Vũ Thất

Bảo Bình 1

Cùng chung số phận (Ch. 6)

Cùng chung số phận (Chương 6)

Tác giả: Kenneth Sewell  & Jerome Preisler

Dịch giả: Đệ nhất Song Ngư

Mất tích

“Khi làn sóng của sự chết bao phủ tôi, trận hồng thủy của ác quỷ làm tôi sợ hãi.”

– Samuel 22:5 “‘Liệu anh có biết nổi bí mật của biển cả không?’ Người lái thuyền trả lời như thế.

Chỉ có những người đương đầu với những hiểm nguy của đại dương mới có thể hiểu được cái bí ẩn của nó.”

‘Wouldst thou,’ so the helmsman answered, ‘Know the secret of the sea?’

Only those who brave its dangers, Comprehend its mystery.”

Bản dịch của Trịnh Cơ

Hỏi ta, ta đáp mấy lời:

Thâm sâu bí mật cuộc đời đại dương

Liệu người chưa đủ can trường

Làm sao hiểu chuyện vô thường mênh mông ? Chỉ người nghĩa khí xung phong

Vào nơi bão táp mới thông ngọn ngành.)

Đoạn thơ của Henry Wadsworth Longfellow, “The Secret of the Sea,” được Đề Đốc James W. Kelly trích dẫn trong buổi tưởng niệm cho thủy thủ đoàn Scorpion ngày mùng 6 tháng 6, 1968.

“Walker là một trường hợp vĩ đại trong lịch sử của KGB, Chúng tối đã giải mã hàng triệu tin tức của các anh. Nếu như chiến tranh đã thật sự xảy ra thì chúng tôi đã chiến thắng rồi.”

– Nhân viên KGB Vital Yurcheo

Là một khoa học gia hàng đầu của Chương Trình Đặc Biệt Tối Mật của Hải Quân, Tiến Sĩ John Craven cũng là nhà tiên phong trong nước trong lãnh vực khoa học kỹ thuật dưới nước và người đứng đầu chương trình tình báo Hải Quân cho tàu ngầm.

Ông cũng là sếp của chương trình tối mật về Hệ Thống Lặn Sâu của Hải Quân, trong trách nhiệm đó ông đã cầm đầu   việc   cải   cách các dụng cụ  lặn sâu  mà  sau này sẽ trở nên phương tiện cần thiết cho việc thám hiểm đại dương hiện đại.

Quá chiều ngày 27 tháng năm, 1968, Tiến Sĩ Craven trên đường lái xe về nhà ở Virginia sau một ngày mệt mỏi làm việc tại văn phòng ở Washington, thì ông nghe tin tức về Scorpion không về đến bến theo như dự tính qua radio trong xe. Lúc này thì Tiến Sĩ Craven đang bận tới cổ về cuộc tìm kiếm bí mật tàu ngầm K-129 của Liên Sô đã bị chìm đâu đó, mà tình báo của Hoa Kỳ đặt là một trong những tối ưu tiên. Nhưng thông báo rằng cuộc tìm kiếm một tàu ngầm của Hoa Kỳ mất tích đã bắt đầu thì ông nghĩ hay nhất là quay đầu xe lại về thủ đô.

Khi Tiến Sĩ Craven đến phòng Thuyết Trình Chiến Tranh Ngũ Giác Đài thì mọi người đang nhốn nháo cả lên. Ông liền được chỉ định tìm Scorpion và nguyên nhân đã làm nó bị đắm, nếu như quả thật đó là số phận của Scorpion. Thường thì ông có quyền hạn rộng rãi để thi hành công việc, nhưng với việc này, Tiến Sĩ Craven đã nhận được chỉ thị thẳng thừng là bỏ đi việc nguyên nhân Scorpion mất tích là do địch quân gây nên.

Cho tới bây giờ ai cũng phải lấy làm lạ là tại sao ông lại phải bị ép nhận lý luận đó. Phần đông các giới chức hải quân kể cả Đề Đốc Beshany, Tư Lệnh Phó Hành Quân của lực lượng tàu ngầm là một trong số sĩ quan có trách nhiệm về công tác tình báo của Scorpion tại Canary cũng đều nghi là người Nga đã chủ mưu tấn công.

“Đã có một vài phân tích về truyền tin rằng Scorpion đã bị phát hiện bởi nhóm mà nó đang theo dõi và có thể hiểu rằng chúng lại theo dõi Scorpion… Có những suy đoán rằng chúng không những theo dõi lại Scorpion mà còn tấn công Scorpion nữa.” Đề Đốc Beshany đã nhận xét như vậy trong một cuộc phỏng vấn của báo chí sau khi ông về hưu.

Dầu thế nào đi nữa, với động lực phải tìm kiếm cho ra chín mươi chín người của thủy thủ đoàn mất tích, Tiến Sĩ Craven bắt tay vào việc ngay dù là ông có ghét chuyện hai tay đã bị trói buộc tới đâu chăng nữa. Mới năm năm trước bốn nhà nghiên cứu cộng sự viên của ông, và hơn một trăm thủy thủ của chiếc USS Thresher đã mất mạng trong một chuyến chạy thử trong vùng vịnh ở Maine. Biến cố này đã khắc sâu vào tim óc của ông mãi mãi.

Trong khi tìm kiếm K-129, Tiến Sĩ Craven và toán khoa học gia của ông đã bắt đầu dùng những kỹ thuật tiên phong, phối hợp giữa nghiên cứu xác suất của toán học với phân tích dữ kiện âm thanh của Hệ Thống Khảo Sát Âm Thanh SOSUS. Bây giờ Tiến Sĩ Craven đã nhanh chóng đề nghị dùng chung phương pháp đó cho việc săn tìm Scorpion – và cũng đã nhanh chóng nhận được ngay vài thất vọng.

Đại Tá Joseph Kelly là một trong số những đồng nghiệp mà Tiến Sĩ Craven tín nhiệm nhất trong Hải Quân và cũng là chuyên viên số một về Hệ Thống Khảo Sát Âm Thanh SOSUS. Như sau đó Tiến Sĩ Craven nhớ lại, trong buổi họp chiều hôm đó tại Ngũ Giác Đài, Kelly hay người đại diện của ông được biết rằng SOSUS chẳng thâu nhận được một dữ kiện gì cả. Với năm ngày đã qua từ lúc Scorpion biến mất, hầu như chắc chắn rằng việc ấy đã xảy ra trong một khu vực mà SOSUS bao phủ rất yếu: một nơi bị mù – hay đúng hơn, điếc – trong khu vực phủ sóng.

Tiến Sĩ Craven đã xét đến điều đó. Không, đó hoàn toàn không phải là tốt. Nhưng ông cũng biết rằng đó không đến nỗi là một thảm họa. Những manh mối khác về vị trí của Scorpion thế nào cũng có, và ông chắc là đã được báo cho biết những điều đó tại buổi họp rồi. Một manh mối là sự trùng hợp về thời gian với những làn sóng NSA chận bắt đưọc với báo cáo tình hình của Scorpion đến Nea Makri. Một manh mối khác nữa, tiếng động mà phao nhận và phát âm hiệu của Orion nhận đươc gần Lajes. Chúng được ghi nhận vào khoảng 18:59 Greenwich Mean Time vào ngày 22 tháng năm. Nếu nó xuất phát từ Scorpion, những âm thanh đó không những định lúc Scorpion chìm nhưng cũng cung cấp vài ý niệm nơi mà nó đã chìm. Đấy chỉ là ý niệm đúng là rất tổng quát, và không thể so sánh với SOSUS được dù cho có tính toán lạc quan nhất. Nhưng Tiến Sĩ Craven vẫn còn có những tài liệu khác bên cạnh SOSUS để lấy tin tức.

Ông biết rằng còn có nhiều hệ thống khác hơn để lắng nghe âm thanh dưới biển.

II

Trong những giây phút đầu tiên của ngày thứ Năm, 30 tháng năm, một phi cơ tuần tiễu Neptune P2V và sáu chiếc tàu của Hải Quân phối hợp tìm kiếm cho Scorpion nhận một tín hiệu báo nguy từ ngoài khơi Norfolk: “Có ai nhận rõ, đây là Brandywine .”

Khi phi hành đoàn thông báo cho cấp chỉ huy của họ lời kêu cứu đó, chuyên viên vô tuyến trên chiếc USS Lapon (SSN- 661), một Sturgeon-loại tấn công nhanh tàu ngầm, đã tính ngay được điểm xuất phát của nơi phát tín hiệu. Trong lúc đó, Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Đại Tây Dương nhận được tin với cực kỳ thận trọng. Hải Quân thì bình thản về những nguồn tin tình báo phong phú rằng Scorpion đã bị chìm một tuần trước gần Azores, cả ngàn dặm từ vùng biển của Virginia nông cạn. Tàu ngầm chạy bằng dầu cặn USS Chopper cũng nhận được bản văn tương tự trong đêm đầu tiên chính thức tham gia việc tìm kiếm, đã kiểm chứng trong vòng một giờ rằng đó là báo động sai. Vì lời yêu cầu phát đi lần cuối này chẳng thích nghi với một tình thế cấp bách, chẳng mấy mong chờ đấy là lời cầu cứu thật.

Thật đáng tiếc cho gia đình của thủy thủ đoàn, những phóng viên tin tức đến Norfolk bảy mươi hai giờ qua đã không tôn trọng sự thận trọng của Bộ Tư Lệnh Tàu Ngầm Đại Tây

tiếng động mà phao nhận và phát âm hiệu của Orion nhận đươc gần Lajes. Chúng được ghi nhận vào khoảng 18:59 Greenwich Mean Time vào ngày 22 tháng năm. Nếu nó xuất phát từ Scorpion, những âm thanh đó không những định lúc Scorpion chìm nhưng cũng cung cấp vài ý niệm nơi mà nó đã chìm. Đấy chỉ là ý niệm đúng là rất tổng quát, và không thể so sánh với SOSUS được dù cho có tính toán lạc quan nhất. Nhưng Tiến Sĩ Craven vẫn còn có những tài liệu khác bên cạnh SOSUS để lấy tin tức.

Ông biết rằng còn có nhiều hệ thống khác hơn để lắng nghe âm thanh dưới biển.

II

Trong những giây phút đầu tiên của ngày thứ Năm, 30 tháng năm, một phi cơ tuần tiễu Neptune P2V và sáu chiếc tàu của Hải Quân phối hợp tìm kiếm cho Scorpion nhận một tín hiệu báo nguy từ ngoài khơi Norfolk: “Có ai nhận rõ, đây là Brandywine .”

Khi phi hành đoàn thông báo cho cấp chỉ huy của họ lời kêu cứu đó, chuyên viên vô tuyến trên chiếc USS Lapon (SSN- 661), một Sturgeon-loại tấn công nhanh tàu ngầm, đã tính ngay được điểm xuất phát của nơi phát tín hiệu. Trong lúc đó, Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Đại Tây Dương nhận được tin với cực kỳ thận trọng. Hải Quân thì bình thản về những nguồn tin tình báo phong phú rằng Scorpion đã bị chìm một tuần trước gần Azores, cả ngàn dặm từ vùng biển của Virginia nông cạn. Tàu ngầm chạy bằng dầu cặn USS Chopper cũng nhận được bản văn tương tự trong đêm đầu tiên chính thức tham gia việc tìm kiếm, đã kiểm chứng trong vòng một giờ rằng đó là báo động sai. Vì lời yêu cầu phát đi lần cuối này chẳng thích nghi với một tình thế cấp bách, chẳng mấy mong chờ đấy là lời cầu cứu thật.

Thật đáng tiếc cho gia đình của thủy thủ đoàn, những phóng viên tin tức đến Norfolk bảy mươi hai giờ qua đã không tôn trọng sự thận trọng của Bộ Tư Lệnh Tàu Ngầm Đại Tây

Dương. Hoặc là họ đã nghe được lời kêu cứu SOS trong khi rà trên băng tần vô tuyến hàng hải hay là được tiết lộ từ Hải Quân, họ đã vội vàng viết bản tin để gởi trước khi kiểm chứng được sự chính xác của nó. Chẳng mấy chốc bản tin của họ được phát đi trên tất cả các đài truyền thanh và truyền hình khắp nước.

Tại Norfolk, cộng đồng ở đây mong mỏi tia hy vọng mỏng manh nhất cũng không mấy lạc quan. Dán mắt vào tivi với mẹ và em gái, Barbara Foli nghe xướng ngôn viên suy đoán rằng có thể Scorpion sẽ về trong vòng một ngày. Ngay sau đó, một sự rung chuyển bộc phát ngoài cửa, với những hân hoan la hét từ mọi phía. Trong nhà chạy ra, bà thấy nhiều người dù chính ngay họ chẳng có thân nhân trên Scorpion, đã đổ ra đường chúc mừng và nhảy múa đầy hoan hỉ.

“Như là những bong bóng nổ tung trong bầu trời đen tối,”

bà nhận xét, cố gắng để mô tả nỗi vui mừng lúc đó.

Nhưng nỗi vui mừng bộc phát đó chẳng được bao lâu. Bà trở lại nhà để xem thêm những tin tức mới thì người hàng xóm, vợ ông thượng sĩ mang tin không vui tới. Hải Quân đã biết rằng có nhận được tin phát đi “Brandywine,”  nhưng khẳng định rằng đấy là chẳng lời kêu gọi cấp cứu của chính Scorpion.

Trong khoảng hai mươi bốn tiếng đồng hồ tới, giới chức của Hải Quân ra một bản tuyên bố ngắn gọn rằng có tới “chín mươi chín phần trăm cơ hội” rằng nó không phải xuất phát từ chiếc tàu ngầm bị mất tích.” Họ tin rằng đấy có thể là kết quả lầm lẫn không cố ý của tàu cấp cứu, một tin nhắn của một trong những chiếc thuyền tư nhân trong vùng cùng tên Brandywine, hoặc đó chỉ là một tin vịt mà thôi.

Khắp vùng Norfolk, một bầu không khí ảm đạm lại nặng nề đè nặng xuống mọi nhà.

III

Đã có ai hỏi những sinh viên đang làm việc tại phòng thí nghiệm Lamont Địa Chất của trường Đại học Columbia, một trạm nghiên cứu về hải dương học trên đảo Canary của La Palma, ngoài khơi Tây Phi châu, là có phải phòng thí nghiệm đang theo dõi các âm thanh của các loài vật đang sinh sống trong đại dương – chẳng hạn âm thanh như những bản hòa tấu của loài cá voi di chuyển khỏi vùng – thì những nhân viên làm việc tại đó sẽ trả lời thành thật đương nhiên là có, điều đó đúng là việc họ đang làm. Trên thực tế ngoài cổng trạm đã có một bản ghi chào mời dân cư địa phương và du khách đi biển ghé vào để nghe qua âm thanh đó.

Trung tâm La Palma ghi âm tất cả những âm thanh tự nhiên từ biển cả. Đấy là sự thật – nhưng không phải là tất cả mọi chuyện chỉ có thế. Dưới quyền Giám Đốc của ông Peter Green, cựu sĩ quan của không quân Hoa Kỳ, trạm La Palma ngoài ra cũng hoạt động, thật ra thì đó là hoạt động chính của trạm, nhờ khế ước với Sở Khảo Sát Hải Quân, là theo dõi âm thanh của phi đạn liên lục địa do tàu ngầm phóng ra tại những cơ sở thử nghiệm về hải dương của Hải Quân trên Đại Tây Dương. Những phi đạn được phóng lên trên không và những trạm radar sẽ theo dõi chúng. Sau đó nó sẽ rơi xuống biển, rồi hàng loạt những ống nghe dưới nước cực sâu của La Palma – là những lỗ tai điện tử được cài đặt tại một độ sâu mà làn sóng của âm thanh sẽ di chuyển một khoảng cách lớn – những ống nghe đó sẽ ghi nhận lại những âm thanh dội lại từ mặt đá của đáy biển thẳng hàng với các ống nghe đó. Với hai phương pháp ghi nhận âm thanh như vậy, các chuyên viên sẽ có thể vẽ được đường bay của phi đạn từ lúc ban đầu cho đến khi chấm dứt.

Như có thể đoán được, quân đội đã dùng những chữ đầu cho hệ thống theo dõi này – MILS (Missile Impact Location System) là những chữ tắt của hệ thống định vị nơi chạm đích của phi đạn. Sáng ngày 28 tháng năm, La Palma nhận tin từ Gordon Hamilton, một khoa học gia đang điều khiển một trạm MILS khác ở Bermuda và đã thiết lập nên trạm La Palma như là một trong những trạm trực thuộc ông. Hamilton đã nhận được một điện thoại từ Tiến Sĩ Craven buổi sáng sớm. Những năm trước đó họ đã từng làm việc cùng nhau trên SOSUS và Hamilton đã thu thập những âm thanh từ những ống nghe dưới nước và dùng phép đo ba góc để tìm ra vị trí của Thresher sau khi nó bị chìm. Bây giờ Tiến Sĩ Craven thuyết trình cho Hamilton về việc Scorpion biến mất và hỏi ông trạm của ông có nhận được những âm thanh khác thường nào có thể liên quan đến Scorpion không. Khi Hamilton biết rằng mọi người nghĩ Scorpion chìm ở một nơi nào đó gần Azores, ông bảo Tiến Sĩ Craven rằng có lẽ nó ở ngoài tầm hoạt động của những ống nghe dưới nước của ông ở tận Bermuda, nhưng nghĩ rằng trạm La Palma là một nơi hoàn hảo có thể ghi nhận được những tín hiệu đó. Ông sẽ theo dõi và sẽ báo lại cho Tiến Sĩ Craven.

Sau đó, Hamilton gọi La Palma và hỏi một trong những chuyên viên, kiểm soát lại những thu âm cho những ngày qua kể từ ngày 22 tháng năm. Đây là một công việc ưu tiên cao – một tàu ngầm mất tích – và Hamilton cần biết nếu có những gì bất thường trên những băng ghi âm đó mà có thể giúp tìm chiếc tàu ngầm mất tích.

Chuyên viên này kiểm soát lại băng ghi âm chỉ cần một lát là xong. Thực vậy, có những “chuỗi” âm thanh ghi nhận trên biểu đồ đáng chú ý được ghi nhận cùng với những dữ kiện tương ứng của chấn động của địa cầu được thấy trong bản in – vì thực ra một phần việc của phòng nghiên cứu dưới nước cho dân sự vẫn là địa chất học. Hamilton rất phấn khởi cho những tin tức đó và nói lời cám ơn. Bấy giờ ông yêu cầu người này mang tất cả những gì anh có được về Washington ngay. Thưa khi nào? Đi ngay chuyến bay tới đi.

Khi Tiến Sĩ Craven và Kelly kiểm soát bản ghi âm tại Washington, họ rất phấn khởi. Đã có những âm thanh từng nhóm một có thể có nối được đến năm đoạn đường trên hải trình của Scorpion trên Đại Tây Dương. Nhưng gom hết tất cả những tàu bè phi cơ để lục tìm xác một tàu chìm hay những vật trôi nổi trong vùng lớn đó thì thật là điều không thể thực hiện được. Họ cần phải làm thế nào đó để thu hẹp vùng tìm kiếm.

Kelly nghĩ rằng ông đã có giải pháp. Cũng như Hải Quân có MILS phòng thí nghiệm, không quân có Trung tâm Áp dụng Kỹ thuật (AFTAC = Air Force’s Technical Applications Center) của riêng họ với những trạm thủy đạo để nghe lén những cuộc thí nghiệm nguyên tử của Liên Sô. Có thể rằng họ đã khám phá ra điều gì để có thể dùng phép đo ba góc, và một nghiên cứu gần hơn của năm sự kiện trên những bản ghi âm và biểu đồ và từ đó giữ lại những cái hứa hẹn nhất.

Cái ý nghĩ của Kelly đã thành công tốt đẹp. Một nhóm ống nghe dưới nước của Trung Tâm Áp Dụng Kỹ Thuật Không Quân tại Newfoundland đã có những ghi âm mà hình như trùng hợp với những tin tức nhận được từ MILS Hệ Thống Định Vị Nơi Chạm Đích Của Phi Đạn.

Cũng như tài liệu của La Palma, những tài liệu này được chuyển tức tốc đến Washington ngay.

Tiến Sĩ Craven và Kelly chuyển tất cả những tài liệu đó đến Wilton Hardy, một khoa học gia trưởng ngành âm học của phòng thí nghiệm Hải Quân để phân tích.

Trong vòng vài ngày sau đó, ông đề nghị một khu vực khá rộng lớn nhưng không quá lớn, để có thể tổ chức tìm kiếm được.

Điểm này được đặt tên là điểm Oscar.

IV

Trong tuần lễ đầu hay thứ nhì sau khi Scorpion mất tích, khả năng thành tựu của những phương pháp của Hải Quân trong việc nuôi dưỡng và cứu sống thủy thủ đoàn trên một chiếc tàu ngầm bị chìm hay bất khiển dụng – hay trong việc kiếm ra nguyên cả tàu – là một đề tài mà đã tốn không biết bao nhiêu hàng chữ của bản tin. Ngày 28 tháng năm, một bản tin của Associated Press cho biết Đô Đốc Moorer và Đại Tá Nicholson nhắc đến việc sử dụng thực tiễn của phòng cấp cứu McCann, và mô tả phương pháp mà thủy thủ của Scorpion sẽ vào trong đó và phòng này để được cứu lên bờ. Bản tin cũng nhắc đến kỹ thuật đào thoát khẩn cấp liên hệ đến “một loại áo phao được mặc vào để kéo người lên mặt nước.” Một bản tin khác của


United Press International với bài viết phổ biến ngày 4 tháng sáu – tám ngày sau khi Scorpion được xác nhận là quá hẹn ở bến – bắt đầu bản tin với một đoạn văn nói rằng Hải Quân đã chở đến “một dụng cụ dùng dưới nước tối tân để cứu lấy con tàu gần Azores vào ngày thứ Hai, khi công việc tìm kiếm cho Scorpion đã bắt đầu vào tuần lễ thứ nhì với ít hy vọng cứu sống chín mươi chín thủy thủ.”

Nhưng dù cho cơ hội còn nhiều hay ít, các phóng viên vẫn tiếp tục hỏi những câu hỏi về cơ may sống còn của thủy thủ đoàn trong trường hợp khẩn cấp nhờ những bình oxy dự trữ hay những túi không khí còn lại trên tàu ngầm, mặc dù Hải Quân  đã tìm đủ mọi cách để dẹp đi những suy đoán không hợp lý chút nào đó. Ngày 8 tháng sáu, bản tin từ UPI đã nêu một nguồn tin không rõ xuất xứ của Hải Quân đã giải thích rằng “chiếc tàu này – nếu vẫn còn nguyên vẹn – chắc chắn sẽ không còn oxy cung cấp” thêm nữa Scorpion “chở những bình khí oxy và những đơn vị tự chứa để khử đi carbon dioxide từ không khí… nhưng những thứ này chỉ giữ được những người trên tàu sống thêm năm ngày, tùy thuộc số người dùng nó.”

Cho dù nỗ lực tìm kiếm đang tiến hành, nhưng với sự vắng mặt của xác con tàu thì cũng dễ hiểu rằng báo chí sẽ còn bàn ra tán vào với giả thuyết này nọ. Đâu phải ngày nào cũng có tàu ngầm nguyên tử bị chìm đâu. Nhiệm vụ và hoạt động của lực lượng tàu ngầm được thiết kế là đặt trong vòng bí mật, tuy thế nhiều phóng viên đã không có một sự hiểu biết rằng có rất nhiều trở ngại khiến cho một phép lạ có thể xảy ra cho việc cấp cứu thủy thủ của con tàu sau một thời gian dài như vậy.

Nhưng nếu báo chí đã chú tâm vào Norfolk, họ tất cũng hiểu rằng vào ngày 6 tháng sáu, Đô Đốc Moorer và phụ tá của ông cũng đã cho gia đình của thủy thủ đoàn của Scorpion hiểu rõ ràng nhất và không thể hiểu khác được rằng những người thân yêu của họ đã chết – bằng một buổi lễ truy điệu.

V

Từ khi được thuyên chuyển đến Norfolk, mọi điều đã thay đổi quanh John Walker như là một kịch bản vậy. John đã từng dè dặt khi nhìn thấy những hóa đơn phải trả tiền trong hộp thư và do dự khi phải trả lời những cú điện thoại vì sợ có thể đó là của người đòi nợ trên đường dây. Bây giờ John có thể mua bất cứ những gì ông muốn không có một chút gì suy nghĩ. Và khi những ngày cuối của tháng năm 1968 qua đầu tháng sáu, thảm kịch mà đã xảy ra tại cộng đồng Hải Quân tại Norfolk thì thật mỉa mai thay nó lại được góp phần vào sự sung túc cho John.

Như một cơn giông bão của những truyền tin liên lạc khẩn cấp về việc biến mất của Scorpion thổi qua Bộ Tư Lệnh Tàu Ngầm Đại Tây Dương, Walker đã có một vị trí tuyệt hảo để thu thập những tin tức tình báo từ trung tâm của địa chấn đó.

Những tài liệu tối mật mà ông có được, đã có đầy đủ chi tiết về mọi thứ mà Hải Quân đã biết và đã nghi ngờ về việc mất tích của Scorpion, mỗi giai đoạn của công tác tìm kiếm, mỗi dự định để thu thập tin tức từ SOSUS và liên hệ của nó với những âm thanh phát hiện được của những chuyến bay tuần tiễu của trạm Lajes.

Số tiền mặt mà Walker có được bằng cách chia sẻ những tin tức liên hệ về Scorpion đã được Liên Sô trả tương xứng, hay có thể còn hơn nữa, cơ may mà John đã kiếm được sau khi giao danh sách của khóa cho máy mã hóa Orestes những tháng qua – cùng với những bản tin thì thật là dễ dàng để lấy, John cũng chẳng phải mất công dùng máy ảnh Minox nữa. Thường thì có một chút nguy hiểm khi phải sao lại những khóa, vì ông phải trình bày một vài lý do hợp lý nào đó nếu bị bắt gặp.

Nhưng truyền tin của Hải Quân bình thường được sao nhiều bản và được gởi đi qua những hệ thống khác nhau, điều đó làm cho việc sao chép ở máy Xerox thì rất phù hợp với nhiệm vụ của Walker như là một sĩ quan trực phiên. Thí dụ mà có ai thấy ông với những bản sao của bản tin thì đấy là hoàn toàn bình thường mà thôi.

Vâng, công việc làm ăn của Walker khá lắm. Người Nga đã xét rằng những tài liệu của Scorpion mà ông cung cấp là một thắng lợi tình báo lớn. Họ không những đã ân thưởng cho

ông xứng đáng mà còn biểu lộ lòng cám ơn và còn mong muốn được cung cấp nhiều hơn nữa như trong một nhắn tin vừa qua tại một hộp thư chết. Cho gì đã xảy ra với Scorpion, Walker đã tự thuyết phục mình rằng đấy không phải là lỗi của ông. Trong sự dự đoán của ông, chiến tranh lạnh chỉ là một mức độ khác của trò chơi mà ông đang tham dự, một mức độ hào nhoáng phóng đại của nó. Ông tin tưởng rằng ý niệm mà người Nga và Hoa Kỳ sẽ có chiến tranh là thật buồn cười. Tại sao Liên Sô muốn gây hấn đẻ tạo nên một cuộc đấu bom nguyên tử với Hoa Kỳ bằng cách đánh chìm một tàu ngầm của Hoa Kỳ? Và cho dù chính ngay những tin tức mà ông đã bán cho người Nga mà  bọn Nga có dùng nó là để mở một cuộc tấn công – ông vẫn không có trách nhiệm gì. Như ông giảng giải cho vợ ông là ngay khi một người gia nhập Hải Quân anh đã liều thân đặt mình vào vòng nguy hiểm rồi. Những người thủy thủ trên Scorpion đã biết rằng khi gia nhập hay khi nhận thi vào trường Annapolis, họ đã lập lại lời thề và chấp nhận cái rủi ro rồi.

Walker đã không ưu tư gì về chuyện mất mát của thủy thủ đoàn Scorpion. Barbara và những người đàn bà khác chung quanh căn cứ có thể tha hồ mà ngồi với nhau để khóc lóc. Những thủy thủ đó đã ra đi, những gì mà họ phải chịu đựng cũng không thể tệ hại hơn hay nhẹ nhàng hơn nếu ông lợi dụng để giành lấy những cơ hội mà tai nạn đó đã mang đến cho ông. Một trong những điều tốt lành đã xảy ra chỉ vài ngày sau, và ngạc nhiên thay nó đã liên hệ đến bản kế hoạch của SIOP*,  mà ông đã gặp khi phục vụ trên chiếc Simon Bolivar.

Đang trực tại trung tâm truyền tin khi lệnh đến, Walker cùng một nhân viên khác phải giải mã và chuyển lệnh từ cấp cao nhất của Hải Quân đến hạm đội tàu ngầm Polaris ở Đại Tây Dương, lệnh khai hỏa phóng một loạt phi đạn nguyên tử đến Liên Sô.

Trở lại thời kỳ ông còn phục vụ trên chiếc Bolivar, Walker đã tham dự trong việc trắc nghiệm mức độ sẵn sàng của hệ thống vũ khí để đo lường khả năng chiến đấu của thủy thủ đoàn của Polaris trong trường hợp được lệnh tấn công nguyên tử. Là  một nhân viên truyền tin, công việc của ông là giải mã lệnh phóng phi đạn từ Trung Tâm Truyền Tin Hải Quân (NAVCOM) và giao cho hạm trưởng và hạm phó khi họ hấp tấp vào phòng truyền tin. Chỉ có những sĩ quan cao cấp nhất của tàu ngầm – có lẽ chỉ có hai người đó mà Walker sẽ giao bản mã hóa của lệnh phóng phi đạn – sẽ được biết đó chỉ là thực tập mà thôi.

Tại Bộ Tư Lệnh Tàu Ngầm Đại Tây Dương, Walker làm việc tại chỗ phát lệnh đi chứ không phải nhận lệnh của lệnh phóng phi đạn. Cũng như khi còn làm vô tuyến viên, ông không biết toàn thể mọi việc chỉ là một thực tập cho đến khi nó hầu như hoàn tất. Thực tập hầu như là thật vậy – và lần này nó đã đẩy hoàn toàn lực lượng phóng phi đạn của tàu ngầm vào trong một tình trạng gần như là tấn công. Với giới chức cao cấp của Ngũ Giác Đài đang tìm kiếm chứng cớ để tin rằng người Nga liên can đến mất tích của Scorpion, giả thuyết rằng việc tấn công trên một tàu ngầm của Hoa Kỳ có thể chỉ là bước đầu của một bộc phát thù nghịch lớn hơn, họ muốn trắc nghiệm sự sẵn sàng của những hệ thống và nhân viên mà có thể khởi đầu toàn diện trả đũa của Hoa Kỳ.

Sau đó, Walker khoan khoái thấy mình đóng một vai trò cốt yếu quan trọng trong việc thi hành SIOP. Chỉ một đầu đạn nguyên tử một triệu tấn A3 của phi đạn Polaris là một trăm lần mạnh hơn những quả bom nguyên tử mà đã san thành bình địa Hiroshima và Nagasaki trong thế chiến thứ hai. Một tàu ngầm như chiếc Simon Bolivar có đến mười sáu chiếc A3, mỗi chiếc có tầm hoạt động 2500 hải lý. Vì lý do đó, hạm đội tàu ngầm với phi đạn nguyên tử liên lục địa của Hoa Kỳ là phần tử tiên phong của chiến lược nguyên tử phòng thủ, ưu điểm lớn nhất của nó đối với Liên Sô.

John Anthony Walker sững sờ khi nhận ra rằng chỉ một hành động độc nhất – hay là quên không hành động – trong phần vụ của ông cũng có thể hoàn toàn xóa đi ưu điểm đó. Càng cân nhắc đến quan trọng của mình thì càng đầu độc ông hơn. Và điều không thể tránh là làm cho tư tưởng của ông nghĩ đến là làm thế nào để hưởng lợi từ hoàn cảnh đó. Người Nga có thể trả cho ông bao nhiêu để bảo đảm một sự chậm trễ hay là giữ lại bản văn phát đi của một lệnh phóng Polaris trong một hoàn cảnh của chiến tranh thật sự, và làm như vậy thì xem như đã cắt bỏ đi trái tim của chương trình phòng thủ của Hoa Kỳ?

Walker quyết định về số tiền, viết đề nghị trên một mảnh giấy và bỏ vào bao trao đổi mà ông đã mang từ Norfolk, để đi đến một hộp thư chết hẻo lánh khác. Một triệu đô la là một đề nghị phải chăng. Không, ông không tin rằng một chiến tranh nguyên tử sẽ sắp xảy ra, nhưng ông cũng cần có một hợp đồng bảo hiểm nếu thực sự nó xảy ra. Trong một thế giới với tàn phá của nguyên tử nơi đấy con người chạy hỗn loạn như sâu bọ để sống còn, một triệu đô la sẽ mang một người đi xa hơn.

Walker nghĩ rằng KGB sẽ vồ lấy đề nghị của ông. Làm sao mà họ không vồ lấy được? Lần này ông sẽ đòi hỏi một giá mà làm lu mờ đi tất cả những mật mã, tài liệu  hướng dẫn và thư từ mà ông đã bán cho họ trong thời gian qua. Lần này, tay ông đang cầm cái chìa khóa đặt người Nga về bên phía chiến thắng của một cuộc chiến đấu quyết tử cuối cùng.

Chương 5, 3 Chương 6, (1)

Cùng Chung Số Phận (Chương 5,3)

Cùng chung s phn (Chương 5,3)

Tác giả: Kenneth Sewell  & Jerome Preisler

Dịch giả: Đệ nhất Song Ngư

X

Như những người khác có liên hệ đến Scorpion, Bill Elrod nghe được tin buồn qua tivi.

Sau khi lang thang suốt ngày tại văn phòng phi đội Orion chờ tin tức của Scorpion, Bill đành bỏ cuộc và rời văn phòng phi đội Orion khoảng năm giờ chiều và lái xe về nhà để ăn cơm với vợ. Vẫn còn chấn thương sau khi mất đứa con còn trong bụng mẹ, Julie lo lắng sự chậm trễ về bến của những bạn bè thân thiết và những bạn cùng tàu với Bill trên chiếc tàu ngầm, mà vì lý do hoàn cảnh cá nhân đã bắt buộc Bill rời tàu tại Rota.

Khi Julie hỏi chồng có tin tức gì về Scorpion không, Bill bảo vợ rằng chẳng nghe được tin tức gì hết và chỉ muốn tin rằng lý do thời tiết giông bão là có thể giải thích được mà thôi. Khi họ chuẩn bị ăn chiều, dầu vậy, tin tức mới loan báo trên CBS Evening News đã làm tan biến đi những tin tưởng mà Elrod đã mong mỏi về sự thật đó.

Scorpion đã được chính thức tuyên bố là mất tích. Đối diện với sự thật lạnh giá này, biết được tin này cùng với hàng triệu những người xem tin tức, chính ngay cả những người chẳng biết về chiếc tàu ngầm này cả, tất cả đều sửng sốt.

Đấy là một phản ứng như nhau cho tất cả những gia đình sống trên đường Hampton Roads khi những hồi còi hụ lên cho những chiếc tàu rời bến đi công tác tìm kiếm, đã phá tan đi màn đêm, và những phóng viên từ khắp nơi đã đổ dồn về thành phố nhỏ này.

XI

Chuyên viên điện về truyền tin Jerry Pratt phục vụ trên Scorpion từ tháng năm 1964, và chấm dứt ba năm sau đó ngay ngày sinh nhật của anh. Khi nhiệm kỳ đầu của anh với Hải Quân hoàn tất, anh xin tái phục vụ và được thuyên chuyển khỏi chiếc tàu ngầm này khi tàu đang ở Portsmouth, Virginia, để tu sửa giai đoạn chót. Jerry thích chiếc Scorpion này, nhưng người vợ mới của anh sắp sửa có con, nên anh muốn được chọn gởi đi học tu nghiệp để khi đứa bé ra đời thì anh sẽ ở bên cạnh vợ con và để học vài điều về cách làm cha mẹ trước khi thuyên chuyển đến chiếc tàu ngầm khác.

Đến cuối tháng năm, 1968, thì Pratt hoàn tất chương trình huấn luyện và nhận lệnh thuyên chuyển đến USS Puffer (SSN- 652), đấy là chiếc tàu ngầm tấn công thứ nhì thuộc loại mới Sturgeon gia nhập hạm đội tàu ngầm nguyên tử. Chương trình mà Pratt đã học tại Great Lakes Naval Training School tại Lake Michigan, và thêm vài lớp nữa tại New London, đã thích nghi cho Pratt trên những trang bị mới của chiếc tàu ngầm tối tân này, mà căn cứ chính là Pascagoula, thuộc tiểu bang Mississippi.

Sau khi hoàn tất khóa học tại New London, Pratt có được vài ngày nghỉ trước khi phải trình diện ở Pascagoula. Mặc dầu đã gần một năm từ khi rời Scorpion, anh vẫn còn biết hầu hết thủy thủ đoàn, và một số bạn bè thân thiết trong số bọn họ, có gia đình hay vẫn còn độc thân. Thường xuyên liên lạc với bọn họ và gia đình họ, Pratt biết rằng Scorpion sẽ trở về từ Địa Trung Hải vào ngày 24 tháng năm, nên đã quyết định ngừng lại Norfolk để gặp họ trước khi xuôi nam từ Connecticut cùng vợ và đứa con trai mới sinh. Pratt không những muốn gặp lại những người bạn cũ, nhưng nghĩ rằng anh phải lái xe hơn một ngàn bốn trăm dặm với một chiếc xe đã khá cũ kỹ không còn trong tình trạng tốt nhất nữa, và anh không muốn dùng quá mức của nó. Không những thế lại còn có một bé sơ sinh trên hành trình này nữa.

Pratt và vợ con đến Norfolk ngày 23 và ở lại đêm tại nhà một người bạn. Dù cho Scorpion có không về bến ngày hôm sau, Pratt cũng chẳng nghĩ hay thắc mắc là Scorpion có thể bị nguy hiểm gì. Sự thật thì, Pratt đã dự trù thời gian lái đi đường nhiều hơn để đến Mississippi, nên không cần thiết phải đi ngay. Điều đó làm cho Pratt hy vọng có thể chờ được cho đến khi Scorpion về tới bến.

Pratt kẹt lại Norfolk thêm một ngày nữa, nhưng Scorpion đã không có mặt tại cầu tàu. Bây giờ hoặc là anh phải đi hay là sẽ trễ trình diện chiến hạm. Pratt đã không lo lắng vì anh đã biết từ kinh nghiệm bản thân thì sẽ là một sự lầm lẫn nếu cứ nghĩ rằng Scorpion sẽ phải trở về đúng ngày như vậy. Nếu Scorpion đã trở về chậm trễ vì những mệnh lệnh ban ra vào phút cuối, thì điều này cũng không phải là lần đầu tiên. Ngoài ra, ngày giờ dự trù mà Scorpion về bến cũng không được chính thức xác nhận là ngày  24 tháng năm mà chỉ được biết qua những thư từ của thủy thủ đoàn gởi về. Điều đó, thêm vào với sự kiện rằng Hải Quân cũng đã không cho biết có dấu hiệu trục trặc gì, hay Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Tàu Ngầm Đại Tây Dương có thể có một vài ưu tiên gì đó nên Scorpion không về bến đúng chương trình được.

Cuối cùng thì ngày 25 tháng năm, Pratt và gia đình cũng phải tạm biệt bạn bè, rồi bế đứa con vào xe và khởi hành. Nhưng ngay sau đó chiếc xe cũng có dấu hiệu lạch cạch – một khởi đầu không tốt cho gần một ngàn dặm đường còn lại. Phiền phức với máy xe bị trở ngại, nhưng Pratt, không hiểu thế nào cũng đã mang vợ con qua suốt chín trăm dặm đường trước khi đậu được xe vào chỗ đậu xe của khách sạn Holliday Inn tại Mobile, Alabama. Chẳng cần biết rằng chỉ còn hơn một giờ nữa là đến Pascagoula, nhưng Pratt đã mệt rồi. Mặt trời đang lặn, Pratt nghĩ rằng tốt hơn nên vào nghỉ ở khách sạn để bắt đầu sáng mai khởi hành trời mát mẻ và tinh thần sảng khoái hơn.

Hôm nay là ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong, ngày 27 tháng năm.

Vào khoảng 6 giờ, Pratt lột hết áo quần đã mặc suốt ngày để vào phòng tắm. Ở ngoài trong phòng ngủ, vợ anh đang mở tivi, nhưng anh chẳng nghe được gì vì tiếng của tia nước từ vòi sen bắn tung tóe chung quanh hắn. Rồi thì bỗng nhiên, có ai đó gõ cửa phòng tắm, nhưng không, phải nói rằng dộng cửa thì đúng hơn, tiếng động rất lớn đến nỗi làm Pratt phát giựt mình.

“Cái gì vậy?” anh vội hỏi khi vẫn đang còn đứng dưới tiếng xì xì của vòi nước đang chảy.

“Ra đây đi, Jerry,” vợ anh la lên. “Lẹ lên đi.”

Ngờ ngợ có chuyện gì bất thường, Pratt khóa vòi nước, nhảy ra khỏi bồn tắm, giựt một khăn tắm trên cây treo khăn. Nước vẫn còn nhỏ giọt từ thân thể Pratt, anh há hốc mồm nhìn cái tivi trong một sự yên lặng và sững sờ. Walter Cronkite báo cáo rằng Scorpion đã mất tích trong khi thi hành nhiệm vụ. Khoảng ba giờ chiều hôm nay, Hải Quân đã bắt đầu tìm kiếm.

Pratt đứng sững như trời trồng. Anh khó lòng có thể tin nổi những gì đã nghe. Nhưng một thông cáo về một tàu ngầm mất tích sẽ không có nếu như Hải Quân đã không lo lắng về số phận chiến hạm một lúc lâu rồi. Vậy mà tại sao lại để gia đình của họ phải bị đánh lạc hướng để cứ phải nghĩ rằng mọi điều bình thường?

Pratt đăm chiêu nhìn tivi, trí óc anh đang vật lộn với bản tin đó, cố gắng tìm câu trả lời thỏa đáng – một cố gắng càng lúc càng tệ hơn với thời gian đi qua mà thôi. Đi ngủ sau đó, giữa những cơn thức giấc, Pratt bị hành hạ bởi những giấc mơ không thể chịu đựng được về Scorpion. Nếu được hỏi, Pratt sẽ cảm thấy khó trả lời được cái gì là tệ hại hơn: lăn lộn trong cơn mơ với mồ hôi ra ướt đầm đề hay là nhìn sững vào khoảng không gian đen tối, vô tận.

Pratt sẽ có dư thời gian để quyết định. Bệnh mất ngủ và những cơn ác mộng sẽ là một vấn đề cho suốt cuộc đời còn lại của anh.

XII

Lúc điểm danh toàn thể 8:45 tối ngày 27 tháng năm, hầu hết thủy thủ đoàn của chiếc USS William H. Standley được đi bờ hay nghỉ phép. Họ mới về đến Mayport Naval Station ở Florida sau khi thực tập với hàng không mẫu hạm USS Intrepid, chỉ để một số ít người cần thiết cho phiên trực đêm.

Từ quán rượu này đến quán rượu khác gần căn cứ, quân cảnh hải quân len lỏi qua đám đông để gom lại những thủy thủ của chiếc Standley, chỉ mới vừa ngồi xuống trước ly rượu của họ. Họ phải trở lại tàu của họ tức thời. Một chiếc tàu ngầm đang gặp nguy và họ phải về tàu đi tìm kiếm.

Thủy thủ thường thì hay bốp chát với quân cảnh khi họ ra lệnh, nhưng lần nầy thì không như thế. Lần nầy tiếng nói chuyện và tiếng cười ồn ào đã tắt lịm đi và họ vội vã trả tiền. Thủy thủ đoàn của tuần dương hạm này chỉ được biết tên của tàu ngầm mất tích là Scorpion, là một tàu ngầm nguyên tử thuộc loại Skipjack ở Norfolk – khi họ đã khởi hành, nhưng thật sự chiếc nào hay nơi đâu là bến chính đâu có quan trọng gì. Những chiến hữu của họ đang bị nguy hiểm và họ cần phải giúp và muốn đi giúp các bạn mà thôi.

Bây giờ đã gần một giờ sáng ngày 28 tháng năm trước khi chiếc Standley sẵn sàng khởi hành. Trước khi đi tới chỗ làm việc, Trung Sĩ Radar Richard Shafer đã phỏng đoán rằng một phần ba nhân viên vẫn còn trên bờ khi tàu rời bến. Với nhiều người đi bờ như thế, anh nghĩ rằng không có giờ để chờ cho tất cả mọi người trở về được.

Sau đó Shafer thấy rất nhiều sĩ quan cao cấp lên tàu. Lúc ban đầu thì họ ở trên chiếc Petrel, nhưng trở ngại vềdụng cụ trên chiếc tàu cấp cứu tàu ngầm đó đã bắt buộc họ phải chuyển lên chiếc Standley này ngay khoảng lúc mặt trời mọc ngày 29 tháng năm, một ngày sau khi Standley đến Virginia Caps.

Với một số đông sĩ quan cao cấp như vậy làm Shafer đến ngộp thở. Nơi làm việc của anh là Trung Tâm Chiến Báo hay là CIC (Combat Information Center) – một phòng trang bị với những màn hình điện tử của sonar, radar, vô tuyến, tin tức khí tượng là được thu thập và tổng hợp với các dữ kiện từ những tàu bè khác. Trong nỗ lực tìm kiếm tàu ngầm, công việc của anh là chuyển tiếp lệnh qua một điện thoại không dây dưới nước tại Naval Tactical Data System trong phòng sĩ quan chỉ huy chiến thuật của hải đội trong CIC. Một khi Standley đã vượt đại dương và có mặt ở Azores thì nhiều người đã cá rằng nó đã phá kỷ lục về thời gian hải hành. Shafer nhìn chung quanh và thấy ít nhất là tám sĩ quan cao cấp đang bàn luận chỉ cách chỗ ngồi của anh có vài bước – Đô Đốc Bernard, hai phó đô đốc, ba đại tá và hai trung tá. Shafer muốn nghe được những gì họ bàn luận nhưng anh đang mang một bộ ống nghe phủ kín cả hai tai nên không làm sao nghe nổi tiếng nói của họ. Mọi người trên tàu đều muốn biết chuyện gì đã xảy ra cho Scorpion. anh đã nghe bàn tán rằng tàu đã tông vào một đỉnh núi dưới đáy biển hay một tàu ngầm của Nga, tin đồn rằng tàu đã bị phá hoại – đủ thứ tin đồn lan ra trên chiến hạm. Nếu Shafer có thể nghe được những gì mà những sĩ quan này đang nói thì chắc rằng anh sẽ trở nên người nổi tiếng nhất trên tàu này.

Thực tế thì Shafer phải bị kẹt với công việc này. Trong khi Standley hải hành trên hải trình được định thì Shafer phải lập đi lập lại “Brandywine, Brandywine, Đây là Steamer, Steamer, nghe rõ trả lời!” trên bộ sonar cứ khoảng mười phút. Brandywine là ám hiệu gọi của Scorpion and Steamer là của Standley.

Shafer duy trì tại vị trí này mà nhiệm vụ giao cho nó phần lớn thời gian của chín ngày tới. Ấn nút phát và thâu, lập lại cùng thông điệp, rời nút bấm và chờ cho một trả lời. Và rồi bắt đầu lại.

“Brandywine, Brandywine. Đây là Steamer, Steamer, nghe rõ trả lời.”

Shafer buồn bã và nhớ mãi nỗi buồn đó vì những lời gọi được lập đi lập lại đó đã chẳng bao giờ được trả lời.

XIII

Máy chánh trên một chiếc tàu ngầm nguyên tử dùng một số lượng nước để làm nguội và để cung cấp hơi nước cho máy turbine quay chân vịt của nó. Nhưng nước tự nhiên vốn chứa những khoáng sản mà sẽ làm cho máy móc bị rỉ sét, vì vậy mà nó phải được lọc trước khi trở thành nước dùng cho các chu trình nguyên tử hóa. Nếu người ta muốn sử dụng một lò nguyên tử trên một tàu ngầm, thì không ai muốn những dòng nước chứa chất phóng xạ chảy ra từ các ống nước bị rò rỉ.

Để có nước tinh chế cho lò nguyên tử, một tàu ngầm nguyên tử được trang bị với một hệ thống khử ion hóa mà gồm có một thùng chứa hay còn được gọi là “giường” chứa đầy hai loại

chuỗi hạt nhựa. Nhỏ hơn đầu cây kim, những chuỗi hạt tổ ong rỗng có hàng ngàn vật thể nhỏ mà hoặc là điện tử dương hoặc điện tử âm. Khi nước chảy qua những chuỗi hạt này, những vật thể ion hóa kết hợp chúng với – dương với âm và âm với dương vật thể – và khi rời thùng chứa thì tất cả chỉ còn là nước tinh chế đã được khử ion hóa.

Giống như bất cứ hệ thống lọc nào, thùng chứa đó đến thời kỳ phải được thay thế, và khi đến kỳ hạn thì kỹ sư nguyên tử sẽ sửa soạn nó để chuẩn bị tháo bỏ nó đi. Năm 1968, những hạt nhựa quá hạn kỳ đó, mà có cơ nhiễm phóng xạ, sẽ được đổ vào đại dương tại một nơi xa, cách đất liền một khoảng đã được ấn định là an toàn. Mặc dầu do lo ngại về môi trường mà sau này người ta không còn dùng cách này nữa, nhưng thời đó thường được dùng vì sự hiểu biết về sinh thái học và luật lệ kiểm soát chưa được cao.

Đang trên đường đi tới nơi đổ những chất phóng xạ đó xuống Đại Tây Dương, tàu ngầm nguyên tử tấn công USS Skate đã ra khỏi vùng New London được một ngày, thì chiến hạm nhận lệnh phải bỏ tất cả những hoạt động và hải hành với vận tốc tối đa đến Virginia Capes. Một tàu ngầm của Hoa Kỳ nghi rằng đã bị chìm trên đường đi từ vùng hoạt động về Norfolk, và Skate phải gia nhập các đơn vị tìm kiếm và sửa soạn đi theo dấu hải trình từ bến nhà Norfolk đến tọa độ cuối cùng của Scorpion báo cáo ở một nơi nào đó gần Azores.

Trung Sĩ Cơ Khí Bob McDaniel chỉ là một nhân viên mới gia nhập thủy thủ đoàn của Skate chưa được hai tháng, mới báo cáo tân đáo vài tuần khi Skate trở về từ chuyến tuần tiễu miền bắc. Vẫn còn là một thủy thủ trẻ làm việc để đạt tiêu chuẩn để được phục vụ trong lực lượng tàu ngầm, Bob cảm thấy nản lòng khi được biết rằng một chiếc tàu ngầm Hải Quân rất có thể đã chìm không có ai sống sót. Nhưng Bob cũng nhận thấy rằng những thủy thủ đi tàu ngầm lâu hơn thì nhận tin này hết sức khổ sở, và họ đã tái mặt khi biết đó là Scorpion.

Khi Skate vượt sóng để gặp những chiếc khác tới vùng giữa Đại Tây Dương, Bob nói chuyện với thủy thủ khác và được biết rằng – có những liên hệ cá nhân giữa thủy thủ đoàn của hai tàu ngầm. Trở lại cuối năm 1967, cả hai đều ở hải quân công xưởng ở Portsmouth, và cặp song song với nhau một thời gian. Thủy thủ đoàn và gia đình của họ đã trở nên quen biết, nhiều người đã thường gặp nhau. Một vài người của họ có con cái thường chơi với nhau.

McDaniel nhớ chỉ có một ít chuyện vui trong chuyến đi Azores này. Ngoại trừ Pargo về lại Norfolk, tất cả các tàu ngầm đều được lệnh nổi trên mặt nước để có thể nhận bất cứ dấu hiệu vô tuyến mà một Scorpion bất khiển dụng, hay là phao phát tin của nó có thể gởi đi. Nhưng chiếc tàu ngầm Skate với thân bụng tròn là được thiết kế để lặn khi hải hành, nên lúc đầu nó lắc rất dữ dội trên mặt nước đầy sóng lớn. Sau đó mọi người trên tàu đều say sóng nên hạm trưởng phải cho tàu lặn sâu xuống ngang tầm của viễn vọng kính cho mọi người được dễ thở một chút.

Tiếc thay đó chỉ là được một lúc mà thôi. Ngay khi bao tử của McDaniel vừa ngừng quặn đau thì một công điện từ Bộ Tư Lệnh Tàu Ngầm Đại Tây Dương đã ra lệnh cho Skate phải nổi lên lại cưỡi những đợt sóng trồi lên cao rồi ập xuống đó. Không thấy có chiến hạm nào trong vòng một dặm, McDaniel ngạc nhiên sao bộ tư lệnh lại biết rằng Skate đang hải hành với độ sâu của viễn vọng kính. Đến cả mấy năm sau đó anh mới kết luận được rằng có lẽ các ống nghe dưới nước của SOSUS* đã phát giác ra điều đó. (* SOSUS là viết tắt của Sound Surveillance System, là một dãy những dụng cụ nghe dưới nước đặt ngang phía Bắc của Đại Tây Dương gần vùng Greenland, Iceland và Anh quốc – cũng được gọi là GIUK kẽ hở. Nguyên thủy được Hoa kỳ dùng theo dõi các tàu ngầm LiênSô nào đi ngang qua kẽ hở đó để tấn công các mục tiêu xa hơn về phía tây).

Cuối cùng thì mặt biển quanh Skate đã trở nên êm lại và thủy thủ đoàn đã cảm thấy khỏe khoắn hơn – thể chất mà thôi. Tâm trạng u buồn của những kẻ kỳ cựu tràn ngập như là mất mát những gì thuộc về chính phần bản thân của họ, những cái trân quý cá nhân mà ngay cả những người chỉ mới xuống tàu sau thời ở thủy xưởng Portsmouth cũng cảm nhận như vậy. Trong thời gian tàu lùng kiếm trên đại dương với lòng nặng trĩu đau buồn, nhưng vẫn không thiếu người tình nguyện làm quan sát viên trên chòi quan sát.

Bob McDaniel là trong số những người tình nguyện đó. Mấy ngày trong hành trình này, mới tới phiên anh lên sân tàu, Bob ngạc nhiên nhận thấy mình chóa mắt vì bầu trời nóng và chói lòa. Vâng, Bob nghĩ rằng thời tiết đã khả quan – đấy là chứng cớ của biển đã lặng mà có thể cảm thấy dưới thân tàu của Skate. Nhưng bầu trời không một đám mây là một chuyện lạ.

Nước chung quanh Bob lóng lánh với ánh sáng của mặt trời, và những người đã làm nhiệm vụ quan sát trước Bob thì mặt mũi và tay đỏ như con tôm hùm. Họ đã chịu đổi cho say sóng với chuyện bị phỏng da dưới ánh mặt trời

McDaniel muốn được có nhiều giờ trên đài chỉ huy – đúng ra thì trong công việc tìm kiếm này, nhiệm vụ quan sát đã giúp anh chàng đạt được thêm tiêu chuẩn để được phục vụ trên tàu ngầm. Khi Skate hải hành thẳng một mạch đến Azores, người thủy thủ trẻ này đã quan sát được nhiều điều mới thêm vào số kinh nghiệm đi biển của anh. Có cả đàn cá voi tò mò bơi theo đường đi của tàu, những cái thân đen và to lớn thỉnh thoảng chẻ mặt nước. Có những thùng gỗ, đồ vụn vặt và những vết dầu loang lổ mà McDaniel đã nghĩ rằng có thể là dấu hiệu của Scorpion cho đến khi một quan sát viên khác kinh nghiệm hơn bảo nó đó chỉ là những vật đó gần đường đi của thương thuyền nơi mà những vật trôi nổi, rác thải thường thấy.

Cuối cùng thì cuộc tìm kiếm của Skate được coi như là vô bổ, để lại cho McDaniel một cảm giác thất vọng cũng giống như tất cả những ai đã băng qua Đại Tây Dương với Đô Đốc Bernard. Mặc dầu lực lượng này đã hơn một tuần tại biển với trợ giúp của máy bay và cả tá tàu bè khác, thế mà cũng chẳng có được một manh mối nào cho thấy Scorpion đang ở đâu.

XIV

Bản ghi chính thức hàng ngày từ hồ sơ lưu trữ của Tổng Thống Lyndon Johnson ngày 28 tháng năm, 1968, và đệ trình bởi Đề Đốc Tidwell Shepard, Jr. Giám Đốc Trung Tâm Chỉ Huy Quân Sự Quốc Gia, một phần trích ra như sau:

Những đơn vị không chiến, tàu nổi và tàu ngầm thuộc Hạm Đội Đại Tây Dương đang tiếp tục tìm kiếm USS Scorpion trên hành lang phía Đông của Virginia Capes.

Scorpion được dự trù về căn cứ Hải Quân Norfolk lúc 1300 EDT (Eastern Daylight Time) ngày 27 tháng năm sau khi đã hoạt động lâu dài tại Địa Trung Hải với Đệ Lục Hạm Đội. Tiềm thủy đĩnh cùng thủy thủ đoàn gồm 99 sĩ quan và đoàn viên đã không về được bến.

Lần sau chót Scorpion liên lạc được là vào lúc 212001 EDT tại vị trí 400 dặm Nam của Azores. Chiến hạm mang theo hai quả ngư lôi MK 45 với đầu đạn nguyên tử.

Lời lẽ trong bản văn của Đề Đốc Shepard là ngắn gọn, súc tích và nhân danh NMCC – Trung Tâm Chỉ Huy Và Kiểm Soát Quân Đội – là rất chính xác. Nhưng bản văn của ông đã không đề cập về một cuộc tìm kiếm khẩn cấp. Nó cũng không nói đến một chuyên gia dân sự hàng đầu về phân tích và tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề cấp bách của Hải Quân đã tức tốc được mời gia nhập vào cuộc tìm kiếm này.

Ông là Tiến Sĩ John Pina Craven, ông gần như là đã gắn bó với sự kỳ bí của biển cả theo đúng nghĩa đen và nghĩa bóng của nó. Và đấy không phải là lần đầu tiên ông nhúng tay vào những chuyện như thế này.

XV

Thứ Tư ngày 29 tháng năm, Phó Đô Đốc Schade đã trở về bờ sau gần 48 giờ ngang dọc trên vùng biển của Virginia Capes với Pargo. Cùng với tàu tiếp cứu tàu ngầm Sunbird, chiếc tàu ngầm này đã định vị trí được năm vật đủ cỡ đáng được chú ý, trong đó có hai vật là xác của những thương thuyền bị chìm, một cái thứ ba được nghĩ là cái xà lan chìm.

Một cái khác khá lớn để có thể nghĩ là một tàu ngầm khi nhìn trên màn hình sonar của Pargo, và thợ lặn từ chiếc Sunbird được điều động lặn xuống đó để khảo sát. Qua mặt nạ lặn họ đã phải trố mắt để nhìn những gì mà báo chí ngày 31 tháng 5 đã mô tả như “tàn tích của thế giới đại chiến thứ II.”

Điều đó chính xác đúng như thế vì họ đã tình cờ tìm thấy đống sắt đang tan rã của một tàu ngầm Đức. Hơn hai thập niên qua, một tàu ngầm của địch đã bị chìm trong cuộc đột nhập vào vùng biển gần một trong số những căn cứ hải quân lớn nhất của Mỹ. Nhiệm vụ của nó là gì thì chẳng có ai ngoại trừ những ai đã ra lệnh cho nó – và những ai đã bỏ mạng theo con tàu – là biết được mà thôi.

Khi tháng năm nghiêng dần về tháng sáu, Đô Đốc Schade vẫn sẽ tiếp tục chỉ huy Sunbird và hầu hết những sĩ quan thân cận của ông từ bộ tham mưu tại Bộ Tư Lệnh Tàu Ngầm Đại Tây Dương trong khi vẫn yểm trợ cho tiền phương của Đô Đốc Bernard tại Azores.

Nhưng trên cả hai bờ của Đại Tây Dương, hy vọng đã nhanh chóng phai mờ. Cho đến giờ phút nầy thì cũng chẳng tìm kiếm được vật gì ngoại trừ những đống sắt cũ, rỉ sét và những bóng ma thầm lặng, có thể đã rú lên từ những nấm mồ dưới đại dương mà thôi.

Cùng Chung Số Phận (5,2)

Cùng chung số phận (Chương 6)

Đối thoại mẹ con thời XHCN

Đối thoại Mẹ Con thời xã hội chủ nghĩa

Inline image
Inline image

nguồn: G. Nguyen’s email

Cùng Chung Số Phận (5,2)

Cùng chung số phận (Chương 5,2)

Tác giả: Kenneth Sewell  & Jerome Preisler

Dịch giả: Đệ nhất Song Ngư

VI

Phản ứng tức khắc sau lệnh của Đô Đốc Schade, một lực lượng hùng hậu của Hải Quân bắt đầu xuất phát từ Rhode Island và Massachusetts đến Virginia và North Carolina, xuống đến Florida và đến trạm hải quân Lajes ở Azores. Trong vài ngày sau đó, lực lượng này lên tới 7000 nhân viên và 37 chiến hạm – 18 hộ tống hạm, 12 tàu ngầm nguyên tử và dầu cặn, 5 tàu tiếp cứu tàu ngầm, một tàu khảo sát đại dương USS Mizar, và một tàu tiếp tế nhiên liệu cho các chiến hạm trong vùng. Cho đến tuần lễ đầu của tháng sáu, một tá chiến hạm và tàu ngầm đang hoạt động – trong đó có chiếc chạy bằng dầu cặn Pháp thuộc loại Requin – được gọi thêm tới để tăng cường cho cuộc tìm kiếm.

Cuộc tìm kiếm khởi thủy bao gồm ba khu vực tổng quát.

Một là vùng ngoài khơi Virginia tương đối cạn dọc theo thềm lục địa, nơi đó có thể Scorpion tiến về căn cứ. Nơi khác là vùng của những dãy Huyeres và ngọn núi dưới biển Cruiser, gần khu núi lửa ngầm với những đỉnh cao và rặng núi ngầm, là nơi mà những âm thanh lạ do chiếc P-3B săn tàu ngầm phát giác trong ngày 22 tháng 5. Khu vực thứ ba là lớn nhất với một dãy dài hơn hai ngàn dặm từ Bắc xuống Nam và chiều ngang 25 dặm, được đoán là hải trình của Scorpion về căn cứ.

Khi những chiến hạm được điều động đã nhập vùng, những phân đội máy bay tuần tiễu đại dương xa tầm cũng đã cất cánh từ những phi trường dọc theo bờ biển của Hoa Kỳ – và đến tận trạm Lajes – để phụ giúp cho việc tìm kiếm Scorpion. Ngay sau đó thì bầu trời Đại Tây Dương đã phủ đầy với tiếng động cơ của Orion, và những chiếc Neptune P2V cũ kỹ, những chiếc máy bay cỡ lớn của không quân và lực lượng duyên phòng C-130 Hercules cũng được tung ra cho nỗ lực tìm kiếm và tiếp cứu. Tại cao điểm của cuộc tìm kiếm, có đến hai mươi bảy phi cơ bay lên mỗi ngày.

Ngày thứ hai, 27 tháng năm, phi công của Orion là Trung Úy Edward M. Brittingham, một huấn luyện viên với phân đội huấn luyện VP-30 tại Jacksonville đang ở tại Norfolk để họp thảo luận về huấn luyện, thì được thuyết trình hối hả cùng với một phi hành đoàn là nhân viên đang thụ huấn, về các loại phao và hỏa châu chiếu sáng mà Scorpion đang dùng rồi được lệnh bay ngay để tìm Scorpion. Đến 5:45 chiều, Brittingham và đám tập sự của ông đã ở trong bầu trời trên đại dương.

Orion sẽ bay theo đội hình tìm kiếm gọi là tìm kiếm hình thang, bay theo đường bay một khoảng ngắn song song với đường hải hành mà Scorpion có thể dùng, xong đổi hướng thẳng góc và bay một khoảng cách dài theo hướng Nam hay Bắc, sau đó  bay ngược lại cũng như vậy. Cũng như hạm đội tham dự, mục đích của họ là bao trùm cả hai phía mà Scorpion có thể đã đi qua.

Với phi trình này, Orion phải bay hai trăm dặm về phía Đông của Norfolk qua những vùng trời đầy giông bão. Thời tiết xấu sẽ là một vấn đề nghiêm trọng về đêm không những cho máy bay nhưng cũng cho toàn thể nỗ lực tìm kiếm. Những dụng cụ điện tử trên P-3 cũng chẳng làm được việc gì trong việc tìm kiếm Scorpion mất tích trong những vùng biển mà chỉ cách bờ năm mươi hay sáu mươi dặm là đã xụt ngay xuống độ sâu hàng ngàn sải. Nếu Scorpion đã chìm, nó đã chìm sâu xuống tận đáy biển trong vòng mấy phút sau đó, và đã nằm yên dưới đó xa tầm hoạt động của những phao và máy phát hiện những biến dạng của từ trường. Với những giới hạn đó, phi hành đoàn của Orion chỉ còn dùng mắt để quan sát qua những cửa sổ hình bầu dục tròn bên trái bên phải và dưới bụng của máy bay mà thôi. Suốt trong chuyến bay, phi hành đoàn luân phiên nhau chúi mũi vào những cửa kiếng hình cái chén, nhìn ngang dọc để tìm kiếm những mảnh vỡ hay vết loang của dầu mà Scorpion có thể đã để lại trên mặt biển.

Có một lúc, Brittingham và nhân viên của ông đã phát giác một số phao đang bập bềnh trên sóng phía dưới, nhưng những tia sáng của hy vọng đó đã vội tắt khi họ nhận thấy rằng những gì họ đã thấy không phù hợp với những gì mà Scorpion đã mang theo. Trở lại vùng biển Đại Tây Dương ngày hôm sau, họ đã bay xa hơn những khoảng cách của ngày hôm trước và đã tìm thấy những vật nổi chẳng có giá trị gì. Và như vậy, những vật trôi nổi đó chẳng liên quan gì đến Scorpion, và họ đã bay trở về căn cứ với nỗi thất vọng.

Vào khoảng thời gian phi xuất đầu tiên của Trung Úy Brittingham trên vùng biển đêm đó, tàu ngầm tiếp cứu USS Petrel (ASR-14) sẵn sàng khởi hành từ Căn Cứ Hải Quân Charleston, South Carolina. Lên chiếc này lúc 9 giờ là Phó Đô Đốc Lawrence Bernard, Chỉ Huy Trưởng Hạm Đội Tàu Ngầm 6, người đã được chỉ định làm sĩ quan thâm niên cho cuộc tìm kiếm này. Chiếc Petrel trực chỉ đến Virginia Caps với Phó Đô Đốc Bernard và một số sĩ quan phụ tá, nhưng trở ngại về truyền tin đã khiến họ phải sang qua chiếc khu trục hạm có trang bị phi đạn viễn khiển USS William H. Standley (DLG-32) trong buổi sáng sớm ngày 29 tháng năm. Như vậy chiếc này sẽ trở thành soái hạm chỉ huy cho cuộc tìm kiếm, bao gồm bốn tàu nổi và năm tàu ngầm với khoảng cách giữa chúng là năm dặm và mười dặm trên một cuộc hành trình hai ngàn hai trăm dặm đến vùng Azores, với một chiếc tàu ngầm theo sau bởi một tàu nổi cách 135 dặm để bảo đảm rằng ít nhất suốt thời gian ban ngày một trong những chiếc đó sẽ bao phủ vùng mà Scorpion có thể đi qua.

Trong lúc đó, Đô Đốc Schade trên chiếc Pargo với một nhóm của chín tàu ngầm và mười chín tàu nổi đang lao đao với một cơn bão thổi qua vùng biển Virginia. Mặc dầu nó đã vào quá đất liền, nhưng bão cũng đã gây một thời tiết không bình thường sau cơn bão trong đêm 27 tháng 5, với gió mạnh và những đợt sóng từ mười lăm đến hai mươi hai bộ cao mà đã lắc một tàu ngầm là chiếc USS Shark (SSN-591) nghiêng đi 22 độ.

Mặc dầu chiếc tàu tiếp cứu tàu ngầm Sunbird đã hoạt động chặt chẽ với chiếc Pargo, tuy nhiên một dự định tiếp cứu có lẽ cũng không thể thực hiện được cho đến khi cơn bão đã qua cho dù Scorpion có được tìm thấy ở một nơi không sâu đi nữa. Chiếc Sunbird còn chở theo những bình khí ép để lặn và những máy móc dùng cho lặn sâu, những trang bị chữa cháy và bơm nước, dụng cụ kéo tàu ngầm, và một toán nhân viên được huấn luyện cho những trường hợp nguy hiểm có thể xảy ra trong cuộc tìm kiếm này. Nhưng dụng cụ chính dùng cho cấp cứu người, một phòng lặn cấp cứu McCann gọi là SRC-19, là một phòng bằng thép dùng để lặn mà chỉ được cải tiến rất ít từ lúc nó được hoàn tất vào năm 1930. Được chia ra làm hai ngăn với điều hòa áp suất và một ngăn chứa nước dùng để điều chỉnh độ lặn sâu, SRC-19 được thiết kế để lặn xuống từ chiếc Sunbird và gắn vào nắp đào thoát của tàu ngầm mắc nạn và mỗi lần có thể mang trở lại hai người điều hành và bảy nhân viên của tàu ngầm mắc nạn.

Chiều ngày 27 tháng năm, Đô Đốc Moorer triệu tập buổi họp báo đầu tiên trong số một loạt những buổi họp báo ở Washington. Phóng viên tới tấp hỏi về phòng cấp cứu SRC, Đô Đốc Moorer cho biết phòng cấp cứu này chỉ có hiệu lực ở chiều sâu vài trăm bộ. Một sĩ quan phụ tá của Đô Đốc bèn dẫn giải thêm rằng, nó có thể tiếp cứu những người sống còn bị kẹt trong tàu mắc nạn ở độ sâu 650 bộ dưới mặt nước.

Cũng không phải hoàn toàn đơn giản như vậy. Máy này có thể chịu đựng dưới mặt nước ở độ sâu 650 bộ khi lặn xuống và trồi lên. Nhưng vấn đề là nơi đâu nó được thả xuống. Trên thềm lục địa này, nơi mà Đô Đốc Schade đang tập trung tất cả cho cuộc tìm kiếm, thì trên bảng Beaufort sóng gió đang ở cấp 10 trong bầu trời đen tối. Để cho Sunbird có dự định một cuộc cấp cứu thì chiếc này phải được neo lại và giữ yên trên mặt nước trên con tàu mắc nạn, một nhiệm vụ khó khăn chính ngay lúc biển lặng, và gần như bất khả thi với mặt biển sóng to gió lớn như thế này. Người đứng đầu của dự án lặn sâu của Hải Quân là Hải Quân Đại Tá Williams J. Nicholson, đã công nhận trong một cuộc phỏng vấn sau khi Đô Đốc Moorer họp báo, rằng với thời tiết bão tố như thế này, việc tiếp cứu dùng phòng cấp cứu SRC là một việc khó khăn để dùng nó hữu hiệu dưới độ sâu ba trăm bộ.

Được hỏi về cơ hội để mang những người sống sót về từ dưới biển sâu, Đô Đốc Moorer đã thẳng thắn thú thật rằng khó có cách nào có thể làm được. Có lẽ vị Đô Đốc này đang bám víu vào những ánh hy vọng mong manh rằng Scorpion chỉ có thể chìm đến độ sâu 50 sải là cùng khi ông nói về cách thức cấp cứu mà Hải Quân đang có – với tình trạng đó, những âm thanh mà những phao của P-3B nhận được gần Azores là những điều gần nhất như là những chứng cớ rõ ràng Scorpion đã chìm xuống đáy biển, nhưng họ cũng không thể hoàn toàn liên hệ đến sự biến mất của Scorpion với những dữ kiện chưa được so sánh. Cho rằng ông được biết nhiệm vụ tình báo của nó, và nó đã không trả lời ba công điện gởi liên tiếp từ Bộ Tư Lệnh Tàu Ngầm Đại Tây Dương, có thể ông đã nhận biết, ít nhất là với hy vọng Scorpion ở một nơi nào đó gần Norfolk, ông đã do dự để tiết lộ công khai những gì có thể xảy ra. Một không khí nặng nề và ảm đạm đang bao trùm trong ban tham mưu của ông về số mệnh của chiến hạm và của thủy thủ đoàn.

VII

Dù có bão hay không, có chậm trễ trong việc đón tiếp con tàu và thủy thủ về bến hay không, thì ai đó cũng phải sửa soạn những bữa ăn cho con cái của họ.

Theresa Bishop có thể đã đoán rằng một ngày bắt đầu không tiện lợi lắm. Buổi sáng khi bà rời nhà, bà đã thấy một cây lớn trốc gốc nằm bên đường. Tại cầu tàu, bà đã lạnh cóng khi phải đứng chờ hàng dài vô ích trong cơn bão chờ chồng bà là Walter trở về từ Scorpion. Bà cũng thuyết phục được những người vợ khác đi vào trong quán gần đó để núp bão, và để xem có ai trong đó nghe được những lời giải thích nào về việc chậm trễ trở về của Scorpion. Khi những điều đó cũng không kết quả gì, bà trở lại cầu tàu và tiếp tục chờ. Cuối cùng, nhân viên của Đại Tá Bellah bảo tốt hơn mọi người nên về nhà. Nếu có tin tức gì về Scorpion, thì họ sẽ được liên lạc ngay.

Lời đề nghị đó hợp lý đối với phần đông các bà, Theresa là trong số họ. Đứa trẻ lớn nhất của bà là John chỉ mới chín tuổi. Bà cần làm cơm tối cho nó, Mike và Mary Etta. Chẳng làm được gì khi phải đứng đây giữa cơn mưa và lạnh. Chắc chắn rằng Scorpion không thể về bến được khi mà sóng gió bão ngoài vịnh vẫn chưa yên tĩnh.

Mới chỉ hơn sáu giờ, Theresa đang rửa chén trong nhà bếp thì John la lên từ phòng khách, nơi đấy tivi đang mở đài địa phương. Giọng nói của nó rõ ràng chen lẫn với tiếng kêu của chén bát dưới vòi nước.

“Có tin tức trên tivi về Scorpion mất tích.”

Theresa sững sờ, quên hẳn đi chén bát bẩn trong tay. Mục đích chính của bà bây giờ chỉ là nghe tin tức mà thôi. Nhưng đáng lẽ phải nói một cuộc tìm kiếm cho Scorpion đang bắt đầu, tin tức chẳng nói gì thêm. Nhưng hoàn cảnh thật là rõ ràng khác với sự sợ hãi mà đã xảy ra năm 1960. Lúc đó Walter Bishop đã phục vụ trên chiếc tàu này. Ông vốn là chủ một tiệm bán đồ gỗ và đã ở trên Scorpion từ lúc tàu được hạ thủy. Lúc đó Hải Quân đã tức thời đính chính tin của người Anh. Nhưng bây giờ họ không cải chánh gì cả.

Chỉ trong chốc lát nơi ở của gia đình Bishop đầy khách khứa

– những người quen và bạn bè đang lo âu, những bà có chồng phục vụ trên cùng tàu với Walter và con cái của họ. Wally là thượng sĩ trên tàu và là một người có sự nghiệp với Hải Quân, nên những người khác hy vọng rằng điện thoại của Bishop sẽ được gọi sớm hơn. Chẳng có ai nói gì cả, và sự yên lặng ở đây là đầy với những lo âu khắc khoải. Họ chỉ chờ cho điện thoại reo mà thôi.

Và nó đã reo, khoảng bảy giờ rưỡi. Người gọi là một sĩ quan Hải Quân, nhưng ông cũng chẳng nói thêm hơn gì như tivi đã loan. Mục đích của ông là xác nhận tin tức trên tivi là đúng. Một cuộc tìm kiếm cho Scorpion đã bắt đầu, và gia đình của thủy thủ đoàn sẽ được thông báo diễn tiến những gì xảy ra.

Một sự yên lặng căng thẳng trong nhà của Bishop, một chờ đợi dài sẽ làm càng dài hơn một cách đau khổ.

VIII

Barbara Foli là vợ của một thủy thủ trong số những bà vợ nghe theo lời khuyên của Đại Tá Bellah và cuối cùng quyết định chờ những tin tức được cập nhật  về Scorpion tại nhà. Một người hàng xóm cạnh nhà đã tình nguyện trông nom đứa con gái của bà khi bà định rời nhà buổi sáng đó để đi đến cầu tàu, và Barbara đã chấp nhận. Nhưng đã quá chiều rồi, bà đã miễn cưỡng phải làm phiền hà người hàng xóm tử tế.

Cùng lúc Phó Đô Đốc Schade loan tin báo động về một tàu ngầm mất tích trên băng tần chính thức của Hải Quân, thì Barbara trở về căn phòng khô ráo ôm ru cho Holli ngủ một giấc. Trong khi đứa bé nằm ngủ trong nôi thì Barbara thay bộ đồ ướt và leo lên giường. Vội vàng ra khỏi nhà từ sáng, đứng dưới cơn mưa  chờ hàng mấy giờ, lại lo âu về Vernon, làm bà cảm thấy buồn nản và kiệt sức.

Barbara vừa nằm xuống là đã ngủ thiếp đi, rồi bị đánh thức ngay dậy vì tiếng gõ ở cửa chính. Bị giật mình vì đang mơ màng, Barbara nghĩ rằng chắc là Vernon, chồm dậy vui mừng và khoác vội áo đi ngang qua phòng khách để đến cửa chính.

Khi mở cửa, Barbara tức thời nhận thấy hai điều: những đám mây của bão đã tan để lộ ra những khoảng rộng của bầu trời màu xanh và trong sáng, và người mà đứng trước bà chẳng phải là Vernie, mà đó là người hàng xóm của bà, cũng là người đã trong nom Holli.

Barbara mời bà ấy vào nhà, nhưng bà vẫn đứng yên ở cửa.

“Bill mời chị và Holli đến nhà chúng tôi,” bà nói. Bill, chồng bà phục vụ trên một chiến hạm khác.

Barbara nhìn và nhận thấy bà đứng đấy không nhúc nhích. Điều đó làm cho Barbara cảm thấy lo sợ và nhìn thấy trong ánh mắt của người đàn bà này một vẻ ưu tư.

“Có chuyện gì vậy chị?”

Nhưng người đàn bà này chỉ nhắc lại rằng Bill nói Barbara đánh thức Holli và đem con bé đến nhà họ. Bây giờ thì sự lo lắng của Barbara đã như là cảm giác của một điềm xấu. Đó là giọng nói của người đàn bà này. Và cái lối mà bà đứng đấy và với cặp mắt lo buồn khôn tả.

Barbara thúc bà cho biết thêm tin tức nữa. Barbara biết chắc rằng có gì không may đấy. Barbara sẽ không đi đâu cho đến khi bà cho Barbara biết những gì đã xảy ra.

Cuối cùng thì người đàn bà này nhượng bộ. Bà và Bill đang xem tivi thì có một bản tin trên tin tức buổi chiều. Một chiếc tàu ngầm đã mất tích và đấy là Scorpion.

Mọi điều sau đó chỉ là một sự quay cuồng hỗn loạn cho Barbara mà thôi. Barbara biết rằng người hàng xóm Bill là một thượng sĩ, và là một người có cả một đời với Hải Quân như chồng bà vậy. Điều đó có nghĩa rằng ông có khả năng để có được một cái điện thoại trong nhà. Và với tư cách đó, Barbara cũng hy vọng rằng ông sẽ có nhiều may mắn hơn Barbara để biết nhiều tin tức về Scorpion.

Tim của bà đập thình thịch trong lồng ngực, nhưng cố giữ cho bình tĩnh, Barbara vội vồ lấy Holli trong hai bàn tay mình và đi đến cửa. Khi buổi chiều xuống và không có tin tức gì mới đến, vợ chồng người hàng xóm thuyết phục Barbara không nên về nhà. Họ có một phòng trống, Barbara và Holli có thể ở trong đó qua đêm.

Barbara bằng lòng với lời đề nghị đó. Bà cần có người chung quanh, nếu không phải là có lợi cho bà thì cũng cho Holli vậy. Đầu tuần, ngay ngày Scorpion dự trù về bến thì Barbara đã bị mất ngủ, mặt và tay cảm thấy tê. Bệnh trở nên tệ hơn nên bà phải thường xuyên soi kiếng để kiểm soát. Nhưng cứ mỗi lần như vậy, Barbara cũng không thấy có gì nghi ngại cả, bà nghĩ rằng bà không sao cả, xoa bóp cánh tay để cho máu lưu thông, trở lại ngủ và cố gắng quên nó đi. Rồi thì cái tê dại, cái cảm giác lạ lùng đó trên một bên mặt của bà lại trở lại. Triệu chứng đó đã không bao giờ xảy ra với bà như vậy trước đây, làm bà hoảng sợ mà không đoán được là chuyện gì. Cái gì xảy ra nếu bà có gì bất trắc? Sống trong một chúng cư không có điện thoại đã cho bà cái cảm giác vô vọng. Nếu bà bị ngất đi hay tệ hơn nữa – mà không ai biết?

Con gái của bà sẽ ra sao?

Thật sự Barbara đã không tin rằng những gì không hay sẽ xảy ra cho Vernie. Nhưng đêm nay thì khác. Đêm nay bà không muốn ngồi coi tivi một mình.

Ngay khi vào nhà người hàng xóm, Barbara hỏi mượn điện thoại của họ để gọi về Illinois. Bà cần báo gia đình bà về Scorpion. Nhưng khi mẹ của bà nhận điện thoại, bà biết rằng gia đình đã biết chuyện. Mẹ của bà đã mếu máo bảo rằng bà đang ngồi ở bàn trong nhà bếp với mấy người bạn trong khi em gái của Barbara thì đang xem tivi ở phòng kế. Rồi thì có tin khẩn cấp về một chiếc tàu ngầm đã trễ hạn về bến mà không biết ở đâu, và em của bà đã đột nhiên gọi mẹ bà vào để nghe.

“Chúa ơi,” bà mẹ nói, hoảng hốt. “Có phải đấy là tàu của Vernie không?”

Những giây phút sau đó họ đều biết rằng đó là chiếc tàu mà Vernie đang đi, những người bạn của mẹ bà móc trong ví có bao nhiêu tiền bạc để giúp mua một vé máy bay cho mẹ bà đi Norfolk. Em gái của Barbara cũng muốn đi cùng mẹ cho có người đồng hành cho nên mẹ của bà cũng chạy đi mượn thêm $300 nữa, đủ cho hai mẹ con bay chuyến đầu tiên buổi sáng hôm sau.

Đêm đó Barbara không sao ngủ được. Nhắm đôi mắt là điều không thể được. Chỉ nghĩ đến Vernie và chiếc tàu lẫn với những hồi còi vang lên không ngừng từ cầu tàu. Quá nửa đêm có tiếng còi đột ngột như là còi lệnh cấm trại, thủy thủ đoàn được gọi về tàu, và rồi thì chiếc này đến chiếc nọ rời bến tham gia cuộc tìm kiếm.

Ngồi trên giường, nhìn sững vào đêm tối với âm thanh của tiếng còi vẫn còn trong tai, Barbara nhéo cánh tay của mình càng mạnh hơn để xem có phải bà đã thức dậykhông, mong mỏi là những chuyện đã xẩy ra thì đúng như bà mong ước là thực ra đó chẳng có gì, chỉ là một cơn ác mộng mà thôi.

IX

Trại tù quân kỷ Hải Quân Camp Allen ở trên một ngọn đồi nên dễ nhìn thấy, nằm trong trại gia binh thủy quân lục chiến thuộc khu chưa được khai thác, cách xa đại lộ Hampton thuộc thành phố Norfolk chừng một dặm, được bao bọc bởi một rừng đước và dọc theo một cánh đồng của những bụi cây với cỏ dại mọc um tùm. Đêm Scorpion được tuyên bố mất tích, Bob Davis, người thủy thủ này vì trở về cầu tàu quá trễ để lên chiếc Scorpion, đang bị phạt ba mươi ngày trong trại tù Camp Allen bao quanh với hàng rào kẽm gai và song sắt. Tiếng lách cách của cánh cửa phòng giam đã làm Bob từ trên giường nhỏm dậy. Đứng sau cánh cửa là nhân viên gác thủy quân lục chiến đến bảo Davis rằng sĩ quan trực muốn gặp anh ta.

Chỉ một chốc sau đó ngồi sau bàn làm việc, vị sĩ quan này báo cho Davis rằng Scorpion đã mất tích và đề nghị Davis nên gọi cha mẹ của Davis cho họ yên tâm. Đấy là một đặc ân. Davis là một người mà mọi người đều thích, và vị sĩ quan này cũng biết Davis xấu hổ để cho cha hắn, một cảnh sát tiểu bang, biết rằng anh bị tù vì đã trễ tàu. Cho đến lúc này thì mọi người trong gia đình vẫn còn lo lắng vì cứ tưởng Davis đang ở trên Scorpion.

Mặc dầu bàng hoàng bởi tin mất tích của Scorpion, Davis nhận đề nghị của vị sĩ quan này, gọi bố mẹ, mới khám phá rằng họ đã biết và đang lo buồn. Davis dấu đi nỗi sợ hãi để giải thích tại sao anh trễ tàu, chấp nhận hoàn cảnh mà anh phải bị giam. Davis sẽ không chia sẻ hoàn toàn câu chuyện với bất cứ ai. Davis sẽ dựng lên một câu chuyện khác mà là cụ thể và dễ chấp nhận hơn sự thật – đối với nó cũng không kém hơn những gì mà Davis đã kể cho những người khác.

Davis vẫn còn phục vụ trong Hải Quân nhiều năm sau đó sau khi được thả ra, dầu là sự nghiệp thì bất ổn còn cấp bậc thì lúc lên lúc xuống. Davis vẫn luôn luôn cảm thấy rằng định mệnh đã ưu đãi anh, và mọi người không thấy khó chịu với thái độ ngang tàng, bất cần của hắn.

Nhưng Davis không phải là người bất cần như ngoài mặt anh có vẻ thế. Một cuộc sống được ưu đãi có thể phải trả giá cao, và Davis sẽ không bao giờ được an tâm vì anh nghĩ là những gì mà anh phải trả đều chẳng đủ thiếu gì cho những gì mà anh đã mắc nợ.

Chương 5 (1)           

Chương 5 (3)

Nhân ngày Quân Lực: Nhìn lại chuyện sau “phỏng giái”

Phong trào vượt biên sau 1975 

Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

Từ năm 1977 người ta dùng đường biển, phong trào vượt biên phát triển rất mạnh tới mức độ một bà già nông dân miền Tây phải nói: “Cây cột đèn nếu đi được thì cũng đi”. Dù phải gian lao cực khổ tới mức nào, hễ ra khỏi nước là sướng rồi, làm mồi cho cá mập vẫn còn hơn ở lại trong nước mà chết lần chết mòn, người ta nghĩ vậy. Cha mẹ già chỉ có mỗi một người con mà cũng khuyên nó vượt biên; chồng đi “cải tạo” – nghĩa là bị giam trong những trại tập thể chưa biết bao giờ mới được về vì là “ngụy hạng nặng”, phải cải tạo tư tưởng, đời sống – cũng nhắn vợ con vượt biên được thì cứ vượt, dắt con theo. Một thanh niên vượt biên thoát mới tới Thái Lan đánh điện về cho cha mẹ: “Ba má nhớ hôm nay là ngày sinh nhật của con không?” và cha mẹ mỉm cười, hiểu.

Có ba cách vượt biên.

Cách chính thức, sướng nhất là có người thân, cha mẹ, vợ chồng hay con cái ở ngoại quốc xin cho được đoàn tụ gia đình. Trường hợp đó được chính phủ cho phép, được Ủy hội quốc tế tị nạn (Haut commissariat des réfugiés: H.C.R) giúp đỡ. Ðơn gởi rồi, sáu tháng hay một hai năm sau được đi. Sớm muộn là tùy mình biết “phải trái” hay không. Ði thì gia sản để lại hết, chỉ được mang theo ít tư trang với ít tiền ăn đường.

Cách bán chính thức, theo nguyên tắc, cho người Việt gốc Hoa, nhưng người gốc Việt mà muốn thành gốc Hoa thì cũng không khó. Có tiền là được hết.Một người đứng ra tổ chức, nộp đơn xin cho cả nhóm người -khoảng vài trăm- vượt biên kèm theo hồ sơ của từng người, và nộp cho chính phủ 4 lượng vàng. Chính phủ cho phép rồi, bọn người đó tập trung lại một nơi, hùn nhau đóng thuyền, đóng xong, chính phủ sẽ cho công an xuống xét thuyền, xét lí lịch, hành lí từng người (mỗi người cũng chỉ được mang theo ít tiền thôi), rồi cho phép nhổ neo ra khơi, chính phủ bảo đảm an ninh cho tới khi ra hết hải phận quốc gia, rồi từ đó thuyền muốn đi đâu thì đi, chính phủ không biết tới. Rất ít nước chịu tiếp thu bọn đó, và xét kĩ từng người rồi mới cho lên bờ.

Inline image

Có thuyền chở khẳm quá, thuyền đóng cho 200 người thì chở tới 300, lại thêm chính quyền địa phương gởi một hai trăm người nữa, ngồi chen chúc nhau như cá hộp, không nhúc nhích được, như vậy ba bốn ngày, ăn uống, đi tiểu rất bất tiện mà cũng rán chịu. Có chiếc vừa ra khơi được vài chục hải lí, gặp cơn dông, chìm, xác chết tấp vào bờ, ngổn ngang trên bãi cát.Có trường hợp chính phủ đã nhận đủ vàng, thuyền đóng chưa xong thì có lệnh trên hoãn các cuộc vượt biên chính thức lại; hoãn cả năm rồi và hiện nay (1980) còn rất nhiều người phải ở chỗ đóng thuyền, vì họ làm khai sinh giả, nhà đã bị tịch thu, chỗ đâu mà về. Họ xin chính phủ trả lại số vàng, chính phủ chỉ trả một phần ba, hoặc trả tất cả theo giá vàng chính phủ định, không bằng 1/5 giá vàng trên thị trường. Họ lêu bêu, thành một bọn vô gia cư, vô nghề nghiệp, sống cực điêu đứng.

Cách thứ ba là đi chui, nghĩa là đi lậu. Một người đứng ra tổ chức, một nhóm từ 20 đến 4-5 chục người, hùn nhau từ 4 đến 7-8 lượng vàng đóng thuyền, kiểu thuyền đánh cá, mua một bãi biển, nghĩa là đút lót cho công an, chính quyền ở làng có bãi biển, đút lót cả cho công an vài nơi chung quanh để người vượt biên khỏi bị xét hỏi, thuyền yên ổn được rời bến ban đêm. Công an những nơi có bãi biển đó nhờ vậy làm giàu rất mau, có kẻ chỉ một hai năm được vài chục lượng vàng và ôm vàng vượt biên. Do đó mà trong dân gian xuất hiện truyện tiếu lâm dưới đây.

“Một hôm nọ, người canh gác lăng bác Hồ bỗng thấy xác ướp của bác biến đâu mất, hoảng hốt đi tìm khắp nơi, tìm ở nhà sàn của bác không thấy, về quê hương bác ở Nghệ an cũng không thấy, nghi rằng bác vào chơi thành phố của bác, liền vào Sài Gòn kiếm, sau cùng một đêm, thấy bác ngồi một mình, rầu rĩ ở bến Sáu kho, thành phố Hồ Chí Minh, hỏi bác, sao lại ra ngồi đấy, bác đáp: Bác không muốn ở nước này nữa, muốn qua phương Tây đây, mà tụi công an đòi bác sáu cây, bác có cây đâu mà nộp cho chúng.” – “Cây” là “cây hai lá rưỡi” nói tắt, tức một lượng vàng vì mỗi lượng có hai lá rưỡi vàng.

Thường là thoát được, ít khi gặp tàu tuần; nhưng nhiều khi gặp bão, thuyền chìm, làm mồi cho cá mập, hoặc gặp bọn cướp biển Thái Lan. Chúng vơ vét hết, chỉ chừa cho mỗi người một cái quần cụt, và có thiếu phụ bị chúng hiếp dâm tới 19 lần. Sau cùng may phước tới được bờ biển Thái Lan hay là một đảo Mã Lai – sướng nhất là được một tàu phương Tây vớt – lúc đó mới kể là còn sống.

Có một trường hợp xui lạ lùng. Một đoàn người lên được một đảo Mã Lai, ở được ít lâu rồi một hôm chính quyền trong đảo lùa họ xuống hết thuyền của họ, bảo để đưa đến một đảo khác; nhưng ra khơi, chúng cắt đỏi cho thuyền trôi đâu thì trôi (máy móc bị chúng gỡ rồi) và ít ngày sau, thuyền giạt vào bờ biển Cà Mau, bị bắt giam hết, người thì 5-6 tháng, người thì 3 năm.

Mặc dầu nguy hiểm như vậy, người ta vẫn không sợ, thua keo này bày keo khác. Có người tới lần thứ tư mới thoát, lại có người lần thứ 10 vẫn chưa thoát, mà sản nghiệp tiêu tan hết, không biết sống bằng nghề gì.

Có người mạo hiểm dám băng ra khơi bằng một chiếc tắc ráng (ho-bo): loại xuồng nhỏ, chở được độ mươi người, chạy bằng xăng, lướt trên nước rất mau. Vậy mà thoát được.

Từ cuối 1979 thêm một cách vượt biên nữa bằng đường bộ, ngã Cao Miên. Hoặc theo xe nhà binh, hoặc theo người Miên đi buôn lậu, lên tới Nam Vang rồi tới Battambang, Siophon. Phải mang theo vàng để đóng thuế mãi lộ. Tới biên giới Thái Lan, nếu biết tiếng Anh, tiếng Pháp thì sẽ được Ủy hội quốc tế tị nạn giúp đỡ. Nghe nói cách đó chỉ tốn 2-3 lượng, mỗi chuyến đi chỉ được vài ba người ăn bận như bọn buôn lậu. Cũng nguy hiểm như vượt biển. Một đứa cháu nhà tôi trong túi chỉ có 100 đồng, không biết tiếng Miên, không quen ai ở Miên mà cũng vượt biên cách đó.

Người nào vượt biên được một nước nào tiếp thu rồi, được trợ cấp hay kiếm việc làm rồi, cũng gởi ngay về cho thân nhân một gói thực phẩm, thuốc uống, quần áo… bán được một hai ngàn đồng. Họ làm lụng cực khổ, (rửa chén trong quán ăn…) nhịn hút thuốc để giúp gia đình vì biết rằng người ở lại thiếu thốn gấp mười họ.

Chính nhờ họ mà nhiều gia đình miền Nam mới sống nổi, nhờ họ một phần mà dân miền Nam có thuốc tây để uống, có vải may quần áo, không đến nỗi rách rưới quá. Trong hoạn nạn tình cha mẹ, con cái, vợ chồng lúc này lại đằm thắm hơn xưa. Cái rủi thành cái may.

Về vật chất họ được đầy đủ, nhưng về tinh thần họ rất đau khổ. Nhớ bà con họ hàng, nhớ quê hương xứ sở, nhớ day dứt, gia giết. Họ khóc thương thân phận anh hay em ở trong các trại cải tạo mỗi bữa chỉ được một nắm bo bo; thân phận cha mẹ chú bác phải đẩy chiếc xe bán củi, bán chuối dưới mưa, dưới nắng, đau ốm không có thuốc uống; thân phận con cháu quanh năm không được một li sữa, một cục đường. Ở một xứ gần như trời luôn luôn u ám, họ ước ao được nhìn thấy một tia nắng, một nền trời xanh, và khi trời xanh, ánh nắng hiện lên thì họ càng nhớ quê hơn nữa; họ muốn vuốt ve thân cây chuối nhẵn bóng và mát rượi; được nhìn thấy ánh vàng nhảy múa trên những tàu dừa phe phẩy dưới gió nồm; nhìn hoài những con đường thênh thanh trải nhựa, họ chán ngấy, mơ tưởng được đi chân không trên những con đường đất ở giữa hai bờ cỏ, dưới bóng lưa thưa của hàng so đũa, ven một cánh đồng lúa xanh; mặt đất ấm hơn mặt đường nhựa biết bao mà có gì thơm mát bằng mùi lúa xanh, sau mấy năm ngửi mùi xăng nhớt.Có những thiếu phụ thay đổi hẳn tính tình: ở nước nhà thì thích trang điểm, đi dạo phố, họp bạn; qua nước người thì suốt ngày ở trong phòng lau chùi, quét tước, nấu ăn cho chồng con, không chịu ra đường, chồng con lôi kéo cũng không đi; một ngày kia họ sẽ loạn tinh thần mất. Khổ nhất là những bà 50-60 tuổi, không biết ngoại ngữ, không sao thích ứng được với đời sống Tây phương, mới xa quê được một năm đã đòi về, ngày nào cũng ngóng tin nhà, và được thư thì đọc đi đọc lại tới thuộc lòng. Ngày đêm họ cho quay băng “Sài Gòn ơi, li biệt” của Thanh Thúy, băng “Ta chẳng lẽ suốt đời lưu vong” của Phạm Duy mà khóc mướt. Giọng ảo não không kém bài hát của dân tộc Do Thái khi bị đày ở Babylon hồi xưa.

Trong số những người ở lại, đáng thương nhất là những cặp vợ chồng già không có con cái, bị chính phủ chặn lương hưu trí, rán sống lây lất vài năm, bán hết đồ đạc để ăn rồi tự tử.

Rồi tới những người sản nghiệp tiêu tan vì đi kinh tế mới hoặc vì vượt biên mấy lần mà thất bại, sống cầu bơ cầu bất ở vỉa hè các thành phố lớn nhỏ như bọn ăn mày.

Rồi những cô giáo, cô kí chồng đi cải tạo 5 năm đằng đẵng, ở nhà xoay xở đủ cách, làm việc đêm ngày, nhịn ăn nhịn mặc để nuôi bốn năm đứa con, vài tháng lại tiếp tế cho chồng một lần. Họ vì hoàn cảnh mà hóa đảm đang, tư cách lại càng cao lên, không chịu nhận sự giúp đỡ của họ hàng, bạn bè.

Rồi những thiếu nữ học hết Ðại học sư phạm hay Luật mà không muốn làm công nhân viên vì lương thấp quá, kiếm một cái sạp nhỏ nửa thước vuông bán thuốc rời hay quần áo cũ, thuốc tây ở lề đường, vất vả nhưng kiếm được 10-15 đồng mỗi ngày, đủ cơm cháo cho cha mẹ và em. Họ lễ phép, chăm chỉ, dễ thương.

Tất cả những người đó và còn nhiều hạng người khác nữa đáng tự hào là ngụy. Ngụy mà như vậy còn đáng quí gấp trăm bọn tự xưng là “cách mạng” mà tư cách đê tiện.

Có ai chép Ba đào kí cho thời đại này không nhỉ? Trong tập kí đó dày ít cũng vài ngàn trang, truyện buồn rất nhiều mà truyện vui cũng không thiếu, truyện nào cũng cảm động, đánh dấu một thời và làm bài học cho đời sau được.

nguồn: diendantheky.net

Cùng Chung Số Phận (Ch.5, 1)

Cùng chung số phận (Chương 5,1)

Tác giả: Kenneth Sewell  & Jerome Preisler

Dịch giả: Đệ nhất Song Ngư

BrandyWine

“Đừng bao giờ nghĩ tới việc giải quyết những vấn đề đau buồn đó cho thân nhân của những người đã chết. Làm thế chỉ vô ích mà thôi.”

Đề Đốc Viktor Dyaglo, Hải Quân Liên Sô

I

Tháng 9 năm 1960, Scorpion đang ở một nơi nào đó trong vùng biển Âu châu và đang thao diễn trò chơi cút bắt, truy lùng và tiêu diệt săn tàu ngầm với NATO và Đệ Lục Hạm Đội Hoa Kỳ. Lúc đầu, Scorpion không có trong cuộc thao diễn này, nhưng một chiếc tàu ngầm khác cũng thuộc loại tấn công nhanh đã hỏng nên Scorpion được chọn để thay thế. Với Scorpion, đây là một việc dễ dàng, như chạy thử máy chẳng hạn, nhưng thượng cấp cũng đã đặt giới hạn dè dặt về vận tốc, độ lặn sâu và vùng hoạt động khi chiến hạm tham dự cuộc thao diễn này.

Hạm trưởng đầu tiên của Scorpion là Trung Tá Norman “Buzz” Bessac, cảm thấy rằng những giới hạn đó là quá đáng, và cho hạm đội săn tàu ngầm của Anh những lợi thế không công bằng và tạo cho họ một thái độ tự tin quá đáng đến khó chịu mà hạm trưởng Bessac khó có thể chấp nhận được. Chỉ một chốc thôi là ông đã tìm được cách để thoả mãn ý muốn của mình.

Quyết định để dạy cho người Anh một bài học thực hành về khả năng siêu việt của loại tàu ngầm mới Skipjack, hạm trưởng Bessac đã không nghe theo lệnh, cho tàu ngầm lặn sâu, rồi giữ im lặng. Những chiến hạm Anh trước đây đã từng thành công trong việc theo dõi Scorpion bây giờ chẳng kiếm thấy được dấu vết nào của Scorpion và không thể theo dõi Scorpion nữa. Bây giờ thì họ lại trở nên lo lắng. Bất cứ nơi đâu họ tìm kiếm cũng không có một dấu hiệu nào của Scorpion. Trong khoảnh khắc, thú vui và trò chơi chợt như biến mất hết.

Sau đó, hạm trưởng Bessac cho tàu nổi lên để nâng tiềm vọng kính quan sát nhưng chỉ thấy một đại dương mênh mông bao quanh mà thôi. Trong khi Scorpion lặn sâu, hạm đội Anh đã rời vùng này để đi lùng kiếm trong khu vực rộng hơn, một cuộc tìm kiếm vô hiệu.

Hạm trưởng Bessac thật sự hài lòng vì đã phá đám được đám ‘thợ săn’ quá tự tin này. Nhưng ông lại không biết rằng hạm đội của người Anh đã quá thất vọng khi không tìm ra Scorpion nên họ đã thông báo cho Bộ Tư Lệnh Hải Quân Hoàng gia Anh rằng Scorpion có lẽ đã mất tích và báo chí của người Anh tức thời đăng câu chuyện này. Ngay sau đó tin tức đã loan truyền nhanh qua Đại Tây Dương. Trong số đài phát thanh đầu tiên của Hoa Kỳ loan tin là Mục Tin Tức và Bình Luận rất nổi tiếng của Paul Harvey trên đài ABC. Bản tin tức đã gây chấn động cho thân nhân của Scorpion trên khắp nước Mỹ. Vợ của một thủy thủ đã khóc lóc thảm thiết chạy đến nhà của một hàng xóm để hỏi thăm tin tức vì bấn loạn chẳng còn biết có ai để hỏi nữa. Để giúp cho người đàn bà này lấy lại bình tĩnh, hàng xóm đã khuyên cô ta đừng để ý đến những gì mà người Anh nói. Nếu thật sự đã có những gì xảy ra cho Scorpion, sao cô lại không tin là Hải Quân Hoa Kỳ sẽ cho cô biết ngay.

Sự thật thì, Hải Quân Hoa Kỳ đã nghe hạm trưởng Bessac báo cáo và đã biết chắc rằng Scorpion vẫn an toàn. Cho nên khi Hải Quân nghe tin tức của Paul Harvey, họ đã vội vàng tìm cách dập tắt ngay nỗi lo lắng của thân nhân thủy thủ đoàn.

Song song với việc này và việc biến mất của Scorpion tám năm sau đó có lẽ là một sự liên hệ oái ăm đen tối nhất. Năm 1968, nó cũng thay thế cho một tàu ngầm khác vì chiếc này đã bất ngờ phải vào hải xưởng để sửa chữa quan trọng. Cũng trong năm 1968 như lần trước, gia đình của thủy thủ đoàn cũng nhận được tin Scorpion mất tích từ giới truyền thông trước khi hải quân cho biết tin gì khác.

Nhưng lần này thì Scorpion đã thực sự không trở về nữa.

II

Đô Đốc Thomas H. Moorer, 56 tuổi là một quân nhân tiêu biểu trong quân lực Hoa Kỷ, một sĩ quan Hải Quân mà sự nghiệp  bắt đầu từ Đệ Nhị Thế Chiến khi không quân Nhật tấn công Trân Châu Cảng và tiếp tục qua những chức vụ trong Thái  Bình Dương. Năm 1965, Đô Đốc Moorer với bản tính độc lập và cương nghị đã trở nên vị sĩ quan Hải Quân đầu tiên chỉ huy cả hai hạm đội Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Hai năm sau, Tổng Thống Johnson chỉ định ông làm tư lệnh Hải Quân. Từ tháng 6 năm 1967, hai tháng trước khi làm Tư Lệnh Hải Quân, Đô Đốc Moorer đã bị ám ảnh bởi một cuộc tấn công của Không và Hải Quân của Do Thái trên một chiếc tàu tình báo của Hoa Kỳ, chiếc USS Liberty, mà tin tức đã được đăng trên trang nhất của báo chí khắp thế giới. Chỉ bốn ngày sau khi  bùng nổ Chiến Tranh Sáu Ngày, cuộc tấn công bất ngờ đã làm cho Hoa Kỳ tổn thất một số chết và một số bị thương. Bộ quốc phòng của Do Thái tin chắc rằng đây chỉ là một sự lầm lẫn về nhận dạng, nhưng một người sắc bén như Đô Đốc Moorer sẽ không bao giờ tin được. Ông đoán chắc rằng cuộc tấn công đã được đề xướng để ngăn ngừa Hoa Kỳ biết rằng Do Thái có kế hoạch để tóm lấy Golan Heights từ Syria. Liberty có khả năng chận bắt tất cả các làn sóng của các lực lượng tham dự trong cuộc xung đột này và Tel Aviv cũng đã biết rằng chính phủ của Tổng Thống Johnson chống đối bất cứ cuộc tấn công nào của Israeli vào Golan. Đô Đốc Moorer nghĩ rằng nếu có phải chết  đi ông vẫn tin rằng cuộc tấn công là có ý định để che mắt giới quân sự Hoa Kỳ và từ đó che mắt cả Tổng Thống Johnson trong khi đó Do Thái hướng cuộc chiến theo chiều hướng của họ. Đô Đốc Moorer tin tưởng rằng cả Tổng Thống Johnson và Quốc Hội đều chấp nhận lối giải thích của Do Thái cho việc tấn công trên chiến hạm của mình vì những lý do chính trị: Do Thái là đồng minh độc nhất của Hoa Kỳ ở Trung Đông và phơi bày hành động tấn công của họ là cố tình âm mưu thì sẽ có hậu quả trầm trọng cho cả tại quốc nội và trong một khu vực lớn hơn của ảnh hưởng chính trị.

Ngày thứ năm, 23 tháng năm, 1968, mấy ngày trước khi gia đình của thủy thủ đoàn của Scorpion đến cầu  tàu 22, bất chấp tin tức mơ hồ và hỗn loạn về tình trạng của Scorpion, thì tin này đã đến  văn phòng của Đô Đốc Moorer tại Norfolk. Mặc dầu ông khác hẳn với những người mà có phản xạ nhạy cảm khác, nhưng tin tức đã đột nhiên mang ảnh của Liberty trong tâm trí của ông. Sau khi đã báo cáo lặn gần tới vị trí của các chiến hạm của Nga, Scorpion đã không  có một báo cáo vị trí nào nữa. Nó cũng không thi hành ba mật lệnh gởi liên tiếp trên những ngày 23, 24 và  25 tháng năm,  bảo phải liên lạc với Bộ Tư Lệnh Hạm Đội mà Đại  Tá  Wallace A. Greene, Chỉ Huy Trưởng Phân Bộ Tàu Ngầm 62, đã gởi theo chỉ thị của Đô Đốc Schade.

Đô đốc Moore

Nếu không có những biến chuyển khác xẩy ra thì việc Scorpion không trả lời những công điện của Đô Đốc Schade cũng không hẳn đã làm cho mọi người lo lắng ngay. Mà dầu có hay không, ông cũng đã nhớ lại việc đã xảy ra với hạm đội Anh năm 1960, ông cũng được biết rằng Lệnh Hành Quân 2- 67 của Hạm Đội Đại Tây Dương cho phép hạm trưởng tàu ngầm có thể duy trì im lặng vô tuyến tuyệt đối khi ở trong vùng biển mà vấn đề liên lạc với căn cứ có thể nguy hiểm đến an toàn cho chiến hạm. Nhưng nếu chiến hạm không ở trong vùng nguy hiểm thì hạm trưởng phải phúc đáp yêu cầu gọi về căn cứ ngay. Nói cách khác, trả lời hay không là để hạm trưởng tùy trường hợp mà quyết định. Trong một công tác tình báo, thì hạm trưởng được toàn quyền quyết định rằng có hay không an toàn để phải duy trì liên lạc với hậu cứ.

Nhưng chính ngay dưới những điều kiện không nguy hiểm, các tàu ngầm cũng không thích ở gần mặt nước quá lâu. Có quá nhiều tiếng ồn gây bởi động cơ và cơ hội cho anten và tiềm vọng kính được nhận dạng, hay bị định hướng và bị  radar địch phủ sóng, do đó hệ thống liên lạc phải được thi hành nhanh chóng.

Các tàu ngầm thường chuyển “hỏa tốc” các công điện  với tần số thật cao chỉ trong hai hoặc ba giây. Nó được gởi từ phòng tín hiệu trên hữu mạn ngay sau phòng truyền tin, cỡ  của phòng điện thoại công cộng và là một ít nơi trên tàu có kích thước nhỏ hơn phòng này. Cũng như những tàu ngầm khác trong hạm đội, Scorpion cũng có máy mã hóa KW-7 Orestes thiết trí chật hẹp chung với dụng cụ truyền tin khác. Tất cả công điện đến và đi đều được chuyển qua hộp kim loại dùng để mã hóa này. Một người phải mã hóa công điện của họ, xong đánh máy mà sẽ đục những lỗ trên cuộn băng như là cuộn vé số, tàu ngầm lại phải trồi lên để chuyển nhanh công điện sau khi đã cho cuộn băng chạy qua máy mã hóa KW-7.

Nhưng, có lẽ Hạm Trưởng Slattery đã chọn tránh dùng phương tiện truyền tin để gởi bất cứ công điện nào khi ông hướng dẫn con tàu của ông đến vùng Canary – với giả thuyết rằng nhân viên vô tuyến của ông cũng đã thành công để len  lỏi qua vùng nhiễu loạn của làn sóng mà chúng đã đánh bạt đi những dấu hiệu của họ gởi đi Nea Makri. Biết rằng hạm đội của Nga đang tập trung đã khiến ASWFORLANT mở cuộc hành quân trong khu vực này, chắc Hạm Trưởng Slattery đã  có xu hướng cẩn thận đề phòng và giữ im lặng vô tuyến.

Nhưng theo dõi tin tức là chuyện khác. Trong một cuộc hành quân theo dõi, người ta cũng phải lắng nghe vậy. Người ta cũng cần phải biết rằng một cuộc chiến đang bắt đầu, và trừ phi cho tàu trồi lên để nâng anten lên để phát sóng thì có thể bị bắt gặp bởi những con mắt của những người Nga đang quăng dây câu cá trên cầu tàu, hay của một thủy thủ nào đó của hạm đội Nga đang tựa người trên thành tàu ngắm trời ngắm mây, rồi cũng phải trồi lên để nhận tín hiệu mỗi lần cho mỗi phiên hải hành. Dầu cho im lặng vô tuyến hay không, Đô Đốc Schade cũng biết rằng Hạm Trưởng Slattery đã nhận được những công điện từ Đại Tá Green. Câu hỏi là, liệu  những công điện đó có đến tay ông đúng lúc hay không?

Mối ưu tư của Đô Đốc Schade có thể bắt nguồn từ ngày trước, khi ông nhận một nguồn tin từ Cơ Quan An Ninh Quốc Gia cho rằng những tàu bè của Nga gần vùng Canary đã bất thường phát ra hàng loạt chi chít liên tục những làn sóng  truyền tin giữa 0000 giờ và 0303 giờ ngày 22 tháng năm. Cơ Quan An Ninh Quốc Gia là cánh tay của chính phủ về những báo động tình báo, có nghĩa rằng mục đích chính của cơ quan này là theo dõi các tin tức trên toàn thể thế giới nào có thể đe dọa đến an ninh Hoa Kỳ. Mặc dầu các nhân viên của NSA  thừa biết là tình báo hải quân rất muốn biết về tình hình hạm đội Nga và cũng đã biết có kế hoạch gửi một chiếc tàu ngầm   ra đó để lấy tin, thời gian và chi tiết của công tác này cũng không đòi hỏi phải có Cơ Quan An Ninh Quốc Gia tham dự trực tiếp hay cho cơ quan này nguyên nhân để theo dõi tin này là thuộc loại “khẩn cấp đặc biệt.” Cả Cơ Quan An Ninh Quốc Gia và Hải Quân đều không có chứng cớ rằng hạm đội Nga tụ họp ở đây như là gây hấn và đe dọa thực sự đến dân chúng  Hoa Kỳ hay là tàu bè quân sự và dân sự.

Nhưng, một ai đó trong hệ thống tình báo cũng đã ghi nhận rằng sự bộc phát truyền tin của hạm đội Nga đã trùng hợp với việc Scorpion gởi công điện về Nea Makri. Nhưng không phải chỉ có vậy thôi đâu.

Với những người từng biết về hòn đảo Terceira với những bờ vách đá dựng đứng của Azores thì đó chỉ là những cánh đồng cỏ cho cừu và dê, những đồn điền thuốc lá và những mùa mưa tầm tã. Ít người ngoài quân đội được biết  rằng nó cũng là căn cứ không lực và hải lực lớn nhất trong vùng của Hoa Kỳ. Tháng Ba năm 1968, trạm Hải Quân Lajes, đặt tên theo tên thành phố phía đông của đảo mà trạm này tọa lạc, nhận ba chiếc thủy phi cơ tuần thám Orion P-3B từ phan bộ tuần tiễu 24 (VP-24) ở Keflavik, Iceland. Phi cơ Orion đã được thiết kế cho chiến tranh chống tàu ngầm, và số lượng gia tăng của tàu ngầm của Nga trong những hành lang vận tải  hàng hóa và hải trình xuyên đại tây dương gần Bồ Đào Nha là cần thiết phải tái trí những chiếc này đến trạm Lajes.

Vào hoàng hôn thứ tư, ngày 22 tháng năm, một chiếc P- 3B đang theo dõi một tàu ngầm loại Sô Viết Yankee SSBN đang lảng vảng trong khu vực. Đây là loại tàu nhanh hơn, im lặng hơn và tàn phá hơn tiền thân của nó là loại Hotel – nó được trang bị mười sáu phi đạn với đầu đạn nguyên tử mà có thể phóng đến mục tiêu trên đất liền trong khi đang lặn, một khả năng mà chỉ có tàu ngầm của Hoa Kỳ có thể làm được trong giai đoạn đó – tàu ngầm loại này của Nga chỉ mới hoạt động chưa được một năm. Để cho một tàu ngầm mới thuộc loại này len lỏi gần đến khu vực của Tây Âu đã tăng lên một sự bành trướng nguy hiểm của chiến lược của Nga, đó là cớ tại sao Orions đã được phái đến đây để tiếp sức với đội tuần tiễu của trạm Lajes.

P-3B có hai dụng cụ chính để theo dõi các tàu ngầm: một hệ thống của những phao âm thanh (1) tín hiệu có thể phát đi từ phao và nhận lại khi tín hiệu dội vào tàu ngầm, và một máy phát hiện những biến dạng của từ trường (2) MAD ở đầu một  cái cần,  hay còn gọi là “stinger” (mũi chích) gắn sau thân  máy bay để đo sự biến đổi từ trường của trái đất do tàu ngầm gây ra. Ban ngày Orion bay tại cao độ thấp – vào khoảng 200 bộ trên mặt nước biển – và có thể dùng máy phát hiện những biến dạng của từ trường này để tìm ra những tàu ngầm lặn sâu dưới 800 bộ. Nhưng khi màn đêm đến bao trùm mặt đại  dương lúc đó Orions được khuyến cáo bay ở một độ cao an toàn hơn, thì dụng cụ này chỉ tìm được tàu ngầm ở độ sâu 500 bộ mà thôi.

1 Sonobuoy là do hai chữ sonar và buoy, tương đối nhỏ, dường kính 13cm và dài 91cm.Thường được xem như làm tăng thêm tầm hoạt động của sonar, được thả từ máy bay hay tàu cho nhiệm vụ chống tàu ngầm hoặc khảo sát âm học dưới nước. Một phao gồm có một phần nổi trên mặt nước với một bộ phận phát tin để liên lạc với máy bay hay tàu, phần khác gồm có một hay nhiều ống nghe dưới nước và một bộ phận để điều chỉnh độ sâu của những ống nghe này. (Wikipedia).
2 Magnetic anomaly detector (MAD) là một dụng cụ để khám phá sự thay đổi của từ trường trái đất từng phút một. Một tàu ngầm có một số lượng lớn của ferromangatic mà gây ra nhiễu loạn cho từ trường của trái đất.

Vì khả năng giới hạn của dụng cụ này, cơ hội để nó có  thể khám phá ra vị trí của tàu ngầm bằng phương pháp này trước khi nhân viên của Orions tìm thấy vị trí của tàu ngầm từ các phao phát âm thì rất mong manh. Khoảng cách hiệu lực của những phao này biến đổi tùy loại và những loại khác nhau mà được thả xuống, nhưng khoảng cách trung bình có hiệu   lực là hai ngàn mét chu vi – mặc dầu âm thanh có thể di  chuyển hằng trăm mét hay hằng ngàn dặm từ xa nhưng vẫn nhận được âm phản hồi. Với nhiệm vụ quan sát và thu thập   tin tức tình báo, một P-3B có thể thả nhiều  loạt phao tại  những chiều sâu và khoảng cách định sẵn giữa các phao, âm thanh từ những phao này được truyền lại về P-3B trên những tần số khác nhau. Tại một phòng cảm ứng âm thanh trên máy bay, hai nhân viên sẽ theo dõi những âm lượng đó trên một máy nhận gọi là AN/AQH-1 (A sound Recorder/Reproducer Set) cho những làn sóng âm thanh đặc biệt đó – như là những làn sóng âm thanh của một tàu ngầm Nga chẳng hạn – rồi liên hệ chúng với âm thanh nhận từ những phao khác từ đó định được vị trí của mục tiêu.

Một biểu đồ đối với nhân viên của Orions là một tập hợp của những tần số chưa được chọn lựa, tại bất cứ một giây nào đó và nó không những là những âm thanh có thể có của mục tiêu, nhưng cũng có thể là âm thanh phản hồi của đáy và những vật thường có ở vùng biển. Mớ hỗn độn này cũng là để thử khả năng và sự kiên nhẫn của các nhân viên sử dụng thiết bị phát hiện tàu ngầm.

Khi P-3B rời trạm Lajes đi tuần buổi chiều, những phao của nó đã phát hiện một chuỗi âm thanh không phải như bình thường mà là đặc biệt, dồn dập xuất phát từ một nơi nào đó quanh vùng Azores. Vì nhân viên chỉ được huấn luyện để quen thuộc với từng làn sóng âm thanh của từng loại của tàu ngầm mà họ đang theo dõi – như trường hợp đặc biệt này là của loại Yankee, thì ý nghĩa cực kỳ đặc biệt của những âm thanh đó nhất thời họ không thể nhận ra được. Nhưng chúng thế nào cũng gây chú ý và làm điên đầu những người phân tích những dữ kiện của máy bay tuần tra gởi về hàng ngày, khi lục lọi cẩn thận xem xét mọi biểu đồ của những phao đã thu thập được. Mặc dầu đánh giá vị trí chính xác từ những nguồn tin là điều không thể làm được trong những giới hạn của phao – tiếng động là quá xa ở ngoài vòng giới hạn mà máy bay có thể theo dõi được – nhưng âm thanh này lại phù hợp với âm thanh của những tiếng nổ dưới mặt nước.

Ngày 23 tháng năm, tin này được gởi đến tình báo của Hải Quân – và rồi chuyển đến vị Tư Lệnh Hạm Đội Tiềm Thủy Đĩnh Đại Tây Dương, Đô Đốc Schade, đúng vào lúc  ông sắp sửa rời New London, Connecticut, để theo chiếc USS Pargo (SSN 650) là một tiềm thủy đĩnh loại Sturgeon tàu ngầm tấn công, trong chuyến chạy thử sau khi lễ gia nhập  hạm đội.

Dầu có phải hay không phải là người đầu tiên nhận thức được sự liên hệ của những manh mối bí mật đang nhanh  chóng bao trùm quanh sự biến mất của Scorpion, mức nghi ngờ của Đô Đốc Schade cũng đã đủ cao đến mức khiến ông ra lệnh cho Trung Tá Greene gởi công điện mật về việc này đến mọi chiến hạm công tác trong vùng. Cũng không phải chỉ Trung Tá Greene là người đã nhận lệnh khẩn cấp đó đâu. Lúc đó, đã mấy giờ đồng hồ trôi qua từ lúc Scorpion gửi tin đi trung tâm truyền tin Nea Makri, và sau đó thì không nghe gì nữa. Tại trung tâm truyền tin Nea Makri, nhân viên trực ở phiên liên lạc giữa chiến hạm và bờ lại được lệnh soát lại những bản in đã mã hóa và đã cho vào bao sẵn sàng đem đốt – để mã dịch lại chúng lần nữa nếu tìm được.

Nếu như hy vọng là tình trạng và vị trí của Scorpion mà từ trước tới giờ họ không để ý lại có thể thấy trong những công điện đó, thì quả đó là hy vọng cuối cùng vậy. Trước khi cho vào bao để đốt và thiêu hủy, những bản tin thuộc loại mật đó đều được cho qua máy cắt xén nhỏ. Cơ hội mà có thể tìm  kiếm những gì giúp ích được trong đống giấy lộn đó rất mỏng manh như là số không vậy – và việc tìm kiếm của trung tâm truyền tin Nea Makri là không lấy gì ngạc nhiên khi kết quả chỉ là công cốc.

Đô Đốc Schade tức thời báo cáo cho Đô Đốc Moorer  tình hình và yêu cầu được phép tìm kiếm Scorpion một cách kín đáo mà thôi. Với sự việc đã xảy ra cho Liberty vẫn là một vết thương chưa lành, vị Tư Lệnh Hải Quân này không muốn lỡ mất cơ hội nên đã tức thời cho vị Tư Lệnh Hạm Đội Tàu Ngầm thi hành ngay.

Sau khi đã chỉ thị các yếu tố cho cuộc tìm kiếm ban đầu, Đô Đốc Schade làm theo kế hoạch từ trước là theo thủy thủ đoàn của Pargo như là một quan sát viên. Điều đó sẽ không hẳn có thể gây trở ngại cho ông chỉ huy việc tìm kiếm Scorpion, mà có lẽ còn thuận lợi hơn. Cuộc thao diễn của Pargo cũng không đi quá xa vùng biển Đông và ông cũng có thể thường xuyên liên lạc với Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Tàu Ngầm ở Norfolk. Và nếu việc tìm kiếm cần thiết phải mở rộng hơn  thì việc ông đang ở trên Pargo làm cho ông am hiểu tình hình trực tiếp hơn. Pargo với ưu điểm về vận tốc cao sẽ đi đến Virginia Capes thẳng một mạch, như vậy cho phép ông chỉ  huy cuộc tìm kiếm ngay từ trên Pargo.

III

Nỗ lực tìm kiếm Scorpion bắt đầu khi những ưu tư tăng dần. Tư Lệnh Hạm Đội Tàu Ngầm Đại Tây Dương, Đô Đốc Schade đã ra lệnh cho máy bay tuần thám Orions tại Lajes trở lại khu vực tuần tiễu và đổi hướng những chiến hạm trên biển và tàu ngầm từ những khu vực được chỉ định đến vị trí của Scorpion đã báo cáo lần cuối – và nới rộng vùng biển tìm kiếm mà  trong đó những phao của P-3B đã phát hiện ra những âm thanh chưa giải thích được.

Vì tính chất bí mật của cuộc tìm kiếm Scorpion, nhật ký phi hành và đàm thoại trên đài chỉ huy đều không được ghi chép, nên mục đích chính của cuộc tìm kiếm đã không bao  giờ được tiết lộ; nhưng người ta đoán rằng số lượng tàu bè tham dự đâu khoảng từ vài chiếc chiến hạm và máy bay đến cả tá và với yểm trợ không ngừng của không lực. Theo một người tham dự cho cuộc tìm kiếm này, ông là một sĩ quan cơ khí, thì chiến hạm đầu tiên đạt đến vùng chỉ định là một tàu ngầm loại tấn công nhanh. Di chuyển với vận tốc tối đa từ vùng tuần tiễu gần đó, nó đã dùng dụng cụ dò tàu ngầm trong một nỗ lực tích cực để tìm kiếm Scorpion và làm việc trong khu vực đó từ năm đến sáu ngày.

Cho dù đã gia tăng hết mức, cuộc tìm kiếm cũng không mang lại kết quả gì, nỗi lo lắng của Đô Đốc Moorer và Đô  Đốc Schade về số phận của Scorpion càng tăng dần khi một tuần lễ đã qua. Tại Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Tàu Ngầm Đại Tây Dương, văn phòng của hai vị Đô Đốc này kế cận và có cùng chung phòng liên lạc, lao xao với những hoạt động của những máy vô tuyến. Liên lạc truyền tin đã liên tiếp đến và đi từ những lực lượng tham dự nhưng chưa thấy kéo còi báo động. Lý do tại sao vẫn còn duy trì như vậy thì chỉ là phỏng đoán  mà thôi. Một viên chức đã giải thích rằng hải quân miễn  cưỡng không muốn làm cho gia đình thủy thủ đoàn Scorpion lo sợ cho đến khi họ được biết chắc chắn tuyệt đối rằng đã có chuyện gì không ổn đã xẩy ra. Theo như một sĩ quan nổi tiếng thì đó là vì “không nhận thấy có sự thay đổi trong hình thức hoạt động của hạm đội Nga, dầu cho trước hoặc sau khi Scorpion mất tích để có thể chứng tỏ rằng người Nga đã có liên hệ hay quan tâm đến việc này.”

Phó Đô Đốc Beshany không đồng ý với nhận định này sau khi ông đã về hưu. Ông nói, “Có vài bản tin phân tích rằng Scorpion đã bị phát hiện bởi nhóm chiến hạm mà Scorpion đã theo dõi và có thể là phỏng đoán là chẳng những chúng đã theo dõi ngược lại Scorpion và chúng còn tấn công Scorpion nữa.”

Hải Quân có nhiều lý do để giữ kín cho bất cứ ánh sáng nào lóe ra trên những việc đó. Trong một vài năm tới những điều đó sẽ chồng chất lên nhau như những gánh nặng trên sự thật đã xảy ra. Cuối cùng thì việc mất Scorpion bây giờ gắn vào chính trị trong màn bí mật bao phủ quanh mất tích một   tàu ngầm khác – đấy là một tàu ngầm phóng phi đạn liên lục địa  của Nga  hơn hai tháng trước đã chìm xuống đáy đại dương gần quần đảo Hạ Uy Di. Dầu sao, lý do vẫn còn giữ   kín tin tức chỉ là trên nguyên tắc căn bản mà thôi. Hải Quân lo là công tác thu thập tin tức tình báo của hạm đội tàu ngầm sẽ  bị lộ ra và một tuyên bố chính thức về Scorpion sẽ bị gia đình của thủy thủ đoàn và báo chí nêu lên những câu hỏi không ai muốn trả lời. Nhưng khi Scorpion không trở về lại Norfolk   vào ngày ấn định 27 tháng năm, thì ít nhất đã đến lúc một   điều bí mật phải được chính thức công nhận: Scorpion có lẽ   đã bị mất tích.

Trên chiếc USS Bigelow, tin Scorpion mất tích đã lan   tràn nhanh chóng. Không có lời thông báo nào trên hệ thống loa nội bộ chiến hạm, mà cũng chẳng cần phải làm như vậy. Mọi người nghe được những loại tin tức này như trên các  chiến hạm khác của Hải Quân như là trong lúc đánh bài hay nhận khẩu phần khi thay phiên trực nửa đêm, hay trong những trao đổi thông thường khi làm công việc thường lệ.

IV

Những năm sau đó Ed Washburn có thể nói rằng có thể anh nghe được tin đó từ một nhân viên vô tuyến. Một trong bọn họ là bạn thân của anh trên tàu và họ nói chuyện thường xuyên. Chắc chính là mấy nhân viên vô tuyến rồi vì những người trong phòng vô tuyến luôn luôn là những người đầu tiên được biết những tin tức. Bigelow đã liên lạc với Bộ Tư Lệnh Hạm Đội về việc chuyển giao vật liệu cho Scorpion.

Sau đó, Bộ Tư Lệnh biết đó là chiến hạm cuối cùng đã gặp Scorpion và Bộ Tư Lệnh chắc chắn sẽ phải liên lạc với Bigelow để lấy tin tức về Scorpion. Những nhân viên vô tuyến cũng sẽ biết là đang có chuyện gì rồi.

 Ngày nào thì Washburn cũng phải làm việc thường xuyên với hạm trưởng và hạm phó. Nhiệm vụ của anh trong văn phòng của chiến hạm đòi hỏi rằng tất cả các giấy tờ đều phải qua tay anh. Khi một mẫu đơn hay một báo cáo cần phải đánh máy, với khả năng đánh đến 90 chữ một phút thì anh đúng là người để làm việc này và anh có thể thấy cả hàng sĩ quan và thủy thủ nối đuôi nhau để lấy tài liệu hay gửi đơn từ. Như vậy nếu có một nơi nào đó trên Bigelow  mà nơi đó  những lời đồn đại đổ dồn về như lốc xoáy thì đó là văn phòng mà Washburn làm việc.

Cho dù từ nơi nào đi nữa mà lần đầu Washburn nghe tin Scorpion mất tích hay anh nghe từ ai thì anh sẽ nhớ câu chuyện rõ ràng như mọi người vậy. Trong vòng vài ngày sau khi trao đổi phim, tin loan truyền rằng Scorpion đã mất tích  và coi như đã chìm xuống đáy biển. Ngoài chuyện đó ra thì chỉ là phỏng đoán mà thôi. Cũng có tin đồn rằng nó đã đâm vào ngọn núi dưới đáy biển. Những lời nói thì thầm về những gì đó nham hiểm liên quan đến người Nga. Nhưng mọi người trên Bigelow đều biết rằng Scorpion đã biến mất và việc tìm kiếm đang tiến hành trên Đại Tây Dương. Nhiều chiến hạm  đã được gọi đến vùng Azores, nơi người ta tin thảm họa đã xảy ra ở vùng đó.

Tin tức này đã làm mọi người trên Bigelow chấn động.

Có phải Bigelow là chiến hạm cuối cùng tiếp xúc với Scorpion không? Hầu hết mọi người trên chiếc khu trục hạm này đều nghĩ như vậy. Đấy là một cảm giác đau lòng ray rứt đã lan truyền khắp con tàu như là một vi khuẩn gây bệnh.

Bigelow không thể tham dự nỗ lực tìm kiếm và cấp cứu được. Nhiên liệu JP-4 (nhiên liệu dùng cho máy bay)  đã gần cạn mà lò máy hơi nước thì ngấu nghiến từng phút. Chiến hạm này phải đến Gibraltar để tiếp tế nhiên liệu tại hải cảng Hải Quân Hoàng gia.

Khi Bigelow hải hành vào Mũi Gibraltar, nhân viên trên tàu quyết định xem phim đã được chuyển giao từ Scorpion may ra có thể nâng cao tinh thần họ. Lawrence Brooks mở hộp đựng phim 16mm và mắc lên máy quay phim. Cả anh và mọi người trong phòng ăn đều yên lặng khi xem phim. Mặc dầu vậy xem phim cũng chẳng giúp được gì cho tinh thần của họ, thật sự ra thì lại càng làm cho họ buồn thêm. Không ai cười lúc đáng cười, không ai cổ võ khi đáng cổ võ, hay vỗ tay khi câu chuyện chấm dứt.

Cũng không ai nói hay làm gì cả. Họ không thể quên rằng những thủy thủ đã xem phim này đã mất tích hay có thể đã chết. Cứ nghĩ đến điều đó làm cho họ lạnh cả người.

Ed Washburn không bao giờ nhớ đến một sự yên lặng như vậy đã xảy ra trong phòng ăn – có lẽ những người đó có thể nghe cả tiếng kim rơi trên sàn nhà. Ed không thể nhớ lại là đã từng nghe và thấy một sự yên lặng như thế này bao giờ trong đời anh ta.

V

Đến chiều ngày 27 tháng năm, Hải Quân đã quyết định đã đến  lúc phải thay đổi. Bốn ngày tìm kiếm đã qua mà không có kết quả gì. Một tàu ngầm nguyên tử đã rơi vào chốn vô định với gần cả trăm thủy thủ đoàn. Giới hạn tìm kiếm cho Scorpion phải được đưa đến một tầm mức khác – ở tầm mức không còn có thể che dấu như trước nữa.

Đô Đốc Schade đã lên chiến hạm Pargo ngoài khơi của vịnh Narragansett và ông đã ra lệnh cho những máy bay bắt đầu cuộc tìm kiếm khoảng sau một giờ chiều. Rồi vào lúc 3:15 chiều, Bộ Tư Lệnh Hạm Đội đã phát đi bản tin báo động về một tàu ngầm đã mất tích, gởi đi cho tất cả tàu bè và máy bay vùng bờ biển Đông của Hoa Kỳ.

Sau đó Đô Đốc Schade đã ra lệnh cho hạm trưởng của Pargo, Trung Tá Stephen A. White, tăng vận tốc hơn 20 gút đến Virginia. Tàu ngầm này được USS Sunbird (ASR-15) đi theo, một loại tàu tiếp cứu tàu ngầm với trọng tải 2200 tấn, đã hoạt động với Pargo ngoài khơi Rhode Island và đã tham dự cuộc tìm kiếm USS Thresher (SSN-593), một loại tàu nguyên tử mẫu mất tích vì tai nạn trong cuộc thao diễn vào năm 1963.

Chương 4                   Chương 5 (2)

Phát ngôn xằng bậy

Phát ngôn xằng bậy

Báo nhà nước đã nhanh tay gỡ bỏ hoàn toàn lời phát ngôn của ông Phúc về “cột điện ở Mỹ biết đi,” hôm trước giữa Quốc hội có vẻ “ngầu” bao nhiêu, thì nay lại nhục mặt bấy nhiêu.

Inline image

Hiện tại khi gõ “cụm từ” này trên công cụ tìm kiếm của “Google” thì không còn một tờ báo nhà nước nào trích dẫn lại lời phát ngôn của TT nữa.  Trước đây tờ Vietnamnet và Thanh Niên có trích dẫn rất ngạo nghễ về phát ngôn đó.

Vậy, vì sao tuyên giáo lại rút bỏ lời của Thủ Tướng?

 Có 2 lý do để tuyên giáo phải rút:

Một là: Về mặt ngoại giao

Nguyễn Xuân Phúc nói trong phiên thảo luận tổ ở Quốc Hội trong bối cảnh nước Mỹ và nhiều quốc gia khác bị thiệt hại nặng nề về Nhân mạng và kinh tế bởi Covid-19; còn VN thì không có thiệt hại về người nên “cái cột điện ở Mỹ cũng muốn về.” Ý TT nói VN thế là giỏi thế là nhất rồi còn gì?! 

 Lời Nguyễn Xuân Phúc mang tính giễu cợt, châm biếm và đả kích.  Ở đây.  TT nói thẳng là ở nước Mỹ, như chúng ta đều biết, số người chết chưa dừng bởi Covid-19 và có sự xáo trộn không nhỏ do phe chống lại Mỹ kích động biểu tình, phá rối. Nếu là dân thường, lời nói đó có thể không sao, nhưng là Thủ tướng của một đối tác kinh tế với Mỹ lại chế giễu trên nỗi đau của họ như thế sẽ ảnh hưởng tới ngoại giao 2 nước, mặc dù có thể Mỹ không bắt VN xin lỗi, nhưng như thế cũng đủ ảnh hưởng nghiêm trọng quan hệ 2 quốc gia đang cố gắng để nâng mức độ bang giao lên “chiến lược toàn diện.” Chưa kể, Trong công cuộc chống dịch Vũ Hán, Mỹ viện trợ cho VN không ít.


Nhà người ta đang có tang gia; anh ở bên cạnh lại kéo loa kẹo kéo về hát hò vui sướng.  Ai mà coi  được?

Hai là: Mị dân không đúng chỗ

Khi Nguyễn Xuân Phúc ngạo nghễ như đang phê cần sa như thế, mục đích mị dân là chính, ý nói VN ta là quốc gia “đầu tàu” này, “trung tâm” nọ, giỏi giang nên không có người chết; giỏi giang nên kinh tế ổn định “bờ cờ…” Nhưng, tất cả chỉ là thể hiện tâm thế của một kẻ hèn của một kẻ ngu dốt, bẩn tính.

Lời nói đó không thể phát ra bởi người có Tâm và có Tầm.  Người có năng lực sẽ hành động thực tế nhất để giúp cho dân phát triển và ổn định. Vì chính phủ Nguyễn Xuân Phúc điều hành hầu như thất bại hoàn toàn về lĩnh vực kinh tế. Năm nào cũng đi vay mới để trả nợ cũ, ngoài ra còn bán sạch tài nguyên thiên nhiên, bán con người rẻ mạt bằng chủ trương xuất khẩu lao động, chưa kể là 3 ngày nghĩ ra khoản thu thuế này, 5 ngày đẻ ra loại phí khác. Cào tận cùng sức dân, nói đâu xa, nói cho dân 62 ngàn tỷ, nhưng thực chất là trên tivi, bắt ép dân ký không nhận tiền hỗ trợ chống dịch, không biết Phúc ngạo nghễ cái gì? Tất cả chỉ là muốn che lấp sự yếu kém, sự hèn hạ của bản thân và chính phủ do mình điều hành.

Nói như thế, Phúc chỉ lòe bịp dân, cho tuyên giáo đẩy lên truyền thông ca ngợi đảng, chính phủ tài tình; nhưng không ngờ, lại bị phản ứng ngược. Xóa bài là vì thế. Phát ngôn xằng bậy mà tưởng thế là hay.

Anh giỏi anh hay thì có những phát minh khoa học như người ta đi.  Anh giỏi anh hay thì anh có nền y tế tân tiến, có nền kinh tế hàng đầu, có phương tiện quân sự hiện đại đi như Mỹ đi đã. Vì thế, phát ngôn này như một đứa chưa ra khỏi lũy tre làng, tự mãn, kiêu ngạo, hách dịch. Không xoá dân chửi cho tắt bếp sao?

Mà Mỹ phát không cho dân quá trời tiền để ở nhà chống dịch.  62 ngàn tỷ của dân Việt đâu rồi Phúc? Cho tiền dân còn bắt dân đừng nhận mà đi nói chuyện bên Mỹ.

Ngạo nghễ quá Việt Nam ơi! (FB Phạm Minh Vũ)

Những kiểu tuyên bố “trời ơi đất hỡi” của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Phải thừa nhận rằng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có đầu óc khôi hài và giỏi tưởng tượng nhất so với các lãnh đạo trong nước. Óc khôi hài và trí tưởng tượng phong phú của ngài Thủ tướng có mặt mọi lúc mọi nơi và luôn bắt nhịp với hơi thở của thời đại.

Inline image

Hôm 22/5, trong cuộc họp Thường trực Chính phủ về tình hình, triển vọng và các giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài, ứng phó với Covid-19, Thủ tướng Phúc cho rằng, “Việt Nam là điểm đến an toàn, vì vậy Việt Nam có cơ hội, có nhiều lợi thế đón làn sóng đầu tư hậu Covid-19. Để đón đầu làn sóng này, thu hút các ‘đại bàng’ đến làm tổ, cần có các giải pháp thích hợp”.

Sau tuyên bố hùng hồn của Thủ tướng, có 27 doanh nghiệp của Mỹ rời Trung Quốc, nhưng chẳng có con đại bàng nào đến Viêt Nam để đẻ, mặc dù ổ đã lót sẵn. Đám đại bàng kia đã kéo nhau bay sang Indonesia, bỏ những chiếc tổ trơ trọi mà Thủ tướng đang lót sẵn chờ.

Trước đó, trong một phiên họp chính phủ hồi đầu tháng 4, Thủ tướng tin rằng: “Lò xo” kinh tế sẽ bật lên khi dịch bệnh cơ bản được giải quyết. Thủ tướng phát biểu: “Việc hỗ trợ người lao động mất việc, người nghèo, người yếu thế, bảo đảm an sinh xã hội, với tinh thần như một chiếc lò xo bị nén, chuẩn bị đón bắt thời cơ, biến nguy thành cơ để phát triển khi dịch giảm, bị chặn đứng”.

Không biết lò xo này bật dậy đến đâu, nhưng mọi người đều nhận ra rằng, gói cứu trợ của chính phủ giúp người nghèo, đã không tới tay những hộ nghèo mất việc do dịch bệnh, mà đa số đi lạc vào nhà các quan, những kẻ có ô tô, nhà lầu, trong số đó có những kẻ giàu nứt đố đổ vách.

***

Ngay từ những tháng đầu khi gánh vác trọng trách của một nguyên thủ quốc gia hơn 90 triệu dân, thủ tướng Phúc đã có những phát ngôn đi vào lịch sử, làm cho “niềm tự hào dân tộc” của người Việt cứ tăng trưởng theo đà tham nhũng của các quan tham. Những phát ngôn “đầy khí phách” của ngài Thủ tướng vẫn “liên tục phát triển và ngày càng được nâng lên một tầm cao mới”.Khác với Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, khi đi đến đâu, ông ta cũng tuyên bố, cần phải tìm hiểu xem “Nuôi con gì? Trồng cây gì?” mỗi lần tới địa phương nào, Thủ tướng Phúc cũng đều muốn nơi đó trở thành “đầu tàu”, kéo cả nước đi theo, giống như “đoàn tàu ma quái”, với quá nhiều cái đầu.

Ngay sau khi tuyên thệ nhậm chức ngày 7/4/2016, đúng một tháng sau, ngày 7/5/2016, tại Hải Phòng, Thủ tướng tuyên bố: Hải Phòng cần trở thành đầu tầu phát triển kinh tế. Hơn một tháng sau, ngày 13/6/2016, tại TP Cần Thơ, thủ tướng chỉ đạo: Cần Thơ phải là đầu tàu phát triển của vùngNửa tháng sau khi tới Cần Thơ, ngày 28/6/2016, tại TPHCM, Thủ tướng muốn TPHCM là đầu tàu kinh tế không chỉ của vùng Đông Nam Bộ mà là của cả nước. Gần ba tháng sau, ngày 19/9/2016, khi làm việc với lãnh đạo Hải Phòng, Thủ tướng chỉ đạo: Hải Phòng phải là một đầu tàu quan trọng của cả nước.

Sau khi chỉ đạo Hải Phòng là “đầu tàu” trên cả nước, chưa đầy tháng sau, ngày 17/10/2016, tại Long An, Thủ tướng kỳ vọng Long An trở thành đầu tàu kinh tế cả nước. Hơn hai tháng sau, ngày 22/12/2016, tại Quảng Ninh: Thủ tướng mong muốn Quảng Ninh sẽ là đầu tàu kinh tế phát triển của đất nước. Năm ngày sau, ngày 27/12/2016, trong buổi làm việc tại Vĩnh Phúc, Thủ tướng mong muốn Vĩnh Phúc trở thành đầu tàu kinh tế. Bốn ngày sau đó, ngày cuối cùng của năm 31/12/2016, tại Đà Nẵng, Thủ tướng mong muốn, Đà Nẵng phải là đầu tàu kéo tốc độ tăng GDP của cả nước.Sau vài lần tuyên bố thêm về “đầu tàu” trong năm 2017, như: Thủ tướng kỳ vọng Bình Dương luôn là đầu tàu kinh tế phát triển hay Thủ tướng muốn đưa Bắc Ninh trở thành một trong những đầu tàu của cả nước… cho cư dân mạng những tràng cười sảng khoái về “con tàu ma quái” có hàng chục cái đầu mà Thủ tướng cầm lái, ông Phúc chuyển sang tông mớ, như: Đưa TP.HCM thành thành phố toàn cầu, thông minh

Ngày 25/8/2019, tại TP. Đồng Hới, Quảng Bình, Thủ tướng mong muốn làn ‘gió Đại Phong’ mới cho du lịch Việt Nam, hoặc khi tới Đồng bằng Sông Cửu Long hồi tháng 9/2017, Thủ tướng tuyên bố: ĐBSCL phải thành thung lũng của sự sáng tạoTrong khi ĐBSCL đang bị hạn hán đe dọa, nước biển xâm nhập, chưa biết tương lai sẽ phải sống ra sao, thì ngày 27/9/2017, Thủ tướng chỉ đạo các bộ ngành xây dựng kế hoạch ĐBSCL để GDP bình quân dân miền Tây phải lên 10.000 USD/năm.

Chưa hết, một tỉnh miền núi thuộc loại nghèo nhất nước, hàng năm sống nhờ ngân sách trung ương tài trợ như Lào Cai, vậy mà khi Thủ tướng Phúc đến thăm hồi tháng 7/2019, tỉnh này… bỗng “rũ bùn – đứng dậy – sáng lòa”, tràn đầy hy vọng: Lào Cai cần hướng tới mục tiêu vào top 15 tỉnh phát triển của cả nước.

Thủ tướng nhấn mạnh, “Lào Cai phải nỗ lực hơn nữa, quyết tâm hơn nữa để hướng tới mục tiêu là đầu tầu kinh tế của khu vực Tây Bắc và đứng trong top 15 tỉnh phát triển của cả nước”. Nghĩa là, Lào Cai sau khi được ngài Thủ tướng tiếp sức, sẽ vươn lên mạnh mẽ qua mặt 48 tỉnh thành còn lại!?Những kiểu tuyên bố đại loại như thế, hay như kiểu “Đà Nẵng cần phát triển như Singapore, Hồng Kông”… cho thấy cái tài của Thủ tướng, nhất là khi người dân đang chết khát, Thủ tướng lại đè dân ra đổ nước đường, làm sao dân không “tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình” của Thủ tướng?

Thủ tướng cứ tuyên bố, còn chuyện làm được hay không lại là chuyện khác, thế kỷ này chưa làm được thì thế kỷ sau, có sao đâu?! Tương tự như ngài Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, đã từng nói với giới trẻ rằng: “Hoàng Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm Hoàng Sa và nhất định chúng ta phải đòi lại. Đời tôi, đời các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ tiếp tục đòi lại”.

Các câu tuyên bố của thủ tướng làm cho người dân dù vất vả, bận rộn đến mấy, khi nghe tiếng ngài cất lên, mọi lo âu, phiền toái trong cuộc sống bộn bề đều tan biến mất, bởi ngài giúp gieo vào lòng họ niềm hy vọng… kiểu AQ, tức là sống theo “phép thắng lợi tinh thần” của AQ! Tuyên bố của Thủ tướng và các quan chức lãnh đạo giúp người dân có thêm niềm tin để sống, bởi người dân bây giờ còn gì để sống, nên phải sống bằng niềm tin là chính.

Có người nói đây là bệnh nổ không những của ngài Thủ tướng, mà là căn bệnh chung của các quan chức cộng sản, của những lãnh đạo tự cho mình là “đỉnh cao trí tuê”. Cũng có người nói, đây là căn bệnh bẩm sinh của Thủ tướng, do khuyết tật ở cái đầu “tháp nghiêng” mà ra. Nhưng nói gì thì nói, những tuyên bố đó cũng mang lại những tiếng cười sảng khoái, hoàn toàn miễn phí cho người dân Việt Nam, làm gia vị cho những cuộc bình loạn những lúc trà dư tửu hậu, giúp người dân tiếp tục sống cho “qua ngày đoạn tháng”!

Thảo Ngọc (baotiengdan.com)

Cùng Chung Số Phận (Chương 4)

Cùng Chung Số Phận

Dịch giả: Đệ nhất Song Ngư

Chương 4

Cầu Tầu 22

“Các bà vợ của thủy thủ đoàn tầu ngầm hầu như ai cũng hiểu rằng, một khi con tầu đã quá ngày hạn định mà không trở về, có nghĩa là nó đã chìm sâu trong lòng biển cả rồi.”

Joan Cowan, goá phụ của Trung Sĩ Nhất Cơ Khí Robert James Cowan một đoàn viên tàu ngầm nguyên tử USS Scorpion với 18 năm trong Hải Quân.

“Toàn thể chúng tôi đều mong muốn được giải thích. Nhưng tất cả đã bị bưng bít sau tai họa khủng khiếp này.”

Barbara Sarr Gillum, chị của Joseph A. Sarr một lính thủy bị thương vong cùng tầu Scorpion.

      Ngày mùng 9 tháng 5-1968, 11 ngày sau khi tầu ngầm Scorpion rời vịnh Naples để tham gia chiến dịch Dawn Patrol, Jerry Pospisil ngồi kiểm lại lá thư đang viết dở nói về nỗi nhớ nhà, những chán ngán trên biển và với suy nghĩ của người lính, anh thận trọng tính toán sao cho khỏi thiệt thòi trong những ngày nghỉ phép sắp tới.

Jerry Pospisil

Lần này chắc thư viết xong… Anh không biết nó sẽ được lấy đi trưa nay hoặc ngày mai. Trực thăng sẽ mang thư đến đảo Crete hoặc đến một hàng không mẫu hạm. Từ đây, thư sẽ đưọc chuyển tới em.

Anh cho rằng có thể thư sẽ không được lấy đi nhưng dầu sao vẫn hy vọng. Ước gì anh có phép mầu nằm ép trong thư này. Anh đã bực bội con tầu suốt mấy tuần nay rồi. Vui mừng biết bao khi ra khỏi nơi ngục tù này. Nhiều lần anh từng nói với em về chính sách nghỉ phép mà hạm trưởng đề ra. Họ muốn anh phải viết rõ là sẽ trở về tầu vào những ngày trực gác đã chỉ định. Nếu vậy, họ có thể hoán đổi ngày trực khi cần và rốt cuộc, có thể anh sẽ không còn ngày nghỉ nào cả. Thư viết sẽ phải qua hạm phó chứ không qua ngành cơ khí. Anh nói với Daniel Peterson, phụ tá cơ khí trưởng là tầu nợ anh 15 ngày nghỉ từ những lần nghỉ phép trước mà cứ mỗi ba ngày anh phải trở lại tầu để đảm trách trực nhật dài lê thê của ngành cơ khí, thì miễn là có điện khí trực trên tàu, anh chỉ phải vào khi nào đến phiên trực của anh thôi.

  Sau vài lời giải thích về chính sách nghiêm ngặt có thể cắt bớt ngày nghỉ, Pospisil ngưng viết cho đến ngày hôm sau – mùng 10 tháng 5. Khi nghe được những đồn đại đang truyền tai nhau trên tầu có thể ảnh hưởng đến ngày về nên anh viết thêm trong thư là ngày về Norfork còn bấp bênh lắm.

Có quá nhiều tin đồn lại đến hôm nay nên khó mà nói được ngày nào sẽ về đến. Ngày 24 là sớm nhất và 30 trễ nhất. Anh phải trực vào 25 và 28 nên nếu ngày về tới nằm trong khoảng thời gian này thì hôm đó em cần ở nhà chờ anh gọi điện thoại về, và buổi chiều em sẽ đến đón anh nhé.

       Pospisil không hề nói gì về tin đồn hoặc một giải thích nào của ngày về bị chậm lại. Đang lúc phân vân thì cùng ngày tầu Scorpion nhận được lệnh về bến vì nhiệm vụ đã hoàn tất. Dù sao Pospisil cũng thấy được cuộc thao diễn chống tầu ngầm đã ngưng lại khiến anh tin chắc rằng ngày về sẽ gần đúng như dự trù lúc đầu.

      Thêm vào đó có vài sự việc xảy ra trên tầu đã thu hút sự chú ý của mọi người. Đó là sự hiện diện của Tony Marquez, người của cơ quan SOSUS. Và Pospisil đã nghe nói về nhiệm vụ của tầu ở Azores, cũng như phong phanh rằng tầu sẽ đổi hướng Nam lúc qua eo biển Gilbraltar để vào Đại Tây Dương.

        Các tin đồn xa gần đã đến với mọi người trên tầu. Một vài người biết sớm và số khác biết chậm hơn. Những người lính ngành truyền tin nhận được các công điện mật và phải giải mã chúng. Tiếp viên nhà bếp cũng nghe lóm được nhiều chuyện kể từ các sĩ quan trong bữa ăn và trong các buổi họp. Các lời đồn khởi đi từ khu này sang khu khác, nhóm này đến nhóm khác. Pospisil chỉ là nhân viên cơ khí nên không biết đến công việc thám sát hoặc nhiệm vụ của SOSUS (SOund SUrveillance System Hệ Thống Giám Sát Bằng Âm Thanh) . Đôi khi một sĩ quan  hoặc   thượng  sĩ đến phòng cơ khí thông báo công tác đặc biệt nào đó cho một số nhân viên như cần phải để ý tiếng động đừng lớn quá, ngoài những chuyện đó thì anh mù tịt. Đó là cách bảo mật được duy trì.

       Pospisil khi còn ở Naples cũng đã nghe các tin đồn khác nhưng anh quyết định không gợi ý hoặc hé mở chút gì cho vợ biết vì sợ cô ta thêm lo lắng, vả lại thư viết còn là qua nhiều kiểm duyệt nữa. Sau cùng, anh cũng không hề đả động tới các cuộc đụng độ giữa tầu ngầm của ta với các tầu nổi của Nga Sô trong các cuộc hành quân Dawn Patrol.

Ngày 17-5, Pospisil viết nốt thư cho Judy khi Scorpion đang trên đường đưa Elrod, Underwood, và Marquez đến Rota. Thủy thủ đoàn cũng đã được nghe nói đến thảm kịch của gia đình Elrod và điều họ chú ý hơn cả là các túi đựng thư chuyển về gia đình cũng sẽ theo anh ta lên chiếc tầu kéo đang trên đường đến đón.

Em yêu quý,

Thư này đến với em thật bất ngờ. Một người vợ của bạn anh bị sẩy thai mất đi đứa bé nên anh ta được trở về đất liền. Chuyển người trong trường hợp này rất nhanh. Tin vừa nhận được lúc 6 giờ chiều mà mới một giờ sáng anh ta đã được chuyển đi rồi. Anh cầu mong mình được may mắn như thế và anh sẽ về trước thư, nhưng chắc không bao giờ xẩy ra.

Bây giờ ngày đến là 24 vào khoảng 3 giờ 50 hoặc 4 giờ chiều. Điều đương nhiên là hôm sau anh sẽ có phiên trực. Trong suốt tuần lễ này bọn anh không thể rời tầu sớm được. Ngày nghỉ phép của anh bắt đầu từ 4 đến 20 tháng 6.

Tầu sẽ vào xưởng ngày 10 và trở ra ngày 20. Trong thời gian này anh chỉ phải trở lại tầu hai lần.

Thư như được viết bởi đứa trẻ vì tầu chòng chành trên biển cũng như tầu hỏa rung lên trên đường sắt nên ngòi bút chệch choạng không thể ngay ngắn được. Tầu đã rời Địa Trung Hải được hai tiếng đồng hồ và bây giờ trở vào Đại Tây Duơng hướng về Rota. Phải còn nhiều giờ nữa tầu rong ruổi trên đường với vận tốc 15 gút.

Đường còn xa nhưng anh hi vọng rằng tầu sẽ đến đúng ngày trừ khi con tầu bị hư hỏng dọc đường.

Nhìn ngắm hình em trong tay hàng giờ và tâm trí anh luôn đầy ắp bóng hình em. Giấc ngủ đến chập chờn bởi những nôn nóng của ngày về cận kề. Thật là kỳ cục khi một người con trai lại nôn nóng vì những chuyện như trở về bến.

Anh tạm ngưng nhé. Điều anh muốn nói với em là anh yêu em vô cùng. Em đã sẵn sàng đón anh chưa? Nhớ em quá chừng….

Yêu em, Jerry

     Pospisil nhớ đến những tin tưởng trước đây về ngày 24 sắp tới nhưng vẫn còn chút hoài nghi. Tin đồn vẫn xoáy vào việc sẽ có sự thay đổi khác. Vì sự quá nôn nóng về nhà nên dù có những bất trắc nào đi nữa anh  vẫn nhủ thầm là sẽ có may mắn đến với mình bằng cách này hay cách khác.

Nhưng Jerry là người lính nhiều kinh nghiệm, có một lối sống thực tiễn lành mạnh. Anh cho rằng cần phải nâng cao tình thần Judy. Đó là việc mà người đàn ông cần phải làm, đâu có hại gì. Không bao giờ nên để cô ấy phải lo lắng cả.

Các bà vợ đều hiểu là những thư viết về nhà thường không kịp cập nhật hóa những thay đổi nên tự họ thường gọi điện thoại vào tổng đài để lấy tin tức mới nhất của ngày dự trù về bến của tầu.

     II

     Vào năm 1968, cầu tầu 22 dành cho khu trục hạm và tầu ngầm là một cây cầu hẹp nhất trong năm hoặc sáu cầu tầu nằm nhô ra khỏi cửa hải cảng từ căn cứ hải quân Norfolk. Tầu tiếp liệu Orion dài 535 bộ nằm dọc từ đầu cầu hướng về phía Bắc; tầu này được các thủy thủ đã yêu quý đặt tên là tàu Mẹ Orion .

     Tầu tiếp liệu cung cấp toàn bộ việc bảo trì và tiếp liệu cho hạm đội Mỹ mà Orion đã phục vụ hải đội 6 của Norfolk ngay từ những năm đầu của thập niên 1950. Tầu cung cấp các phụ tùng nổi, có nhiệm vụ sửa chữa và cũng là cơ xưởng tái cung cấp, tầu còn có thêm một ga xép để cung cấp nơi tạm trú cùng các bữa ăn cũng như y tế cho các thủy thủ đang chờ được bổ sung. Với chiều dài rộng rãi, tầu có nhiều cơ xưởng máy móc chuyên môn, vũ khí và điện lực cho máy dò tầu ngầm, dụng cụ hải hành, phòng tai, quang học cho tới xưởng đúc tiềm vọng kính, các đường ống dẫn dầu, dẫn nước và các van đóng-mở, sản xuất các tấm bửng và các dụng cụ bằng sắt như máy tiện, máy hàn. Tầu đôi khi còn sửa chữa cấp thời những chỗ rò rỉ nhỏ ở thân tầu.

Robert Mc Clain nhớ lại vào khoảng giữa thập niên 1960 khi Tổng Thống John F. Kennedy bổ nhiệm bộ trưởng hải quân, Fred Korth, được chỉ định cùng với một số đô đốc hải quân đến thăm tầu Scorpion. Là một luật sư và chuyên gia về tài chánh mậu dịch, Korth một thời gian dài đã làm việc trong guồng mày chính trị của đảng Dân Chủ và ông cũng đã từng chỉ huy ngành không vận trong thế chiến thứ hai.

Chi tiết này làm Walter Bishop, Quản Nội Trưởng tầu Scorpion để ý vì anh nghĩ rằng ông Korth là người trên đất liền nên việc đón tiếp, chẳng kể tước vị chính thức của ông là gì, thì cần phải rất thận trọng cho việc xuống thăm tầu của một nhân vật không quen cuộc sống trên tầu. Bishop phải tìm cách nào an toàn để đưa ông từ đài chỉ huy lên Vọng Đài, nơi ngắm cảnh tuyệt vời dành cho các quan khách lớn tới thăm tầu.

“Này McClain, mình cần một cái thang, ông Fred Korth sắp thăm tầu mình đấy,” Bishop lớn tiếng với McClain cùng một số người khác. “Xuống tầu tiếp liệu liền và kiếm cách làm ngay một cái thang nghe!”

McClain bắt tay vào việc ngay, và những người trong xưởng kim khí cũng nhanh chóng vác đến một thang bằng sắt không rỉ, đong đưa một sợi dây xích cột dưới chân thang để có cái gì cho các quan lớn bám thêm vào cho chắc ăn. McClain nhớ lại với nụ cười thán phục. “Ông Fred Korth leo ngay lên thang nhanh y như một con khỉ nhỏ, chẳng mấy chốc đã lên đến Vọng Đài. Các vị Đô Đốc lập cập bước lên thang theo sau, mặt xanh như tàu lá, dò dẫm từng bước như vô cùng sợ hãi đến vãi cứt.”

Trong lúc nghỉ bến, tầu Scorpion thường cập cạnh tầu mẹ từ khoảng giữa cầu xuôi xuống hướng Nam. Shark (SSN-S91) là một tầu ngầm khác thuộc Hạm Đội của 8 tầu ngầm nguyên tử loại Skipjack nằm phía đuôi Scorpion. Đôi khi Triton (SSRN- 586) một loại tầu lớn cập phía trước Scorpion. Khi có tầu nằm bến, ta có thể nhìn thấy các dây cáp chạy dọc theo cầu từ trạm điện tới các nơi tầu cập để cung cấp điện vì các lò nguyên tử trên tầu đã được tắt đi để tiết kiệm nhân lực và vật liệu.

Một khi tầu về bến thì ai cũng mong được đi bờ. Nhưng vì tầu cần phải tu bổ và cần có canh gác cẩn mật nên cần có người trực gác. Phiên gác được phân chia hàng ngày cho toàn thể nhân viên từ sĩ quan đến thủy thủ dù có ít hoặc nhiều kinh nghiệm và cũng như khả năng của mỗi người.

Ban ngày khi Scorpion tại bến, thủy thủ phải đảm trách tu bổ thường lệ hoặc định kỳ tùy theo ngành nghề cũng như sửa chữa lặt vặt mỗi ngày. Cuối ngày, họ được về nhà hoặc họ được đi bờ. Các nhân viên trực gác thì phải ở lại tầu ban đêm: một sĩ quan trực trách nhiệm tổng quát, một sĩ quan khác trách nhiệm phía dưới boong tầu sẽ thường xuyên kiểm soát hành lang, và một trực gác phòng vận chuyển có trách nhiệm đóng- mở lò nguyên tử và bảo trì hệ thống điện lực lấy từ nguồn trên bờ.

Lò nguyên tử bây giờ đã được làm nguội và đóng chặt, các máy tạo hơi nước bây giờ cũng ngưng hoạt động. Vì phần lớn thủy thủ đoàn đi bờ, để lại con tầu nằm im lìm lạnh lẽo. Ban đêm, nếu ai đó lang thang trên boong tầu sẽ cảm thấy rờn rợn lạnh xương sống qua hành lang vắng lặng với ánh sáng lờ mờ hắt lên từ mặt nước đen ngòm.

Việc trực gác lúc tầu nằm bến thì rất khó khăn cho các chuyên viên nguyên tử lực vì thiếu người đủ khả năng làm việc những lúc cần thiết.

“Sau 5 giờ chiều, bạn sẽ phải tự lo lấy mọi chuyện,” một cựu nhân viên tầu Scorpion phát biểu. “15 tiếng đồng hồ sau đó thì chẳng có ai có thể thay trực cho bạn để bạn có thể đi  vệ sinh hoặc kiếm gì ăn đỡ đói bụng. Tôi nhớ có lần cần phải vô nhà cầu và chỉ có một người có thể thay được tôi mà thôi, đó là hạm trưởng. Khoảng hai giờ sáng tôi yêu cầu người trực boong dưới xin hạm trưởng giúp tôi, hạm trưởng đã làm ngay mà không hề thắc mắc gì. Riêng tôi thì vào giờ khuya khoắc đó, với lý do đó, tôi thực không dám đánh thức ông. Nghĩ cho cùng thì mọi việc đều trôi chảy và tốt đẹp hơn khi tầu đang trên biển vì lúc này có đông đủ nhân viên và tất cả chúng tôi cùng làm việc với nhau.”

Vào tháng 5 năm 1968, một tuần lễ trước ngày Scorpion từ Địa Trung Hải về , Barbara Foli bắt đầu tính đến việc gặp chồng ở cầu tàu khi tầu cập bến, cô thỉnh thoảng gọi đường dây nóng được thiết lập để cung cấp thông tin về những ngày dự trù về bến chính thức của tầu ngầm cho các gia đình Hải Quân.

Chồng cô là một trong đám thủy thủ đã vội vàng viết thư để kịp gửi về nhà trong lúc Scorpion đang ra sức chạy về Rota dưới mặt nước đen ngòm của Địa Trung Hải với hy vọng rằng thư sẽ đến nhà sớm hơn ngày tầu về đến bến.

Vernon luôn quan tâm đến diện mạo của mình, và đã khoe với Barbara rằng anh đã bớt mập hơn trước vài cân nhờ chịu khó tập thể thao hàng ngày. Râu ria đã mọc dài và anh nôn nóng xem Barbara phản ứng thế nào. Vernon cũng đã gửi theo thư mấy tấm hình chân dung của mình, và nói với Barbara là đừng cho ai coi vì chụp trên boong tầu ngầm và như vậy là hơi sái luật lệ. Anh hy vọng về đến nhà vào thứ Bẩy 25 này, và sẽ tặng cô ta món quà nhỏ đặc biệt đã đem được từ Naples. Dù Vernon nhận là các bạn thủy thủ thường dễ cáu giận và bồn chồn nhưng không hề giải thích lý do, và Barbara đã trả lời là vì họ phải trải qua nhiều tháng bị nhốt trên biển. Tuy nhiên cô chưa bao giờ nghe Vernon than thở gì về con tầu cũng như về các bạn thủy thủ của mình. Thực vậy, họ như một khối đoàn kết chặt chẽ và thân ái với nhau.

Barbara sau này tự hỏi về những lý do nào đã khiến cho thủy thủ đoàn thường hay lo lắng. Có khi nào sự lo lắng ấy có liên quan tới những đổi hướng bí mật chăng? Những điều như thế Vernon giữ kín và rất thận trọng khi viết thư, Barbara nghĩ vậy. Anh là một người trung thành, cẩn trọng trong nghiệp vụ và triệt để tuân thủ điều lệ hải quân và không bao giờ hàm hồ nói đến những sự việc mà mình không nên nói.

     Tuy vậy, vào lúc này, cô gái 22 tuổi Barbara này đã luôn luôn lạc quan rằng chồng cô sắp về đến nơi. Ngày 25 tháng 5, một ngày sau sinh nhật đầy một tuổi của Holli, con gái của họ, nên Barbara đã hăm hở chuẩn bị đón mừng ngày này cùng lượt với ngày chồng trở về. Vernie thích ăn jambon hơn các thứ khác ngoại trừ bánh bích quy nướng của Ý mà mẹ anh làm, đến nỗi khi Barbara có bầu chín tháng, cô nằm mơ sanh ra một miếng thịt heo quay, mà không phải là đứa bé. Trong giấc mơ Barbara chẳng thấy gì là ngạc nhiên cho đến khi choàng tỉnh dậy. May mắn cho Vernie và cũng là điều Barbara hy vọng! – Cô ta đã cho ra đời một bé gái xinh đẹp mà không phải là miếng thịt nướng trong nhà bảo sanh. Và cô ta chắc chắn rằng Vernie sẽ không bao giờ phàn nàn đến hộp thịt mà cô ta đã dành cho sự hội ngộ của gia đình trẻ này. Thực vậy, Barbara sẽ mở nó trước lúc ăn và tưởng tượng lúc đưa cho anh miếng sandwich với đầy nhân thịt heo. Nghĩ tới lúc chồng nhận miếng bánh với nụ cười đầy hạnh phúc, Barbara sung sướng đến thế nào.

Barbara cũng bận rộn trang điểm cho ngày đón Vernon tại cầu tầu. Để cho mình được nổi bật, cô ta đã lựa mua bộ trang phục mùa  hè với giải đeo mắt mẻ và cả mấy lọn tóc để cột thêm thõng xuống theo thờì trang bấy giờ. Một bà mẹ của người bạn đã chỉ cho cô cách gắn lọn tóc và như vậy cô có đủ bộ lệ quần áo sẵn sàng đi đón chồng.

Đối với một ai đó là người vợ của thủy thủ điện thoại vào căn cứ hỏi ngày giờ đến của tầu, thì ai cũng biết ngay là cô ta chỉ muốn nghe băng thâu về lịch trình các con tầu về bến, băng thâu sẽ cho biết ngày giờ dự trù đến của từng con tầu trong suốt một tuần. Băng thâu thường xuyên được nhật tu. Barbara thường gọi ba lần mỗi ngày để nghe ngóng tin tức ngày về của tầu Scorpion. Vì vợ chồng Barbara không đủ trả tiền điện thoại gắn trong phòng thuê nhà $35.00 một tháng của khu chúng cư nên mỗi khi cần gọi điện thoại thì phải mang theo em bé trong xe đẩy vì phải đi bộ qua nhiều khu phố đến một cửa hàng bách hóa có điện thoại công cộng nằm dọc theo đại lộ Ocean.

Vào thứ hai, ngày 27 tháng 5, 1968, các gia đình thủy thủ đoàn Scorpion đều nhận được tờ “Dự báo giờ đến” được nhật tu mới nhất. Tờ lịch trình ghi nhận tầu Scorpion sẽ vào đến Norfolk lúc 1:00 trưa chậm hơn hai ngày đã dự trù.

     Đó là một ngày đầy ướt át. Vùng Hampton Roads vào mùa xuân là nơi có khí hậu ôn hòa nhất với ban ngày ấm áp và sáng sủa thêm vào đó có những cơn gió nhẹ hiu hiu thổi dọc theo bãi biển mang theo chút mằn mặn của biển cả. Nhưng khí hậu nơi đây cũng thay đổi bất thường. Có nhiều năm vào đầu mùa bão, khi hơi ẩm bị hút từ vịnh Mễ Tây Cơ và miền Carib, những ngọn sóng của miền cận nhiệt đới hình thành xoáy lốc di chuyển theo hướng đông bắc và gặp luồng không khí lạnh, vịnh Chesapeake bỗng nổi cơn thịnh nộ tạo nên những cơn bão lớn kinh hoàng…

Sau một thời gian dài với thời tiết hiền hòa có nắng ấm vui tươi, một trận bão cuồng nộ từ phía bắc đã quét qua suốt đêm. Buổi sáng thức dậy vào ngày Chiến Sĩ Trận Vong, nhìn qua cửa sổ, dân Norfolk thấy một màn mây xám dầy đặc che phủ bầu trời, từng đợt gió mạnh lướt qua các khu phố vào sân nhà, tiếp theo một trận mưa ào xuống như thác đổ.

Barbara Foli nhớ lại cơn gió mạnh cấp 10 kinh hoàng mở đầu một ngày xấu nhất cô chưa từng thấy bao giờ. Cô tự thấy mình như một người khác – nhiều đêm trước  ngày sinh nhật của Holli, tâm trí Barbara hoang mang một cách kỳ lạ, đêm ngủ trăn trở trên giường hàng giờ như sợ hãi một điều gì. Khi giật mình tỉnh giấc lại gặp lúc thời tiết thay đổi bất thường như thế thì thật khó cho cô tỉnh táo được.

Trời vẫn còn tối bên ngoài, màn đêm thẫm đen với ướt át đầy đe doạ. Dù sao Barbara cũng đã soạn sẵn bộ quần áo mùa hè đẹp đã mua và tập chải tóc lấy. Để đón Vernie thì bây giờ quá muộn để chọn mua bộ quần áo mới, nên Barbara cứ ăn mặc như dự trù lúc đầu.

Gửi Holli cho người hàng xóm trông giùm, Barbara lái chiếc xe Karman Ghia cũ kỹ hướng tới cầu tầu, hai chiếc gạt nước cọt kẹt quạt qua quạt lại xua đuổi dòng nước xối xả tạt vào kính xe.

Khi tới bãi đậu, Barbara phải dùng sức mở cửa xe vì gió mạnh ập tới từ ngoài biển thổi vào. Mưa hắt rát cả vào mắt, cô phải vật lộn với cây dù và khó khăn lắm mới mở ra được. Gió ngược thổi mạnh, Barbara không thể bước tới được nên cô phải giật lùi từng bước để vào trong cầu.

Trên cầu, Barbara thấy nhiều cô đang đợi dưới mưa. Họ đứng tụm năm, tụm ba từng nhóm nhỏ. Nhiều người mang theo trẻ con, có những đứa trẻ lớn vì được nghỉ học nên cũng có

mặt. Chỉ có một số ít như Barbara là đến một mình.

Ruthan Hogeland 22 tuổi, vợ của Trung Sĩ Nhất Điện Tử Richard Hogeland cũng để con ở nhà. Lần cuối gặp chồng tại tỉnh nhà Birmingham thuộc tiểu bang Alabama là nơi hai người đã hưởng trọn với nhau nguyên mùa Giáng Sinh năm trước với gia đình chồng. Ruthan sắp sinh đứa con thứ hai, nhưng vì sanh khó nên cô ta ở lại Birmingham sau ngày hết phép của Richard.

Chủ nhật, ngày 29 tháng 1, 1968, Ruthan trở dạ vừa vặn lúc Scorpion chấm dứt cuộc hành quân Aged Daddy 5 ở ngoài khơi Florida. Tầu đã về lại bến vào cuối tuần, và anh của Richard liên lạc được với anh trong lúc tầu nghỉ bến. Richard lấy được mấy ngày nghỉ phép vì lý do gia đình để thăm đứa con gái mới sanh, nhưng anh chàng người nam cao và gầy này không có khả năng chi trả cho chuyến đi từ Florida đến Birmingham vì lương thủy thủ quá ít ỏi. Trung Tá Slattery đã cho anh mượn bằng tiền túi của mình, đồng thời cho anh biết là khi hết phép thì trở lại tầu tại Norfolk. Ngay sau đó Richard cùng các bạn thuộc Scorpion tàu hành quân ở Địa Trung Hải.

Lúc này trên cầu tầu đã được trang hoàng rực rỡ để đón tiếp các gia đình của thủy thủ đoàn tầu Scorpion. Nhiều bong bóng của lễ hội đầy màu sắc đang chao đảo qua lại theo từng cơn gió giật và những bảng chỉ dẫn cùng các biểu ngữ đã được chăng dọc theo thành tầu để tránh ướt át do các cơn mưa lớn ập xuống. Nhiều người lạc quan nghĩ rằng tầu Scorpion sẽ trở về đúng giờ nên có thể không phải đợi lâu. Judy Pospisil là một trong các bà vợ có cảm nhận như thế. Đem theo Tim, đứa con trai mới 18 tháng, cô ta đã không mảy may để ý đến giờ giấc giờ đã quá một giờ chiều rồi mà vẫn chưa thấy tăm hơi con tầu đâu cả. Là vợ của lính thủy nhiều năm, cô ta hiểu rằng tầu về trễ như vậy là do thời tiết quá xấu mà thôi, không có chi là bất thường.

Ngoài Judy ra thì nhiều người nghĩ khác; Barbara Foli càng lúc càng sốt ruột khi thời gian trôi đi. Cô ta thấy rất khó nói chuyện hoặc nghe được người khác nói chuyện trên cầu.

Gió rít từng cơn làm át đi tiếng nói của mọi người và đã cô lập các nhóm nhỏ khiến đối thoại thật là khó khăn. Barbara dầu vậy, đôi lúc cũng nhận hiểu được những thì thầm qua lại giữa các bà với nhau. Thỉnh thoảng cô cũng có đối đáp qua lại với họ, nhưng sau đó thì chỉ yên lặng ngồi ngó mông lung với nhiều âu lo và bồn chồn dưới bầu trời xám xịt và mưa giăng kín mặt nước. Bóng dáng con tầu vẫn mịt mùng tăm cá…

Trên tầu Orion, trong khi đó Bill Elrod, nhân viên thám xuất đã đi máy bay về từ Rota trong dịp nghỉ phép tang của gia đình, đứng quan sát các bà quanh đó dưới trời mưa và anh cảm thấy nỗi lo lắng của họ càng ngày càng gia tăng. Anh không biết rằng hạm trưởng cũng đang điên đầu nhiều vì không thể nào liên lạc được với Scorpion hơn là việc tầu về chậm. Khi trở về bến sau chuyến công tác, tầu ngầm thường giữ yên lặng vô tuyến cho tới khi đến độ sâu 100 sải hay 600 feet, tại điểm này thì thềm lục địa tụt sâu xuống như một vách núi. Bởi cần lưu tâm về an toàn, hải quân đã hạn chế các tầu ngầm lặn sâu tại thềm lục địa và độ lặn sâu an toàn được chấp nhận từ các vùng nước nông hơn 600 feet. Những đường cong hải đồ của đáy biển quanh vùng bờ biển Virginia cho thấy đường 100 sải chạy dài ngoài khơi từ 60 đến 90 hải lý. Tại điểm ghi nhận gần lằn ranh này thì theo thường lệ, tầu Scorpion sẽ nổi lên mặt nước để báo cáo xác định ngày giờ về đến bến cho tầu Orion. Công điện này đến nay vẫn chưa nhận được.

Như vậy nghĩa là sao? James Bellah, hạm trưởng tầu Orion trầm ngâm một lát. Có thể Scorpion không liên lạc được vì thời tiết quá xấu chăng? Những cơn bão mãnh liệt tại hậu cứ Chesapeake là nguyên do lớn đã gây ra sự phá rối các làn sóng truyền tin.

Sau một giờ chiều, thỉnh thoảng Bella điện thoại về bộ Tư Lệnh Hạm Đội Tầu Ngầm Đại Tây Dương để hỏi thăm tin mới. Tất cả đều nhận được câu trả lời là không! Ngoài ra không nói gì thêm nữa. Hình như không ai trong Bộ Tư Lệnh có gì lo lắng cả. Không có dấu hieu gì là chiếc tàu ngầm có chuyện khó  khăn gì.

Các bà trên cầu tầu 22 đều cho rằng bão tố đã làm cho tầu Scorpion chậm trễ. Sóng cuồn cuộn trong cảng, mưa nặng hạt và tầm nhìn bị giới hạn. Tình trạng tắc nghẽn đã được dự đoán. Tuy nhiên từ từ nghi ngờ cũng không tránh len lỏi vào trong tư tưởng của một số bà. Theresa Bishop, là vợ của ông quản nội trưởng cũng đang trong tình trạng lo âu không kém. Cô ta là người rất mê tín dị đoan. Đêm trước đã có một giấc mơ hãi hùng về Wally. Khi cô lái xe đến hậu cứ lúc sáng tinh mơ, cô nhìn thấy một cây lớn bị đổ nhào trên đường cách nhà không xa. Khi ngồi đợi trên bến tầu dưới cơn mưa tầm tã, sự tưởng tượng của cô dẫn đến những hình ảnh không hay có thể xảy ra cho Wally trên đường về căn cứ.

Sự chờ đợi căng thẳng khiến nẩy ra trong đầu mọi người một ý tưởng là muốn ra ngoài cổng để thay đổi không khí, ở đó có một quán rượu, kiếm chút gì ăn cho ấm bụng và biết đâu  moi móc được tin gì mới chăng? Và nếu bạn đi khoảng bốn  khu phố từ cầu tầu đến phố chính rồi rẽ trái, bạn sẽ bớt được một phần ba dậm đường ra phố, từ cổng vào căn cứ Hải Quân. Quán rượu nằm ngay tại góc phố nơi các nhân viên căn cứ thường lui tới trong các giờ nghỉ, nhưng vào buổi trưa nay quán chắc là nghẹt người với thời tiết khắc nghiệt ai cũng muốn vào quán để nhâm nhi chai bia và ăn nhẹ. Có thể có ai trong quán có được tin tức về Scorpion gì chăng.

Theresa lên tiếng lôi kéo “Nào chúng ta hãy đi bộ ra quán, đường cũng không xa đâu.” Nhiều bà cùng đi theo cô ta. Dưới cơn mưa như trút nước, đường tới quán ăn như dài thêm ra và khi tới nơi, ai nấy đều ướt như chuột lột. Nhưng không ai trong quán có được một thông tin nào cho các bà. Bây giờ họ cảm thấy thật ngu xuẩn đã đến đây, vì con đường trở về cầu tầu quá nhiều gian truân dưới mưa nặng hạt và gió tạt lạnh buốt.

III

Thông cảm với cái lạnh và ướt át của gia đình nhân viên của tầu Scorpion, hạm trưởng Bellah đã gọi mời họ vào trong tầu Orion để tránh gió, mưa, lại thêm có cà phê nóng.

Có ít người đã nhận lời mời này. Những người khác nấn ná trên cầu hoặc quyết định trở về nhà đợi tin mới. Elrod, nhân viên thám xuất đang bận rộn với công việc trong văn phòng.

Không một ai biết được số phận của con tầu Scorpion cho đến hàng chục năm sau, một số ít các bà mới được biết là cuộc tìm kiếm tối mật cho tầu Scorpion đã được thi hành ngay sau khi tầu bị mất tích.

Chương 3 (Tiếp)

Chương 5

Cùng Chung Số Phận (tiếp chương 3)

Cùng chung số phận (tiếp chương 3)

Dịch giả : Đệ nhất Song Ngư

V

Tòa đại sứ Liên Sô tại Washington DC là một tòa nhà cũ kỹ với cổng xây bằng đá tọa lạc trên đường số 16, cách Tòa Bạch Ốc chỉ có bốn dẫy phố. Tòa nhà được dùng vừa làm chỗ ở vừa làm trụ sở KGB ở Washington trong đó khoảng một phần ba của toán hơn 100 nhân viên có nhiệm vụ làm điệp viên sống chen chúc trong lầu bốn và là tầng chót của tòa nhà.

Vào khoảng những năm 1967 và 1970 thì có ba nhân viên tại cơ sở này dùng phần lớn thời giờ của họ vào những tài liệu lấy được từ John Walker trước khi được chuyển đi ra nước ngoài tới Lubyanka, là Cơ quan đầu não của KGB ở Moscow.

Một trong những nhân viên này có tên Yuri Linkow, một anh chàng người Nga to lớn đã từng tiếp xúc với Walker bên ngoài tiệm Zayre đang hoạch định kế hoạch làm việc với Walker và sẽ là người liên lạc với Walker trong nhiều năm tới. Lúc đó thì Walker không hề biết tên người này, Linkov theo dõi các hộp thư chết và thâu nhận những gói tài liệu mật của Walker và sau đó lái xe về sứ quán mở ra nghiên cứu. Người mà Linko trực tiếp phải báo cáo là một người sinh quán tại Leningrad có tên là Oleg Kalugin. Với bộ dáng điển trai bảnh bao, mắt xanh, tóc nâu trên vầng trán cao, trạc ba mươi tuổi, Oleg Kalugin đã làm về ngôn ngữ học và phóng viên báo chí. Anh đã bỏ ra một năm theo học tại Đại Học Columbia, ở thành phố New York và thuộc ngoại giao đoàn với chức vụ “Đệ Nhị Tham Vụ và Tùy Viên Báo Chí,” của Tòa Đại Sứ một vỏ bọc giúp cho ông dễ dàng gặp gỡ với rất nhiều nhân vật trong giới truyên thông Hoa Kỳ.

Với thẩm quyền đứng đầu của Line PR, trong phân khu tình báo chính trị Liên Sô, Kalugin đã giải quyết những trường hợp của vài nhân viên KGB sáng giá nhất gài vào trong chính quyền Hoa Kỳ và quân sự, trong đó John Walker là một “kho tàng” quý giá nhất.

Ngày qua ngày, từng giờ lại qua đi, Kalugin có thể cứ ngồi trong văn phòng sau cánh cửa đóng kín để duyệt xét những tài liệu tối mật phong phú qua đường dây Walker cung cấp, dựa trên khả năng Anh Ngữ lưu loát của anh, anh phiên dịch, phân loại và sắp xếp. Tất cả mọi hộp thư chết Linkov đặt ra đều cần Kalugin chấp thuận và chỉ cần được quyết định cuối cùng của chính người trưởng trạm – một khuôn mặt KGB thẩm quyền số ba liên quan đến những hoạt động của Walker – đó là Boris Aleksandrovich Solonatin.

Nhân vật Solomatin nắm vai trò chính thức là cố vấn tại Tòa Đại Sứ là một tay nghiền thuốc nặng, nghiền rượu ham mê ngành gián điệp. Khôn ngoan, dai sức, khoẻ mạnh ông thường làm việc liên tục 12 giờ mỗi ngày, ít tha thứ đối với nhân viên thuộc hạ nào không theo nổi gương bền bỉ của anh. Trong hai năm được chỉ định làm việc tại Washington, Kalugin thật sự đã lấy được lòng của Solomatin với cách làm việc tận tâm và luôn để ý đến các tiểu tiết.  Kalugin đã nhanh chóng bước lên ngôi vị tuyệt đỉnh trong ngành tình báo chính trị nhờ theo sát ý thức hệ cộng sản của những người cộng sản bảo thủ, khó khăn. Khi kiểm soát lại cái núi tài liệu Walker dồn dập chuyển tới, Kalugin và cấp chỉ huy đã đặt trọng tâm cho ưu tiên cho những tin tức tình báo để chuyển về Lubyanka. Mỗi lần họ nhận được một số lượng quá lớn khó mà chuyển đi được toàn bộ tin tức. Cách hợp lý nhất là chuyển đi ngay các tin tức có thời gian tính bằng điện tín mã hóa, và sau đó sẽ dùng phương tiện bưu tín chuyển phần còn lại về Moscow trong những túi ngoại giao được dán kín và được cơ quan quan thuế quốc tế miễn khám xét. Đi vào chi tiết trường hợp của Walker, Kalugin đặt tin tưởng nhiều vào sự thẩm định của vị sĩ quan thâm niên. Mặc dù là khả năng Anh ngữ rất giỏi, những tiếng lóng quân sự hoặc những chữ tốc ký đã làm cho hắn ta đôi khi rất bối rối.

Solomatin thì khác. Anh có khả năng đặc biệt có thể đoán ra mà hiểu được, có lẽ là hồi xưa anh có ở trong quân đội. Rất có thể là Solomatin qua sự giúp đỡ của Kalugin đã đặt ra câu chuyện về Walker. Qua Linkow kể cho anh nghe, câu chuyện được diễn tiến như sau:

Walker nhận là anh khởi đầu làm điệp viên vào tháng 12 1967 – cả một năm sau khi anh đã bắt đầu hoạt động – khi anh bất ngờ dùng một chiếc xe taxi đến tòa đại sứ Liên Sô tại Washington. Câu chuyện được dựng lên thật chi tiết như là từ một quyển tiểu thuyết trinh thám – mà có lẽ là do chính Walker bịa ra – trong chuyện anh lẻn qua cửa điện tử khi một chiếc xe ngoại giao vừa đi ra, rồi chen qua người gác cửa, đi thẳng vào cửa chính của tòa nhà. Anh sau đó kể là anh xông đến trước người nữ tiếp tân, và đòi nói chuyện với nhân viên đảm trách về an ninh.

Walker nói lại là khi gặp người đó, anh nói, “Tôi là một Sĩ Quan Hải Quân,” rồi chìa ra bảng chìa khóa KL-47 vào mặt anh để chứng tỏ lời nói của anh là thật. “Tôi muốn kiếm chút ít tiền và đáp lại, tôi sẽ đưa cho anh những tài liệu ngon lành.” Walker phù hợp khít khao với những gì Liên Sô muốn có nơi một điệp viên. Anh ham lợi, anh đang bị rối rắm về tiền bạc khiến cho anh dễ bị mua chuộc, và anh lại có tính ích kỷ tột cùng.

Người Nga hiểu rằng những chuyện tả về anh  như một tên ngông cuồng dạn dĩ – một kẻ đã chẳng kể việc canh gác an ninh của Tòa Đại Sứ Liên Sô để gặp cho được KGB – điều này chứng tỏ cái ‘tôi’ khổng lồ của anh ta. Họ cũng coi là anh đủ thông minh lanh lợi để hiểu rằng người Nga bịa ra tình tiết câu chuyện kèm theo những dẫn chứng ngày giờ chính xác không phải là chuyện tầm phào và trọng tâm của vấn đề là làm sao cho câu chuyện không thể chối cãi được. Muốn cho Walker nhận hiểu rõ vấn đề, có lẽ Linkov cũng nhấn mạnh rằng việc anh nắm vững tình tiết câu chuyện như thế thì mọi bên đều có lợi cả.

Làm gì cho đúng lúc là một yếu tố quan trọng. Walker sẽ không khi nào tiết lộ là anh đã cung cấp những tài liệu liên quan đến KW-7 Orestes trước năm 1968. Khó có chuyện là Linkov đã cho Walker biết những lý do chính xác tại sao, và còn khó hơn thế nữa là việc cho anh biết là người liên lạc với anh lại là một nhân vật có thẩm quyền khá cao của tình báo Sô Viết. Và như vậy Solomatin và Kalugin lục qua các tài liệu của Walker cung cấp thường lệ ở hộp thư chết thì lập tức chọn hồ sơ Orestes để chuyển điện tín thật gấp về Moscow. Tài liệu về kế hoạch chiến lược dài hạn là một tài liệu thứ yếu nhưng không vì thế mà không chuyển ngay đến cho Lubyanka.

Các đại diện ngoại giao vẫn thường qua đi về giữa Moscow và Hoa Kỳ. Khi những tin tức quan trọng nhận được từ hộp thư chết được ghi nhận thì chỉ cần một khoảng thời gian không lâu hơn một hai ngày là Moscow đã có được điện tín  báo về bảng mã khóa của Hoa Kỳ có độ khẩn cao hoặc các văn thư chuyển tay các bạch thư của CIA hay NSA về những mục tiêu dài hạn về chính trị địa dư (geopolitical) . Mã khóa Orestes và các văn kiện kỹ thuật bao gồm cả những tin tức chỉ dẫn mới nhất dùng để thay đổi những hộp mã hóa sau khi Bắc Hàn chiếm được chiếc USS Pueblo lập tức nằm trong tay của Liên Sô. Orestes sử dụng các phương tiện tối tân nhất từ những nhà chế tạo máy mã hóa của Hoa Kỳ, thay thế các phương tiện truyền tin cổ lỗ như đục lỗ với điện trở transistors. Vào khoảng năm 1967, phương pháp này trở thành một máy mã hóa chính cho tất cả các ngành thuộc quân đội Hoa Kỳ như Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, Không Quân và Hải Quân. Phương pháp này cũng đươc các giới chức quân sự áp dụng tại chiến trường Việt Nam, bởi các cơ quan tình báo, và đồng minh trong khối NATO. Hệ thống liên lạc truyền tin hạm đội dùng để chuyển những lệnh hành quân từ chiến hạm vào bờ trên mỗi chiến hạm ngoài khơi, đã thay thế máy KL-47 bằng những hộp Orestes cho 80 phần trăm các chiến hạm nổi và hầu hết trên tất cả các chiến hạm thuộc hạm đội tiềm thủy đĩnh Đại Tây Dương. Cứ mỗi lần bỏ tin vào các hộp thư chết, John Walker cung cấp cho Liên Sô một bản sao trong cuốn sách gồm bốn trang được phân phối cho các Trung Tâm Truyền tin Hoa Kỳ và NATO trong đó gồm khoảng một tuần lễ những khóa giải mã của Orestes cùng với mã số mới để nhật tu hàng ngày.

Vào khoảng đầu tháng Hai hoặc tháng Ba năm 1967, Walker đã chuyển đi những tin tức về những thay đổi của hộp mã hóa Orestes. Cũng trong cùng thời gian này anh đã chuyển đi tất cả những công điện trong hồ sơ lưu của SUBLANT về việc Pentagon rất quan tâm đến hoạt động của Hạm Đội Liên Sô tại Canary. Sau đó anh cung cấp cho Liên Sô những mệnh lệnh của Đô Đốc Schades yêu cầu chiếc Scorpion chuyển hướng về để điều tra các chiến hạm đó – mệnh lệnh này được chuyển đi từ Bộ Chỉ Huy của Đô Đốc tại và rất có thể được trực tiếp chuyển đến tận tay Walker để anh phát tin tới chiếc tiềm thủy đĩnh. Anh chàng này cũng đã chuyển bản báo cáo dài đã được mã dịch của Trung Tá Slattery chuyển đi từ Scorpion xác nhận ông đang trên đường theo dõi điều tra nhóm chiến hạm Sô Viết. Trong báo cáo này chúng ta được biết vị trí cuối cùng của chiếc Scorpion và hướng đi của chiến hạm này trên đường tiến tới mục tiêu quan sát.

VI

Algeria là một nước ở miền bắc Phi Châu cách căn cứ Rota năm trăm hải lý từ hải trình qua Địa Trung Hải. Địa Trung Hải có một thời được coi như là cánh nam của NATO. Vào thập niên 1960 Địa Trung Hải trở nên một vùng tranh chấp để được ưu thế trong cuộc Chiến Tranh Lạnh khi Liên Sô bành trướng thế lực muốn đặt một đầu cầu ở đây. Chỉ ba năm sau khi chiếc Scorpion phục vụ trong Đệ Lục Hạm Đội, vị Tư Lệnh NATO, Đô Đốc Horacio Rivero Jr. tuyên bố “Địa Trung Hải là phần hải phận nằm phía trong, hậu phương nay đã trở thành tiền tuyến.”

“Vùng tiền tuyến” này kéo dài từ Ai Cập, ở phía đông của Địa Trung Hải, tới mỏm Gibraltar. Trong khu vực này, các nước đồng minh của Liên Sô đã mở rộng vòng tay tiếp đón vô số cố vấn quân sự và KGB, căn cứ phóng phi đạn, nhiều phi trường có thể chứa hàng trăm chiến đấu cơ và máy bay thám thính, cộng thêm các căn cứ Hải Quân với bốn mươi đến bảy mươi các tàu chiến đủ loại. Với sự yểm trợ của hạm đội Hắc Hải, hải đội 5 Sô Viết, hoặc hải đội Địa Trung Hải, tuần tiễu vùng mỏm Gibraltar dùng năm trăm chiến sĩ mũ đen

– lính bộ binh của Hải Quân – cùng hàng ngàn nhân viên Hải Quân. Hải đội này lớn hay nhỏ lại tùy thuộc vào kế hoạch hành quân cũng như những nhu cầu đòi hỏi của hạm đội Hắc Hải, căn cứ tại Sevastopol, Balaclava, Poti và Odessa.

Giống như các thanh niên Hoa Kỳ tuổi đôi mươi hay gắn thêm những bộ phận trang trí như đuôi cá và cản gió trên xe hơi, những chiến hạm Sô Viết được cải đổi thường xuyên, thành những tầu chiến mới. Các quan sát viên Hoa Kỳ thật hết sức nhức đầu để theo nhận dạng dù có sát ngay họ như trên các tiềm thủy đĩnh. Họ có thể xác định từng chiến hạm bằng cách phân biệt âm thanh của chúng dễ hơn là nhìn hình dáng của chúng qua các viễn vọng kính.

Lấy thí dụ như một số các khu trục hạm Kotlin được dùng làm nơi để thử nghiệm các hệ thồng vũ khí khác nhau. Chiếc Brawy đã được chọn làm mẫu để chuyển thành chiến hạm sử dụng tám phi đạn.

Vì số lượng và thành phần của phân đội Địa Trung Hải, nếu NATO có ý định kiểm điểm chính xác số chiến hạm trong vùng trách nhiệm bất cứ lúc nào cũng không thể chính xác được. Khi chiếc Scorpion rời bến tại Rota vào ngày 18 tháng năm, một chiếc tầu chiến cùng một tầu dầu Liên Sô đang neo ở Algiers cũng lên đường đi về hướng tây đi theo gần gần với hướng của tiềm thủy đĩnh Hoa Kỳ. Theo tin tức báo cáo từ Trung Tâm Tình Báo Quốc Phòng về Lực Lượng Hải Quân Liên Sô tại Địa Trung Hải vào tháng hai 1968, chiếc tầu chiến này là thuộc loại khu trục hạm Krupny bốn ngàn tấn chiều dài 455 feet từ mũi đến lái. Một chiến hạm khác không được báo cáo có thể đã rời Algiers cùng với chiếc Krupny hoặc sẽ gặp nhau trên biển. Chiếc này hơi lớn hơn loại Kanin. Cả hai chiến hạm này đều chở đầy tiếp liệu, cơ phận và vũ khí.

Cuối cùng thì cơ quan DIA Địa Trung Hải báo cáo thêm cho báo cáo tháng hai thêm hai chiếc tầu dầu: một chiếc theo loại Uda, chiếc kia thuộc loại Kazbek. Loại Uda chắc chắn là loại tàu sẽ phải phối hợp với các tầu chiến. Trong khi đó loại Kazbek nặng nề chậm chạp sẽ tiếp tế các đơn vị chiến đấu còn chiếc tầu loại Uda có một khoang trống có thể dùng để cho lực lượng tác chiến nhỏ hơn.

Tốc độ giới hạn của ba chiến hạm đang di chuyển trong đội hình được ấn định bởi chiến hạm kiểu Uda có khả năng hải hành với vận tốc 17 gút với hai máy Diesel chạy tối đa, với tốc độ này các chiến hạm Liên Sô dư sức tới vị trí đúng như dự trù. Vào năm 1969, Tòa Án Hải Quân đã tìm ra những bằng chứng là các khu trục hạm Liên Sô ở vào vị trí cách chiếc Scorpion độ 200 hải lý khi chiếc này đến vị trí cuối cùng ở tọa độ 35 độ bắc, 35 độ tây trên Đại Tây Dương, tây nam Azores. Như vậy thì chiếc tiềm thủy đĩnh sẽ ở cách xa tầm đạn của chiếc khu trục hạm, phi đạn và ngư lôi, và như vậy không thể nào bị Liên Sô hãm hại được. Chính phủ Hoa Kỳ và Liên Sô về sau này thấy rằng những sự kiện này thật tiện lợi.

VII

Khoảng tờ mờ sáng ngày 18 tháng Năm 1968, tiềm thủy đĩnh loại Polaris – chiếc USS John C. Calhoun (SSBN-630) đang chuẩn bị rời bến Rota để đi tuần tiễu thì NATO đã khám phá ra vài chiếc tiềm thủy đĩnh tấn công của Liên Sô kiểu November trong khu vực này. Sự hiện diện của những chiến hạm kiểu November không làm ai ngạc nhiên. Cách đơn giản nhất để khám phá ra hải trình của một chiến hạm là ngay từ đỉểm xuất phát, và tiềm thủy đĩnh Liên Sô thường trốn lánh bên ngoài những căn cứ Hải Quân và theo dõi các chiến hạm Hoa Kỳ – các tiềm thủy đĩnh boomer có phi đạn liên lục địa – lúc các chiến hạm khởi hành công tác. Để phá hỏng âm mưu này, các tiềm thủy đĩnh tấn công của Hoa Kỳ được lệnh phải phá rối nghĩa là tạo nên những âm thanh lớn hầu triệt tiêu các âm thanh đặc thù của tàu ngầm phát ra có thể tới được các chiến hạm địch, hoặc bất kể bằng cách gì để đánh lừa các chiến hạm địch. Chiếc Calhoun là một chiến hạm lớn, chiều dài 425 feet trang bị phi đạn tầm xa đương nhiên sẽ là một mục tiêu chính để Hải Quân Liên Sô theo dõi. Như vậy, chiếc Scorpion vừa mới cho Elrod, Underwood và người khách quá giang của SOSUS là Marquez rời tàu, Hạm Trưởng Slattery tiện đó được chỉ định hộ tống chiếc Calhoun ra khỏi hải cảng Rota đề phòng mấy tàu November tiến lại quá gần. Sau đó thì chiếc Scorpion có thể tự do hải hành theo hướng nam để về Canary. Cuộc hành quân hộ tống này diễn ra vô sự theo như Bill Hyler, một kỹ sư về nguyên tử lực đang ở trên chiếc Calhoun nhớ lại.

Hyler quen biết sáu anh chàng Hải Quân của Scorpion khi cùng được thụ huấn tại trung tâm huấn luyện về nguyên tử lực

– trường Nguyên Tử Lực Hải Quân Windsor, Connecticut vào những năm 1965 – như Hải Quân Đại Úy Harwi, các thủy thủ Richard Curtis Hogeland, Richard Englehart, Thomas Amtower, Steven Gleason và John Sturgill. Khi hai tiềm

thủy đĩnh tách nhau trong màn đêm dầy đặc sau nửa đêm bỏ lại đàng sau hải cảng an toàn Rota, Hyler không có một chút ý niệm nào là chiếc Scorpion sẽ trực chỉ hướng nào cũng như không biết mấy người bạn cùng lớp có đang ở trên chiến hạm không. Nhưng anh cũng biết ơn thủy thủ đoàn của chiến hạm khác không quản nguy hiểm để giúp cho Calhoun khởi hành an toàn không bị địch phá rối. Anh chắc chắn không thể nào quên được việc đó. Điều này nói lên tình anh em, chiến hữu của những người cùng phục vụ trong lực lượng tàu ngầm. Sự việc liên kết mọi người lại với nhau, có người đã gặp nhau, có người cũng có thể gặp nhau một ngày nào đó, và cũng có nhiều người chưa hề nhìn thấy nhau bao giờ – sự liên kết này gắn  chặt qua thời gian và không gian dù cho rằng họ ở rất xa tận cùng của đại dương trên những hải trình ở mọi hướng dưới đại dương mênh mông.

VIII

Chỉ ít phút trước 12 giờ sáng – giờ quốc tế, ngày 22 tháng năm, 1968, viễn vọng kính của chiếc Scorpion và dụng cụ tình báo điện tử trồi lên sóng biển ở trung bộ Đại Tây Dương để thăm dò xem có gì nguy hiểm không. Tất cả đều an toàn. Chỉ một lúc sau đó dàn anten trồi lên mặt nước và chiến hạm giữ thăng bằng với độ sâu của viễn vọng kính, một nhân viên truyền tin đang ở trong phòng vô tuyến bắt đầu chuyển vị trí chiến hạm và hướng hải hành về căn cứ hải quân Rota để chuyển tiếp đến Bộ Chỉ Huy SUBLANT tại Norfolk, Virginia. Khoảng một phút trước nửa đêm, chiếc tiềm thủy đĩnh báo cáo vị trí khoảng 36 độ bắc và 25 độ tây – tình cờ cùng vùng biển với chiếc tầu ma huyền thoại Mary Celeste vào thế kỷ thứ 19 lần đầu tiên có người nhìn thấy tàu nhưng không thấy có thủy thủ nào cả.

Ngay phía dưới của chiến hạm là đường nứt East Azores, một vùng đường nứt dài vẫn còn hoạt động chạy từ mỏm Gibraltar đến phía Bắc của Santa Maria trong quần đảo san hô Azores. Một xấp công điện mật tiếp theo báo cáo vị trí đã được

chuyển đi sau khi được mã hóa qua máy KW-7 Orestes.  Nhưng việc phát tin này bị cản trở vì sóng bị nhiễu loạn và mãi cho đến cả giờ đồng hồ sau Trung Tâm Truyền Tin Nea Makri thuộc bán đảo Greece mới có cơ hội nhận được tín hiệu của làn sóng siêu tần. Vì vô phương điều tra ra sự nhiễu loạn truyền tin là gây ra do hiện tượng của bầu khí quyển ở đó hay do làn sóng điện tử do một người nào đó tạo ra ở gần vị trí của tiềm

thủy đĩnh, giới chức thẩm quyền tại Nea Matri bảo Scorpion cứ tiếp tục chuyển tin cho họ. Họ sẽ chuyển tiếp các công điện đến các nơi nhận.

Trong khi đó thì chiếc Scorpion bị trôi dạt một ít bởi dòng nước Azores. Dòng nước này chảy theo hướng đông nam từ Grand Banks băng qua Mid Atlantic Ridge, rồi tà tà qua hướng đông và ra khỏi Phi Châu đến tận vùng vịnh Cadiz. Vì dòng nuớc với tốc độ 0.5 gút đẩy bên phía hữu hạm, vị sĩ quan hải hành, Hải Quân Thiếu Tá John Stephens, điều chỉnh hướng đi chiến hạm một chút về phía bắc để chiến hạm đi về phía tây quá Santa Maria để đi đến vị trí được ấn định.

Bây giờ ở thật dưới phía nam của đường trực hành tiềm thủy đĩnh Hoa Kỳ thường đi qua lại từ căn cứ trong nước và Địa Trung Hải, chiếc Scorpion tiếp tục kiểu đi bí mật mà thủy thủ gọi là phóng đi rồi thả trôi, một lối đi lập đi lập lại lặn sâu và đi một quãng với vận tốc nhanh, rồi thỉnh thoảng ngừng lại lên gần mặt nước gửi công điện về Hy Lạp rồi lại lặn xuống và phóng nhanh thêm dăm gút nữa. Khoảng 3:03 giờ sáng, chiếc Scorpion tự nhiên hoàn toàn mất liên lạc vô tuyến với Nea Makri và không cách gì nối lại được – sự nhiễu loạn vô tuyến đã xảy ra trong suốt hải trình và càng ngày càng tồi tệ hơn. Chỉ còn vài giờ nữa là Scorpion đã đến địa điểm hành quân và sẽ tiến vào lãnh thổ của đám tiềm thủy đĩnh và chiến hạm nổi Liên Sô. Tại căn cứ Norfolk, Hải Quân Đại Úy John Roberts đang nhận một công điện ngắn mà Nea Makri chuyển tiếp từ chiếc Scorpion đến cho SUBLANT.

Roberts, đã nhận công điện từ John Walker, luôn luôn nhớ rằng công điện có câu rõ ràng này từ Hải Quân Trung Tá Slattery. “Chúng tôi sắp bắt đầu theo dõi Sô Viết.”

IX

Vào khoảng hoàng hôn ngày 22 tháng năm, chiếc Scorpion đang hải hành hướng về hạm đội Liên Sô bây giờ còn cách nhau khoảng 150 hải lý. Sau khi gặp chiếc Bigelow, Hải Quân Trung Tá Slattery đã ra lệnh cho chiến hạm chạy về hướng Tây hướng thẳng đến mục tiêu, tiến gần tàu địch đều đặn với vận tốc 15 gút dưới độ sâu 350 feet.

Dù dư khả năng di chuyển nhanh hơn nhiều, chiếc Scorpion chỉ chạy theo đúng vận tốc chiến thuật nghĩa là trong thời hạn sớm nhất mà vẫn khám phá ra tầu địch trước khi bị phát hiện. Chiến hạm này cũng bị giới hạn về độ sâu hải hành. Trước chuyến khởi hành đi Địa Trung Hải, hệ thống nuớc biển với áp suất cao, và áp lực trên vỏ tàu đã được sửa chữa hoàn toàn. Đây là những đòi hỏi của chuơng trình SUB SAFE, một chương trình rât tỉ mỉ do Hải Quân Hoa Kỳ thiết lập vào năm 1963 với nỗ lực kiểm soát về phẩm chất của sự an toàn cho lực tàu ngầm Đại Tây Dương Nhưng sau năm năm, quân đội gặp khó khăn với vô số nhu cầu chiến tranh leo thang tại chiến trường Việt Nam và cuộc Chiến Tranh Lạnh, thời giờ và tiền bạc cạn dần trước khi hoàn tất việc cải tiến theo chương trình SUB SAFE. Những cơ phận cần yếu trong hệ thống thổi gió khẩn cấp được hoãn lại đến lần sửa chữa tới ở hải quân công xưởng. Để tránh những nguy hiểm có thể xẩy ra do những thiếu sót này, Scorpion bây giờ được xếp loại là LID – loại tàu ngầm với khả năng giơí hạn độ lặn sâu nhất là 500 feet – Hạm Trưởng Slattery đồng ý tuân theo những giới hạn đó.

Khi Scorpion di chuyển đến vùng hành quân thì biển cũng bắt đầu hơi động, với thời tiết tiên đoán là trời nhiều mây và gió thổi từ 10 đến 15 gút. Trên hệ thống Beaufort ghi nhận là biển 4, gió thổi nhẹ với những đợt sóng nhỏ sẽ trở nên mạnh hơn và sẽ có một ít đợt sóng “bạch mã.39” Những người đi biển hay dùng hai chữ “bạch mã” (hoa biển) để chỉ những đợt sóng lớn di chuyển nhanh với những đỉnh sóng hay mào sóng tan vỡ trắng xóa như bọt. Trên bờ, với độ biển động như vậy thì gió lớn sẽ làm rung chuyển mạnh cành cây, thổi tung bụi lên trời, và thổi bay đám giấy trên mặt bàn. Nếu thời tiết cũng giữ được như vậy thì khi chiếc Scorpion thấy được đám tàu Liên Sô. Hạm Trưởng Slattery và các sĩ quan hải hành biết là chiến hạm có thể quan sát bằng mắt thường mặc dù sóng có độ cao từ ba đến năm feet sẽ làm khó khăn cho chiếc tiềm thủy đĩnh giữ đúng độ sâu tầm viễn vọng kính mà không phải bị quay tàu đi ngược sóng – một thay đổi bất thần về hướng đi.

Có lẽ Slattery có ý định sẽ ra lệnh đi chậm lại để cho tới tối sẽ tới gần và cứ nằm đợi chờ tại đó chờ biển sẽ êm hơn thường là vào buổi sáng sớm rồi tiến lại gần hơn để quan sát kỹ hơn. Dầu vậy Scorpion cần phải tiến đến tới cách các chiến hạm đó khoảng 10 hải lý nhưng khoảng ba hay bốn hải lý là tốt nhất. Dù rằng ngay giữa ban ngày, những chiến hạm này không thể biết được Scorpion dùng viễn vọng kính nếu quá 12 hải lý vì độ cong của trái đất sẽ làm cho biển và chân trời sẽ trộn lộn thành một đường chân trời rộng mênh mông bất tận.

Trong khoảng cách này tiềm thủy đĩnh vẫn còn quá xa hạm đội Liên Sô nên Scorpion không thể sử dụng cột anten để thâu thập tin tức tình báo điện tử hay ELINT hữu hiệu tối đa.

Chiếc Scorpion trồi lên mặt nước ngang độ sâu của viễn vọng kính, rồi từ từ tiến lại gần hạm đội Liên Sô bằng vận tốc chậm và sẽ lấy vị trí ở phía đông của các chiến hạm Liên Sô, để mặt trời lại phía sau và như thế không ảnh hưởng gì đến việc sử dụng các viễn vọng kính hoặc kính thường để quan sát.

Đám nhân viên sẽ tắt đi tất cả các máy móc không cần thiết, nghĩa là tất cả mọi thứ mà họ có thể tắt được. Họ sẽ chuyển sang sử dụng máy bơm nước và quạt gió trong công suất thấp. Họ phải đi giầy đế mềm hoặc chỉ đi vớ thôi. Họ phải di chuyển rất nhẹ nhàng, tiềm thủy đĩnh đi thẳng tới đám tàu Nga Sô nên tàu Nga sẽ nhìn thấy Scorpion trong phần hình dáng nhỏ nhất và tạo nên tiếng động ít nhất vì phần lớn những tiếng động truyền ra từ chân vịt và dàn máy chính thì nằm ở phần sau lái.

Vào lúc chạng vạng tối, chiếc Scorpion lảng vảng với vận tốc chỉ 2 đến 3 gút, đám nhân viên quan sát những chiến hạm Liên Sô bằng ống nhòm. Sự quan tâm chính của Slattery là tìm hiểu xem các chiến hạm kia vận chuyển ra sao, thì ELINT với dàn anten nhú lên khỏi mặt nước có đủ khả năng khám phá ra các làn sóng vô tuyến điện hoặc radar đang sử dụng.

“Sĩ quan đặc trách cho tiềm thủy đĩnh lặn có lẽ đang cắn móng tay,” anh nhân viên phòng tai cũ kiêm trưởng phiên trên chiếc Skipjack nói. “Ông không dám đổi hướng, vì đổi hướng là coi như tự sát. Đây là một phiên trực vô cùng gay cấn. Phải thú nhận là sau khi mãn phiên trực tôi sẽ ngã quỵ vì mệt. Nó không thuộc về tình trạng thể chất. Nó chính là một vấn đề thuộc về tâm lý là phải giữ tàu ngầm ở một độ không nổi lên cho địch thấy mình.” Phần gay cấn nhất của việc quan sát sẽ xảy ra vào lúc mặt trời mọc. Khi bầu trời sáng và những tia nắng chiếu xuyên qua làn nước trong xanh, Scorpion lặn xuống sâu hơn, tiến dần về phía các chiến hạm, chui ở phía dưới, chụp hình cấu trúc phần vỏ tầu phía đáy và phần máy móc qua chiếc viễn vọng kính. Khi hoàn thành nhiệm vụ này, Scorpion sẽ nổi lên đánh một vòng tròn, cho viễn vọng kính hoạt động trong một thời gian ngắn để chụp phần trên của các chiến hạm này cũng như bất cứ hoạt động của một vài nhân viên nào đó trên boong chính. Khi đã lấy đủ tài liệu cần thiết – hay trong trường hợp chẳng may mà thấy có vẻ bị tàu địch nghi ngờ – lúc đó chiếc Scorpion phải lập tức lặn sâu xuống và xả máy tối đa ra khỏi vùng. Tất cả những điều này dĩ nhiên đang nằm ở phía trước mặt, đã được dự trù tính toán trước.

Mazzuchi và toán nhân viên hải hành ghi nhận vị trí hiện thời của chiến hạm là 35 độ bắc, 35 độ tây và vào khoảng 530 hải lý về phía nam của thành phố Horta, thuộc đảo Fail, trong vùng quần đảo Azores. Duyên hải Phi Châu, sa mạc Morocco và vùng sa mạc Sahara thuộc Tây Ban Nha, còn cách rất xa phía tây của Đại Tây Dương, Scorpion cần phải vượt qua một vùng biển khá rộng lớn trước khi có thể tiến lại gần nhóm chiến hạm này. Tiếng động của hệ thống thăm dò âm ba trong vùng biển quanh đây thật sự đã gây ngạc nhiên và hoang mang lớn cho mọi người trên tiềm thủy đĩnh. Tất cả nhân viên đều có thể nghe rất rõ ràng tiếng động này qua thân tầu  dầy cỡ 2 inch.

Tất cả mọi người im lặng chờ đợi số phận của họ. Qua cái màn hình phía trước phòng kiểm soát, toán nhân viên thám xuất báo cáo những điều mà Trung Tá Slattery đã xác nhận rằng một chiếc sonar đang hoạt động vị trí rất gần họ.

Scorpion thuộc loại tiềm thủy đĩnh Skipjack – Lợi điểm này đã giúp cho Scorpion được xem như là một tiềm thủy đĩnh trên thế giới chạy nhanh nhất dưới mặt nước – Hạm Trưởng Slattery ra lệnh cho tiềm thủy đĩnh lập tức rút lui.

Nhưng tiếc thay mọi việc đã trở nên quá trễ. Màng lưới của Liên Sô đã bủa ra. Không còn đường nào chạy thoát.

Chương 3 Chương 4

Cùng Chung Số Phận (Chương 3)

Cùng chung số phận (chương 3)

Chui Vào Bẫy Địch

” Trong lúc về phía dân sự, mọi người đều quan tâm đến trận chiến cuối cùng Armagedon hủy diệt tất cả, thì ở ngoài khơi của đại dương, thủy thủ đoàn của lực lượng  tiềm thủy đĩnh hết sức cố gắng phòng ngừa chuyện đó cho đừng xẩy ra, luôn luôn sống trong tình trạng căng thẳng. Trên phương diện chiến lược của cuộc tranh chấp cân não hào hùng và dai dẳng này, không một ai có thể làm hơn được lực lượng tiềm thủy đĩnh của chúng ta, những chiếc tiềm thủy đĩnh tối tân với nhóm thủy thủ đoàn thành thạo, để tạo thắng lợi trong cuộc chiến tranh lạnh này.” Phó Đô Đốc Robert R. Fountain, USN (Hồi hưu)

Nằm trong Đại Tây Dương ngoài bờ biển Phi Châu, quần đảo Canary là một hình ảnh rất quen thuộc với những người đi biển nghiên cứu các hải trình của người xưa dùng trong việc buôn bán giữa Âu Châu, Á Châu và Bắc Mỹ Châu, một hải trình được xem như có tầm quan trọng lịch sử cho những nhà chiến lược hải quân. Vào những ngày đầu của tháng Tư 1968, các chuyên viên thuộc Cơ Quan Tình Báo Hoa Kỳ đã đặc biệt để ý khi những phi vụ quan sát và hình ảnh Keyhole qua vệ tinh đã phát hiện một hải đội Nga Sô gồm ba chiến hạm thêm một tiềm thủy đĩnh nguyên tử Echo II, một tên do NATO đặt ra, đang có những hoạt động khó hiểu giữa đại dương, ở vào khoảng bốn trăm hải lý Tây Nam của quần đảo do hỏa diệm sơn tạo nên này. Đến cả một tháng sau đó, hải đội này vẫn tiếp tục lảng vảng trong khu vực khiến cho các chuyên viên phân tích phải điên đầu về những hoạt động của toán này. (Chú thích: * Ar·ma·ged·don nơi xẩy ra trận chiến cuối cùng trước ngày Phán Xét giữa hai lực lượng thiện và ác. Có lẽ đặt tên theo trận chiến Megiddo – Thánh Kinh Rev, 16:16. Cũng có nghĩa là Trận chiến sống chết cuối cùng hủy diệt tất cả. NATO North Atlantic Treaty Organization Minh Ước Bắc Đại Tây Dương, thành lập ngày 4 tháng 4 năm 1948 mục tiêu là “chống người Nga, hạ người Đức và đồng minh với Mỹ.” Trụ sở đóng ở Brussels (Bỉ). Liên minh quân sự này hiện có 28 thành viên thiết lập phòng thủ chung. Liên minh thực hiện cam kết này sau ngày tấn công Twin Towers của khủng bố Hồi Giáo ngày 11 tháng 9, 2011 và gửi quân đội tới Afghanistan cũng như ra lệnh thiết lập khu vực không được có phi cơ quân sự ở Libya năm 2011).

Vào thời điểm đó, những cuộc thao diễn của phía Nga Sô chỉ hạn chế trong các vịnh nhỏ, eo biển và các con sông gần với căn cứ hải quân của họ và họ tăng cường canh gác tối đa để tránh bị lực lượng Hoa Kỳ và NATO theo dõi. Nhưng nay thì phía Nga Sô đã thả những bong bóng theo dõi thời tiết, hoặc là những trái bong bóng có vẻ như là các bong bóng thời tiết ngay trước mũi các quan sát viên Hoa Kỳ.

Rồi thêm chuyện có mặt của tiềm thủy đĩnh nguyên tử Nga thì câu chuyện lại càng hấp dẫn hơn. Với hỏa lực gồm tám phi đạn Shaddock chống tàu nổi, thì chiếc Echo II, được Liên Sô chế tạo chỉ với một mục đích duy nhất là tấn công lực lượng đặc nhiệm hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ, có thể được xem như một mục tiêu có giá trị để cho Lực Lượng Chống Tiềm Thủy Đĩnh của Hạm Đội Đại Tây Dương (ASWFORLANT) đặc biệt chú ý quan sát, trong khi đó lực lượng gồm các đơn vị không hải cũng đang theo dõi hoạt động của các tiềm thủy đĩnh Nga Sô trong vùng biển rộng lớn giữa Canary và Azores. Được đặt mật hiệu là Bravo 20, cuộc hành quân này đã bắt đầu từ lâu, thường là có sự tham dự của những chiến hạm nguyên tử thuộc lực lượng SUBLANT. (Chú thích: *Shaddock là code name do NATO đặt cho phi đạn P-6 “Pyatyorka” cruise missile mang đầu đạn quy ước vơi 1000kg HE (high explosive) hay đầu đạn nguyên tử từ 200 đến 350kt (kilo ton) phóng từ tàu ngầm để chống lực lương hàng không mẫu hạm. Sử dụng bắt đầu năm 1959, có tầm xa 500km, vận tốc 0.9 Mach (gần bằng vận tốc âm thanh). * Echo II tàu ngầm nguyên tử Liên Sô loại Project 659 trang bị cruise missle P-6, thiết kế để chuyên tấn công lực lượng hàng không mẫu hạm. * Anti-Submarine Warfare Force, Atlantic Fleet. * SUBLANT Submarine Force Atlantic Lực lượng tiềm thủy đĩnh Đại Tây Dương, Bộ Tư Lệnh đóng ở Northfolk, Virginia.)

Phó Đô Đốc Philip A. Beshany, Tư Lệnh Phó Lực Lượng Chiến Tranh Tiềm Thủy Đĩnh, về sau nói là quan tâm mới của Bộ Tư Lệnh là giả thuyết cho rằng Nga Sô có thể đặt kế hoạch yểm trợ chiến hạm và các tiềm thủy đĩnh mà không cần phải sử dụng các căn cứ ở ngoại quốc để tiếp liệu.

Tuy nhiên, phần đông các chuyên viên có thẩm quyền nhận định về hoạt động của lực lượng Hải Quân Liên Sô, đã bác bỏ lời giải thích đó. Tiếp tế nhiên liệu và dầu nhớt trên biển đã có từ trước Đệ Nhị Thế Chiến. Trong thời chiến, một chiến hạm yểm trợ kềnh càng không thể tồn tại nhiều hơn đôi ba ngày trước khi bị địch khám phá và đánh chìm. Trên mặt nổi, thật là một chuyện ít có nghĩa hay có khi là vô nghĩa nếu cho rằng những chiến hạm đã phải vượt qua 1,500 hải lý trên biển để tới Địa Trung Hải mà làm một cuộc thí nghiệm lẽ ra có thể thực hiện được trong vùng biển ít sôi động hơn. Như vậy thì những trái bong bóng này là gì đây?

Chuyên viên tình báo tại Washington đã nhận định rằng phải có lý do gì đó về sự hiện diện lộ liễu của những chiến hạm này và mình phải cách nào để tìm cho ra tại sao những chiến hạm này lại có mặt tại đây.

Cơ Quan Sưu Tầm Đặc Biệt của Hải Quân Hoa Kỳ (SNCP) quản trị và điều động một số tiềm thủy đĩnh gián điệp dưới danh hiệu Holystone, và quan sát cái hạm đội kỳ quái này trong phạm vi khả năng của họ. Vào thời điểm này, Hoa Kỳ luôn luôn giữ từ năm đến bảy tiềm thủy đĩnh trong vùng Địa Trung Hải. Nhiệm kỳ sáu tháng thường bị lấn lên nhau với một tiềm thủy đĩnh hải hành theo trực hành giữa Địa Trung Hải và lục địa Hoa Kỳ mỗi bốn tuần lễ. Điều động một tiềm thủy đĩnh trên đường về Mỹ tạt qua vùng biển Canary để coi qua là một chuyện khá dễ. Phía Nga Sô cũng thừa biết điều này. Nga Sô cũng đang nắm giữ một sự kiện quan trọng, đó là phương tiện và thói quen của các phi cơ tuần tiễu trong vùng. Radar của Liên Sô có thể phát hiện các máy bay gián điệp của Hoa Kỳ trước khi mắt thường có thể nhận ra được rất nhiều. Nga Sô biết chính xác lịch trình quỹ đạo của vệ tinh do thám KH-8 chụp không ảnh. Người Mỹ dĩ nhiên là biết người Nga biết chuyện đó và kiểu trò chơi tag!you’re-it như vầy trong thời đại chiến tranh lạnh này chỉ là một trò chơi bên nọ bịp bên kia thôi. (Chú thích: * SNCP: Special Naval Collection Program * Tag, you’re it! là một trò chơi trẻ con. Mấy đứa trẻ chỉ việc nói thí dụ như: “Bạn là một tên đá banh dở ẹc!”, xong rồi vỗ vào vai một bé A và nói: “you’re it!” Rồi bé A bây giờ là tên đá banh dở ẹc, lại đạt một tên khác và tóm lấy một bé khác, nói, “you’re it!” Tiếp tục hơi cho đến vô tận. Trực hành: Hải hành theo đường ngắn nhất từ điêm A đến điểm B. * Tà hành: Theo đường cong của trái đất, không phải theo đường thẳng nối hai điểm trên hải đồ.)

Trong khi các chiến hạm Nga Sô thường thực hiện các cuộc thí nghiệm về đêm khi mà tầm quan sát rất khó khăn thì hoạt động ở gần vùng Canary rất khác thường. Hạm đội sẽ thả những bong bóng vào ban ngày và đợi cho đến phút cuối cùng gần bị lộ mới ngừng thả, hay ngừng hoạt động vừa vặn lúc phi cơ của Hải Quân Hoa Kỳ hoặc vệ tinh tới gần – gần như thể là họ muốn được phía Mỹ chú ý tới. Cái cách hoạt động lạ kỳ này lại càng làm tăng thêm những nghi vấn về sự hiện diện của hạm đội này. Những chiến hạm này đang chơi trò gì đây?

Thách đố các nhà quan sát bằng cách giả bộ để tránh bị khám phá? Nếu như vậy thì tại sao họ lại bày trò như vậy? Những hoạt động gì khác mà phía Nga Sô muốn giấu giếm bằng mấy trò làm mờ mắt đó?

Một thủy thủ của chiếc Scorpion đã từng phục vụ trên chiến hạm này trong nhiều kỳ trong công tác Holystone vào sâu trong lãnh hải Nga Sô sẽ so sánh những hoạt động gây hấn của chiến hạm như người đấu bò rừng đang vung lên tấm vải đỏ trong một cuộc đấu bò rừng: “Này, tớ đang ở đây này, hãy tới chơi thử coi nào!”

Thật vậy, chuyên viên tình báo tại Washington đã chú ý tò mò tới các hoạt động của hạm đội này nhiều hơn là thành phần chiến hạm của hạm đội. Trong bốn chiến hạm thì chỉ duy nhất chiếc tiềm thủy đĩnh được chiến hạm thuộc loại chiến đấu. Hai chiếc là tàu thám sát thủy đạo, chiếc còn lại là chiếc tàu dòng thuộc loại cứu cấp và tiếp liệu.

Ba chiến hạm đều có những ám hiệu sonar rõ rệt, nghĩa là sonar của họ sử dụng các tần số âm thanh đặc biệt đã được  thâu âm từ  những điệp vụ vừa qua và dễ dàng bị nhận dạng qua hệ thống phao sonar thâu nhận âm thanh của ASWFORLANT cho nên tự nó chẳng có giá trị gì về phương diện quân sự. Nhưng thí dụ như nếu sự việc bất bình thường, như hoạt động điện tử, vô tuyến, truyền thanh từ các chiến hạm Sô Viết, thì đó sẽ là một mối quan tâm hàng đầu cho những chuyên viên phân tích dữ kiện tình báo và đương nhiên theo huấn thị căn bản là sẽ gửi một EC-121 hay P-3 Orion thám thính cơ có khả năng theo dõi các chiến hạm từ trên không.

Nhưng một tiềm thủy đĩnh thì có khả năng hơn hẳn so với những phao và các thám thính cơ, và nó còn có thể lén quan sát toàn bộ các chiến hạm Sô Viết thật gần và biết hết được mọi chuyện đang xảy ra ở đó. Theo dõi được một tàu ngầm Echo II thì có thể coi như là đã chiếm được những phần lợi phụ trội đáng kể.

Mặc dù sau này vài Sĩ Quan Hải Quân khẳng định rằng điều động một tiềm thủy đĩnh đến những khu vực đó xem như là công việc thường lệ, nhưng một trong số giới chức liên hệ đến tiến trình thâu thập tin tức tình báo đã cho biết khác hơn. Vị này là một viên chức cao cấp đã theo dõi tình hình về nhóm tàu Nga này cả mấy tuần lễ. “Chúng tôi rất muốn ra tận nơi và xem tình hình ở đó thế nào,” Hải Quân Đại Tá Walter N, “Buck” Dietzen, người đã theo dõi tình hình của hải đội Liên Sô đã mấy tuần lễ. Dietzen là phụ tá ở Ngũ Giác Đài của Đề Đốc Philip Beshany về chiến tranh tiềm thủy. “Tại hành lang Ngũ Giác Đài chúng tôi thèm thuồng làm sao biết được chúng đang làm gì ở đó,” ông nói thêm. Mong ước đó của Đại Tá Dietzen sớm trở thành một mệnh lệnh trực tiếp được giữ rất kín và được chuyển xuống chiến hạm USS Scorpion từ giới chức cao cấp nhất của Hải Quân. Kể cả cho đến bây giờ, ai ai cũng nhìn thấy là tại sao chiến hạm này lại được chỉ định nhận lãnh công tác này.

Nhờ ở khả năng về tốc độ và máy nổ rất êm, loại tiềm thủy đĩnh Skipjack thật là lý tưởng để theo dõi các chiến hạm Liên Sô. Loại chiến hạm này đã hoàn tất công tác loại này rất thường xuyên và tiện hơn nữa là chiến hạm sẵn đang có mặt ở vùng lân cận. Phó Đô Đốc Arnold F. Schade, Tư Lệnh Hạm Đội Tiềm Thủy Đĩnh Đại Tây Dương sẽ phải có cách chuyển lệnh đến chiến hạm Scorpion ngay từ Trung Tâm Truyền Tin tại Norfolk.

John Walker Jr. lúc đó có trực vào thời điểm đó hay không thì không ai biết. Nhưng cũng chả sao vì Walker có thể dễ dàng ra vào tủ lưu giữ tài liệu đã được gửi đi và Walker chắc chắn là biết được việc lệnh đã chuyển đi. Ông luôn luôn lén lút nhòm ngó vào những chuyện như vậy.

Bất kể thủy thủ trên một tàu ngầm hay một tàu nổi họ đều không có nhiều phương tiện để giải trí khi xuống phiên trực trong khi ngang dọc trên biển cả. Trên chiếc Scorpion, thủy thủ đoàn chuẩn bị một cuộc thi “râu đẹp” vì vấn đề cạo râu không bắt buộc áp dụng khi đang công tác. Những người thắng cuộc sẽ lãnh thưởng bằng tiền mặt khi cuộc chọn lựa người trúng giải được tuyên bố vào cuối công tác. Có nhiều giải khác nhau như râu rậm nhất, râu dầy nhất, râu đỏm dáng nhất.

Gregg Pennington, một cựu chuyên viên về lò nguyên tử lực trên Scorpion, còn nhớ đến vài người bạn có nhiều óc sáng tạo làm sao cho cuộc tuần tiễu đỡ buồn tẻ. Trong một cuộc tuần tiễu, bọn họ quyết định biến đồng tiền nửa bảng Anh nhặt được tại Holy Loch, Tô Cách Lan thành những chiếc nhẫn. Việc này đòi hỏi kiên nhẫn, biết xoay sở giỏi, và được sự giúp đỡ lén lút không ít của mọi thành phần trên chiến hạm. Bao nhiêu muỗng ăn biến mất ở nhà bếp và tái xuất hiện như trò ảo thuật trong túi thủy thủ đoàn. Họ dùng những muỗng ăn này như những chiếc búa của mấy người làm nữ trang, gõ phần trong của cái muỗng vào cạnh của đồng tiền cho đến khi nào làm dẹp đúng chiều rộng mình định. Kế tiếp đó, đám nhân viên cơ khí cũng xung phong để khoan những lỗ vào giữa các đồng tiền này. Khi hoàn tất người làm nữ trang tài tử này sẽ tạo nên một lớp bóng loáng và mịn màng trên tác phẩm bằng dũa nhỏ.

Nói chung, những người này sẽ kiếm được những thú vui bình dân. Khi một người mãn phiên trực và họ cần phải giải trí thư giãn một tí trước khi trở lại làm việc, họ kiếm vài miếng ăn gì đó trong nhà bếp rồi sau đó giết thời giờ đôi ba tiếng bằng cách chơi bàì vớí nhau, đánh cờ tướng, chơi cờ ô hay chơi Acey Deucey với vàì người bạn vừa mãn phiên trực – hoặc giả là xem đại một phim ở trong phòng ăn. Như đã được chỉ định mấy anh chàng thông tin nội bộ có nhiệm vụ điều khiển máy chiếu phim. Mấy anh này có trách nhiệm với một lô dụng cụ gồm cả máy chiếu phim của chiến hạm.

Trước khi khởi hành công tác, chiến hạm luôn luôn phải lãnh sẵn rất nhiều phim ảnh ở phòng đổi phim trên căn cứ. Các tiềm thủy đĩnh nguyên tử mỗi chuyến công tác thường ở ngoài biển khoảng từ hai tới ba tháng một lần, vì thế phải mang theo từ sáu mươi đến bảy mươi phim, để làm sao mỗi tối phải thay đổi phim mới – tối thiểu là trong khoảng hai ba tháng đầu.

Nếu một phim thật hay có thể trình chiếu hai ba lần mỗi ngày. Trường hợp tiềm thủy đĩnh không nằm trong vùng nguy hiểm, anh này có thể xin phép phòng chỉ huy để chiếu phim chẳng kể là bao nhiêu lần.

Đổi phim thì chẳng có gì rắc rối khi chiến hạm ở bến. Khi xong công tác tuần tiễu về, một nhân viên trên tàu sẽ mang phim vào và một chiến hạm sắp công tác sẽ ký mượn số phim này ngay. Nếu bạn được chỉ định đi lấy phim thì bạn chẳng có được lựa chọn nhiều, nhưng bạn nên cố gắng lấy được những phim mới ra. Như phim Victory at Sea – sản xuất cho đài truyền hình NBC vào thập niên 1950, là phim lúc nào cũng được ưa thích. Phim được chiếu dài hai mươi sáu giờ rưỡi, kể lại những chiến tích của Hải Quân trong đệ nhị thế chiến mang những tựa đề giật gân như Melanesian Nightmare, Full Fathom Five Suicide for Glory. Đối với anh em Hải Quân chuyện phim gần gũi với họ hơn.

Tuy thế, chỉ có vàì bộ phim chiếu đi chiếu lại hoài thì quả thật là vô cùng buồn chán khi mà thời gian công tác dài hơn dự trù – chuyện này xẩy ra dài dài. Cho nên mỗi khi điều kiện cho phép, phim ảnh có thể được đổi tại những bến nghỉ của tiềm thủy đĩnh với các chiến hạm khác, đôi khi cũng qua các chiến hạm tiếp tế. Rât hiếm khi phim này được chuyển qua lại giữa các chiến hạm ngoài khơi, vì việc vận chuyển chiến hạm rất khó khăn không như là đổi phim trên bờ. Nếu có chuyển giao phim giữa chiến hạm và chiến hạm đó là một may mắn tình cờ khi có cuộc trao đổi một việc gì có mục tiêu quân sự hệ trọng hơn nhiều, có thể là một bí mật quân sự không chừng.

Chiếc Scorpion đang hải hành hướng Tây về Gibraltar  và Đại Tây Dương, thì máy dò sonar khám phá ra chiếc USS Bigelow (DD-942) – một khu trục hạm theo loại Forrest- Sherman Căn cứ Hải Quân Mayport, Florida. Để bắt đầu công tác tại vùng Địa Trung Hải, chiếc Bigelow đang thí nghiệm thực tập sử dụng nhiên liệu JP-4 dùng cho máy bay. Nhiên liệu mới này được thêm phụ chất mà Hải Quân hy vọng sẽ tăng hoạt động hữu hiệu dưới bất cứ tình trạng thới tiết như thế nào cho lò đốt hơi nước của chiến hạm. Nhưng JP-4 bốc cháy rất nhanh nên việc thí nghiệm thất bại, và Bigelow phải ngưng và sẽ tiếp tế nhiên liệu tại Bermuda, rồi tiếp đó tại Azores, nơi đây chiến hạm sẽ phải sử dụng hai ngày để lấy dầu và đốt dầu đó. Trung Sĩ Điện Tử Lawrence Brooks nói “tiêu thụ dầu nhanh quá mức tưởng như dầu bơm ra từ xe truck tới đâu là đốt hết ngay tới đó.”

Hải hành trong một thời tiết trong sáng, biển êm tại Đại Tây Dương vào ban ngày, chiếc Bigelow đang tiến gần đến mỏm Gibraltar thì nhiệm sở tác chiến kêu qua hệ thống IMC (hệ thống loa) của chiến hạm. Trong nhiệm sở tác chiến, chiến hạm phải ở trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Toàn thể nhân viên chiến hạm, trực hay không đều phải nhào ra những vị trí tác chiến. Súng đạn đã lên nòng. Ngư lôi và phi đạn đã sẵn sàng trên dàn phóng. Chỉ một nhóm nhỏ nhân viên trên chiếc khu trục hạm ngoài các sĩ quan là có đủ thời giờ để được thông báo phải đối đầu với phe địch thuộc loại nào, hoặc chỉ là nghi ngờ là địch. Khi nhiệm sở tác chiến ban ra, không một lời giải thích nào đưa ra hết. Mọi người và mọi sự việc đều phải trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Nhiệm sở tác chiến của Terry R. McCue là ở phòng vô tuyến. Ông ngồi nơi bàn viết với máy nghe trên tai, ông là một trong những người hiện diện trên chiếc Bigelow hoàn toàn không hiểu đầu đuôi chuyện gì đã xảy ra vì cuộc báo động này. Công việc của ông cũng giống như các nhân viên vô tuyến khác trong nhóm chỉ biết ở tại nhiệm sở, cách biệt với nhóm các thủy thủ đoàn, và chờ lệnh từ cấp trên.

Ông không nhớ khoảng thời gian dài bao lâu từ lúc nhiệm sở tác chiến bắt đầu. Nhưng sau một lúc tiếng còi báo giải tán nhiệm sở thì cả phòng truyền tin đều thở phào cũng như những nơi khác trên toàn chiến hạm. Rồi sau đó, Mc Cue được cho biết là tiếng còi nhiệm sở tác chiến vì gặp tiềm thủy đĩnh nguyên tử Hoa Kỳ đó là chiếc USS Scorpion. Sau khi chiến hạm này được xác nhận, còi báo động tắt. Theo ông biết thì chiếc Scorpion đang rời Địa Trung Hải để về bến với hướng hoàn toàn ngược với chiếc khu trục hạm. Lawrence Brooks, nhiệm sở tại Trung Tâm Truyền Tin của chiếc Bigelow, còn nhớ rằng chiếc tiềm thủy đĩnh và chiếc khu trục hạm có hợp tác với nhau trong vài nhiệm sở – vận chuyển tấn công, vận chuyển lẩn tránh, v.v. Một giả thuyết khác có thể đưa ra đó là vị hạm trưởng của chiếc Bigelow đã nhận được tin báo trước đó là sẽ gặp chiếc tiềm thủy đĩnh trên đường đi và gọi nhiệm sở tác chiến để thủy thủ đoàn này có dịp áp dụng các chiến thuật chống tiềm thủy đĩnh. Nhưng cũng có thể là cuộc báo động tập dợt này xảy ra bất chợt theo hứng ngay sau khi đã khám phá ra chiếc tiềm thủy đĩnh không phải là kẻ địch. Trong trường hợp này thì sau khi hai bên đã lìên lạc vô tuyến được với nhau qua mã hiệu vô tuyến, Bigelow là “Decipher” và chiếc Scorpion là “BrandyWine” – khi đó cả hai chiến hạm hẹn gặp nhau trên mặt nước. Hai vị hạm trưởng sẽ dàn xếp để chuyển đồ bằng đường dây cao trên biển. Hạ Sĩ Bí Thư Ed Washburn giữ nhiệm vụ trực ống nói của hạm trưởng chiếc Bigelow IJV, từ một đài quan sát bên ngoài và chuyển vào hệ thống đài chỉ huy và trung tâm hành quân. Với nhiệm vụ như thế anh cùng đứng với hạm trưởng trên đài chỉ huy của chiếc khu trục hạm. Trong số những người nhìn thấy chiếc Scorpion tiến vào theo hữu hạm, sử dụng cùng vận tốc và hướng vớí chiếc Bigelow giống như một loài thủy quái khổng lồ đột nhiên xuất hiện từ đáy biển tạo nên một lớp bọt biển trắng xoá bên thành chiến hạm, một nhóm nhỏ người tụ họp nhau ở đàì chỉ huy chật hẹp sơn màu xám nhạt tiệp với mặt biển Địa Trung Hải trong mục địch ngụy trang.

Bên dưới họ là những cánh dùng để lặn. Đường vi dài như thân trên của một con cá khổng lồ chạy dài theo thân đến cuối là dấu hiệu đặc biệt của một tiềm thủy đĩnh tấn công thuộc loại Skipjack.

Và rồi Washburn nghe tiếng gọi từ máy truyền thanh nội bộ chiến hạm “Scorpion tả hạm” và sau đó là tiếng vang vọng từ dưới nuớc qua chiếc tiềm thủy đĩnh “Bigelow hữu hạm.” Các chiến hạm cách nhau khoảng một trăm feet, hai vị hạm trưởng chào hỏi nhau bằng cách dùng ống loa. Tiếp đó là một nhân viên vận chuyển của chiếc Bigelow móc một cái rỏ rẻ lớn vào một cột neo trên boong tàu.

Phía bên chiếc tiềm thủy đĩnh cũng làm như vậy. Bài thủy lượng của Scorpion là 3,500 tấn khi lặn và trên 3,000 tấn khi nổi. Bài thủy lượng của khu trục hạm khi trang bị đầy đủ là 4,500 tấn. Khi hai chiến hạm di chuyển song song với nhau thì tổng cộng khối lượng nước hai tàu đẩy đi thì thật lớn, trên 7 ngàn tấn nước tạo thành một dòng nước mạnh, ép vào lườn hai tàu. Tàu đi gần nhau càng lâu thì dòng nước đó càng gây sóng cuộn mạnh lên.

Trong lúc Bí Thư Washburn quan sát từ Đài Chỉ Huy của khu trục hạm thì một thủy thủ của chiếc Scorpion lắp một viên đạn vào khẩu súng bắn dây – nó giống như một khẩu súng thường, nhưng có một khoang bằng đồng và một viên đạn lớn, tròn chụp bên ngoài nòng súng. Nhân viên này để khẩu súng trên vai, lên đạn hướng về chiêc Bigelow và bóp cò. Một tiếng nổ lớn vang lên rồi một cụm khóí thoát ra từ nòng súng, trái banh nhỏ nối vào một sợi dây dài bay ra từ buồng súng.

Một vài giây sau, trái banh rơi trên boong chiếc khu trục hạm và một thủy thủ nhặt lên. Trên đài chỉ huy của chiếc Scorpion, một nhân viên buộc một sợi dây thừng vào cuối sợi dây và sau đó toàn thể sợi dây sẽ được kéo qua chiếc khu trục hạm, một công việc đòi hỏi dăm thủy thủ, chẳng những vì sức nặng của sợi dây nhưng chính là bởi sợi dây bị thõng xuống biển và sẽ trở nên nặng hơn nhiều vì dây bị đẫm nước. Nhưng không phải chỉ có sợi dây thừng đó là phải kéo qua chiếc khu trục hạm mà thôi. Một khi dây thừng đã qua được gần hết bên khu trục hạm thì bên tiềm thủy đĩnh buộc thêm một sợi dây cáp bằng thép vào dây kéo làm cho mọi người phải kéo nặng hơn gấp bội. Khi dây được kéo hết qua thì cả hai bên luồn sợi dây qua cái rỏ rẻ. Khi đường dây đã đặt xong, một cái rổ được máng vào một cái rỏ rẻ nhỏ hơn rồi sau đó chuyển qua chiếc Bigelow món hàng đầu tiên là phim ảnh trong túi bằng vải hay plastic. Tuy nhiên phải cần cả một lố người mới có thể kéo cái giỏ đó từ chiến hạm này sang chiến hạm khác.

Muốn cho vụ nhiệm sở chuyền đồ này thành công thì sợi dây cáp phải căng và cả hai chiến hạm phải vào đúng vị trí. Nói thì dễ nhưng làm thì trần ai. Giả dụ cả hai chiến hạm Bigelow Scorpion đều di chuyển với tốc độ quy định là 12 gút, chỉ cần hướng chiến hạm sai lệch đi 1 độ thôi thì cả hai chiến hạm sẽ tách xa nhau 20 feet mỗi phút. Để tránh trường hợp này, cả hai chiến hạm cần phải duy trì một vị trí cố định cũng như vận tốc – sự việc này cần phải lệ thuộc vào việc dùng mắt thường độ chừng của Sĩ Quan đương phiên, sự khéo léo, cũng như những nhân viên đang giữ nhiệm vụ lái tầu phải chỉnh tay lái liên tục. Trong khi đó sợi dây cáp chuyền giữa hai chiến hạm, mức dồn ép giữa hai chiến hạm tăng lên làm hai chiến hạm lắc lư dữ dội bắn những tia nước lạnh tung tràn đầy boong tầu.

Ed Washburn đứng bên thành tàu khu trục hạm chưa hề được chứng kiến việc chuyền đồ bằng dây cáp nên anh cảm thấy vô cùng hứng thú. Phần lớn các thủy thủ ít khi được chứng kiến một chiến hạm quá lớn như vậy chạy sát với chiến hạm của mình ngoài khơi. Chỉ cần một chút sơ hở nhỏ, thì sợi dây cáp sẽ rớt xuống biển và cả chiếc xe chuyền đồ, phim ảnh và  tất cả sẽ rớt xuống dòng nước đang đầy áp lực giữa chiếc tiềm thủy đĩnh và khu trụ hạm. Một sai lầm lớn hơn rất có thể khiến cả hai chiến hạm trầy trụa và nếu tệ hơn thì sẽ tan tành và thảm hại như một vụ đụng tầu thảm khốc.

Vì thế  nếu như chỉ là giúp cho nhân viên được xem  những phim ảnh để giải trí thì chẳng đáng chịu nguy hiểm đến thế. Washburn và anh bạn Phil Pagnomi chụp được một tấm hình chiếc Scorpion từ trên đài chỉ huy, vàì năm sau tự hỏi rằng cái gì đã gửi qua Bigelow cùng với đống phim ảnh đó, cũng như không biết các sĩ quan cao cấp của chiến hạm có được phép biết những cái đó là cái gì không. Vậy thì phải chăng việc hoán đổi phim ảnh chỉ là một chuyện nghĩ ra sau để tiện thể mà làm, hay là một cách khéo léo để che dấu một món hàng loại khác? Qua kinh nghiệm bản thân của một bí thư, Washburn hiểu rằng tất cả những tin tức Tình Báo hải quân thì các chiến hạm Hải Quân sẽ không chuyển qua hệ thống vô tuyến dù chỉ nghi ngờ là có thể bị Liên Sô thâu được.

Một vụ chuyển phim thu xếp bất ngờ vội vàng qua vô tuyến điện giữa hai chiến hạm chuyển đi giữa hệ thống truyền tin giữa hai chiến hạm với nhau có thể làm cho những kẻ rình mò không biết được mục đích thực sự của việc chuyển đồ. Suy từ công tác tối mật của chiếc Scorpion từ ngày 10 tháng năm, rất có thể là Washburn đã đoán đúng và việc chuyền đồ thật sự là để khẩn cấp chuyển tin tình báo đến những giới chức cao cấp tại Địa Trung Hải. Bất kể chuyện gì xảy ra, việc trao đổi vẫn diễn ra không một sơ hở. Khi sợi dây đã được tháo ra và được kéo về chiếc Scorpion, những thủy thủ đứng trên đài chỉ huy của hai chiến hạm dơ tay chào nhau và tiếp tục hướng hải hành của mình.

Khi nhìn thấy chiếc tiềm thủy đĩnh xa dần, sau đó lặn xuống biển sâu cho đến khi biến mất dạng, Washburn nghĩ rằng anh vẫn không bao giờ quên được những cảnh hào hứng diễn ra trong ngày có nhiệm sở chuyền đồ. Anh cũng không thể nào nghĩ được những điều bi thảm sẽ liên hệ đến anh cũng như cho gần ba trăm thủy thủ khác phục vụ trên chiếc USS- Bigelow trên đường đến vùng biển Địa Trung Hải.

Ill

Vào khoảng 7:30 chiều giờ quốc tế ngày 17 tháng năm, sáu ngày sau khi rời Đệ Lục Hạm Đội, chiếc Scorpion đang ở phỏng định đâu đó trong vùng Gibraltar khi mà máy vô tuyến bắt được liên tục những công điện siêu tần số mà nhân viên các tiềm thủy đĩnh gọi là “định kỳ.” Mọi truyền tin nhận đều được  thu băng, và giải mã, và tìm những công điện gửi cho tàu mình. Nếu có những công điện gửi cho chiếc Scorpion, thì lâu nữa mới có cơ hội chiến hạm này có thể lại nhận được. Vô tuyến cho biết tin xấu từ Norfolk về một nhân viên hai mươi lăm tuổi – Trung Sĩ Nhất thám xuất Bill Elrod có vợ tên Julie bị xảy thai. Hạm Trưởng Slattery cân nhắc vấn đề cá nhân của người thám xuất này với tình trạng sức khỏe của điện khí Joseph Underwood. Từ vài ngày qua, Underwood khám phá ra rằng mình bị nhiễm trùng đường khí quản, bác sĩ Savilles dù có cho thuốc trụ sinh nhưng cũng không có kết quả gì. Việc nghẹt cuống phổi càng trở nên nặng hơn đến nỗi Underwood bị thổ huyết, ông bác sĩ lo rằng rằng hắn ta bị lao phổi. Nếu chứng bệnh này thực là chứng lao phổi đó sẽ trở thành một vấn đề nghiêm trọng rồi vì bệnh sẽ lan bệnh ra khắp tiềm thủy đĩnh, nhiều anh thủy thủ đã bắt đầu báo cáo là có triêu chứng bị cúm. Hạm Trưởng Slattery phải quyết định nhanh. Tiềm thủy đĩnh chỉ còn cách Căn cứ Hải Quân Rota, Tây Ban Nha vài giờ. Đây là một căn cứ gần tỉnh Cadiz thuộc Tây Ban Nha nằm về phía Tây Nam bờ biển Đại Tây Dương, phía dưới mỏm Gibraltar.

Căn cứ Rota đã yểm trợ chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ và NATO từ hơn một thập niên qua, và chiếc Scorpion đã từng nghỉ bến tại căn cứ này trên đường đến Địa Trung Hải khoảng hai tháng trước. Chuyển Elrod và Underwood khỏi chiến hạm tại Rota có thể giải quyết được cả hai vấn đề về nhân sự và sức khỏe. Một điều không kém quan trọng cho Underwood đó là quân y viện lớn tại Rota có cả một bộ tham mưu và thuốc men, phương tiện để thử bệnh lao và chữa trị. Vào lúc 9:00 chiều, chiếc Scorpion vừa đi qua Địa Trung Hải để vào Đại Tây Dương. Trong khu đoàn viên, đám thủy thủ cong lưng trên những tập vở cắm cúi viết thơ cho gia đình bạn bè. Những tâm sự được trải dài trên trang giấy và chiến hạm tiến đến gần căn cứ Rota với vận tốc 18 gút. Thủy thủ đoàn được thông báo sẽ ghé lại Rota để Elrod và Underwood được chuyển qua chiếc tàu dòng mang theo một túi thư tín. Điều mà Hạm Trưởng Slattery không tuyên bố đó là sự ra đi của một người thứ ba, người mà không bao giờ chính thức phục vụ trên chiếc Scorpion. Công tác cho SOSUS đã hoàn tất, Tony Marquez có nhiệm vụ trình diện Norfolk để trở lại chiến hạm. Việc dừng lại bất thần tại Rota đã cho hắn ta một cơ may khác. Hạm Trưởng Slavery cho hắn lựa chọn một là ở lại chiến hạm hoặc là rời tầu cùng với các nhân viên khác.

Marquez là một skimmer vốn được huấn luyện làm một chuyên viên thám xuất trên chiến hạm nổi. Đây là lần đầu tiên trong đời anh được công tác dưới một tiềm thủy đĩnh và anh cũng mong rằng sẽ được trở về Hoa Kỳ bằng một phương tiện bình thường hơn. Ngoài ra, với tư cách là một nhân viên quá giang, anh được thông báo nhiều chuyện mà nhân viên cơ hữu mù tịt – đó là chiếc Scorpion không hải hành ngay về bến sau khi rời căn cứ Rota. Lệnh từ Đô Đốc Schades là chiến hạm phải vòng qua Canary được chuyển đi và người ta hiểu rằng chiếc tiềm thủy đĩnh sẽ phải mất ít nhất vài ngày mới về bến được. Cân nhắc mọi chuyện, Marquez quyết định xin phương tiện hàng không từ Rota về Hoa Kỳ sẽ tiện cho anh hơn. “Tôi mệt mấy bồ quá rồi mấy bồ à,” hắn vừa cười vừa nói , “Tôi sẽ phải đi máy bay thôi, tôi sẽ về tới nhà nhanh hơn nhiều mà.” Hạm Trưởng Slattery và mấy vị Sĩ Quan không có gì để tranh cãi với hắn được. Họ đã nhận được một lệnh vào giờ phút chót là lên đường đến Gibraltar. Bây giờ thì một công tác chuyển xuống ngay tiếp theo cái trước, một công tác thứ hai không được dự trù đúng lúc thủy thủ đoàn đã quá mệt mỏi và đã sẵn sàng để về bến rồi. Lệnh này sẽ chắc chắn sẽ làm thủy thủ đoàn bất mãn thêm, nhưng đâu có làm gì khác được. Bạn không có quyền chọn lựa gì đâu và theo quan điểm của đô đốc Schade thì điều đó cũng có thể thông cảm được. Cơ hội để thăm dò hạm đội Liên Sô không thể kéo dài vô tận nên cần phải gửi một tiềm thủy đĩnh đến nơi đó ngay tứ khắc. Chiếc Scorpion hiện đang ở gần đó, thủy thủ đoàn giỏi giang nhất nên được ưu tiên chọn lãnh công tác này cũng là rất hiển nhiên. Vào khoảng từ nửa đêm đến 1 giờ sáng, chiếc Scorpion bắt đầu lên phía ngoài căn cứ Rota ngoài con đê chắn nước ngay trên đường ra vào vịnh. Nước trút xuống từ đài chỉ huy, chiếc tiềm thủy đĩnh đã chuẩn bị, bánh lái thăng bằng xuống từ 10 đến 15 độ để lấy thăng bằng trên mặt nước. Chỉ vài phút sau Scorpion đã gặp tàu dòng, hai thủy thủ và Marquez rời tàu với túi bưu tín và  một gói công điện mật để riêng rẽ. Scorpion đã sẵn sàng chuồn xuống mặt nước hướng về nhóm chiến hạm Sô Viết.

Gần gần như vậy.

IV

Trước khi lên bờ đến Rota, những nhân viên thuộc chiếc Scorpion sẽ được chuyển từ chiếc tàu dòng qua chiếc tàu tiếp liệu cho tiềm thủy đĩnh chiếc USS Canopus ở ngoài vịnh. Trên chiếc Canopus, bọn họ sẽ nhận được nơi tạm trú, riêng Underwood sẽ được điều trị thuốc thang ngay.

Trung Sĩ Cơ Khí Tom Carlough, người đã từng mãn nhiệm kỳ phục vụ trên chiếc Canopus và sẵn sàng trình diện Trường Điều Hành Không Vận tại New London, Connecticut, gần trưa hôm đó có nghe về ba thủy thủ nhập hạm vì họ quá yếu không thể nào vượt qua Đại Tây Dương để về Hoa Kỳ.

Underwood được Andrew Urbane, vị sĩ quan thuộc Hạm Đội 16 Tiềm Thủy Đĩnh khám bệnh. Bác sĩ quyết định cho nằm bệnh xá và tiếp tục theo dõi tình trạng sức khỏe của anh. Sau vài ngày chữa trị và quan sát bệnh trạng thì sức khỏe của Underwood phục hồi rất khả quan và được phép trở lại Hoa Kỳ. Triệu chứng bị lao phổi xem như hoàn toàn không có.

Muốn tìm một phương tiện hàng không cho nhân viên chiếc Scorpion chẳng có gì khó khăn. Được xem như ngưỡng cửa giữa Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, căn cứ Rota được đánh giá thật lý tưởng về việc bảo trì và tiếp liệu cho tiềm thủy đĩnh Polaris. Toán nhân viên “Blue and Gold” thường thay phiên tại Rota trong khi chiến hạm đang nằm ụ sửa chữa. Những chuyến bay định kỳ sẽ chuyên chở nhóm thủy thủ thuộc toán thay thế Polaris di chuyển giữa căn cứ Rota và Hoa Kỳ.

Chẳng bao lâu, Elrod, Marquez và Underwood cùng nhau trên đường về từ căn cứ Hải Quân tại Tây Ban Nha bỏ lại sau họ những hàng dừa và nắng ấm. Marquez có thể là không đi cùng chuyến bay với hai người bạn, nhưng anh chắc chắn phải nhớ câu chuyện trao đổi với Elrod nhờ đó anh mới biết về trường hợp Julie bị xuống tinh thần trầm trọng. Cuộc di chuyển từ căn cứ Rota đến Norfolk tạm yên chỉ mất khoảng 9 tiếng. Ngay cả khi mà Hải Quân tuyên bố về ngày về bến của tiềm thủy đĩnh Scorpion thì Elrod và Underwood vẫn còn ở Norfolk chờ bạn.

Chương 2 (4)

Chương 3 (1)