Vũ Thất

Bảo Bình 1

VỀ MIỀN TÂY, THƯƠNG…

VỀ MIỀN TÂY, THƯƠNG…

Tản văn Nguyễn Thị Hậu

Quê tôi ở miền Tây. Còn tôi sống ở Sài Gòn.

Quê ngoại tôi chỉ cách quê nội một nhánh Tiền Giang nối liền nhau bằng bến đò Mỹ Hiệp, xưa ghe chèo nay là chiếc phà có thể chở xe tải nhẹ hay xe hơi 16 chỗ. Mỗi ngày hàng chục lượt phà qua lại nối liền Cù Lao Giêng với thành phố Cao Lãnh, dân cù lao buôn bán quanh năm hay chợ búa hàng ngày từ lâu đã quen thuộc với thị tứ bên này. Nhiều gia đình kết sui gia với nhau, ngày rước dâu chiếc phà rực rỡ sắc màu chạy trên sông, lẫn trong tiếng máy nổ đều đều là tiếng nhạc rộn rã và tiếng con nít chỉ trỏ í ới…

Những đám rước dâu, đưa dâu trên sông gợi nhớ bài hát “Ngẫu hứng Lý qua cầu” của nhạc sĩ Trần Tiến. Người nhạc sĩ tài hoa của Hà Nội đã cảm nhận được sự bình dị và lời ăn tiếng nói của người miền Tây để chuyển thành những câu ca nghe chạm vào tận đáy lòng “bằng lòng đi em về với quê anh, một cù lao xanh một dòng sông xanh… Đóa hoa tím trôi líu riu, dòng sông nước chảy líu ríu… anh thấy em nhỏ xíu anh thương… Những đêm ngắm sông nhớ em buồn muốn khóc…”. Có một thời tôi đã thầm nghĩ, nếu có ai đó chỉ cần nói với mình một câu giản dị “anh thương em” thì mình sẽ bỏ tất cả mà theo. Lúc đó tôi còn chưa hiểu vì sao chữ “thương” của người miền Tây lại làm mình nao lòng đến thế. Sau này, mỗi lần về quê hay đi công tác miền Tây là đi qua vô số những cây cầu dọc theo quốc lộ, nhìn những con sông, dòng kinh, con rạch… xanh mướt hai bờ, ghe xuồng xuôi ngược, chợ búa ở đầu cầu tấp nập, trái cây rau cải tôm cá tươi chong… Bỗng thấy thương quê mình gì đâu! Mới hiểu, chữ thương của miền Tây ngọt ngào, nặng tình nặng nghĩa biết bao, bởi vì thương không chỉ là  thương yêu cha mẹ anh em, mà còn là thương nhớ người dưng, thương xót thân phận ghe xuồng trên sông, thương những gì gắn bó cả đời như thương chính mình.… Chữ thương bao dung và nhân hậu, nhẹ như hơi thở mà người miền Tây chỉ buông ra khi dằn lòng không được …

Về miền Tây thương đất hè nắng nứt, thương đất vàng phèn mặn, thương những dòng sông mùa nước nổi mang phù sa về tưới tắm cho những cánh đồng lúa mới, mang cá tôm về làm mắm làm khô nuôi sống dân miền Tây trong những tháng mùa khô sau đó; thương những mái nhà lá lô nhô trong nước, thương đồng lúa chín gặt vội chạy cho kịp mùa nước nổi, thương bầy trâu lặn lội mùa “len”, thương đàn vịt đồng ốm nhom mùa nắng tới…

Về miền Tây thương con nước ngày hai lần nước lớn cho ghe xuồng đi xuống miệt ruộng vùng sông Hậu, nước ròng cho ghe xuồng đi lên miệt vườn trên những cù lao sông Tiền. Mùa nước nổi có xuồng “năm quăng” giúp bà con sinh sống. Thương chiếc xuồng len lỏi theo những rạch, tắt, cựa gà… khuất vào đám dừa nước rậm rạp rồi chợt hiện ra nhỏ nhoi đơn côi trong tiếng “bìm bịp kêu nước lớn anh ơi…”. Thương những chiếc ghe thương hồ từ nhiều đời miệt mài xuôi ngược “buôn bán không lời chèo chống mỏi mê”…

Về miền Tây thương những xóm làng nghèo khó mà ấm áp tình người. Trưa vắng vẳng tiếng gà gáy lao xao trong vườn, ngọn khói bếp vẩn vơ trên tán xoài, cầu dừa chông chênh cô thiếu nữ thoát thoắt bước qua. Chiều xuống những bến nước ven con rạch ồn ào trẻ nhỏ, đờn bà giặt đồ trên chiếc cầu tre, đờn ông chạy ào xe  máy trên đường mòn, bất chợt nghe tiếng ai kêu dừng lại gạt chân chống để đó ghé vô, có khi tới khuya mới quay ra, xiêu xiêu lên xe chạy tiếp về nhà…

Về miền Tây thương những con đường giữa bóng xoài bóng dừa mát rượi, thương hàng rào bông bụt nhà ai đỏ vàng rực rỡ, thương dàn bông giấy màu trắng tím đỏ ngời lên trong nắng hạn làm lóa ánh mắt người qua… Về miền Tây thương nhà sàn lô nhô trên kênh rạch, thương bếp cà ràng đỏ lửa trên ghe, thương lò trấu trong gian bếp gọn gàng như những người đờn bà miền Tây vén khéo.

Về miền Tây thương ngôi chợ nhỏ đầu làng, sương sớm còn mờ đã lao xao mua bán, đến nửa buổi thì nhà lồng chỉ còn vài hàng cây trái. Thương chợ ngã năm ngã bảy trên sông ghe xuồng san sát, những chiếc sào cột các loại trái cây rau cải lơ lửng trên cao, ghe tạp hóa xanh đỏ đồ dùng, ghe than ghe chiếu giờ đã ít người mua kẻ bán… Thương phố chợ nhỏ mà cột antena san sát như đàn chuồn chuồn báo hiệu trời mưa, nhà cao tầng ngói đỏ ngói xanh, tiệm uốn tóc, tiệm vàng, tiệm thời trang… chẳng khác gì thành phố.

Về miền Tây thương những chành gạo ven sông, xà lan ghe lớn ghe nhỏ vào mùa gặt tụ họp về đêm ngày trên bến, những băng chuyền thay sức người tải gạo lên kho xuống ghe không dứt. Thương những lò gạch tròn như tổ tò vò khổng lồ in bóng xuống dòng sông. Những con sông dòng kinh như những mạch máu nuôi sống miền Tây.

Về miền Tây thương rừng tràm rừng đước xanh bạt ngàn miệt U Minh nước đỏ. Đêm Năm Căn câu vọng cổ nghe buồn chí xứ “chiếu này tôi chẳng bán đâu, tìm cô không gặp… tôi gối đầu mỗi đêm…”. Thương những Bãi, Bàu, Bắc, Bến, Bưng, Cái, Cầu, Cồn, Cù lao, Cửa, Đầm, Đồng, Gành, Hòn, Hố, Láng, Lung, Mũi, Mương, Rạch, Tắc, Vàm, Vũng, Xẻo… nghe giản dị mà gợi hình gợi cảnh.

Về miền Tây thương đám lục bình bông tím mong manh trôi xuôi ngược trên sông. Lúc nước ròng thì tấp vô như tìm chút hơi ấm của bờ đất mẹ, khi nước lên lại bơ vơ dập dờn trên mặt nước. Bông lục bình đẹp như  em gái miền Tây, chơn chất, hiền lành, biết lo toan cho gia đình cha mẹ, khi em phải lấy chồng xa xứ khác nào số phận lục bình trôi… Chỉ mong mỗi ngôi nhà và những người đờn ông miền Tây sẽ là những bè tầm vông chắn sóng chắn nước cho giề lục bình bông tím mong manh đừng trôi xa, bình yên ở lại bờ bến quê nhà.

Về miền Tây thương những gian bếp có máng xối hứng nước mưa vào hai hàng lu mái. Sân nhỏ trước nhà lác đác lá khô của cây mận hồng đào. Thương từng chùm trái đỏ rực, lúc lỉu trên cành vào mùa Tết, thương mỗi đêm gió chướng nghe trái cây ngoài kia rơi lộp bộp, thương bầy trẻ con tranh nhau lượm những trái mận chín rụng, giòn và ngọt như đường phèn.

Về miền Tây thương những giọng hò ơ lai láng trên sông, thương câu vọng cổ thổn thức đêm đêm, thương bài đờn ca tài tử những ngày giỗ chạp, thương những “hẹn, hò”, “giỗ, quảy”… Về miền Tây thương người dưng buông câu “anh thương em” để trái tim lỗi nhịp, thương em gái nghẹn ngào “em thương ảnh, chị ơi…” nặng đến thắt lòng… Chỉ một tiếng “thương” thôi mà miền Tây đã níu giữ bao người ở lại, bao người đã đi rồi còn quay trở lại.

Về miền Tây thương những cửa sông rộng mênh mông, từng là con đường dẫn ông cha đi tìm đất khẩn hoang lập ấp. Thương vùng biển bồi bùn nâu nước lợ, mắm trước đước sau lấn biển, cả ngàn năm mũi Cà Mau dày thêm từng thước đất.

Về miền Tây thương những con người bao đời khó nhọc, nói “làm chơi ăn thiệt” vì không hay than thở, nói “làm đại đi” vì can đảm dám chịu trách nhiệm về việc mình làm. Thời thế nào cũng có những người “giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha”, “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”, dù sau đó có phải chịu nhiều oan khuất…

Về miền Tây…

Thương…

Tác giả gửi cho viet-studies  ngày 15-9-18

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng!

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng!

Bùi Minh Quốc

Những tiếng ấy vang lên, cách đây hơn 242 năm, từ văn bản lập quốc công bố ngày 4/7 năm 1776 của một quốc gia trẻ nhất hành tinh vào thời đó – Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ – cũng là quốc gia thiết lập chế độ dân chủ đầu tiên, mở ra một kỷ nguyên mới của nhân loại – kỷ nguyên dân chủ, tự do. Sau Hoa Kỳ 13 năm – ngày 14/7 năm 1789, cuộc cách mạng Pháp chấm dứt chế độ quân chủ hằng ngự trị đất nước này tưởng đến muôn đời, lập nên chính thể cộng hòa với tiêu ngữ của chế độ mới: TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI.

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng!

Mấy tiếng ngắn gọn ấy khẳng định chắc nịch rằng đây là một quyền tự nhiên, đương nhiên, một lẽ phải hiển nhiên không ai chối cãi được. Không một yếu tố khác biệt nào – dân tộc, quốc gia, chủng tộc, màu da, giai cấp, đẳng cấp, tôn giáo, tài sản, giới tính, tuổi tác, thể lực, thể hình, học vấn, nghề nghiệp… – có thể thay đổi, đảo lộn bản chất, vị thế bình đẳng giữa con người này với con người khác.

Từ xưa, minh triết dân gian Việt Nam đã khẳng định một cách hình tượng điều tương tự:

Hơn nhau tấm áo manh quần

Cởi ra mình trần ai cũng như ai

Theo suy nghĩ của riêng tôi thì kể từ khi tìm ra lửa và nhờ vậy thoát khỏi thời mông muội ăn lông ở lỗ, ăn sống nuốt tươi, đây là lần thứ hai con người tìm ra lửa, một ngọn lửa mới – ngọn lửa tinh thần – thắp lên soi đường đột phá để tự đưa mình thoát khỏi cái đêm trường dày đặc hằng tồn tại như một định mệnh truyền kiếp chồng chất vô vàn những tư tưởng, tâm lý, thái độ và hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử giữa con người với con người. Từ đây, mỗi con người cần phải ý thức được rằng nó bình đẳng với tất cả mọi con người khác. Với tư cách con người, nó đứng ngang hàng với tất cả mọi con người khác trên mặt đất này. Nó cần phải có lòng tự trọng và đồng thời phải biết tôn trọng người khác vì họ cũng là con người như mình và trước hết chỉ vì lẽ đó mà thôi.

Mọi tư tưởng, thái độ và hành vi kỳ thị phân biệt đối xử với con người vì lý do dân tộc, quốc gia, chủng tộc, màu da, giai cấp, đẳng cấp, tôn giáo, tài sản, giới tính, tuổi tác, thể lực, thể hình, học vấn , nghề nghiệp… (thậm chí ở nhiều quốc gia đã trở thành chính sách của kẻ cầm quyền gây ra biết bao tội ác kéo dài bao năm) đều là phi nhân, dứt khoát không thể chấp nhận được, dứt khoát phải tìm mọi cách loại bỏ, thanh toán dần những trở lực hữu hình và vô hình ấy trên con đường tiến lên của từng con người, của toàn nhân loại.

Hành trình loại bỏ, thanh toán ấy đương nhiên là dài, dài lắm.

Lâu dài, bởi vì xét cho cùng thì trở lực nằm ngay trong chính bản thân con người. Hình như người ta chẳng mấy ai tránh được cái thói xấu – gần như một thứ bản năng – ỷ mạnh hiếp yếu, cậy giàu khinh nghèo. “Đồ khố rách áo ôm!” là câu đầu miệng của không ít những kẻ khá giả, giầu có khi nói về lớp người bần cùng trong xã hội. “Đồ ngu, đồ vô học!” là câu đầu miệng của không ít những kẻ có chút chữ nghĩa khi nói về những người thất học, ít học. Khó lường được chỉ nội mấy lời ấy thôi – phát ra một cách bình thường như sự hít thở – cũng đủ gieo vào lòng đối tượng bị xúc phạm một mối hận thù âm thầm dai dẳng và dẫn đến những xung đột xã hội ghê gớm đến thế nào. Trên phạm vi toàn cầu thì nước lớn, nước mạnh ăn hiếp, xâm lược nước nhỏ, nước yếu. Và trớ trêu thay, hành vi ăn hiếp, xâm lược lại xuất phát từ ngay cả những nước đi đầu giương cao ngọn cờ bình đẳng, tự do.

Lâu dài, bởi vì trong con người, cùng với khát vọng tự do, bên cạnh cái bản năng ỷ mạnh hiếp yếu, cậy giàu khinh nghèo lại có một cố tật – cũng gần như một thứ bản năng – là tính nô lệ (đại văn hào Nga An-tôn Sê-khốp cuối thế kỷ 19 đã phát hiện ra trạng thái bi thảm đó và nói – đại ý – rằng con người cần phải nỗ lực từng ngày từng ngày một tự vắt ra khỏi bản thân nó từng giọt nô tính).

Lâu dài, bởi vì con người phải làm sao tự chuyển hóa được cái chân lý “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳngtừ một nhận thức lý trí trở nên nhuần nhuyễn trong bản thân nó thành một tâm lý, một tập quán mới, một bản năng mới. Chủ nghĩa nhân văn mới hẳn không thể thiếu cái nội dung quan trọng thậm chí rất cơ bản này là từng ngày từng giờ nhẫn nại ươm mầm, bồi dưỡng cho con người một bản năng mới – bản năng tôn trọng lẫn nhau. Một thực tế sờ sờ ai cũng thấy: sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì diễn ra với tốc độ vũ bão nhưng sự tiến triển của tố chất nhân văn biết tôn trọng lẫn nhau giữa con người với con người và giữa các quốc gia, nhất là giữa nước lớn nước mạnh đối với những nước nhỏ yếu thì hết sức chậm chạp, trồi lên trụt xuống, nhiều khi tiến được vài ba tấc thì lại thụt lùi dăm bảy mét.

Quan trọng bậc nhất trong quyền bình đẳng là bình đẳng về quyền tự do suy nghĩ và tự do phát biểu trung thực điều mình nghĩ, nói cho gọn là QUYỀN MỞ MIỆNG. Đây là một quyền tự nhiên, con người sinh ra là có. Và là một quyền thiêng liêng.Khi lọt lòng mẹ, con người cất tiếng khóc chào đời là hành vi đầu tiên nó tự thực hiện quyền mở miệng, đồng thời cũng là quyền thông tin – con người thông báo về sự có mặt của cá nhân nó trên thế gian này. Hành vi bịt miệng con người không cho họ nói lên trung thực điều họ nghĩ, họ biết, họ thấy, là một tội ác, thậm chí là một tội ác bao trùm (im lặng nuôi dưỡng tội ác!– François Mitterand, cố tổng thống Pháp).

Mỗi con người tự bịt miệng mình phải im lặng trước những sự thật không được phép im lặng thì mang tội với chính bản thân mình và với cộng đồng. Trong các chế độ độc tài, đặc biệt là chế độ độc tài toàn trị cộng sản – một kiểu chế độ quân chủ tân trang – thì bịt mồm bẻ bút là quyết sách chiến lược, đồng thời nó dùng mọi thủ đoạn trắng trợn và tinh vi, trấn áp đe dọa và mua chuộc để buộc các thần dân của nó phải tự bịt miệng và tự bẻ, tự uốn cong ngòi bút. Cần phải liệt cái quốc sách bịt mồm bẻ bút vào hàng tội ác chống nhân loại.

Gắn quyện mật thiết với quyền bình đẳng là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Xưa nay, nói đến hạnh phúc, phần đông người ta thường chỉ nhăm nhăm trước hết mưu tính sự giầu có về vật chất. Dĩ nhiên nếu con người không được đảm bảo những nhu cầu vật chất thiết yếu thì không thể nói đến hạnh phúc, nhưng một cuộc sống thừa mứa về vật chất mà thiếu vắng tự do và sự tôn trọng lẫn nhau là một cuộc sống bất hạnh. Cái lòng tham vô đáy khiến con người mê muội không thấy được một lẽ phải đơn giản này : đời người là hữu hạn, sự hưởng thụ vật chất là hữu hạn, sự hưởng thụ về tinh thần là vô hạn. “Vua ngô ba mươi sáu tàn vàng/Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì” – ca dao Việt Nam từ lâu đã khẳng định sự thật hiển nhiên đó. Thường chỉ đến khi sắp mãn đời, người ta mới ngộ ra sự giầu có về tâm hồn, trí tuệ, tình yêu thương của mình với mọi người và mọi người với mình mới là thứ hạnh phúc đích thực đáng để mưu cầu.

Cái gốc sâu bền của một cuộc sống tinh thần hạnh phúc là tự dosự tôn trọng lẫn nhau. Tôi cho rằng chuẩn mực hàng đầu của một thế giới hạnh phúc chưa hẳn là sự dồi dào về vật chất mà là sự tôn trọng lẫn nhau giữa những con người tự do tự chủ tự lập và giữa các quốc gia độc lập, còn về vật chất thì chỉ cần đảm bảo đủ dùng và dư dả một chút phòng khi cơ nhỡ cho tất cả mọi người – vâng, xin phép nhấn mạnh: cho tất cả mọi người.

Trong sự tôn trọng lẫn nhau thì tôn trọng ý kiến riêng và quyền được nói lên ý kiến riêng của nhau là điều hệ trọng nhất, hệ trọng không kém gì tôn trọng mạng sống của nhau.Mỗi con người đều có cái đầu với những suy nghĩ riêng, với tư duy độc lập của mình.Tư duy độc lập chính là sinh mạng tinh thần của mỗi người. Nhân loại đã có những bài học đắt giá ghê gớm về giá trị của ý kiến riêng, của tư duy độc lập của cá nhân ngay cả trong trường hợp nó bị thiểu số tuyệt đối. Ga-li-lê bị thiểu số tuyệt đối với toàn bộ phần nhân loại còn lại khi khẳng định rằng trái đất quay quanh mặt trời, nhưng cái tiếng nói của con người bị thiểu số tuyệt đối và bị tòa án dị giáo buộc tội phải quản chế suốt đời ấy lại là chân lý khoa học.

Cần phải tôn trọng ý kiến riêng ngay cả đối với một em bé. Tiếng reo hồn nhiên của em bé: “Ô hô! Kìa, nhà vua cởi truồng!” (trong truyện “Bộ quần áo mới của Hoàng đế” của Hans Christian Andersen) nói lên cái sự thật trần truồng về nhân vật quyền lực tối cao, một sự thật ai cũng thấy mà không ai dám nói. Tôi cho rằng tất cả mọi người, trước hết là những người có quyền, từ các bậc cha mẹ trong một gia đình đến những người cầm quyền trong một quốc gia cần phải khắc cốt ghi tâm lời này của nhà văn nữ nổi tiếng người Anh Evelyn Beatrice Hall: Tôi có thể không đồng ý những điều anh nói, nhưng tôi có thể chết để bảo vệ quyền anh được nói những điều đó. Nhưng thế giới mà tôi đang sống, và nhất là đất nước tôi, sau một cuộc chiến tranh dài vẫn đang đầy rẫy áp bức bất công. Giai cấp thống trị – bọn to mồm hò hét xóa áp bức bất công nhưng thực chất chỉ là bọn lấy xương máu nhân dân đúc thành ngai ghế vua quan – hàng ngày hè nhau ra sức cướp đất dân, bịt miệng dân. Có thể nói, chúng tiến hành một cuộc chiến tranh (không tiếng súng) đơn phương chống lại nhân dân.

Sau chiến tranh chúng lại chiến tranh

cuộc chiến tranh một phía

người sống sót trở về oằn lưng suu thuế

bọn lấy máu đúc vàng

độc quyền ngự trị nghênh ngang

độc quyền nghĩ

độc quyền nói

độc quyền ráo trọi

dân đen chỉ mỗi quyền được đói

và thêm nữa là quyền

sợ hãi

triền miên…!

Thời trẻ, tôi rất tâm đắc hai câu thơ này của nhà thơ Nguyễn Đình Thi – được coi là một trong những nhà thơ cách mạng vào hàng tiêu biểu :

Còn một em bé rách

Chúng ta còn phải đi

Tôi đã mạn phép anh linh nhà thơ đàn anh, nương theo hai câu thơ trên mà thay lại mấy chữ để ký thác một tâm nguyện gan ruột của riêng mình :

Còn ai bị bức

Thì tôi còn phải đi

Và đây là TUYÊN NIỆM THƠ của tôi:

Thơ tôi tiếp lửa cho người bị áp bức

Từng ngày từng ngày

Cho sớm đến một ngày

Không còn ai cần đọc thơ tôi.

Đó là cái ngày mà đại đa số nhân loại, trên con đường dài tự hoàn thiện bản thân, đã mang trong mình một bản năng mới – bản năng tôn trọng lẫn nhau để tiến vào kỷ nguyên phi bạo lực, giải quyết mọi tranh chấp bằng đối thoại ôn hoà, bình đẳng, bình tĩnh lắng nghe lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau, tiếp nhận và làm phong phú lẫn nhau, cùng nhau hợp tác phát triển trong hoà bình.

Bùi Minh Quốc

Đà Lạt Tháng Tám 2018

Sợ…

Inline image

ĐẠI HẠ GIÁ

ĐẠI HẠ GIÁ

Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v…v… hạ giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Lev Tolstoy, Tagore, Dostoievski… đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng … cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt. Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi:

–  Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?

Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.

Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque – Đô Bi – Professeur”. À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu – tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!

Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.

–  Anh mua bánh bò, bánh tiêu?

Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:

–  Anh có bán … trả góp không?

– Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?

– Tôi cần mua cả hai – chị nói tiếp – xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.

Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.

Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:

–  Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à.

–  Nhưng…

–  Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được.

Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền.

–  Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn… cảm ơn… anh nhá!

Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể :

– Thầy Bi thảm lắm… Gần Tết, cô lại ngã bệnh… Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!… Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!

Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to:

“Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski… ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô… ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là Tấm lòng ”.

(Nguồn : blog của Cao Van Tam )

Thời kỳ gì đây?

THỜI KỲ GÌ ĐÂY? 
Đỗ Duy Ngọc
Chúng ta đang sống thời đại gì đây? Có lẽ trong lịch sử của dân tộc, đây là một thời kỳ khó đặt tên.
Ngành giáo dục thì có Bộ trưởng ngọng và câm. Có cô giáo quỳ, cô giáo giẻ lau, cô giáo đéo, cô giáo câm, cô giáo đi hầu rượu như gái bia ôm. Có thầy giáo ấu dâm, hiệu trưởng bán chỗ dạy, hiệu trưởng ăn chận tiền giáo viên, lãnh đạo ngủ với cô giáo để cho biên chế. Có sinh viên ngủ với thầy để xin điểm, có học sinh bóp cổ cô giáo, học trò đâm thầy lủng ruột.
Bộ y tế thì có thứ trưởng ký nhập đủ loại thuốc gây tai hoạ khôn lường. Có lãnh đạo tiếp tay nhập thuốc giả bán giá cao. Có bệnh nhân bốn người một giường, có người cấp cứu sắp chết phải đóng tiền mới khám. Có bác sĩ, y tá bị dí chạy quanh, bị đấm đá túi bụi. Có viện phí thì tăng mà chất lượng lại giảm. Có bệnh viện vào nằm không xem TV cũng đóng tiền, không dùng nước nóng cũng trả tiền, đêm không được bật đèn. Bệnh nhân bị xem như những con thú trong chuồng, bị đối xử nhẫn tâm, là đối tượng để tận dụng làm giàu.
Bộ giao thông vận tải làm đường chưa xài đã lún, chưa chạy đã nát, giá thực hiện cao nhất thế giới mà chất lượng thấp nhất trái đất. Cầu làm cốt tre, đường lót bằng mút. Cầu chưa đi đã sập, đường chưa chạy đã lắm ổ voi. BOT nơi nào cũng có, thu giá trên trời, đặt không đúng chỗ, làm một đoạn thu cả đường.Thu tiền quá niên hạn quy định. Bộ trưởng phớt lờ dư luận, xem thường ý kiến nhân dân.
Bộ Tài nguyên môi trường đào hết tài nguyên đem bán. Biển ô nhiễm vì Formosa, lãnh đạo tìm mọi cách bênh vực, làm đủ trò chối tội. Cấu kết với doanh nghiệp bán đất, bán rừng. Ao hồ, sông ngòi khô hạn, ô nhiễm, lãnh đạo bình chân như vại, quẩn quanh không lối thoát. Các thành phố lớn khí độc nằm trong khí thở, nhân dân sống chung với ô nhiễm môi trường, cái mầm bệnh về hô hắp lúc nào cũng chục chờ xâm nhập lá phổi của người dân.
Bộ tài chính suốt ngày tìm đủ cách để rút ruột người dán vô tội vạ. Thuế môi trường, thuế tài sản, hàng trăm thứ thuế dội lên đầu dân, xứ nghèo mà mua gì cũng đắt vì thuế quá cao. Chính sưu thuế làm dân nghèo đi. Thuế cao mà an sinh xã hội thì quá tệ lậu, người già, trẻ em chẳng được quyền lợi ưu tiên nào trong đời sống. Thuế cản trở doanh nghiệp, thuế khiến dân không lối thoát.
Lãnh đạo từ trung ương đến địa phương chạy theo thu lợi bằng mọi cách. Họ làm giàu một cách nhẹ nhàng, dễ dàng và nhanh chóng khiến các đại gia của câc nước tư bản phải thèm thuồng.
Thứ gì họ cũng ăn, đặc biệt là ở lãnh vực đất đai. Vì lợi nhuận quá lớn đưa đến mỗi địa phương là một lãnh chúa, bỏ ngoài tai những quyết định của trung ương, trên bảo dưới chẳng cần nghe. Tìm đủ mọi cách để lừa dối kiếm lời. Sửa luôn quy hoạch của trung ương để cướp đất dân, bỏ túi hàng ngàn tỷ. Bắt tay những doanh nghiệp bán đất, bán rừng, bán biển, bán đảo, đuổi dân đi, khiến dân trở thành kẻ tha phương cầu thực. Di tích, đền đài, kiến trúc lâu năm đều được quy thành tiền, có giá là đập là xoá để xây dựng mới, vừa bán đất có tiền vừa được chia chác từ dự án mới. Lãnh đạo cấu kết với nhau, bắt tay với những doanh nghiệp ma đầu tạo ra những nhóm lợi ích chia nhau lợi tức bất kể đạo lý, thần linh, lịch sử, ký ức những thứ theo họ nghĩ là không sinh lợi. Họ bán rẻ đất nước này, họ không cần quan tâm dân sẽ sống như thế nào mà chỉ nghĩ họ thu lợi được bao nhiêu. Càng lúc họ càng phi nhân tính, quay cuồng với đồng tiền mà quên hết và vứt bỏ hết mọi giá trị để làm một con người. Họ tha hoá, truỵ lạc trong cách sống, tìm đủ mọi cách để hưởng lạc. Họ mua sắm, xây dựng nhà cửa nguy nga, sân vườn như vua chúa. Họ gởi tiền ra nước ngoài, mua những khu đất lớn, những lâu đài, những chuỗi nhà hàng, siêu thị. Con cái sinh hoạt, vui chơi như những trẻ dòng dõi hoàng gia. Và lúc cần, họ rời đất nước trở thành những đại gia định cư ở xứ người. Họ trang bị cho mình nhiều bằng cấp, nhiều học hàm, học vị nhưng mở miệng toàn nói ngu, nói ngược với ý kiến nhân dân nên chẳng bao giờ được lòng dân.
Thời mà miếng ăn bỏ vào mồm cứ sợ là thuốc độc, bệnh uống viên thuốc cứ nghi là thuốc giả. Thời mà ở đâu cũng có thể bị đe doạ, ở trong nhà sợ kẻ cướp, ra đường sợ lũ giật dọc, sợ cây rơi, điện giật, sập hố, sẵn sàng bị giết chỉ bởi một lời nói, một ánh nhìn. Thời mà trong sinh hoạt chẳng biết tin ai, chẳng biết tin vào cái gì?
Thời mà những lời rao giảng đạo đức, những lời dạy dỗ, những tuyên ngôn trở thành như những câu thoại của một vở kịch hài.
Thời mà người ta ngang nhiên chiếm đất công. Một bên là hàng ngàn người lũ lượt chen nhau để làm thủ tục lên máy bay, máy bay không còn chỗ đậu, đường băng kẹt như xa lộ kẹt xe. Một bên là bãi cỏ xanh biếc mênh mông hàng trăm héc ta, dành cho một vài kẻ thừa tiền nhởn nhơ giải trí. Thế mà dư luận, ý kiến của cả xã hội chẳng làm gì được, cả chính phủ cũng chỉ đưa mắt nhìn.
Thời mà kẻ cướp vào nhà ta không dám hé môi, nếu phản ứng có thể bị cướp giết, nếu đánh trả ta trở thành tội phạm, phải đi tù. Nếu chống trả gây hậu quả cho kẻ cướp, ta có thể bị kết án tử hình. Thế luật pháp đứng về phía nào? Luật pháp bảo vệ ai?
Xã hội chứa toàn mầm ác, con người đối xử với nhau tệ hơn thú vật. Trọng vật chất hơn con người. Suốt ngày các phương tiện truyền thông quảng cáo một lối sống chú trọng bề ngoài, đề cao lối sống vật chất, thiếu tình người. Các chương trình giải trí nhảm nhí, thiếu văn hoá, chỉ toàn là kiểu làm trò của các anh hề.
Văn hoá vỡ nát, phong tục bị bôi bẩn, lịch sử bị bóp méo, truyền thống bị đánh mất. Mọi giá trị tinh thần bị đảo lộn, ông thằng bị đánh tráo. Con người dựa sức mạnh vào đồng tiền, dùng đồng tiền chi phối và lèo lái luật pháp, đứng trên luật pháp. Nén bạc đâm toạc tờ giấy.
Nền nếp gia phong bị đảo lộn, những khuôn phép bị bẻ gãy, người lương thiện hoang mang và gánh chịu thiệt thòi. Trẻ con bị nhồi nhét vào đầu một lối sống thực dụng hoang dã, ích kỷ, chỉ biết thu vén cho bản thân và vô cảm với mọi thứ chung quanh. Chúng bị nhồi vào đầu những kiến thức vô bổ trong khi thiếu trang bị kỹ năng sống và sáng tạo. Một thế hệ nói và làm như một con vẹt. Một thế hệ chỉ biết cúi đầu thiếu ý thức phản kháng. Chúng như một cơ thể thiếu sức đề kháng nên cái xấu dễ xâm nhập và tung hoành.
Con người mất lòng tin nên chạy theo thần linh, ma quỷ. Họ mê tín đến độ cuồng si, họ tin vào thế giới ảo vọng một cách cực đoan. Họ không còn lòng tin vào cuộc sống nên dễ bị dẫn vào con đường tà đạo, tin vào quỷ ma. Ngay những người chăn dắt linh hồn cũng trở thành kẻ buôn thần bán thánh, đội lốt thầy tu, mượn áo nhà dòng để làm điều bất chính. Chùa đình xây lên to lớn, bề thế để kiếm lời. Nó không còn là chỗ tu hành linh thiêng mà trở thành nơi kinh doanh Thẩn Phật. Cả xã hội nhốn nháo vì đồng tiền, cả đất nước sôi sục vì lợi lộc. Không còn chỗ để nói chuyện nhân từ, không còn thời gian để bàn chuyện lễ giáo. Người ta kinh doanh cả chuyện làm từ thiện, người ta cướp cả chén cơm của người già và bình sữa của em bé, viên thuốc của người bệnh. Ngang nhiên ăn cướp và ngang nhiên hưởng thụ, luật pháp ngoảnh mặt làm ngơ. Họ xô đẩy, chen lấn nhau để sống nên bỏ mặc văn minh, đánh rơi văn hoá.
Tôi không bôi đen xã hội, tôi không bêu xấu thời tôi đang sống, nhưng đau đớn thay nó là sự thật, một sự thật tàn nhẫn không kể hết được, tôi chỉ là người ghi chép lại. Những điều này báo chí, dư luận nói nhiều rồi. Nhưng tôi vẫn tin rẳng xã hội vẫn còn có những ánh sáng le lói để ta còn chút tin. Vẫn còn một ít người tốt để ta còn trông cậy. Thế nhưng ánh sáng không diệt hết đêm đen, người tốt thành cô đơn trong thế giới hỗn loạn này. Nhưng rồi phải có lòng tin để sống. Tin rồi cái thiện sẽ thắng cái ác. Người tốt sẽ diệt kẻ xấu. Kẻ bán nước phải bị nêu tên, người yẻu nước phải được ca ngợi.
Nhưng giờ đây, ta gọi thời ta đang sống đây là thời kỳ gì nhỉ? Lưu Quang Vũ đã có lần gọi là thời kỳ đồ đểu. Nhưng bây giờ, cái đểu đó, câi đốn mạt đó đã tiến xa lắm rồi, gọi là thời kỳ đồ đểu e là còn nhẹ quá chăng?
ĐỖ DUY NGỌC

nguồn: bacaytruc.com

Kỷ niệm CM tháng 8 và 2/9: Hãy chôn “chiếc bẫy” xuống địa ngục

Kỷ niệm CM tháng 8 và 2/9: Hãy chôn “chiếc bẫy” xuống địa ngục

Võ Thị Hảo

“Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?…”

(Theo hồi ký “Đèn cù” của  Trần Đĩnh)

Những oan hồn tạo ra từ 70 năm nay trên con đường cách mạng ấy đã và đang rộn ràng hòa vào những đôi mắt sống của người dân. Những mắt ấy mở chong đêm ngày theo dõi và tính sổ những cuộc bội phản nhân dân, đợi ngày kết thúc cái chính thể phi tự nhiên ấy , tới  một cuộc Đại Giải Oan cho nước Việt.

  •  Giết và giẫm đạp cả thi thể “Mẹ nuôi cách mạng”

Những chứng nhân của thời Cải cách ruộng đất hoặc những người đã đọc, đã nghe kể qua câu chuyện này thì không thể không bị ám ảnh về số phận đau thương của bà và hàng triệu người VN khác bởi chính sự phản trắc, sự tàn ác của chính những người đứng đầu đất nước và cán bộ đội cải cách thời đó. Không một lý do nào có thể biện minh  cho những tội ác ấy.

Người ta vẫn phải nhắc đến người đàn bà ấy, gần 70 năm nay, từ ngày bà bị chính quyền cách mạng xử tử . Không năm nào không nhắc, nhất là mỗi khi đến dịp rầm rộ kỷ niệm cách mạng tháng 8 và quốc khánh 2/9. Chuyện không thể cũ đi, vì nỗi oan chưa được giải và nguyên nhân của những cuộc oan mới ngày càng chồng chất trên đầu nhân dân VN.

Oan hồn của người đàn bà ấy, và hàng triệu người VN khác đương nhiên không thể không bay lượn trên bầu trời Ba Đình, chong triệu đôi mắt đợi ngày kết thúc của cái thể chế phản trắc ấy, bởi cái gì dối trá và đi ngược lại quyền lợi đất nước thì sẽ đến ngày tự hoại.

 “Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh.” Du kích quát: “đưa đi chỗ giam khác thôi, im!.” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng…Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy…”(Qua lời kể của Tiêu Lang, phóng viên báo Cứu quốc trong đội cải cách ruộng đất- Trần Đĩnh ghi)

Ngày ấy Việt Minh cướp chính quyền thành công và có ngày Cách mạng tháng Tám 1945.

Bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu buôn Cát Hanh Long ngây ngất hạnh phúc vào ngày ấy. Lý tưởng giải phóng nô lệ, tự do dân chủ bình đẳng bác ái mà bà theo đuổi nay đã được Việt Minh hứa thực thi trên đất nước của bà.

Người đàn bà ấy đã “phóng xe nhà có cắm cờ đỏ sao vàng, từ Hải Phòng lên Thái Nguyên nơi quân Nhật còn chiếm đóng, đến tận Đình Cả Võ Nhai để báo tin cho con trai và đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành được chính quyền”.

Tư liệu cho biết, bà được người Việt Minh tôn xưng là “Mẹ nuôi của cách mạng”, mẹ nuôi của Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ và Trường Chinh. Cái người đàn bà ngây thơ một lòng tin yêu cách mạng ấy đã cứu  giúp rất nhiều đầu lĩnh cao cấp nhất của Việt Minh như , Hoàng Quốc Việt, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị …

Bà  không biết rằng chính bà và nói đúng hơn là hầu hết dân VN, đã sập một cái bẫy lớn nhất, tàn bạo  nhất, chỉ do đã quá ngây thơ tin vào những lừa mỵ. Bà đã đặt quá nhiều ảo tưởng vào một miếng mồi đặt sẵn trong bẫy.

Đó là miếng mồi được phun thứ nước hoa gây áo giác về lý tưởng giải phóng dân tộc và xóa áp bức, nô lệ.

Dù bà có công lớn với Việt Minh bao nhiêu đi nữa, dù bà có là mẹ nuôi cách mạng, thì cửa bẫy cũng đã sập xuống. Thân xác bà không lâu sau sẽ tan nát bởi các con nuôi của chính bà – những người đã qua thời hàn vi, nay chững chạc đứng trong hàng nguyên thủ quốc gia hãm hại.

Bà Năm vốn là một người lam lũ làm lụng mà có tài kinh doanh. Bắt đầu từ buôn sắt vụn, bà dần tậu ruộng vườn, đồn điền và hiệu buôn.

Theo nhiều tư liệu để lại thì bà Năm đã làm theo lời ngon ngọt của Tổng Thư ký Hội nhà văn VN Nguyễn Đình Thi. Ông Thi cũng có được đức lớn như nhiều người cầm bút VN khác,  là thành danh và lập nghiệp, vinh thân phì gia suốt đời bởi tài năng dẫn dụ kẻ khác bỏ tiền của ra và chết bỏ xác cho cách mạng, còn số phận của những người đã nghe theo ông thì ông phủi tay.

Bà Năm đã bỏ phần lớn tài sản ra để giuisp đỡ nuôi nấng nhiều đoàn quân và và nhiều đầu lĩnh quyền lực nhất của Việt Minh trong đó có Hồ Chí Minh…

Đó là thời Việt Minh còn hàn vi trứng nước, bất cứ lúc nào cũng có thể chết đói hoặc bị bắt giam bởi quân chính phủ Pháp nên họ cần bà và những nhà địa chủ, tư sản, những trí thức nổi tiếng và họ cần xương máu của dân để lập nên ngai vàng cho họ. Thuở ấy, ngay cả việc mua vài khẩu súng thì Việt Minh cũng phải trông vào tài ăn nói để khuyến dụ  dân bỏ vàng ra cho họ thông qua “Tuần lễ vàng”  ….

Bà Năm là một trong những người đóng góp công của  lớn nhất cho Cách mạng Tháng tám. Ngoài nhà cửa, lương thực vải vóc thóc gạo thuốc men vô kể, bà đã đóng góp tương đương 700 lạng vàng. Sau cách mạng 1945, bà cũng theo cách mạng tản cư lên Thái Nguyên, mua lại đồn điền của một ông Tây và tiếp tục dùng đồn điền, tiền bạc  hỗ trợ kháng chiến. Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội đã được che chở và nuôi nấng trong đồn điền của bà.

Khi chính phủ VNDCCH tổ chức Tuần lễ vàng, bà lại đóng góp hơn 100 lạng vàng. Khi thực hiện lệnh “tiêu thổ kháng chiến”, bà tự tay san bằng khu biệt thự Đồng Bẩm tại Thái Nguyên để hưởng ứng.

Người VN không lạ gì điển tích bát cơm Xiếu mẫu ngày xưa, Hàn Tín thuở hàn vi đói khát, gặp được bà Xiếu mẫu giặt sợi bên sông mang cho bát cơm ăn. Sau này  hiển đạt, ông đã  mời bà Xiếu mẫu đến để bái tạ, trả ơn cả ngàn lạng vàng.

Các cán bộ Việt Minh và cách mạng tháng 8 cùng quan chức VN sau này thì luôn làm ngược lại ông Hàn Tín và đức cư xử của người Việt. Họ ăn vô số bát cơm của bà Năm, mặc quần áo bà, ở nhà bà. Bà nuôi quân, bà cho tiền mua súng, nhưng họ trả ơn bằng cách chà đạp và giết bà cũng như giết nhiều ân nhân khác của cách mạng.

Vì bà chỉ có công, không có tội nên để giết bà, các con nuôi, bây giờ đã là chủ tich, phó chủ tịch nước và toàn những chức danh thuộc hàng đứng đầu nước VNDCCH đã gán cho Mẹ nuôi tội   “giả dối nhằm chui sâu leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại” và tội “tư sản địa chủ cường hào gian ác”.

Nhiều người đưa ra chứng cứ khẳng định rằng Hồ Chí Minh đã viết bài ““Địa chủ ác ghê” ký bút danh là C.B(của Bác) đăng trên báo Nhân dân ngày 21/7/1953. Chính bài báo này là đòn sấm sét, đổ cho bà tội “làm chết 23 gia đình gồm có 200 người…Giết chết 14 nông dân, tra tấn đánh đập hàng chục nông dân…, đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến…”.

Thuở các vị này còn phải sống nhờ vào “bát cơm Siếu mẫu” của bà, họ âu yếm gọi bà là Mẹ Nuôi. Khi cách mạng thành công, vài năm sau, chính quyền đã đủ lông đủ cánh, có Trung quốc tư vấn dạy dỗ và nuôi nấng, lại có cả mấy chục triệu dân đóng sưu thuế cung phụng, thì chính những đầu lĩnh đó đã ký lệnh đem bà ra đấu tố, lăng mạ bà. Bà bị họ phát động cho cả ngàn người đổ tội và chửi rủa, tịch thu hết tài sản.

Rồi bà bị bắn bằng một loạt đạn hèn hạ từ sau lưng.

Nhớ công ơn nuôi nấng của bà, các con nuôi ưu tiên cho Mẹ cho bà được xử chết đầu tiên để làm điểm tựa phát động “cuộc cách mạng long trời lở đất”.

Chưa đủ, họ còn cho đội cải cách ruộng đất nhảy lên giẫm đạp xác bà cho gẫy nát để  lọt vào cỗ áo quan rẻ mạt. Hai con trai của bà, dù cũng đã tham gia cách mạng lập công lớn nhưng cũng bị đấu tố, dù còn sống sót nhưng cả đời cũng bị trù dập và suốt đời sống trong địa ngục vì nỗi oan khuất trút lên đầu cả dòng họ.

* “Người bịt râu”

Con bà Năm đội đơn gần 70 năm đi đòi công lý cho bà và gia đình nhưng tận đến bây giờ, dù  đảng và nhà nước VN biết rõ, những tác giả gây ra tội ác ất chết từ lâu nhưng nhà cầm quyền hiện tại cũng không chịu trả lại công bằng cho gia đinh bà.

Để làm được cách mạng tháng 8 và xây dựng được thể chế cộng sản và vận hành nó, người ta phải có gan đem Mẹ nuôi cách mạng ra hành hạ, giết chết rồi giẫm đạp lên xác. Cũng phải có gan  tráo trở đổ tội và giết hại bao đồng chí mình – những đồng chí đã vì lý tưởng mà đem của nhà, đem tri thức ra để xây dựng những chi bộ đầu tiên cho cách mạng, làm cái nôi nuôi nấng đưa Việt Minh, đưa kháng chiến đến thắng lợi?!

Để làm được cuộc cách mạng và thể chế cộng sản, họ cũng phải có gan đổ tội cho người vô tội, dám chửi bới nhục mạ cha mẹ theo số đông để sống sót hoặc để tiến thân. Họ phải đủ gan để “thà giết nhầm mười người còn hơn bỏ sót một địch” và đào tận gốc trốc tận rễ trí thức cùng những người tài giởi giàu có!

Theo hồi ký “Đèn cù “ của Trần Đĩnh thì lúc đó ông là phóng viên báo Nhân dân được Trường Chinh cử viết bài tường thuật về vụ đấu tố. Hồ Chí Minh đã ngụy trang bằng cách bịt râu, Trường Chinh thì đeo kính râm bí mật tới dự vụ đấu tố.

Đến khi sửa sai cải cách ruộng đất, oan án của bà Năm, dù những người có quyền lực nhất đều biết nhưng cũng không chịu làm chỉ vì họ không thể thừa nhận cái sai và tội ác của chính họ trực tiếp gây ra và tiếp tục che giấu.

Cải cách Ruộng đất đi kèm Chỉnh đốn Đảng là quà tặng mang tính “bom nguyên tử”, “bom chất độc” đầu tiên mà cách mạng đã giáng cho những ân nhân của họ và người  dân VN. Bằng việc vu oan, cướp, tra khảo và giết, họ đã đem ruộng đất cướp được chia cho bần cố nông nhưng để cướp đoạt lại vĩnh viễn vào 3 năm sau đó – 1959 cho đến tận bây giờ dưới mỹ từ “sở hữu toàn dân”.

Từ 1959 đến nay, rồi qua và Hiến pháp 1980, Luật Hợp tác xã 1990, người VN bị tước đoạt quyền sở hữu ruộng đất, sống vật vờ hồn xác trên mảnh đất mình đổ mồ hôi xương máu. Riêng nông dân cũng phải gánh hơn một ngàn loại và lệ phí ngoài sưu cao thuế nặng để nuôi bộ máy tham nhũng một cổ ba tròng. Chưa đủ, họ hoàn toàn có thể bị chính quyền kết hợp với một lực lượng bạo quyền nào đó cướp đi bất cứ lúc nào và khi họ có phản ứng kêu oan thì sẽ bị đàn áp, bắt giam thậm chí đánh chết trong đồn công an và con cháu, anh em gia đình cũng bị trả thù thành không chốn nương thân.

* Hãy chôn chiếc bẫy xuống địa ngục vì đây là thế giới Người

Đó là thành quả Cách mạng Tháng Tám. Thành quả của một chính thể độc tài cộng sản. Đó chính là chiếc bẫy khổng lồ với bộ răng sắc nhọn trường tồn đã 70 năm trên đầu dân VN. Chiếc bẫy đó đã quy định đường ray vận hành cho nó: bất cứ ai lên cầm quyền cũng phải quay ra phản bội quyền lội nhân dân, đất nước và dân tộc để giữ ghế và quyền lợi riêng cùng phe nhóm.

Lẽ ra người VN đã có thể an lòng lắng dịu với những số phận đau thương do những chính sách và hành vi sai lầm của chính quyền cách mạng gây nên, nếu như những nhà cầm quyền thế hệ ấy và thế hệ sau biết cư xử công bằng, minh oan, đền bù cho họ và vận hành bộ máy cầm quyền theo đúng những điều họ đã hứa ban đầu khi hô hào dân nổi dậy giúp họ giành chính quyền.

 Nhưng không, ngay cả thế hệ sau này không liên quan gì đến tội ác thời các thế hệ tiền bối đã làm nhưng họ cũng không sửa sai, lại tiếp tục lừa mỵ và phản trắc người dân

Người oan đã chết, thân xác họ đã tan hòa vào đất, nhưng nỗi oan và món nợ mà xã hội nợ họ thì tồn tại mãi mãi trong người sống. Nỗi oan đó chỉ lắng dịu đi khi xã hội giải oan cho họ bằng hành động, chứ không chỉ bằng lời nói.

Hãy chôn chiếc bẫy xuống địa ngục, vì đây là thế giới Người.

Và không chỉ dân đâu, chính những người có quyền lực đang hành ác hiện nay cũng cần thoát khỏi chiếc bẫy đó, vì chẳng quyền lực, địa vị, tiền bạc nào tồn tại được mãi mãi. Họ và con cháu họ cũng cần được trở lại làm người, sống trong tự trọng và bình an.

VTH

nguồn: rfavietnam.com

Đánh

ĐÁNH

Image may contain: one or more people, people sitting, ocean, outdoor and water

Dánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào
Đánh cho chết mẹ đồng bào Miền Nam (*)
Đánh cho khoai sắn thành vàng
Đánh cho dép lốp phải mang thế giày
Đánh cho Bắc đọa, Nam đày
Đánh cho thù hận giờ này chưa tan
Đánh cho cả nước Việt Nam
Áo ôm khố rách, xếp hàng xin cho
Đánh cho hết muốn tự do
Hết mơ dân chủ, hết lo quyền người
Đánh cho dở khóc dở cười
Hai miền thống nhất kiếp người ngựa trâu
Đánh cho hai nước Việt Tàu
Không còn biên giới cùng nhau đại đồng
Đánh cho dòng giống Tiên Rồng
Osin, nô lệ, lao công xứ người
Đánh cho chín chục triệu người
Thành dân vô sản, thành người lưu vong
Đánh cho non nước Lạc Hồng
Tiến lên thời đại mang gông mang cùm
Đánh cho cả nước chết chùm
Đánh cho con cháu kh̉́ốn cùng mai sau
Đánh cho bác, đảng, Nga, Tàu
Hết quần hết áo thì ta ở truồng.

Bob Nguyen

(*) Hai câu thơ đầu là của nhà thơ Bùi Giáng

Fb Tội Ác Cộng Sản

LUNG LINH HUYỀN THOẠI VIỆT ĐẠO

LUNG LINH HUYỀN THOẠI VIỆT ĐẠO

Hiện tại bọn phản quốc bán nước cầu vinh việt cọng đang mưu toan xóa nhòa việc học Lịch sử Dân tộc để chúng chuẩn bị thay thế việc học sử Việt sang học sử tàu theo như cam kết trong mật ước Thành Đô và cũng để xóa nhòa Tinh thần Dân tộc vì chúng lo sợ, một khi tinh thần Dân tộc bất khuất chống tàu xâm lăng trổi dậy, toàn dân Việt sẽ vùng lên quét sạch bọn mãi quốc cầu vinh việt cọng ra khỏi cỏi bờ Đất Việt.

Để chống lại âm mưu xóa nhòa Lịch sử Dân tộc của loài quỷ đỏ phản quốc, ta cổ võ toàn dân đọc Sử Việt.

Đặc điểm tín ngưỡng – tôn giáo Việt Nam

Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên tương đối phong phú, đa dạng. Thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên. Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần) đã sớm gần gũi với họ. Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh. Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn các vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt. Điều đó dẫn đến một đặc điểm của đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo. Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa. Vì vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân.
Cũng chính vì tính hỗn dung tôn giáo ấy mà người Việt thể hiện sự
bàng bạc trong niềm tin tôn giáo. Đa số người Việt đều có nhu cầu tôn giáo, tuy nhiên, phần đông trong số đó không là tín đồ thành kính của riêng một tôn giáo nào. Một người vừa có thể đến chùa, vừa có thể đến phủ miễn là việc làm ấy mang lại sự thanh thản về tinh thần cho họ, có thể thoả mãn điều họ cầu xin. Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, một đặc điểm trong đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của người Việt là tính dụng. Tôn giáo là để phục vụ nhu cầu cần thiết, trực tiếp của họ trong cuộc sống.

Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Do là một đất nước nông nghiệp nên việc sùng bái tự nhiên là điều dễ hiểu. Điều đặc biệt của tín ngưỡng Việt Nam là một tín ngưỡng đa thần và âm tính (trọng tình cảm, trọng nữ giới). Có giả thuyết cho rằng đó là do ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ thời xưa tại Việt Nam. Các vị thần ở Việt Nam chủ yếu là nữ giới, do ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực như đã nói ở trên nên các vị thần đó không phải là các cô gái trẻ đẹp như trong một số tôn giáo, tín ngưỡng khác mà là các bà mẹ, các Mẫu. (Xem thêm Đạo Mẫu ).

Tín ngưỡng sùng bái con người

Ngoài phồn thực, tự nhiên, tín ngưỡng Việt Nam rất coi trọng con người.

Hồn và vía

Người Việt xưa cho rằng con người gồm phần thể xác và phần linh hồn . Một số dân tộc Đông Nam Á coi linh hồn gồm “hồn” và “vía”. Vía được hình dung như phần trung gian giữa thể xác và hồn. Người Việt cho rằng người có ba hồn, nam có bảy vía và nữ có chín vía. Ba hồn gồm: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí (năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của sự sống). Bảy vía ở đàn ông cai quản hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng. Chín vía ở nữ giới cai quản bảy thứ như ở nam giới cộng thêm hai vía nữa. Hai vía này có nhiều cách giải thích. Chúng có thể là núm có vai trò quan trọng trong nuôi con. Tuy nhiên có cách giải thích khác (xem thêm chín vía ). Người Việt thường có câu nói nam có “ba hồn bảy vía” còn nữ có “ba hồn chín vía”, cũng là từ các quan niệm trên mà ra.
Hồn và vía dùng thể xác làm nơi trú ngụ, trường hợp hôn mê ở các mức độ khác nhau được giả thích là vía và hồn rời bỏ thể xác ở các mức độ khác nhau. Nếu phần thần của hồn mà rời khỏi thể xác thì người đó chết. Khi người chết, hồn nhẹ hơn sẽ bay sang kiếp khác còn vía nặng hơn sẽ bay là mặt đất rồi tiêu tan. Thế nên mới có những câu ngạn ngữ như: “hồn xiêu phách lạc” (phách tức là vía; ở đây muốn nói trạng thái run sợ, mất chủ động), “sợ đến mức hồn vía lên mây”…
Khi chết là hồn đi từ cõi
dương gian đến cõi âm ty , cõi đó cũng được tưởng tượng có nhiều sông nước như ở cõi dương gian nên cần phải đi bằng thuyền nên nhiều nơi chôn người chết trong những chiếc thuyền.

Tổ tiên

Người Việt là một trong những dân tộc có tục thờ cúng tổ tiên sâu đậm và sớm nhất, nó gần như trở thành một tôn giáo: Đạo ông bà .

Thà đui mà giữ đạo nhà

Còn hơn sáng mắt cha ông không thờ.

(Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên)

Người phương tây coi trọng ngày sinh thì người Việt coi trọng ngày mất. Họ cho rằng người đã mất đi về nơi chín suối . Bàn thờ tổ bao giờ cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất. Ngày xưa khi cúng lễ bao giờ cũng có nước (hoặc rượu) cùng với những đồ tế lễ khác như vàng mã . Sau khi cúng xong thì đem đốt vàng mã rồi đổ rượu hoặc nước lên đống tro tàn—khói bay lên trời, nước hòa với lửa thấm xuống đất—theo họ như thế tổ tiên mới nhận được. Hành động đó được cho là sự hòa quyện Nước-Lửa (âm dương) và Trời – Đất – Nước (tam tài) mang tính triết lý sâu sắc.

Tổ nghề

Tổ nghề là một hoặc nhiều người có công lớn đối với việc sáng lập và truyền bá một nghề nào đó. Do đó được các thế hệ sau tôn trọng và suy tôn là làm người sáng lập vì đã có công tạo ra nghề, gọi là Tổ nghề (hoặc thánh sư). Tổ nghề chỉ là những con người bình thường, nhưng lại được người đời sau tôn thờ vì đã có công sáng tạo ra nghề, truyền lại cho các thế hệ sau.

Thành hoàng làng

Ở phạm vi gia đình, người Việt thờ tổ tiên và Thổ Công, ở phạm vi làng xã, người Việt thờ Thành hoàng . Giống như Thổ công, Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng. Không có làng nào ở Việt Nam mà không có Thành hoàng.
Những người được thờ thường là những người có tên tuổi và địa vị, có công lao đối với làng đó. Tuy nhiên một số làng còn thờ những người lý lịch không rõ ràng gì như trẻ con, ăn xin, ăn mày, trộm cắp… nhưng họ chết vào “giờ thiêng” (Giờ xấu theo mê tín dị đoan).

Vua tổ

Ở phạm vi quốc gia, người Việt thờ Vua tổ, đó là Vua Hùng . Nơi thờ phụng ở Phong Châu, Phú Thọ . Ngày giỗ tổ là ngày 10 tháng 3 âm lịch.

Tứ bất tử

Người Việt còn thờ bốn vị thánh bất tử , đó là Tản Viên , Thánh Gióng , Chử Đồng Tử Liễu Hạnh .
Tản Viên biểu hiện cho ước vọng chiến thắng thiên tai, lụt lội; Thánh Gióng biểu hiện cho tinh thần chống giặc ngoại xâm; Chử Đồng Tử biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về vật chất; Liễu Hạnh biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về tinh thần của người dân
Việt Nam .

Danh nhân và Anh hùng

Ngoài ra, tại Việt Nam có rất nhiều đền thờ các vị danh nhân như vua Đinh Tiên Hoàng, Lương Thế Vinh, Trần Hưng Đạo (Tín ngưỡng Đức Thánh Trần),….

Tín ngưỡng sùng bái Thần linh

Thổ Công (còn được gọi là Thổ Địa hay Thổ thần), là một vị thần trong tín ngưỡng Châu Á, cai quản một vùng đất nào đó. người ta cho rằng, Thổ công rất thích đùa nghịch với trẻ con và rất thích ăn tỏi.

Thần Tài là một vị thần trong tín ngưỡng Việt Nam và một số nước phương Đông.

Theo truyền thuyết, thần tài chính là Triệu Công Minh, người đời nhà Thương. Ông lánh đời đi tu tại núi Chung Nam. Về sau đắc đạo, ông được phong làm Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái, coi việc đuổi trừ ôn dịch, cứu bệnh trừ tà. Hơn nữa, ai bị oan ức đến cầu cứu ông thì được giúp đỡ. Người buôn bán thì cúng cầu ông để được phát đạt may mắn. Người ông yêu là Phù Dung tiên tử.

Người ta thường vẽ ông hình một người mặt đen, râu rậm, tay cầm roi, cưỡi cọp đen. Dân gian còn gọi ông là Tài Bạch Tinh Quân hay Triệu Công Nguyên Soái. Người đời vẽ ông trên một cái đĩa làm bằng kim loại trên bàn thờ để thờ cúng.

Táo Quân (Trung: 灶君<灶君> (Táo quân)/ Zào jūn); Táo Vương (灶王) hay Ông Táo trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam Trung Hoa được xem là vị thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà; Táo () có nghĩa là bếp. Việt Nam và Trung Hoa có những truyền thuyết về Táo Quân khác nhau.

Hà Bá (chữ Hán: 河伯) là một vị thần cai quản sông trong tín ngưỡng Đạo giáo giống như Thổ Địa là một vị thần cai quản đất đai. Vì vậy người Việt mới có câu: “Đất có Thổ Công (Thổ Địa), sông có Hà Bá.” là vậy.

Môn Thần hay còn gọi là thần giữ cửa (tiếng Trung Quốc giản thể: 门神, phồn thể: 門神, bính âm: ménshén) là một vị thần Trung Quốc thường được đặt ở 2 bên cổng vào một ngôi chùa, nhà ở hay tiệm kinh doanh… được cho là để giữ cho những linh hồn hay ma quỷ không xâm nhập vào được.

Các vị thần này thường đi theo cặp, phải đối mặt với nhau, nếu đặt đấu lưng lại thì là điềm gỡ chẳng lành. Có nhiều hình thức khác nhau của các Môn Thần, phổ biến nhất là 2 vị tướng Tần Thúc Bảo Uất Trì Cung. Các tranh vẽ Ngụy Trưng hoặc Chung Quỳ (鍾馗) được sử dụng ở cửa đơn (một cánh cửa).

Phúc Lộc Thọ hay Phước Lộc Thọ (Giản thể: 福禄寿; Phồn thể: 福祿壽; bính âm: Fú Lù Shòu) là thuật ngữ thường được sử dụng trong văn hóa Trung Hoa và những văn hóa chịu ảnh hưởng từ nó, để nói về ba điều cơ bản của một cuộc sống tốt đẹp là: những điều lành (Phúc), sự thịnh vượng (Lộc), và tuổi thọ (Thọ). Mỗi điều tượng trưng cho một vị thần, ba vị này thường gọi chung là ba ông Phúc-Lộc-Thọ hay Tam Đa, và thường không được tách rời.

Lời người sưu tập

Trên đây là trích một phần rất nhỏ của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia mà đọc đã váng đầu, hoa mắt chưa biết hạ thủ vào đâu để xuống xề thì may đâu hội chủ Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc chờ lâu, sốt ruột hạ thủ một câu chắc nịch: Việt đạo tức là đạo thờ ông bà (theo tiếng người bình dân)…

Phải rồi! Sự việc đơn giản chỉ có vậy thôi, không hơi đâu chạy kiếm mặt trời đứng bóng lúc hai giờ chiều!

Cu kêu, ba tiếng cu kêu

Trông mau tới Tết, dựng nêu ăn chè

Đó là câu ca cuả trẻ nhỏ làng quê khi gần giáp Tết, trông mau tới Tết để được mặc quần áo mới, chạy rong khắp làng xóm, đốt pháo chuột nỗ tì tạch.

Người lớn thì lo sửa sang bàn thờ Ông Bà, chùi bóng bộ lư đồng cho sáng loáng.

Chiều 30 Tết, cơm canh tươm tất, nhang khói u trầm, ăn mặc chỉnh tề, trang nghiêm làm lễ “ Rước Ông Bà về “ ăn Tết.” Ngoài kia, tiếng pháo nỗ rang chào đón Ông Bà.

Suốt 3 ngày Tết, trong nhà, nơi bàn thờ Ông Bà yên lặng trang nghiêm, “ cung kính như tại.”

Chiều mồng bốn, lại trang nghiêm, làm lễ tiển đưa Ông Bà.

Kể từ ngày giặc cờ đỏ họ giả hồ tràn vô Nam cướp phá tan hoang, bàn thờ Ông Bà nhang tàn, khói lạnh. Thay thế hình Ông Bà là hình già hồ bác cụ, râu ria lạ hoắc!

Ngày nay tuổi gần bát thập, thân lưu lạc xứ người, chỉ mong mau có một ngày, người dân Việt bị áp bức tàn tệ quá lâu, can trường vùng lên quét sạch lũ cáo hồ phản nước, hại dân để con dân Việt hồi xứ, dựng lại “ Bàn thờ Ông Bà” lo việc khói nhang, nối tiếp truyền thống “ Đạo Việt Thờ Tổ Tiên.

Nguyễn Nhơn

27/8/2018

Về một người Mỹ đáng nhớ

Về một người Mỹ đáng nhớ

 T.Vấn

  blank

  John McCain (1936 – 2018)

John McCain, anh hùng cả trong thời chiến lẫn thời bình của nước Mỹ, qua đời hôm thứ bảy 25 tháng 8 năm 2018 vì ung thư não tại thành phố nhỏ bé Cornville, tiểu bang Arizona, Hoa Kỳ.

 Cái tên John McCain quen thuộc với nước Mỹ, quê hương của ông, là một điều hiển nhiên. Vốn là một phi công của binh chủng Hải quân Hoa Kỳ, ông nối nghiệp cha và ông nội, hai người này đều là tướng 4 sao Hải quân. Sau chiến tranh, McCain giải ngũ, tham gia họat động chính trị cho đến ngày phải chịu thua bệnh tật. Ông đã lần lượt là dân biểu Hạ viện, rồi thượng nghị sĩ liên tiếp 6 nhiệm kỳ, từng 2 lần đại diện đảng Cộng Hòa ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ.

Cái tên John McCain cũng không xa lạ gì với người Việt Nam, miền Nam lẫn miền Bắc, cả trong nước lẫn hải ngọai. Là phi công, khi nước Mỹ tham gia trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam năm 1965, ông tình nguyện đảm nhận các nhiệm vụ không kích. Tháng 10 năm 1967, trong một phi vụ gần Hà Nội, phi cơ của McCain bị bắn rơi xuống hồ Trúc Bạch. Ông bị bắt và sau đó, đưa về giam giữ ở trại giam Hỏa Lò, nơi bộ máy tuyên truyền của nhà cầm quyền miền Bắc  gọi mỉa mai là khách sạn Hin-Tơn (theo tên hệ thống khách sạn Hilton lớn nhất nhì thế giới của Mỹ). Dạo ấy, hình ảnh McCain bị lực lượng dân quân bắt giữ trên hồ Trúc Bạch được phổ biến khắp các hang cùng ngõ hẻm miền Bắc (cũng như thế giới).

blank McCain bị dân quân Hà Nội bắt giữ trên hồ Trúc Bạch Ảnh(Internet)

 Tháng 4 năm 1968, cha của ông, viên tướng tư lệnh Hải quân bốn sao, được tổng thống Hoa Kỳ LB Johnson bổ nhiệm là tổng tư lệnh lực lượng Thái Bình Dương, bao gồm cả bộ chỉ huy quân đội Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam. Với mục đích tuyên truyền chứ không phải vì nhân đạo, nhà cầm quyền miền Bắc lúc ấy có đề nghị phóng thích McCain, nhưng ông yêu cầu những tù binh Mỹ bị bắt trước ông phải được thả ra trước đã, theo đúng tinh thần “First In, First Out” của quân đội Hoa Kỳ. Tất nhiên, nhà cầm quyền miền Bắc từ chối lời yêu cầu của McCain, và ngay sau đó đã cho lệnh tống giam ông vào ngục tối kiên giam trong hai năm rưỡi để “trừng phạt”. Tháng 4 năm 1973, hai tháng sau khi hiệp định đình chiến Paris ký kết, McCain được thả sau hơn 5 năm bị bắt làm tù binh, trong đó có 3 năm rưỡi trong các phòng kiên giam. Chính vì lý do “bị bắt” mà ông đã không được vị đương kim tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, một người có thành tích tìm mọi cách để tránh việc bị động viên trong thời chiến tranh (nói nôm na là trốn lính), công nhận là “anh hùng thời chiến tranh”. Trong chiến tranh, ngã xuống giữa chiến trường hay chẳng may lọt vào tay đối phương là những điều không một chiến binh nào mong muốn, dù cũng có rất nhiều người coi chuyện đó nhẹ như lông hồng, là cái giá của hy sinh, nhưng đâu có nghĩa cứ phải chết giữa chiến trường mới được coi là anh hùng. Thực ra, thái độ thẳng tay từ chối “sự phóng thích” của McCain cũng đã đủ chứng tỏ nhân cách, lòng can đảm và nghị lực khác thường của ông ngay từ những năm tháng tuổi trẻ kéo dài mãi sau này trong suốt hơn 60 năm ông cống hiến đời mình cho tổ quốc của mình. [Những ai đã từng ở tù cộng sản đều có thể cảm và hiểu thấu trọn vẹn sự can đảm rất đáng ngưỡng mộ của chàng thanh niên 32 tuổi McCain, cũng như nghị lực phi thường của chàng thanh niên Trần Hùynh Duy Thức từ nhiều năm nay bị ngược đãi trong nhà tù cộng sản, nhưng vẫn quyết không chịu nhận tội mình không làm để được thả tự do. Thậm chí, viên cựu doanh nhân thành đạt này còn không chấp nhận sống ngòai đất nước dù đó là điều kiện để ra khỏi nhà tù]. Cựu tổng thống Obama, từng là đối thủ với McCain trong cuộc chạy đua vào tòa bạch ốc năm 2008, khi nghe tin ông qua đời, đã bày tỏ sự ngưỡng mộ McCain một cách rất sâu sắc “Rất ít người trong chúng ta trải qua những gì mà John (McCain) đã từng bị thử thách hoặc bị buộc phải chứng tỏ lòng can đảm của mình như John đã từng chứng tỏ, nhưng tất cả chúng ta đều (qua sự can đảm của McCain-) được tiếp thêm ý chí để cố gắng hướng tới những điều tốt lành vượt lên trên cả chính mình. Và John, bằng khả năng tốt nhất của mình, đã cho chúng ta thấy ý nghĩa đích thực của đời sống. Vì thành quả ấy, tất cả chúng ta đều mắc với John một món nợ”. [Có lẽ, nếu chẳng may, chàng tuổi trẻ đáng dòng hào kiệt Trần Hùynh Duy Thức của chúng ta, bỏ thây trong nhà tù như ước nguyện của chàng, thì tất cả những người Việt Nam yêu chuộng tự do, dân chủ, công bằng  – đều sẽ như người dân Mỹ nợ McCain – chúng ta cũng sẽ nợ Trần Hùynh Duy Thức món nợ lớn về sự xác tín mạnh mẽ phẩm giá con người, thứ phẩm giá vượt lên trên sự chết, vượt lên trên sức chịu đựng hữu hạn của thân xác con người, vượt lên trên mọi cám dỗ đời thường mà những người trẻ khác cùng thời với chàng đã không thể vùng vẫy thóat ra được để dám sống một đời sống đích thực cho xứng tầm với chàng].

 blank

Ảnh chụp đài kỷ niệm bắn rơi máy bay của John McCain trong Chiến tranh Việt Nam (Photo: Bởi Rolf Müller (User:Rolfmueller) – Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra, CC BY-SA 3.0, https://commons.wikimedia.org/w/index.php?curid=1651928)

 6 nhiệm kỳ là thượng nghị sĩ quốc hội Hoa Kỳ, McCain đã có nhiều dịp quay lại Việt Nam, chính thức làm việc với kẻ đã từng cầm tù mình, ngược đãi, sỉ nhục mình và đóng vai trò chiếc gạch nối quan trọng nhất trong nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh giữa hai nước Mỹ và Việt Nam. Nơi máy bay của McCain bị bắn rơi bên bờ hồ Trúc Bạch, nhà cầm quyền Hà Nội đã cho dựng một đài “Tưởng Niệm” để ghi nhớ sự kiện này. Bức phù điêu được gọi là ‘tưởng niệm” có hình dáng một người quỳ gối, hai tay giơ lên với ý nghĩa xin đầu hàng và được chú thích là “phi công John Sidney McCain, thiếu tá không quân thuộc lực lượng Hải quân Hoa Kỳ”. Sự hiện hữu của bức phù điêu nhằm mang ý nghĩa gì, chính McCain trong một lần được hỏi cũng không biết rõ, dù ông đã từng đến đó, đã từng yêu cầu chỉnh sửa một chi tiết sai trong nội dung chú thích khắc trên bức tượng. Nếu mục đích của đài tưởng niệm là chứng tích tượng trưng cho sự đầu hàng của “đế quốc Mỹ” trước “nhân dân Việt Nam” thì thật là một sự mỉa mai và thậm chí vô ý thức vì chính McCain (cùng với TNS John Kerry) là hai nhân vật quan trọng nhất giúp Việt Nam có được sự bang giao (mà Việt Nam rất ao ước và cần đến) với kẻ thù cũ năm xưa. Hôm thứ bẩy 25 tháng 8, 2018, khi nghe tin ông qua đời, nhiều người dân đã đến đây thăm viếng và đặt hoa như một cử chỉ nhớ đến ông, một người Mỹ lịch sử đóng vai trò đáng ghi nhớ ở Việt Nam cả trước lẫn sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt. Còn nhớ vì mục đích gì, nhớ như thế nào lại là câu chuyện riêng tùy vào hòan cảnh lịch sử và xã hội của mỗi người.

 Đối với người Việt ở hải ngọai, nhất là ở Mỹ, thì cái tên McCain gắn liền với một đạo luật về di dân có tên gọi là Tu Chính Án McCain. Qua nỗ lực không mệt mỏi của McCain, Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua điều khỏan cho phép con cái trên 21 tuổi, chưa lập gia đình của các vị cựu tù cải tạo, các gia đình thuộc diện thân nhân bảo lãnh và các thành phần liên quan đến diện con lai Mỹ, được nhập cư nước Mỹ. Rất nhiều người Việt thuộc diện trên vẫn nghĩ mình mang ơn McCain về một cuộc sống tự do bên ngòai đất nước.

 Người ta còn nhớ đến McCain ở cá tính độc lập, thẳng thắn, không bao giờ e ngại nói lên suy nghĩ thật của mình về bất cứ vấn đề gì. Trong chính trị (nuớc Mỹ), cá tính ấy đồng nghĩa với việc có nhiều kẻ thù. Cũng vì vậy, tuy cùng chung một đảng Cộng Hòa, nhưng McCain và viên tổng thống đương nhiệm Donald Trump thường xuyên có những xung đột về cách giải quyết những vấn đề quan trọng của nước Mỹ. Là một người mang biệt danh “hùm xám cô đơn” (maverick), bất kể đa số các đồng sự trong đảng Cộng Hòa chọn con đường ủng hộ nghị trình (phù hợp với lập trường bảo thủ) của Trump mà cố tình bỏ qua cho ông này nhiều lầm lỗi cá nhân, McCain chọn ngược lại. Những xung đột giữa hai người có hai nhân cách hòan tòan đối nghịch nhau, đã đến lúc không thể cứu vãn. Kết quả, trước khi chết, McCain ngỏ ý không muốn có mặt Trump trong tang lễ của mình. Cá tính của McCain mạnh mẽ đến độ không suy xuyễn chút nào dù thân xác đang ở những giây phút sau cùng. Ông cũng đã tỏ ý muốn được hai vị cựu tổng thống  Obama và Bush (con), hai cựu đối thủ của ông trong hai cuộc tranh cử tổng thống, đọc điếu văn cho mình trong tang lễ. Quả là một nhân cách đáng phục!

 Thế nên, sự ra đi của McCain, trong bối cảnh chính trị nước Mỹ hiện nay, là sự vắng mặt của một tiếng nói công bằng, chính trực, vượt lên trên những khác biệt về đường lối xây dựng đất nước, về đảng phái, về lập trường (bảo thủ hay tự do), về niềm tin vào xã hội, vào con người. Nói cách khác, theo TNS Jeff Flake, một đồng sự của McCain tại Thượng viện Hoa Kỳ, thì “McCain là lương tri của Thượng viện”. Hiểu rộng hơn, đó là  lương tri một nước Mỹ mà thế giới đã từng biết đến, mà nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới từng biết đến, mà bao kẻ khốn cùng ở bất cứ nơi nào trên thế giới từng biết đến. Nay, với sự ra đi của McCain, còn những ai đủ tầm vóc, đủ bản lãnh, đủ tự tin để tiếp bước ông đi con đường đầy gai góc này? Trong khi đó, nhiều chính trị gia chuyên nghiệp chọn con đường thỏa hiệp, nín thở qua sông, giả ngơ giả điếc trước sự lộng hành của dối trá, bịa đặt, hy vọng một ngày trật tự cũ lại được tái lập, vì truyền thống dân chủ của nước Mỹ sẽ không bao giờ cho phép tình trạng như hiện nay kéo dài. Nhưng mức độ phá sản về đạo đức, về mối tương quan giữa con người không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo dường như đã vượt quá lằn ranh an tòan khiến người ta lo sợ về một viễn cảnh không lấy gì làm tốt đẹp lắm cho nước Mỹ.

 Để vinh danh cuộc đời một con người lỗi lạc, ngòai việc linh cửu của McCain sẽ được quàn tại thủ đô tiểu bang Arizona theo nghi thức dành cho những người có công trạng đặc biệt cho tiểu bang, một nghi thức tương tự ở cấp liên bang (tòan nước Mỹ) tại thủ đô DC dành cho McCain cũng đã được lưỡng viện quốc hội Mỹ thông qua, một vinh dự mà từ trước tới nay chỉ có 30 người được hưởng. McCain sẽ là người thứ 31. Trước ông, có các tên tuổi như cố TT Gerald Ford, John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, D. Eisenhower, Herbert Hoover . . . Công chúng ngưỡng mộ ông sẽ có cơ hội đến căn phòng hình tròn (rotunda) có mái vòm, tọa lạc ở tòa nhà cao nhất của trụ sở quốc hội Hoa Kỳ (Capitol) để viếng linh cửu McCain, rồi sau đó quan tài sẽ được đưa đ chôn tại nghĩa trang học viện hải quân ở Maryland, theo đúng như ước nguyện của người quá cố.

 Với người Việt Nam, hiếm khi có nhân vật quốc tế nào qua đời gây nên một xúc động lớn và rộng khắp như trường hợp cựu phi công chiến tranh Việt Nam – cố Thượng Nghị Sĩ John McCain. Điều đó chứng tỏ, một nhân cách lớn luôn có tác động đến người đương thời, đến các thế hệ tương lai, và là nguồn hứng khởi để người ta gắng vượt lên trên những giới hạn của chính bản thân mình.

T.Vấn  (http://t-van.net/?p=36675)

John McCain – Hồi ký Hỏa Lò

Mỹ phớt lờ những cảnh báo của Trung Quốc ở Biển Đông

Mỹ phớt lờ những cảnh báo của Trung Quốc ở Biển Đông

Trung Quốc đang ngày càng đưa ra các cảnh báo đối với các tàu và máy bay nước ngoài hoạt động gần các vùng tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, theo Associated Press

Khác với thực tế trước đây, những cảnh báo hiện nay được phát xuất từ các đảo nhân tạo của Trung Quốc, nơi Trung Quốc đã thực hiện các bước để tăng cường vị trí quân sự của mình thông qua việc triển khai công nghệ gây nhiễu sóng và các hệ thống hỏa tiễn đạn đạo khác nhau.

Trong khi đó Hải quân Hoa Kỳ, quyết tâm hoạt động bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, nói rằng họ không bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của Trung Quốc

Hải quân Hoa Kỳ và các đồng minh trong khu vực đã nhận thấy sự gia tăng các truy vấn vô tuyến của Trung Quốc đối với tàu và máy bay nước ngoài hoạt động ở Biển Đông, một số ít thân thiện và phần đông thì thực sự đe dọa.

“Ngay lập tức”, lực lượng Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa tranh chấp cảnh báo hồi đầu năm nay khi một máy bay quân sự Philippines bay đến gần một tiền đồn Trung Quốc, theo AP, trích dẫn một tường trình mới của chính phủ Philippines.

“Phi cơ quân sự Philippines, chúng tôi cảnh báo một lần nữa, rời khỏi ngay lập tức hoặc sẽ nhận các hậu quả có thể xảy ra”, quân đội Trung Quốc đe dọa khi máy bay từ chối rời khỏi khu vực.

Trong nửa cuối năm ngoái, máy bay quân sự Philippines tuần tra gần các vùng lãnh thổ tranh chấp đã nhận được ít nhất 46 lần cảnh cáo trên các làn sóng. Trước đây những cảnh cáo này đã được truyền đi bởi các đơn vị tuần tra duyên hải Trung Quốc, các tin nhắn hiện nay được phát xuất từ các trạm phát sóng tại các tiền đồn quân sự ở Biển Đông.

“Các tàu và máy bay của chúng tôi đã quan sát thấy sự gia tăng các chất vấn vô tuyến xuất hiện từ các cơ sở mới trên đất liền ở Biển Đông,” vị Chỉ huy Trưởng Clay Doss, phát ngôn viên cho Hạm đội 7 Hoa Kỳ, nói với AP.

“Những thông tin liên lạc này không ảnh hưởng đến hoạt động của chúng tôi,” ông nói thêm, lưu ý rằng khi liên lạc với quân đội nước ngoài trong tình trạch không chuyên nghiệp, “những vấn đề đó được giải quyết bằng các phương sách ngoại giao và quân sự thích hợp.”
Quân đội Philippines có xu hướng tiếp tục với các hoạt động như kế hoạch. “Chúng tôi làm điều đó vì nhu cầu tuyên bố chủ quyền đối với khu vực đó và chúng tôi có một phản ứng tiêu chuẩn và tiến hành với những gì chúng tôi đang làm”, Tổng thư Ký Không quân Philippines Galileo Gerard Rio Kintanar Jr nói với các phóng viên AP.

Mặc dù tuyên bố chủ quyền rộng lớn của Trung Quốc đối với Biển Đông, ở một mức độ nhất định, bị tòa án trọng tài quốc tế phủ nhận tình trạng pháp lý hai năm trước, Trung Quốc vẫn tiếp tục củng cố vị thế quân sự của mình trong khu vực một cách chớp nhoáng.

Trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã triển khai nhiều hệ thống phòng thủ khác nhau, như kỷ thuật gây nhiễu sóng, hỏa tiễn địa đối không, hỏa tiễn đạn đạo chống chiến hạm, và thậm chí cả máy bay ném bom hạng nặng, đến Biển Đông. Bộ trưởng Quốc phòng Jim Mattis cáo buộc Trung Quốc “đe dọa và cưỡng ép” trong đường tuyến hàng hải.

Bắc Kinh, tuy nhiên, lập luận rằng họ có quyền bảo vệ lãnh thổ có chủ quyền của mình, đặc biệt là các lần Hải quân Hoa Kỳ tiến hành các hoạt động tự do hàng hải trong khu vực. Hoa Kỳ đã thi hành hơn nửa tá hoạt động kể từ khi bắt đầu chính quyền Trump.

Bất chấp cảnh báo và phản đối của Trung Quốc, quân đội Mỹ đã nhiều lần nói rõ rằng Mỹ sẽ duy trì sự hiện diện quân sự tích cực ở Biển Đông bất kể hành động của Trung Quốc. “Luật pháp quốc tế cho phép chúng tôi hoạt động ở đây, cho phép chúng tôi bay ở đây, cho phép chúng tôi tập luyện ở đây, cho phép chúng tôi di hành ở đây, và đó là những gì chúng tôi đang làm và chúng tôi sẽ tiếp tục làm điều đó,”Chỉ huy trưởng Trung tướng Tim Hawkins cho biết vào tháng Hai.

Quân đội Hoa Kỳ cũng tự tin về khả năng đối phó với các tiền đồn quân sự của Trung Quốc trong khu vực nếu tình hình leo thang. “Quân đội Mỹ đã có rất nhiều kinh nghiệm ở Tây Thái Bình Dương trong việc chế ngự các hòn đảo nhỏ”, Trung tướng Kenneth McKenzie, giám đốc của Ban Tham Mưu Hổn Hợp, nói với các phóng viên vào tháng Năm. “Đó là một sự thật.”

Các hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông đã khiến Hoa Kỳ hủy bỏ lời mời Hải quân Giải phóng Quân đội Nhân Dân tham gia cuộc tập trận qui mô quốc tế RIM trong năm nay tại Thái Bình Dương và Philippines đã nêu vấn đề cảnh báo radio với Bắc Kinh trong nhiều lần.

Ngọc Thạch (Theo Business Insider)

nguồn: baocalitoday.com