Vũ Thất

Bảo Bình 1

Vụ xâm phạm cờ vàng tại Úc, sản phẩm què quặt của nền giáo dục cộng sản

Thông tin từ cộng đồng Việt Nam tại Úc cho biết, một du học sinh từ Việt Nam tên là Dương Đức Thịnh đã giật lá cờ vàng ba sọc đỏ của cộng đồng Việt Nam tại một nơi công cộng, thuộc thành phố Sidney, đạp lên rồi lớn tiếng mắng những người Việt treo lá cờ này là bọn phản động.

Mời xem clip đang lan truyền trên mạng:

Cộng đồng người Úc gốc Việt đã phản ứng mạnh mẽ, Dương Đức Thịnh bị cảnh sát bắt về đồn, trường trung học nơi cậu ta đang học ra lệnh cấm cậu ta đến trường trong một thời gian. Khả năng cậu ta bị trục xuất về Việt Nam là rất lớn, với tội xâm phạm tài sản người khác.

Dương Đức Thịnh là một thanh niên, chắc chắn thuộc gia đình có tiền của mới được đi du học tại Úc. Chắc chắn cậu ta không thuộc nhóm người Việt ở những “vùng sâu vùng xa”, đến nỗi không biết rằng lá cờ vàng là một biểu tượng thiêng liêng của một cộng đồng có cùng tiếng nói với cậu ta. Anh ta biết lá cờ đó thiêng liêng với một cộng đồng, và vì biết cho nên cậu ta cố tình chà đạp lên nó.

Dù biết hay không biết thì Dương Đức Thịnh chính là kết quả của nền giáo dục què quặt của chế độ Cộng sản Việt Nam nói chung, là kết quả của kiểu tuyên truyền chính trị ma mãnh của tuyên giáo Cộng sản nói riêng. Và tôi không cho rằng, nhóm thanh thiếu niên ngu ngốc như Dương Đức Thịnh ở Việt Nam là hiếm.

Xin nêu một số đặc điểm của nền giáo dục này, cũng như tuyên truyền của tuyên giáo của Đảng, có liên quan đến sự kiện này.

Đảng CSVN chủ tâm xóa bỏ lịch sử không có lợi cho họ, xóa bỏ mọi thứ có liên quan đến lịch sử của miền Nam Việt Nam, các giá trị văn hóa, giáo dục… của chế độ Việt Nam Cộng hòa đều bị phỉ báng, chà đạp. Lịch sử đã được “bên thắng cuộc” viết lại với lằn ranh Ta – Địch, Quốc – Cộng…

Giáo dục của chế độ CSVN không dạy học sinh hướng thiện, nhân bản, mà nhấn mạnh vào bạo lực, với lý thuyết đấu tranh giai cấp. Vì lý thuyết này, con người trong xã hội thời cộng sản được kích động qua hành vi bạo lực, núp dưới những chiêu bài như là “cách mạng triệt để”, “bạo lực cách mạng”, dạy con người thù hận, thay vì yêu thương…

Chính vì ngụp lặn trong nền giáo dục đó, đã khiến cho Dương Đức Thịnh nghĩ rằng việc làm của cậu ta là đúng đắn, là chính nghĩa, cho nên cậu ta hết sức tự tin để thực hiện nó.

Xem lại sách giáo khoa thời Cộng sản, có thể thấy mối căm thù đã được đưa vào những trang sách để dạy học sinh như làm toán bằng cách đếm xác lính Mỹ, hay cách tuyên truyền gọi địch thủ bằng “thằng”,… thì hành động của Dương Đức Thịnh không có gì đáng ngạc nhiên, mà là kết quả tất yếu.

Giáo dục dưới chế độ cộng sản độc tôn một quan điểm duy nhất, đó là quan điểm của Đảng cầm quyền, và nó phủ nhận tất cả những ý kiến khác, phủ nhận cả những cộng đồng khác. Những con người thoát thai từ sản phẩm giáo dục cộng sản khi tiếp xúc với xã hội dân chủ đa dạng ở phương Tây, hoặc là bối rối, nếu còn biết suy nghĩ, hoặc là dẫn đến những hành động què quặt và ngu xuẩn như hành động của Dương Đức Thịnh.

Từ quan điểm đấu tranh giai cấp, con người trong chế độ cộng sản không còn bị ràng buộc bởi một cái khung đạo đức nào, mà chỉ nhằm đạt đến mục đích, bất kể phương tiện nào. Có thể suy đoán rằng, hành động của Dương Đức Thịnh, theo suy nghĩ của cậu ta, sẽ ghi một dấu son vào lý lịch của mình trên con đường hoạn lộ sau này với Đảng Cộng sản.

Quan điểm “mục đích biện minh cho phương tiện” của Đảng Cộng sản và cơ quan tuyên giáo tuyên truyền của nó, dẫn đến hiện tượng quái dị trong vài năm qua, là các video trên mạng xã hội chia sẻ tin vịt từ Mỹ, dân chúng trong nước được phép xem một cách thoải mái, vì những video này làm cho người dân Việt Nam hoài nghi nền dân chủ Mỹ. Trong khi đó, những ý kiến phản biện xã hội cũng qua video, lại bị tuyên giáo kiểm duyệt gắt gao.

Trong bài trả lời phỏng vấn BBC Việt ngữ nhân ngày 30/4, Tiến sĩ Phương Nguyễn từ Mỹ, cho biết, ông được một tờ báo trong nước đề nghị viết về những người Mỹ gốc Việt thuộc thế hệ trẻ đang gắng sức duy trì văn hóa của cộng đồng người Việt trên đất Mỹ. Bài viết của ông tiến sĩ Phương Nguyễn không được đăng vì tờ báo Việt Nam nói rằng, những người Việt trong bài là những nhân vật “nhạy cảm”.

Đó là sự không chấp nhận người khác của chế độ toàn trị và nền giáo dục tuyên truyền làm linh hồn của nó.

Và đó là một linh hồn què quặt.

Jackhammer Nguyễn (baotiengdan.com)

Vinfast đâu có méc công an, mà họ sai bảo công an làm việc

Một khách hàng mua xe hơi của Vinfast, sau một thời gian sử dụng, đã than phiền về lỗi của xe, làm mất uy tín công ty. Công an bèn “làm việc” ngay với khách hàng này, như là một vụ án an ninh quốc gia hay là một vụ án hình sự, rất kinh hoàng. Người ta cho rằng Vinfast đã méc công an.

Tạp chí Luật khoa gọi chuyện méc công an đó là một loại văn hóa của xã hội Việt Nam hiện nay.

Tôi cho rằng Vinfast không méc công an, mà là sai bảo công an, và đây không phải là văn hóa, mà là một định chế mang tính hệ thống.

Các viên công an phường

Nếu bạn sống ở Việt Nam vài năm, trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến nay, bạn có đủ kinh nghiệm để không phải ngạc nhiên về hình ảnh các nhân viên công an vào ra các doanh nghiệp, dù đó là một tiệm chạp phô ở góc phố, một cửa hàng sang trọng trên đường Đồng Khởi, một “tổ hợp” sản xuất xà bông rẻ tiền ở xã, hay một công ty vận tải… Tất cả những doanh nghiệp tôi vừa kể đều là tư nhân và công an dĩ nhiên là người của nhà nước.

Các viên công an vào ra những chốn nói trên để làm gì? Họ vào đó để “nắm bắt quần chúng”, tức là tạo mối quan hệ với doanh nghiệp. Họ là “công an” mà, tức là an ninh công cộng, họ có nhiệm vụ giữ gìn an ninh; thế nhưng, ai tinh mắt sẽ thấy họ ra vào có lịch hẳn hoi và nếu để ý kỹ hơn nữa, bạn có thể thấy họ đi ra… với bàn tay đút túi quần!

Doanh nghiệp chính là nguồn thu của họ. Và ngược lại họ sẽ bảo vệ cho doanh nghiệp, hay nói chính xác là “bảo kê”. Ngoài công việc chính, lãnh lương nhà nước, công an ở Việt Nam còn kiêm thêm nghề “bảo kê” cho các doanh nghiệp. Và thu nhập từ công việc phụ này đôi khi còn cao hơn thu nhập từ việc chính.

Thường đây là các viên công an địa phương, công an phường, có khi cấp quận, nằm trong hệ thống công an trị, hay toàn trị bao trùm mọi lãnh vực đời sống của người dân Việt Nam. Nhưng hệ thống này không chỉ có công an quận, phường, hay công an sát vách nhà bạn ở “tổ dân phố”, mà có cả các nhân vật chóp bu là các viên công an rất nổi tiếng, như là Nguyễn Tấn Dũng, Phạm Minh Chính, Trần Đại Quang… chưa kể loại tép riu như Thượng tá tình báo Vũ “nhôm”.

Nếu bạn hiểu rõ mối quan hệ … đút túi quần của các viên công an cấp thấp và các doanh nghiệp mà tôi vừa kể, thì bạn sẽ không ngạc nhiên gì hết về chuyện công ty Vinfast “méc công an” vừa rồi.

Với việc bảo kê của công an ở cấp phường thì ta sẽ thấy các viên công an tay đút túi quần, ở cấp phục vụ cho Vinfast thì phải hoành tráng hơn chứ!

Từ “thanh gươm và lá chắn” đến bảo kê

Các chính quyền độc đảng như Cộng sản Việt Nam không giấu giếm rằng, lực lượng công an là xương sống của chế độ. Cách đây vài năm, có thông tin vô tình tiết lộ từ chính phủ Bắc Kinh, cho thấy ngân khoản hàng năm dành cho Bộ Công an nước này, cao hơn cả quân đội. Tức là bảo vệ chế độ tốn nhiều chi phí hơn bảo vệ an ninh quốc gia. Ở Việt Nam người ta không biết chính xác các con số này là bao nhiêu, nhưng khả năng ngân sách dành cho Bộ Công an cũng vô cùng lớn.

Thế rồi chủ nghĩa tư bản tới, đô la Mỹ tới và được Đảng chấp nhận, được chế độ chấp nhận, và rồi công an phải bảo vệ chủ nghĩa tư bản, bảo vệ đô la Mỹ là đúng rồi!

Thật ra, câu chuyện Vinfast “méc công an” vừa là sự thể hiện của chế độ công an trị trong cái gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, vừa là chủ nghĩa tư bản thân hữu (crony capitalism). Đâu phải ai cũng có thể méc công an như Vinfast đâu, mà phải là những chủ nhân ông có quan hệ rộng và cao, chứ chẳng phải loại tầm thường.

Công an thời Đảng trị đã tìm ra được phương cách sống hùng, sống mạnh hiện nay. Một mặt là công an tự tổ chức doanh nghiệp, vừa có doanh nghiệp vừa “làm luật” thì ai chơi cho lại; mặt khác, họ ra sức bảo kê cho các chủ nhân ông “tư bản thân hữu” bồ bịch này.

Mà chủ nghĩa tư bản thân hữu ở Việt Nam đang lên như diều gặp gió. Sự trơ trẽn của chủ nghĩa tư bản bồ bịch này ngày càng lớn, việc bổ nhiệm Nguyễn Hồng Diên, con rể đại gia Trần Văn Sen, làm Bộ trưởng Bộ Công thương, việc Vinfast “méc công an”, thật ra là sai bảo công an, là biểu hiện cho sự trơ trẽn đó.

Vingroup, là công ty mẹ của Vinfast, đi từ chỗ tinh vi như thao túng bộ máy truyền thông nhà nước, rút những bài báo “bất lợi” cho mình, “vận động” các “chuyên gia” viết bài có lợi cho mình, đến chỗ dùng công an như đầy tớ. Chỉ cách đây vài năm, phụ huynh học sinh ở một trường học do Vingroup làm chủ ở Hà Nội, bị công an “làm việc” vì đã dám phàn nàn về trường này.

Thời ông thủ tướng công an Nguyễn Tấn Dũng còn huy hoàng, báo chí Việt Nam hết sức ca ngợi mong muốn thực hiện mô hình Chaebol của Hàn Quốc ở Việt Nam. Chaebol là mô hình mà các đại tập đoàn kinh tế, các nhà tài phiệt giữ vai trò chính trị, như tập đoàn Hyundai, Daewoo… bên Hàn. Nhưng “đồng chí X” chưa kịp thực hiện giấc mơ Chaebol Việt Nam thì đã phải “về vườn làm người tử tế”. Các “quả đấm thép” của thủ tướng hóa ra là các ổ tham nhũng, liên tục đổ bể như Vinashin, Vinalines, Tập đoàn Dầu khí VPN, Gang thép Thái Nguyên…

Mô hình Cheabol Hàn Quốc cũng phải đối đầu với những vụ nhũng lạm của các tập đoàn Daewoo, Hyundai, Samsung,… nhưng Hàn Quốc đã thoát khỏi chế độ độc tài để xây dựng được các định chế độc lập, kiểm soát quyền lực có hiệu quả. Các tay tư bản bồ bịch, cả các chính khách cao cấp nhất cỡ tổng thống cũng phải xộ khám.

Với sự cai trị độc đảng tại Việt Nam, mà xương sống của nó là chế độ công an trị, công an bảo kê, những chuyện trơ trẽn như Vinfast sẽ còn xảy ra nhiều trong tương lai.

Và đương kim thủ tướng Việt Nam cũng là một ông công an đó!

Jackhammer Nguyễn (baotiengdan.com)

Về ngày 30/4

Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4 Lần Thứ 46 Năm 2021


Vào lúc 11:00am Chủ Nhật ngày 25/4/2021, tại tượng đài Đức Trần Hưng Đạo, 1111 Story Rd., San Jose, một số hội đoàn phối hợp tổ chức Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4 lần thứ 46. Có hàng trăm đồng hương và các tổ chức hội đòan tham dự

Người ta ghi nhận có Đại Tá HQ Trần Thanh Điền cố vấn Liên Hội Cựu Quân Nhân Bắc Callifornia, Ông Tạ Đức Trí Thị trưởng Westminter, BS Phạm Đức Vượng Chủ tịch Tập Thể Cựu Chiến Sĩ VNCH, cô Vân Lê Ủy Viên Giáo Dục Học Khu East Side, Ông Trần Chánh Tùy Hội Nha Trang, Ông Trần Quốc Phiệt Hội Quảng Trị, Ông Nguyễn Văn Dũng Hội Quảng Ngãi, Ông Nguyễn Hữu Nhân Liên Trường Sĩ Quan Trừ Bị, Thiếu Tá Võ Văn Sỹ Liên Trường Sĩ Quan Trừ Bị, Ông Lê Đình Thọ TTK Liên Hội Cựu Quân Nhân, Thiếu Tá Lôi Hổ Đặng Ánh, Ông Lại Đức Hùng TTK Liên Hội Người Việt Bắc Cali., 
Ông Hà Đình Huy Học Viện CSQG, Ông Trương Ngọc Mỹ Hội CSQG, Ông Nguyễn Thanh Lương Hội Thủy Quân Lục Chiến, Ông Trần Song Nguyên Hội Biệt Động Quân, Ông Nguyễn Hùng Hội Thiết Giáp, Ông Trần Gia Đắc Hội Quân Cảnh, Ông Mai Khuyên Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, Bà Ngọc Bích Hội Người Việt Cao Niên Vùng Vịnh, Ông Lê Trung Khương Ban Chấp Hành Việt Nam Quốc Dân Đảng, TS Nguyễn Hồng Dũng Ban Chấp Hành Việt Nam Cộng Dân Đảng, Ông Nguyễn Trung Cao Ủy Ban Liên Kết Đấu Tranh Dân Chủ Nhân Quyền cho Việt Nam, Ông Đoàn Văn Lập Ủy Ban Yểm Trợ Đấu Tranh Cho Việt Nam, Bà Nguyễn Thị Nguyệt Hội Nữ Quân Nhân, Ông Đặng Long Vietnamese American For Freedom, Bà Loan Nguyễn Hội Phụ Nữ, Đoàn Hậu Duệ Sacramento, Đoàn Thanh Niên Cờ vàng, Đoàn Thanh Niên Đa Hiệu, các Hội Đoàn cựu quân nhân Hải Lục Không Quân, các Sư Đoàn Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh, Binh Chủng Lôi Hổ, BĐQ, ND, TQLC, LLĐB, HQ… các hội đoàn Ái Hữu Đồng Hương, và các cơ quan truyền thông báo chí: Việt Today, VieTV, Nét Việt, SBTN, Cali Today, Thằng Mõ, Đời Mới, Đài Cư An Tư Nguy, Nàng Thế Kỷ 21 Magazine, Mõ San Francisco, Nhìn ra Bốn Phương…v.v.

Lễ Chào Cờ Khai Mạc bắt đầu với nghi thức rước Quốc Kỳ Việt Mỹ, do Hội Biệt Động Quân đảm trách, vào vị trí hành lễ. Lễ Chào Quốc Kỳ Việt Mỹ do Ông Hoàng Thưởng điều khiển, Ca sĩ Jenny Đan Anh hát Quốc Ca Việt Mỹ. Sau đó là Lễ Niệm Hương trước Bàn Thờ Tổ Quôc. Cụ Nguyễn Ngạc chủ lễ cùng các quý vị: Ông Trần Thanh Điền, Ông Phạm Đức Vượng, Ông TT Tạ Đức Trí…v.v.

Sau đó là phần truy điệu và đọc chúc văn GS Nguyễn Châu phụ trách. Lễ Dâng Hương và đặt vòng hoa trước đài Tổ Quốc Ghi Ơn, tưởng niệm quý vị tướng lãnh tự sát vào ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Tiếp theo sau phần nghi lễ là phần phát biểu cảm tưởng của Ban Tổ Chức và quý vị quan khách: BS Phạm Dức Vượng, Đại Tá Trần Thanh Điền, Thị Trưởng Tạ Đức Trí, Ông Lê Đình Thọ, Ông Mai Khuyên, Ông Trần Quôc Phiệt, cô Vân Lê, Ông Nguyễn Trung Cao, Ông Đoàn Văn Lập…và cuối cùng là hậu duệ VNCH, cô May Nguyễn.

Trong phần phát biểu của mình, mỗi vị đều có một cái nhìn về ngày 30/4/75, nhưng tựu trung vẫn là nhớ đến nỗi đau thương mất mát, những cựu quân nhân bị tù đày sau năm 1975, những gia đình Việt Nam bỏ mạng trên con đường vượt thoát bằng đường biển đường bộ vì đi tìm tự do …v.v. Trong phần phát biểu của mình, cô May Nguyễn không chỉ nhắc đến quá khứ, cô còn nhìn về tương lai với những nhận định khá rõ ràng là tiếp tục con đường đấu tranh của cha ông, của thế hệ đi trước; May Nguyễn xác định “giải thể chế độ độc tài độc đảng của Việt cộng tại Việt  Nam” để đem lại dân chủ, nhân quyền cho nước Việt Nam.Cuối cùng là văn nghệ đấu tranh do Biệt đoàn Văn Nghệ Gio Linh đảm trách. Chương trình kéo dài đến 3:00pm.

Lê Bình (baocalitoday.com)

Khi người Cộng sản bị lật tẩy

Đỗ Ngà

20-4-2021

Biếm họa về bầu cử. Nguồn: Cảnh sát chính tả

Ngày 29/3/2021 ông Nguyễn Huy Hùng, 38 tuổi bị Thanh tra Sở Thông tin và truyền thông TP Hà Nội phạt 7,5 triệu đồng vì “tung tin thất thiệt” về bầu cử. Nguyên nhân là ngày 17/3/2021, ông Hùng “dám cả gan” đăng trên nhóm Zalo có tên là “Đô Thị Nghĩa Đô” với nội dung “Bầu hay không bầu thì có khác gì nhau đâu các bác? Người ta sắp xếp hết rồi…”.

Đúng là ông Nguyễn Huy Hùng nói “sai sự thật” thật. Thực ra bầu bán ở trong ĐCS Việt Nam không phải là “sắp xếp” mà là đấu nhau chí tử mới có được chiếc ghế.

Để phe Hà Nội có được 20 ủy viên trung ương đảng thì ông Nguyễn Phú Trọng lập nên cái lò trước đó đến 5 năm và phải cố gắng đập cho tơi bời “bọn Miền Nam” và cả những bọn nào dám tranh giành với phe Hà Nội của ông.

Để có “suất đặc biệt” thì ông cũng dùng “cái lò huyền thoại” đập cho vỡ mồm đứa nào dám phản đối “suất đặc biệt của tao” đấy chứ. Đấy! Ổng đấu điên cuồng, ổng đấu sống chết mới có thắng lợi chứ có ai sắp cho ổng đâu?! Rõ ràng là ông Nguyễn Huy Hùng đã nói sai rồi.

Để có chức chủ tịch nước thì ông ủ mưu cũng ngót 3 năm mới tiễn được Trần Đại Quang về gặp Bác Hồ chứ có phải ai cho ông đâu? Ông tự nỗ lực ấy chứ có sắp xếp đâu mà bảo “Người ta sắp xếp hết rồi?!”.

Rõ ràng là ông Hùng quá sai rồi nên bị phạt là phải. Công lao người ta ủ mưu, tìm chuyên gia vừa biết đầu độc vừa biết cài cắm rồi thực hiện thật êm thấm sao cho nạn nhân không hay biết. Công lao như thế mà sao ông Hùng lại phủ nhận chứ? Đúng lắm! Ông bị phạt 7,5 triệu đồng là nhẹ đấy ông Hùng ạ.

Ngày 13/4 công an tỉnh Bắc Giang lại phạt một thanh niên “tung tin thất thiệt” rằng, “Công lý chỉ là nghệ sĩ hài”. Thực sự nếu gọi đích danh “Thần công lý” ở xứ Việt Nam mà anh này gọi là “diễn viên hài” thì đúng là xuyên tạc thật. Đúng ra phải là “diễn viên ác” chứ không phải diễn viên hài.

Ví dụ như vụ án Hồ Duy Hải, công an bức cung nghi can, sau đó ra chợ mua vật chứng để tạo vật chứng sao cho khớp với lời khai và tạo nên một bộ “hồ sơ điều tra” hoàn chỉnh. Dựa vào thứ đó, từ tòa sơ thẩm, phúc thẩm và đến giám đốc thẩm đều quyết tuyên an tử hình bị can thì đó là tột cùng của tội ác chứ “hài” cái nỗi gì?

Hay vụ Đồng Tâm vẫn thế, nửa đêm kéo quân vào nhà người ta hành quyết, sau đó tóm người thân của họ rồi lôi cổ ra tòa tuyên ghép thêm 2 án tử nữa thì đó là tột cùng tội ác chứ “hài” gì đây? Ông này nói sai, bị phạt 7,5 triệu đồng là phải.

Trò sơn đông mãi võ là hình thức lừa gạt lòng tin người dân để móc túi họ. Khi bị phát hiện thì đám lừa gạt này sẽ tấn công phủ đầu như muốn “ăn tươi nuốt sống” người nào dám lật tẩy chúng. Cách đây khoảng 20 năm, khi mà xe đò Bắc Nam chất lượng cao chưa có, thì đám lừa đảo bán thuốc đông y trên các chuyến xe lộng hành y một bài như thế. Chúng ung dung lừa đảo nạn nhân và sẵn sàng tấn công những ai dám lật tẩy chúng. Bọn này rất nguy hiểm, từ hành khách đến nhà xe đều sợ chúng.

Bầu cử quốc hội lâu nay vẫn được người dân cho rằng, đó là vở kịch. Tuy nhiên, nếu đem so sánh với những nhà làm kịch thì có vẻ như không đúng lắm. Bởi vì bản chất của kịch là mua vui và công khai cho mọi người, những diễn viên họ không hề giấu nghề diễn của họ.

Về bản chất họ không gạt người dân. Tại các nhà hát kịch, người ta thường thông báo cho khán giả rằng “hôm nay chúng tôi diễn vở kịch bla bla bla…”. Đấy! Họ trung thực thế đấy chứ họ đâu có gian, và họ hoàn toàn không ác và không hung hăng tấn công người nào nói họ “diễn”.

Như vậy, rõ ràng, trò bầu cử của ĐCS là trò lừa đảo lưu manh mang bản chất của đám sơn đông mãi võ bất lương chứ nó không mang bản chất của những kịch sĩ. Lo sợ trò bầu cử lừa gạt bị móc mẽ trước toàn dân, mới đây đảng đã mở chuồng cho Tô Lâm nhe răng gầm gừ sẵn sàng nhảy bổ vào những ai dám lên tiếng bóc mẽ trò lừa gạt này.

Chưa hết, để phụ họa với Tô lâm, “ông tướng bị bẻ nanh” Đỗ Bá Tỵ cũng quen thói võ biền nhảy ra khỏi chuồng nhe răng gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống nhân dân.

Ảnh chụp màn hình hai bài báo Tuổi Trẻ

Là người dân, hãy để cho những kẻ này điên cuồng hành động và chúng ta ngồi đấy mà quan sát. Một khi bọn này càng hung hăng thì điều đó chứng tỏ, những tiếng nói lật tẩy trò bầu cử là hoàn toàn chính xác.

Con thú dữ khi bị chọc đúng huyệt thì nó càng hung hăng và càng tỏ ra nguy hiểm. Việc mở cửa chuồng suỵt cho Tô Lâm và Đỗ Bá Tỵ nhảy bổ vào nhân dân thì đấy là hành động tự thú theo kiểu “lạy ông tôi ở bụi này” của ĐCS.

_____

Tham khảo:

https://tuoitre.vn/tung-tin-that-thiet-ve-bau-cu-tren-nhom-mang-bi-phat-7-5-trieu-dong-20210329190400552.htm

https://vtc.vn/bi-phat-7-5-trieu-dong-vi-len-facebook-xuyen-tac-cong-ly-chi-la-nghe-si-hai-ar606427.html

https://tuoitre.vn/pho-chu-tich-quoc-hoi-do-ba-ty-kien-quyet-dau-tranh-voi-hanh-dong-pha-hoai-bau-cu-20210419182957086.htm

https://tuoitre.vn/dai-tuong-to-lam-lam-viec-voi-quang-nam-ve-bau-cu-khong-de-phat-sinh-diem-nong-20210419191206118.htm

Còi cọc tư tưởng, còi cọc thẩm mỹ, còi cọc nhân cách, còi cọc toàn tập

Nhân việc văn đàn đang dậy sóng về việc mấy ông quan chức văn nghệ trao giải cao cho một bài thơ rất nhạt, rất thường, dưới mức trung bình cả về tư tưởng, nghệ thuật ngôn ngữ, tôi muốn nói về sự thay đổi cần có trong chính sách đối đãi với mấy cái hội văn nghệ ở đất nước này.

Các vị lãnh đạo cần nhìn ra một thực tế là vai trò của mấy cái hội ấy đã qua rồi. Thời chiến tranh thì còn cần mấy ông nhạc sỹ, nhiếp ảnh, nhà văn vào chiến trường để sáng tác theo chỉ đạo chính tri.

Thời ấy người sáng tác có cảm hứng thật và những tác phẩm của họ có tác dụng động viên, định hướng và phủ ánh sáng đẹp đẽ lên hiện thực chết chóc của chiến tranh thật.

Nhưng giờ là lúc cần thay đổi. Thử hỏi suốt mấy chục năm qua, những tác phẩm nào được sáng tác theo định hướng, theo chỉ đạo chính trị có tác dụng lay động tâm hồn con người hay có giá trị nâng tầm tư tưởng, triết học cho người đọc?

Thời thế đã thay đổi và người lãnh đạo cần nhìn ra điều ấy để dùng đồng tiền thuế của dân một cách hiệu quả hơn.

Người sáng tác xưa và nay khác nhau.

Người xưa viết nhạc, vẽ, cầm bút là có cảm xúc và họ có lòng tin tuyệt đối vào con đường đang đi, ngày nay người nghệ sỹ sáng tác đã được mở cửa với tư tưởng, văn hoá quốc tế một cách rộng rãi, họ đã có chính kiến riêng, tầm nhìn của họ đã vượt qua cái khuôn chỉ đạo cứng nhắc.

Người nghệ sĩ đích thực là người sáng tác theo tiếng gọi của con tim, của sự thúc ép nội tại của tư tưởng chứ không sáng tác theo chỉ đạo của ai cả. Họ thấy cái gì đẹp thì ca ngợi, thấy xấu thì chê.

Nếu vị nào còn cãi sự cần thiết phải có mấy cái hội kia thì hãy chỉ ra một cách cụ thể ích lợi mà họ mang lại cho người dân.

Đành rằng phải có hội nhưng không phải theo cách được bú mớm, chăm bẵm rồi ăn trên ngồi trốc dựa vào tiền thuế của dân như thế. Thay vì tham gia để được cấp tiền sáng tác thì hội viên nào thấy có ích lợi muốn tham gia thì đóng tiền hội phí.

Dù ít nhưng đúng ý nghĩa thì tốt hơn nhiều mà toàn rặt một bọn háo danh bất tài, kém nhân cách.

Người nghệ sỹ khi cầm đồng tiền thuế của dân để sáng tác ấy đã là còi cọc về nhân cách. Đơn giản thôi, sản phẩm anh tạo ra có giá trị thì thị trường sẽ chấp nhận, sẽ trả giá cho anh.

Sáng tác theo chỉ đạo, ấy là còi cọc về tư tưởng, ấy là một dạng thợ thạo nghề, không phải nghệ sỹ.

Còn dựa vào vị thế để trao giải bừa cho những tác phẩm vớ vẩn ấy là độc tài về thẩm mỹ, còn những kẻ vỗ tay hùa theo là một lũ hèn hạ theo đóm ăn tàn.

Hãy nhìn ra bản chất vấn đề mà thay đổi. Đừng dùng tiền thuế của dân vào những trò vô bổ tốn tiền nữa.

Mà các vị hội viên, sao các vị thích mấy cái hội ấy đến vậy? Để khi chết thì có nhiều đại diện các hội đến phúng viếng chăng?

Đoàn Bảo Châu (baotiengdan.com)

Lật tẩy toan tính “tích tiểu thành đại” của Trung Quốc nhằm từng bước độc chiếm Biển Đông

Tiếp sau việc các tàu dân quân biển của Trung Quốc tụ tập ở đá Ba Đầu ở cụm đảo Sinh Tồn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam tản ra, sự kiện các cấu trúc nhân tạo vừa được Philippines phát hiện ở đây đang khiến dư luận lo ngại về âm mưu đằng sau động thái mới này.

Lật tẩy toan tính “tích tiểu thành đại” của Trung Quốc nhằm từng bước độc chiếm Biển Đông ảnh 1


Mối quan ngại từ những cấu trúc nhân tạo phi pháp

Theo Trung tướng Cirilito Sobejana, Tham mưu trưởng Lực lượng vũ trang Philippines, các cấu trúc nhân tạo xây dựng trái phép được phát hiện ở cụm Sinh Tồn trong chuyến bay tuần thám cuối tháng 3 vừa rồi của Philippines. Trả lời đài GMA, ông Cirilito Sobejana cho biết: “Chúng tôi tin Trung Quốc đã xây chúng” và sự việc trên đã được báo cáo lên Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Philippines.

Dù hiện không có thông tin mô tả hình dáng, chức năng cũng như vị trí của những cấu trúc này tại cụm Sinh Tồn nhưng theo các hãng tin CNN (Mỹ) và Philippines Inquirer, các cấu trúc nhân tạo trên xuất hiện gần nơi các tàu dân quân biển của Trung Quốc tập trung trong những tuần gần đây. Philippines khẳng định sự hiện diện của các cấu trúc này là vi phạm luật quốc tế.

Philippines lo ngại bởi những gì đang diễn ra ở cụm Sinh Tồn khiến người ta nhớ lại cách thức mà Trung Quốc giành quyền quản lý bãi đá Vành Khăn và bãi cạn Scarborough từ tay Philippines trước đây. Đầu năm 1995, Trung Quốc điều 7 tàu đến đá Vành Khăn bắt giữ và trục xuất các ngư dân Philippines đang đánh bắt cá tại đây. Sau đó, Trung Quốc cho đặt những cấu kiện hình đa giác trên cọc thép và cắm cờ Trung Quốc, tiếp đó biến đổi chúng thành khu nhà mà Trung Quốc giải thích là để giúp ngư dân trú tránh thời tiết xấu. Thế nhưng, sau đợt tôn tạo vào năm 2015, nay Vành Khăn đã biến thành cả một cơ sở quân sự lớn với đường băng dài gần 3 km.

Với bãi cạn Scarborough, sau cuộc đối đầu căng thẳng kéo dài hơn 2 tháng hồi năm 2012, Trung Quốc về cơ bản đẩy Philippines khỏi khu vực này. Tháng 8-2013, Philippines phát hiện Trung Quốc thả 75 trụ bê tông tại một khu vực ngập nước thuộc Scarborough. Khi Manila cáo buộc hành động lén lút của Trung Quốc là âm mưu khẳng định chủ quyền của mình ở Scarborough, thì Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố: “chúng tôi không hiểu các bạn đang nói gì”, đồng thời nêu lại luận điệu rằng Trung Quốc có “chủ quyền không thể chối cãi” đối với quần đảo Trường Sa và vùng biển xung quanh.

Không chỉ trên thực địa, về mặt tuyên truyền, Trung Quốc cũng tìm cách từng bước buộc dư luận làm quen với những toan tính mà nước này sắp đặt. Năm 2012, Bắc Kinh ngang nhiên cho thành lập “thành phố Tam Sa”, đơn vị hành chính để quản lý Trung Sa (bãi Macclesfield và bãi cạn Scarborough) cùng Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam).

Tháng 8-2020, Trung Quốc tiến thêm một bước nữa khi quyết định thành lập cái gọi là “quận Tây Sa” với trụ sở đặt tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa và “quận Nam Sa” với trụ sở đặt tại đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa. Ngoài quản lý các đảo, đá và thực thể tại hai quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam, chính quyền Tây Sa và Nam Sa còn quản lý các vùng biển xung quanh.

Cũng trong năm 2020, Bộ Dân chính Trung Quốc công bố tên chuẩn và tọa độ của 25 đảo, bãi đá ngầm cùng 55 thực thể địa lý dưới đáy biển ở Biển Đông. Các tọa độ mà Bắc Kinh thông báo cho thấy phần lớn những thực thể dưới đáy biển này nằm trong và xung quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Danh sách 80 thực thể nói trên được đăng trên website của Bộ Dân chính Trung Quốc mà theo một chuyên gia thuộc Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc), việc đặt tên trên phản ánh cái gọi là “chủ quyền của Trung Quốc đối với những thực thể trên”.

Biến cố nhỏ có thể dẫn tới thay đổi lớn trong khu vực

Những hành động nêu trên nằm trong toan tính của Bắc Kinh từng bước hiện thực hóa yêu sách chủ quyền cũng như hợp thức hóa việc chiếm giữ các đảo, đá, thực thể trên Biển Đông. Chiến thuật mà Bắc Kinh áp dụng là “tích tiểu thành đại”, chia nhỏ hành động của mình (thường là lén lút) để không bị dư luận chú ý trước khi ra tay vụ lớn. Việc làm này tương tự như hành động ăn xén gian lận trong kinh tế, ví dụ như gắn chip vào cây xăng ăn gian một vài ml khi khách đổ xăng, hay nhân viên ngân hàng lén lút làm tròn đơn vị xu lẻ trong giao dịch rồi chuyển sang một tài khoản khác để biển thủ. Hoặc như hành động âm thầm tấn công nhiều máy tính riêng lẻ để đến một lúc nào đó đánh sập cả hệ thống đã bị nhiễm bẩn.

Bằng cách chia nhỏ hành động, thậm chí đến mức vụn vặt, không để bất cứ hành động riêng lẻ nào nghiêm trọng đến mức đủ lý do để khơi mào chiến tranh, chiến thuật “tích tiểu thành đại” của Bắc Kinh khiến đối phương rơi vào thế kẹt, không biết đáp trả thế nào bởi lo ngại sẽ khiến tình hình căng thẳng. Các nước có liên quan bên ngoài khu vực cũng khó có thể áp dụng hành động can thiệp mạnh trước những biến cố nhỏ như vậy. Tuy nhiên, nếu được tích lũy dần dà theo thời gian và trên không gian đủ lớn, những hành động “cỏn con” đó có thể cộng dồn thành một thay đổi căn bản trong khu vực.

Đi liền với các hành động trên thực địa là chiến dịch tuyên truyền rằng “Biển Đông thuộc về Trung Quốc từ thời cổ đại”. Chẳng hạn, trong Văn kiện lập trường (Position Paper) mà Trung Quốc đệ trình lên Tòa trọng tài thường trực (PCA) tại La Hay năm 2014 trong vụ kiện của Philipines với Trung Quốc, Bắc Kinh tuyên bố: “Các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông có từ hơn 2.000 năm trước. Trung Quốc là quốc gia đầu tiên phát hiện, đặt tên, thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên của các quần đảo ở Biển Đông và là nước đầu tiên liên tục thực hiện quyền chủ quyền đối với chúng”.

Tất nhiên, lập luận sai lầm của Trung Quốc đã bị tòa PCA bác bỏ. Phán quyết của tòa PCA đã khẳng định rõ: “Tòa nhận thấy dù trong lịch sử, những người đi biển cũng như ngư dân từ Trung Quốc cũng như từ các nước khác đã sử dụng các đảo tại Biển Đông nhưng không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy về mặt lịch sử Trung Quốc đã chỉ một mình thực hiện việc kiểm soát vùng nước này cũng như tài nguyên tại đây”

Hành động “gặm nhấm” chủ quyền các nước khác ở Biển Đông của Trung Quốc cũng vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), văn kiện mà Trung Quốc đã ký với các nước ASEAN tháng 11-2002. Điều khoản trong DOC đã nêu rõ: “Các bên liên quan cam kết tự kiềm chế không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng các tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định, trong đó bao gồm cả việc không tiến hành các hoạt động đưa người đến sinh sống trên các đảo, bãi đá ngầm, bãi cát ngầm, dải đá ngầm và những cấu trúc khác hiện chưa có người sinh sống và xử lý các bất đồng một cách xây dựng”.)

Hoàng Sơn (hit.vn)

Vì đâu nên nỗi?

Ngày 18/2/2021, báo VnExpress đăng bài: “Nam sinh tát cô giáo đòi điện thoại – Vì đâu nên nỗi”. Đọc bài báo này, ai cũng lên án hành động côn đồ của nam học sinh đối với cô giáo đang dạy mình. Mọi người đều lắc đầu, ngán ngẩm.

Chuyện xảy ra năm ngoái, ngày 25/5/2020, nhưng rõ ràng là, vụ việc phản ảnh thực trạng của nền giáo dục ở Việt Nam. Lên án thì lên án, ngán ngẩm thì ngán ngẩm, nhưng không ai ngạc nhiên cả, bởi đây không phải là lần đầu và cũng không phải là lần cuối xảy ra tình trạng nầy.

Lâu nay, chuyện “đánh qua, đánh lại” trong nhà trường hay nói văn hoa là “bạo lực học đường”, xảy ra như “cơm bữa”. Người ta đọc/ nghe đến quen tai ,những tin tức như: ‘Học sinh lớp 11 đánh thầy giáo nhập viện cấp cứu; hay ‘Nữ sinh lớp 6 tử vong sau khi bị cô giáo đánh vì không thuộc bài… Về phía nhà trường, giáo viên còn nghĩ ra những hình phạt phản giáo dục như, phạt học sinh uống nước giẻ lau bảng. Phụ huynh cũng không vừa, đến trường đánh, bắt giáo viên quỳ xin lỗi

Có người nói rằng, thực trạng xã hội băng hoại đâu phải chỉ bấy nhiêu, đâu phải chỉ riêng ngành giáo dục. Xin đơn cử một số lĩnh vực:

– Về văn hóa tín ngưỡng: Thầy tu, thầy giáo, thầy thuốc, từ lâu được thiên hạ kính trọng. Giới tu sĩ lẽ ra rất có uy tín và cả trách nhiệm trong việc giáo dục đạo đức cho con người. Hiện tại, các cơ sở thờ tự được xây to hơn, hiện đại hơn, tín đồ đi lễ, cúng dường nhiều hơn. Bình thường, tôn giáo phát triển thì đạo đức, thuần phong mỹ tục cũng được phát huy, con người sống lương thiện hơn. Nhưng ngược lại, bây giờ mê tín, dị đoan phát triển mạnh hơn, một số người hành đạo, mượn đạo để làm việc trần tục (tình, tiền). Chùa chiền bị biến thành nơi hối lộ thánh thần.

– Về y tế: Tham nhũng, hối lộ trong ngành y, nâng khống giá thiết bị y tế… diễn ra như cơm bữa. Bình thường đã vậy, khi đất nước đang trải qua cơn đại dịch, các quan tham vẫn tiếp tục ăn trên cơ thể người bệnh, như vụ nâng khống giá máy xét nghiệm Covid-19 ở Bệnh viện Bạch Mai và các cơ quan y tế khác. Tháng 9/2020, báo Tuổi Trẻ đặt câu hỏi: Nâng giá thiết bị y tế: Doanh thu 375 tỉ, bệnh viện chỉ thu 21 tỉ, tiền còn lại đi đâu?

***

Bây giờ, khi thấy học trò đánh thầy cô, người ta than, giáo dục sa dọa, đạo đức xuống cấp, “vì đâu nên nỗi”… Người ta quên rằng, dưới chế độ này, đạo đức sa đọa đến mức con giết cha, vợ giết chồng, anh em chém giết lẫn nhau… đầy dẫy khắp nơi.

Đạo đức trong xã hội xuống tận đáy. Tình cha – con, tình anh – em, máu mủ, ruột thịt mà bị vứt bỏ, thì tình thầy trò là cái thá gì. Đứa con nào chửi cha, mắng mẹ được, thì nó cũng đánh ông thầy, bà cô của nó được. Chúng hành động như vậy, không phải do vô giáo dục, mà do “được” giáo dục theo một thứ đạo đức khác.

Trước đây, thời Việt Nam Cộng hòa, nền giáo dục dưới chế độ cũ, trong chương trình phổ thông có môn “đức dục” hay môn “công dân giáo dục”. Lớp Đệ Nhất (lớp 12) còn có thêm môn “đạo đức học”. Môn “đức dục” dạy cho học sinh biết về hiếu thảo, nhân ái, lịch sự, kính trọng người lớn tuổi…

Các lớp lớn học môn “công dân giáo dục”, là học về quyền lợi, bổn phận của công dân, như dạy về các quyền tự do căn bản: Tự do ngôn luận, tín ngưỡng, cư trú, học hành, làm ăn… Học sinh được dạy, mọi người (dân, quan) đều bình đẳng trước pháp luật. Mọi công dân có quyền ứng cử, bầu cử. Học sinh cũng được học qua các thể chế chính trị (dân chủ, quân chủ, độc tài, phân quyền, tập trung…), các nền kinh tế (tự do, tức kinh tế thị trường; kinh tế chỉ huy, tức kinh tế định hướng) …

Đến thời CSVN, nền giáo dục mới xem giáo dục là công cụ của chính quyền. Về chuyện dạy đức dục cho học sinh thời VNCH, được gọi là “luân lý giáo khoa thư”, thời CSVN đã được thay bằng “đạo đức cách mạng”, dạy học sinh thành “con người mới XHCN”, vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao khoa học kỹ thuật, có tư duy mới, yêu tổ quốc, có lập trường, có tinh thần đấu tranh, phân biệt ta – địch … Ta – địch ở đây, bất kể là ai, dù là cha mẹ hay thầy cô giáo.

Gần đây, người ta nhắc lại “truyền thống văn hóa, tôn sư trọng đạo”, cũng như “luân lý giáo khoa thư” được khơi dậy. Có lần báo chí khen một số học sinh chào người bảo vệ trường, ca ngợi một số học sinh dắt một cụ già qua đường. Họ xem các hành động kia là có văn hóa, đạo đức.

Lẽ ra, những việc như thế phải được xem là bình thường, bởi là con người bắt buộc phải có đạo đức nền tảng, thể hiện qua những hành động đó. Hơn nữa, trước đây trong trường học đều có dạy cả rồi, không có gì mới cả, nhưng bây giờ những hành động như vậy được ca ngợi vì nó hiếm hoi quá, bởi chế độ mới đã đẩy con người xuống chuẩn “bình thường mới”, nên xem chuẩn mực đạo đức trước kia là … phi thường!

***

Chế độ mới cũng phê phán giáo dục ngày xưa “chuộng từ chương”, mục đích “học để làm quan”, nhưng ngày nay họ lại “sao y bản chính”. Muốn nổi danh, muốn học giỏi, đậu cao thì ở đâu, thời nào cũng có, nhưng ngày nay sự háo danh, sính bằng cấp được xem như là “mốt”. Một vị được giới thiệu, ngoài tên họ, kế đến là chức vụ, ủy viên nầy, ủy viên kia, tiếp đến là học vị, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư ngành này, ngành nọ…

Nhân sự trong các cơ quan luôn theo tiêu chuẩn, nhắm tới “lượng” thay vì “chất”, như bao nhiêu người có trình độ đại học, trên đại học, cho nên mới có chuyện “chạy” bằng cấp, mua bán bằng đại học, luận văn tiến sĩ… hoặc theo học tại chức, chuyên tu, để được đứng vào hàng ngũ trí thức, dù bằng cấp không phản ánh đúng khả năng, thực lực của những người nhận bằng. Việt Nam có quá nhiều giáo sư, tiến sĩ, nhưng khoa học kỹ thuật thì quá tệ, chẳng chế tạo được gì để sánh với thế giới.

“Vì đâu nên nỗi”, là câu hỏi, không những cho ngành giáo dục, mà còn là vấn đề chung cho toàn xã hội, hiện chưa thấy những người có trách nhiệm trả lời. Như thường thấy, khi đối mặt với các vấn đề nhức nhối trong xã hội, không một cá nhân nào đứng ra chịu trách nhiệm. Gặp những trì trệ, bất cập, thì họ đổ lỗi cho “cơ chế”, “quy trình”… mặc dù con người tạo ra chúng.Thể chế nào, con người đó. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thừa nhận hồi tháng trước: Nút thắt lớn nhất hạn chế sự phát triển là thể chế. Chỉ khi nào thay đổi thể chế, thì không riêng gì giáo dục, mà các lĩnh vực khác trong xã hội này cũng sẽ thay đổi. Lúc đó, người ta sẽ bớt than vãn “vì đâu nên nỗi nầy”!

Trịnh Khả Nguyên (baotiengdan.com)

Thiên Đường Trong Mắt Ai?

Thiên Đường Trong Mắt Ai?

 Võ Hương Quỳnh

Những ngày cuối năm ở Mỹ, thỉnh thoảng lại có người hỏi tôi, có nhớ quê hương không. Nếu là tôi của những năm trước đây, khi vừa rời xa Việt Nam, có lẽ câu hỏi đó sẽ làm lòng tôi se sắt, như cảm giác bàng hoàng sau những biệt ly, như một nỗi trống vắng mênh mông không thể lấp đầy… Làm sao tôi có thể quên nơi tôi đã sinh ra, quên mái nhà tuổi thơ tôi lớn lên, quên những phố phường tấp nập, quên những miền quê thanh bình, quên gương mặt những người thân yêu, quên những nếp nhăn trên vầng trán suy tư của cha, quên những giọt mồ hôi nhọc nhằn trên áo mẹ, quên những dòng sông vẫn chở nặng phù sa sau mùa bão lũ, quên những cánh đồng đã nuôi lớn khôn tôi?

Edward Said, Frantz Fanon, Homi Bhabha, Stuart Hall đều đã viết về cảm giác chênh vênh, trống trải không thể gọi tên của người xa xứ. Tuy không rơi vào hoàn cảnh buộc phải rời xa quê hương xứ sở như những tác gia đó, tôi cũng không thể dối lòng mình khi chạm vào nỗi nhớ. Dẫu có sải bước giữa đại lộ thênh thang, những toà nhà tráng lệ, được gặp gỡ những tâm hồn lộng lẫy và thưởng thức những dạ tiệc huy hoàng, tôi vẫn thấy tim mình nhói lên khi nghĩ đến quê hương. Tôi đã từng như thế. Vì khi đó, trong lòng tôi vẫn vang lên câu thơ của Đỗ Trung Quân, “Quê hương mỗi người chỉ một / như là chỉ một mẹ thôi” và tôi sợ mình sẽ không còn có nơi để đi về, không thể làm người khi không biết nhớ quê hương. Nhưng càng đi xa, tôi càng cảm nhận được quê hương, trong tim tôi, hiện lên như một bản hoà âm với nhiều cung bậc, màu sắc của thời gian và không gian khác nhau, đa chiều, và khước từ mọi định nghĩa đơn giản về nó.

Quê hương mà tôi bắt gặp ở Little Saigon — quận Cam, một Việt Nam thu nhỏ trong lòng nước Mỹ với 300 ngàn người Mỹ gốc Việt sinh sống, là quê hương trong hoài niệm rất xa của tôi. Bước chân đến Little Saigon, tôi mường tượng đến miền Nam Việt Nam của nhiều thập niên trước. Nếu văn hoá là một dòng sông, có lẽ ở dòng sông đó ở Little Saigon là dòng sông không bao giờ chảy. Một dòng sông đã đóng băng vào lịch sử. Người Việt ở quận Cam mà tôi gặp vẫn giữ vẹn nguyên những nét văn hoá của Sài Gòn những năm trước 1975, từ cách trang hoàng nhà cửa, đến phong cách ăn mặc, mua sắm và ẩm thực. Bước vào khu thương mại Phước-Lộc-Thọ mà tôi cứ ngỡ mình đang lạc vào chợ Bến Thành của thế kỷ trước, với mùi phở, mùi mắm tôm, mùi nhang cúng thần Tài, và âm thanh của tiếng Việt quen thuộc vang lên ở khắp nơi. Ở đó, tôi thấy mình như đang trở về, nhưng không phải với Việt Nam đang cuồn cuộn đổi thay của thì hiện tại, mà là một quê hương ở không gian và thời gian trong quá khứ rất xa.

Vậy đâu là quê hương với thế hệ người Việt lớn lên trên nước Mỹ? khi họ chưa từng biết đến Việt Nam ngoài những câu chuyện kể, từ ký ức đã nhạt phai theo năm tháng mưu sinh nơi xứ lạ quê người của cha mẹ họ? Những người Việt ly hương khiến tôi liên tưởng đến vị thần Janus của thần thoại La Mã với hai đầu nhìn về hai hướng, về quá khứ và hiện tại, về cả hai nơi — là Mỹ và Việt Nam; vì đối với họ, quê hương giờ đây không chỉ còn là một, và sẽ ngày càng trở nên mơ hồ hơn. Ocean Vuong, một nhà thơ trẻ người Mỹ gốc Việt được trao giải thiên tài MacArthur của Mỹ đã viết trong tiểu thuyết đầu tay được xem là bán tự truyện của mình, On Earth We are Briefly Gorgeous (Những khoảnh khắc huy hoàng ngắn ngủi), về nhân vật mẹ, tên là Rose (Hồng), nhưng còn một ý nghĩa khác là Vượt lên. Rosevì loạn lạc nên dang dở việc học hành, khi sang đến Mỹ thì tuổi đã lớn mới bắt đầu học tiếng Anh. Nhân vật chính tên là Little Dog, con trai của Rose kể lại cảnh mẹ mình vật lộn với ngôn ngữ mới: “Sau một tràng lắp bắp và phát âm đầy lỗi, những câu chữ gãy vụn và nghẹn ngào trong cổ họng, sau những bối rối vì nhiều nỗ lực thất bại, mẹ đã đóng sầm quyển sách lại.” Cũng giống Ocean Vuong và thế hệ của anh, những người toả sáng trong cái thế giới không thuộc về cha mẹ mình, nhân vật Little Dog cảm thấy mỗi từ anh đặt bút viết xuống sẽ càng đẩy anh xa mẹ mình hơn, vì đã quá muộn để bà có thể hiểu được ngôn ngữ của con mình. Thật vậy, khoảng cách thế hệ, ngôn ngữ, và tư duy đã khiến cho các gia đình người Mỹ gốc Việt không còn tìm được tiếng nói chung, không chỉ về khái niệm quê hương.

Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vừa qua, đại diện cho hai thế hệ người Mỹ gốc Việt, cựu giáo sư kinh tế của trường Đại học Mỹ (American University) Phạm Đỗ Chí và giáo sư Nguyễn Thanh Việt (Viet Thanh Nguyen)—trường đại học Nam California đã có cuộc tranh luận trên đài Thế giới (The World) về sự khác biệt trong quan điểm chính trị. Trong khi ông Chí một mực ủng hộ và bỏ phiếu cho tổng thống Trump vì cho rằng cả đời ông chưa từng chứng kiến sự kỳ thị chủng tộc ở Mỹ, và những chính sách về kinh tế của Trump khiến ông lạc quan hơn về tương lai của nước Mỹ hậu đại dịch Covid-19, cả con trai (36 tuổi) và con gái (34 tuổi) của ông đều không bầu cho Trump vì tính cách và thái độ kỳ thị phụ nữ của ông ta. Trong khi đó, giáo sư Việt Thanh Nguyễn cho rằng có thể thế hệ ông Chí chưa từng chứng kiến những xung đột sắc tộc, sự nổi dậy của người da đen, và phong trào nhân quyền của Mỹ nên không thể hiểu được rằng để nước Mỹ khôi phục được những giá trị bình đẳng, nhân quyền, và hướng đến một xã hội nhân văn hơn thì cần có những người đứng đầu như Joe Biden. Vì chính từ những phong trào đấu tranh đó thì những người như TS Phạm Đỗ Chí mới được đến nước Mỹ. Giáo sư Nguyễn Thanh Việt khẳng định rằng hàn gắn là một khái niệm không có trong từ điển của tổng thống Trump, nên chỉ có Joe Biden mới có thể hoà giải những chia rẽ và mang người Mỹ lại gần với nhau hơn.

Sự hiếu khách, khoan dung, tình bạn, và lòng trắc ẩn dường như xa lạ hơn đối với những người luôn đặt lợi ích kinh tế trên tất cả. Họ luôn quay cuồng dựng lên các bức tường và biên giới cả về địa lý, chính trị và đạo đức con người. Nhưng đôi khi chúng ta vô tình quên đi lịch sử của chính mình, sự tồn tại của gia đình mình trên một quê hương mới, và giá trị tự do mà mình đang theo đuổi. Vì đơn giản là chúng ta sẽ trở nên ích kỷ hơn khi đã nhận được quá nhiều sự tử tế và bao dung từ người khác và không muốn sẻ chia nó cho bất kỳ ai nữa. Và khi đó, chúng ta đang phản bội lại lý tưởng tự do mà mình đang tôn thờ. Jacques Derrida, một triết gia nổi tiếng người Pháp gốc Algeria đã từng nói, để xây dựng một môí quan hệ tốt đẹp và biến những giấc mơ thành hiện thực, cả hai phía cần phải thương yêu nhau vô điều kiện. Như khi chấp nhận một gia đình khác đến sống chung trong ngôi nhà của mình, không chỉ hai gia đình và còn cả hai cộng đồng của họ đều phải chấp nhận những rủi ro cuộc sống của mình bị xáo trộn, vì cả hai bên đều có thể xâm phạm đến không gian riêng tư của nhau, nhưng không có nghĩa là cần phải đồng hoá hay hoà nhập vào văn hoá, hay không gian của nhau. Những điều mới mẻ kỳ diệu như ngôn ngữ và quy luật sẽ được sáng tạo và nảy mầm từ những sự cọ xát văn hoá đó.

Mỹ Quốc— đất nước xinh đẹp, dù chất chứa trong lòng những nghịch lý, hoài nghi, mâu thuẫn, vẫn luôn bí ẩn và đầy quyến rũ, bởi giá trị cốt lõi của nó là tự do. Một khi giá trị đó bị đe doạ hay xói mòn thì những cuộc đấu tranh để giành lại nó sẽ lại diễn ra. Và khi những người đã tìm được giấc mơ Mỹ cho riêng mình lại muốn tước đoạt giấc mơ của người khác, họ sẽ không thể yên giấc. Những cuộc nổi loạn ở Mỹ vẫn luôn xảy ra vì Giấc mơ Mỹ không dành cho tất cả; bởi vẫn luôn tồn tại những phân biệt về sắc tộc, màu da, giới tính, và tôn giáo; và luôn có  những người đã êm đềm với giấc mơ, trong khi rất nhiều người khác vẫn còn đang thao thức. Và định nghĩa về người Mỹ không đơn giản ở một tấm thẻ xanh hay sở hữu quốc tịch. Khi một ai đó muốn hỏi đi hỏi lại để truy tìm nguồn gốc của bạn sau khi bạn đã tự giới thiệu mình là người Mỹ, thì bạn cần có đủ tinh tế mới có thể nhận ra được sự kỳ thị đầy ẩn ý đó. Những mâu thuẫn nội tại như vậy khiến nước Mỹ luôn phải chuyển mình để mỗi ngày càng mạnh mẽ và tự do hơn. Nếu không còn những nghịch lý, đấu tranh, xung đột đó; nếu tự do và quyền lực sẽ chỉ nằm trong tay của một số người, thì nước Mỹ sẽ trở nên vô cùng tẻ nhạt.

Hiển nhiên, mọi sự đồng điệu đều tẻ nhạt như thế, nếu ta chỉ nhìn thấy thiên đường ở Mỹ qua những bức hình của bạn bè trên Facebook. Những biệt thự khép kín sang trọng, thơ mộng nép mình bên cánh rừng yên tĩnh, với những hàng cây rực rỡ đang mùa thay lá, những thung lũng êm đềm, những dòng sông mơ màng uốn lượn, … sẽ khiến ta khao khát được một lần đặt chân đến Mỹ, được thay đổi cuộc đời, được mơ giấc mơ Mỹ. Nhưng mọi thiên đường đều có những góc khuất buồn hiu của nó. Góc khuất đó là những phận đời trôi dạt như Joseph và người tình của anh ta—hai cuộc đời thang lang tìm đến nhau và tá túc dưới chân cầu trước mặt ngôi nhà nơi tôi từng ở. Chỉ cách nhau một con kênh nhỏ, mỗi ngày tôi đều nhìn thâý họ; và tất cả mọi sinh hoạt của họ đều phơi bày trước cửa số nhà tôi. Cả Joseph và người tình của anh ta đều là người Mỹ trắng. Mỗi ngày, cứ vào khoảng năm giờ sáng, tôi lại nghe tiếng gào thét thất thanh của Joseph, nguyền rủa bạn tình bỏ rơi anh ta để đi về đâu chỉ có Chúa mới biết. Nhưng cô ta đều trở về với anh vào buổi tối. Cả hai người đều không bình thường. Thỉnh thoảng, tôi lại bắt gặp Joseph lang thang ở các khu siêu thị để lục tìm thức ăn thừa trong các thùng rác công cộng, sau đó tha tất cả những gì tìm được về lại chân cầu trên chiếc xe đâỷ hàng của siêu thị. Cô bạn gái của anh thường đứng như người thất thần, áo quần tả tơi, vơi gương mặt rất cô đơn, ở những góc ngã tư đường. Thỉnh thoảng khi tôi từ đại học trở về nhà, lại bắt gặp cô đang ôm lấy cột điện, trên tay cầm một chiếc thẻ và lần lượt quẹt đi quẹt lại trong tuyệt vọng. Có lẽ lúc trước khi còn tỉnh táo, cô đã phá sản hay mất hết tiền trong một canh bạc nào đó, để rồi trở nên điên loạn chăng?

Nước Mỹ trong mắt tôi còn là bàn tay ấm áp tình người của một chủ nhà hàng Việt Nam vẫn chìa ra mỗi tối cho Joseph, trao cho anh ta những tô phở còn lại của Nhà hàng có tên là Ripple of Smiles (Sóng sánh nụ cười) mà ông ấy làm chủ, toạ lạc ngay phía đầu cầu, chênh chếch với túp lều của Joseph. Nước Mỹ là những người hàng xóm già neo đơn, không gia đình, thi thoảng vẫn dạy tôi làm bánh vào mỗi dịp cuối tuần, rồi không bao lâu sau, khi bệnh Alzheimer trở nên trầm trọng hơn, đã không còn nhận ra tôi là ai nữa. Một buổi chiều không lâu sau đó, khi có người đến dọn dẹp lại căn nhà của bà hàng xóm cô đơn— Nancy của tôi, tôi mới biết bà đã ra đi vài hôm trước trong một viện dưỡng lão. Một ông hàng xóm trên 80 tuổi cũng lìa bỏ cuộc đời trong cô độc như thế. Nước Mỹ vẫn còn đó những sinh viên mồ côi, bệnh tật, nợ nần, không nơi nương tựa mà tôi thỉnh thoảng vẫn gặp, và rất nhiều những cảnh đời buồn bã khác. James Baldwin, một nhà văn, nhà hoạt động nhân quyền có ảnh hưởng lớn của Mỹ đã từng viết: “Không phải tất cả những gì ta đối diện đều có thể thay đổi, nhưng sẽ chẳng có gì có thể thay đổi nếu ta không đối diện với chúng.” Ở Mỹ hay ở kỳ bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng đều có những thực tế ảm đạm buộc con người phải đối diện và thay đổi, vì cũng chính James Baldwin đã cảnh báo: “Không phải tình yêu hay nôĩ sợ hãi nào khiến con người mù quáng: mà chính là sự vô cảm của họ.”

Khi xa quê hương, tôi mới cảm nhận được tâm hồn của người Việt xa xứ, qua những tác phẩm văn học của người Mỹ gốc Việt—thế hệ lớn lên trên quê hương mới là nước Mỹ. Trong những câu chuyện đẹp đẽ của họ không có thiên đường, bởi thiên đường luôn chỉ là ảo mộng. Nỗi ám ảnh của họ là chiến tranh, loạn lạc, tình yêu và sự đấu tranh sinh tồn trên một miền đất mới đầy thử thách. Những tác giả như Thi Bùi, Andrew Lam, Monique Truong, Bich Minh Nguyen, Viet Thanh Nguyen, Lan Cao, le thi diem thuy, Angie Chau, Vu Tran, Linh Dinh, Bao Phi, Aimee Phan, Ocean Vuong, Thanhha Lai … không ngợi ca thiên đường mà họ đang sống. Trái lại, họ khắc khoải với quá khứ, trăn trở với hiện tại, và ưu tư trước tương lai. Thế giới mà những tác giả này tạo ra không mời gọi những ảo tưởng phù du của người đọc về hạnh phúc không cần tranh đấu. Từ những trải nghiệm đầy biến cố và bấp bênh của gia đình họ từ trong lịch sử, những tác giả người Mỹ gốc Việt không lạc quan với hiện tại mà họ đang sống. Nhưng họ không tuyệt vọng. Và một nền văn học nhân bản như thế luôn giúp người đọc đối diện với những mặt trái của những điều đẹp đẽ, nhưng không phải để đắm chìm trong nỗi bi quan, mà để nuôi dưỡng hi vọng về những đổi thay, hướng đến một thế giới tốt đẹp và tươi sáng hơn.  

Khác với tuyệt vọng, bất an là một cảm xúc cần thiết để giúp ta không rơi vào ảo mộng thiên đường. Khi đọc tác phẩm sáng tạo phi hư cấu  đã đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Mỹ, The Broken Country (Đất nước khổ đau) của nhà thơ người Mỹ Paisley Rekdal, tôi đã bị ám ảnh rất lâu bởi hình ảnh Rekdal đến thăm Viện Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Cô thường xuyên đến đó và đau khổ đứng nhìn những khối điêu khắc minh hoạ chiến công từ cuộc chiến tranh chống Mỹ: những chiếc xe Jeeps của Mỹ, những máy bay chiến đấu, và hàng loạt xe tăng xếp thành hàng dài. Trên nền bê tông đó còn có cả những mảnh kim loại cháy xém, biến dạng, những bộ phận của chiếc máy bay đã đứt lìa, méo mó. Một chiến sĩ—thiếu nữ đang kéo lê một mảnh vỡ từ cánh máy bay bằng dây thừng trên bờ cát trắng. Hình ảnh đó khiến Reckdal liên tưởng đến khải hoàn ca của những người chiến thắng và khúc bi ai của họ cho sự thất bại của kẻ thù. Với trái tim nhạy cảm của mình, Reckdal hình dung một phần xương thịt của cha anh mình đã lẫn trong những mảnh vỡ máy bay đó. Cô đứng chết lặng trong nỗi sợ hãi, đau buồn, và phẫn nộ tột cùng khi nghĩ đến những cuộc chiến tranh khác vẫn đang không ngừng diễn ra trên thế giới.

Cảm xúc của nhà thơ Paisley Rekal không dừng lại ở Đất nước khổ đau, nó đã vượt ra khỏi những trang sách và chạm đến trái tim và lòng trắc ẩn của toàn nhân loại. Đọc Rekdal khiến tôi nghĩ đến sức mạnh của văn hoá như một dòng sông vẫn không ngừng chảy. Quê hương của tôi đã bước vào văn học của Rekdal không giống như một thiên đường mà tôi vẫn hình dung, mà là một đất nước khổ đau với đầy những vết thương lịch sử, như những khối điêu khắc ám ảnh, bất động trước thời gian. Quê hương mà tôi vẫn nhớ da diết mỗi khi đi xa và không được trở về vào những ngày cuối năm sẽ luôn cần những đổi thay, chuyển động, như những mầm xanh luôn trỗi dậy trong ánh nắng của mặt trời tự do. Những mầm xanh đó sẽ vươn lên thành những tán cây khoẻ khoắn và đơm hoa kết trái trong một thế giới dẫu không phải là thiên đường nhưng vẫn xanh ngát màu của tình yêu và hi vọng. 

Võ Hương Quỳnh  (viet-studies.net)

Tiến sĩ Võ Hương Quỳnh đang giảng dạy tại Khoa Ngữ văn Anh thuộc Trường Đại học Hawaiʻi, Mānoa, Mỹ.

Mừng năm Tân Sửu 2021

Kết quả hình ảnh cho chúc mừng năm mới