Vũ Thất

Bảo Bình 1

Uwe Siemon-Netto và Chiến Tranh Việt Nam

Uwe Siemon-Netto và Chiến Tranh Việt Nam

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm
Cuốn sách nguyên bản  dày 306 trang với tựa đề “Duc, der Deutsche – Mein Vietnam. Warum die Falschen siegten “, đã từng được các dịch giả Lý Văn Quý&Nguyễn Hiền dịch lại với tựa đề “Vinh Quang của sự Phi Lý – Tình yêu của một phóng viên cho dân tộc Việt Nam bị bỏ rơi“, do chính tác giả Uwe Siemon-Netto trong dịp đến Berlin nói chuyện với Cộng Đồng Tỵ Nạn Việt Nam ký tặng  đề  ngày 23.03.2014,   được trân trọng để riêng trong tủ sách quý gia đình từ bấy lâu nay. Mỗi lần lấy sách ra đọc lại tôi vẫn cảm thấy xúc động trước sự đồng cảm, sự trân trọng quý mến dân tộc Việt Nam bị tổn thương và phản bội trong dư luận quốc tế.

Tuy bản dịch  tiếng Việt rất công phu nhưng nguyên bản mới diễn tả được sự điêu luyện sắc sảo trong lời văn ngôn từ và kỹ năng  của người viết. Thoạt nhìn hình bìa thì ai cũng  tưởng  đó chỉ là  là một cuốn sách viết về một đề tài chiến tranh khô khan, nhưng khi đọc người  ta mới cảm nhận được  sự thật kinh hoàng  của chiến tranh Việt Nam dưới cái nhìn của một Phóng Viên Chiến Trường có lương tâm nghề nghiệp  và  sự ấm áp tình người của một  người từng  đồng hành đồng khổ với người Việt miền Nam trong trận chiến  đó.

Ông Siemon-Netto  là người Đức, sanh ngày 25.10.1936   và có một thời thơ ấu  hồn nhiên   ở Leipzig. Thân mẫu của ông là một Ca Sĩ Hợp Xướng sau này sống ở  Frankfurt. Ông khởi nghiệp làm Phóng Viên Hải Ngoại ở Luân Đôn cho hãng truyền thông Đức Axel-Springer. Tại đây ông gặp người bạn đời Gillian vào năm 1962, một cô gái  người Anh vừa đẹp tính lại  vừa đẹp người. Hai người đã làm đám cưới vào cuối năm đó khi ông vừa 26 tuổi . Ngay sau đám cưới ông được hãng  thuyên chuyển sang New York làm Phóng viên chuyên về phóng sự chính trị tại Liên Hiệp Quốc.  Ba năm sau, đầu năm 1965 ,ông đặt chân lần đầu  đến Saigon với nhiệm vụ Phóng Viên chiến trường cho Axel Springer và tiếp tục đây đến cuối năm 1969.
Cuốn sách”Duc, der Deutsche “là một hồi ký, là những mảng  ký ức sống động được chép lại năm 2014 khi ông đã trở thành một Nhà Thần Học Tin Lành. Cũng nên nhắc lại là sau khi bỏ nghiệp nhà báo, ông Siemon-Netto đã theo học về Thần Học và chuyển sang làm nghề Chăm Sóc Tâm Linh  cho các Cựu Chiến Binh đã tham chiến Việt Nam tại Hoa Kỳ. Năm 1992 ông trình Luận Án Tiến Sĩ về Thần Học  và Xã Hội Tôn Giáo tại Đại Học Boston.

Xuyên suốt cuốn sách có một câu tuyên bố của Đại Tướng Cộng Sản Việt Nam Võ Nguyên Giáp  được Siemon-Netto  nhắc đi nhắc lại nhiều lần là: “kẻ thù ( nghĩa là kẻ Phương Tây ).. không có khả năng về tâm lý và chính trị để chịu đưng một cuộc chiến tranh trường kỳ “, và đó cũng là cái  cốt lõi và phương châm của Cộng Sản Việt Nam để liên tục  khiêu chiến và duy trì cuộc chiến kinh hoàng  với mục đích tối hậu là áp đật chế độ Cộng Sản lên toàn cõi Việt Nam.  

Siemon-Netto đã chỉ trích nặng lời với gíới chính trị Phương Tây là đã bỏ qua lời khuyên  của Sir Robert G.K. Thompson,  một chuyên viên  người Anh  về Chiến Tranh Du Kích đã rời Việt Nam  vào năm 1965 vì  Cơ Quan Tư Vấn của ông  bị đóng cửa. Theo chiến thuật của Sir Thompson thì chính việc loại bỏ  những tên Cộng Sản Nằm Vùng quan trọng hơn là việc diệt trừ những tên Cộng Sản Du Kích trong rừng sâu. Phương thức  “Clear and hold “là làm sạch mầm móng Cộng Sản nằm vùng (clear) thì dân chúng địa phương tại đó   sẽ đứng về phe chính phủ (hold ).Một hệ thống Cảnh Sát và Tình Báo hữu hiệu là yếu tố quyết định cho sự thành công của chiến thuật này. Trong chương 3  Siemon-Netto nêu lên sự thành công của  một Ấp Chiến lược năm 1965 của Đại Úy Ngữ ở làng Long Khốt, cách Saigon 137km về hướng tây gần biên giới Căm Bốt, hình thành đúng theo chiến thuật Thompson với lực lượng Nhân Dân Tự Vệ  bén nhạy  và ông đã tỏ  lòng hết sức kính phục  vị Đại Úy Việt Nam này.

Sự bỏ qua chiến lược này đã đưa đến những cái chết thảm thương của những người quốc gia chân chính sinh  sống nơi xa xôi. Trong chương 5 Siemon Netto ghi lại một hình ảnh kinh hoàng của một gia đình Xã Trưởng gồm  14 người  bị du kích Việt Cộng hành hình ở vùng Tây Nguyên xa xôi trước mắt dân làng như môt hăm dọa  cho ai không theo Cộng  : họ từ từ  giết cháu nhỏ nhất trước rồi tới các  cháu lớn, kế đó là vợ rồi ông Xã trưởng ; sự kinh hoàng không ngừng ở đó mà Việt Cộng đã hành hình vị Xã Trưởng  bằng cách  cắt lưỡi   rồi cắt bộ phận sinh dục nhét vào miệng trước khi treo cổ ; các người con  trai của ông ta chỉ bị cắt bộ phân sinh dục trước khi bị treo cổ. Người vợ và cô con gái thì bị xẻ vú trước khi treo cổ. Sự dã man này được thực hiện  như người ta thi hành một bản án thường nhật.
Trong một chương khác Siemon Netto nhắc lại ánh mắt căm thù sắt máu của những  bộ đội Bắc việt đối với bà Monika Schwinn, một nữ  Y Tá người Tây Đức  bị bắt khi đang phục vụ tai Việt nam trong chương trình nhân đạo của Malteser , trên đường dẫn độ ra Bắc trên con đường mòn Hồ Chí Minh. Là một nhà Thần Học ông biết  lòng căm thù và thú  tính giết ngừơi  không phải  tự trời sanh ra. Sự căm thù cũng như thú tính giết người này phải được gieo vào tim vào óc những  binh sĩ trẻ  Bắc việt với một khuôn phép giáo dục đặc biệt mà chỉ có  dưới chủ nghĩa độc tài toàn trị.

Trong chương 8 ông nhắc lại bài báo  “Đồng cỏ nhuộm đỏ“ của mình đăng trên Die Welt ngày 13.12.1965 mô tả hiện trường sau một cuộc giao tranh ác liệt giữa Quân Đội Bắc Việt và Quân Đội Hoa Kỳ. Hàng trăm xác chết Việt Cộng phơi thây máu nhuộm đỏ cả bãi cỏ voi cao cả mét. Quân nhân Hoa Kỳ tử trận hay bị thương đã được di tản bằng máy bay trực thăng. Khi khám nghiệm hiện vật trong túi áo quần và ba-lô các tử thi Bộ Đội người ta mới phát giác được nhiều tử thi chỉ mới 15 tuổi. Trong ba lô chứa  những bộ quần áo sạch xếp ngay ngắn hình như từ bàn tay của những người mẹ từ Vinh, Hải Phòng hay Hà Nội ;   có một số ba-lô  dấu  những tờ truyền đơn kêu gọi hồi chánh của Miền Nam. Sau khi kiểm soát người ta thấy có đến một phần tư các binh sĩ trẻ em  mang tờ truyền đơn này trong người để chuẩn bị cơ hội đầu hàng ; nhưng cơ hội lớn của  các em không dễ tìm ,vì chỉ cần một động thái khả nghi là các em sẽ bị đồng đội bắn ngay vào lưng.
Ngược lại Siemon –Netto cho người đọc thấy hình ảnh của những anh chàng GIs. Họ là những thanh niên còn quá trẻ để được phép uống bia rượu, nhưng đủ già dặn để đi quân dịch đem mạng sống giao cho rừng thẳm xa xôi. Phần lớn họ chỉ vừa đúng 18 tuổi và phải làm nhiệm vụ công dân. Những thanh niên này ngoài chút kiến thức căn bản về vũ khí chiến thuật, họ không được chuẩn bị tâm lý để đối phó với những sự tàn độc  của quỷ dữ. Trong một cuộc hành quân chung ở An Khê ông đã chứng kiến một cái chết của một thanh niên Hoa Kỳ 17 tuổi, viên đạn Kalaschnikow kẹt trong lá phổi của anh ta, anh ta nằm trong cơn hấp hối như một đứa trẻ thơ , anh ta gọi mẹ rồi kêu trời. Đó là một trong nhiều cái chết của những người lính trẻ mà Siemon-Netto đã chứng kiến. Trước khi chết họ thường gọi mẹ và kêu trời và phần lớn là theo thứ tự đó.
Sự tàn ác sâu độc của Việt Cộng còn được kể lại trong trận đánh tái chiếm Huế sau tết Mậu Thân. Khi những tay súng Việt Cộng nấp sau các cửa sổ phía bên bờ bắc sông Hương nã súng liên tục vào đoàn quân trong đó có Siemon-Netto đi theo, một binh sĩ Hoa Kỳ đã ném được một quả lựu đạn lọt qua một trong những  cửa sổ ấy. Lựu đạn nổ. Tất cả trở thành im lặng. Đoàn quân reo vui vì nghĩ là đã đã hủy được mục tiêu. Nhưng cánh cửa chính bỗng bật mở, một người đàn bà trẻ bước ra, tay giơ lên xác một đứa trẻ đẫm máu. Anh chàng quăng lựu đạn hồi nãy  chợt lên cơn khủng hoảng:”Trời ơi, tôi đã làm gì ? tôi đã giết một đứa trẻ. Trời hãy cứu tôi, trời ơi, trời ơi.. “anh ta quay cuồng, trong khi lính Bắc Việt từ những cửa sổ khác tiếp tục nã đạn vào phía chúng tôi. Ngừơi Trung Đội Trưởng phải dùng sức  đè anh lính xuống và sau đó cho anh rút ra khỏi vòng chiến. Người binh sĩ này đã bị hủy hoại linh hồn và có thể bị tổn thương tâm linh vĩnh viễn.
Trong cuộc chiến tranh tàn nhẫn đó  Siemon –Netto đã phân tích sự độc ác một cách khách quan  là: trong khi  Bắc Việt xem việc giết người là một một nhiệm vụ thi hành một chỉ đạo  một quyết định tối hậu  của nhà cầm quyền, kẻ giết người được ân thưởng tuyên dương công trạng. Còn người Mỹ xem chuyện giết người, điển hình là vụ Mỹ Lai, là một vi phạm pháp luật  phải được nghiêm minh  xét xử trước tòa án. Nhiều nhà báo quốc tế đã vô tình hoặc cố ý bỏ qua sự khác biệt về căn bản đạo đức này,  khiến cho nhiều binh sĩ Hoa Kỳ khi giải ngũ về nước bị công dân Hoa Kỳ sỉ vả và bị làm tổn thương tinh thần trong suốt cuộc đời.

Siemon-Netto cũng  phân tích tại sao chế độ Dân Chủ không đủ sức chịu đựng áp lực tâm lý và chính trị để chống lại cuộc chiến Partisan như Võ Nguyên Giáp đã tuyên bố. Nguyên do là chỉ vì nền Dân Chủ khác với Độc Tài ở điểm Hệ thống Dân Chủ lệ thuộc vào Cử Tri. Nhưng ai là kẻ đem tin tức đến Cử Tri. Chính là giới truyền thông. Và khi giới truyền thông loan truyền  là sự kiên trì trong  cuộc chiến tranh vũ khí không xứng đáng để kéo dài  vì người được bảo vệ không đáng được bảo vệ.  Như vậy là cuộc chiến phải chấm dứt, nếu cần thì thua thiệt cũng phải chấp nhận. Thế là Giáp thắng cuộc !.
Siemon-Netto lên án cực liệt giới truyền thông thuộc lớp trẻ, dưới ảnh hưởng của phong trào Hiện Sinh thập kỷ 1960, đã bóp méo hình ảnh chiến tranh Việt Nam đúng theo sự mong đợi như lời tuyên bố  của Giáp:“ Chiến tranh Việt Nam sẽ được đưa tới tận phòng khách  từng nhà mỗi gia đình Mỹ “. Giáp khẳng định : “giới truyền thông Mỹ sẽ là  một yếu tố quyết định trong sự thắng thế của Bắc Việt”.   Điển hình là cảnh một đoàn quay phim ba người của một đài truyền hình Hoa Kỳ đứng bên cạnh một ngôi mộ tập thể ở Huế. Ngôi mộ này vừa mới  được phát hiện sau trận đánh Mậu Thân. Tìm ra  do những ngón tay còn sơn móng đỏ giơ ra khỏi mặt đất của những người đàn bà đã bị chôn sống  khi đang cố bươi cào ra khỏi hố đất. Đoàn quay phim đứng hờ hững bên cạnh mộ và không có ý quay phim. Có người hỏi tại sao, thì họ trả lời: “Chúng tôi không đến đây để quay phim tuyên truyền chống Cộng Sản !!“.
Nhắc về Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, Siemon-Netto trách đám nhà báo đồng nghiệp chỉ luôn đi theo hành quân với quân đội Hoa Kỳ hoặc  quân đội Đồng Minh và gửi những hình của các Quân nhân này ra quốc tế,  mà quên hẳn đi hàng quân tinh nhuệ đã bảo vệ quê hương họ cho tới những giờ phút cuối cùng trước khi mất Saigon ngày 30.4.1975. Ông ca ngợi những gương anh hùng quân đội : Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú.. là những nhân vật mà ông đã từng gặp trên đường nghiệp vụ và giờ đây họ đã đi vào lịch sử.

Siemon-Netto yêu thương từ đứa trẻ bụi đời trên đường phố, đến thân phận những người đàn bà trong chiến tranh…Trong cuốn sách còn chứa đựng rất nhiều, về con người văn hóa lịch sử Việt Nam ,  về cái chết của vợ chồng Bác Sĩ người Đức Krainik và hai đồng nghiệp của họ: Alois Alteköster, Raimund Discher trong vụ tàn sát Mậu Thân Huế.
Trong vài hàng giới thiệu này tôi không thể chuyển tải tất cả chi tiết trung thực và đứng đắn trong cuốn sách của Siemon-Netto, người mang  sứ mạng cao cả của Nhà Báo và của nhà Thần Học  để trải lòng viết ra cuốn sách có giá trị lịch sử này. Tôi thiết nghĩ và cầu mong cuốn sách này sẽ là cuốn sách kinh điển để lại cho thế hệ mai sau một cái nhìn trung thực và có lương tâm về cuộc chiến Việt Nam. Các bậc phụ huynh của những thế hệ sanh sau cuộc chiến hãy khuyến khích con cháu  tìm đọc cuốn sách này để hiểu chính xác về chiến tranh Việt Nam. Cuốn sách được chính tay tác giả viết bằng hai thứ tiếng: tiếng Đức như đã nêu từ đầu: “Duc, der Deutsche – Mein Vietnam. Warum die Falschen siegten “ và tiếng Anh đã được xuất bản lần thứ hai là: “Triumph of the Absurd”

Mong lắm thay!!!

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm

Berlin, 27.11.2016

nguon: Vietbao.com

BANG VÔ ĐẠO…

BANG VÔ ĐẠO…
Trần Văn Chánh
  
     Cho dù không thuộc phái nào trong số hai phái chủ yếu đề cao và bài bác Khổng Tử, nhưng dường như hầu hết ai cũng phải khách quan nhận rằng văn chương trong sách vở kinh điển của Nho gia có nhiều đoạn rất hay, rất “đắc”, hàm súc mà thâm trầm tế nhị về phương diện diễn đạt, khi nó muốn phát biểu bất cứ chuyện gì liên quan đến các vấn đề thuộc chính trị, văn hóa, đạo đức…
     Chẳng hạn, muốn nói về thái độ sống và trách nhiệm của hạng người quân tử tức tầng lớp lãnh đạo hay tầng lớp trên trong xã hội phong kiến thời xưa (phân biệt với đông đảo quần chúng), Khổng Tử chỉ buông ra một câu rất gọn mà dứt khoát, trong Luận ngữ, thiên “Thái Bá”: “Bang vô đạo, phú thả quý yên, sỉ dã” (Khi nước vô đạo nghĩa là đang ở trong tình trạng hắc ám về chính trị mà lo chạy theo lợi danh để mong được giàu và sang là điều đáng hổ thẹn).
        Về hai chữ “vô đạo”, Hán ngữ đại từ điển của Trung Quốc nêu lên cả thảy 5 ý nghĩa khác nhau, trong số có 3 nghĩa liên quan chính trị rất rõ: (1) Chỉ tình trạng quốc gia có nền chính trị hôn ám tệ hại, chính sự rối loạn thối nát, người lãnh đạo không trị dân bằng đạo đức (tương ứng với ý nghĩa trong câu vừa dẫn trên); (2) Vô đạo đức, vô hạnh, không thi hành chính đạo, làm những việc xấu ác (như trong câu  “Ngô văn Tống quân vô đạo…”, Ta nghe vua nước Tống làm những chuyện xấu ác, trong Hàn Phi Tử, “ Ngoại trữ thuyết tả thượng”); (3) Kẻ vô đạo, chỉ kẻ xấu không làm việc nhân nghĩa, hoặc vua chúa tàn bạo (như trong câu: “Phạt vô đạo, tru bạo Tần”  Đánh kẻ vô đạo, kể tội và giết nhà Tần tàn bạo, trong Sử ký, “Trần Thiệp thế gia”).       
       Xét các ý nghĩa của cụm từ “vô đạo” như trên thì Việt Nam trong vòng vài chục năm nay rõ ràng đã và đang ở trong tình trạng khó khăn, gần như vô đạo, tức chính trị thối nát và thiên hạ bị mất lòng tin trên diện rộng. Bên cạnh vài nhà lãnh đạo mà dân chúng còn có phần hi vọng được, một bộ phận không nhỏ kẻ khác tham lam vô hạnh/ vô đạo (nghĩa thứ 2 và 3) đã bằng con đường cơ hội hoặc thủ đoạn chính trị chen được vào bộ máy quản lý đất nước, để xảy ra tình trạng “thượng bất chính, hạ tắc loạn”, luật pháp không nghiêm, mà diễn đạt theo nghĩa bình dân dễ hiểu là mạnh ai nấy làm, “trên bảo dưới không nghe”, dẫn đến nhiều thực trạng đau buồn: môi trường thiên nhiên và xã hội bị phá nát, các thang giá trị bị đảo lộn, văn hóa-giáo dục-đạo đức xuống cấp tới mức lâm nguy, xã hội bất công trầm trọng, hố ngăn cách giàu nghèo thêm sâu sắc, quốc nạn tham nhũng, tội ác giết người cùng các loại hình tệ nạn xã hội khác diễn biến phức tạp theo chiều hướng ngày một gia tăng…, vô phương cứu chữa!
        Trong khi đó, một nhóm những kẻ thuộc tầng lớp trên nhưng lại bất cố liêm sỉ, cứ hớn hở ngồi trên các vị trí lãnh đạo câu kết lẫn nhau trục lợi và tranh giành quyền lực trước tình trạng ngày càng gian nan điêu đứng của khối quảng đại quần chúng lao động nghèo khổ bao gồm phần lớn là công nhân, công chức cấp thấp, dân nghèo thành thị, đặc biệt nông dân và đồng bào miền núi, những thành phần vốn bị lép vế, không tiền không quyền, chỉ biết mưu sinh chân chính bằng sức lao động trong nền chính trị không có tự do dân chủ và luật pháp nghiêm minh, trùm lên cả một nền kinh tế bất ổn định, lương không đủ sống, do chính những phần tử đặc quyền đặc lợi nêu trên gây ra. Nhóm đặc quyền đặc lợi này, dù bị dư luận phê phán bao nhiêu dường như họ cũng tỏ ra không biết hổ thẹn, trái lại cứ nhơn nhơn hằng ngày không ngượng miệng, nói mãi những câu chỉ đạo chung chung vô nghĩa, vừa giáo điều vừa sáo rỗng, mà chẳng cần biết có đối tượng dân chúng hay nhân sĩ trí thức nào còn muốn được nghe họ nói nữa hay không.  
        Hạng người như vừa nêu trên trong lịch sử thời nào cũng có, đặc biệt bộc lộ rõ nhất trong các thời kỳ “bang vô đạo”. Thời xưa đó là hàng trăm những ông quan đại thần trong triều (tương đương các quan chức trung ương như bộ trưởng, vụ trưởng vụ phó, cục trưởng cục phó … ngày nay), được chỉ huy bởi vua và tể tướng. Trong điều kiện chính trị hủ bại, nhóm người này từ tể tướng trở xuống đều trở thành những kẻ vô trách nhiệm, ăn hại đái nát, chuyên  ăn hối lộ đè đầu cưỡi cổ đám dân đen nghèo khổ, mà chẳng có kế sách gì để cải cách hay vực dậy hiệu quả nền chính trị trong nước, trái lại còn tìm cách duy trì sự thối nát bằng những luận điệu bảo thủ cũ rích để tiếp tục được hưởng lợi quyền lâu dài, cho cá nhân và cho những nhóm lợi ích liên quan tới mình.
 
     Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam và Trung Quốc, xưa cũng như nay, đều có những giai đoạn chính trị bại hoại tàn tệ gần gần giống như nhau.
 
     Ở Việt Nam, tiêu biểu có thể kể là vào khoảng cuối thời Hậu Lê, như thư viết năm 1766 của giáo sĩ thừa sai Reydellet gởi cho người em trai ở Pháp, đã mô tả rất sinh động tình trạng tệ hại trong nước, với giọng mỉa mai sâu sắc: “Về việc giữ gìn an ninh và luật pháp trong xứ [Đàng Ngoài, tức Bắc Việt] thì có lẽ sẽ rất dài dòng nếu ta đi sâu vào các chi tiết. Tôi chỉ xin nói để chú biết là nhìn tổng quát thì luật lệ ở đây rất đúng đắn, rất hợp lý và được quy định rõ ràng. Chỉ tệ một nỗi là chẳng được kẻ nào tôn trọng cả. Chính những người có phận sự thi hành luật pháp lại là những người phạm luật trước hơn ai hết. Tiền bạc và những tặng vật  đút lót xóa sạch những tội ác. Dù có là đại gian hùng nhưng nếu biết cách che giấu những hành động bất chính của mình thì vẫn là người lương thiện [TVC nhấn mạnh]. Chỉ những kẻ vụng về, những kẻ ngờ nghệch, ngây ngô, những kẻ nghèo hèn là bị trừng phạt thôi. Điều này cho thấy là đức hạnh của con người không đủ sức tạo ra những kẻ có lòng lương thiện” (xem Thư của các giáo sĩ thừa sai, bản Việt dịch từ Pháp ngữ của Nguyễn Minh Hoàng, NXB Văn Học, tr. 74).
     Tương tự như vậy, ở Trung Quốc thời xưa, ngay từ giai đoạn đầu nhà Minh (khoảng cuối thế kỷ 14), chính trị đã bộc lộ rõ sự bại hoại vô đạo, khiến một quan chức lớn vừa là nhà văn/ nhà trí thức đương thời là Lưu Cơ (tức Lưu Bá Ôn, 1311-1375) đã không ngăn được nỗi bức xúc, cực lực phê phán một cách sâu sắc hiện trạng quan lại gian tà trong bài “Mại cam giả ngôn” (Lời người bán cam), một tiểu phẩm cổ văn chính luận rất nổi tiếng, nội dung mượn lời người bán cam bình phẩm sự tác tệ của bọn quan chức ăn hại để kết luận bài viết. Đại khái, tác giả trách anh bán cam lừa đảo bán toàn cam bên vỏ ngoài màu mè thấy tươi tốt nhưng bên trong hỏng nát, thì được anh ta đáp lại bằng một luận điệu trông có vẻ rất tự nhiên bình thản: “Ở đời, kẻ lừa gạt người không phải ít, há chỉ có riêng tôi hay sao?… Nay những kẻ đầu đội nón cao to [chỉ giới quan lại cấp cao trong triều]…, nhưng… cướp dấy lên mà không biết ngăn, dân khốn khổ mà không biết cứu, quan lại gian tà mà không biết cấm, pháp luật bại hoại mà không biết sửa, ngồi không ăn tốn lúa trong kho mà không biết nhục. Trông họ ngồi trên nhà cao, cưỡi ngựa lớn, say rượu ngon, no thịt cá, thì kẻ nào mà chẳng vòi vòi đáng sợ…, bề ngoài thì như ngọc như vàng mà bề trong thì như bông nát? Nay ông chẳng xét những kẻ đó mà chỉ xét cam của tôi!”.
     Đọc tiểu phẩm cổ văn chính luận dẫn trên, chúng ta thấy dường như tác giả Lưu Cơ đã không tiếc lời mạt sát khinh miệt đám quan lại cấp cao “ngồi không ăn tốn lúa trong kho” còn thậm tệ hơn cả anh bán cam vì nghèo mà không tôn trọng đạo đức kinh doanh đến phải phạm tội lừa đảo.  
     Ngày nay, đối chiếu với thực trạng Việt Nam, nếu để ý quan sát, sẽ thấy đại khái cứ có khoảng bao nhiêu kẻ thất học vô công rồi nghề lừa đảo, cướp của giết người… phải vào tù ra khám thì có lẽ cũng có chừng ấy không ít hơn những viên chức-quan chức nhà nước bị truy tố, phải tra tay vào còng và bị đăng hình lên báo chí vì một số loại tội phạm như tham ô, móc ngoặc, hối lộ, lừa đảo…. Cho nên câu ca dao dạy trong các trường học “Con ơi nhớ lấy câu này, cướp đêm là giặc cướp ngày là quan” là ám chỉ khá đúng cho tình trạng hiện tại.
     Chỉ có điều, ngoài lòng tham và bản năng chạy tội ra thì giữa hai loại kẻ cướp lại có những đặc điểm hầu như khác nhau hoàn toàn. Đại khái: Một đằng thất học vô nghệ, lý lịch đôi khi không rõ ràng, bần cùng sinh đạo tặc; còn đằng kia thì phần nhiều được đào tạo có cấp bằng văn hóa hoặc chuyên môn cao hẳn hoi (kể cả không ít thạc sĩ, tiến sĩ), lý lịch từ quá tốt đến tốt, được tín nhiệm giao cho quyền cao chức trọng, không bần cùng mà vẫn sinh đạo tặc. Đạo tặc loại nào cũng nguy hiểm, hại dân hại nước, cần trừng trị như nhau, nhưng loại đạo tặc quan chức đứng đầu các cơ quan lãnh đạo hành chính hoặc doanh nghiệp nhà nước lớn (như tập đoàn, tổng công ty…) thì lẽ tất nhiên phải có hại cho dân nhiều hơn, vì thực chất dưới tay họ là những cơ quan công quyền hoặc công ty kinh doanh thuộc sở hữu của khoảng 90 triệu dân trong nước.
     Cũng như những kẻ giựt dọc khác, hầu hết đạo tặc quan chức khi bị phát hiện đều tìm mọi cách chối tội/ chạy tội,  đôi khi cũng trốn chui trốn nhủi ra nước ngoài, ngành công an phải phát lệnh truy nã; nhưng thường thì họ chỉ được xử lý nội bộ theo kiểu bao che lẫn nhau để hạ cánh an toàn, tiếp tục thụ hưởng sự giàu sang bên cạnh một đám đông dân số nghèo khổ mà chẳng ai làm gì được họ. Đám người này, một số đã về hưu, nếu chưa phạm trọng tội hình sự rõ ràng (không che giấu được) và bị đuổi ra khỏi tổ chức thì hầu hết cũng đều không chịu từ bỏ cái tổ chức chính trị đã nát bét nhưng nhờ đó họ được dung dưỡng trở nên vinh sang giàu có, nhà cao cửa rộng, cộng thêm một số ưu quyền mà thường dân không có. Một số người khác tuy có phẩm cách sạch sẽ trong sáng hơn, cố giữ mình trinh bạch tương đối cho lương tâm đỡ bị cắn rứt tới lúc về hưu, nhưng vẫn không dám mạnh dạn có tiếng nói phản biện trung thực, ngại xin ra khỏi tổ chức, vì sợ bị trù dập, mất các quyền ưu tiên, hoặc ngầm hiểu bản thân mình có thể hi sinh quyền lợi nhưng còn e ảnh hưởng bất lợi đến tương lai con cháu. Xét cho cùng kỳ lý, nhóm thiểu số tạm gọi tốt đẹp này cũng đã bị khéo lợi dụng mà không hay biết, vì kẻ xấu thường tìm cách treo gương họ ra bằng những tấm bằng khen, huân chương để tuyên truyền cho tính ưu việt của thể chế chính trị, khi gọi họ là những người con “ưu tú”, “chân chính”, “anh hùng”… của nhân dân và đất nước XHCN! 
     Một khi đã trở thành tội phạm, thì nhân cách các đối tượng đều xấu như nhau, nhưng nếu xét “hoàn cảnh” cụ thể thì hạng phạm nhân quan chức gây thiệt hại tiền tỉ cho dân lại đáng bị xã hội khinh chê nguyền rủa hơn, chẳng hạn so với quân trộm chó mạt hạng…, vì những kẻ này vốn đã được xã hội ưu ái, cho ăn học-đào tạo-đề bạt chức vụ, nhờ đó (trên nguyên tắc/ lý thuyết) hiểu biết luật pháp, có điều kiện nhận thức tốt hơn về những gì đáng làm và không nên làm. Vì lòng tham không đáy, họ dám phản bội cả lòng tin của tổ chức cấp trên và của nhân dân, bằng đủ loại thủ đoạn cao cường quỷ quyệt, sẵn sàng vi phạm phép nước để thỏa mãn tham vọng thấp hèn, góp phần tạo nên môi trường xấu và tình trạng bất công,  cũng chính là tạo nên cái điều kiện cơ bản để từ đó liên tục làm nảy sinh các loại tệ nạn xã hội khác.
     Ở các cấp lính lác thừa hành nhỏ hơn, noi gương xấu cấp trên, họ không thể kiên nhẫn chịu mãi sự lép vế thu nhập so với thượng cấp, nên một bộ phận không nhỏ đã lần lần trở nên hèn kém hư hỏng bằng đủ mọi loại thủ đoạn kiếm chác rẻ tiền. Một số khác trong họ đã trở thành những phần tử tha hóa ác ôn, ức hiếp bóc lột dân chúng, thường thấy trong những vụ cưỡng chế giải tỏa nhà đất, hoặc dẹp lòng lề đường…; nhân danh nhiệm vụ cấp trên giao, đi đến đâu cũng “đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi” (Nguyễn Du), sẵn sàng thi triển những hành động vô cảm, “phũ tay tồi tàn” ngay cả đối với những phụ nữ nghèo khổ mua gánh bán bưng lương thiện ngoài đường phố để kiếm tiền nuôi con.
     Những hình ảnh phản cảm như trên vừa nói gợi chúng ta nhớ đến một tiểu phẩm cổ văn chính luận khác cũng rất nổi tiếng, đó là bài “Bổ xà giả thuyết” (Lời người bắt rắn) của Liễu Tông Nguyên (773-819) thời Đường, nội dung công kích mạnh mẽ vào đám tham quan ô lại và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với những người dưới đáy xã hội bị bóc lột tận xương tủy, với ý tưởng chính coi chính sách thuế khóa bóc lột dân nghèo còn độc hại hơn cả nọc rắn độc và còn “dữ hơn cọp” nữa. Đại khái, trong câu chuyện, người dân đen ở nông thôn thà liều chết bắt rắn nộp lên quan để được miễn thuế còn hơn phải chịu khổ về nỗi thuế má nặng nề, lại còn bị bắt nạt hiếp đáp trăm chiều: “Bọn lại hung ác tới làng tôi, hò hét ở phía đông phía tây, phá phách ở phía nam phía bắc, ầm ĩ làm cho mọi người kinh hoảng, tới gà chó cũng không được yên”.    
     Bên cạnh một bộ phận không nhỏ giới quan liêu thối nát đủ cỡ và các cấp thừa hành chỉ biết làm theo lệnh cấp trên, xưa nay còn có một số không ít (chứ không phải tất cả) trí thức nô dịch ăn theo thể chế kinh tế-chính trị bằng cách minh họa/ phụ họa cho những chính sách mị dân, sai lầm. Những người này tuy chưa xứng gọi ăn hại đái nát, một số cũng có hoàn cảnh riêng biệt đáng được thông cảm, nhưng nói chung về mặt chiều sâu còn có hại hơn cả đám lính lác đi dọn dẹp lòng lề đường, trong vai trò đồng lõa của họ với những cái xấu lớn hơn/ gây tác hại nhiều hơn thuộc về đường lối, chính sách.
     Trong bối cảnh chính trị Việt Nam hiện tại, một số trong họ là những ông nghị viên hội đồng các tỉnh thành, ủy viên mặt trận này mặt trận nọ, chủ tịch các thứ hội, hoặc thậm chí cả đại biểu Quốc hội, vốn được cơ cấu sẵn để đưa vào tổ chức chính trị nhưng thực chất chỉ hữu danh vô thực, giữ vai trò a dua phụ họa. Đối với hạng trí thức này, có lần tôi đã mạnh dạn viết rõ: “Người ta thường thấy vẫn có không ít trí thức về mặt nhận thức đối với các hiện tình chung của xã hội thì họ vẫn đủ sáng suốt, thấy hết mọi vấn đề, nhưng vì nhiều lý do thực tế của cuộc sống, họ đã chọn lựa thái độ cầu an nên thường không dám tỏ thật thái độ, thậm chí vô hình trung còn đồng lõa với một số điều tệ hại đi ngược với quyền lợi của công chúng. Một số khác trong họ bên ngoài cuộc sống hiền lành và có vẻ trong sạch còn dần dà trở thành những phần tử thỏa hiệp nguy hiểm để hợp lý hóa cho những chủ trương chính sách sai lầm, gọi là ‘văn quá sức phi’, tức tìm cách tô điểm cho những điều bậy bạ trở nên có văn vẻ để mị hoặc quần chúng. Nếu cần tỏ thái độ phê bình, họ chỉ phát biểu vừa phải để giữ mức an toàn cho bản thân và cho những chức vụ đang được nắm giữ, rốt cuộc trở thành những kẻ ngụy tín ngụy biện lúc nào không hay. Họ có thừa khả năng lý luận để biện minh và che giấu cho mặt trái hành động của mình, so với đám tham quan ô lại thì thành phần trí thức dạng này còn nguy hiểm hơn nhiều vì chính họ mới là thủ phạm gián tiếp dung dưỡng, làm trái độn bắc cầu cho những kẻ tham quan ô lại tiếp tục hoành hành. Chuyện này không có gì mới, vì lịch sử đã nhiều lần chứng tỏ, trong một số thời kỳ chính trị hủ bại, một bộ phận của tầng lớp sĩ phu không phải lúc nào cũng đứng về phía binh vực cho quyền lợi của nhân dân lao động” (xem tuần báo Công Giáo Và Dân Tộc, số 1384).
     Nhưng nói đi rồi cũng phải nói lại cho đúng sự thật và công bằng sòng phẳng: dẫn đến tình trạng trầm trọng đáng lo như hiện nay không phải do tội lỗi của từng cá nhân riêng lẻ gộp lại, mà do cái tổng thể của kiểu cách/ mô thức tổ chức điều hành xã hội đã không thể không tạo nên tình trạng tha hóa cho mỗi con người mà cá nhân chỉ là sản vật. Nói cách khác, chính là cái thể chế kinh tế-chính trị, mà người ta thường nói giảm đi cho lịch sự tế nhị bằng hai chữ “cơ chế”, thứ cơ chế đã có mấy đời thủ tướng (như Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải…) gợi ý khéo léo cần phải thay đổi (chứ khó nói huỵch toẹt ra vì dù cấp thủ tướng trong cơ chế đó cũng chẳng dám hoặc được tự do phát biểu…), và có lần ông bộ trưởng Bộ Giao thông-Vận tải Đào Đình Bình đã phải ngậm ngùi phát biểu lớn lên giữa phiên họp Quốc hội ngày 15.6.2006 trước khi ông bị bắt buộc phải từ chức: “Cơ chế hiện nay phải thay đổi. Nếu không thay đổi thì bộ trưởng nào ngồi vào đây cũng sẽ mắc khuyết điểm. Tôi từ chức rồi, nhưng các đồng chí sau tôi chắc chắn cũng khó vượt qua” (dẫn lại theo tạp chí Phát Triển Kinh Tế, số 191, tháng 9.2006).
     Liên quan sự bất lực của cả hệ thống, rất nhiều quan chức cấp cực lớn trước nay đã thừa nhận công khai, như có thể nhắc lại, chính cựu Thủ tướng Phan Văn Khải khi vừa rời khỏi chính trường cũng có lần phát biểu trả lời phỏng vấn trước Quốc hội: “Rất nhiều lần tôi nói cả hệ thống chính trị chứ không chỉ hệ thống hành chính của chúng ta có vấn đề, cần phải cải cách, chấn chỉnh, nâng cao năng lực, hiệu quả, hiệu lực, chống cho được tham nhũng, tiêu cực, nhũng nhiễu…” (nt.).
     Một cái thông bệnh của quan chức các cấp nhà nước trong hệ thống chính trị là thường khi người ta sắp hoặc đã về hưu rồi mới có người thỉnh thoảng dám nói lên một phần sự thật mấy vấn đề cốt lõi về quan điểm/ lập trường chính trị; còn trong khi đương chức, nghĩ mình là phương diện quốc gia, sớm tối xách cặp đi họp/ đi báo cáo/ chỉ đạo… gọi là làm việc nước, để chỉ phát biểu qua loa mấy vấn đề râu ria sự vụ, mà chẳng dám động vào những chỗ bị ngầm hiểu (vì không có văn bản hay luật pháp quy định) là “vùng cấm” hay “vùng nhạy cảm”, vì sợ đi chệch đường lối chính thống sẽ có thể bị chính những đồng chí thân thiết của mình nghi ngờ và quy chụp quan điểm, từ đó có thể “bị đì”, rất khó tiến thân trên con đường sự nghiệp. Hậu quả tất yếu là hầu hết quan chức có chức vụ càng cao lại càng trở nên rụt rè gà phải cáo, sống và làm việc thiếu trung thực, (để giữ ghế chờ đến lúc về hưu hưởng đủ các loại chế độ?), và vì thế quốc gia nếu không ngày càng suy bại, bộ  máy vận hành nhà nước không ngày càng kém hiệu lực, mới là chuyện lạ.      
     Sự thật, chẳng phải không có những quan chức lãnh đạo cấp cao có thực tâm cải cách, chống tham nhũng, muốn làm trong sạch bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nhưng chính cái hệ thống với bản chất thiếu công khai dân chủ này trước hết đã vùi dập làm tê liệt mọi sáng kiến và quyền tự do phát biểu cá nhân, khiến cho một người dù thiện chí đến đâu rốt cuộc cũng phải chịu cảnh lực bất tòng tâm! Và trong tình huống triệt buộc bất lực một cách phổ biến như vậy, chỉ một số rất ít trong họ dám có quyết định “từ quan” để ít nhất cũng giữ mình trong sạch trong lương tâm thanh thản vì không tiếp tục mắc tội đồng lõa với một số biện pháp/ chính sách bất cập do tập thể quyết định. 
     Vậy rõ ràng vấn đề cần được giải quyết từ gốc, bằng cách phải sửa đổi căn bản hệ thống kinh tế-chính trịtheo hướng dân chủ hóa toàn bộ hoạt động xã hội một cách thực chất, thông qua quá trình sửa đổi Hiến pháp và thực thi đúng Hiến pháp, vì trên thực tế, kể từ Hiến pháp Việt Nam đầu tiên (năm 1946) cho tới Hiến pháp bây giờ (năm 2013), hầu hết các quyền tự do dân chủ căn bản đều chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết: nói tự do ngôn luận mà không có tự do ngôn luận (nên mới có vụ trấn áp nhóm Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956…); nói biểu tình mà không có quyền biểu tình (đến nay luật biểu tình vẫn chưa được thông qua, và ai tổ chức biểu tình cũng đều bị trấn áp, quy chụp do kẻ thù này khác xúi giục…); nói ứng cử/ bầu cử tự do nhưng thực tế chỉ do sự cơ cấu/ quy hoạch sẵn của một tổ chức độc quyền lãnh đạo (nên những người tự nộp đơn ứng cử hầu hết đều bị loại…) … 
     Cho đến hiện nay, tình trạng mất tự do dân chủ kiểu nêu trên vẫn chưa được cải thiện đáng kể, mọi ý đồ tốt đẹp của quốc gia vì thế đều chỉ nằm trên giấy, trong khi mọi thứ hiện tượng tiêu cực trong đó nổi bật quốc nạn tham nhũng tràn lan nêu ra từ mấy chục năm nay chẳng những không dừng lại mà còn tiếp tục gia tăng hoành hành, hay được mô tả khéo bằng cụm từ “diễn biến phức tạp”.
      Trong bối cảnh gần như bế tắc như vậy, không ít người có thiện chí đã tỏ ra lúng túng, cố gắng lắm cũng chỉ thẳng thắn nêu lên được một vài ý kiến phản biện/ đóng góp trên các phương tiện truyền thông (lề phải, lề trái) nhưng thường chỉ được đáp lại bằng sự im lặng gần như tuyệt đối của các nhà đương cuộc! Một số người khác thất vọng vì lực bất tòng tâm, không đủ kiên nhẫn chờ đợi lâu thêm, họ đã lai rai buồn bã đoạn tuyệt với cái tổ chức chính trị độc quyền trì trệ ít chịu thay đổi mà họ kịp nhận ra chính sự độc quyền trì trệ đó mới là nguyên nhân đích thực của mọi nguyên nhân  tạo nên tình trạng hôn ám, vô đạo như từ trước đến nay. Họ dứt khoát như vậy, vừa để tránh mặc cảm đồng lõa, vừa để bắt chước người xưa bảo tồn danh tiết.         
     Từ rất lâu đã có loại lý lẽ cho rằng, trong điều kiện nước nhà “vô đạo”, tức chính trị hôn ám bại hoại, nếu thật sự là người tốt, chân chính thì không ai có thể tiến thân xa trên con đường chính trị. Trường hợp ai đó thản nhiên chịu nhận chức vụ cao một cách không ngay chính (vì thiếu đức thiếu tài, lại được cơ cấu/ đề bạt không theo nguyên tắc công bằng, dân chủ…) để được giàu sang như trong thực tế xã hội hiện tại “tiền và quyền đi đôi với nhau” mà chẳng làm được gì có ích cho dân thì họ chỉ được cái mã ngoài tốt đẹp vinh thân phì gia nhưng thực chất chỉ là một nỗi nhục nhã hết sức lớn lao, tương lai sẽ bị lịch sử phán xét không thương tiếc!
      Là một người không từ bỏ lý tưởng xã hội, hẳn ai cũng muốn đóng góp phần mình vào sự nghiệp tiến bộ chung của đất nước. Nhưng ngặt nỗi, cuộc sống không đứng yên một chỗ, thực tế thời cuộc cũng ngày một đổi khác, lòng yêu nước, mục đích lý tưởng vì thế cũng cần được biến thông, thể hiện khác đi cho phù hợp với thời thế và hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã thay đổi. Nếu vẫn cứ một mực “ngu trung” theo con đường cũ, khi sự vật đã khác xưa, thì đó chắc chắn không phải là cách lựa chọn sáng suốt của một người trong sạch luôn coi lợi ích của nhân dân là mục đích tối thượng.
     Về phía các nhà đương cuộc chịu trách nhiệm lèo lái quốc gia, ngày càng thấy dường như họ đã nhận ra tầm quan trọng và tính bức bách của nhu cầu cải cách thể chế. Về mặt phát biểu công khai, không ít các nhà lãnh đạo cấp cao đã đề cập vấn đề này từ lâu. Nhiều người trông chờ vào một bước đột phá có tính quyết định để khai thông mọi bế tắc; một vài cố gắng cũng đã được bàn thảo và thực hiện bước đầu, tuy vẫn còn vấp phải khá nhiều khó khăn trở ngại, bởi nhiều lý do rất phức tạp. Nhưng dù thế nào, nếu thật sự muốn lấy lại niềm tin trong nhân dân, để đất nước được ổn định phát triển lâu dài và thông suốt, tiêu chí của giá trị cải cách nhất định cũng phải được đánh giá dựa trên cái ngưỡng từ đó trông thấy rõ nỗ lực vượt lên mấy nút chặn nghiệt ngã bấy lâu nay, liên quan những nội dung/ vấn đề cốt lõi như quyền tự do ngôn luận-báo chí-xuất bản, quyền ứng cử, quyền biểu tình, quyền sở hữu ruộng đất (trên thực tế)…, chứ không thể chỉ dựa vào mấy câu chữ lưỡng nghĩa vốn đã được sửa đi sửa lại nhiều lần ghi trong các bản nghị quyết suốt mấy chục năm nay mà bản chất gần như không có gì đổi mới.
                                                                                                                          22.11.2016     
          
 Tác giả gởi cho viet-studies ngày 24-11-16

THẰNG ĐỨNG TRÊN THUYỀN LÀ THẰNG NÀO?

THẰNG ĐỨNG TRÊN THUYỀN LÀ THẰNG NÀO? 

 45 nhận xét :

  1. “Phụ Mẫu” của Dân chứ còn ai nữa?
  2. Đây có lẽ là tấm ảnh phản cảm nhất Việt Nam trong thiên niên kỷ này


  3. Thuyền rồng.


  4. Ô hay! Sao nó không ôm theo cái đầu rồng nhỉ?
  5. Còn 4-5 thằng ở chiếc thuyền phía sau


  6. Nó láo như thế này thì nhấn đầu nó xuống nước để nó hiểu lũ lụt là thế nào!


  7. -Mối chúa đấy!


  8. Thoạt nhìn những tưởng 1 tướng thời Tam quốc bên Tầu.


  9. Nếu ở Hà Tĩnh thì trông hắn giống Lê Đình Sơn, Bí thư tỉnh ủy. Bọn quan chức CS đã học tập được rất nhiều tấm gương đạo đức HCM! Chúng nó quen cưỡi đầu cưỡi cổ dân lành rồi nên cũng phải cưỡi thuyền đi mị dân.


  10. Đầy tớ của nhân dân Việt Nam là thế này đây.


  11. Thằng này chắc chắn là quan to,vì chỉ có lũ này mới ngu như vậy.

  12. thằng quan này khôn đấy, mọi khi lính cõng, nhưng ngập lụt đi khó sợ ngã nên chọn đứng trên thuyền


  13. Nó đã ngu rồi, mấy thằng còng lưng đẩy thuyền chở nó nó còn ngu hơn. Nếu còn lòng tự trọng. Đến chỗ nào có nước xoáy, hất mẹ đống cứt thối xuống nước! Sao muốn chửi tục quá…!


  14. Ngay cái chỗ lũ lụt khốn khổ này mà thằng này cũng muốn ra oai, thì quả nhiên, nó là thằng khốn nạn thật!


  15. Thế này thì nhằm nhò gì! Tớ chứng kiến nhiều trường hợp tởm hơn. Bất ngờ mà chi, dưới chế độ cộng sản, chủ tịch huyện thôi đã là chúa tể rồi.


  16. Bọn này buồn cười nhể. Từ chỗ ca nô vào bờ nước chưa đến đầu gối, mà chúng nó cưỡi thuyền rồi còn đeo áo phao vì sợ chết đuối. Chết cười với bọn quan cách mạng. Ông Hồ mà nhìn thấy cảnh này chắc cũng cười rung rốn, vì bọn này học tập một cách thái quá hóa ngu.


  17. muốn biết nó là thằng quan nào thì hỏi dân ở nơi nó đến kiểm tra là biết ngay. Cái chế độ này càng ngày càng thối nát.


  18. Đồng chí này sợ ướt dày
  19. Tôi tưởng lễ khao lề thế lính vẫn tổ chức ở đảo Lý sơn .


  20. chú ơi ông này chân bị nước ăn chân nên mới phải vậy mà.😀


  21. Thằng nào tư cách càng khốn nạn thì thằng ấy càng làm to!


  22. dân miền lũ ngán những bị thịt này đến cổ.


  23. Nó là con mèo vì mèo sợ nước


  24. Dân hãy như nước lũ dìm chết những thằng xếp CS như thằng này đi!

     

  25. Thằng nào đang đứng trên thuyền?
    Ứng cứu lũ lụt, hay chuyên đi lừa?
    Sợ ướt trùm kín áo mưa
    Bắt quân lội nước đẩy đưa vào bờ
    Thằng nào đóng kịch rõ dơ
    Quấn kín quần áo ngay đơ – giúp gì?
    Thôi thôi cuốn gói về đi
    Trông quá ngứa mắt, đến chi cho phiền?
    Mất công người rước, phí tiền
    Muốn giữ giầy sạch vẹn nguyên nên lười?
    Hay quen thói hống hách rồi?
    Trường mặt chỉ để cho người quay phim?

     

     

  26. Đấy là con sâu đo của đảng đấy,nó đang đo lòng dân đấy


  27. thằng đứng trên thuyền là ‘đầy tớ’ của dân!!! càng nghĩ càng thấy tởm! mịa lũ chúng bay!


  28. Quan lại thời Phong kiến phải gọi đồng chí này bằng bố.


  29. Tiếc là còn thiếu em “chân dài” cầm ô che cho đồng chí này.


  30. Hình ảnh rất phản cảm, cho thấy cán bộ ngày càng xa cách với dân


  31. Thằng này ngu, lội nước ướt chân nhưng không chết, lật thuyền thì chết là cái chắc. Chớ tưởng nước nông không chết đuối, nhiều thằng còn chết đuối vì vũng trâu đằm kia kìa.


  32. Thằng đứng trên thuyền là thằng được đảng nuôi dưỡng và giáo dục đấy!


  33. Sau vụ này nhà quan sẻ thủ cái hình này cất kỷ cho đến đời cháu chắt mới đem ra lòe. – Đây này có thấy hình ông, cụ của bay không hồi tao làm quan đi đâu là có kẻ hầu người hạ. Nước lũ mới ngập mắt cá chân là cả đoàn vệ sĩ lo bợ đở tao. Tao đứng hiên ngang trên thuyền còn cả đoàn tùy tùng khúm núm lo cho sự an nguy của tao. he he bây có biết không lúc đó khi chuẩn bị đi tao đã được trang bị đến tận răng mấy thứ chống chìm, chống ướt rồi đấy nhé. Tao làm quan như thế có thấy đã không bây?

Tôi đã thấy

Cánh Cò

Tôi đã thấy chiều ngày 8 tháng 10, hàng trăm cảnh sát cơ động với những chú chó nghiệp vụ mõm bị bịt kín diễn tập chống phản động trước cổng Formosa.
Tôi đã thấy hơn hai mươi cái tên trên Facebook bị bắt ở Vũng Tàu vì cái tội tập trung do yêu nước.
Tôi đã thấy Thủ tướng ngồi ăn bát phở, uống café như một người dân bình thường. Báo chí ca tụng ông bình dân nhưng riêng tôi thì thấy ông độc ác sau khi đặt bút ký cái quyết định 1880 định đoạt số phận của người dân Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình, Thanh Hóa trong đó quy định trả lại đơn khiếu kiện Formosa, tức là ông hất chén cơm của anh chị em tôi ngoài kia và ngồi ăn bát phở trong này.
Tôi đã thấy máu bắt đầu chạy rần rật trong huyết quản của những lá đơn miền Trung, những tờ giấy không phải được viết ra bằng mực mà bằng máu tươi của người dân tôi cùng khổ.
Tôi đã thấy lịch sử bắt đầu viết một trang mới, từ con cá Formosa, từ chính quyền quyết tâm bảo vệ cho thép và từ sự lạnh lùng quay lưng với giọt máu Việt Nam.
Tôi đã thấy những con chó nghiệp vụ bị rọ mõm vì Cảnh sát cơ động không muốn chúng cắn càn, chúng phải cắn đúng đối tượng mà chính quyền muốn chúng cắn: nhân dân. Những con chó hùng dũng bị rọ mõm ấy nhắc tới những con chó khác biết nói tiếng người nhưng lương tâm thì bị rọ, đang ung dung ngồi quán cà phê, gõ ly chờ nhìn cảnh thịt rơi máu đổ.
Tôi đã thấy những người bị bắt tại Vũng Tàu, bị còng tay chở về đồn buổi trưa, còng tay chở ra khỏi nơi bị bắt vào đêm tối, bị đạp xuống xe giữa đường mặc đêm đen hãi hùng bất kể họ là đàn bà con nít. Những con chó ấy mõm không bị rọ, vừa đánh đập anh chị em chúng tôi tại Vũng Tàu vừa gầm gừ như những con cảnh khuyển chờ được chủ thẩy ra vài cục xương tanh tưởi.
Tôi đã thấy người miền Trung âm thầm đọc kinh, âm thầm sám hối chuẩn bị cho ngày mai tăm tối đang chờ đón họ. Cái tăm tối ấy được dẫn đường bằng ánh sáng của chân lý. Họ dẫn dắt lịch sử chạy theo vết máu của mình để người sống tại các thành phố phồn hoa ghi xuống cho cả thế giới thấy thế nào là khủng bố.
Tôi đã thấy cuộc tắm máu sắp sửa nổ bùng, máu ai cũng màu đỏ nhưng máu của nhân dân bốn tỉnh miền Trung còn có thêm màu xanh của đại dương bị bức tử và màu trắng trợt của những con cá bị người ta nhét thép vào mồm.
Tôi đã thấy người dân khắp nơi lơ láo không biết làm gì khi tiếng than van gọi nhau chuyền từ nhà thờ này sang nhà thờ khác bằng những bài giảng, những lời cầu nguyện cho nạn nhân bị chó tấn công trước cổng Formosa.
Tôi đã thấy khói từ những họng súng chống biểu tình khi rừng rực oai hùng, khi lạnh lùng như rắn độc tấn công thẳng vào những chị, những mẹ, những cụ ông cụ bà. Và tôi cũng thấy họ bình thản như đang ngồi trong nhà thờ với Chúa.
Tôi đã thấy người dân chúng tôi không còn một mối, tan tác trăm nẻo mạnh ai nấy chuẩn bị tư thế cho mình. Tư thế được nhiều người chọn nhất: co mình lại thật chặt chờ cơn bão dữ thổi qua. Co mình lại càng chặt càng an toàn. Co mình tự vệ khi người khác dang tay, phồng ngực lên chống lại sự bất công của cường quyền bạo chúa.
Ôi tôi không còn muốn thấy nữa mà muốn ngồi im suy gẫm. Cái gì đang làm cho dân tộc tôi khốn cùng đến như vậy? Chúng tôi có còn là người Việt Nam nữa hay không? Nếu còn thì thứ tiếng Việt nào khi nói lên mới được mọi người cùng hiểu?
Người Cộng sản chống cộng
Bùi Minh Quốc
Trong cuộc CÁCH MẠNG LẬP QUYỀN DÂN – cuộc cách mạng nhằm thiết lập quyền làm chủ thực sự của nhân dân, tiến hành một cách ôn hoà, công khai, hợp hiến hợp pháp – có một lực lượng đặc thù, về mặt nào đó là khá quan trọng, làm những việc mà các lực lượng khác không dễ làm thay.

Đó là lực lượng những người cộng sản chống Cộng.

Bây giờ, hai tiếng “Cộng sản” chợt nghe đã khiến người ta muốn ói. Bởi đó là tên gọi của một thế lực quỷ dữ, một thế lực kết xoắn mọi độc ác và dối trá, một thiết chế của chế độ nô lệ mới.

Nhưng vào thời trẻ của tôi ở miền Bắc Việt Nam, những năm 60 thế kỷ 20, danh xưng người cộng sản là hiện thân của một phẩm chất cao quý. Đó là con người đặt Tổ Quốc lên trên hết, Quyền Dân lên trên hết.Vì Tổ Quốc và Quyền Dân, con người ấy dâng hiến cả đời mình, bất chấp mọi gian khổ, hiểm nguy, tù đày, chết chóc. Tôi đã thấy những con người như thế trong đời thực.Đó là vợ tôi, nhà báo nhà văn Dương Thị Xuân Quý, luôn nghiêm khắc tự rèn luyện cho đạt những phẩm chất ấy để trở thành đảng viên và đã hy sinh anh dũng trong quá trình rèn luyện. Đó là Chu Cẩm Phong, bạn tôi, nhà báo nhà văn, người cán bộ đảng, bí thư của chi bộ Văn nghệ Khu 5 (thuộc Ban tuyên huấn Khu 5). Chu Cẩm Phong ghi trong nhật ký ngày  kỷ niệm 7 năm anh vào đảng : “ Mình có thể hy sinh trong mùa xuân lịch sử này lắm, nếu mình ngã xuống như Phương Thảo, Văn Cận, Xuân Quý, thì ba mình và nhất là mẹ, sẽ đau khổ đến nhường nào. Mình biết điều đó. Mình là đứa con trai được cả nhà yêu thương… nhưng dầu thế nào mình cũng không xê dịch cái phương châm sống của mình : dũng cảm, say sưa và quên mình như những chiến sĩ cộng sản chân chính đi trước. Dẫu ngã xuống một giờ, nửa giờ trước khi ta giành thắng lợi hoàn toàn, cũng Hạnh phúc lắm thay ! ”. Chu Cẩm Phong luôn sống gương mẫu và đã hy sinh anh dũng dưới hầm bí mật trong một cuộc chiến tuyệt đối không cân sức vào tuổi 30. Những dòng nhật ký vừa dẫn trên cho ta biết, vậy là Chu Cẩm Phong đã thấy trong đảng có những người cộng sản chân chính và những người cộng sản không chân chính – tức là  những phần tử có động cơ xấu tìm cách chui vào đảng đội danh cộng sản để mưu lợi riêng. Trong lớp người cộng sản chân chính đi trước, tôi đã thấy những Kim Ngọc, những Trần Độ, Nguyễn Hộ, Võ Văn Kiệt… Đó là những chiến sĩ cách mạng đích thực đến trọn đời, họ luôn lấy lợi ích của Tổ Quốc của Nhân Dân, lấy thực tế khách quan làm căn cứ để suy nghĩ và hành động, dám nghĩ, dám nói, dám làm, thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, tuyệt đối không nghĩ và làm theo bất cứ giáo điều chủ nghĩa nào, cho dù có thể bị khại trừ, bị cách chức, thậm chí có thể bị hãm hại. Vào thời ấy, những người cộng sản chân chính chiếm đa số trong đảng. Điều lệ đảng xác định : đảng viên là “ người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu, gắn bó máu thịt với nhân dân ”. Thời ấy, phần lớn đảng viên đã sống như thế, và vì thế đại đa số nhân dân mới tin đảng đi theo đảng và nhờ thế mới giành được thắng lợi để đưa đảng lên cầm quyền trên một nửa nước rồi cả nước.

Nhưng khi cầm quyền, và nắm độc quyền chính trị, đảng trở thành chỗ để “ thăng quan phát tài ”. Từ sau năm 1975, nhất là từ khi đảng cầm quyền buộc phải trở về theo cái dòng chảy bình thường muôn đời của nhân loại là kinh tế thị trường, có thể khẳng định mà không sợ nhầm rằng phần lớn đảng viên vào đảng là để thăng quan phát tài. Hiện tượng mua một chân đảng viên, một chân cấp ủy, một chân đại biểu (như ngày xưa “ mua một chân lý trưởng ”), mua chức mua quyền (tất nhiên để có tiền) diễn ra phổ biến mà chưa thấy dấu hiệu gì ngăn chặn được.Và thực tế cho thấy sẽ không thể ngăn chặn được nếu không cải cách chính trị, nếu không có một thiết chế luật pháp buộc mọi hoạt động của đảng – nhà nước phải minh bạch kèm theo là một thiết chế luật pháp đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với mọi hoạt động của đảng – nhà nước .

Chủ nghĩa cộng sản là một ảo tưởng, một thiết chế phản động kéo lùi sự phát triển của xã hội, một mối đại hoạ của nhân loại còn khủng khiếp ghê tởm hơn cả chủ nghĩa phát-xít.

Nhưng phẩm chất, bản lĩnh, khí phách người cộng sản chân chính thì lại là một giá trị, một sức mạnh có thật. Đó là phẩm chất của những con người quên mình vì mọi người, giàu sang không thể làm hư hỏng, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục mà nhân loại thời nào và ở đâu cũng luôn trân trọng.

Tôi nhớ năm 1993, tại Mặt trận Tổ Quốc tỉnh Lâm Đồng, trong cuộc hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm TP Đà Lạt và tưởng niệm công lao của bác sĩ Yersin, người phát hiện ra vùng đất để lập nên TP Đà Lạt, TS Hà Sĩ Phu bạn tôi, người đã có 15 năm được coi là đối tượng để kết nạp vào đảng (CSVN),  phát biểu : theo những tiêu chí về người cộng sản chân chính thì ông Yersin đích thực là một người cộng sản chân chính dù ông ấy hoàn toàn xa lạ và có thể rất dị ứng với chủ nghĩa cộng sản. Bạn tôi, anh Hồ Hiếu, nguyên chánh văn phòng Ban dân vận thành ủy TP HCM, hiện là một trong những người chống Cộng hàng đầu, ngay sau 30/4/1975 đã đặt ra câu “ đảng viên nhan nhản, Cộng sản khó tìm ” rồi ngầm lan truyền như thành ngữ dân gian nhằm báo động một tình trạng tồi tệ mà hiện nay đã trở nên thảm hại – bình thường : đảng viên ngày càng đông, người cộng sản chân chính –  chiến sĩ cách mạng đích thực ngày càng hiếm.

Năm 1988, trong chuyến đi Xuyên Việt vận động ra tuyên bố do 128 văn nghệ sĩ và công dân ký tên đòi đổi mới đồng bộ, triệt để, bạn tôi nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự có lời thơ : “ Ai cộng sản / ai giả danh cộng sản / chân lý chói ngời sự thật / mắt nhân dân xuyên suốt lũ gian tà ”, hai tiếng “cộng sản” ở đây là để chỉ người chiến sĩ cách mạng đích thực như đã nêu trên.

Cách đây mấy năm, bạn tôi, nghệ sĩ ưu tú Kim Chi, người đã tuyên bố không cần một bằng khen có chữ ký của một kẻ (là quan chức cộng sản hàng chóp bu) làm nghèo đất nước, làm hại nhân dân, khi trả lời phỏng vấn đã khẳng đinh mình tuyên bố điều đó với tư cách một người cộng sản chân chính.

Một lô-gích không gì cưỡng nổi : người cộng sản chân chính tất yếu trở thành người cộng sản chống Cộng khi đảng CS cầm quyền trở thành đảng cướp, đúng như dân gian từ xa xưa đã định danh “ cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan ”.

Vậy là đã xuất hiện một lực lượng cộng sản chống Cộng, tức là một lưc lượng lấy sức mạnh phẩm chất, bản lĩnh, khí phách của người cộng sản chân chính chống chế độ độc tài cộng sản nhằm thiết lập quyền làm chủ thực sự của nhân dân để bảo vệ nền độc lập của Tổ Quốc và tự do của mỗi con người, và với quyền tự do ấy, mỗi con người phát huy mọi khả năng để mưu cầu hạnh phúc của bản thân và cho cả cộng đồng.

Người cộng sản chống Cộng từ nay đương nhiên đã tự rũ bỏ bỏ 2 chữ cộng sản, chỉ tự xác định mình là “ người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu, gắn bó máu thịt với nhân dân ”.

Và họ quyết trọn đời không ngừng tiền phong gương mẫu vì nhân dân quên mình chiến đấu cho Tổ Quốc và Quyền Dân, thiết lập bằng được quyền làm chủ thực sự của Nhân Dân..
Đà lạt tháng 10/2016

Bùi Minh Quốc

 nguồn: diendan.org

 

Câu chuyện cuối tuần

Người ta có rất nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để quay về:

– Gia đình.

Hồn tử sĩ

Hồn tử sĩ:

KÍNH MỜI THAM DỰ và XIN PHỔ BIẾN 

VIETNAM FILM CLUB

***

HỒN TỬ SĨ

NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA

Thời gian: 1:00PM -Chủ Nhật 13 tháng 11 năm 2016.

Địa điểm: Westminster Civic Center

8200, Westminster Blvd., Westminster, CA 92683

Ban Tổ Chức:

TRẦN PHONG VŨ: (949) 485-6078 ; HUY PHƯƠNG: (949) 241-0488

NGÔ CHÍ THIỀNG (714) 548-2141 ;  NGỌC ĐAN THANH (714) 454-6171

Xin mời xem Trailer:

  VFC- Trailer – Hồn Tử Sĩ

https://www.youtube.com/watch? v=rfTtD7hOUdc

 




Lê Duẩn: Kẻ tội đồ và tai ương của người Việt

Nguyễn Quang
Lê Duẩn là người khao khát quyền lực tuyệt đối như Stalin, Mao Trạch Đông và ông ta cô lập Hồ, Giáp để thiết lập một bộ máy chính trị trung thành. Lê Đức Thọ cánh tay mặt của Duẩn. Từ Mao đến Mao, phản bội Mao rồi trở về với Mao, chứng tỏ đường lối thiếu uyển chuyển, luôn cực đoan thái quá của Lê Duẩn, cũng như sự kiêu ngạo của kẻ ít học, xuất thân thường thuộc thành phần lớp dưới, đã đưa đất nước từ thảm hại này đến đau thương khác.  
Các phe đảng cộng sản đang giết nhau, người Việt giết người Việt, nay ghi lại về con người khởi đầu cho sự dã man, gây nên không biết bao đau thương đối với người Việt có tên Lê Duẩn, Lê Văn Nhuận hay anh Ba.
Đảng Cộng sản gồm đầy những chuyện bí mật nhưng thật ra chẳng có gì là không bị vén màn lên, vì toàn những chuyện mờ ám, xấu xa, tội lỗi nên luôn ém nhẹm, rồi gán cho cái tên bí mật để mang tính chất oai hùng, bí hiểm của những sứ mệnh bất khả thi mà chỉ có những người cộng sản mới làm được. Nó trở thành huyền thoại ảo!
Anh hùng “lê văn tám”, “nguyễn văn bé”…. Hồ Chí Minh vì nước non nên “hãy còn độc thân”, Lê Duẩn bao giờ cũng lo hoạt động cách mạng nên “chưa có vợ”. Tất cả đều không có thật!
Các Ủy viên Trung ương đảng, Bộ chính trị, ai cũng lấy vợ hai, vợ ba, dựa vào quyền lực để ép duyên, hoặc dùng thủ đoạn để lấy các thiếu nữ cỡ tuổi con mình, như Lê Đức Thọ, Võ Quang Anh (Tham mưu trưởng Khu 9), Trần Văn Trà, Hà Huy Giáp, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Hoan,…
Từ gia đình đã là những cái nôi đầy mâu thuẫn, tương tranh, đánh ghen và giết nhau, cho nên đến xã hội khi con người khởi đầu làm sao thì thường kết thúc cũng vậy!
Nét đặc thù của nó, từ khi đảng cộng sản ra đời tại Việt Nam đến nay, Huế, Sài Gòn, Hà Nội luôn bị yếu tố Bắc Kỳ thống trị, thời thượng nhất với lối nói chặn họng “chỉ có Bắc Hà mới có lý luận”. Nó mới xứng đáng đóng vai trò lãnh đạo cả ba miền Nam Trung Bắc. Một lối nói càng bừa từ túi tham không đáy, gây chia rẽ dân tộc.
Bài học lịch sử chỉ có người trong cuộc mới biết cái bí ẩn của Nam Kỳ Khởi Nghĩa (22/11/1940), không phải bỗng nhiên nhóm Trung ương đảng lẫn trốn ở Hóc Môn, Bà Điểm bị Pháp bắt trọn ổ. Đó chính là miền Bắc “chỉ điểm cho Pháp”, vì muốn dẹp cái Trung ương đảng miền Nam để đem ra Bắc Kỳ cho người Bắc lãnh đạo.
Họ mượn tay người Pháp để diệt Nam Kỳ. Chính vì lẽ đó, Phan Đăng Lưu bị bắt, bị đưa ra tòa kêu án tử hình và Nguyễn Thị Minh Khai bị bắt trước, cũng bị hành quyết chung (28/8/1941) với Nguyễn Văn Cừ (Tổng bí thư năm 1938), Võ Văn Tần (người Đức Hòa, Tân An, Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ), Hà Huy Tập (Ủy viên Trung ương đảng). Tất cả đều phải chết vì yếu tố Nam Kỳ.
Đầu não Cộng sản dĩ nhiên luôn nằm tại Bắc Kỳ, các đảng viên Bắc và Trung Kỳ chia nhau nắm giữ các chức vụ then chốt trong kháng chiến cũng như sau khi hòa bình. Đó là chủ trương thầm kín của họ Hồ.
Ngay khi chiếm miền Nam, cộng sản phân loại để cai trị, chỉ có loại A được nắm các cơ quan đầu não, chức vụ chính, tất nhiên gốc Bắc, còn các chức vụ phó giao cho loại B, thành phần trong Nam tập kết ra Bắc trở về, và loại C là thứ yếu thuộc thành phần miền Nam nằm vùng.
Sau khi Nhật đầu hàng, ở Nam Kỳ, các phần tử trí thức Nam Bộ như Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trấn, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Văn Tiểng, Ngô Tấn Nhơn, Phạm Ngọc Thạch,… được dịp lên ngôi thao túng miền Nam. Họ lập ra Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ, muốn tách ra khỏi sự khống chế của nhóm đảng viên Trung và Bắc Kỳ để thành lập một quốc gia CS Nam Kỳ. Không ngờ HCM biết thâm ý này nên sai Cao Hồng Lĩnh (tham gia Cách Mạng Thanh Niên Hội từ năm 1926), Hoàng Quốc Việt vào Nam bắt cóc Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai đem về giam lỏng ở Hà Nội.
Sự kiện trên khiến chúng ta sẽ không lấy gì làm lạ khi Nguyễn Phú Trọng đang tìm mọi cách tiêu trừ quyền lực của nhóm miền Nam. Chỉ khác lần này có yếu tố Hoa Nam ở phe miền Bắc, sự thâu tóm quyền lực không còn trở về tay người Việt, dù là Bắc Kỳ, nhưng để “trở về” trong vai trò “làm lẻ”, một chư hầu của Trung Quốc. Mao Trạch Đông luôn xem Việt Nam như một quận, một tỉnh lẻ ở phía Nam. Giao Chỉ Mất nước!
Lê Duẩn và Mao tính khí thay đổi giống nhau, chỉ có tham vọng của kẻ thủ ác không thay đổi. Với Mao khi chủ trương hòa bình, lúc cổ vũ nhiệt liệt chiến tranh trong quan điểm đối với Việt Nam, thâm tâm luôn muốn chia cắt nước Việt thành hai ba phần thuộc Nam, Trung, Bắc để cho dân tộc này yếu đi. Còn Lê Duẩn cũng thay đổi không chừng, nào chạy sang Tàu xin đưa quân sang, có lúc hơn ba trăm ngàn quân Tàu trong cuộc chiến Việt Nam, lúc chạy sang Nga và chửi bành trướng Bắc Kinh thậm tệ.
Giống nhau cùng không có cái tâm đến cái hình nhi hạ, Duẩn và Mao để lại gồm một bầy đàn thê tử, lúc mất đi người ta ước tính Lê Duẩn có đến ba chục người con, lúc chịu tang, người vợ trẻ nhất nhỏ hơn ông đến năm mươi tuổi, một y sĩ trẻ chăm sóc ông và là con của một quan chức dưới triều của ông, cháu gái dẫn theo đưa bé nhỏ, thay vì gọi ông cố thì gọi bằng cha Lê Duẩn! Thật bất nhân!
Gia tài của Lê Duẩn để lại là một đám con hoang, cùng những nghĩa trang dày đặc các bóng ma của người lính trẻ Việt Nam, ngày nay người ta cũng chưa kiểm tra lại xem thật sự là bao nhiêu, chỉ biết rằng khu trung tâm Sài Gòn, với những tòa nhà sang trọng nhất, đắc tiền nhất đều có phần của con cái Lê Duẩn. Và hằng hà sa số thanh niên, thiếu nữ đã chết còn nằm dọc dài trên Trường Sơn.
Lê Duẩn giữ chức Tổng bí thư lâu nhất hơn 25 năm, từ 1960 đến 1986. Người có uy quyền cao nhất, trong lịch sử CSVN, chỉ thua Nguyễn Tấn Dũng về sau về mặt giàu có. Vì mới bắt đầu “kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội” nên của cải chưa tập trung được nhiều để trở thành tư bản đỏ! Mặc dù số vàng 17 tấn do Ông Thiệu để lại và các chiến dịch đánh tư sản cũng như tịch thu tài sản của đồng bào miền Nam hàng chục tấn vàng khác, thế rồi không biết chảy về đâu?
Ông là người đã vạch ra chiến lược cách mạng với cuốn “Đề cương cách mạng miền Nam”, chủ trương xử dụng quân sự để chiếm miền Nam, khởi động cuộc chiến người Việt giết người Việt, đưa đất nước vào thảm cảnh hoang tàn, núi sông xương máu.
Người ta có ghi lại lời phát biểu của ông về chiến tranh Việt Nam “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…” Và suốt cuộc đời Lê Duẩn mang nét đặc thù, đó là khủng bố dân tộc dưới chiêu bài yêu nước để buộc dân chúng đánh thuê cho ngoại bang, theo tiết lộ của CS Hà Nội với AFP ngày 4-4-1995, thì số lượng thường dân chết trong chiến tranh lên đến 4 triệu người, chia đều cho hai miền Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam, nghĩa là mỗi miền hai triệu người. Những câu văn viết lên thì đơn giản nhưng đau thương mất mát thì không ngôn từ nào tả hết được!
Lê Duẩn sinh ngày 7-4-1907 tại Quảng Trị trong một gia đình nông dân, cha làm nghề thợ mộc, chủ yếu là đóng hòm, mất ngày 10-7-1986. Trình độ học vấn tiểu học. Có tài liệu viết ông học được đến lớp 6, nghĩa là cho nâng lên được cấp 2 của bậc trung học. Có câu chuyện liên quan đến Trần Đức Thảo về sau, lúc ông làm Bí thư, đã mời triết gia vào để nghe ông đọc một bài tham luận, theo người thư ký của Lê Duẩn kể lại ông đã chuẩn bị rất kỹ, chỉ có một mình ông thuyết trình thao thao bất tuyệt và Trần Đức Thảo là khách mời duy nhất để thẩm định. Chẳng may khi nghe xong vị triết gia này cho ý kiến “Tôi không hiểu ông muốn nói cái gì cả”. Lê Duẩn trố mắt, thất vọng nhưng chỉ nói “Có lẽ tôi nói tiếng Quảng Trị khó nghe”, rồi bỏ sang phòng khác. Trần Đức Thảo lẳng lặng ra về và triết gia phải đi nông trường chăn bò từ đó!
Năm 1926, Lê Duẩn làm nhân viên sở hỏa xa, bẻ ghi đường rầy xe lửa Đà Nẵng, người đứng phất cờ mỗi khi tàu ra vào ga. Năm 1930 ông gia nhập đảng CS Đông Dương, ông ra vào khám nhiều lần và tiến thân nhanh vì được xem là thành phần cố nông, ít học, trung kiên của đảng.
Năm 1954 ông được phân công ở lại miền Nam lãnh đạo, tới 1957 Lê Duẩn được Hồ Chí Minh gọi ra Hà Nội gấp để giữ chức quyền Tổng bí thư đảng thay thế Trường Chinh bị ép từ chức vì Cải cách ruộng đất. Tháng 9-1960 tại Đại hội toàn quốc lần thứ III, ông được bầu vào BCHTƯ và Bộ chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất. Từ 1960 theo một số nhận định HCM sức khỏe yếu, Lê Duẩn trở thành người có quyền hành cao nhất.
Duẩn là người khao khát quyền lực tuyệt đối như Stalin, Mao Trạch Đông và ông ta cô lập Hồ, Giáp để thiết lập một bộ máy chính trị trung thành. Lê Đức Thọ cánh tay mặt của Duẩn. Những hàng tướng như Lê Đức Anh, lúc vào chào Lê Duẩn khi ra về thường giữ lễ theo cách đi xà lui, còn Đỗ Mười, một “Thưa anh Ba”, hai “Dạ anh Ba”.
Mãi sau nhiều thập niên, khi Thọ Duẩn không còn, tiếng oan khiêng vẫn còn giữa các đồng chí, người ta được biết đến qua lá thư xin minh oan của Đại tá Lê Trọng Nghĩa, sinh năm 1922, là một trong ba nhà lãnh đạo của Việt Minh ở Thủ đô Hà Nội trong những ngày sôi nổi của Cách mạng tháng Tám. Sau đó ông làm thư ký cho tướng Võ Nguyên Giáp, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng, rồi Cục trưởng Cục Quân báo (Cục II) thuộc Bộ Tổng Tham mưu, rồi cũng là Trưởng Ban Quân báo trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Vào năm 1968 ông lâm đại nạn, bị bắt giam không xét xử, suốt 8 năm đi lao động cải tạo trong cái gọi là “Vụ án Xét lại – chống đảng, làm gián điệp cho nước ngoài (Liên Xô)”, một vụ án dựng đứng không hề có thật của cặp Lê Đức Thọ – Lê Duẩn nhằm hạ bệ tướng Giáp. Và hàng trăm cán bộ đảng viên như tướng Lê Liêm; tướng Đặng Kim Giang; 2 cha con ông Vũ Đình Huỳnh – Vũ Thư Hiên; ông Hoàng Minh Chính; ông Nguyễn Minh Cần, phó chủ tịch Ủy ban hành chính thủ đô; Thượng tá Văn Doãn, Tổng Biên tập báo Quân Đội Nhân Dân; Đại tá Lê Vinh Quốc….
Các nạn nhân trên đây và gia đình đã gửi hàng trăm, hàng ngàn đơn thư khiếu nại suốt hơn 60 năm nay nhưng không hề được hồi âm. Họ bị vu cáo và yêu cầu đảng và nhà nước phải phục hồi danh dự cho họ. Đó là ông Nguyễn Trung Thành, nguyên Vụ trưởng Vụ Bảo vệ chính trị Trung ương đảng; ông Lê Hồng Hà, nguyên Chánh văn phòng Bộ Công an; các Đại tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn… Ở đây nói lên tính chất bất nhân ngay cả với những người cùng chiến đấu với họ, chỉ vì tranh giành quyền lực tối thượng.
Từ cuối 1965 đến 1975, khi quyền lực của Lê Duẩn lên đỉnh tối cao, công cuộc nướng quân “Sinh Bắc tử Nam”, ngày càng nhiều các sư đoàn bộ binh chính quy được đưa từ miền Bắc vào Nam.
Đề cương cách mạng miền Nam
Tài liệu này dài hơn 30 trang, được soạn tháng 8-1956 gồm có 5 phần, không có gì là sáng tạo, thật sự chỉ là phản biện duy ý chí đối với tình hình miền Nam, nhằm quyết tâm dùng bạo lực đánh phá và áp đặt chế độ cộng sản trên toàn lãnh thổ Việt Nam dưới chiêu bài ngụy dân tộc, phản dân chủ, chống lại tự do.
Một là củng cố miền Bắc, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam, tranh thủ ủng hộ trên thế giới, đó là ba nhiệm vụ chính của cả nước. Củng cố miền Bắc qua đấu tố Cải cách ruộng đất, tạo nên sự sợ hãi trong dân chúng để dễ bề cai trị độc tài; đẩy mạnh cách mạng ở miền Nam với không biết bao vụ ám sát, khủng bố khiến miền Nam không còn cuộc sống trong hòa bình. Nói láo và nói láo để tạo chính nghĩa khiến mọi người nhầm tưởng kẻ đi xâm lược có chính nghĩa, còn nạn nhân những người miền Nam trong cuộc chiến tự vệ trở thành kẻ hiếu chiến dưới cái nhìn của quốc tế và nhiều người trên thế giới đã ngây ngô tin như vậy!
Hai là mục đích, nhiệm vụ, đối tượng cách mạng miền Nam giữ gìn hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong cả nước. Nhân dân miền nam bị Đế quốc Mỹ áp bức, bóc lột nên phải đứng lên đập tan chế độ độc tài phát xít Mỹ -Diệm. Sự thật hoàn toàn ngược lại như vậy như một chân lý hiển nhiên qua hình ành cộng sản đến đâu người dân miền Nam bỏ chạy đền đó.
Ba là chế độ Ngô Đình Diệm ra sức phá hoại tổng tuyển cử, nhân dân sẽ đứng lên đập tan âm mưu Mỹ-Diệm. Tự do, dân chủ là yêu cầu bức thiết bảo đảm tài sản, tính mạng nhân dân. Thật ra chế độ miền Nam đâu có ký vào Hiệp Định Geneva mà bảo họ phải thi hành. Và nhân dân miền Nam qua cuộc tấn công Tết Mậu Thân, cũng như mùa Hè Đỏ lửa 1972 của phe miền Bắc, Việt cộng đi đến đâu đều gieo chết chóc kinh hoàng.
Bốn là hình thức đấu tranh, khả năng phát triển cách mạng, đấu tranh hòa bình có khả năng đánh lùi những bạo lực Mỹ-Diệm, đẩy mạnh cách mạng bằng đường lối hòa bình phù hợp với nguyện vọng của nhân dân thế giới “lấy nhân nghĩa thắng cường bạo”. Thực tế, cộng sản mới là những kẻ dùng bạo lực để khủng bố hòng nhuộm đỏ miền Nam, thực thi đường lối của Cộng sản Quốc tế.
Năm là bài học lịch sử, những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam: Nay ta mới thành công giải phóng dân tộc được một nửa nước, nhiệm vụ cách mạng phải hoàn thành trong cả nước. Đảng ta là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Ở nông thôn nhiệm vụ chiến lược của ta là đoàn kết trung, bần cố nông liên hiệp với phú nông, đánh đổ địa chủ phong kiến, xây dựng một nước VN hòa bình thống nhất. Đúng là xây dựng một đất nước thống nhất bằng bạo lực nên hà tất không thể có hòa bình. Ở nông thôn, khi hòa bình lập lại, họ bị cán bộ cộng sản lợi dụng chức quyền chiếm đoạt đất đai. Nông dân trở thành dân oan dưới chế độ cộng sản! Đối với công nhân mãi mãi dưới sự cai trị của những người cộng sản sẽ không bao giờ có được Công Đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi cho công nhân.
Thực tế đã diễn ra như TT Ngô Đình Diệm đã từng tuyên bố trong diễn văn buổi khánh thành đập Đồng Cam – Tuy Hòa 17-9-1955:
“Nếu bọn Việt Cộng thắng, thì quốc-gia Việt-Nam cũng sẽ bị tiêu-diệt và sẽ biến thành một tỉnh nhỏ của Trung-hoa Cộng-sản. Hơn nữa toàn-dân sẽ phải sống mãi mãi dưới ách độc tài của một bọn vong bản vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo.”
Cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai 1960-1975
Cuộc chiến 1946-1954 được gọi là cuộc chiến Đông dương lần thứ nhất và giai đoạn 1960-1975 là Cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai.
Những đoàn quân miền Bắc tiến vào xâm lược miền Nam từ năm 1959, sau khi Lê Duẩn làm quyền bí thư thay thế Trường Chinh được hai năm và ngày 20-12-1960 Mặt trận Giải phóng Miền Nam được thành lập tại xã Tân Lập Tây Ninh, một công cụ của Hà Nội. Cuộc chiến vẫn chưa qui mô vì thế chiến lược toàn cầu lúc bấy giờ, đó là Nga chủ trương hòa hoãn với Mỹ, nên Lê Duẩn chỉ tổ chức khủng bố, ám sát các viên chức địa phương khắp miền Nam để tạo sự hoang mang, sợ hãi trong dân chúng.
Cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân.
Lê Duẩn là người chỉ đạo chiến dịch này, nhằm đánh thẳng vào các trung tâm đông đúc dân cư của miền Nam, gồm 6 thành phố lớn, 44 thị xã, hàng trăm quận lỵ. Duẩn là người chủ trương đánh lớn để tạo khúc quanh cuộc chiến. Nhất là Hà Nội nghĩ rằng, nhân dân miền Nam sẽ vùng lên ủng hộ cộng sản, nhưng Việt cộng đến đâu người dân bỏ chạy đến đó.
Con số thật buồn cho mẫu số chung là người Việt, Lê Duẩn huy động khoảng 100 tiểu đoàn, tổng cộng 84,000 người, bị tan rã gần hết, có tới 70% bị tử thương, 11% bị bắt làm tù binh, các cơ sở nằm vùng bại lộ, bị tiêu diệt. VNCH có 4,950 người tử trận, 926 người bị mất tích, 15,097 người bị thương. Phía Đồng minh có 4,120 người tử trận, 19, 265 bị thương, 600 người mất tích.
Miền Nam bị thiệt hại nặng về kinh tế toàn quốc có trên 60,000 căn nhà bị hủy, 13 xưởng kỹ nghệ đổ nát vì bom đạn, 20 hãng xưởng khác bị hư hại, thiệt hại lên tới 25 triệu Mỹ kim. Nạn nhân chiến tranh lên gần 700,000 người.
Cuộc Tổng cộng kích cho thấy chính sách thí quân dã man và tính đa sát điên cuồng của Lê Duẩn: nhiều chục vạn thanh niên bị đẩy vào tử địa, phố xá bị đốt phá, hàng vạn người dân vô tội bị tàn sát để thỏa mãn tham vọng tột cùng của kẻ độc tài xuất thân có truyền thống cha làm nghề đóng hòm.
Hoang tưởng kỳ quái của Lê Duẫn: đánh vỗ mặt.
Cuộc Tổng tấn công 1972, miền Nam VN thường gọi là trận Mùa hè đỏ lửa, phía CS gọi là “Chiến dịch xuân hè 1972”, kéo dài từ 30-3-1972 tới 31-1-1973, mặt trận diễn ra ở Trị- Thiên, Bắc Tây nguyên, miền Đông Nam bộ và Nam bộ. Chỉ huy chiến dịch gồm Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái, Văn Tiến Dũng.
Đây là trận Tổng tấn công lớn và đại qui mô gấp bội lần cuộc tổng công kích Mậu Thân, lần này Duẩn đổi sang chiến tranh qui ước với hơn chục sư đoàn có sự yểm trợ của xe tăng, đại bác. Xử dụng những đại đơn vị chính qui do Lê Duẩn chủ trương và:“Để giành thắng lợi, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã huy động rất nhiều tân binh cho trận quyết chiến này. Rất đông những người lính lên đường mùa hè 1972 ấy là những thanh niên từ 30 trường đại học – cao đẳng của Hà Nội: gần 10.000 bộ đội gồm sinh viên và cả giảng viên trẻ. Hiện nay ở Nghĩa trang Trường Sơn, ở Thành cổ Quảng Trị có rất nhiều bia mộ của những người lính Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam ghi năm sinh là 1953 hay 1954.”
Hậu quả từ quyết định này việc tập trung nhiều lực lượng xung quanh mục tiêu trước khi tấn công đã bị hỏa lực khủng khiếp của Hạm đội 7 nả pháo, khiến VC đưa lưng hứng trọn trước khi nổ súng. Ngoài ra, hàng trăm ngàn cán binh CS đã làm mồi cho B-52, pháo binh, không quân VNCH, quả là trận đánh thí quân qui mô lớn, sai lầm và đầy tội ác của Lê Duẩn.
Trận chiến 1975
Hiệp định Paris ký ngày 27-1-1973, Hà Nội vi phạm hiệp định sau ngày ngưng bắn, VNCH chống lại. Tháng 2-1973 đã có 175 xe vận tải, 223 xe tăng BV vào Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh, BV gia tăng xâm nhập.
Trong khi đó Viện trợ quân sự của khối CS cho BV không thay đổi. Giai đoạn 1969-72 Tổng số 684,666 tấn vũ khí, giai đoạn 1973-75 649,246 tấn coi như tương đương.
Nga khuyến khích gây hấn, chiến tranh qua chuyến đi của Tổng tham mưu trưởng Nga Viktor Kulikov đến Hà Nội vào tháng 12/1974 và sau đó đã tăng viện trợ quân sự gấp 4 lần. Lê Duẩn lên tinh thần và ra lệnh khi quân Bắc Việt tràn vào Sài Gòn, nay vẫn còn ghi lại tính vô nhân đạo, bất nhân của Lê Duẩn đối với phe miền Nam: “Không được, phải đánh chết những con chó, kể cả khi nó đã rơi xuống nước. Tất cả bọn Mỹ, dù là cán bộ ngoại giao hay Lầu Năm Góc đều là kẻ thù của nhân dân Việt Nam. Vì thế, phải chiến đấu quét sạch chúng đi, không để một tên xâm lược nào trên mảnh đất chúng ta”.
Thời hậu chiến
Sau khi chiếm miền Nam bức màn bí mật đầy gian dối của cộng sản giống như chiếc hộp đen nay được mở bung ra, người miền Nam tuyệt vọng liều chết vượt biển tìm tự do trong khi người miền Bắc thất vọng, miền Nam quá sung túc văn minh so với cảnh cơ hàn của miền Bắc. Họ đã thấy nó hoàn toàn ngược lại với sự tuyên truyền láo của cộng sản trước đây.
Mười năm đầu từ chiến tranh sang hòa bình dưới sự lãnh đạo một cai thầu chiến tranh, chuyên nghề đánh phá của Lê Duẩn, người dân sống trong cơ hàn, một nước nông nghiệp nhưng dân không có gạo để ăn, phải ăn bo bo, Việt Nam trong khoảng thời gian này được xếp trong số 10 nước nghèo đói nhất thế giới.
Đỗ Mười, Phó thủ tướng Trưởng ban Cải tạo công thương nghiệp theo chỉ đạo của Lê Duẩn tiến hành đánh tư sản tại miền Nam VN đã gây ra thảm cảnh màn trời chiếu đất cho không biêu nhiêu người, kiểm kê các nhà tư sản rồi lấy nhà đuổi đi kinh tế mới, hàng chục ngàn cơ sở thương mại bị đóng cửa trong ngày đầu xuất quân.
Chiến dịch thất nhân tâm này khiến nhiều người phải tự tử hoặc đi vượt biên, một cuộc ăn cướp vĩ đại trắng trợn, trấn lột tài sản các thương gia để bỏ túi chia chác nhau, lấy nhà cửa phân phối cho các đảng viên từ ngoài Bắc vào. Ước lượng có hai triệu người đi vượt biên, mấy trăm nghìn người thiệt mạng ngoài biển khơi.
Thật sự là những vụ khủng bố, cướp cạn sau khi hòa bình.
Nguyên tắc hàng đầu của các chiến dịch này là bí mật, bất ngờ. Những ông chủ, bà chủ chỉ bàng hoàng nhận biết những gì xảy ra khi cửa mở và tổ công tác đặc biệt bất ngờ có mặt, đọc quyết định “kê biên tài sản” của họ. Những cửa hàng, nhà cửa bị tịch thu trở thành tài sản công và thường sẽ thành một cửa hàng quốc doanh hoặc thậm chí nhà ở cho cán bộ. Tài sản bị niêm phong xong, mọi người trong gia đình đó phải chuẩn bị nhận quyết định đi “xây dựng vùng kinh tế mới”.
Đỗ Mười múa tay, múa chân có sự phụ họa của Võ Văn Kiệt, cùng hô hào thực hiện rất quyết liệt theo lệnh của Lê Duẩn.
Chiêu bài đu dây Cộng Sản Hà Nội
Quan hệ Việt-Trung-Sô
Năm 1975 Lê Duẩn thăm Bắc Kinh, Trung Quốc muốn Duẩn chống Nga nhưng ông ta vẫn theo chính sách đu dây. Bắc Kinh cho là VN vô ơn phản bội. Duẩn ngày càng thân Nga khiến Băc Kinh lo ngại CSVN mạnh ở Đông Dương. Ngày 1-11-1977 Nhân Dân nhật báo của Bắc Kinh coi Mỹ là bạn coi Nga là thù. Ngày 30-7-1977 Bắc Kinh tuyên bố ủng hộ Miên chống VN và sau đó cắt hết viện trợ cho CSBV.
Ngày 3-11-1978 Hà Nội ký hiệp ước hữu nghị với Nga (Việt – Sô) trong đó có cả phòng thủ chung. Nga tăng viện trợ kinh tế cho Hà Nội từ 450 triệu USD năm 1975 lên 1,1 tỷ năm 1979, viện trợ quân sự tăng mạnh khi có chiến tranh Việt-Miên từ 125 triệu năm 1977 lên 600 triệu năm 1978, 900 triệu năm 1979. Ngày nay người ta vẫn chưa tìm thây có công trình nhân văn nào có giá trị để khai hóa văn minh cho người Việt, sự viện trợ người Nga không ngoài số vũ khí đủ loại để đánh nhau, người Việt giết người Việt.
Cuộc chiến Việt –Miên
Từ tháng 4 -1975 một toán Khmer đỏ đột kích Phú Quốc 6 ngày, sau đó hành quyết hơn 500 người dân Việt tại đảo Thổ Chu. CSVN phản công tái chiếm, quan hệ Việt –Hoa xấu đi, Trung Quốc tăng cường viện trợ cho Miên. Tháng 9-1977 quân chính qui Khmer đỏ gồm 4 sư đoàn chiếm nhiều địa điểm tại các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành Tây Ninh đốt gần 500 căn nhà, giết gần 800 người.
Năm 1977, Lê Duẩn sang Trung Quốc hội đàm với Hoa Quốc Phong để tìm một giải pháp cho Campuchia nhưng thất bại và ra về trong sự tẻ nhạt..
Ngày 31-12-1977, sáu sư đoàn CSVN đánh sâu vào đất Miên, năm ngày sau rút về. Sau đó Pol Pốt liên tục cho tấn công vào VN, tháng 4-1978 hơn 3,000 người dân VN bị giết tại Ba Chúc.
Tổng cọng từ 1975-1978 Khmer đỏ tấn công biên giới và giết hại khoảng 30,000 người VN.
Ngày 13-12-1978 Pol Pot huy động 19 sư đoàn, một sư đoàn Khmer đỏ chỉ có 4,000 người, tấn công xâm lược và tàn sát thường dân, CSVN chận đứng bước tiến của địch, khoảng 38,000 quân Khmer đỏ bị giết, gần 6,000 tên bị bắt.
Từ đầu tới cuối tháng 12 -1978 Việt Nam huy động tổng cộng 18 sư đoàn với xe tăng, pháo bính, không quân yểm trợ tiến vào đất Chùa tháp. Ngày 7-1-1979 quân Khmer đỏ tan rã, chính phủ Pol Pot rút khỏi Nam Vang. Cuối tháng 3-1979 CSVN chiếm được hết những tỉnh thành quan trọng của Campuchia và tiến sát biên giới Thái Lan.
CSVN chiếm đóng xứ Chùa Tháp 10 năm cho tới cuối năm 1989 mới hoàn toàn rút khỏi Campuchia. Phía CSVN cho biết họ thiệt hại 55,300 người tử thương, phía Khmer đỏ khoảng 100,000 người bị giết.
Chiến tranh Việt-Trung
Đây chỉ là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt, bắt đầu ngày 17-2-1979 và kết thúc ngày 16-3-1979 Trung Cộng rút sau khi đã chiếm Lạng Sơn, Lào cai, Cao Bằng, song mục đích bắt VN rút khỏi Campuchia không thành.
Tưởng cũng nên nhắc lại, ngày 3-11-1978 CSVN ký Hiệp ước hữu nghị Việt-Sô trong đó có cả phòng thủ chung. Nhưng quả là đau lòng cho các hiệp ước ký kết với cộng sản, khi Trung Quốc đánh Việt Nam, Liên Xô không đưa quân sang cứu giúp. Ngoài Phi đoàn vận tải của Nga chở Quân đoàn 2 CSVN từ Campuchia về Lạng Sơn.
Mục đích của cuộc chiến theo Thượng tướng không quân (Bắc Kinh) Lưu Á Châu nói Đặng Tiểu Bình gây chiến để xác nhận quyền lực tuyệt đối của ông ta trong đảng, sau đó trả thù cho Mỹ đã tháo chạy nhục nhã tháng 4-1975 cần rửa hận để được Mỹ viện trợ ồ ạt. Nhờ cuộc chiến này Mỹ đã viện trợ cho Tầu về kinh tế, khoa học, quân sự, tiền vốn…
Nguyên văn
“Cuộc chiến này đem lại cho Trung Quốc những gì? Đó là một lượng lớn thời gian, tiền bạc và kỹ thuật. Nhờ những yếu tố này, Trung Quốc tiếp tục đứng vững sau khi Liên Xô sụp đổ. Đây là thành công vĩ đại. Thậm chí có thể nói, bước đi đầu tiên của cải cách mở cửa Trung Quốc chính là từ cuộc chiến tranh này”
Trung Cộng cho biết CSVN tử thương 50,000 người và họ có 20,000 người thiệt mạng. Tháng 4 năm 1979, Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam ước lượng tổng cộng thương vong của quân Trung Quốc là 62,500 người.
Cả hai phía đều nói chiến thắng nhưng cuộc chiến gây thiệt hại trầm trọng cho kinh tế Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn: 320 xã, 735 trường học, 428 bệnh viện, bệnh xá, 41 nông trường, 38 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ và 80,000 héc ta hoa màu bị tàn phá, 400,000 gia súc bị giết và bị cướp.. Khoảng một nửa trong số 3.5 triệu dân bị mất nhà cửa, tài sản. Sau cuộc chiến CSVN nhường cho tầu chiến Liên Xô đóng ở cảng Cam Ranh để đổi lấy viện trợ tái thiết. Cuộc chiến ngắn này khiến Bắc Kinh tốn kém khoảng 1,3 tỷ USD ảnh hưởng tới quá trình cải tổ kinh tế.
Kết luận
Trong suốt thời gian dài từ 1954 đến 1964, Trung Cộng là nguồn cung cấp duy nhất cho CS Bắc Việt, không chỉ từ chén cơm manh áo mà cả lý luận tư tưởng, từ vật chất đến tinh thần của đảng CSVN lệ thuộc sâu xa vào đảng CSTQ. Khắp miền Bắc, từ công sở đến gia đình, hình ảnh của Mao được đặt trên mức linh thiêng.
Dó đó CSVN đã thi hành một cách nghiêm chỉnh hầu hết các mệnh lệnh đầy tai họa từ Mao và các chính sách phi nhân đã dẫn đến cái chết oan uổng của nhiều trăm ngàn người dân Việt Nam vô tội qua các chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, hàng triệu người bỏ mình trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn để người Việt giết người Việt. Đã có lúc Mao sai Đặng Tiểu Bình, lúc đó là Tổng Bí Thư đảng CSTQ, bí mật thăm Hà Nội và hứa viện trợ một tỉ yuan nếu Hà Nội chịu trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc và tiến hành chiến tranh. Đến tháng Ba 1968, tổng số quân Trung Cộng có mặt tại miền Bắc là 320 ngàn quân với tất cả phương tiện yểm trợ và trang bị vũ khí đầy đủ. Tất cả đều là Mao từ sách vở đến đường lối và đã từng áp dụng tại Trung Quốc.
Từ Mao đến Mao, phản bội Mao rồi trở về với Mao, chứng tỏ đường lối thiếu uyển chuyển, luôn cực đoan thái quá của Lê Duẩn, cũng như sự kiêu ngạo của kẻ ít học, xuất thân thường thuộc thành phần ở đợ như Võ Văn Kiệt, đã đưa đất nước từ thảm hại này đến đau thương khác. Nhất là sự thất bại trong công cuộc kiến thiết đất nước thời hòa bình, lòng có đầy miệng mới nói ra, khi ông phát biểu “cứ in tiền, chúng ta xã hội chủ nghĩa, không sợ lạm phát”, đủ hiểu ông thừa kế đầy đủ cái tố chất di truyền của nghề đóng hòm đối với một nền kinh tế. Nó đã làm tiêu tan uy tín, sự nghiệp của ông tới mức khi ông chết phần lớn người dân VN, cũng như những người trong đảng của ông, đều cảm thấy thở phào nhẹ nhõm.
Nguyễn Quang
nguồn: tintuchangngayonline.com

Giải trí cuối tuần

1. Second Half Fireworks Send New-Look USA to 4-0 Rout of Switzerland

http://www.ussoccer.com/stories/2016/10/20/03/12/161019-wnt-new-look-usa-routs-switzerland-4-0-in-sandy-utah

2. NỖI LÒNG CỦA ĐẤT

Lương Thư Trung
 
Tôi là đất. Tôi là bùn. Bạn ơi! Bạn có bao giờ nghĩ rằng tôi đã làm đuợc những gì cho bạn không? Tôi thì dường như chưa lần nào tự hỏi mình đã hiện diện trong vũ trụ này bao nhiêu thiên niên kỷ rồi. Thực sự điều đó khó mà đếm được, khó mà biết chính xác được cho dù bạn là những nhà khảo cổ, những nhà địa chất học…
 
Có cần không để phân loại tôi thành loại đất này, loại đất khác? Chẳng hạn đất mẹ, đất ải, đất bãi, đất phù sa, đất bồi, đất cát, đất pha cát, đất hợp thực, đất phân, đất phèn, đất sứ, đất lâm, đất mới khai khẩn, đất vôi, đất sét, đất sét mỡ gà, đất thịt, đất bùn và còn nhiều tên gọi khác nữa… Tất cả những phân tích, phân loại như vậy chỉ  vì đó là công việc của loài người. Tôi vốn dĩ rất giản dị, thấp hèn nên không bao giờ tự tách bạch mình ra từng loại, từng loại để làm gì. Tôi nói ra điều này là vì đó là một thực tế; chứ không phải vì tôi khiêm nhường, khách sáo hay tự hạ thấp mình quá đỗi đâu!
 
Tôi thì như bạn đã biết quá rõ rồi và người đời thường chẳng bảo rằng “xưa như trái đất” sao? Dưới ánh sáng của mặt trời, tôi chỉ là một vật thể như muôn ngàn vật thể. Tôi thấp nhất trong muôn triệu những gì thấp nhất. Bằng chứng là bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, tôi vẫn đang nằm dưới bàn chân của bạn, dưới gót giày của bạn, dưới bánh xe của bạn. Tôi không bao giờ có ý ngoi lên, muốn ngoi lên hoặc bằng mọi cách phải ngoi lên và ngoi lên để làm gì?!? Vì rằng chỗ của tôi là chỗ thường hằng, vĩnh cửu rồi. Cho dù cỏ cây có che trên đầu tôi một chút ánh sáng mặt trời, rồi cỏ cây cũng sẽ chết để trả lại tôi một chút ánh nắng mặt trời. Cho dù bạn có choán chỗ của tôi mấy mươi năm trong đời bạn, sau cùng, bạn cũng phải ra đi và trả lại tôi không khí cùng ánh nắng ban mai của buổi bình minh tươi mát. Vì rằng, cỏ cây, con người thì hữu hạn, còn tôi dù là đất, là bùn nhưng lại vô cùng, bất tận và vĩnh cửu…
 
Bản chất của tôi vốn dĩ hiền hòa, bao dung, công bằng. Bạn có nghe người ta hay nói “hiền như cục đất” không? Cho dù bạn có cư xử với tôi thế nào đi nữa, tôi luôn nghĩ rằng, chẳng qua đó là cách thế ứng xử riêng của loài người dành cho một vật thể khác trong vũ trụ. Nhưng khi bạn trở về với đất, tôi sẵn lòng dang rộng cánh tay dành cho bạn một chỗ trú ẩn ngàn đời. Cho dù bạn là một vì vua, một vị tướng lãnh, hay bạn là một người lính, một thường dân, đối với tôi, tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau.
 
Bạn ơi! Bạn có bao giờ tưởng tượng rằng mọi sinh vật kể cả loài người trên vũ trụ này họ sống được là nhờ tôi không? Chắc có lẽ nhiều người vì thấy hiện tượng sống của muôn loài tự nhiên quá đỗi nên người ta cũng chẳng buồn nghĩ ngợi lung tung làm gì. Chẳng hạn, ngày nào con người cũng ăn cơm, ăn gạo người ta chỉ chê hạt cơm, hạt gạo quá khô, quá nhão mà không màng để ý người làm ra hạt gạo cơ cực biết dường nào; không màng nhớ tới dòng đời của cây lúa ba chìm bảy nổi mới chịu nổi phong ba; không màng chất đất ngày mỗi già cằn vì lòng tham vô bờ của những người luôn muốn có nhiều huê lợi mà không cần tốn một giọt mồ hôi cơ cực nào!
 
Tôi đã mang đến cho muôn loài sự sống. Tôi mang đến cho vạn vật xanh tươi. Tôi mang đến cho con người niềm hạnh phúc. Vì rằng tự trong tôi đã có sự ngọt ngào; tự trong tôi đã có dòng sữa; tự trong tôi đã có cái mát lạnh; tự trong tôi đã có chất liệu hạnh phúc rồi. Hay nói một cách khác, tôi đã và đang mang dến nhựa sống cho đời bạn, cho vạn vật. Bởi vì rằng tất cả vạn vật đều đang đứng trên đầu tôi, trên mặt tôi. Và vạn vật cũng đang cấm những chùm rễ thật sâu vào trái tim tôi để hút nước, hút sữa, hút nhựa nuôi sống tự thân và nuôi sống nhân loại.
 
Bạn thử tưởng tượng, bạn là một vị tổng thống, một ông vua, một nhà bác học, một vị giáo sư, một nhà tu hành, một nhà văn, một thi sĩ đoạt được nhiều giải thưởng cao qúi cũng như hằng triệu, hằng triệu những con người bình thường trên mặt đất này, hết thảy bạn đều có các đấng sinh thành, cưu mang bạn qua chín tháng mười ngày rồi banh da xẻ thịt mời bạn bước ra vùng ánh sáng như một ngày hội lớn. Các đấng sinh thành của bạn nuôi bạn bằng gì? Có lẽ ai cũng biết câu trả lời đã có sẵn từ buổi sơ khai rồi. Tất cả những chất liệu nuôi dưỡng bạn có phải tự trong bùn, trong đất mà có không? Có phải tất cả những khối óc thông minh kiệt xuất, những bậc vĩ nhân được cả nhân loại kính phục đã được vun bồi từ đất, từ bùn không? Tôi không kể công và kiêu ngạo, nhưng đây mà một sự thật. Đất là mẹ của tất cả mọi người mẹ. Đất mang lại dòng sữa để mẹ nuôi con khôn lớn. Đất mang lại sự sống cho cỏ, cây, hoa, trái để cỏ, cây, hoa, trái nuôi sống con người.
 
Bạn có biết, trong dòng đời, nhiều lúc tôi cũng đau xót lắm không!?! Người nông dân hồi sơ khai, họ dùng cuốc, dùng len họ cuốc, họ đào tôi lên từng lát, từng lát. Dần đà, họ có thêm kinh nghiệm, người nông dân dùng trâu, dùng bò cày tôi lên từng luống, từng luống. Sau này, loài người văn minh hơn, khoa học tiến bộ hơn, người ta lại dùng máy cày, máy xới hất tung tôi lên từng mảnh, từng mảnh. Đó là thời thái bình. Còn thời chiến tranh thì tang thương hơn bội phần. Hằng muôn triệu tấn bom đạn đổ lên đầu, lên mặt, cày nát thân thể tôi ra thành hầm, thành hố  rải rác khắp địa cầu. Bạn có biết máu của tôi đã tràn ứa ra không?
 
Ngoài tạo vật, cỏ cây, hoa trái, thực phẩm cần cho nhân loại, bạn có biết để nấu chín thực phẩm, để có vật dụng chứa đựng thực phẩm, để có nhà, có kho cho loài người trú ngụ, người ta cũng cần tới tôi không. Tôi dự phần vào hầu hết trong mọi vật dụng. Từ cái chén, cái tô thô kệch thời bán khai cho tới cái chén kiểu thời văn minh đời Khang Hi với hoa văn rồng phụng; từ ông táo, cà ràng đến mọi thứ nồi niêu, lu hủ, khạp, kiệu, mái vú, mái đầm, cái ảng… nhất nhất đều lấy từ đất mà làm ra. Rồi gạch, rồi ngói nữa. Khi nhu cầu đòi hỏi để phát triển xã hội, loài người cũng lấy đất nắn gạch, làm ngói. Bạn thử tưởng tượng người thợ làm gạch họ đào, họ xới, họ nhồi, họ nắn trăm muôn ngàn động tác để biến những cục đất thành viên gạch thô, thành miếng ngói thô, thì bạn sẽ biết đất bị tùng xẻo đến độ nào rồi?
 
Dòng đời của những thứ gạch ngói thô đó cũng là dòng đời của một phần của đất, của bùn phải trải qua những gian lao thử thách. Sau khi họ đem chúng tôi ra phơi khô nhiều nắng đến một buổi chiều nắng ráo, họ dọn một chỗ cho chúng tôi chui vô cái lò hình tròn có vòm cao như những ngôi cổ tháp vùng Ai Cập. Và ở đó, chúng tôi được sắp xếp theo thứ tự từ trong ra ngoài, từ dưới lên cao theo một thứ bậc rất ư là khe khắc. Nếu không làm vậy, chúng tôi, những viên đất khô gọi là gạch thô đó sẽ té nhào lên nhau như một trận địa chấn không kém kinh hoàng trong một không gian hẹp té này. Khi đâu đó nằm yên ổn rồi, hằng trăm ngàn viên đất khô mới bắt đầu nếm mùi lửa đốt. Người ta đốt chúng tôi bằng đủ loại chất liệu, miễn sao cho chúng tôi cháy đỏ thì thôi. Củi cây mắm có, vỏ trấu của hạt lúa cũng có, nhiều nơi chơi sang hơn họ còn đốt chúng tôi bằng điện, bằng dầu nhưng đa phần chúng tôi chịu trận với củi mắm và trấu nhiều nhất.
 
Bạn có biết từ lúc người thợ lò châm mũi lửa đầu tiên đến khi chúng tôi chín đỏ hực là bao lâu ngày tháng không? Cả nửa tháng trời chịu trận trong căn hầm như một vùng hoả diệm sơn ấy chứ chẳng chơi! Lúc bấy giờ chúng tôi hết biết đau đớn nữa rồi. Khi nóng quá người ta không còn cảm giác, không còn biết trời đất là gì! Rồi người thợ lò mới tắt lò khi thấy đất chín rực màu đỏ. Chúng tôi phải nằm thêm trong cái lò nóng hầm hập ấy thêm chừng nửa tháng nữa mới bắt đầu nhìn ra bên ngoài khung cửa hẹp té với chút ánh sáng nghiêng nghiêng đi lạc giữa vùng tâm tối. Khi nguời ta cảm thấy gạch nóng không còn đủ sức làm phỏng tay người, lúc bấy giờ người ta mới mang chúng tôi ra sân như một lần xá tội vong nhân.
 
Bạn cứ tưởng lửa thì cháy tràn và chia đều cho từng viên gạch mỏng sao? Không đâu bạn. Ở đời cái gì mình hay tưởng thường dễ bị lầm. Đất cũng vậy. Chúng tôi ngỡ gạch là gạch. Khi cháy là cháy chung lò. Khi chín là chín chung kiếp. Nhưng sự thật không phải đơn giản vậy. Trong lò như vậy, chúng tôi đuợc chia làm ba thứ hạng: gạch chưn lò, gạch lòng tàu, gạch ngọn. Gạch chưn lò là gạch chưa thực sự chín lắm, màu tai tái, đứng hạng chót, dù gần lửa nhất. Gạch lòng tàu đỏ hực, tốt nhất, vì được sắp xếp nằm ở giữa lò. Gạch ngọn, da láng cón, vì lửa dồn lên cao nên nhiều khi gạch bị khét lửa vì quá lửa, nên cũng không bằng gạch lòng tàu. Chun vô lò lửa rồi mà còn bị phân loại ra như vậy đó bạn, nghĩ đời cũng nhiều bất trắc! Vì có phân loại là có bất công, có ganh tị, có kỳ thị, có khinh miệt và hất hủi, bởi vì không có phân loại nào tuyệt hảo cho dù ông thợ lò là người lão luyện tay nghề!
 
Thế rồi, người ta mang chúng tôi đi chào hàng khắp mọi nơi theo thứ hạng phân loại ấy. Người ở mọi nơi cũng nườm nượp đến lò khuân vác chúng tôi về xây những tổ ấm cho các đôi uyên ương một trời hạnh phúc. Chỉ có chúng tôi là hiểu rõ thân phận của mình và chúng tôi biết sức chịu đựng của mình. Có cái cơ cực nào hơn, cái đoạn trường nào hơn, cái cay nghiệt nào hơn đời của đất, của gạch ngói không? Thế mà chúng tôi vẫn chịu đựng từ đời này qua kiếp khác, luôn luôn nhẫn nại, không chán nản, không mệt mỏi, không hờn giận và không thống hận…
 
Bạn có thể cho rằng tôi là vật vô tri, không biết cảm nhận, không biết đau đớn, không biết xót xa… Có thể đó là cách nghĩ của bạn. Có thể đó là… bởi vì bạn không có lòng đấy thôi! Chứ tự thân tôi, tôi biết cái đau của tôi. Khi bạn đào, bạn cuốc tôi lên, bạn có thấy trong từng nếp đất đã ứa ra từng giọt nước không? Đó là nước mắt của tôi đấy! Đó là máu của tôi đấy! Vì rằng tôi cũng sống như bạn. Nếu tôi không sống như bạn, tôi không hít thở như bạn thì làm sao tôi có thể mang đến cho bạn, cho vạn vật những chất liệu nuôi dưỡng mầm sống trong vũ trụ, trong cõi đời này. Hạt giống không thể nẩy mầm trong chân không. Cỏ cây không thể sống trong lưng chừng trời. Con người không thể sống mà không có đất. Tôi nói lên điều đó không phải là nói quá lời, vì cho tới hôm nay đây, chưa có hành tinh nào khác ngoài trái đất đang ấp ủ mọi sinh linh trên vũ trụ này, dù người ta vẫn đang cố đi tìm…
 
Nếu tôi không sống và vô tri, thì làm sao tôi có thể mang lại cho người nông dân những nụ cười khi cánh đồng lúa chín vàng. Nếu tôi không sống và vô tri, làm sao tôi có thể mang đến cho người làm vườn những trái chín ngọt ngào. Nếu tôi không sống và vô tri, làm sao tôi có thể mang đến muôn sắc, muôn hương cho hằng vạn, hằng vạn loài hoa để ong bướm vui đùa, để con người thưởng ngoạn, để vũ trụ tươi thắm, xinh đẹp…. Tự trong hạt gạo, tự trong trái chín, trong hoa, trong huơng đã có sự sống, đã có tôi dự phần, đã có hồn tôi, đã có máu tôi kết tụ lại rồi.
 
Sở dĩ bạn nghĩ rằng tôi vô tri vì rằng tôi có ngôn ngữ của tôi, bạn có ngôn ngữ của bạn. Cũng như muôn loài trong vũ trụ này đều có ngôn ngữ riêng. Loài này có thể không hiểu loài được loài kia vì khác ngôn ngữ. Chẳng hạn chim muông làm sao hiểu được tiếng người. Dòng sông làm sao hiểu được cái khao khát của cánh đồng lúa khô cằn. Loài sâu bọ làm sao hiểu đuợc nỗi lo âu của người làm ruộng. Ngay cả loài nguời với loài người nhiều lúc còn không hiểu nổi nhau, huống hồ gì hằng tỉ, hằng tỉ sinh vật khác nhau cùng một lúc có mặt trên lưng tôi với nhiều ham muốn. Nhưng có một điểm chung nhất, chính xác nhất là tất cả chúng ta cùng đang sống và sẽ sống. Riêng tôi là cái nơi chúa đựng tất cả sự sống ấy, vì thế có lẽ tôi sẽ là vật thể sống dai nhất và mang nặng trên vai mình cả một bầu trời lúc nhúc những mảnh đời truyền kiếp. Trường hợp tôi có phải vì lẽ gì đó mà chết đi, có lẽ tôi sẽ là vật thể chết sau cùng và chừng đó muôn loài, muôn vật cũng chẳng còn. Dĩ nhiên không còn hiện hữu trong vũ trụ này, thật chẳng còn gì để mà nói thêm phải không bạn?
 
Nhân nhắc về cái còn và cái mất, tôi phải thành tâm nhận ra rằng chính trái đất nhiều lúc cũng có nhiều lầm lỗi. Nhiều nơi cằn cỗi quá, làm cho dân tình đói khổ vì không trồng tỉa đuợc. Nhiều nơi thấp quá, hằng năm lụt lội vùi dập những cánh đồng. Nhiều nơi cả năm này qua năm khác cứ lạnh giá căm căm không làm sao có thức ăn cho đủ những ngày mùa đông giá lạnh cơ hàn. Và còn nhiều lắm những khuyết tật bẩm sinh cố hữu khác của mặt đất bao la này, dù đã có hằng triệu, hằng triệu năm cải cách, canh tân. Điển hình những trận động đất với số đo địa chấn quá cao, với những lượn sóng thần ngoài sức lượng định của loài người và số người bị thiên tai quá ư là khốc liệt, tôi phải thành tâm nhận lỗi về phần mình bởi những tai họa ấy. Xin loài người hãy tha thứ cho tôi và xin bạn đừng qui trách cho bất cứng đấng thần linh nào, vì các đấng thiêng liêng thì ở trên cao và ở một cõi khác ngoài bản thể sự vật như tôi và bạn. Mỗi sinh thể trong vũ trụ dù ít hay nhiều có cái ưu và cái khuyết của nó. Đất cũng không ra khỏi những vùng khuyết điểm như vậy được. Có mặt trên cõi đời hằng triệu, hằng triệu năm mà tự trong lòng đất, chúng tôi còn nóng nảy quá đỗi! Những cơn giận vừa chuyển mình là chúng tôi biết mình sắp thêm một lần lầm lỡ nữa rồi! Chỉ cầu mong bạn hiểu và thông cảm cho tôi sự không hoàn chỉnh ấy mà bỏ qua và tôi hứa sẽ bằng mọi cách bớt giận hờn muôn loài khi lòng đất sắp cựa mình, rung chuyển…
 
Trong dòng đời này, bạn ạ, có hạnh phúc, cũng có đau khổ. Có thương yêu cũng có ganh tị. Có hoà bình rồi cũng có chiến tranh. Riêng đời tôi, sự có mặt của tôi dưới ánh mặt trời này, tôi đã chứng kiến biết bao điều đau lòng vì một thói quen quá quen thuộc là tranh giành đất đai lẫn nhau. Tranh giành nhỏ giữa hai người làm ruộng liền ranh liền rấp cũng là một nỗi bất hạnh khôn lường; tranh giành giữa các anh em trong một gia đình vì một miếng ruộng hương hoả cúng ông bà là một bất hạnh lớn hơn trong đời sống này; huống hồ gì có những tranh chấp giữa vùng đất này với vùng đất khác rồi gây ra họa chiến tranh. Nỗi bất hạnh của nhân loại khi con nguời mỗi ngày mỗi đông thêm một phần vì miếng ăn ít đi, phần khác còn vì địa giới bị thu nhỏ lại. Ông bà xưa dạy “ăn nhiều chứ ở có bao nhiêu”, nhưng thực tế ở ít thì người ta cho rằng quá chật hẹp, thiếu tiện nghi, nên con người mới nuôi mơ ước mở mang bờ cõi rộng thoáng thêm lên cho cái quyền năng đủ bằng cái bàn tay đầy ham muốn vói tới. Lỗi đó không phải tại tôi, mà chính ở bạn. Ở khái niệm về quyền sở hữu của bạn. Bạn nghĩ rằng tôi là của riêng của bạn, nên bạn cố giữ lấy. Từ đó có tranh giành. Thực tế tôi không là của riêng ai. Tôi chỉ là đất thôi mà! Tôi mang nhựa sống đến cho muôn loài thôi mà! Tôi dâng hiến đời tôi cho mọi người, cho mọi loài, cho cỏ cây, cho vạn vật…
 
Tôi không ái mộ mấy, các bậc triết gia hay biện giải về thân phận của mỗi loài; nhưng qua hằng triệu, hằng triệu năm tôi biết có một điều là ở đời này có rất nhiều điều rất phi lý và bạc bẽo. Tôi không trách bạn đâu. Tôi không trách bất cứ ai đâu. Tôi chỉ muốn tâm tình cùng bạn về một điều thật thú vị, mà dường như mọi sinh vật trong đó có loài người, là người ta cố tình quên đi, cố phớt lờ đi một thực thể đang ở cạnh bên mình. Đó là bùn, là đất. Tôi hỏi thật bạn, là, có khi nào bạn sợ dính bùn không? Có bao giờ bạn chê đất tanh hôi không? Có bao giờ bạn dám bỏ đôi vớ êm êm, bỏ đôi giày sang trọng để đi về miền quê lội xuống những lung vũng, những cánh đồng đầy lúa vàng hay những miếng ruộng thời con gái không? Có bao giờ bạn ngại bàn chân bạn sẽ bị nứt nẻ vì bùn, vì đất khô cằn không?
 
Nếu có một lần tấm lòng bạn e ngại tôi như vậy, đó là một thiệt thòi cho bạn. Bạn đã vô tình để lở một dịp may giữ lấy hạnh phúc cho mình. Tôi không muốn nói với bạn về một bài học đạo đức hay luân lý gì ở đây, vì không có ai có đủ tư cách dạy ai trong khái niệm về vũ trụ này, mà tôi chỉ muốn tâm tình cùng bạn thôi mà! Đất là cần yếu. Có đất, có bùn bạn mới lớn, mới khôn, mới sống, mới vui, mới hạnh phúc. Đất thô kệch, đất tanh hôi, đất quê mùa, đất dơ bẩn; nhưng tôi mang đến cho bạn sự sống như đời mẹ mang đến cho bạn sữa ngọt ngào, máu tươi, yêu thương và sự sống. Mẹ bạn có là bà già nhà quê, ít học. Mẹ bạn có là một người buôn tảo bán tần. Mẹ bạn có là gì, gì đi nữa. Mẹ là Mẹ. Mẹ là sự sống. Mẹ yêu thương. Mẹ là tất cả. Cũng như tôi là đất. Có đất là bạn có nhiều thứ lắm trong đời sống nhiều gian truân này.
 
Tôi có chứng kiến nhiều bà mẹ quê đi bên cạnh đứa con thành danh, học cao, hiểu rộng. Nếu bạn hỏi, làm sao mà tôi chứng kiến được chứ gì? Thì cũng dễ thôi, vì bạn và thân mẫu bạn đang cùng đặt những bước chân lên mặt tôi đó mà và tôi nghe thấy rõ nhịp đập từ trái tim của mẹ già và người con còn quá trẻ. Bà mẹ thì cứ lầm lũi những bước chân mỏi mệt; còn đứa con vì có mẹ quê, nên né tránh, bước thật xa bóng mẹ già. Tôi không thấy có một ý nghĩa nào mang cái dáng “chính thống” trong dòng sống này, kể cả mặt đất, mặt bùn. Mọi hình tướng đều là những pha trộn, thì những cái bên trong hình tướng đó, không thể rặt một màu “chính thống” được.
 
Ngay như trong thiên hạ, lịch sử văn học loài người cũng ít có nhà nào ba đời là kẽ sĩ, họa hoằn lắm mới có vài ba nhà cha với con cùng nổi danh xuất sắc một thời như Tư Mã Đàm và Tư Mã Thiên, Sái Ung và Sái Diễm bên Trung Hoa; Phan Huy Ích, Phan Huy Chú, Phan Huy Ôn ở Việt Nam đời trước; còn thời cận đại có ba anh em nhà họ Nguyễn Tường là Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long, Nguyễn Tường Lân. Mà ngay như trải qua bảy trăm năm ròng rã suốt đời Đường rồi đời Tống, Trung Hoa cổ có tám văn hào lớn, gọi là bát đại gia, thì riêng dòng họ Tô(1) đã chiếm được ba người rồi, đó là Tô Tuân, Tô Thức và Tô Triệt. Riêng Tô Thức, tức là Tô Đông Pha, là một bậc thi bá chói lọi trên văn đàn Trung Hoa, danh vọng cao vòi vọi mà tính tình rất bình dân; có thời tự cày ruộng lấy, tự cất nhà lấy, và sống một đời sống giống y một lão nhà nông. Ông không là triết gia nhưng đã mang triết lý của cả Phật giáo, Lão giáo và Khổng giáo vào thi ca và cùng việc chăn dân vào thời còn làm quan cứu độ biết bao dân tình. Ai có biết Tô Đông Pha vào những ngày làm quan, những lúc bị đày và những ngày cày ruộng, rồi sẽ xếp ông vào “chính thống” nào đây? Xem thế, biết thế nào mà phân biệt được lẽ “chính thống” hay “không chính thống”được đây? Thành ra, giữa bà mẹ quê chân lắm tay bùn và đứa con trí thức hiển đạt, ai là “chính thống”, ai “không chính thống” đây?
 
Vì thế, đất không vui khi nhận một bông hồng từ bạn, trong khi bạn không dành bông hồng ấy cho bà mẹ quê của mình. Và tôi cũng xin thưa với bạn rằng, tôi cũng đã chứng kiến nhiều lần, những đứa con bất hạnh không còn mẹ thường hay lẫn tránh những người muốn gắn cho họ một bông hoa màu trắng(2). Bởi vì, chắc chắn hơn ai hết, họ biết nỗi bất hạnh của họ được người ta làm cho nó mưng mủ trở lại gắp ngàn lần, khi  bạn ban tặng cho họ cái màu trắng của một nụ hoa tưởng chừng dễ thương ấy!
 
Tôi là bùn. Tôi là đất. Bùn là bản thể của tôi lúc tuổi chưa già và đất là hình tướng của tôi khi bùn bị va chạm vào dòng đời của vũ trụ với những vòng quay đến chóng mặt. Bạn ơi, dường như đất là nơi chốn để bạn bắt đầu một đời sống và đất cũng là nơi chốn để bạn trở về sau một đời sống. Cầu chúc bạn luôn luôn có mùi bùn bên cạnh để bạn không thấy mình xa lạ giữa chốn nhân gian!
 
 Lương Thư Trung
07-5-2005
 
(1)

   Theo lời Tựa trong cuốn Tô Đông Pha của Nguyễn Hiến Lê(1969)

(2) Theo tục lệ trong Bông Hồng Cài Áo của Nhất Hạnh(1965)
Nguồn: gio-o.com

 

Hai hình ảnh hai chế độ

1. NỤ CƯỜI BÀ CHỦ TỊCH TRONG ĐÊM CHẠY LỤT

clip_image002

Khi bà Nguyễn Thị Kim Ngân dự khai mạc Festival
Lễ hội áo dài ở Hoàng thành Hà Nội
Cũng đêm ấy bọn thuỷ điện HốHô gây nên tội lỗi
Xã đập cả đêm gây thêm lụt ở Hương Khê.

clip_image003

Khi bà Chủ tịch cười duyên dáng trên kia
Thì dân miền Trung hết nước mắt khóc than kêu cứu
Cái áo dài bà mặc trị giáo bao nhiêu triệu
Hơn bao đàn gà, trâu bò phình bụng trong tê?

clip_image008

Khi bà Chủ tịch đẹp xinh nổi bật hơn cả tuổi lục tuần kia
Thì hàng vạn người dân vẫn dầm mình trong hiểm hoạ
Khi bà Chủ tịch vẫn ửng hồng đôi má
Dân Hà Tĩnh Quảng Bình tê tái đói run run.

 

clip_image009

Khi bà chủ tịch hả hê trong sắc màu đèn đỏ đèn hồng
Thì dân miền Trung đắm chìm trong đêm tối
Không có cả que diêm xoè lên vẫy gọi
Ca nô gần xa ghé cho gói mì tôm?

clip_image005

facebook NguyenHuuThao

2. Bà cựu Thủ tướng Thái Lan đi cứu trợ bão lụt

Xin bà đừng bận tâm về bà Chủ tịch kính mến của chúng tôi

clip_image011

Phản đối lãnh đạo các nước tư bản cho VN vay quá nhiều tiền để biến nhiều lãnh đạo VN, quan chức VN thành bọn trộm cắp thế kỷ! Phản đối lãnh đạo các nước TB sống giản dị, gần dân, thương dân và vì dân, lấy hết nhân tính của lãnh đạo và quan chức VN!
Chúng ta cần cảnh giác với âm mưu diễn biến và tự diễn biến theo tư bản, ngăn chặn xu hướng học theo cách sống tốt đẹp, cách hành xử văn minh của những con người trong thế giới tư bản.
Cần ngăn chặn việc phát tán các hình ảnh như thế này để kích động nhân dân coi thường, khinh bỉ các đồng chí của ta.
Đ.M.T.

Đàn ông Hà Tĩnh

Đàn ông Hà Tĩnh
Tưởng Năng Tiến
Người Hà Tĩnh không chỉ vinh quang bởi các Bộ trưởng, tư lệnh ngành mà Hà Tĩnh còn được biết đến là tỉnh có nhiều ủy viên Trung ương nhất trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, với số lượng 16 người.
 
Tôi có chút giao tình với anh Trần Ngọc Thành nên mỗi khi gặp gỡ chúng tôi đều tìm một cái quán (thật) vắng để ngồi tâm sự vụn, và uống với nhau vài chục ly rượu nhạt. Phải là một nơi “thật” vắng vì sau khi cạn mấy chai đầy (dù là rượu nhạt) thế nào ông đại diện Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do cũng chợt nhớ đến giọng ca … thiên phú của mình:
– Tui sẽ hát bài “Đi Đâu Cũng Nhớ Về Hà Tĩnh” để riêng tặng … Tiến nha!
Thoạt đầu, tôi giẫy nẩy:
– Như rứa tội chết anh Thành à. Em nỏ biết Hà Tĩnh ở nơi mô đâu nà?
– Can chi chuyện đó, trước sau gì rồi cũng sẽ biết thôi mà. Quê hương là của chung mọi người chớ nào có phải của riêng ai đâu…
Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Đà Lạt, và sống (sắp) tàn đời ở California . Cả ba vùng đất này đều là nơi tập trung của dân tứ xứ nên không thể coi là bản quán của bất cứ ai. Nhận (đại) nơi chôn nhau cắt rốn của anh em bạn bè làm quê (mình) luôn cũng … khoẻ, nhất là khi bằng hữu đã mở rộng lòng.
Với tâm cảm này, và sau khi nghe anh Trần Ngọc Thành hát (cỡ) trăm lần thì Hà Tĩnh “thấm” vô hồn tôi (rồi biến luôn thành “quê mình”) hồi nào không biết. Chỉ biết, từ đó, tôi … đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh.
Hồi đầu năm, tình cờ đọc được bản tin ngăn ngắn (“Những Tân Bộ Trưởng Là Con Em Hà Tĩnh”) mà “niềm vui vỡ oà” và “hạnh phúc lâng lâng.” Xin ghi lại toàn văn, cùng hình ảnh, coi cho nó đã:
Điều đặc biệt, các thành viên Chính phủ nhiệm kỳ mới, những nhân sự đứng đầu Bộ Y tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam… đều là người Hà Tĩnh.
Sau khi Quốc hội phê chuẩn, Chính phủ nhiệm kỳ mới với 27 thành viên đã chính thức ra mắt vào ngày 9/4.
Thứ 7, ngày 9/4, ông Lê Minh Hưng, người huyện Hương Sơn, chính thức trở thành Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trong lịch sử ngành ngân hàng, ông Hưng là Thống đốc trẻ nhất từ trước đến nay, ông nhâm chức khi mới 46 tuổi.
Tân Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, ông Nguyễn Hồng Hà quê tại huyện Can Lộc. Bộ trưởng Nguyễn Hồng Hà sinh năm 1963, tiến sĩ khai thác mỏ. Người tiền nhiệm của ông Hà là nguyên Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang, cũng xuất thân là người Hà Tĩnh.
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Nguyễn Chí Dũng
Từng đảm trách chức vụ Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận, nhưng ông Nguyễn Chí Dũng, tân Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư là người huyện Lộc Hà. Một địa danh ven biển của dải đất miền Trung.
Sinh ra ở huyện Cẩm Xuyên, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến là gương mặt thân quen đối với mọi người. Bà tiếp tục giữ trọng trách tư lệnh ngành y khi trong nhiệm kỳ mới của Chính phủ.
Người Hà Tĩnh không chỉ vinh quang bởi các Bộ trưởng, tư lệnh ngành mà Hà Tĩnh còn được biết đến là tỉnh có nhiều ủy viên Trung ương nhất trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, với số lượng 16 người.
Ảnh: Báo Hà Tĩnh

Ảnh: Báo Hà Tĩnh
Đã thiệt!
Chỉ có tiếc có điều là cái niềm vui (vỡ oà) và cái cảm giác hạnh phúc (lâng lâng) về Hà Tĩnh tôi lại không giữ được lâu. Cứ như niềm vui đã nằm trong thiên tai vrồi vậy! Ngày qua, mọi cơ quan truyền thông (trong cũng như ngoài nước) đều ái ngại đi tin:
Ba tỉnh miền Trung chìm trong biển nước

Ngay sau đó cả cộng đồng mạng xôn xao vì những thiệt do bão lụt, và mọi người đều hối hả với những hoạt động cứu trợ – qua ghi nhận của Bà Đầm Xoè:
Tính đến cuối ngày 15, đã có 20 người bị chết và mất tính, 26.000 ngôi nhà bị ngập và nước cuốn trôi, nhiều vùng bị cô lập đã hai ngày nay. Sau thảm họa Formosa thải độc làm chết biển, chết cá, hải sản, nhân dân miền Trung như bị một cú đánh chí mạng làm sụn sương sống, còn lâu mới gượng dậy được. Nay lại bị thiên tai khủng khiếp chưa từng có vùi dập. Những gì còn lại gọi là tài sản, của cải cầm hơi cũng đã   tuột khỏi tay họ, trôi theo dòng nước về với sông suối biển cả.
Chính phủ mới ra chỉ thị và thông báo yêu cầu cứu trợ cho miền Trung. Các hội đòan ăn tiền thuế, tức ăn mồ hội nước mắt của dân, chưa thấy hội đoàn nào lên tiếng. Chắc họ đang chờ chỉ thị của đảng, nhà nước hoăc họ còn ngỏn cổ lên ngóng hoặc phát giấy mời đến họp bàn…
Trong khi đó mấy anh em có tiếng trong phòng trào đấu tranh dân chủ, người đang quyên tiền, quần áo, lương thực thuốc men, người đã đang trên đường đến chia sẻ cùng bà con.
Tôi biết, nhưng người này, họ chẳng giầu có gì. Họ làm ăn gì cũng bị chính quyền tìm cách ngăn chặn phá hoại trong nhiều năm nay, nhưng họ có tấm lòng vì dân vì nước, thương người như thế thương thân. Biết tin miền Trung bị lũ lụt nặng hoành hoành, trong đó có nguyên nhân xả nước hết cỡ từ các đập thủy điện ở trên thượng nguồn, họ tức tốc lên đường, nhanh chóng có mặt ở nới đau thương để giúp đỡ, chia sẻ gánh năng đau thương cùng bà con.
Tôi thật sự cảm động khi nghe sáng nay trên FB Dung Vova đăng tấm ảnh anh chia tay hai con nhỏ với tâm sự:

“Bố phải đi Miền Trung, kể cả chỉ mang theo vài chục kí lương khô! Hẹn gặp bà con ở đó !

Ai ủng hộ lương khô, thuốc lọc nước cho bà con miền trung thì có thể  gửi qua đây, trên đường tôi gửi giùm: 0021000912104 – NH VCB chi nhánh Hà Nội. Lê Văn Dũng Cám ơn”.
FB Hà Thanh, người mới bị tại nạn gãy xương bả vai, đang bó bột, không thể đi được, nhưng lòng anh vẫn hướng về bà con:
“Anh không đi được xin đóng góp 500 ngàn chia sẻ với bà con. Chúc các bạn lên đường gặp nhiều thuận lợi may mắn nhé”.
FB Thảo Teresa, lo lắng, cảm thương, uất hận:
“Miền trung đau thương tiếp tục ghánh chịu mưa lũ. Nằm ngẫm số phận con dân nước Việt sao điêu đứng đau thương mãi thế này. Nhân tai chưa xong lại thiên tai, thảm hoạ Formosa vẫn còn nguyên đó, dân tôi mấy tháng nay chợ búa tiêu điều có bán cũng chả ai dám mua kiếm được một đồng chảy máu mắt…. Vậy mà tối qua cái thằng đầu bạc mắt gian nó vẫn lên tivi cao giọng bàn về cái văn kiện mả mẹ của nó, bàn về suy thoái chỉnh đốn cái đảng quần què này. Nó chẳng hề một lời nhắc tới đồng bào miền Trung”.
FB Nguyễn Lân Thắng, chỉ có một thông báo ngắn gọn:

“Lên đường… miền Trung ơi chờ nhé…”.

Lúc này là 11 h đêm, xe anh đang hối hả lăn bánh tiến vào miền Trung.
Fb Dũng Mai, chiều nay đang truyền dịch, cũng chỉ mong cho đỡ mỏi mệt để lên đường.

“Ruột gan nóng như lửa đốt trước những hình ảnh ngập lụt ở Quảng Bình, Hương Sơn Hà Tĩnh…mà những Fbker bè bạn gửi về.

Phải làm gì lúc này để giúp đồng bào miền Trung, nơi bà con đang sống trong cảnh màn trời chiếu đất, tài sản mất hết, đói và rét nữa?
Tôi nghĩ đến một chuyến cứu trợ cấp tốc của nhóm MAI info hoặc gửi tiền để anh em nhóm Áo Tơi của thày  Lê Quốc Châu  và nhóm VÌ HƯƠNG SƠN của thày  Trần Đình Trợ  – là những người có tấm lòng lại đang sống và làm việc Thiện tại  miền Trung, đem tới chăn màn, quần áo, thực phẩm cho đồng bào của tôi trong đó.
Mọi người đều nóng như hơ khiến tôi chợt nhớ đến nội dung bản tin ngăn ngắn (“Những Tân Bộ Trưởng Là Con Em Hà Tĩnh”) đọc hồi đầu năm:
Người Hà Tĩnh không chỉ vinh quang bởi các Bộ trưởng, tư lệnh ngành mà Hà Tĩnh còn được biết đến là tỉnh có nhiều ủy viên Trung ương nhất trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, với số lượng 16 người…
Chưa thấy có “động thái” gì từ những nhân vật đã mang lại “vinh quang” cho dân Hà Tĩnh, nơi mà ai cũng biết là quê hương của cụ Phan Đình Phùng – tác giả của hai câu thơ nổi tiếng:
Dân đói kêu trời vang ổ nhạn
Quân gian dậy đất tựa đàn ong
© Tưởng Năng Tiến