm 76 mà số Xuân Đinh Tỵ (1977) đã có đầy đủ tư thế của một tờ văn học nghệ thuật với sự đóng góp bài vở của Lê Tất Điều, Võ Phiến, Thanh Nam, Tạ Ký, Nhất Tuấn, Cung Tiến, Nguyên Sa, Túy Hồng…
– Võ Phiến ở Santa Monica và Lê Tất Điều ở San Diego cho xuất bản nguyệt san Văn Học Nghệ Thuật từ tháng 4 năm 1978, ra được 13 số thì đóng cửa vào tháng 9/1979. Tái bản bộ mới số 1, tháng 5/85 đến tháng 2/86 đình bản, trao lại cho Nguyễn Mộng Giác đổi thành Văn Học.
– Tờ Việt Chiến do Giang Hữu Tuyên, Hoàng Xuân Sơn và Ngô Vương Toại chủ trương ở Hoa Thịnh Đốn.
– Cùng thời điểm này, Đỗ Ngọc Yến sáng lập tờ Người Việt, số báo đầu tiên phát hành tháng 12/78 ở quận Cam, California. Người Việt là tờ thông tin nghị luận, mới đầu là báo hàng tuần, sau trở thành báo hàng ngày, có nhiều độc giả nhất trong cộng đồng người Việt ở Mỹ và là cơ sở nuôi sống nhiều nhà văn, nhà báo.

Cùng đề cập đến giai đoạn khởi đầu của nền văn học mới mẻ này, nhà thơ Viên Linh thuật lại chuyện làm tờ báo đầu tiên của ông ở Hoa Kỳ như sau: [27] 

“Sau ba tiếng đồng hồ rời trại tạm cư Indiantown Gap ở Pennsylvania, lúc 5 giờ 15 chiều ngày 3 tháng 8, 1975 chiếc xe buýt Trailways đổ bến thủ đô Washington, D.C., nơi nhà thờ Mount Vernon ở đường số 9 East đã bảo trợ gia đình chúng tôi. Hôm ấy nhằm cuối tháng Sáu âm lịch, tôi không thể ngờ rằng chỉ vài tháng sau mình đã thư từ điện thoại với bằng hữu văn chương và thực hiện được Giai Phẩm Xuân Bính Thìn, phát hành trước Tết Nguyên Ðán, nhằm ngày 31 tháng 1, 1976. Ðó là báo Xuân của “Trung Tâm Phối Hợp Ðịnh Cư Việt Kiều”, tôi là người thực hiện tờ báo, từ việc liên lạc với các nhà văn nổi tiếng miền Nam, đặt ra những câu hỏi của bài phỏng vấn đầu tiên, xin bài vở, trình bày sắp xếp, từ việc dàn cột báo tới kẻ chữ các nhan đề bài, họa sĩ Ngọc Dũng vẽ tranh minh họa, phụ bản của Thái Bá, hí họa có Long Ân; anh Nguyễn Ngọc Bích người của trung tâm là chủ bút. Hẳn nhiên lúc ấy tại nhiều nơi trên thế giới người tị nạn Cộng Sản cũng đã có thể làm báo Xuân theo truyền thống báo chí miền Nam, riêng tại miền Ðông-Bắc Mỹ, theo sự hiểu biết của tôi, tờ “Lửa Việt Xuân Bính Thìn” (1976) là giai phẩm văn học đầu tiên của Văn Học Hải Ngoại.” 

Hình bìa một số những tờ tạp chí Việt ngữ xuất bản sớm nhất sau 1975 tại hải ngoại: Lửa Việt (Nguyễn Ngọc Bích-Viên Linh, 1975), Hồn Việt (Nguyễn Hoàng Ðoan-Ngọc Hoài Phương, 1975), Ðuốc Tuệ (Giác Ðức-Viên Linh,1976), Trắng Ðen (Việt Ðịnh Phương, 1976), Người Việt Tự Do ở Nhật (Ngô Chí Dũng, 197…), Việt Nam Hải Ngoại (Ðinh Thạch Bích, 1977), Thời Tập (Viên Linh-Nguyễn Hữu Hiệu, 1979). 

(Hình: Viên Linh)

Cộng tác với “Giai phẩm Xuân Bính Thìn” này, có các tác giả Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Ðỗ, Hùng Lân (nhạc sĩ), Võ Phiến, Viên Linh, Trần Phong Vũ, Nguyễn Đức Nam, Kim Y, Vi Khuê, Huyền Vũ (ký giả thể thao). Ngoài các sáng tác, còn có phần phỏng vấn do Viên Linh thực hiện. Được hỏi về sự “khác biệt đáng kể nhất giữa đời sống ở Việt Nam trước kia và đời sống ở Hoa Kỳ hiện nay”, một số các tác giả đã trả lời như sau:

Nhà văn Nghiêm Xuân Hồng: “Câu này có lẽ nhiều người di cư khác cũng trả lời như tôi. Tôi nghĩ điểm khác biệt nhất là ở đây đời sống tuy ít sợ đói kém chiến tranh, nhưng lại sợ nhất là buồn. Xã hội Mỹ này quá tổ chức, tổ chức đến độ không để lại một bất ngờ nào cho cuộc đời. Tôi thấy hình như Mỹ thiếu một cái gì. Thiếu một chút thơ mộng, một chút phi lý, một chút hỗn độn, một chút tình người, một chút nhân sinh quan tiêu dao. Trước kia sống ở Sài Gòn bấp bênh loạn lạc nhưng vui hơn. Nhưng bây giờ chắc Sài Gòn cũng chẳng vui gì.”

Nhà văn Mặc Ðỗ: “Tôi thấy đáng kể nhất là không gian, ở Sài Gòn kích thước thành phố nhỏ hơn, ở đây rộng lớn hơn nhiều quá. Ở Sài Gòn, Mai Thảo với tôi đi kiếm một người bạn từ trung tâm thành phố qua trường đua Phú Thọ đã thấy xa, ở đây hễ đi đâu cũng hàng nửa giờ chạy xe trên freeway. Kích thước rộng lớn nhưng cũng chẳng tạo ảnh hưởng mới tới tâm hồn. Ở miền Nam (Hoa Kỳ) này không có nhiều tuyết, nếu có thì cảnh đạp tuyết đi mua rượu về uống với bạn có lẽ khác với Sài Gòn ra tiệm cô bé Tầu đường Lê Lợi xách một chai whiskey về. Khác vì giống như cảnh trong truyện Tầu vừa đọc vừa mê hồi mới lớn.”

Nhà nhiếp ảnh Lê Văn Khoa: “Ở Việt Nam tôi làm việc như điên, cả ngày lẫn đêm. Mỗi ngày chỉ ngủ được 4 hoặc 5 giờ, tuy mệt nhưng thích thú vì làm được việc cho quê hương dân tộc và nhất là cho thế hệ trẻ đáng yêu của mình. Hiện tại ở đất Mỹ này tôi chưa có gì làm ở không buồn muốn điên. Tôi sẽ cố làm cho người Mỹ biết đến văn hóa và những khía cạnh đẹp của Việt Nam.”

Nhạc sĩ Phạm Duy: “Ðời sống của tôi ở đâu cũng chỉ có một mục đích: Ca hát! Khi hát bài buồn khi hát bài vui, tùy theo cảm xúc! Có khác biệt thì chỉ ở chỗ khi ở Việt Nam thì ít lo về đời sống, còn ở đây thì phải lo nhiều.”

Nhà văn Võ Phiến: “Ở Sài Gòn tôi là một người hữu ích; ở đây tôi là một cục nợ. Ở Sài Gòn tôi trưởng thành, tự do; ở đây phải có kẻ dìu dắt, đón dẫn, và đếm từng đồng ‘xen’ trong túi tôi. Ở đây người ta cố gắng tìm cho tôi một công việc là để cho tôi khỏi nằm vạ ăn báo [bám] xã hội, chứ không phải vì cần đến một khả năng nào đó của tôi. Mặt khác, ở Sài Gòn tôi sống; ở Minnesota tôi giương mắt xem người ta sống. Không bạn bè thân thuộc, không có một góc phố quen, không có một cái quán cũ kỹ mà quen thuộc, một công viên một dặng [rặng] cây, một khúc sông quen thuộc, không có những người láng giềng thân tình. Không có tất cả những cái ấy thì sống làm sao?”

Ký giả Trần Phong Vũ: “Câu hỏi của anh thật dễ mà cũng thật khó trả lời. Tôi không biết phải chọn cái khác biệt nào là ‘đáng kể nhất’ vì đối với tôi đời sống ở đây hoàn toàn khác biệt với những năm tháng cũ khi tôi còn sống ở Sài Gòn. Cho tới giờ phút này khi đã thực sự sống kiếp tha phương tôi mới chợt nhận ra một điều nghịch lý là giữa một quê hương súng đạn thường bị coi là chậm tiến và bị bắt buộc phải hạn chế nhiều quyền tự do thì tôi lại cảm nhận thấy đời sống của mình có phần phong phú, phóng túng hơn trong khi ở đây Kansas City, MO, tôi vẫn không giấu được nỗi ngậm ngùi vì đời sống bị vây hãm mất mát một cách đáng sợ… Ở Sài Gòn tụi mình hình như không có ngày cuối tuần… nhưng tôi vẫn thường có cái cảm giác nôn nóng náo nức khi nghĩ tới một buổi chiều Thứ Bảy, một buổi sáng Chủ Nhật được la cà trên hè phố, tán gẫu trong một quán cà phê hay cùng dăm ba người bạn cắm cúi nặn quân bài bên bàn xì phé… Ngày cuối tuần của tôi ở đây bây giờ chỉ còn mang ý nghĩa đơn thuần của một ngày nghỉ, không phải lao động. Ngày được ở nhà… để ngủ hay để nhìn lũ con cũng đang loay hoay tù túng như cha nó. […] Một người bạn đồng nghiệp cũ ở Sài Gòn hiện làm cu-li trong một nhà máy ở Ohio biên thư than thở đủ điều về những đảo lộn trong đời sống hiện tại của anh. Cuối thư anh viết; ‘Dù sao qua đây vì không có chỗ chạy rông nên mình có dịp gần gũi vợ con hơn hồi ở Sài Gòn. Âu cũng là một cái may, phải không anh?’”

Kịch sĩ Lê Tuấn: “Tôi có thể làm lại tất cả, có lại tất cả những gì tôi mất về mặt vật chất nhưng còn về tinh thần thì tôi bất lực. Ðó là nỗi đau đớn nhất của tôi trong cuộc đời này.”

Những khởi đầu riêng lẻ đó, tưởng là chỉ là những ngọn lửa nhỏ bé để sưởi ấm những tấm lòng xa xứ, không ngờ, càng ngày càng cháy bùng lên thành nên một dòng văn học nghệ thuật “tự phát” hiếm thấy trong lịch sử văn học Việt Nam. Đó là một tổng hợp của nhiều dòng văn chương khác nhau: Văn Chương Miền Nam 1954-1975, Văn Chương Miền Nam “nối dài”, văn chương của những cây bút mới xuất hiện ở hải ngoại, văn chương của những nhà văn phản kháng hay bất đồng chính kiến trong nước, vân vân và vân vân. 

  Nhiều tạp chí văn chương dần dà xuất hiện, giấy cũng như mạng: Làng Văn, Ngôn Ngữ, Da Màu, Thư Quán Bản Thảo, Diễn Đàn Thế Kỷ, Gió-O, Đàn Chim Việt, Diễn Đàn Forum, Thất Sơn Châu Đốc, Tân Hình Thức, Tiền Vệ, T. Vấn & Bạn Hữu, Phố Văn, Phạm Cao Hoàng, Trần Thị Nguyệt Mai… Cũng có khá nhiều nhà xuất bản: Tiếng Quê Hương, Văn Mới, Văn Nghệ, Nhân Ảnh, Văn Học Press, Thế Kỷ 21, Da Màu Press, Người Việt Books, Nhà Xuất Bản Trẻ, Anh Thư, Tân Thư, Thư Ấn Quán, Literary Hub…Đó là chưa kể đến vô số các tác giả tự xuất bản sách của mình. Các tạp chí và nhà xuất bản này, ngoài việc đăng tải hay tái bản các tác phẩm của Văn Học Miền Nam trước 1975 cũng như xuất bản các tác phẩm của những tác giả hải ngoại, còn xuất bản hàng trăm tác phẩm bị cấm của những cây bút – hoặc đã qua đời hoặc còn ở trong nước hay đã thoát ra ngoài – như Vũ Thư Hiên, Nguyễn Viện, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Bình Phương, Bùi Ngọc Tấn, Tô Hải, Tiêu Dao Bảo Cự, Hoàng Hưng, Trần Đĩnh, Huy Đức… Đặc biệt nhất, một số tác giả và tác phẩm văn chương của họ đã đi vào lãnh vực quốc tế (do được viết bằng ngoại ngữ hoặc được chuyển dịch từ tiếng Việt) như Nguyễn Thanh Việt, Ocean Vương (Mỹ), Kim Thúy (Canada), Dương Thu Hương, Trần Thị Hảo (Pháp)…Văn chương hải ngoại, với sức sống mạnh mẽ của nó, hiện đã trở thành một dòng văn học với sắc thái riêng biệt, nhất định sẽ chiếm một vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học Việt Nam.

  Học giả Nguyễn Huệ Chi là người đầu tiên ở trong nước sử dụng nhóm chữ “văn học hải ngoại” để chỉ danh và bàn về văn học của cộng đồng người Việt tị nạn, qua một tiểu luận khá dài  “Vài cảm nhận Văn học Việt Nam hải ngoại” đi trên tạp chí Văn Học [Hà Nội] số 2 (1994). Mở đầu, ông tự hỏi “Có một dòng văn học Việt Nam hải ngoại hay không?” Và tự trả lời, “Câu hỏi đó đối với khá nhiều người cầm bút ở trong nước hôm nay chắc đã không thành một điều trăn trở nữa. Vì lẽ, dù sách báo của người xa xứ gửi về còn rất …thưa thớt, trong chúng ta, mấy ai lại không được một đôi lần ghé mắt vào một số báo Hợp Lưu, Trăm Con, Văn, Văn Học, Văn Uyển, Làng Văn, Đoàn Kết, Diễn Đàn, Thế Kỷ 21, …ở đâu đó, dù chỉ một đôi lần. Và có thể nào nhìn ghé mà lầm được: trước mắt ta hiện diện trở lại bao nhiêu tên tuổi quen thuộc từ cái thuở tấp nập báo chí Sài Gòn cách đây 18 năm (…) Bên cạnh đó là vô số tên tuổi mới mẻ ta chưa từng một lần hay nhiều lắm cũng chỉ mới hơn một lần quen biết…” Ở một đoạn khác, ông viết, “Quả tình, đối với dòng văn chương hải ngoại của người Việt, tuy chưa ai nhận dạng được đầy đủ, nhưng dần dà góp nhặt từng tí một, đã có cái gì đó hiện lên trong trí, và để lại một sức nặng trong cảm xúc, như cái hình bóng thấp thoáng của một người anh em không quá xa lạ với mình.” [28]

Qua bài viết, chúng ta nhận thấy Nguyễn Huệ Chi sử dụng danh xưng “văn học hải ngoại” một cách tự nhiên y như nó phải là như thế. Nhưng cũng có một vài tác giả trong nước trông không mấy mặn mà, thậm chí có vẻ “dị ứng”, với danh xưng này. Chẳng hạn như Vũ Thành Sơn. [29] “Tuy vậy, xem xét kỹ, danh xưng đó ngoài việc nói lên những người sáng tác hiện đang sinh sống ở hải ngoại ra, nó cũng còn quá mơ hồ. (..) Duy trì danh xưng văn học hải ngoại là một hành động có màu sắc chính trị…,” theo ông. Một tác giả khác, Tao Đàn, [30] cho rằng trong suốt hơn 40 năm qua, “văn học hải ngoại” là một thuật ngữ được sử dụng thận trọng trong đời sống văn nghệ trong nước. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân lịch sử, hơn là nảy sinh từ trong bản chất của đời sống văn học.” Thuật ngữ này, theo ông, không đủ sức bao gộp cả một cộng đồng văn học Việt Nam rộng lớn hiện nay, vì ngoài Mỹ và Tây Âu ra, người Việt còn sinh sống ở Trung Quốc, Đài Loan, Nam Hàn, Nga…Ông cho rằng thuật ngữ này “cần trở thành một phạm trù lịch sử”, và nên thay thế bằng “Văn học (VN) ở nước ngoài”. Chữ “hải ngoại (bên ngoài biển) mất đi cở sở thực tại của nó.” Vì bây giờ người Việt đương đại ở nước ngoài không còn là “những chấn thương, mặc cảm hậu chiến”, mà là mặc cảm mất gốc, lạc loài, cô đơn không quê hương.

Nói gì thì nói, theo tôi, văn học hải ngoại vẫn cứ là …Văn Học Hải Ngoại!

Khi tôi đặt bước chân đến định cư ở Hoa Kỳ, nền văn học ấy đã lên…18 tuổi. Ngoài việc làm đêm làm ngày để nuôi gia đình và hoà nhập vào cuộc sống mới, tôi hăm hở bắt tay ngay vào chuyện viết lách. Viết, viết, viết. Để ghi lại, để bày tỏ, để nói lên…

Để thấy mình còn hiện hữu!

  *

Hai mươi năm ấy và năm mươi năm ấy, biết bao nước chảy qua ghềnh, qua thác, qua suối, qua cầu, qua sông, qua biển…

Trong khoảng thời gian vừa ngắn lại vừa dài dằng dặc đó, tôi trải qua ít nhất là bốn cuộc đời:  một công dân Việt Nam Cộng Hòa, một tù nhân của cộng sản, một công dân Việt Nam hạng bét (hạng thứ 14 do nhà nước cộng sản quy cho những ai được thả ra từ trại “cải tạo”), và sau cùng, một người lưu vong. Hai mươi năm đầu: giữa chiến tranh và hòa bình, giữa hận thù và hòa giải, giữa nhiễu nhương và hoa mộng, giữa tuyệt vọng và hy vọng. Năm mươi năm sau: cuộc đời lộn ngược. Số phận từng người gãy lìa thành khúc, thành đoạn. Khúc gãy này là “tiền kiếp” của đoạn gãy kia. Cái gọi là “bản thân tôi” hiện nay tưởng chừng như đã trải qua nhiều tiền kiếp, mỗi tiền kiếp là một thân phận với những hệ lụy riêng, trông bộ chẳng hề dính dấp gì đến nhau.

Hồi tưởng lại, xiết bao ngậm ngùi…

Trần Doãn Nho

(11/2024; nhuận sắc và bổ sung: 20/4/2025)

———————

[1] Nhà Mạc: 1527-1593 (66 năm).

[2] Nếu tính từ năm 1945 cho đến 2025, thì là 80 năm.

[3] Tính từ lúc Nguyễn Nhạc lên ngôi (1788) đến lúc Nguyễn Quang Toản bị bắt (1802).

[4] Tính từ cuộc trưng cầu dân ý ngày 26/10/1955

[5] Về một đất nước mang tên Việt Nam Cộng Hòa, trong “Cõi Chữ Cõi Người”, tiểu luận tập II, nxb Nhân Ảnh (Cali), 2022.

[6] Nguyễn Văn Trung, Nhìn Lại Những Chặng Đường Đã Qua, Chương 8: “Tưởng niệm Việt Nam Cộng Hòa” (In memoriam Việt Nam Cộng Hòa), tạp chí Văn Học (California) số 174, 10/2000, từ trang 3 đến trang 32.  

[7] “Dòng chữ Một khoảnh VNCH nối dài có mặt bên trong bản thảo, không biết đã nghĩ ra để dùng làm tên sách từ lúc ấy không. Nhan đề có lẽ gợi từ tên lạ lùng của những con đường Sài Gòn lúc mới đến năm 1955 như: Rue Richau Prolongée (Phan Ðình Phùng / Nguyễn Ðình Chiểu). Ðùa bỡn cũng có cái hay là khiến người ta nhớ dai nên thấy trên một tờ báo ở Úc có một tên khác: “Một khoảnh Liên Xô nối dài”, hay “Một khoảnh VNCH nối dài” dùng cho loại văn nghệ hải ngoại, cả những thứ “nối dài” mơ hồ nào đó chắc có bà con thân thuộc…” (Trích Tạ Chí Đại Trường, “Một khoảnh VNCH nối dài”, tr. 3). Xem:

[8] Một cách gọi khác: Vietnamese-American Heritage Flag 

[9] Đây là một định nghĩa: “The flag of the former Republic of Vietnam, with three horizontal red stripes on a field of golden-yellow, which symbolizes freedom and democracy and represents the cultural heritage of Vietnamese-Americans, is recognized by the Commonwealth as the Vietnamese-American Heritage Flag.” (Virginia Law)

[10] VOA tiếng Việt. Xem:  Dân biểu Mỹ Steel nhận bảo trợ cho tù nhân lương tâm Lê Hữu Minh Tuấn 

[11] Journal of Environmental Psychology (2000). Xem

[12] The story of the Vietnamese experience is one of pain and loss, loss of nation, home, family, culture and identity.

[13] Little Saigon became the center of the community’s identity and attachment.

[14] Little Saigon has become not only the commercial hub but the emotional focal point of the Vietnamese community in America

[15] Going to Little Saigon is like making a pilgrimage. For them it is a substitute home, a home away from home, a place they can go to easily to get a shot of home. (…) For a refugee community that has lost its homeland including its capital, Saigon, the creation of Little Saigon represents hope from being `homeless’ to hav-ing a `home’ again. Finally, the very presence of Little Saigon symbo-lically communicates to the host society the desire of the Vietnamese immigrant community to strike permanent roots in the newly adopted land (in American soil) and at the same time maintain their own ethnic identity through the successful trans-plantation of their religion, culture, and business.

[16] Đỗ Ngọc Dũng (Giám Đốc Sở Ngoại Vụ Tỉnh), Một thoáng Little Saigon trong lòng nước Mỹ

[17] Theo ức đoán của người viết, các từ ngữ này được đưa vào trong tự điển tiếng Anh chỉ trong thời gian 50 năm qua, khi  người Việt đến định cư tại các nước nói tiếng Anh, sau năm 1975. 

[18] https://dictionary.cambridge.org/dictionary/english/nuoc-mam

[19] https://www.merriam-webster.com/dictionary/nuoc%20mam

[20] https://www.merriam-webster.com/dictionary/Tet

[21] https://www.dictionary.com/browse/tet

[22] Thú thật là người viết không biết các từ ngữ này được đưa vào tự điển Larousse khi nào. Có thể là từ trước năm 1975 chăng? Vì người Việt đã đến Pháp sinh sống từ rất lâu, lúc người Pháp còn cai trị Đông Dương. 

[23] https://www.larousse.fr/dictionnaires/francais/banh_mi/191101

[24] https://www.larousse.fr/dictionnaires/francais/ph%C3%B4/188168

[25] https://www.larousse.fr/dictionnaires/francais/tet/77518

[26] Thụy Khuê: Thử Tìm Một Lối Tiếp Cận Văn Sử Học Về Hai Mươi Nhăm Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại 1975-2000, Hợp Lưu

[27] 40 năm Văn Học Hải Ngoại, 1975-2015, Viên Linh 

[28] Tạp chí Văn Học (Cali) số 99 (7/1994), tr. 41 và 45

[29] Văn học VN hải ngoại – ‘văn học miền Nam nối dài’, VnExpress

[30] Tao Đàn, Văn học hải ngoại – một VN khác nhìn từ thế giới.

Trần Doãn Nho (diendantheky.net)

50 năm sau Sổ tay viết lại – 5

Phản bội Thông minh

Nửa thế kỷ trước, nước Mỹ đã không tôn trọng lời cam kết giúp VNCH chiến đấu tới cùng trước làn sóng xâm lăng của Cộng Sản Thế Giới. Nhiều người, cả Việt lẫn Mỹ, cũng như dư luận thế giới, đã gọi đây là một sự phản bội đáng xấu hổ. Nhưng có học giả Mỹ đã khẳng định: “sự phản bội của nước Mỹ đối với Nam Việt Nam là một trong những điều thông minh nhất mà nước tôi đã từng làm”.

clip_image002

Trên đây là hình chụp lại bài báo ba cột trên trang nhất báo The Washington Post, số phát hành đề ngày Thứ Sáu, 17-5, 1996, với tựa chínhMột Gia Đình Thành Công qua Bng Cấp*và phụ đề,Tất cả Sáu Con của Người Việt Nhập Cư Tốt Nghiệp Từ U-Va.
(*Tựa chính của bài cũng có thể được hiểu là Một Gia Đình Thành Công Theo Từng Bước – “Degrees”
là cách chơi chữ của biên tập viên đặt tựa.)

Xin được trình bầy đầu đuôi câu chuyện. Vì chuyện có liên hệ trực tiếp tới gia đình người viết, khi viết lại, cảm thấy một chút ngại ngùng; giống chụp hình “tự sướng” để khoe bạn bè. Nhưng, vì chuyện cũng lên hệ tới nhiều người, xưa và nay, nếu bỏ qua trong “mùa kỷ niệm”, cũng cảm thấy thiếu sót, nên đành kể lại. Nếu có điều chi sơ sót, mong được bạn đọc cho biết.

Chúng tôi có sáu con, khi tới Mỹ vào mùa Hè 1975, con lớn nhất 13 tuổi, con nhỏ nhất mới được 6 tháng. Được một xứ đạo ở Alexandria, Virginia, ngoại ô Thủ Đô Washington, bảo trợ. Trong gần hai năm đầu, chúng tôi đã làm đủ thứ công việc để gây dựng lại cuộc sống. Nhà tôi; vốn là giáo sư trung học ở trường Trưng Vương Sài Gòn; ngoài việc săn sóc đàn con mình, nhận coi thêm một vài đứa trẻ tại nhà. Tôi làm cho Colonial Parking, một hãng có nhiều bãi đậu xe tại Washington,D.C.: lúc đầu làm những việc vặt, như nhặt rác, cắt cỏ chung quanh bãi đậu xe, nửa năm sau “lên chức” car attendant, lái xe của khách đậu vào chỗ, rồi lấy xe trả khi khách trở lại; lương tối thiểu $2,50 một giờ. Sau một thời gian học việc, nhà tôi làm kỹ thuật viên điện tử (electronic technician), cho một hãng sản xuất đồ điện tử. Từ đầu năm 1977, tôi kiếm được việc khá hơn, tại hãng Xerox.

Trong khi ấy, các con thấy bố mẹ cực nhọc, cố chăm chỉ học hành. Lúc đầu, hơi vất vả, sau một vài niên khoá, cũng bắt kịp bạn bè cùng lớp. Chúng tôi chia nhau, nhà tôi làm ca ngày, tôi làm ca chiều; từ 4 giờ chiều tới nửa đêm. Lúc nào cũng có một trong hai người ở nhà với bọn trẻ. Các con giúp đỡ lẫn nhau, cùng lớn lên; cùng vào một trường trung học, cùng được nhận vào hội “Học Sinh Danh Dự” (Honor Society), và cuối cùng, tất cả sáu anh chị em cùng được nhận vào Đại Học Virginia (University of Virginia: UVA). Đại Học này đã được Tổng Thống thứ ba của Hoa Kỳ, Thomas Jefferson, thành lập tại Charlottesville, tiểu bang Virginia, vào năm 1819. Đây là một đại học công lập khá nổi tiếng, và sáu anh chị em cùng được thâu nhận vào học, là thành tích thứ nhì một gia đình đã đạt được trong lịch sử hơn 200 năm của trường. Điều được nhiều người chú ý hơn, đây là một gia đình tị nạn nhập cư với hai bàn tay trắng, đến từ Việt Nam; nơi từng bị chiến tranh tàn phá trong nhiều năm, nơi từng có quân đội Hoa Kỳ chiến đấu, và trên 58 ngàn đã hy sinh tính mạng tại đó.

Con lớn nhất của chúng tôi vào UVA năm 1980, con nhỏ nhất ra trường năm 1996. Con gái đầu ra trường năm 1984, rồi được nhận vào cao học trường luật và tốt nghiệp năm 1987. Thành ra trong suốt 16 năm, lúc nào cũng có từ một đến ba con ở trường; chúng tôi đi về như con thoi giữa nhà và trường, cách nhau hai giờ lái xe. Trong bài diễn văn dịp lễ tốt nghiệp của con trai út chúng tôi, Anthony Thuỵ Đinh, tháng 5,1996, Viện Trưởng John T. Casteen III đã đề cập tới câu chuyện những đứa con của một gia đình Việt tị nạn, đã đến đây, và mọi người đã cố gắng vươn lên như thế nào. Hơn mười ngàn người hiện diện trên sân cỏ đã cho một tràng pháo tay, vô cùng cảm động. Nhật báo Washington Post, cũng như hãng truyền hình NBC, đã có tường thuật về chuyện này.

Ít ngày sau, cháu Thụy nhận được lá thư từ một người không quen biết, là Tiến Sĩ Robert T. Turner, Phụ Tá Giám Đốc Trung Tâm Luật An Ninh Quốc Gia, thuộc Trường Luật UVA. Người viết tạm dịch phần chính của lá thư đề ngày 31-5, 1996, như sau:

Hai mươi lăm năm trước, tôi là một Đại Uý Bộ binh, phục vụ hạn kỳ thứ nhì tại Nam Việt Nam; và vào cuối tháng Tư 1975, tôi rời Việt Nam lần cuối trong vụ di tản lần chót. Tất cả, tôi đã tới Việt Nam năm lần giữa 1968 và 1975, và trong thời gian ấy tôi đã có nhiều ngưỡng mộ và cảm tình với những người tôi đã gặp ở đó.

Tôi chỉ muốn ông biết rằng tôi đã là một trong những người đầu tiên đứng dậy hoan hô khi Viện Trưởng Casteen thuật lại câu chuyện của gia đình ông. Nó thực sự đã khiến tôi chảy nước mắt. Tôi biết rằng cha mẹ ông đã vô cùng hãnh diện về những gì ông và các anh chị em của ông đã làm được – và đúng thế, đó là một thành tựu đáng kể — nhưng tôi chỉ muốn nói với ông rằng những cố gắng của ông cũng đem lại nụ cười trên khuôn mặt những “người lạ”, những người quan sát từ bên lề. Chúng tôi hoan hô ông tại lễ tốt nghiệp không chỉ vì chúng tôi hãnh diện về những gì ông đã làm, nhưng còn bởi vì ông đã giúp cho chúng tôi có cảm tưởng tốt về nước Mỹ. Tôi cám ơn ông về điều này.

Có một cảnh vào cuối cuốn phim The Green Berets, trong đó John Wayne nói với một đứa nhỏ “Chính mày là lý do của mọi hy sinh cho cuộc chiến này” (“You’re what this is all about”). Đúng vậy, khi tôi tình nguyện phục vụ tại Việt Nam, không phải để giúp ông Nguyễn Văn Thiệu nắm giữ quyền hành, mà vì tôi đã nghĩ rằng tương lai của Nam Việt Nam sẽ khá hơn dưới một xã hội dân chủ thay vì trong một chế độ độc tài. (Vào năm 1975 tôi đã viết một cuốn sách 500 trang, Vietnamese Communism: Its Origins and Development – Chủ nghĩa Cộng Sản Việt Nam: Nguồn gốc và Phát triển, khi tôi là một học giả của Viện Hoover tại Stanford – nên đã nghĩ rằng tôi cũng có một chút hiểu biết về đề tài được đề nghị.)

Khi Hoa Kỳ bỏ rơi Nam Việt Nam sau 1973, nhiều người trong chúng tôi đã cảm thấy rất tức giận – và không ít ân hận – về những gì đất nước chúng tôi đã gây ra cho một tập thể nhân hậu. Tôi vẫn còn cảm thấy tức giận (và không ít ân hận) về Việt Nam; nhưng tôi chỉ muốn ông hiểu rằng ông và gia đình ông đã làm rất nhiều để khiến tôi cảm thấy lạc quan hơn. Tôi khen ngợi ông về những hy sinh và thành tựu đã đạt được, và tôi chúc ông nhiều thành công trên bước đường thăng tiến của đời mình.

Thụỵ đã viết mấy lời cảm ơn Tiến sĩ Turner, và lại nhận được lá thư thứ nhì của ông, cũng viết trên giấy với địa chỉ của người gửi và người nhận như trước, đề ngày 28 tháng 6, 1996, nhưng với ngôn ngữ thân mật hơn. Dưới đây là bản dịch phần chính lá thư thứ nhì:

Tôi đã nổi giận vào năm 1975. Tôi đã mong đợi nước tôi cư xử một cách danh dự và giữ những cam kết của mình để bảo vệ tự do, và tôi đã xấu hổ về những gì chúng tôi đã làm trong việc bỏ rơi những nước không cộng sản tại Đông Dương. Một mặt, tôi rất vui khi nhìn thấy những câu chuyện thành công của người Việt tị nạn như bạn và gia đình bạn. Nhưng, từ một cách nhìn khác, tôi nhận ra sự thành công của bạn ở đây sẽ giúp cho nước Mỹ rất nhiều, hơn bất kể những gì chúng tôi đã làm để giúp bạn. (Gửi ra một chiếc thuyền cấp cứu để vớt những người sống sót từ một chiếc tầu đã bị ta sai lầm phóng thuỷ lôi đánh chìm khó có thể coi là việc ban ơn). Tôi nghi lịch sử sẽ chứng minh, từ quan điểm hẹp hòi và vị kỷ của dân tộc Mỹ, rằng sự phản bội của nước Mỹ đối với Nam Việt Nam là một trong những điều thông minh nhất mà nước tôi đã làm –vì làn sóng những người Việt nhập cư sẽ chứng tỏ họ nằm trong số những hàng “nhập cảng” giá trị nhất của chúng ta(nhấn mạnh của người dịch).

Dĩ nhiên, bây giờ chẳng còn điều gì chúng tôi có thể làm để sửa lại những sai lầm trong mấy thập niên trước. Tuy nhiên, chúng ta có thể làm việc để bảo đảm rằng Chính quyền của chúng ta sẽ hành xử một cách có danh dự trong những năm sắp tới. Như Thomas Paine đã nhận định: “Một cách duy nhất để ma quỷ chiến thắng là khi những nhân tài không làm gì cả”. Là những người Mỹ với nền giáo dục xuất sắc, tôi hy vọng rằng bạn và các anh chị em của bạn sẽ giữ vai trò chủ động trong mọi mặt của đời sống Mỹ — và sẽ đóng góp để Chính quyền của chúng ta giữ danh dự khi giao tiếp với thế giới trong những năm tới.

clip_image004

Hình chụp lá thư thứ nhì của Tiến Sĩ Bob Turner

Hai lá thư của Tiến Sĩ Turner gửi cho con út của chúng tôi, tuy đã viết từ 29 năm trước, nhưng có mấy điều vẫn đậm nét thường trực trong đầu óc người viết:

– Sự phản bội của nước Mỹ đối với Nam Việt Nam là một trong những điều thông minh nhất mà nước tôi đã từng làm.

– Người Việt nhập cư sẽ chứng tỏ họ trong số những hàng “nhập cảng” giá trị nhất của chúng ta.

– Chúng ta có thể làm việc để bảo đảm rằng Chính quyền của chúng ta sẽ hành xử một cách có danh dự trong những năm sắp tới.

– Và sẽ đóng góp để Chính quyền của chúng ta giữ danh dự khi giao tiếp với thế giới trong những năm tới.

Bây giờ, 50 năm sau khi Nam Việt Nam bị phản bội, chính là “những năm tới” của 1996. Rất nhiều người Việt nhập cư đã chứng tỏ, họ là “những hàng nhập cảng” giá trị của Mỹ. Nhưng không phải chỉ có người Việt nhập cư mới làm lợi cho Mỹ. Tất cả mọi người nhập cư đều góp phần vào phúc lợi chung, là làm cho nước Mỹ thêm giầu, mạnh, hạnh phúc, và luôn xứng đáng là người bạn tốt của mọi người trên thế giới. Đó là lý do chính mà mọi người từ khắp nơi đã tìm tới Mỹ, không phải tới đây để ăn hại hay làm loạn.

Nói về thành quả của những người nhập cư Mỹ thì quá nhiều, không thể kể hết. Nổi bật hơn cả trong 50 năm qua, là Steve Jobs; đã qua đời; cha đẻ của Apple, có người bố gốc Syria. Người giầu nhất thế giới hiện nay là Elon Musk, cha mẹ gốc Nam Phi và Canada. Những gì mà các con, nói chung, cả gia đình chúng tôi đã có được chẳng đáng kể gì, so với nhiều người khác. Ngay trong số những người bạn rất thân với chúng tôi, cũng không hiếm những con cháu thành công vượt bực; mà tôi không dám nêu rõ tên, sợ phạm tới đức khiêm nhường của các bạn quý.

Nhưng, trong thành phần người Việt tị nạn tại Mỹ, có những người nổi bật đến nỗi, dù khiêm nhường, vẫn không tránh khỏi “bị” nêu danh, như Việt Đinh (không có liên hệ họ hàng với người viết), và Amanda Nguyễn. Việt Đinh được coi là luật gia số một của Mỹ, và Amanda Nguyễn là tác giả một đạo luật bảo vệ nữ quyền, và cũng là phi hành gia.

clip_image006
clip_image008

Việt Đinh (Fox Corp.) và  Amanda Nguyễn (Rise)

Từ mùa bầu cử 2024, Cộng đồng MAGA đã nặn ra một mẫu người nhập cư là hiện thân của tất cả mọi sự xấu, rồi dùng hình mẫu này như con ngáo ộp, để doạ nhũng cử tri dễ tin và dễ sợ. Kết quả bầu cử ra sao, mọi người đã biết. Và những người nhập cư đã biến thành một thứ dê tế thần, để “Bên Thắng Cử” chứng tỏ lời hứa tranh cử được thực hiện nghiêm chỉnh. Nhưng người mẫu nhập cư do MAGA nặn ra, có thực sự phản ảnh người nhập cư trong đời thật?

– Trước hết, bà mẹ của Việt Đinh đã không tới Mỹ để làm “Welfare Queen”, như nhân vật chuyên gian lận trợ cấp an sinh xã hội, mà ứng cử viên Ronald Reagan đã mô tả trong mùa bầu cử 1976. Là thuyền nhân, bà đã liều chết mang con tới Mỹ để tìm sự sống. Đã làm những công việc cực nhọc, lương thấp, như hái trái cây tại các nông trại, may vá…, để cố nuôi con nên người.

– Người mẫu nhập cư của MAGA là những kẻ có tiền án, giết người, hiếp dâm, buôn ma tuý, thành viên các băng đảng khủng bố, hoặc nhẹ nhất là giết chó mèo của hàng xóm để ăn thịt. Nói chung, là những kẻ trực tiếp đe doạ an ninh thịnh vượng của xã hội Mỹ. Trong đời thực, Việt Đinh theo mẹ tới Mỹ năm 1978, cùng với năm anh chị em khi mới 10 tuổi, cha là tù nhân chính trị vẫn còn lẩn trốn ở VN. Tuy phải giúp mẹ làm việc vặt, Việt Đinh vẫn xuất sắc trong việc học, đứng đầu lớp ở trung học, được học bổng vào Harvard, rồi trở thành Phụ Tá Bộ Trưởng Tư Pháp ở tuổi ngoài 30. Chẳng những không thuộc thành phần phá hoại, khủng bố, Việt Đinh đã là kiến trúc sư chính của USA Patriot Act 2001 (Đạo Luật chống khủng bố, sau biến cố 11-9-2001).

– Cũng trái với người mẫu nhập cư do MAGA mô tả, Việt Đinh không phải là một gánh nặng cho xã hội Mỹ, mà đã tự mình tạo dựng một sản nghiệp lớn, bằng đầu óc của mình. Theo mô tả của David Lat trên Original Jurisdiction, Việt Đinh là luật gia số một tại Mỹ, và tiền lương năm 2019 là 24 triệu Mỹ Kim. Khi chấm dứt nhiệm vụ Chief Legal Officer tại Fox Corp.vào cuối năm 2023, Việt Đinh đã được trả 23 triệu MK tiền mặt. Theo bản tin địa ốc The Real Deal, ngày 10 tháng 5, 2019, Việt Đinh đã mua một ngôi nhà tại Brentwood, CA, với giá 19.05 triệu MK.

– Thế hệ kế tiếp của thuyền nhân gốc Việt cũng lẫy lừng không kém. Sinh ra tại California vào ngày Song Thập (10/10) 1991, Amanda Nguyễn cũng xuất sắc trong việc học, được nhận vào Harvard. Rồi không phải là kẻ gây ra tội ác như mẫu người nhập cư của MAGA, mà là nạn nhân của một vụ hiếp dâm. Sự việc đau buồn này đã biến Amanda thành một lãnh tụ vận động nhân quyền, đưa đến sự ra đời của Sexual Assault Survivor’s Right Act (Đạo luật về Quyền của Nạn Nhân bị Tấn Công Tình Dục), được toàn thể lưỡng viện Quốc Hội thông qua, và Tổng Thống Obama ban hành vào tháng 10, 2016.

Những thành quả của hai người nhập cư gốc Việt tiêu biểu là Việt Đinh và Amanda Nguyễn còn rất nhiều, quá nhiều để kể hết ra đây; ai muốn biết, có thể dễ dàng tìm thấy trên Internet.

Nêu ra những thành quả tốt đẹp của người từ khắp nơi vào Mỹ, không có nghĩa khẳng định rằng trong số những người nhập cư không có người xấu, không có kẻ phạm pháp. Ở đâu cũng có kẻ xấu, người tốt. Thống kê đáng tin cậy ghi nhận rằng, tỷ lệ phạm pháp của người nhập cư thấp hơn so với tập thể những người không thuộc thành phần nhập cư. Sự thật như vậy mà gán cho thành phần nhập cư những tội lỗi xấu xa là việc làm độc ác, vô nhân đạo. Hãy nhìn thẳng vào cuộc đời của những người không thuộc thành phần nhập cư trong thế hệ hiện tại, từ cao xuống thấp, sẽ thấy rõ đâu là sự thật.

Trước hết, đương kim tổng thống, không thuộc thành phần nhập cư trong thế hệ hiện tại, có bao giờ bị truy tố, bị buộc tội về dân sự và hình sự không? Ai cũng đã biết câu trả lời.

Đương kim phó tổng thống, cũng không thuộc thành phần nhập cư trong thế hệ hiện tại, từng lên tiếng chỉ trích người nhập cư về những việc làm xấu xa. Xin hỏi, trong thân tộc, họ hàng ông có bao nhiêu người nghiện rượu, nghiện ma tuý? Bao nhiêu người sống bằng trợ cấp xã hội? Sách và những bài báo của ông đã nói đủ, khỏi cần kể ra đây.

Gia đình tổng thống mới nãm nhiệm được ba tháng, cũng không thuộc thành phần nhập cư trong thế hệ hiện tại. Xin hỏi: Có bao nhiêu người nghiện và trao đổi ma tuý? Bao nhiêu người bị kết án và buộc tội đại hình? Mọi người cũng đã có câu trả lời.

Tóm lại, khi những người không thuộc thành phần nhập cư thấy mình chẳng có gì tốt đẹp hơn người nhập cư thì đừng nên chỉ trách người mà không trách mình. Đó không phải là cách hành xử của những người có danh dự.

***

Điểm chót trong những ưu tư của Bob Turner là những người nhập cư sẽ đóng góp vào việc “giúp Chính quyền của chúng ta giữ danh dự khi giao tiếp với thế giới”.

Theo dõi những gì diễn ra qua cuộc tiếp Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky tại Phòng Bầu Dục vào ngày 28 tháng 2, 2025, không ai nhìn thấy cái gọi là “danh dự khi giao tiếp với thế giới”. Nhất là, tin thời sự cho biết, chính quyền hiện tại còn nghĩ tới chuyện chuẩn bị trục xuất hàng trăm ngàn người Ukraine hiện trong tình trạng tạm dung hợp pháp tại Mỹ trở lại Ukraine. Vậy thì, chúng ta chỉ có thể đóng góp một lời cầu xin:

– Nếu 50 năm trước, Mỹ đã phản bội Nam Việt Nam một cách thông minh, thì bây giờ, xin đừng phản bội Ukraine một cách ngu ngốc.

Đinh Từ Thức (damau.org)