Vũ Thất

Bảo Bình 1

Phải để chúng em hỏi mới đúng!

Phải để chúng em hỏi mới đúng!
Facebooker Nguyễn Văn Chung
 
Trả lời câu hỏi “bất hủ” của bà Chủ tịch Quốc hội Việt cộng: “Các bạn đã làm gì cho đất nước chưa?”
Inline image

…dạ, em có đóng thuế!

Thuế đất, thuế nhà, thuế xe, thuế môn bài, thuế thu nhập cá nhân, thuế đường bộ, thuế môi trường…vân vân…
Nhưng,
Đường vẫn ngập
Cây vẫn bật gốc
Giá xăng vẫn tăng
Giá điện vẫn tăng
Tiền vẫn lạm phát
Trẻ em vẫn đói khát
Cá vẫn chết
Biển vẫn chết
Thức ăn vẫn nhiễm độc
Thức uống vẫn nhiễm chì
Formosa vẫn ở đây!
Tượng đài vẫn xây
Công trình vẫn bỏ phế
Trộm cắp vẫn như rươi
Học sinh vẫn đánh nhau
Bệnh viện vẫn thờ ơ
Tiến sĩ vẫn ngu ngơ
Nhà trường vẫn vô cảm
“Đầy tớ” vẫn ăn tham
Giấy tờ vẫn lằng nhằng
Cán bộ vẫn rung đùi nhũng nhiễu
Vì đã có thẻ xanh
Còn TQ vẫn đi loanh quanh trong nhà mình mà nói rằng nhà họ!
——–
Vậy, câu hỏi đó đáng lẽ phải để chúng em hỏi mới đúng!

“CÁC NGƯỜI ĐÃ LÀM ĐƯỢC GÌ CHO ĐẤT NƯỚC CHƯA?”

Trách nhiệm người dân là “đóng thuế”, còn “làm gì” là trách nhiệm của những người lãnh đạo mà cô!
Xin phép không viết hoa từ “cô”!

Nguyễn Văn Chung
nguồn: chantroimoimedia.com
Advertisements

Trung Quốc từ chối ngăn đập để cứu đội bóng Thái Lan mắc kẹt trong hang

Trung Quốc từ chối ngăn đập để cứu đội bóng Thái Lan mắc kẹt trong hang

Sáng nay, Tỉnh trưởng Chiang Rai, ông Narongsak Osottanakorn tiết lộ trên trang Thairath việc giới chức Thái Lan đã gửi yêu cầu sự trợ giúp của Trung Quốc trong công cuộc giải cứu các em nhỏ còn đang mắc kẹt trong hang. Tuy nhiên Trung Quốc đã từ chối.

Lính Trung Quốc đứng gác khi một đập nước xả lũ, các con đập nước lớn của TQ ngoài có nhiệm vụ thủy lợi và cung cấp nguồn điện, còn được xem là một vũ khí nguy hiểm đối với các quốc gia ở hạ nguồn.

Cụ thể, Thái Lan đã yêu cầu Trung Quốc ngăn đập trên sông Thanlwin chảy từ Trung Quốc để ngăn nước lũ về trong những ngày tới, nhằm ngăn tình trạng lũ quét vào hang gây bất lợi cho quá trình giải cứu.

Được biết, sông Thanlwin là dòng sông lớn được UNESCO công nhận là di sản văn hoá, chảy từ Trung Quốc qua Myanma và xuống Thái Lan. Từ tháng 7 đến tháng 12, hang Tham Luang nhận lượng nước đưa vào từ 2 nhánh sông của sông Thanlwin.

Sông Thanlwin

Từ tuần trước, DNP cùng dân làng lân cận đã đắp đập để dẫn nước từ hai nhánh Huay Nam Dan (phía Bắc hang Tham Luang) và Huay Makork (phía Nam hang) xuống các cánh đồng gần đó. Tuy nhiên theo như dự báo, các ngày tới sẽ có mưa lớn kèm theo các đập trên thượng nguồn xả lũ, đập nước tạm thời do người dân đắp nên sẽ không thể chống cự. Toàn bộ hang sẽ ngập lụt, làm cắt đứt gần như toàn bộ nguồn tiếp tế và liên lạc với các em.

Nếu Trung Quốc chấp nhận yêu của Thái Lan, lượng nước chảy xuống 2 nhánh sông vào hang Tham Luang sẽ giảm xuống mức tối thiểu. Cộng với việc hàng trăm máy bơm đang tích cực bơm nước ra ngoài, việc giải cứu các em sẽ hết sức đơn giản và an toàn.

Hang động Tham Luang và vị trí phát hiện người bị nạn.

Tuy nhiên Trung Quốc đã ngay lập tức từ chối yêu cầu của giới chức Thái Lan. Lí do được Trung Quốc đưa ra: “Trung Quốc đang thiếu nguồn điện để bán theo các hợp đồng đã kí kết với các quốc gia trong khu vực.”

Sau khi đưa được 4 em ra khỏi hang ngày hôm qua, 11h trưa nay đội thợ lặn đã tiến hàng đợt giải cứu thứ hai.

Đồ họa hành trình lặn ra khỏi hang Tham Luang. Nguồn: AMARIN TVHD

“Điều kiện giải cứu thuận lợi như hôm qua. Đội cứu hộ tham gia chiến dịch hôm qua tiếp tục nhiệm vụ với chỉ một chút thay đổi”, Narongsak Osatanakorn, người đứng đầu chiến dịch giải cứu cho biết tại cuộc họp báo chiều nay bên ngoài hang Tham Luang. “Mực nước không có gì đáng lo ngại. Trận mưa hôm qua không ảnh hưởng đến mực nước trong hang”, ông nói thêm. Các thợ lặn đã thay thế các bình oxy và bảo trì thiết bị trong hệ thống cứu hộ dọc lối thoát gần 5km trong hang.

Cách các thợ lặn dẫn các em ra khỏi hang Tham Luang. Nguồn: Guardian

Những cậu bé khỏe mạnh và sẵn sàng nhất sẽ được đưa ra trước trong đợt giải cứu thứ hai và cậu bé đầu tiên sẽ được đưa ra ngoài lúc 19h30-20h30 hôm nay.

Sông Thanlwin (tên cũ dùng trước năm 1991 là sông Salween) là một dòng sông lớn của châu Á chảy qua các nước Trung Quốc, Myanma, Thái Lan. Sông bắt nguồn từ Tây Tạng, chảy qua vùng phía Tây của Vân Nam sát biên giới với Myanma, qua phía Đông Bắc của Myanma và làm đường biên giới tự nhiên giữa Myanma và Thái Lan, chảy sâu vào trong lãnh thổ Myanma và đổ ra biển Andaman tại Mawlamyine. Ở gần cửa sông, nó tạo nên đồng bằng nhỏ Thanlwin.

Sông có chiều dài là 2.815 km và là nhà của 7.000 loài thực vật và 80 loài thú và cá quý hiếm hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Chính vì thế, vào năm 2003, UNESCO đã công nhận sông Thanlwin là một di sản thế giới (sinh thái).

Sông Thanlwin có nhiều tên gọi ở các địa phương. Ở Vân Nam, nó được gọi là 怒江 (Nù Jiāng, Nộ Giang), ở Myanma thì có tên gọi là Thanlwin (phát âm quốc tế là θànlwìn; trong hệ thống chuyển ngữ cũ thì viết là Salwine), ở Thái Lan thì có tên gọi là สาละวิน (Salawin).

Năm 2004, chính phủ Trung Quốc quyết định sẽ xây 14 con đập trên phần sông chảy qua Vân Nam. Chính phủ Thái Lan và Myanma dự định hai nước sẽ hợp tác xây một số con đập trong đó có thể có một con lớn hơn cả đập Tam Hiệp.

nguồn: http://hoinhanong.info/trung-quoc-tu-choi-ngan-dap-de-cuu-doi-bong-thai-lan-mac-ket-trong-hang.html

Đại nạn Trung Hoa: Trung cộng bẫy nợ

Đại nạn Trung Hoa: Trung cộng bẫy nợ

Trần Gia Phụng

Lịch sử cho thấy tất cả những cuộc xâm lăng quân sự mạnh mẽ của Trung Hoa vào Việt Nam đều thất bại. Đến đời cộng sản cai trị Trung Hoa, cộng sản đổi chiến lược, thực hiện kế hoạch tằm ăn dâu, rất thâm độc bằng cách giăng “bẫy nợ”, dùng viện trợ nhử bắt con mồi cộng sản Việt Nam (CSVN).

1.- HỒ CHÍ MINH VÀO BẪY

Chiến tranh Việt Minh-Pháp bùng nổ ngày 19-12-1946. Việt Minh cộng sản thua chạy lên miền rừng núi hay vào bưng biền. Đến năm 1949, đảng Cộng Sản thành công ở Trung Hoa. Mao Trạch Đông (Mao Zedong) tuyên bố thành lập chế độ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) ngày 1-10-1949, thường được gọi là Trung Cộng, thủ đô là Bắc Kinh. Cuối năm 1949, Hồ Chí Minh cử hai đại diện là Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thủy đến Bắc Kinh xin viện trợ. (Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina, 2000, tt. 13, 15.)

Lúc đó, Mao Trạch Đông cùng Châu Ân Lai (Zhou Enlai) qua Moscow vừa chúc mừng sinh nhật thứ 70 của Stalin, vừa thương thuyết. Lưu Thiếu Kỳ (Liu Shaoqi), xử lý công việc bộ Chính trị đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH), cử La Quý Ba (Luo Guibo), uỷ viên trung ương đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) làm đại diện Trung Cộng bên cạnh đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD).

Theo các tài liệu tuyên truyền của Trung Cộng, Trung Cộng mới thành lập (1-10-1949), đang còn nhiều khó khăn, chưa được các nước Tây phương thừa nhận, nhưng vì tinh thần và nghĩa vụ quốc tế vô sản, Trung Cộng hào phóng viện trợ không điều kiện cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH). (La Quý Ba, “Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản”, đăng trong Hồi ký của những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, một nhóm tác giả, Bắc Kinh: Nxb. Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, do Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch, Montreal: Tạp chí Truyền Thông, số 32 & 33, 2009, tr. 22.)

Đúng là lúc đó các nước Tây phương chưa thừa nhận Trung Cộng, nhưng Trung Cộng lại sẵn sàng thừa nhận và giúp đỡ VNDCCH không phải vì tinh thần và nghĩa vụ quốc tế CS, mà vì hai chủ đích riêng:

Inline image

Thứ nhứt, lúc đó Trung Cộng chưa ổn định tình hình lục địa Trung Hoa, rất lo ngại Tưởng Giới Thạch nhờ các nước tư bản, nhứt là Hoa Kỳ và Pháp, giúp đỡ để lực lượng Quốc Dân Đảng quay trở lại tấn công Trung Cộng. Vì vậy, Trung Cộng nhận giúp đỡ Việt Minh để Việt Minh giữ gìn an ninh vùng biên giới Hoa Việt ở phía nam Trung Cộng, làm vùng trái độn an toàn cho Trung Cộng. Mao Trạch Đông công khai xác nhận việc nầy trong một cuộc họp của trung ương đảng CSTH tháng 11-1950. (La Quý Ba, bđd, tr. 27.) Thứ hai là Trung Cộng giúp đỡ tối đa VNDCCH, để cho CSVN vay mượn càng nhiều càng tốt. Đến lúc cần, nếu VNDCCH không trả được nợ, thì Trung Cộng sẽ đòi cái khác để trừ nợ, như đất đai, hải đảo, nhứt là Trung Cộng dự tính sử dụng VNDCCH để mở đường xuống Đông Nam Á. Đây là một cách giăng bẫy nợ khá tinh vi mà trước đây những phú hộ giàu có ở nông thôn thường cho người nghèo vay nợ để o ép người nghèo phải đến ở đợ hoặc nạp con cái đến ở đợ mà trả nợ. Hồ Chí Minh đang trong cơn bối rối, bị Pháp đuổi chạy, gặp được sự giúp đỡ vô điều kiện, vội tự động lọt vào bẫy nợ của Trung Cộng.

Sau phái đoàn Lý Bích Sơn và Lưu Đức Thủy, đích thân Hồ Chí Minh bí mật qua Bắc Kinh cầu viện ngày 30-1-1950. Mao Trạch Đông và Châu Ân Lai vẫn còn ở Liên Xô. Hồ Chí Minh làm kiểm điểm trước Lưu Thiếu Kỳ (Trần Đĩnh, Đèn cù, California: Người Việt Books, 2014, tr. 49.) Tại sao Hồ Chí Minh phải làm kiểm điểm với ngoại bang? Kiểm điểm với tư cách đại diện đảng CSĐD hay với tư cách chủ tịch nhà nước VNDCCH? Kểm điểm những gì? Hiện bản kiểm điểm nầy ở đâu? Cả hai đảng CS Việt và Tàu đề giữ kín việc nầy.

Tiếp đó, Lưu Thiếu Kỳ giúp Hồ Chí Minh đi tiếp qua Liên Xô. Hồ Chí Minh đến Moscow tối 6-2-1950. Bí thư thứ nhứt đảng CS Liên Xô là Joseph Stalin tiếp Hồ Chí Minh tại văn phòng làm việc, với sự có mặt của Malenkow, Molotow, Bulganin và Vương Gia Tường, đại sứ Trung Cộng tại Liên Xô. Stalin nói thẳng với HCM: “Chúng tôi đã trao đổi với các đồng chí Trung Quốc, công việc viện trợ chiến tranh chống Pháp của Việt Nam chủ yếu do Trung Quốc phụ trách thích hợp hơn… Trung Quốc ở sát Việt Nam, hiểu rõ tình hình Việt Nam hơn chúng tôi, kinh nghiệm đấu tranh của Trung Quốc càng có tác dụng làm gương đối với Việt Nam, giúp các đồng chí sẽ thuận tiện hơn.” (Trương Quảng Hoa, “Quyết sách trọng đại Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”, trong Hồi ký những người trong cuộc…, bđd. tr. 45.).

Ngày 17-2-1950, Mao Trạch Đông, Châu Ân Lai rời Moscow trở về Bắc Kinh bằng xe hỏa. Hồ Chí Minh cùng đi theo chuyến tàu nầy. Trên đường đi, khi xe hỏa đến vùng biên giới Nga-Hoa, thì một hôm “đi đến toa xe của Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh nói ngay bằng tiếng Trung Quốc: “Mao Chủ tịch, Stalin không chuẩn bị viện trợ trực tiếp cho chúng tôi, cũng không ký hiệp ước với chúng tôi, cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam từ nay về sau chỉ có thể dựa vào viện trợ của Trung Quốc.” (Trương Quảng Hoa, bđd. tr. 47.)

Sau chuyến đi cầu viện, tháng 4-1950 Hồ Chí Minh gởi đến Bắc Kinh danh mục xin viện trợ, đồng thời đề nghị CHNDTH lập một trường võ bị ở Trung Hoa để huấn luyện quân đội Việt Minh, gởi cố vấn quân sự sang giúp Việt Minh và xin giúp thêm quân nhu, quân cụ, súng ống. Từ đó, CHNDTH viện trợ tối đa cho VNDCCH đến nỗi theo Đặng Văn Việt, trung đoàn trưởng đầu tiên trung đoàn 174 bộ đội Việt Minh, thì “viện trợ quân sự, vũ khí đạn dược, vào như nước …” (Đặng Văn Việt, Người lính già Đặng Văn Việt, chiến sĩ đường số 4 anh hùng (hồi ức), TpHCM: Nxb. Trẻ, 2003, tr. 179.)

Từ đó, chẳng những viện trợ võ khí, quân nhu, viện trợ kinh tế, mà Trung Cộng còn gởi đoàn cố vấn chính trị và quân sự đông đảo, nói rằng qua giúp đỡ, nhưng thực tế là điều khiển những hoạt động của đảng CSĐD. Những chiến dịch chính trị như phong trào chỉnh huấn, rèn cán chỉnh cơ, rèn cán chỉnh quân, cải cách ruộng đất đều do cán bộ Trung Cộng chỉ huy. Những cuộc hành quân lớn nhỏ của Việt Minh cộng sản cũng đều do sự điều động của quân ủy trung ương Trung Cộng ở Bắc Kinh.

Nhờ sự viện trợ dồi dào toàn diện của Trung Cộng mà lực lượng Việt Minh gượng lại được, bắt đầu chiến thắng trận Đông Khê năm 1950 do tướng Trung Cộng là Trần Canh (Chen Geng) chỉ huy, cho đến Trận Điện Biên Phủ năm 1954.

2.- TRUNG CỘNG TRỪ NỢ

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam hay hiệp định đình chiến Genève ngày 20-7-1954, chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Bắc Việt Nam thuộc VNDCCH do đảng Lao Động theo chủ nghĩa cộng sản cai trị. Nam Việt Nam thuộc chính quyền Quốc Gia Việt Nam, đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955.

Theo hiệp định Genève, thì ngày 9-10-1954 là hạn chót cho những người muốn di tản khỏi Hà Nội, di cư vào Nam. Hôm sau, ngày 10-10-1954, quân đội CS vào tiếp thu Hà Nội. Hải Phòng, điểm tập trung đồng bào miền Bắc muốn di cư bằng tàu thủy vào miền Nam, do CS tiếp thu ngày 13-5-1955. Ba ngày sau, toán lính Pháp cuối cùng rút lui khỏi đảo Cát Bà (Vịnh Hạ Long, vùng Hải Phòng) ngày 16-5-1955. Sau ngày nầy, quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia Việt Nam hoàn toàn không còn ở đất Bắc. Từ nay, phần lãnh thổ và lãnh hải phía bắc vĩ tuyến 17 huộc quyền VNDCCH.

Về vấn đề lãnh hải vịnh Bắc Việt, sau khi Pháp bảo hộ Việt Nam năm 1884, Pháp thương thuyết với nhà Thanh bên Trung Hoa, và cùng nhà Thanh thỏa thuận ngày 2-6-1887 rằng quần đảo Bạch Long Vỹ (BLV) trong vịnh Hạ Long thuộc lãnh hải Việt Nam, tức thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Quần đảo BLV tuy nhỏ, diện tích tổng cộng khoảng 3 Km2, nhưng rất quan trọng về kinh tế và quốc phòng. Về kinh tế, khu vực BLV có nhiều hải sản, nhứt là bào ngư, có giá trị dinh dưỡng cao mà người Việt Nam rất ưa thích. Hiện nay, người ta được biết đáy biển vùng nầy có nhiều tiềm năng về chất đốt chưa được khai thác. Về quốc phòng, BLV giữ vị trí chiến lược tiền tiêu để bảo vệ Bắc Việt. Pháp đặt một đơn vị hải quân ở đây, kiểm soát tàu bè đi lại trên vịnh Bắc Việt.

Năm 1949, khi cộng sản chiếm được lục địa Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch di tản ra Đài Loan. Một số quân đội Quốc Dân Đảng Trung Hoa chạy sang Bắc Việt Nam lánh nạn, được tập trung đưa đến làm việc ở các vùng quặng mỏ. Trong khi đó, ở ngoài vịnh Bắc Việt, quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa từ các hải đảo ở vùng Hải Nam chạy xuống, tràn vào quần đảo BLV, tiếp tục sinh sống nghể đánh bắt cá.

Sau năm 1954, quần đảo BLV thuộc chủ quyền của VNDCCH. Theo lời kể của học giả Dương Danh Dy trong cuộc phỏng vấn của đài BBC Tiếng Việt ngày 13-4-2010, thì: “Câu chuyện lịch sử là như thế này: tháng 10/1954, sau khi ký Hiệp định Geève, quân đội Pháp rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Đảo Bạch Long Vĩ lúc đó vẫn là của Việt Nam, nhưng do có một số khó khăn, và tôi cũng không rõ là thỏa thuận ở cấp nào nhưng có việc Việt Nam nhờ Trung Quốc ra tiếp quản hộ. Trung Quốc giữ hộ Việt Nam tới năm 1956 thì trả lại cho Việt Nam. Hồi đó tôi còn trẻ, sau khi vào Bộ Ngoại giao thì tôi có được tận mắt đọc biên bản ký kết về việc Trung Quốc trao trả lại đảo Bạch Long Vĩ cho Việt Nam. Có một chi tiết thú vị là lúc đó Việt Nam còn ngần ngừ chưa nhận vì chưa có phương tiện để ra đảo. Thế là phía Trung Quốc, sau khi thỉnh thị, lại tặng thêm cho Việt Nam hai chiếc ca-nô.” (Trích nguyên văn BBC Tiếng Việt ngày 13-4-2010.) Nguồn tin nầy được Talawas blog ngày 14-04-2010 thuật lại dựa theo tin của Đài BBC Tiếng Việt.

Tuy nhiên, khi trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ Online ngày 24-05-2014, thạc sĩ Hoàng Việt, một nhà nghiên cứu về Biển Đông, nói hơi khác. Sau đây là nguyên văn lời thạc sĩ Hoàng Việt: “Rồi năm 1957, hồng quân Trung Quốc đã chiếm đảo Bạch Long Vĩ rồi sau đó trao trả lại cho phía VNDCCH.”

Ở đây có điểm khác nhau giữa hai học giả Dương Danh Dy và Hoàng Việt. Ông Dương Danh Dy nói rằng VNDCCH “nhờ Trung Quốc ra tiếp quản hộ.” Ông Hoàng Hiệp thì cho rằng “hồng quân Trung Quốc đã chiếm đảo Bạch Long Vĩ…”

Nếu theo lời kể ông Dương Danh Dy, câu hỏi đặt ra là quân đội CSVN tự hào đã đánh thắng thực dân Pháp năm 1954, thì tại sao CSVN không đủ sức tiếp quản quần đảo BLV lúc đó “đã sạch bóng quân thù”, mà CSVN phải nhờ Trung Cộng tiếp quản? Phải chăng ông Dy ăn nói tránh né một cách “ngoại giao”, vốn là nghể của ông?

Theo lời xác nhận của ông Hoàng Hiệp thì Trung Cộng đánh chiếm BLV năm 1957. Tuy nhiên, ông Hiep cũng như ông Dy không giải thích vì sao VNDCCH nhờ Trung Cộng tiếp quản, hoặc vì sao Trung Cộng đánh chiếm BLV? Và cả hai ông cũng không giải thích vì sao Trung Cộng trả BLV lại cho VNDCCH, trả lại không công hay trả lại có điều kiện, để đổi lấy cái gì? Có lẽ cả hai học giả lại cùng tránh né một vấn đề mà theo dân chúng vùng Hải Phòng kể lại, có thể khá tế nhị và nghiêm trọng.

Theo lời truyền khẩu của dân chúng địa phương, sau hiệp định Genève năm 1954, quần đảo BLV thuộc chủ quyền của VNDCCH. Tuy nhiên, Trung Cộng lấy cớ BLV có nhiều người gốc Hoa (chạy qua Việt Nam từ sau năm 1949), nên Trung Cộng ngang ngược nhận rằng BLV thuộc chủ quyền Trung Cộng và đánh chiếm BLV. Đây là hành vi thổ phỉ, cướp của (cướp đảo) để trừ nợ mà VNDCCH vay mượn Trung Cộng suốt thời gian từ 1949 đến 1954.

Nhà cầm quyền VNDCCH há miệng mắc quai, đành im tiếng và phải thương lượng với Trung Cộng, đưa đến sự thỏa thuận ngầm là Trung Cộng trả BLV cho VNDCCH, và đổi lại VNDCCH theo đòi hỏi của Trung Cộng, chịu nhượng bộ một điều gì đó mà hai bên không tiết lộ. Đảng CS tức đảng Lao Động thương thuyết và hứa hẹn riêng với đảng CSTH, nhưng bắt dân tộc VN phải gánh những hứa hẹn trao đổi của họ và trả nợ cho Trung Cộng. Dân chúng cho rằng để đổi lấy BLV, VNDCCH đồng ý nhượng quần đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng, dầu lúc đó Hoàng Sa thuộc chủ quyền của VNCH.

Cộng sản Việt Nam tưởng mình khôn, “bán da gấu” cho Tàu phù, dùng quần đảo Hoàng Sa để thế chấp trao đổi với Trung Cộng, vì Hoàng Sa ở phía nam vĩ tuyến 17, thuộc chủ quyền của VNCH, biết khi nào cộng sản đánh chiếm được? Thực tế đây là tội phản quốc lớn lao vì không ai được quyền đem tài sản quốc gia để cá cược, dù đó là canh bạc bịp. Ngược lại Trung Cộng muốn tìm đường xuống Biển Đông, tính chuyện lâu dài, sẵn sàng chờ đợi thời cơ chiếm đoạt Hoàng Sa. (Người viết nghe được chuyện nầy tại Đà Nẵng do một bác sĩ gốc Hải Phòng kể lại. Bác sĩ nầy từ Bắc vào Nam làm việc sau năm 1975.)

Nguồn tin từ dân chúng cần được kiểm chứng lại, nhưng thực tế cho thấy nguồn tin nầy giúp làm rõ thêm nguồn tin của hai học giả Dương Danh Dy và Hoàng Việt đã công khai trên báo chí. Sự kiện BLV để lộ rõ ý đồ viện trợ của Trung Cộng cho CSVN là vừa được tiếng tương trợ xã hội chủ nghĩa, vừa bảo vệ biên giới phía nam của Trung Cộng, và nhứt là vừa tìm đường xuống Đông Nam Á.

Phải chăng từ tiền đề BLV đưa đến việc VNDCCH ký kết công hàm ngày 14-9-1958 về chuyện lãnh hải của Trung Cộng?

3.- CÔNG HÀM TRẢ NỢ NGÀY 14-9-1958

Nguyên từ 24-2 đến 29-4-1958, các thành viên Liên Hiệp Quốc (LHQ) họp tại Genève bàn về luật biển. Hội nghị ký kết bốn quy ước về luật biển. Riêng quy ước về hải phận của mỗi nước, có 3 đề nghị: 3 hải lý, 12 hải lý và 200 hải lý. Không đề nghị nào hội đủ túc số 2/3, nên LHQ chưa có quyết định thống nhất. Lúc đó, Trung Cộng, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) không phải là thành viên LHQ, nên không được mời tham dự hội nghị nầy.

Trước cuộc tranh cãi về hải phận, Mao Trạch Đông tuyên bố ngày 28-6-1958 với nhóm tướng lãnh thân cận: “Ngày nay, Thái Bình Dương không yên ổn. Thái Bình Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó.” (Jung Chang and Jon Halliday, MAO: The Unknown Story, New York: Alfred A. Knopf, 2005ccccc tr. 426.) Tiếp đó, ngày 4-9-1958, Trung Cộng đưa ra bản tuyên cáo, nhắm mục đích lên tiếng xác định lập trường về hải phận của Trung Cộng là 12 hải lý, mà không gởi riêng cho nước nào. Trong bản tuyên cáo, điều 1 và điều 4 cố ý lập lại và khẳng định chắc chắn rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (vốn của Việt Nam) thuộc chủ quyền của Trung Cộng và gọi theo tên Trung Cộng là Xisha [Tây Sa tức Hoàng Sa] và Nansha [Nam Sa tức Trường Sa].

Điểm cần chú ý là Trung Cộng lúc đó (1958) chưa phải là thành viên LHQ và không thể dùng diễn đàn của LHQ để bày tỏ quan điểm và chủ trương của mình, nên TC đơn phương đưa ra bản tuyên cáo nầy, thông báo quyết định về lãnh hải của Trung Cộng. Vì vậy các nước khác không nhất thiết là phải trả lời bản tuyên cáo của Trung Cộng, nhưng riêng VNDCCH lại sốt sắng đáp ứng ngay.

Sự quyết đoán ngang ngược của Trung Cộng, bất chấp chẳng những VNDCCH mà bất chấp cả VNCH và cả toàn thế giới về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa mà thủ tướng Trần Văn Hữu đã khẳng định tại hội nghị San Francsco năm 1951, phải chăng vì đã có sự thỏa thuận bí mật giữa Trung Cộng và VNDCCH sau vụ BLV hai năm trước đó?

Ngoài ra, sau khi đất nước bị chia hai, đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản) cai trị ở Bắc Việt Nam tức VNDCCH, luôn luôn nuôi tham vọng đánh chiến Nam Việt Nam tức VNCH. Muốn đánh VNCH, thì VNDCCH cần được các nước CS viện trợ, nhất là Liên Xô và Trung Cộng. Vì vậy, khi Trung Cộng đơn phương đưa ra bản tuyên cáo về lãnh hải ngày 4-9-1958, thì VNDCCH “không gọi mà dạ”. Phạm Văn Đồng, thủ tướng VNDCCH, vâng lệnh Hồ Chí Minh và Bộ chính trị đảng Lao Động, vội vàng ký công hàm ngày 14-9-1958, tán thành tuyên cáo về hải phận của Trung Cộng. Xin ghi lại ở đây một lần nữa nội dung chính hai văn kiện xướng họa nầy, để mọi người đừng quên hành động phản quốc của đảng CSVN.

Tuyên cáo ngày 4-9-1958 của Trung Cộng về hải phận gồm 4 điều, trong đó điều 1 và điều 4 được phiên dịch như sau:

(Điều 1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ nầy áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa [Xisha tức Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Nansha tức Trường Sa], và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

. . . . . . . . . . . . . .

(Điều 4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu [Bành Hồ], quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Trường Sa], và các đảo khác thuộc Trung Quốc…

(Nguồn: <http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm&gt;).

Công hàm ngày 14-9-1958, của VNDCCH do Phạm Văn Đồng, vâng lệnh Hồ Chí Minh và đảng CSVN,

tán thành tuyên cáo Trung Cộng tức tán thành hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng:

Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.

KẾT LUẬN

Như thế, ngay từ đầu, từ khi Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh làm kiểm điểm và cầu viện, Trung Cộng đã hào phóng viện trợ cho VNDCCH chẳng phải tốt lành gì, mà cốt để gài bẫy nợ. “Cá cắn câu biết khi nào gỡ / Chim vào lồng biết thuở nào ra…

Đến khi CSVN làm chủ Bắc Việt Nam sau năm 1954, Trung Cộng liền đánh chiếm quần đảo BLV để trừ nợ mà dân gian còn gọi là “xiết nợ hay siết nợ”. Lần nầy, Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN lại bí mật hứa hẹn thế chấp ngầm với Trung Cộng như thế nào, nên Trung Cộng mới chịu trả lại BLV cho VNDCCH. Vì vậy, khi Trung Cộng ra tuyên cáo ngày 4-9-1958 thì VNDCCH nhanh chóng gởi công hàm đáp ứng đúng theo yêu cầu trong bản tuyên cáo của Trung Cộng.

Tán thành và tôn trọng bản tuyên cáo ngày 4-9-1958 của Trung Cộng có nghĩa là VNDCCH công nhận quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, vốn của Việt Nam, thuộc chủ quyền Trung Cộng.

PHẢN QUỐC ĐẾN THẾ LÀ CÙNG!

(Toronto, 08-07-2018)

TRẦN GIA PHỤNG

nguồn: danchimviet.inf  o

Đã đến lúc

Trung Quốc đã bẫy và ép Sri Lanka “hai tay dâng cảng chiến lược” như thế nào?

Trung Quốc đã bẫy và ép Sri Lanka “hai tay dâng cảng chiến lược” như thế nào?

Bắc Kinh cho vay hàng tỉ USD sau đó đòi con nợ phải “lại quả” bằng cách thuê nhà thầu Trung Quốc với giá cao ngất ngưởng, đi sau là hàng ngàn lao động.

The New York Times ngày 25/6 có bài phân tích, Trung Quốc làm thế nào để ép Sri Lanka phải nhượng một cảng quan trọng cho họ. Tác giả cho biết:

Mỗi lần Tổng thống Sri Lanka Mahinda Rajapaksa (2005-2015) dùng dự án xây dựng một cảng lớn tại Hambantota để vay tiền và xin viện trợ từ Trung Quốc, ông luôn được Bắc Kinh đáp ứng.

Mặc dù nghiên cứu tiền khả thi dự án xây dựng cảng Hambantota cho thấy dự án này không hiệu quả, Ấn Độ và các quốc gia cho vay khác đã từ chối dự án này, ông Mahinda Rajapaksa vẫn làm.

Cho dù nợ công của Sri Lanka dưới thời Mahinda Rajapaksa liên tục tăng nhanh, ông vẫn quyết tâm vay tiền và xin viện trợ từ Trung Quốc.

 

Tổng thống Sri Lanka Mahinda Rajapaksa và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong lễ khánh thành dự án Thành phố cảng Colombo trị giá 1,4 tỉ USD vay Trung Quốc, ngày 18/9/2014, ảnh: China Daily.

Qua nhiều năm đàm phán với một trong những doanh nghiệp nhà nước hàng đầu Trung Quốc, Công ty Công trình cảng khẩu Trung Quốc (China Harbour), sự thất bại của dự án xây dựng cảng Hambantota đã được dự báo từ đầu.

Mặc dù một trong những tuyến hàng hải bận rộn nhất thế giới chạy qua với hàng ngàn, hàng vạn tàu thuyền, nhưng năm 2012 cảng Hambantota chỉ thu hút được 34 tàu cập bến.

Sau đó, Hambantota “rơi vào tay” Trung Quốc trong 99 năm.

Mahinda Rajapaksa phải rời khỏi Phủ Tổng thống năm 2015, nhưng chính phủ mới của Sri Lanka phải vật lộn để thanh toán những khoản nợ ông ta đã tạo ra cho đất nước mình.

Dưới áp lực nặng nề và sau nhiều tháng đàm phán với Trung Quốc, chính phủ mới buộc phải bàn giao cảng Hambantota và 15 nghìn mẫu đất xung quanh nó cho Trung Quốc trong vòng 99 năm vào tháng Chạp năm ngoái.

Bản chất bẫy nợ của Vanh đai và Con đường bộc lộ

Vụ việc thôn tính cảng Hambantota là một trong những ví dụ sinh động nhất về việc Trung Quốc sử dụng các khoản cho vay và viện trợ của mình để đạt được ảnh hưởng trên khắp thế giới;

Đồng thời nó cũng là bằng chứng cho thấy Trung Quốc sẵn sàng sử dụng các thủ đoạn cứng rắn như thế nào để thu hồi công nợ.

Những thỏa thuận này cũng tăng cường các cáo buộc ngày càng gay gắt về sáng kiến Vành đai và Con đường của Tập Cận Bình:

Chương trình cho vay và đâu tư toàn cầu của Trung Quốc là một cái bẫy nợ nhằm vào các quốc gia dễ bị tổn thương trên khắp thế giới, thúc đẩy tham nhũng và hành vi chuyên chế tại các quốc gia mục tiêu.

The New York Times đã có một loạt bài phỏng vấn các quan chức Sri Lanka, Ấn Độ, Trung Quốc và phương Tây cùng với việc phân tích các tài liệu, thỏa thuận về dự án xây dựng cảng Hambantota.

Những thông tin này đã cho thấy rõ cách Trung Quốc và doanh nghiệp nhà nước của họ bảo vệ lợi ích của mình như thế nào tại các nước nhỏ đang khát vốn.

Có thể tóm tắt các thủ đoạn này của Bắc Kinh qua dự án xây dựng cảng Hambantota tại Sri Lanka qua mấy đặc điểm dưới đây:

Thứ nhất, can thiệp nội bộ, vận động hành lang cho những cá nhân và thế lực thân Trung Quốc lên nắm quyền.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống Sri Lanka năm 2015, các khoản tiền lớn đã chảy trực tiếp từ tài khoản của China Harbour vào tài khoản của trợ lý tranh cử, phục vụ chiến dịch tái tranh cử Tổng thống của ông Mahinda Rajapaksa.

Mahinda Rajapaksa được xem là đồng minh quan trọng của Trung Quốc, chấp nhận mọi điều kiện Bắc Kinh đưa ra và sẵn sàng làm giảm ảnh hưởng của Ấn Độ ở Nam Á.

The New York Times đã nhìn thấy kết quả điều tra của chính phủ Sri Lanka cũng như các bằng chứng chuyển khoản (của Trung Quốc cho Mahinda Rajapaksa).

Thứ hai, mục tiêu tình báo và quân sự đi kèm các dự án cho vay trong khuôn khổ Vành đai và Con đường

Mặc dù các quan chức và giới phân tích Trung Quốc lúc nào cũng khẳng định, lợi ích của họ tại cảng Hambantota thuần túy là thương mại, nhưng quan chức chính phủ Sri Lanka cho hay:

Ngay từ lúc bắt đầu đàm phán, tiềm lực tình báo và chiến lược của Hambantota đã là một phần nội dung trao đổi.

Thứ ba, lãi suất ưu đãi chỉ làm mồi, con mồi dính bẫy sẽ ép gán nợ bằng lãnh thổ

Sau mỗi lần quan chức Sri Lanka đề nghị đàm phán lại và tăng tín dụng, các khoản vay ưu đãi dành cho dự án Hambantota lúc đầu ngày càng trở nên đắt đỏ.

Những năm gần đây, Sri Lanka ngày càng bị bức bách bởi nợ công và hy vọng được xóa nợ, thì Trung Quốc càng tảng lờ;

Ngược lại, họ yêu cầu tập trung đàm phán việc chuyển giao cảng Hambantota cho Trung Quốc.

Thứ tư, gán lãnh thổ vẫn chưa hết nợ

Mặc dù thỏa thuận chuyển giao cảng Hambantota cho Trung Quốc đã xóa khoản nợ 1 tỉ USD vì dự án này, nhưng do các khoản vay khác từ Trung Quốc vẫn tiếp tục với lãi suất cao hơn rất nhiều các nguồn vốn quốc tế khác, nợ công của Sri Lanka với Trung Quốc vẫn đạt mức cao nhất từ trước đến nay.

Mahinda Rajapaksa và các trợ lý của ông ta trong vài tháng liền đã không trả lời câu hỏi của The New York Times;

Các quan chức của công ty China Harbour cũng im lặng.

Báo cáo của Bộ Tài chính Sri Lanka đã vẽ nên một bức tranh ảm đạm: năm nay, chính phủ nước này dự kiến thu ngân sách đạt khoảng 14,8 tỉ USD, thì đã phải trả nợ 12,3 tỉ USD cá vốn lẫn lãi cho các chủ nợ quốc tế.

Giáo sư Brahma Chellaney từ Trung tâm Nghiên cứu Chính sách New Delhi, Ấn Độ bình luận:

“John Adams có câu nói nổi tiếng rằng, muốn chinh phục một quốc gia thì hoặc là dùng kiếm sắc, hai là dùng nợ nần. Trung Quốc đã chọn cách thứ 2”.

Trung Quốc tìm cách đưa quân đội vào lãnh thổ các con nợ, càng là đồng minh càng dễ trở thành mục tiêu

Điều mà giới chức Ấn Độ lo lắng hiện nay là, rất có thể do tình trạng nợ như chúa Chổm mà Sri Lanka buộc phải chấp nhận yêu sách của Trung Quốc, đổi việc xóa nợ lấy quyền sử dụng cảng Hambantota vào mục đích quân sự;

Hợp đồng Sri Lanka cho Trung Quốc thuê cảng Hambantota và 15 ngàn mẫu đất xung quanh nó trong vòng 99 năm đã cấm Trung Quốc tiến hành hoạt động quân sự ở đây “nếu không có sự cho phép” của chính phủ Sri Lanka.

Diễn biến cục diện Biển Đông, phân tích và bình luận

Cựu Ngoại trưởng Ấn Độ Shivshankar Menon nhận định:

“Trung Quốc đầu tư vào Hambantota là do những toan tính về an ninh, đây là lý giải hợp lý duy nhất. Mục đích cuối cùng của họ là đóng quân tại Hambantota.”

Trung Quốc và Sri Lanka có quan hệ hữu hảo từ rất sớm. Sri Lanka là một trong những nước đầu tiên công nhận Cộng hòa Dân chủ nhân dân Trung Hoa sau năm 1949.

Nhưng trong cuộc xung đột gần đây hơn, cuộc nội chiến tàn bạo suốt 26 năm giữa Sri Lanka với lực lượng Những con hổ giải phóng Tamil, Trung Quốc mới trở thành đồng minh không thể thiếu.

Mahinda Rajapaksa đắc cử Tổng thống Sri Lanka năm 2005, lãnh đạo đất nước này trong giai đoạn cuối của cuộc nội chiến, vì những cáo buộc vi phạm nhân quyền nên Sri Lanka dưới thời ông cầm quyền đã bị cô lập.

Trong nhiệm kỳ của Mahinda Rajapaksa, Sri Lanka hoàn toàn dựa vào Trung Quốc về viện trợ kinh tế, thiết bị quân sự lẫn sự ủng hộ chính trị tại Liên Hợp Quốc, để đối phó với khả năng bị bao vây cấm vận.

Cuộc nội chiến kết thúc năm 2009, Sri Lanka thoát khỏi tình trạng hỗn loạn cũng là lúc Mahinda Rajapaksa cùng người nhà của ông ta củng cố quyền lực và địa vị.

Trong thời kỳ đỉnh cao quyền lực, 3 người anh em của Mahinda Rajapaks đã khống chế nhiều bộ ngành quan trọng trong chính phủ, cũng như 80% ngân sách quốc gia.

Trung Quốc thường đàm phán trực tiếp với những người này.

Chính vì vậy, khi Tổng thống Mahinda Rajapaksa kêu gọi xây dựng một cảng khẩu lớn ở Hambantota, những tiếng nói phản đối chỉ như châu chấu đá xe.

Hambantota là quê hương của Mahinda Rajapaksa, là một vùng đất thiếu sức sống. Và ngay từ đầu đã có những quan chức nghi ngờ dự án xây dựng cảng khẩu lớn thứ 2 của Sri Lanka tại Hambantota là thiếu sáng suốt.

Sri Lanka chỉ có diện tích lãnh thổ bằng 1/4 nước Anh với dân số 22 triệu người, cảng Colombo ở thủ đô phát triển phồn vinh vẫn còn không gian để mở rộng quy mô hoạt động.

Vành đai và Con đường, phân tích – bình luận

Đơn vị được chính phủ Sri Lanka giao nghiên cứu tiền khả thi dự án xây dựng cảng Hambantota đã kết luận rõ, về mặt kinh tế việc xây dựng cảng tại Hambantota là không khả thi, không hiệu quả.

Cựu Ngoại trưởng Ấn Độ Shivshankar Menon cho biết:

“Họ đã tiếp cận chúng tôi ngay từ đầu, và các doanh nghiệp Ấn Độ đã từ chối. Dự án khi đó không có giá trị nào về mặt kinh tế, bây giờ cũng vẫn vậy.”

Nhưng Mahinda Rajapaksa đã bật đèn xanh cho dự án này, sau đó trong một thông cáo báo chí, ông tuyên bố bất chấp mọi cảnh báo tiếp tục thực hiện dự án này, và Trung Quốc sẽ tham dự.

Năm 2007 Cục Cảng vụ Sri Lanka bắt đầu lên kế hoạch xây dựng cảng Hambantota mà các quan chức nước này ca ngợi là hợp lý về kinh tế, kĩ lưỡng và thận trọng.

Nguồn kinh phí đầu tiên để thực hiện dự án này đến từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (EXIM) với tổng số vốn 307 triệu USD.

Thủ đoạn ép quốc gia mục tiêu chấp nhận nhà thầu Trung Quốc giá cao và nhập khẩu lao động Trung Quốc

Tuy nhiên, một bức điện tín của Đại sứ quán Mỹ lúc đó được WikiLeeks tiết lộ cho thấy, để có được 307 triệu USD, Sri Lanka buộc phải chỉ định thầu Công ty Công trình cảng khẩu Trung Quốc (China Harbour) mà Bắc Kinh giới thiệu.

Vị trí hai cảng chiến lược của Sri Lanka.

Đây là yêu cầu điển hình của Trung Quốc với các dự án trọng điểm của họ trên khắp thế giới, chứ Trung Quốc không để đấu thầu công khai.

Theo các quan chức khu vực này, Bắc Kinh cho vay hàng tỉ USD sau đó đòi con nợ phải “lại quả” bằng cách thuê nhà thầu Trung Quốc với giá cao ngất ngưởng, đi sau là hàng ngàn lao động Trung Quốc.

Các khoản vay này còn đi kèm các điều kiện khác, điều đó cho thấy ngay từ đầu Trung Quốc đã nhắm vào giá trị chiến lược của Hambantota.

Cựu Đại sứ Sri Lanka tại Trung Quốc Nihal Rodrigo cho biết, trong đàm phán các quan chức Trung Quốc nói rất rõ, chia sẻ tin tức tình báo là một bộ phận của dự án.

Bắc Kinh muốn biết những ai (tàu thuyền nước ngoài nào) đến và đi từ cảng này.

Can thiệp sâu vào nội bộ, thao túng lãnh đạo quốc gia “con mồi”

Vài năm sau, các quan chức Trung Quốc thông qua China Harbour không tiếc tiền đầu tư “quan hệ” với Tổng thống Mahinda Rajapaksa.

Những tháng cuối trong cuộc đua tranh cử Tổng thống Sri Lanka 2015, Đại sứ quán Trung Quốc đã làm một việc chưa từng có tiền lệ trong hoạt động ngoại giao quốc tế, tổ chức vận động tranh cử cho ông Mahinda Rajapaksa.

Trước ngày bầu cử Tổng thống Sri Lanka khoảng 1 tháng, Trung Quốc đã rót khá nhiều tiền vận động cho ông Mahinda Rajapaksa.

Một bản báo cáo nội bộ của chính phủ Sri Lanka đang điều tra về việc này cho thấy, có ít nhất 7,6 triệu USD đã chảy từ tài khoản của China Harbour tại ngân hàng Standard Chartered vào tài khoản bộ phận vận động tranh cử của ông Mahinda Rajapaksa.

Trước cuộc bầu cử 10 ngày, Trung Quốc đã rót 3,7 triệu USD ủng hộ Mahinda Rajapaksa, chi cho các hoạt động:

In và phát miễn phí áo phông và tài liệu tuyên truyền ủng hộ Mahinda Rajapaksa, kinh phí 678 ngàn USD; mua quà cho người ủng hộ 297 ngàn USD;

38 ngàn USD chi quà cho một số vị tăng lữ có ảnh hưởng để họ ủng hộ Mahinda Rajapaksa, 1,7 triệu USD đến phủ thủ tướng Sri Lanka ở Temple Trees, Colombo…

Đại bộ phận các khoản chi này đến từ tài khoản của China Harbour, mang tên HPDP Phase 2 (dự án xây dựng cảng Hambantota giai đoạn 2).

Hối lộ quan chức sở tại là cách nhà thầu Trung Quốc có được dự án

Sau gần 5 năm triển khai, mở rộng “sáng kiến” Vành đai và Con đường, các quan chức Trung Quốc đang lặng lẽ tìm cách đánh giá xem có bao nhiêu giao dịch đã hoàn thành, và Trung Quốc có khả năng đối mặt với những rủi ro tài chính nào.

Một số quan chức Trung Quốc “lo lắng”, đi theo các dự án Vành đai và Con đường là các hoạt động hối lộ đã phát triển thành cơ chế (của doanh nghiệp, nhà thầu Trung Quốc với quan chức nước sở tại).

Năm ngoái ông Tập Cận Bình cũng đã phải thừa nhận:

“Chúng ta phải tăng cường hợp tác chống tham nhũng quốc tế, để Vành đai và Con đường trở nên trong sạch.”

Ví dụ tại Bangladesh, các quan chức chính phủ nước này cho biết Công ty Công trình cảng khẩu Trung Quốc (China Harbour) sẽ bị cấm tham gia đấu thầu vì đã nhét 100 ngàn USD vào một hộp trà hối lộ quan chức Bộ Giao thông Bangladesh.

Công ty mẹ của China Harbour, Công ty Xây dựng kết nối Trung Quốc (China Communications Construction Company) cũng bị Philippines cấm đấu thầu các dự án của Ngân hàng Thế giới tại quốc gia này trong 8 năm tính từ 2009, vì hối lộ.

Từ khi được chỉ định thầu dự án cảng Hambantota ở Sri Lanka, các quan chức Trung Quốc bắt đầu ngầm phát thông điệp rằng, Vành đai và Con đường không phải cam kết tài chính phát triển vô hạn của chính phủ Trung Quốc với 3 châu lục.

Biết thừa bản thân dự án đầu tư không có lãi, Trung Quốc vẫn làm

Tại Sri Lanka, các nhà quản lý doanh nghiệp và giới phân tích Trung Quốc vẫn kiên trì tuyên bố, dự án cảng Hambantota có thể có lợi nhuận, hoặc chí ít nó làm tăng năng lực thương mại của Trung Quốc trong khu vực.

Ray Ren, đại diện của công ty China Merchant Port tại Sri Lanka nắm cổ phần chi phối trong liên doanh quản lý, khai thác cảng Hambantota, nhấn mạnh, vị trí của Sri Lanka là lý tưởng cho thương mại quốc tế.

Ông ta bác bỏ các nghiên cứu tiền khả thi trước đây của chính phủ Sri Lanka rằng xây dựng cảng ở Hambantota không có hiệu quả, giá trị về kinh tế.

Hu Shisheng,  Giám đốc nghiên cứu khu vực Nam Á của Viện Quan hệ quốc tế đương đại Trung Quốc cho rằng, Bắc Kinh đã nhận thấy rõ “giá trị chiến lược” của cảng Hambantota. Hu Shisheng nói:

“Một khi chúng tôi muốn phát huy giá trị địa chiến lược của nó, thì điều này có nghĩa là giá trị chiến lược của Sri Lanka sẽ biến mất.

Bạn nói xem, nếu các nước lớn cạnh tranh tại Sri Lanka, thì một nước nhỏ như Sri Lanka có chịu được không? Chịu không nổi, thậm chí có thể bị xóa sổ.”

Mặc dù dự án xây dựng cảng Hambantota bắt đầu từ 2010, trước khi Trung Quốc tuyên bố “sáng kiến” Vành đai và Con đường, nhưng Trung Nam Hải đã nhanh chóng đưa dự án trên vào kế hoạch toàn cầu này của mình.

Bởi sau khi ký hợp đồng xây dựng cảng Hambantota không lâu, truyền thông Trung Quốc đã gọi giao dịch này là “cột mốc” của Vành đai và Con đường.

Nhưng thực tế thì sao?

Hambantota là khu vực dân cư thưa thớt, phần lớn diện tích vẫn còn bị bao phủ bởi rừng, nhưng Trung Quốc vẫn quyết tâm đầu tư. Họ không chỉ có xây cảng.

Một sân vận động có số ghế ngồi lớn hơn dân số Hambantota được xây dựng, đánh dấu đường chân trời của thành phố này.

Ngoài ra Trung Quốc đầu tư xây dựng sân bay Quốc tế Rajapaksa Mattala cách sân bay chính của Sri Lanka chỉ 150 dặm (khoảng 240 km) về phía đông nam.

Trong tháng Sáu, sau khi hãng Fly Dubai Airline đóng cửa tuyến bay, chuyến bay thương mại duy nhất trong ngày tới sân bay Quốc tế Rajapaksa Mattala cũng biến mất.

Một tuyến đường cao tốc được xây dựng xuyên qua khu vực này chỉ là chỗ cho nông dân địa phương phơi thóc và voi rừng đi dạo.

Ban đầu, các trợ lý của Tổng thống Sri Lanka Mahinda Rajapaksa (2005-2015) đã từng xây dựng kế hoạch dài hạn để phát triển Hambantota.

Họ tính toán mở rộng cảng Hambantota như thế nào sau khi khai trương, có thể đảm bảo nó mang lại một khoản thu nhập trước khi Sri Lanka phải gánh nhiều nợ công hơn.

Tuy nhiên ngay từ năm 2009, Mahinda Rajapaksa đã không thể chờ đợi, ông ta muốn khai trương cảng Hambantota vào dịp sinh nhật lần thứ 65 của mình, sớm hơn kế hoạch Cục Cảng vụ Sri Lanka vạch ra tới 10 năm.

Thế là công nhân Trung Quốc ào ạt đổ vào Hambantota xây dựng ngày đêm liên tục. Người Trung Quốc nhanh chóng tràn ngập Hambantota.

Thủ đoạn đội giá thầu

Khi công nhân Trung Quốc đào cảng Hambantota, họ bỏ qua một tảng đá lớn chắn ngay cửa vào khiến các tàu lớn không thể vào trong cảng, trong khi đây lại là đối tượng chính dự án xây cảng Hambantota định phục vụ.

Các quan chức Cục Cảng khẩu Sri Lanka khi đó muốn lấy lòng Mahinda Rajapaksa đã nhanh chóng thúc đẩy dự án này.

Ngày 18/11/2010 là sinh nhật Mahinda Rajapaksa, Sri Lanka long trọng khai trương cảng Hambantota.

Sau đó cảng này bắt đầu được đưa vào khai thác, trong khi tảng đá lớn kia vẫn án ngữ lối vào.

“Phản ứng” của Trung Quốc với Việt Nam trên Biển Đông

Một năm sau, nhà thầu Trung Quốc China Harbour ra giá 40 triệu USD để phá hủy tảng đá chắn lối vào cảng Hambantota.

Mức giá trên trời này đã khiến rất nhiều quan chức Sri Lanka bức xúc, một số người công khai chỉ trích mức giá này có phần “lại quả” cho Mahinda Rajapaksa.

Đến năm 2012, cảng Hambantota bắt đầu nỗ lực thu hút tàu thuyền, nhưng hầu hết tàu thuyền lại lựa chọn cảng Colombo, trong khi giá thầu xây dựng cảng Hambantota liên tục đội lên.

Cuối năm 2012, chính phủ Mahinda Rajapaksa công bố mệnh lệnh yêu cầu các tàu thủy chở ô tô nhập khẩu trước đây vẫn cập cảng Colombo, buộc phải cập cảng Hambantota để giao hàng.

Mặc dù vậy, báo cáo của Bộ Tài chính Sri Lanka cho biết, năm 2012 chỉ có 34 tàu cập cảng Hambantota trong khi con số cập cảng Colombo là 3667 tàu.

Bộ trưởng Bộ Sự vụ kinh tế và chính sách quốc gia Sri Lanka, Harsha de Silva, nói với The New York Times:

“Khi tôi mới nhậm chức, tôi đã điện cho Bộ trưởng Bộ Kế hoạch quốc gia hỏi xem, lý do nào khiến bà ấy đồng ý xây dựng cảng Hambantota.

Bà ấy trả lời, lệnh trên dội xuống, chúng tôi buộc phải làm.”

Vì quyết tâm thúc đẩy dự án xây dựng cảng Hambantota, năm 2012 Tổng thống Mahinda Rajapaksa tiếp tục vay Trung Quốc 757 triệu USD.

Bắc Kinh đồng ý ngay, nhưng điều kiện thì phức tạp hơn nhiều.

Khoản vay thứ nhất Trung Quốc giải ngân là 307 triệu USD với mức lãi suất dao động từ 1% đến 2%, trong khi đó, lãi suất vốn vay Nhật Bản cùng thời điểm chỉ dưới 0,5%;

Nhưng để nhận thêm tiền vay từ Trung Quốc, khoản vay ban đầu được đàm phán lại và lãi suất dao động từ 1%-2% được thay bằng mức lãi suất cố định trên trời, 6,3%. Mahinda Rajapaksa lập tức gật đầu.

Trong lúc dự án Hambantota ngày càng đội vốn và làm nợ công chính phủ của Sri Lanka tăng nhanh thì đến kỳ bầu cử Tổng thống 2015. Mahinda Rajapaksa thất cử.

Tân nội các vùng vẫy trong bẫy nợ Trung Hoa

Nội các tân Tổng thống Maithripala Sirisena vừa lên nắm quyền đã lập tức tiến hành thẩm tra lại các giao dịch tài chính quốc gia. Kết quả khiến người ta giật mình:

2 nhiệm kỳ của Mahinda Rajapaksa đã tăng gấp 3 lần nợ công cho Sri Lanka, đến khi rời nhiệm sở con số nợ nước ngoài lên tới 48,8 tỉ USD.

Chỉ riêng năm 2015, khoản nợ chính phủ đáo hạn Sri Lanka phải thanh toán lên tới 4,68 tỷ USD.

Chính phủ Tổng thống Maithripala Sirisena lập tức tìm kiếm sự hỗ trợ từ Ấn Độ, Nhật Bản và phương Tây.

Nhưng các quan chức Sri Lanka nhanh chóng nhận ra rằng, không có quốc gia nào ngoài Trung Quốc có thể rót tiền cho Sri Lanka lúc này.

Ravi Karunanayake, Bộ trưởng Tài chính trong năm đầu tiên cầm quyền của nội các Tổng thống Maithripala Sirisena, cay đắng thừa nhận:

“Chúng tôi tiếp quản một nền kinh tế đang suy thoái, thu nhập không đủ trả tiền lãi chứ đừng nói tới chuyện trả tiền gốc.

Chúng tôi vẫn phải đi vay. Chính phủ mới không có cách nào dừng các khoản vay mới.

Trung Quốc đang cạn nguồn tiền để đổ vào Vành đai và Con đường?

Đây là một cuộc đua tiếp sức, trước khi đưa nền kinh tế vào quỹ đạo, bạn chỉ có cách chấp nhận nó.”

Năm ngoái, Ngân hàng Trung ương Sri Lanka ước tính nước này nợ Trung Quốc 3 tỉ USD.

Tuy nhiên nhà kinh tế học Nishan de Mel của Trung tâm nghiên cứu Verite cho rằng, có nhiều khoản nợ chưa được tính vào nợ chính phủ vì đăng ký dưới dạng dự án cá nhân.

Ông ước tính, khoản tiền Sri Lanka nợ Trung Quốc có thể lên tới 5 tỉ USD và vẫn tiếp tục tăng thêm mỗi năm.

Tháng Năm năm nay, Sri Lanka phải tiếp tục vay Ngân hàng Phát triển Trung Quốc 1 tỉ USD để trả các khoản nợ sắp đáo hạn.

Đã thành con nợ Trung Hoa, lãnh thổ – chủ quyền cũng khó giữ được

Năm 2016, chính phủ Sri Lanka bắt đầu đàm phán với Trung Quốc, hy vọng đưa dự án cảng Hambantota khỏi bảng sai ngạch của quốc gia mình mà tránh được việc hủy hợp đồng hoàn toàn.

Trung Quốc đưa ngay ra điều kiện Sri Lanka phải giao cho một doanh nghiệp Trung Quốc nắm cổ phần chủ yếu tại đơn vị quản lý vận hành, khai thác cảng Hambantota, chứ Bắc Kinh không xóa nợ.

Cuối cùng Bắc Kinh đưa ra 2 lựa chọn, China Harbour hoặc công ty mẹ của nó, China Merchants, sẽ nắm quyền kiểm soát cổ phần cảng Hambantota.

China Merchants dành được hợp đồng này, nhưng các thương gia Trung Quốc lập tức ép chính phủ Sri Lanka phải giao thêm 15 ngàn mẫu đất (6 ngàn héc ta) xung quanh cảng Hambantota cho China Merchants xây dựng khu công nghiệp.

China Merchants lập luận rằng, bản thân cảng Hambantota không có giá 1,1 tỉ USD, số tiền doanh nghiệp này bỏ ra trả nợ Trung Quốc thay chính phủ Sri Lanka cho dự án xây dựng cảng.

Nhiều quan chức Sri Lanka phản đối điều khoản này, nhưng họ không có lựa chọn nào khác. Hợp đồng được ký tháng 7/2017 và có hiệu lực vào tháng Chạp cùng năm.

Về mặt hình thức, hai bên thành lập công ty liên doanh quản lý vận hành cảng Hambantota, nhưng China Merchants chiếm 85% cổ phần, 15% còn lại thuộc về chính phủ Sri Lanka.

Với tỉ lệ cổ phần thấp như vậy, theo các luật sư, chính phủ Sri Lanka gần như không còn chủ quyền đối với cảng Hambantota trên thực tế.

Ban đầu đàm phán hoàn toàn không có điều khoản nào về việc Trung Quốc có quyền sử dụng cảng Hambantota và vùng đất xung quanh vào mục đích quân sự hay không.

Nhưng kết thúc đàm phán lại có điều khoản “cấm nước ngoài sử dụng cảng Hambantota vào mục đích quân sự nếu không có sự cho phép của chính phủ Sri Lanka”.

Nhiều người lo ngại, do tình trạng nợ nần chồng chất, “quan điểm của chính phủ Sri Lanka cũng có thể thay đổi”.

Ngoài Hambantota, Trung Quốc còn nắm cổ phần tại cảng Colombo trong dự án Colombo Port City. Trong hợp đồng này, Trung Quốc hoàn toàn sở hữu 20 héc ta đất và chính phủ Sri Lanka hoàn toàn mất chủ quyền.

Diễn biến cục diện Biển Đông, phân tích và bình luận

Năm 2014, cùng ngày Mahinda Rajapaksa tiếp Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tại Colombo, nhiều chiếc tàu ngầm Trung Quốc cũng hiện diện tại cảng này.

Chính phủ mới lên đặc biệt lo ngại việc Trung Quốc sử dụng tàu ngầm thu thập tin tức tình báo và sự xuất hiện của chúng rất khó phát hiện, nhưng không có cách nào kiểm soát.

Trong khi gia tộc Mahinda Rajapaksa vẫn tiếp tục toan tính quay trở lại chính trường, mặc dù ông ta bị cấm tái tranh cử Tổng thống do giới hạn nhiệm kỳ.

Trung Quốc vẫn giữ quan hệ hợp tác mật thiết với gia đình này.

Đảng đối lập của Mahinda Rajapaksa đã thắng lớn trong cuộc bầu cử địa phương tháng Hai năm nay, trong khi kỳ bầu cử Tổng thống sẽ bắt đầu từ năm tới.

Em trai của Mahinda Rajapaksa đã được ông ta nhắm tới, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Gotabaya Rajapaksa sẽ được dựng lên, nhưng người quyết định vẫn là Mahinda.

Hồng Thủy

giaoduc.net.vn

BÀI THƠ CHO NƯỚC

 “BÀI THƠ CHO NƯỚC”

Trương Chi
Truong Chi
Nhà thơ Trương Chi

BÀI THƠ CHO NƯỚC

1. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản
Và lớn lên dưới ảnh Bác Hồ
Bao nhiêu năm viết “Độc lập – Tự do
và Hạnh phúc” nhưng chưa từng thấy thế

2. Đất nước tôi có bao người tuổi trẻ
Đều lầm tin vào lịch sử Đảng truyền
Họ nói rằng: Bác là thánh, là tiên
Người đưa Nước thoát khỏi vòng nô lệ

3. Nhưng trong tôi thắp muôn vàn lý lẽ
Cuộc chiến nào mà Đảng thắng – Nước thua?
Dân làm giặc mà Đảng lại làm vua
Trên danh nghĩa “kẻ tôi đòi trung hiếu”

4. Đất nước tôi tất thảy do Đảng liệu
Đảng phân công, quản lý hết cuộc đời
Từ cây kim, sợi chỉ đến chén cơm, manh áo dù rách nát, nhỏ nhoi
Thì tất cả đều nhờ ơn của Đảng

5. “Yêu Tổ quốc” có nghĩa là “yêu Đảng”
“Chống chính quyền” là “phản bội quê hương”
Bao người vì non sông với niềm tin vào ngày mai nước Việt hùng cường
Đều lần lượt chịu tù đày, khổ ải

6. Đất nước tôi có gì không độc hại
Từ thức ăn, nước uống đến không khí ô nhiễm tràn lan
Từ nhu yếu phẩm của đứa trẻ sơ sinh đến cụ già sắp lìa khỏi trần gian
Đều tẩm độc vào xác – hồn nước Việt

7. Có nơi đâu mà người dân thua thiệt
Bằng thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa thế này không?
Máu dân oan đã nhuộm đỏ sông Hồng
Loài hung bạo chiếm hết trời – đất – biển…

8. Đất nước tôi với mọi điều trái ngược
Ngược văn minh, ngược tiến hóa loài người
Những phát ngôn của quan chức nực cười
Ngược đời thế, nhưng “tài tình lãnh đạo”

9. Ươn hèn nhất, bọn bút nô – Tuyên giáo!
Với hàng trăm tờ báo, đài vô tuyến – truyền hình
Ngoài mị dân, ru ngủ, chỉ những tin “cướp – giết – hiếp” hay bản nhạc “đúng quy trình”
Còn nhục nước họa dân thì muôn đời nín lặng

10. Đất nước tôi với sưu cao thuế nặng
Còn hơn thời phong kiến, thực dân
Những trạm BOT mọc lên khắp tỉnh thành
Cùng hàng vạn “áo vàng” chực rình thu mãi lộ

11. Ôi chân lý mà bao người “giác ngộ”
Làm suy đồi đạo đức mấy ngàn năm
Đưa quốc dân vào chia rẽ – thù hằn
Và kiềm tỏa đường tương lai dân tộc

12. Đất nước tôi mất dần vào Trung Quốc
Mất Hoàng Sa, rồi mất đến Trường Sa
Mất Biển Đông, Bản Giốc, rồi những nơi trọng yếu của nước nhà
Đảng biết rõ, nhưng làm ngơ tất cả

13. Từ có Đảng, biết bao điều tai họa
Như mệnh trời muốn thử thách người Nam
Mà Đảng vẫn huênh hoang nào “thắng lợi vẻ vang”
Nào “thời đại Hồ Chí Minh”, nào “dân giàu nước mạnh”

14. Đảng hào nhoáng với ngai vàng lấp lánh
Còn dân đen thì đói khổ, nghèo nàn
Những ủy ban, hội đồng… đều mang mác “nhân dân”
Chỉ kho bạc là của riêng “nhà nước”

15. “Đổi mới” rồi “kiến tạo” với bao đời Thủ tướng
Bao đời Tổng Bí thư từ Chinh, Duẩn, Linh, Mười…
Bao sai lầm mà Đảng chẳng nên người
Sợi kinh nghiệm rút kiếp nào cho hết

16. Đảng cứ sống và dân thì cứ chết
Cứ chết dần trong mơ ước tàn phai
Trong căn bệnh ung thư hay tai nạn giao thông… rồi sẽ đến một mai
“Chết từ từ” để giết nòi giống Việt

17. Tôi xấu hổ khi nói cùng thứ tiếng
Và viết chung ngôn ngữ với một đảng đê hèn
Hít thở bầu khí quyển màu đen
Bóp nghẹt Tự Do ở dưới triều Cộng Sản

18. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản
Nhưng tôi là một người Việt Tự Do
Trong tim tôi là lý tưởng Quốc Gia
Và chính nghĩa là chủ trương dân tộc

19. Xin cảm ơn những tấm gương bất phục
Và những người yêu Nước của hôm nay
Đã dấn thân vào những chốn đọa đày
Vẫn khí khái cất cao lời tranh đấu

20. “Ghét Cộng Sản” chẳng bao giờ là xấu
“Yêu đồng bào” từ giòng máu Việt Nam
Chúng ta là con cháu xứ Văn Lang
Và thề quyết làm sáng danh Hồng – Lạc

21. Hỡi những người trai, cô gái Việt
Hãy đứng lên vì non nước lầm than
Diệt bá quyền, lật đổ lũ tham tàn
Cho không thẹn với hồn thiêng sông núi

22. Hãy bước đi theo tiếng đời thúc gọi
Triệu tấm lòng vì đất nước – quê hương
Sẽ noi gương anh dũng của Trưng Vương
Mang ý chí Diên Hồng xây đắp nền Cộng Hòa tự chủ.

Cho quê hương Việt Nam, mùa Xuân 2018
Trương Chi

nguồn: hoisinhviennhanquyen.org

Đưa tàu chiến tuần tra Biển Đông, Anh – Pháp muốn “dằn mặt” TQ, gửi thông điệp tới Mỹ

Đưa tàu chiến tuần tra Biển Đông, Anh – Pháp muốn “dằn mặt” TQ, gửi thông điệp tới Mỹ

Đại sứ Trần Đức Mậu |

Đưa tàu chiến tuần tra Biển Đông, Anh - Pháp muốn "dằn mặt" TQ, gửi thông điệp tới Mỹ

Anh và Pháp cho thấy họ không chấp nhận việc Trung Quốc muốn làm gì thì làm ở khu vực và càng không để Trung Quốc biến Biển Đông thành cái “ao nhà” của mình.

Tín hiệu với Trung Quốc

Cả Pháp lẫn Anh đều đưa tàu chiến đến Biển Đông để thực hiện những hoạt động mà Bộ Quốc phòng của hai nước này gọi là thực hiện “tự do hàng hải” trong khu vực này.

Đây là lần đầu tiên đối với Pháp nhưng không phải như vậy đối với Anh. Hai nước này cũng không phải là những nước đầu tiên đưa tàu chiến đến khu vực với lý do và nhằm mục đích tương tự như họ tuyên bố. Mỹ tiến hành những hoạt động như thế thường xuyên hơn cả.

Động thái này được các nước lý giải rằng, những hành động của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông như xây dựng đảo nhân tạo, mở rộng những nơi đã chiếm đóng trái phép trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam), xây dựng sân bay và triển khai tên lửa… đã ngăn cản tự do hàng hải, bất chấp và vi phạm luật pháp quốc tế nói chung, Công ước của LHQ về luật Biển năm 1982 nói riêng.


  • Pháp và Anh không bị Trung Quốc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở khu vực Biển Đông. Nhưng an ninh và ổn định cũng như tự do hàng hải ở khu vực này lại động chạm trực tiếp đến lợi ích chiến lược của họ.

Điều này lý giải vì sao họ không thể không quan ngại sâu sắc về những ý đồ và hành động của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông và không thể không biểu lộ cho Trung Quốc thấy thái độ và phản ứng của mình bằng tuyên bố chính trị, cũng như hành động cụ thể ở khu vực.

Cả hai đều có quan hệ hợp tác không hề tồi với Trung Quốc, thường đứng trung lập trong chuyện Trung Quốc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với các nước khác nhưng không sẵn sàng chấp nhận chuyện Trung Quốc thay đổi thực trạng, quân sự hoá khu vực Biển Đông và cản trở tự do hàng hải trong khu vực này.

Việc cử tàu chiến đến khu vực Biển Đông không chỉ thể hiện sự quan ngại sâu sắc của họ mà còn hàm ý yêu cầu Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của LHQ về luật Biển, chấm dứt ngay những hành động và hoạt động vi phạm luật pháp quốc tế ở khu vực này.

Họ tỏ ra không chấp nhận việc Trung Quốc muốn làm gì thì làm ở khu vực và càng không để Trung Quốc biến khu vực Biển Đông thành cái “ao nhà” của mình.

Thông điệp tới Mỹ

Pháp và Anh còn phát đi cả thông điệp về phía Mỹ.

Thông điệp đó là hai nước này không để cho Mỹ và chỉ có Mỹ dùng sự hiện diện quân sự thông qua những hoạt động “tự do hàng hải” để độc chiếm vai trò và ảnh hưởng đối với những gì đang xảy ra, đối với việc đối phó những hành động của Trung Quốc ở khu vực cũng như đối với việc giải quyết tất cả mọi vấn đề liên quan đến chính trị an ninh, ổn định và quan hệ giữa các bên liên quan.

Họ muốn làm cho cả Mỹ lẫn Trung Quốc thấy là chuyện khu vực Biển Đông không phải là chuyện riêng của Mỹ, không phải chuyện của riêng giữa Mỹ và Trung Quốc, mà là chuyện chung của cả thế giới.

Cả Anh lẫn Pháp đều có những mối liên hệ chặt chẽ gốc rễ từ quá khứ lịch sử đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói chung, đối với khu vực Đông Nam Á và Biển Đông nói riêng.

Tìm cách có lại được vai trò và ảnh hưởng như ở thời xưa là một trong những mục tiêu đối ngoại được họ kiên định theo đuổi lâu nay.

Coi chuyện ở khu vực Biển Đông là chuyện chung của cả thế giới vừa tạo cớ cho họ hiện diện ngày càng tăng về quân sự ở khu vực Biển Đông, vừa trao cho họ lý do được hợp pháp hoá để gây dựng và tăng cường vai trò, cũng như ảnh hưởng.

Họ lại còn có thể có được thêm một “con chủ bài” đắc dụng cho quan hệ của mình đối với Trung Quốc và Mỹ. Mấy chiếc tàu chiến kia với sứ mệnh thực hiện “tự do hàng hải” vậy thôi mà cả hiện tại cũng như về lâu dài giúp họ chen được chân và chiếm được phần trong cuộc chơi chính trị an ninh và luật pháp quốc tế ở khu vực Biển Đông.

nguồn: soha.vn

Cái mặt – Cái miệng

Cái mặt & Cái miệng

 Tiểu Tử
https://baomai.blogspot.com/
Cái mặt
Con người có cái mặt là quan trọng nhất. Thật vậy, nếu lấy cái mặt bỏ đi, tất cả những gì còn lại trên thân thể sẽ không dùng vào đâu được hết và cũng không còn tồn tại được nữa. Không có mũi để thở, không có miệng để ăn… con người không có cái mặt là kể như “tiêu tùng”!

Trước khi “đào sâu” cái mặt, xin mở dấu ngoặc ở đây để “vinh danh” tiếng Việt : phần lớn những gì nằm trên cái mặt đều bắt đầu bằng chữ “m”, trên thế giới chưa có thứ tiếng nào như vậy hết!

https://baomai.blogspot.com/
Đây, nhìn coi : trên mặt có mắt, mũi, miệng (mồm) , má. Ở “mắt” có mày, có mi, có mí mắt, rồi mắt mụp, mắt mọng nước, mắt mơ màng, mắt mơ mộng, mắt mờ, mắt mù…
Qua tới “mũi”, ngoài “mùi” ra không thấy chữ “m” nào khác dính vào. Có lẽ tại vì cái mũi nó… cứng khư, không….linh hoạt. Ấy vậy mà nó – cái mũi – và “chân mày” (cũng kém linh hoạt như cái mũi!) lại được đi kèm với cái mặt để… hổ trợ cho tiếng “mặt”, trong từ ngữ thông thường : “mặt mũi” , “mặt mày” , làm như nếu nói “mặt” không, phát âm nghe…. trơn lùi, nhẹ hểu không lọt lỗ tai! Cho nên người ta nói “mặt mũi bơ phờ” , “mặt mày hốc hác” , chớ ít nghe “mặt bơ phờ, mặt hốc hác” .
https://baomai.blogspot.com/
Bây giờ tới “miệng”, thì có môi, có mép, rồi mồm mép, môi miếng, miệng méo, miệng móm, mím môi, mếu máo, mấp máy, bú mớm, mút mấp…. Đến “má” thì ngoài “mụt mụn” chỉ có “mi một cái” là còn thấy chữ “m” nhè nhẹ phất phơ…. Tiếng Việt hay quá!

Trở về với cái mặt. Ông Trời, khi tạo ra con người, ban cho cái mặt là một ân huệ lớn.

Nhờ có cái mặt mà con người nhận ra nhau, chồng nhận ra vợ, con nhận ra cha, biết ai là bạn ai là thù v.v…. Thử tưởng tượng một ngày nào đó bỗng nhiên không ai còn cái mặt nữa. Nếu có sống được nhờ một sự nhiệm mầu nào đó, thử hỏi con người lấy gì để nhận diện nhau ? Chồng vợ, cha con, bạn thù gì đều… xà ngầu. Vậy là loạn đứt!
Cho nên xưa nay, người ta coi trọng cái mặt lắm. Có người còn nói : “Thà chịu mất mạng chớ không bao giờ để cho mất mặt”! Vì vậy, rủi có ai lỡ lời chạm tự ái một người nào thì người đó thấy bị… mất mặt, liền đưa một nắm tay lên hăm he : “Thằng đó, bộ nó giỡn mặt tao hả ? Tao phải dằn mặt nó một lần cho nó biết mặt tao”. Rồi, bởi vì cái mặt nó…. nặng ký như vậy cho nên khi nói về một người nào, người ta chỉ nhắm ngay vào cái mặt của người đó để mà nói.
Nếu ghét thì gọi “cái bảng mặt” (Cái mặt mà như tấm bảng thì thiệt tình thấy chán quá! Thường nghe nói : “Cái bảng mặt thằng đó tao coi hổng vô!”) Nếu hơi khinh miệt thì gọi “cái bộ mặt” (“Thằng này có bộ mặt ăn cướp!”) Còn khi thương thì cái mặt trở thành “cái gương mặt” (“Em có gương mặt đẹp như trăng rằm!”) Chưa hết! Khi nổi giận muốn… hộc máu, người ta cũng chỉ nhắm vào cái mặt của đối thủ chớ không chỗ nào khác để “dộng một đạp” hay “cho một dao” hay “phơ một phát” hay…“tạt một lon ác-xít”! Bởi vậy, xưa nay những người có “nợ máu” lúc nào cũng sợ bị “nhìn mặt trả thù”, và hồi thời chống Pháp, những điềm chỉ viên đi nhìn mặt “quân phản loạn” đều lấy bao bố trùm đầu để giấu mặt!

Con người, khi nhìn người khác, lúc nào cũng bắt đầu ở cái mặt (Chỉ có người không…bình thường mới nhìn người khác bắt đầu ở cái chân hay cái bụng hay cái lưng!) Ở đó – ở cái mặt – ngoài cái đẹp cái xấu ra, còn hiện lên “cái mặt bên trong” của con người.

https://baomai.blogspot.com/
Các nhà văn gọi là “nét mặt”, nghe … trừu tượng nhưng suy cho kỹ nó rất đúng. Bởi vì chỉ có cái mặt là…..vẽ được cái nội tâm của con người thật đầy đủ. Cho nên mới có câu “Xem mặt mà bắt hình dong” (hình dong ở đây là cái hình dong giấu kín bên trong con người) Cho nên, trên sòng bài, các con bạc thường “bắt gân mặt” nhau để đoán nước bài của đối thủ. Cho nên mấy “giáo sư chiêm tinh gia” lúc nào cũng liếc sơ cái mặt của thân chủ trước khi nâng bàn tay lên xem chỉ tay, để….định mức coi “thằng cha này nó sẽ tin mấy phần trăm những gì mình nói”! Thì ra, đời người không nằm trong lòng bàn tay như mấy “thầy” đó nói, mà nó nằm ngay trên nét mặt!

Cũng bởi vì cái mặt nó….phản động như vậy cho nên các “đỉnh cao trí tuê của ta” đã nâng cao cảnh giác, ẩn mặt một cách….an toàn suốt giai đoạn đấu tranh “chìm” và chỉ “xuất đầu lộ diện” khi toàn dân đã vùng lên nổi dậy. Và các “đồng chí vĩ đại của ta”….thay tên đổi mặt lia chia để đánh lạc hướng kẻ địch, nay để râu mai thay tóc mốt cạo đầu v v ….Họ ôm khư khư cái mặt để….quản lý nó từng giây từng phút, chỉ sợ nó để lòi ra cái mặt thật nhét giấu ở bên trong, riết rồi nó xơ cứng như mặt bằng đất. Đến nỗi vào bàn hội nghị quốc tế, các đối tượng không làm sao “bắt gân mặt” để “đi” một nước bài cho ngoạn mục! Ở đây, phải nói thêm cho rõ là cho dù trong nội bộ với nhau – nghĩa là giữa “ta” và “ta” – cái mặt vẫn bị quản lý y chang như vậy, bởi vì hành động đó đã biến thành “bản năng” từ khuya! Vì vậy, đừng ngạc nhiên khi thấy, sau hội nghị, mới ôm “hôn nhau thắm thiết tình đồng chí” mà trên đường về lại khu bộ có cán bộ đã bị “bùm” hay bị “cho xe rơi xuống hố” một cách rất….bài bản, để lại niềm “vô cùng thương tiếc” nằm trên vòng hoa phúng điếu của người đã ra lịnh hạ thủ! Có khi, chính “đồng chí” này là người thay mặt tập thể, đứng ra….rớt nước mắt đọc điếu văn! Ở đây, ông bà mình nói : “Phải muối mặt mới làm được như vậy”. Thật là chí lý! Cái mặt đã muối rồi thì đâu còn sợ….bị thúi hay bị sình! Ta cứ tỉnh bơ thôi!

Bởi cái mặt nó phản ảnh con người nên hát bội mới “dặm mặt” sao cho đúng với cái “vai”. Để khi bước ra sân khấu, khán giả nhận ra ngay “thằng trung, thằng nịnh, thằng hiền, thằng dữ”…v v. Ngoài đời, không có ai dặm mặt, nhưng vẫn được người khác “nhận diện” là : thằng mặt gà mái, thằng mặt có cô hồn, thằng mặt… mẹt, mặt mâm, mặt thớt, mặt hãm tài, mặt đưa đám, mặt trù cha hại mẹ, mặt…mo …. v v. Sau tháng tư 1975, người dân miền Nam đã được Nhà Nước “vẽ lọ bôi hề” thành những khuôn mặt….không giống ai, để đóng vai “nhân dân làm chủ” trên sân khấu cách mạng, trong vở trường kịch “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”….

Trên sân khấu chánh trị Việt Nam bây giờ, trong cũng như ngoài nườc, “đào kép” tuy không dặm mặt như nghệ sĩ hát bội nhưng mỗi người đều có “lận lưng” vài cái mặt nạ, để tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng mà đeo lên cho người ta “thấy mình là ai” (dĩ nhiên không phải là cái mặt thật của mình) Rồi cũng “phùng mang trợn mắt hát hò inh ỏi” một cách rất…tròn vai, làm “bà con đồng bào, đồng chí, đồng hương” cứ thấy như thiệt!

https://baomai.blogspot.com/
Điểm đặc biệt là ông nào bà nào cũng muốn thiên hạ chỉ nhìn thấy có “cái mặt của mình” trong đám bộ mặt đang múa may quay cuồng trên sân khấu. Vì vậy, họ phải rán bơm cho cái mặt của mình to bằng….cái nia, để thấy họ mới đúng là….“đại diện”!
Chẳng qua là họ muốn tạo thời cơ để kiếm cho cái ….đít của họ một cái… ghế! Đến đây thì vở tuồng trên sân khấu đang chuyển sang lớp “gà nhà bôi mặt đá nhau” ….Cái mặt đã trở thành “một vấn đề”!
https://baomai.blogspot.com/
Để chấm dứt bài này, và để được yên thân, xin phép độc giả cho tôi “vác cái mặt của tôi đi chỗ khác”!
Cái miệng 
https://baomai.blogspot.com/
Cái miệng có hai chức năng chánh: ăn và nói. Xưa nay ít có ai để ý đến những chức năng phụ của cái miệng – tiếng là phụ nhưng cũng không kém phần quan trọng – như: ngáp, ợ, ho, khạc, thở khi nào bị nghẹt mũi v.v… Có lẽ tại vì nó… hạ cấp quá nên bị coi thường! Và cũng tại vì có sự coi thường đó mà người ta chỉ chú trọng dạy trẻ con học ăn học nói thôi. Thành ra, lớn lên, phần đông ngáp ơi ới không che miệng, ợ ồng ộc nghe chỏi lỗ tai, ho thẳng vào mặt người đối diện, còn khạc nhổ thì tùm lum bất cứ chỗ nào… Trong chuyện phiếm này, tôi cũng theo “truyền thống” để chỉ viết về hai chức năng “ăn và nói” của cái miệng.

Ăn… Từ hồi còn nằm trong bụng mẹ, con người đã biết ăn (Ông Trời sanh ra như vậy!) Mới lọt lòng, không ai dạy, kề vú vào miệng là đã biết… đớp (Về sau, khi đã thành nhơn, có đòi đớp như hồi bêbê là một… cái gì khác chớ không phải là ăn!) Thành ra “ăn” là một bản năng. Hễ đói là tự nhiên phải kiếm cái gì ăn, chưa biết rằng không ăn lần hồi rồi sẽ chết (Ăn… hối lộ không nằm trong “diện” tự nhiên trời sanh này!). Khái niệm “chết vì không có gì ăn hay có mà ăn không được” chỉ đến với con người khi con người có đủ trí khôn. Khỗ nỗi, khi có đủ trí khôn, con người lại đòi “ăn ngon”, biết chê biết khen, biết chế biến món này món nọ để ăn cho “khoái khẩu”. Cái “ăn”, vì vậy, đã chiếm… đỉnh cao của trí tuệ loài người, đến nỗi có câu “dĩ thực vi tiên” (ăn trước đã!) và ở Việt Nam miền nào cũng quảng cáo rầm rộ “món ăn đặc sản “ để làm… chảy nước miếng du khách (Ở Hà Nội bây giờ “chảy nước miếng hay chảy nước dãi” được gọi là “toát mồ hôi lưỡi”! Từ ngữ cách mạng vốn… trừu tượng!) Trên thế giới, ngành du lịch xứ nào cũng giới thiệu thật nhiều về “cái ăn” ngay sau khi cho xem phong cảnh hùng vĩ hữu tình. Để thấy cái miệng tuy nhỏ xíu như vậy mà đã…đẻ ra chữ “ăn “ thật to tổ chảng!

Trong từ ngữ thông thường, chữ “ăn” lúc nào cũng thấy như người lãnh đạo, nghĩa là đứng trên đứng trước nhiều chữ diễn tả một hành động một sự kiện – không biết để làm gì nhưng vẫn phải…đứng trên đứng trước! – Ví dụ như “ăn quịt, ăn gian, ăn trộm, ăn cướp” v.v… Tiếng “ăn”… ăn nhậu gì với những chuyện “quịt, gian, trộm, cướp”, vậy mà phải có lãnh đạo “ăn” vào đó nghe nó mới…xuôi lỗ tai! Rồi thì…ăn tùm lum, lúc nào ở đâu cũng thấy ăn: ăn giỗ, ăn cưới (Hồi xưa còn nói “ăn đám ma” nữa!) ăn khánh thành, ăn lên lon, ăn Tết, ăn đầy tháng, ăn thôi nôi, ăn… hối lộ v.v… Chỉ có “ăn” thôi, vậy mà cái miệng sao mà “lắm chuyện”!

Bây giờ, xin nói đến “nói”.

Con người nếu sống một mình chắc không cần phải biết nói! Thật vậy, biết nói để nói với ai? Rồi, bởi vì con người cần sống với con người nên mới phải “nói” để hiểu nhau. Mới đầu nói bằng… tay chân (bây giờ gọi là “ra dấu”) Lần hồi, chắc ra dấu… mỏi tay nên mới bày đặt tiếng nói (Dầu sao, mỏi miệng vẫn… dễ chịu hơn mỏi tay; cái trí khôn của con người bắt đầu… ló dạng!) Cái miệng, ngoài chức năng “ăn” của Trời cho, bây giờ có thêm chức năng “nói” do con người đẻ ra vì muốn người khác hiểu mình nghĩ gì muốn gì.

https://baomai.blogspot.com/
Con người mới sanh ra chưa biết nói, chỉ biết khóc! Các nhà văn gọi đó là “tiếng khóc chào đời”. Hay quá! Thật vậy, nếu không có tiếng khóc thì làm gì có tiếng nói? Rồi từ chỗ “oa oa” đó ọ ẹ riết rồi cũng ra chữ ra câu. Người ta dạy trẻ con học nói cho đúng cách, học nói cho có lễ độ, học nói cho thanh tao. Có một điều lạ là những tiếng… chửi thề chẳng thấy ai dạy mà sao ai ai cũng biết và biết sử dụng đúng nơi đúng lúc một cách “tài tình”! Ngoài những từ ngữ thông dụng – không kể chửi thề, dĩ nhiên – Nhà Nước Việt Nam còn dạy trẻ con hô khẩu hiệu, nói những lời “dao to búa lớn” theo… phong cách xã hội chủ nghĩa, nghĩa là nói để cho có nói chớ không phải nói để cho người khác hiểu mình nghĩ gì muốn gì. Cái “nói” – một chức năng của cái miệng – cũng bị làm… cách mạng! Than ôi!

Nói về “nói”, con người nói thôi… đủ thứ. Nào là “nói thánh nói tướng”, “nói láo nói phét”, “nói hành nói tỏi”, “nói trăng nói cuội”… Rồi “nói phang ngang bửa củi”, “nói dộng trong họng người ta”, “nói trên trời dưới đất”, “nói mà cái miệng không kịp kéo da non”, “nói như con két”…v.v.. Cái miệng nói nhiều hơn ăn, bởi vì ăn no rồi là không ăn được nữa chớ còn nói thì có bao giờ bị…no nói đâu để mà phải ngừng?

Tóm lại, cái miệng là để ăn và để nói. Vậy mà chính cái miệng nó “hành” con người. Ông bà mình hay nói: “Bịnh từ miệng mà vào, Vạ từ miệng mà ra”. Đúng quá! Tại vì mình ăn mới đem mầm bịnh vào người và tại vì mình nói mới đụng chạm sanh chuyện. Biết như vậy nhưng làm sao con người sống mà không ăn không nói?
Ở Việt Nam, Nhà Nước ta đã thấu triệt cái “chân lý” vừa kể cho nên đã… phân loại cái miệng: miệng của nhân dân và miệng của Nhà Nước. Cái miệng của nhân dân là cái miệng “ăn” còn cái miệng của Nhà Nước là cái miệng “nói”. Nhà Nước “quản lý” cái miệng ăn nên chỉ cho ăn vừa phải, đúng tiêu chuẩn, để nhân dân đừng… bị bịnh! (Bệnh từ mồm mà vào, đúng thế đấy… Ta đã học tập và triển khai cái chân lý ấy từ thời…không có gì để ăn cơ!) Còn “nói” thì nhân dân không nên nói, bởi vì “nói” là mang vạ vào thân đấy thôi. Để Nhà Nước nói, bởi vì Nhà Nước, đã là đỉnh cao trí tuệ của loài người, biết nói thế nào để không bao giờ phải… mang vạ vào thân. Và bởi vì cái miệng của Nhà Nước là loại miệng nói không sợ… mòn, không phải tốn tiền mua và dự trữ đồ phụ tùng thay thế. Cho nên đừng ngạc nhiên sao ở Việt Nam chỉ nghe có Nhà Nước nói và nói không bao giờ…ngừng! Ngoài ra, Nhà Nước vì thương dân nên khi thấy dân há miệng định nói là đưa tay bịt miệng ngay kẻo dân mang vạ vào thân, tội nghiệp! Một cử chỉ… đẹp như vậy mà thiên hạ cứ… vo tròn bóp méo!
Nếu “ăn” là để sống thì “nói” là để cảm nhận rằng mình đang sống. Vậy mà người dân Việt Nam chỉ được phép dùng cái miệng để ăn thôi
Tiểu Tử
https://baomai.blogspot.com/
nguồn: baomai.blogspot.com

Việt Nam: Luật An Ninh Mạng “nhằm ngăn dòng chảy cuộc sống”

Việt Nam: Luật An Ninh Mạng “nhằm ngăn dòng chảy cuộc sống”

Thụy My – RFI

Luật An Ninh Mạng vừa được Quốc Hội Việt Nam thông qua ngày 12/06/2018 đã gây ra phản ứng mạnh mẽ trong và ngoài nước. Cư dân mạng đồng loạt thay đổi hình đại diện phản đối, Hoa Kỳ, Canada, RSF kêu gọi hủy bỏ đạo luật này. RFI Việt ngữ phỏng vấn phó giáo sư tiến sĩ Hoàng Dũng, trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề đang gây xôn xao dư luận.

RFI: Kính chào phó giáo sư Hoàng Dũng. Thưa ông, như ông cũng thấy, vừa qua có phong trào rầm rộ hầu như khắp nơi phản đối Luật An ninh mạng. Trên mạng có những người đã than “Hôm nay, chúng ta bước vào bóng tối”. Vì sao dân chúng, đặc biệt là trí thức, lại phản dữ dội như vậy?

PGS Hoàng Dũng: Ngay câu hỏi cũng đã cho thấy thành công của những người soạn thảo luật này. Đặt tên là Luật An ninh mạng, họ cài đặt trong đầu người đọc rằng quan tâm của luật là quyền lợi của người sử dụng, cũng như đề phòng và trừng trị trộm cướp vào nhà.

Thực ra, với mục đích như vậy, thì năm 2015 Quốc Hội đã ban hành Luật An toàn thông tin mạng. Cho nên, Luật An ninh mạng có mục đích khác: tạo ra một cái camera trong ngôi nhà mạng của bất cứ người dân nào, và một cái cửa để vào cướp tài sản mạng của họ, từ đó nếu muốn sẽ ra tay trừng trị.

Nói tóm, ta có viễn cảnh hãi hùng trong cuốn 1984 của Orwell: “Big-Brother is watching you”(Anh Cả đang quan sát mày đấy). Trong thế giới của Orwell, nhân danh quyền lợi quốc gia, mọi công dân đều bị giám sát bằng màn hình từ xa (telescreens). Thế giới ấy trở thành hiện thực với Luật An ninh mạng, cũng nhân danh quyền lợi quốc gia!

RFI: Nhưng so sánh với 1984 của Orwell thì liệu có phóng đại quá không? Nhiều nước trên thế giới cũng có luật tương tự mà?

Khi nói tới 1984, là tôi muốn nói đến tinh thần của Luật An ninh mạng, chứ chưa bàn đến kết quả thực tế của nó.

Nói cho đúng, luật nói chỉ chế tài những người nào dùng không gian mạng để “xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Nhưng vấn đề là cơ quan nào phán quyết công dân phạm pháp?

Luật giao cho Công an, chứ không phải Tòa án: Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mạng phải: “Xác thực thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản số; bảo mật thông tin, tài khoản của người dùng; cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu bằng văn bản để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng”.

Như thế, ngôi nhà mạng của bất kỳ ai cũng có thể bị xộc vào khám xét, phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cơ quan an ninh. Ngôi nhà mạng rõ ràng kém an toàn hơn rất nhiều so với nhà ở: theo Luật Tố tụng Hình sự, việc khám xét nhà ở chỉ có thể tiến hành nếu được tòa án hay Viện Kiếm sát ra lệnh hay phê chuẩn.

Nói một cách hình ảnh, Luật An ninh mạng cho phép cơ quan an ninh lắp telescreens của Orwell trong nhà mạng của từng cư dân và việc bật công tắc để theo dõi hoàn toàn giao phó cho cơ quan này. Đây chính là điểm khác biệt chủ chốt giữa Luật An ninh mạng Việt Nam với luật của các quốc gia văn minh. Có người nói rằng có đến 18 quốc gia làm Luật An ninh mạng, nhưng thật ra họ làm luật về bản chất rất khác với Việt Nam, chủ yếu ở điều tôi vừa nói.

Việc Quốc Hội vội vã thông qua Luật An ninh mạng có lẽ một phần do tác động của các cuộc biểu tình với quy mô lớn nhất từ trước đến nay, xét về địa bàn và số lượng người tham gia biểu tình. Người ta dễ quy nguyên nhân là do mạng xã hội.

Nhận định như thế là nguy hiểm vì nó đổ tội cho người dân và che giấu nguyên nhân đích thực: các cuộc biểu tình là do lòng yêu nước trước viễn cảnh nhượng địa, sự phẫn nộ trước sự dối trá thô bạo. Như ông Bộ trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư Nguyễn Chí Dũng nói dự thảo Luật Đặc khu Kinh tế không có một từ “Trung Quốc” nào, nhưng dân mạng nhanh chóng tìm ra luật đặc biệt ưu đãi cho “nước láng giềng có chung biên giới với Quảng Ninh”. Và cả những uất ức khác, như nạn ô nhiễm trầm trọng ở Bình Thuận v.v…

RFI: Như vậy thay vì nhắm vào tin tặc, Luật An ninh mạng nhằm đối phó với với dư luận phản kháng nhiều hơn phải không ạ. Nhưng thưa ôngdù sao trong 466 đại biểu, cũng đã có 15 đại biểu Quốc Hội bỏ phiếu không tán thành, 28 đại biểu không biểu quyết. Sự kiện này có lẽ phải có một ý nghĩa nào đó chứ?

Tất nhiên là có. Nhưng không ít người đã hy vọng số đại biểu không tán thành nhiều hơn, dầu họ vẫn nghĩ chắc chắn dự thảo sẽ được thông qua. Nhà văn Nguyễn Quang Lập, vì thế, đã viết trong một status: “423/466- Không thể tin nổi! Dù đoan chắc một tỉ lệ áp đảo nhưng khó có thể tin con số này. Kinh hoàng!”

Tôi cũng kinh hoàng nhưng là khi Thượng tướng Võ Trọng Việt, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc Hội, đọc Báo cáo tiếp thu, giải trình của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Ông đọc Facebook thành Pê-tê-bóc, lại tưởng điện toán đám mây cũng như mây bay trên trời, có thể dịch chuyển đi nơi này nơi nọ.

Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc Hội là cơ quan chịu trách nhiệm thẩm tra luật An ninh mạng, mà người đứng đầu lại như thế. Nói cho đúng, không ai hiểu được mọi chuyện. Không hiểu thì học. Mà khởi đầu học là hỏi. Chẳng lẽ ông Võ Trọng Việt không hỏi bất cứ chuyên gia nào về vấn đề tối quan trọng của đất nước mà ông có nhiệm vụ thẩm tra hay sao?

Còn kinh hoàng hơn nữa là tiết lộ của giáo sư tiến sĩ Nguyễn Minh Thuyết (trên Facebook của ông), nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc Hội, là đại biểu Quốc Hội nhiều khóa. Ông nói rằng lỗi của ông Võ Trọng Việt chỉ là đọc sai tên Facebook. Còn những chuyện khác là lỗi tập thể: đây là ông Võ Trọng Việt đọc một báo cáo đã được duyệt qua nhiều cấp, nhiều lần!

Cho nên, chắc chắn có một tỉ lệ lớn các đại biểu Quốc Hội không đủ năng lực bàn và quyết những vấn đề đại sự quốc gia. Một Quốc Hội như thế thì không thể kỳ vọng gì nhiều.

RFI: Người ta nói nhiều đến việc có sự giống nhau khó hiểu giữa Luật An ninh mạng Việt Nam với Luật An ninh mạng của Trung Quốc. Xin ông cho biết ý kiến về việc này.

Có một trang mạng đã đối chiếu dự luật của hai bên: có đến bảy điểm giống nhau giữa luật An ninh mạng của hai nước. Muốn hiểu điều đó cần phải đặt trong một bối cảnh rộng hơn.

Lãnh đạo đất nước là Đảng Cộng Sản, chứ không còn cái tên Đảng Lao Động xưa kia. Một khi đã khăng khăng giữ bằng được chủ nghĩa Cộng Sản, thì mặc nhiên lãnh đạo Việt Nam đã gắn vận mệnh của đất nước với Trung Quốc. Phương châm cuối cùng trong bốn phương châm tổng cộng 16 chữ (Thập lục tự phương châm) do Hồ Cẩm Đào đề xướng và được Việt Nam vui mừng chấp nhận, khẳng định hai nước có chung một vận mệnh (vận mệnh tương quan). Đảng Cộng sản Trung Quốc đi đời thì Đảng Cộng Sản Việt Nam làm sao đứng vững?

Vì thế, chiến lược, sách lược của Việt Nam ở nhiều mặt rất giống Trung Quốc, thậm chí là hàng viện trợ của Trung Quốc là điều không có gì khó hiểu.

Không chỉ Luật An ninh mạng. Lực lượng 47 chuyên đấu tranh trên mạng gồm đến 10.000 người được thành lập trong quân đội dễ nghĩ tới mô hình “Ngũ mao đảng” (Đảng 50 xu, tổ chức của các dư luận viên).

Ngay lời lẽ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cũng có bóng dáng lãnh tụ Trung Quốc: ngày 22/1/2013, phát biểu trước Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tập Cận Bình đòi “nhốt quyền lực vào lồng chế độ” (Bả quyền lực quan tiến chế độ đích lung tử lý) thì ngày 14/4/2016, nói chuyện với cán bộ chủ chốt của tỉnh Quảng Ninh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập đến chuyện “nhốt quyền lực vào trong cơ chế, thể chế”.

Cao hơn nữa, nghị quyết, văn kiện của Trung ương Đảng Cộng sản và Chính phủ nói đến “thế lực thù địch”, “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”. Đó là sản phẩm dịch từ “Địch đối thế lực”, “xã hội chủ nghĩa thị trường kinh tế” của Trung Quốc.

Đã “vận mệnh tương quan” thì tất yếu dẫn đến việc nhận viện trợ vũ khí tư tưởng từ Đảng “bạn”!

RFI: Dù sao luật này cũng đã được Quốc Hội thông qua. Theo ông, hậu quả của việc này như thế nào?

Câu hỏi này thật ra rất khó. Tôi cho rằng để trả lời một cách tử tế, cần có nghiên cứu định lượng chứ không dừng ở định tính, tức là phải chỉ ra bằng những con số cụ thể.

Tôi không đủ hiểu biết để nói về tất cả hậu quả của Luật An ninh mạng, tuy tôi tin chắc là rất nghiêm trọng. Riêng về kinh tế, theo Hiệp hội Điện toán Đám mây Châu Á, việc hạn chế dòng dữ liệu xuyên biên giới có thể làm Việt Nam tổn thất 1,7% GDP, 3,1% đầu tư trong nước và tổn thất 1,5 tỉ đô la Mỹ giá trị phúc lợi tiêu dùng.

Ngay ngày 12/6, ngày Quốc Hội Việt Nam thông qua luật An ninh mạng, thị trường chứng khoán phản ứng tức khắc: các sàn chứng khoán đỏ rực, lao dốc rất nhanh do các nhà đầu tư nước ngoài bán tháo cổ phiếu, thiệt hại đến 3,6 tỉ đô la Mỹ. Nhưng như thế có lẽ còn xa mới lay tỉnh được những đầu óc chủ trương Luật An ninh mạng.

Luật An ninh mạng chỉ như một cố gắng tuyệt vọng be bờ để ngăn dòng chảy cuộc sống. Tất nhiên, nước sẽ chậm lại. Nhưng cuối cùng cuộc sống vẫn cứ lừng lững, làm sao ngăn được!

RFI: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Phó giáo sư tiến sĩ Hoàng Dũng, trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đã vui lòng dành thì giờ trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ.

Lại Nói Về Vấn Đề “Đối Thoại”

Lại Nói Về Vấn Đề “Đối Thoại”

(Nhân chuyện Thủ Thiêm và biểu tình của người dân
về Dự luật Đặc khu những ngày qua)

Nguyễn Trọng Bình

  1. “Đối thoại” kiểu…Ban tuyên giáo

Còn nhớ, cách đây khoảng một năm, ông Võ Văn Thưởng – Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương – có phát biểu và đặt vấn đề về sự “đối thoại” giữa Đảng, Chính quyền và dân chúng nói chung (đặc biệt là với những người bất đồng chính kiến) như sau:

“Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý”.

Phát biểu trên của ông Thưởng được khá nhiều cơ quan báo chí chính thống dẫn lại và ngay sau đó đã tạo ra một cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn phi chính thống. Và cho đến nay, sau gần một năm nhìn lại có thể khẳng định rằng, tất cả những gì ông Thưởng nói năm xưa chỉ là sự bột phát trong lúc cao hứng và nông nổi nhất thời của bản thân ông mà thôi. Và nói cho cùng thực ra đây còn là một “kiểu đối thoại” rất “đặc trưng” của những người làm công tác tuyên giáo trong hệ thống Đảng và Chính quyền Nhà nước lâu nay. Nghĩa là miệng lúc nào liếng thoắng như một con két nhưng tiếc thay nhìn vào thực tế thì hoàn toàn trái ngược, không phải vậy. Dân gian gọi đây là sự “nói một đằng nhưng làm một nẻo” hay chỉ giỏi nói, giỏi “chém gió” mà không làm. Đã vậy đến khi xảy ra những sự cố, biến cố ngoài ý muốn thì lại tiếp tục “bài ca con cá” rất quen thuộc: 1) “qua sự việc lần này chúng ta cần phải rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc…”; 2) “đây âm mưu và thủ đoạn của các “thế lực thù địch” nhằm bôi nhọ Đảng, Nhà nước ta và kích động dân chúng bạo loạn lật đổ…”

Câu chuyện ở Thủ Thiêm và đặc biệt là chuyện hàng ngàn người dân ở một số địa phương trên cả nước rầm rộ xuống đường biểu tình nhằm phản đối Luật đặc khu và Luật An ninh mạng ngày 10/6/2018 vừa qua là một minh chứng cụ thể nữa về vấn đề này.

Với câu chuyện Thủ Thiêm, một lần nữa cho thấy bức tranh toàn cảnh về sự cấu kết giữa các nhóm lợi ích nhằm thao túng chính sách về thu hồi đất đai, đẩy người dân thấp cổ bé miệng vào bước đường cùng trên khắp cả nước. Và điều đáng nói là, cái sự thể rõ như ban ngày ấy lại không được Chính quyền Nhà nước tiếp thu để điều chỉnh dù rằng có không biết bao nhiêu chuyện tương tự đã xảy ra trước đó. Những khuôn mặt già nua, đen sạm, cùng những giọt nước mắt của những người dân tay lắm chân bùn trong khi gặp gỡ với đại diện chính quyền TP Hồ Chí Minh đã nói lên tất cả những oan khiên và uất nghẹn của người dân đối với chính quyền nơi đây. Vì đã hơn 20 năm rồi, họ vác đơn đi kiện khắp nơi nhưng đều không được giải quyết thỏa đáng chỉ vì một cái lý do hết sức ngớ ngẩn: “bản đồ quy hoạch” Thủ Thiêm bị thất lạc!? Đất đai cha ông bao đời khai phá để lại cho con cháu nhưng chỉ sau một đêm ngủ dậy tất cả phải tay trắng ra đường; sống lay lắt vật vờ vì Nhà nước làm quy hoạch!? Chính quyền“đối thoại” với người dân như vậy đó hỏi sao họ không bất mãn? Nhưng khi mọi sự đã vượt quá sức chịu đựng, nếu như họ đứng lên phản kháng thì lại bị quy là “phản động”, “chống lại Nhà nước”, “chống lại Chính quyền nhân dân”!?

Với câu chuyện về Luật đặc khu và An ninh mạng, rõ ràng nếu mọi chuyện được minh bạch ngày từ đầu; hay như Luật biểu tình sớm được thông qua thì có lẽ những kẻ quá khích ở Bình Thuận sẽ được kiểm soát một cách chặt chẽ và hiệu quả hơn; những thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần cho cả hai phía người dân và Chính quyền chắc chắn cũng giảm thiểu đáng kể.

Sự việc này một lần nữa cho thấy giữa “ý đảng” và “lòng dân” giờ đây là một cái hố ngăn cách đang ngày một sâu và rộng thêm ra; nó là hệ lụy nối dài của biết bao lần người dân mất niềm tin vào Đảng và Chính quyền trong rất nhiều sự vụ trước đó. (Như vụ giàn khoan HD 981 mà “người bạn vàng” của Đảng đã ngang ngược cắm xuống thềm lục địa nước nhà; vụ “Formosa thất thủ”, vụ người dân Đồng Tâm vây bắt và giam lỏng các chiến sĩ Công an; hay gần nhất là hàng loạt sự phản kháng của các tài xế liên quan đến các trạm BOT…).

Đất nước đã hòa bình thống nhất có hơn 40 năm vậy mà giờ đây ngay trên mảnh đất quê hương những người dân (già, trẻ, gái, trai) và “Chính quyền của nhân dân” lại trở thành đối thủ của nhau, sẵn sàng lao vào nhau, xem nhau như kẻ thù không đội trời chung? Thử hỏi có đau lòng không và tất cả những chuyện này là do ai? Những người quá khích đập phá tài sản và tấn công lực lượng cảnh sát là điều không thể chấp nhận. Nhưng giá như trước đó, những người có trách nhiệm của đất nước nếu nghiêm túc và thành tâm “đối thoại” với người dân (hay với những người bất đồng chính kiến) về tất cả những vấn đề có liên quan thì rất có thể vấn đề đã không tồi tệ đến thế.

  1. Nói “nửa sự thật” và tuyên truyền một chiều chỉ đào sâu thêm hố ngăn cách

Trong thời đại bùng nổ về công nghệ thông tin mà vẫn không có một nền báo chí tư nhân đã là một nghịch lý và sự thoái bộ so với ngay trong thế kỷ 20 – thời kỳ đất nước bị thực dân Pháp đô hộ – chứ đừng nói chi so với các quốc gia phát triển và văn minh hiện nay. Đã vậy, giờ đây bộ Luật An ninh mạng lại được thông quá với những điều khoản mang nặng tính áp đặt như thể muốn tạo thêm hành lang để kiểm soát, kiểm duyệt và nhất là thủ tiêu quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận, tự do phản biện của người dân chỉ càng cho thấy rõ hơn bản chất “độc thoại” của Chính quyền Nhà nước mà thôi. Ai cũng biết và ai cũng thấy, các phương tiện truyền thông chính thống lâu nay về cơ bản chỉ là công cụ tuyên truyền, định hướng một chiều cho Đảng và Chính quyền. Cả nước có hàng mấy trăm tờ báo, tạp chí thế nhưng, chẳng những không phản ánh đầy đủ và trung thực suy nghĩ và tiếng nói của người dân mà còn quy chụp họ thế nọ thế kia thì sao gọi làm sao người dân tin tưởng và đồng thuận đây?

Hàng ngàn người trên khắp cả nước rầm rộ xuống đường phản đối dự Luật đặc khu vậy mà mấy trăm tờ báo lại “kiên định lập trường” cùng nhau đánh tráo khái niệm bằng cách lươn lẹo chữ nghĩa gọi đó là “tụ tập đông người” trái phép. “Tụ tập đông người” và “biểu tình” là hai khái niệm, hai phạm trù khác nhau hoàn toàn về bản chất. Tại sao và hà cớ gì lại sợ ai chữ “biểu tình” đến vậy trong khi đó là một quyền cơ bản của người dân đã được ghi trong Hiến pháp rất rõ ràng? Hiến pháp đã quy định nhưng lại trì hoãn không chịu ban hành luật đã là lỗi của chính quyền vậy mà giờ đây lại tiếp tục lươn lẹo chữ nghĩa thì hỏi sao dân chúng không nghi ngờ và mất niềm tin?

Một vấn đề nữa, đương nhiên, không ai chấp nhận những hành động quá khích và manh động của một số người dân ở Bình Thuận nhưng chính quyền cũng không nên định hướng báo chí tuyên truyền theo kiểu “cả vú lắp miệng em” như thế; hết lần này đến lần khác, mỗi khi có biến cố xảy ra là lại “vơ đũa cả nắm” rằng “người dân bị kích động, bị xúi giục, bị mua chuộc, bị lôi kéo bởi các phần tử phản động”… Tuyên truyền và đối thoại như thế chẳng khác gì đang châm dầu vào lửa, khoét sâu hơn cái hố ngăn cách giữa người dân với chính quyền.

Hơn nữa, thay vì lấy lý do ấy để tuyên truyền sao không chân thành và nghiêm túc tự nhìn lại và trả lời tại sao người dân hôm nay lại có những phản ứng như vậy? Tại sao mấy chục năm qua, Đảng lãnh đạo toàn diện đất nước nhưng đã làm gì và ăn ở thế nào mà “các thế lực thù địch” lại ngày một đông hơn và cứ “điên cuồng chống phá” như vậy? Tại sao giờ đây người dân không còn tin, nghe và làm theo những gì Đảng nói trên các phương tiện truyền thông chính thống mà lại tin, nghe và làm theo lời “xúi giục” của các “thế lực thù địch” của Đảng trên mạng xã hội? Hay mấy chục năm qua, Đảng và chính quyền đã “vì dân” kiểu gì mà đến giờ nhân dân lại đói khổ đến nỗi phải nhận vài trăm ngàn của “các thế lực thù địch” để chống lại Đảng?

Đặc biệt, nếu chính quyền bảo rằng người dân nhận tiền của kẻ xấu để “bạo loạn” và “lật đổ” vậy nếu người dân nói từ lâu đã nghi ngờ Đảng và chính quyền “nhận tiền” (trên danh nghĩa “hợp tác toàn diện”) từ “người bạn vàng” để vô tình hay cố ý bán đứng dân tộc này bằng những chính sách và đạo luật thiếu minh bạch có được không? (Ví như dự luật đặc khu vừa qua là một minh chứng. Hay những dự án, những công trình béo bỡ trải dài khắp 3 miền đất nước tại sao cho đến nay phần nhiều người thắng thầu đều là “anh bạn vàng” kề bên?).

Muốn đại bộ phận nhân dân tin tưởng hoặc không có những phản ứng tiêu cực lẽ ra Đảng và chính quyền phải chủ động đối thoại với họ về tất cả những mối hoài nghi ấy một cách công khai minh, bạch thay vì cứ cố tình bưng bít, giấu diếm hoặc tránh né… Nếu chính quyền kết tội những người “chống Đảng, chống Nhà nước” vì đã “xuyên tạc sự thật” thì chính quyền cũng nên tự xem lại mình có “xuyên tạc sự thật” nhằm “chống lại nhân dân” không khi chỉ cho phép truyền thông chính thống nói một nửa sự thật về một sự vụ, sự kiện nào đó? Ai cũng biết sự thật trong cuộc sống chỉ có một tuy nhiên, những người bị kết tội “chống Đảng” và Nhà nước thường có xu hướng “bôi đen” thêm và thổi phồng lên bằng cách “thêm mắm dặm muối” còn Đảng và chính quyền lại có xu hướng “tô hồng” và làm giảm nhẹ nó đi bằng cách đánh tráo và lươn lẹo chữ nghĩa. Suy cho cùng cả hai cáh làm trên đều là “xuyên tạc sự thật” vì một bên có xu hướng làm cho vấn đề trầm trọng và bi đát hơn còn một bên thì lại muốn giảm nhẹ và thậm chí không có gì. Vậy nên nên cuối cùng tất cả đều xấu như nhau, chẳng ai hơn ai.

  1. Sự thất bại toàn diện và thảm hại về chiến lược xây dựng “Con Người Mới – XHCN”

Không ai phủ nhận, kể từ sau ngày 30/4/1975 đến nay, trên bình diện xây dựng và phát triển kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đã có những bước phát triển cũng như những thành tựu đáng trân trọng. Đời sống vật chất của người dân về cơ bản đã khấm khá hơn. Tuy nhiên, tất cả điều này chỉ là tự ta so với chính ta trước đây, còn nếu mang ra so với bè bạn năm châu thì rõ ràng đó là sự phát triển không tương xứng với tiềm năng tiềm lực của mình nếu không muốn nói là một sự trì trệ và tụt hậu rất dài.

Đó là nói về phương diện kinh tế và đời sống vật chất; còn ở góc độ văn hóa thì sao? Có lẽ cũng nên dũng cảm mà thừa nhận rằng, đất nước Việt Nam hôm nay đã và đang phải nhận một sự thất bại toàn diện và thảm hại. Và sự thất bại lớn nhất ở đây chính là sự thất bại về việc xây dựng “Con Người Mới – Việt Nam XHCN” do Đảng đề ra suốt mấy mươi năm qua. Sự thất bại này đang hứa hẹn sẽ để lại một hậu quả rất nguy hiểm và khôn lường. Bởi đây là nguyên nhân cốt tử đưa đến sự lạc hậu và trì trệ của toàn xã hội; sự tồn vong không chỉ của chế độ mà còn cả dân tộc trong tương lai nếu như không kịp thời chỉnh sửa và khắc phục ngay từ bây giờ.

Không khó để nhận ra 3 biểu hiện căn bản, cụ thể và quyết định cho thấy sự thất bại này như sau:

Một là, sự giả dối và thiếu trung thực của con người khi nhìn nhận và đánh giá những vấn đề về xã hội và đất nước ở cả hai phía chính quyền lẫn người dân. Như đã nói ở trên, trước những vấn đề (đặc biệt là những vấn đề quan trọng) của xã hội và đất nước, chính quyền bao giờ cũng bưng bít, giấu diếm, tránh né, không dám nói hết những sự thật cho người dân biết. Còn về phía người dân thì có bộ phận vì sợ chính quyền nên đã a dua theo; bộ phận còn lại vì những uất ức và dồn nén nên có xu hướng thổi phồng thêm theo hướng tiêu cực. Hậu quả là cả xã hội từ quan cho đến dân đều quay cuồng trong sự giả dối, gặp nhau hàng ngày nhưng ai cũng phải đeo mặt nạ vào để trò chuyện với nhau…

Hai là, sự thui chột cái thiên lương, thiên tính thể hiện qua cách ứng xử, hành xử bốc đồng và man rợ từ lời nói cho đến hành vi trong các mối quan hệ hàng ngày giữa con người với nhau.

Ba là, sự lạc hậu, trì trệ và nhất là “tư duy nước đôi” và “ba phải” của tầng lớp vốn được xem là “trí thức” và “tinh hoa” trong xã hội. Có thể nói, một đất nước muốn phát triển thì vai trò của tầng lớp “trí thức, tinh hoa” trong xã hội là rất quan trọng. Thế nhưng, do đặc thù về thể chế chính trị (độc đảng cầm quyền) những “trí thức” đồng thời là Đảng viên đa phần đều nếu không bị chi phối và mắc kẹt trong hệ tư tưởng cũ kỹ thì cũng rơi vào cái bẫy về “ý thức hệ” do người “đồng chí 4 tốt” giăng ra. Vì vậy mà thành phần này mỗi ngày mỗi trì trệ, bảo thủ và giáo điều hơn. Không những vậy, đây là thành phần vốn được hưởng nhiều “đặc quyền, đặc lợi” nên rất dễ trở nên tha hóa biến chất vì không ai kiểm soát; đặt biệt là đang dần trở nên kiêu ngạo và ảo tưởng, không chỉ coi thường các tầng lớp khác mà còn “ăn không chừa một thứ gì” của họ.

Trong khi đó, tầng lớp được xem là “tinh hoa ngoài Đảng” cũng đã và đang chịu rất nhiều sự tác động và chi phối làm cho ngày một thêm phân tán và bệ rạc hơn. Một số thì đang trôi dạt muôn phương, vì nhiều lý do khác nhau thà chấp nhận “bán chất xám”, làm thuê cho các ông chủ nơi xứ người chứ không về làm việc tại “xứ mình”; phần còn lại trong nước thì vì miếng cơm manh áo và an nguy của gia đình và bản thân nên chấp nhận cuộc sống lay lất, vật vờ kiểu “ăn không dám ăn, nói không dám nói”; lại thêm thói háo danh và ba phải, vậy nên, trông rất thảm hại, vừa đáng thương nhưng cũng thật đáng trách…

Ở Việt Nam, ai cũng biết Ban Tuyên giáo Trung ương chính là cơ quan đầu não có nhiệm vụ tối quan trọng là tham mưu cho Đảng trong mọi vấn đề về tư tưởng, chính trị của không chỉ các Đảng viên mà mọi tầng lớp nhân dân; là cơ quan định hướng, tuyên truyền các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, khoa học, giáo dục, truyền thông, báo chí…nhằm xây dựng “Con Người Mới – Việt Nam XHCN”. Vậy nên, sự thất bại của Con Người Việt Nam hôm nay (như phân tích ở trên) suy cho cùng trách nhiệm trước hết và lớn nhất là thuộc về cơ quan này.

  1. Thay lời kết

Một đất nước muốn phát triển và ngày một văn minh, tiến bộ thì các quyền tự do, dân chủ cơ bản nhất của người dân nhất định phải được đảm bảo tuyệt đối. Và muốn có tự do, dân chủ thì không có cách nào khác ngoài sự chân thành đối thoại trước hết là giữa chính quyền với người dân với nhau. Có như thế mới không tạo ra những ngờ vực, nghi kỵ và hiểu lầm từ đó đưa đến những cách phản ứng và hành xử tiêu cực (và tiêu cực nhất là bạo lực và vấy máu lẫn nhau như cuộc biểu tình ở Bình Thuận vừa rồi).

Bên cạnh đó, đất nước muốn phát triển thì cần có sự đoàn kết, đồng thuận, chung sức, chung lòng của mọi tầng lớp dân chúng. Mỗi cá nhân trong xã hội trước hết cần phải làm đúng với chức phận và công việc của mình trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Sau nữa là làm bằng tất cả niềm đam mê và ý thức trách nhiệm để đạt được hiệu quả cao nhất.

Tóm lại, đất nước muốn phát triển thì các quyền tự do, dân chủ của người dân phải được chính quyền tuyệt đối tôn trọng trên tinh thần đối thoại, trao đổi trung thực, thẳng thắn và nhất là tôn trọng những ý kiến khác biệt, không quy chụp hoặc bắt nạt đe dọa về chính trị. Và đây cũng chính là điều kiện cần. Còn điều kiện đủ là sự thượng tôn pháp luật của tất cả mọi công dân (dù có Đảng hay không) trong đó Hiến pháp là bộ luật cao nhất. Làm được như thế thì dân tộc và đất nước tự khắc sẽ ngày một trở nên độc lập, tự cường. Một khi đã thực sự độc lập và tự cường rồi thì không còn phải e sợ hay lệ thuộc vào các thế lực ngoại bang xấu xa nào nữa. Và khi đó, sự ấm no và hạnh phúc của người dân mới có cơ may và điều kiện trở thành hiện thực. Còn như tất cả những gì đã và đang xảy ra thì mọi sự tuyên truyền về “độc lập, tự do, hạnh phúc” của đất nước và con người nếu không phải là một sự áp đặt và cố tình “độc thoại” thì cũng là sự ngụy biện và dối trá nhằm đánh lừa dân chúng mà thôi.

—————–

Nguồn tham khảo:

  1. Tá Lâm – “Ông Võ Văn Thưởng: Không sợ đối thoại tranh luận”. http://plo.vn/thoi-su/ong-vo-van-thuong-khong-so-doi-thoai-tranh-luan-702827.html
  2. Nguyễn Trọng Bình – Đối thoại nhận thức và rào cản”. Xem tại: http://www.viet-studies.net/kinhte/NTrongBinh_DoiThoai.html
  3. Nguyễn Quang Dy – “Văn hóa đối thoại và sự đồng thuận quốc gia”. Xem tại: http://www.viet-studies.net/kinhte/NQuangDy_VanHoaDoiThoai.htm

CT, 16/6/2018

Nguyễn Trọng Bình

nguồn:  viet-studies.net