Vũ Thất

Bảo Bình 1

CÁO PHÓ

Phạm Minh Chính xảo ngôn khi nói về người Việt ở Mỹ

Ông Phạm Minh Chính, thủ tướng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), cùng đoàn tùy tùng vừa kết thúc chuyến công du Hoa Kỳ kéo dài bảy ngày và đã trở về Hà Nội, để lại vô số những phát ngôn vô tiền khoáng hậu về cái tầm của quan chức lãnh đạo Việt Nam: xảo ngôn và ngạo mạn.

Trong lúc chờ được gặp ông Antony Blinken, ngoại trưởng Mỹ, ông Chính đã bốc phét với các thuộc hạ mà không ngờ bị nhân viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ quay phim và phát trực tiếp trên mạng Internet. Câu chửi thề của ông Chính “Mẹ nó, sợ gì!” cùng những ngôn từ hạ cấp mà ông và các quan chức cấp bộ trưởng trong chính phủ Cộng Sản dùng để trò chuyện với nhau đã gây phẫn nộ và khinh bỉ trong dư luận người Việt.

Sau đó tại đại học Harvard University, ông Chính đã tiếp nối “truyền thống” từ thời ông Nguyễn Minh Triết khi cất giọng ví von rẻ tiền, ví nước Mỹ rất giàu có là một chàng trai khỏe mạnh, còn ASEAN năng động như một cô gái đẹp, hai bên đều tìm hiểu, gắn kết với nhau. Về quan hệ Việt-Mỹ, ông Chính gọi đó là “mối lương duyên có lúc thăng trầm có lúc đột phá. Như món ăn có đủ vị chua, cay, mặn, ngọt, nhưng mang lại một bữa ăn ngon,” theo trích dẫn của báo Tiền Phong.

Nhưng đáng phẫn nộ nhất là phát biểu của ông Chính tại buổi gặp cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ và cán bộ Đại Sứ Quán Việt Nam tại thủ đô Washington, DC, tối 14 Tháng Năm. Ông Chính nói “Thành công của người Việt Nam tại Mỹ cũng là thành công của đường lối đối ngoại của đảng và nhà nước; đồng thời, góp phần quảng bá hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam, giá trị Việt Nam,” theo trích dẫn của báo Thanh Niên ở trong nước.

Thậm chí, cũng theo báo Thanh Niên, ông Phạm Minh Chính giao trách nhiệm cho đại sứ quán thúc đẩy, tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt với tinh thần tốt nhất có thể, phát triển nhanh nhất có thể. “Liệu chúng ta có thể đề nghị phía Mỹ xem có thể công nhận người Việt ở Mỹ là cộng đồng dân tộc thiểu số không, như đã làm được ở Cộng Hòa Séc?,” ông Chính nói.

Thành công của người Việt và đường lối của đảng CSVN

Chuyện chửi thề, nói năng bỗ bã trong lúc không biết đang bị quay phim, chuyện ví von trai gái thể hiện cái chất văn hóa kém cỏi của một quan chức hàng nguyên thủ quốc gia như ông Chính thôi thì cũng có thể rộng lượng cho qua vì ai cũng biết, quan chức Cộng Sản không mấy người được giáo dục tử tế, “học ăn, học nói, học gói, học mở.” Nhưng còn nhận định của ông ta về người Việt Nam tại Mỹ là một sự báng bổ, xuyên tạc không thể chấp nhận được.

Hẳn ông Chính không thể không biết quá trình đầy máu và nước mắt gần nửa thế kỷ qua hình thành nên cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ, nói chính xác là cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Khởi thủy từ những đoàn người miền Nam bỏ nước ra đi khi Sài Gòn thất thủ hồi Tháng Tư, 1975, trong hàng triệu người vượt biển tìm tự do và cuộc sống giữa cái chết đã có hàng trăm ngàn người làm mồi cho cá dưới đáy đại dương; hàng trăm ngàn người khác ra đi theo các chương trình H.O.; ODP; tị nạn chính trị, kinh tế, giáo dục, môi trường… Từ bàn tay trắng và mang đầy thương tích cả về thể chất và tinh thần, cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã dần ổn định, phát triển, gặt hái được nhiều thành công cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ.

Thành công của cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ, nếu nói nguyên nhân, thì đó là do nỗ lực vươn lên không bờ bến của người Mỹ gốc Việt thế hệ thứ nhất, thứ hai, sự bảo bọc nâng đỡ của xã hội Hoa Kỳ và môi trường tự do bình đẳng, nhiều cơ hội ở quê hương thứ hai này. Thành công của người Mỹ gốc Việt liên quan gì tới “đường lối đối ngoại của đảng và nhà nước” như Chính huênh hoang?

Nếu có một sự “liên can” nào đó thì chỉ có thể nói rằng, chính sách cai trị tàn bạo của đảng và nhà nước Cộng Sản đã đẩy dân tộc Việt Nam vào chỗ chết, làm người dân bỏ nước ra đi và từ đó mới sinh ra những cộng đồng người Việt Nam ở khắp các nước trên thế giới mà cộng đồng người Mỹ gốc Việt chỉ là một trong số đó.

Nếu như sau cuộc nội chiến năm 1975, nhà cầm quyền Cộng Sản không trả thù một cách hèn hạ và độc ác với những người thất trận và gia đình con cái họ; nếu đảng và nhà nước Cộng Sản không áp đặt một chế độ độc tài đảng trị thuộc loại chuyên chế nhất thế giới, bóp nghẹt tự do và quyền làm người của người dân thì hàng triệu người Việt đâu phải bỏ quê hương ra đi và đang vẫn tiếp tục ra đi bằng mọi phương cách có thể. Những cộng đồng người Việt Nam tha hương, bị bứt khỏi nơi chôn nhau cắt rốn để phải ngày ngày“trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” là một bằng chứng sống về tội ác của đảng và nhà nước chứ công lao gì mà đảng huênh hoang.

Ấy thế nhưng tại thủ đô nước Mỹ, thủ tướng CSVN trâng tráo kể công cho đảng và nhà nước, đánh đồng thành công của cộng đồng người Việt tại Mỹ với thành công của chế độ mà ông ta đại diện. Từ thủ phạm trở thành ân nhân – sự tráo trở đó chỉ có thể có trong cái tư tưởng bệnh hoạn và hoang tưởng của những người Cộng Sản.

“Khúc ruột xa ngàn dặm” là thần dân của đảng?

Một nỗi hoang tưởng nữa là ông Chính dường như nghĩ rằng cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ – đúng ra là người Mỹ gốc Việt vì phần lớn thành viên cộng đồng là công dân Mỹ – vẫn còn là “thần dân” trong chế độ cai trị của ông ta.

Lời ông chỉ đạo cho đàn em “đề nghị phía Mỹ xem có thể công nhận người Việt ở Mỹ là cộng đồng dân tộc thiểu số không” bộc lộ một sự ngu dốt và ngạo mạn thậm tệ. Ông ta không thấy, không biết người Mỹ gốc Việt là công dân của một quốc gia tự do dân chủ; họ không phải là thần dân bị chính quyền của ông chăn dắt để ông có thể thay mặt cho họ đưa ra đề nghị ngớ ngẩn như vậy “với phía Mỹ.”

Là công dân Mỹ, họ có quyền bầu ra các nhà lãnh đạo chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương và đóng thuế để hệ thống chính quyền đó vận hành; hệ thống chính quyền đó, đến lượt mình, có trách nhiệm phục vụ người dân Mỹ, trong đó có các cộng đồng người Mỹ gốc Việt; đa số hay thiểu số không là vấn đề trong xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

Chính quyền CSVN của ông lấy tư cách gì để “đề nghị công nhận người Việt ở Mỹ là cộng đồng dân tộc thiểu số?” Đây là một lời đề nghị hết sức khiếm nhã, xúc phạm sâu sắc đến danh dự và lòng tự trọng của cộng đồng người Việt ở Mỹ. Tuy mang dòng máu Việt trong huyết quản nhưng người Mỹ gốc Việt không phải là dân Việt để các ông tự cho mình quyền đại diện cho họ, định đoạt vị thế và số phận của họ.

Có người sẽ nói, sở dĩ ông Chính nói như vậy vì gần đây đảng CSVN đã thay đổi quan điểm, coi người Việt ở nước ngoài là “khúc ruột ngàn dặm,” từ năm 2004 đã ra Nghị Quyết số 36/NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; lập cả Hội Người Việt Nam Ở Nước Ngoài để chăm sóc cho bà con Việt kiều,“tạo thuận lợi để kiều bào ở nước ngoài ổn định cuộc sống, hội nhập vào đời sống nước sở tại.”

Mới đây, trong buổi liên hoan “Xuân Quê Hương 2022” tiếp người Việt ở nước ngoài về quê ăn Tết hồi Tháng Giêng, 2022, ông Nguyễn Xuân Phúc, chủ tịch nước, còn “xúc động” đọc hai câu “vè”: “Mỗi năm Tết đến Xuân về/ Quê hương đất mẹ đề huề mong con” (!) Tuy nhiên, dù thường xuyên ca ngợi người Việt ở nước ngoài là “khúc ruột ngàn dặm” rất thân thương nhưng thực tế cái mà nhà cầm quyền CSVN nhắm tới chỉ là túi tiền của họ, là những triệu những tỷ đô la kiều hối đổ vào nền kinh tế để các quan chức có cái mà bòn rút và hoan hỉ khoe khoang mỗi dịp cuối năm.

Một số người khác cho rằng, sau bao nhiêu năm, quan điểm và thái độ của người Việt ở nước ngoài đối với Việt Nam cũng đã thay đổi, hàng triệu người đã về thăm quê hương xứ sở, nhiều người mang vốn liếng và tri thức về đầu tư, kinh doanh; các nghệ sĩ về Việt Nam ca hát, hoạt động nghệ thuật, nhiều bạn trẻ Việt kiều về Hà Nội, Sài Gòn làm việc dù thu nhập có thể không bằng ở Mỹ v.v…

Quả là người Việt ở nước ngoài đã về thăm quê hương ngày càng nhiều, nhưng đừng lẫn lộn giữa việc trở về thăm viếng mồ mả tổ tiên, thân nhân họ hàng, xóm giềng bè bạn với việc “hòa giải hòa hợp” với nhà cầm quyền trong nước; hai chuyện đó khác hẳn nhau.

Còn muốn làm việc, đầu tư ở Việt Nam thì không thiếu những tấm gương của người đi trước như vụ án xuyên thế kỷ của “vua chả giò” Trịnh Vĩnh Bình, người Hòa Lan gốc Việt đem tiền về nước đầu tư rồi bị truy bức tù tội. Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) đã làm hẳn hai chuyên đề “Trịnh Vĩnh Bình – người hạ bên thắng cuộc” và “Trịnh Vĩnh Bình vs chính phủ Việt Nam” với hàng chục bài tường thuật chi tiết hiện vẫn còn trên trang nhà của đài, rất đáng tham khảo.

Cần phải phản đối

Người Việt ra đi mang theo quê hương trong hành trang tinh thần nên có dịp thì họ về thăm quê; nghĩ rằng họ trở về tức là họ chấp nhận, họ phục tùng nhà cầm quyền hiện thời là một lối suy diễn ác ý.

Đảng CSVN đã mập mờ đánh lận con đen, buộc người dân trong nước đồng nhất hai khái niệm chế độ và tổ quốc, “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”; họ tưởng có thể tiếp tục đánh đồng tình yêu quê hương xứ sở của người Việt Nam ở nước ngoài với sự thần phục đảng và chế độ của họ. Không hề có sự thần phục như vậy, trừ đôi người – rất ít ỏi – về cộng tác với chính quyền Việt Nam hoặc phát ngôn những điều mà đảng CSVN mong muốn.

Giáo Sư Nguyễn Hưng Quốc ở Úc tâm sự ông luôn bị ám ảnh về Việt Nam và nhận xét: “Nỗi nhớ cố hương và tâm trạng lạc lõng là hai trong số những đặc điểm nổi bật nhất của các cộng đồng di dân. Từ người giàu đến người nghèo, từ người thành công đến người thất bại, ai ai cũng đau đáu nhớ về gốc gác cũ.” Nhớ quê hương, yêu đất nước, người ta quan tâm đến độc lập, chủ quyền và sự phát triển của đất nước.

Hầu hết người Việt ở nước ngoài đều có nỗi ám ảnh như vậy, đều có mối quan tâm như vậy và đó là lý do tại sao người Việt Nam ở nước ngoài thường chống đối chế độ Cộng Sản hiện tại; Đảng CSVN là một ổ tham nhũng và độc tôn quyền lực, không thể bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước, đem lại tự do và phẩm giá cho người dân Việt Nam.Dù mới nghe qua, người ta dễ tưởng ông thủ tướng CSVN quan tâm lo lắng tới cộng đồng người Việt ở Mỹ nhưng thực ra ông Phạm Minh Chính đã rất xảo quyệt khi gắn thành công của họ với đường lối của đảng CSVN, khi coi họ là một bộ phận thần dân của nhà nước CSVN. Sự xảo quyệt của ông ta cần phải bị vạch trần và phản đối; chuyện đó còn quan trọng và thiết thực hơn là chỉ nhạo báng hoặc chê cười những tiếng chửi thề của ông ta tại Bộ Ngoại Giao Mỹ. [qd]

Hiếu Chân (nguoi-viet.com)

Tầm của chính khách

1. Chủ nhà mời khách đến thăm thì chủ nhà phải đợi đón khách là thông lệ đã trở thành qui tắc ứng xử xã hội. Chỉ thăm viếng xã giao, không cầu cạnh, xin xỏ gì, phép xã giao sơ đẳng, từ giao tiếp cá nhân đến giao tiếp nhà nước, không khi nào khách lại thiếu tự trọng, hạ mình đến mức đến trước chủ nhà, chầu chực khá lâu, thừa thời gian buôn chuyện, tán gẫu, chửi thề, thoải mái xả rác ngôn từ rồi chủ nhà mới xuất hiện.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trong cuộc gặp J. Biden 

Nhân chuyến đến Mỹ dự cuộc gặp cấp cao giữa Tổng thống Mỹ Joseph Biden với người đứng đầu Chính phủ các nước Asean, Thủ tướng Phạm Minh Chính dẫn đầu đoàn Chính phủ Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, được Bộ trưởng bộ Ngoại giao Mỹ Antony Blinken tiếp xã giao. Chỉ gặp Bộ trưởng nước chủ nhà mà Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng cả đoàn quan chức tai to mặt lớn cấp Chính phủ Việt Nam phải chầu chực, đứng túm tụm một đám, vật vờ chờ đợi thì cám cảnh cho tư thế Thủ tướng và quan chức Chính phủ Việt Nam quá.

Nước Mỹ là đất nước của luật pháp. Mọi hành vi, ứng xử xã hội, từ người đứng đầu nhà nước đến người dân đều được luật pháp hoá. Camera cố định và di động có ở khắp nơi để giám sát thực thi luật pháp trong xã hội. Hình ảnh ông Thủ tướng và quan chức Chính phủ Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa chầu chực, chờ gặp ông Bộ trưởng Mỹ được camera ghi lại cũng là điều bình thường.

Nhưng đoàn quan chức nhà nước cấp cao, cấp Thủ tướng, cấp Bộ trưởng, Thứ trưởng mà nhốn nháo túm tụm, râm ran buôn chuyện tầm phào, sử dụng ngôn ngữ mách qué, vỉa hè “Mẹ nó! Sợ gì!” thì rất không bình thường. Cái không bình thường đó trở thành điều kinh ngạc, kì lạ với văn minh công nghiệp Mỹ. Hình ảnh kì lạ không bình thường liền được tung lên mạng xã hội Mỹ.

Nhìn những quan chức đứng đầu Chính phủ Việt Nam mang tư thế địa chính trị Việt Nam, mang tầm vóc của dân tộc Việt Nam văn hiến đến cuộc giao tiếp quốc tế mà như xã viên hợp tác xã nông nghiệp túm tụm đầu bờ, đợi nghe tiếng kẻng xuống đồng, như mấy bà nội trợ rỗi việc, ngồi lê đôi mách, người dân Việt Nam phải ngao ngán lắc đầu, rồi cúi gằm mặt giấu đi nỗi thất vọng với đám quan chức mang danh Chính phủ Việt Nam và giấu đi nỗi xấu hổ với thế giới.

Thủ tướng, Bộ trưởng, Thứ trưởng thực sự đúng tầm phải là những chính khách. Thế giới đang đầy biến động dữ dội, quyết định sự còn mất của trái đất, quyết định sự an nguy của loài người. Đất nước đang ngập những thử thách ngặt nghèo. Người dân dù gian nan kiếm sống, vẫn đau đáu với vận mệnh nước mình và khắc khoải lo lắng cho số phận người dân Ukraina trước đạn pháo, tên lửa của độc tài Putin sầm sập trút xuống Mariupol, trút xuống Kharkiv. Nghĩ suy, lo toan của chính khách không thể đứng ngoài thời cuộc, đứng ngoài những vấn đề của người dân, không thể thấp hơn mặt bằng xã hội. Những lo toan đó phải thường trực, đầy ắp trong nghĩ suy của chính khách, không có chỗ cho những chuyện vụn vặt, mách qué chen vào.

Những chính khách đại diện cho một Chính phủ, một đất nước, một nền văn hoá, gặp gỡ, giao tiếp với những chính khách đại diện cho một Chính phủ, một đất nước, một nền văn hoá khác, trước khi giao tiếp phải vừa tự tìm hiểu, vừa được chuyên gia ngoại giao và chuyên gia nghiên cứu về văn hoá nước sở tại bồi dưỡng, nhắc nhở về thân thế những yếu nhân, những nét đặc sắc, riêng tư của chính khách nước sở tại và cả những chính khách có mối liên hệ đặc biệt với Việt Nam. Nhắc nhở cả hành vi, tư thế, ngôn ngữ ngoại giao. Không có được những kiến thức chính trị, cả những điều tối thiểu của văn hoá ngoại giao cũng không có được, ở ngay nhiệm sở Bộ Ngoại giao Mỹ, những quan chức Chính phủ Việt Nam vẫn bô bô, gọi những chính khách Mỹ là thằng nọ, thằng kia như ngôn ngữ mấy ông xe ôm chờ khách, nói chuyện với nhau ở vỉa hè, như ngôn ngữ ở chốn tứ chiếng, bến xe, bến tàu.

Đi ra thế giới đầy biến động dữ dội, đến gặp những chính khách thế giới đang lo toan tổ chức thế trận hoà bình, dân chủ, ngăn chặn độc tài gây chiến tranh xâm lược, lo toan bảo vệ sự công bằng, bình đẳng và độc lập của các dân tộc, lo toan cho vận mệnh loài người nhưng những quan chức Chính phủ Việt Nam ở vị trí chính khách chỉ như tốp xã viên hợp tác xã nông nghiệp túm tụm đầu bờ, đợi nghe tiếng kẻng xuống đồng, như mấy bà nội trợ rỗi việc, đầu óc trống rỗng, thời gian trống rỗng, ngồi lê đôi mách.

“Rõ ràng, sòng phẳng”, vâng, xin lập lại từ ông Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính đã văng ra khi chờ được gặp ông Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ: “Rõ ràng! Sòng phẳng! Mẹ nó! Có sợ gì đâu!” Rõ ràng, sòng phẳng, những quan chức Chính phủ đó không xứng tầm chính khách.

2. Xuất thân từ công an, tướng công an Phạm Minh Chính được đảng cộng sản của công an và quân đội giành cho chiếc ghế Thủ tướng Chính phủ từ tháng 4-2021. Hơn một năm ở cương vị đứng đầu Chính phủ nhà nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã hai lần dẫn đầu đoàn Chính phủ Việt Nam ra thế giới, góp tiếng nói Việt Nam vào những vấn đề đang đặt ra với thế giới.

Cả hai lần ông Thủ tướng xuất thân từ công an dẫn đầu đoàn Chính phủ Việt Nam đi công cán nước ngoài đều có ông Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm là nhân vật thứ hai của đoàn công cán. Tên Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm trong danh sách đoàn công cán nước ngoài chỉ đứng sau tên Thủ tướng Phạm Minh Chính, vốn cũng là tướng công an.

Bộ Công an và Bộ Quốc phòng là hai bộ sức mạnh của đất nước. Một sức mạnh đối nội và một sức mạnh đối ngoại. Bộ Quốc phòng chống giặc ngoại xâm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, là nơi thiết kế, tạo dựng mối liên kết với sức mạnh thời đại dân chủ, sức mạnh thời đại độc lập dân tộc trong công cuộc bảo vệ nền độc lập của quốc gia, nơi phải có tầm nhìn ra thế giới, phải hướng ngoại. Bộ Công an giữ gìn trật tự trị an, an toàn xã hội, giữ gìn sự bình yên của đời sống đất nước, bộ hoàn toàn hướng nội.

Hai chuyến công cán nước ngoài của Thủ tướng Phạm Minh Chính đều để góp tiếng nói với thế giới về những việc chung của loài người và của thế giới. Đầu tháng 10-2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính đến Anh tham dự Hội nghị về Biến đổi khí hậu, ngăn chặn ô nhiễm bầu khí quyển, bảo vệ sự sống của trái đất. Giữa tháng 5- 2022, Thủ tướng Phạm Minh Chính đến Mỹ cùng Thủ tướng các nước Asean theo lời mời của Tổng thống Mỹ Joe Biden tham dự hội nghị hình thành và củng cố vành đai dân chủ Thái Bình Dương.

Vành đai dân chủ Tây bán cầu là hiệp ước liên minh phòng thủ Đại Tây Dương NATO ngăn chặn hiểm hoạ chiến tranh độc tài Nga. Vành đai dân chủ Đông bán cầu đang được Tổng thống Mỹ Joe Biden thiết kế ngăn chặn nguy cơ Chinazi Tàu cộng bành trướng ra thế giới, thống trị thế giới. Vì vậy mới có cuộc gặp Biden – Asean.

Cả hai chuyến công cán nước ngoài của Thủ tướng Phạm Minh Chính đều không liên quan đến nội trị. Cả hai lần Thủ tướng xuất thân từ công an Phạm Minh Chính dẫn dắt đoàn Chính phủ Việt Nam xuất ngoại cho thế giới biết mặt, biết tên đều có Bộ trưởng bộ Công an Tô Lâm, người đứng đầu bộ máy nhà nước hoàn toàn chỉ lo nội trị.

Ngày nay, sức mạnh quốc phòng của mỗi quốc gia ngoài sức mạnh nội lực còn có nguồn sức mạnh to lớn là sức mạnh của thời đại dân chủ, thời đại độc lập dân tộc. Bộ Quốc phòng không phải chỉ lo tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang trong nước mà còn phải kiến tạo được thế trận liên kết với ý chí độc lập và thế trận dân chủ thế giới. Nhưng cả hai lần Thủ tướng Phạm Minh Chính tổ chức đoàn Chính phủ đi ra thế giới dân chủ, Bộ Công an nội trị đều có Bộ trưởng Tô Lâm tham gia trong khi Bộ Quốc phòng phải hướng ngoại thì chỉ có hai Thứ trưởng mờ nhạt, gần như vô danh, đến người dân trong nước cũng ít người biết đến tên tuổi. Đoàn đi châu Âu của Thủ tướng Chính năm 2021 có Thứ trưởng Quốc phòng, tướng Hoàng Xuân Chiến. Đoàn đi Mỹ của Thủ tướng Chính năm 2022 có Thứ trưởng Quốc phòng, tướng Phạm Hoài Nam.

Người dân trong nước từ cụ già đến đứa trẻ đều biết tên, biết mặt ông Bộ trưởng bộ Công an Tô Lâm. Biết vì tên ông Bộ trưởng Tô Lâm gắn liền với những vụ việc tai tiếng động trời nhưng lại chôn vùi tầm chính khách xuống dưới mặt đất.

Tầm chính khách cao nhất trong nội trị là an dân. Bộ trưởng Công an Tô Lâm cho công an nửa đêm về sáng ngày 9-1-2020 phá cửa xông vào tận giường ngủ, xả súng giết một đảng viên cộng sản có 59 tuổi đảng đang còn tham gia sinh hoạt đảng, giết một cụ già 85 tuổi đời đang là công dân lương thiện Lê Đình Kình ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội.

Pháp luật là để an dân. Vụ công an giết dân lương thiện Đồng Tâm là sự chà đạp khủng khiếp lên luật pháp. Với vụ việc giết dân lương thiện ở thôn Hoành, Đồng Tâm, phá an dân từ luật pháp, từ trái tim người dân, ông Bộ trưởng bộ Công an Tô Lâm chỉ là con người công cụ của đảng cộng sản, không hề có con người chính khách.

Chính khách của đất nước thời thế giới hội nhập là đưa đất nước hội nhập với thế giới dân chủ văn minh, là mang tài, mang sức nâng cao vị thế Việt Nam trong thế giới văn minh. Nhưng vụ Bộ trưởng bộ Công an Tô Lâm đích thân chỉ huy đội đặc nhiệm đột nhập nước Đức, bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, rồi thuê máy bay Slovakia đưa Thanh về nước, đã để lại một tiếng xấu thậm tệ, một vết nhơ to lớn trong mối quan hệ Việt Nam với thế giới và Bộ trưởng Tô Lâm đã trở thành tội phạm với luật pháp nước Đức và luật pháp Slovakia.

Tháp tùng Thủ tướng Phạm Minh Chính đến nước Anh năm ngoái, Bộ trưởng Tô Lâm lại tạo ra tai tiếng động trời trên hệ thống truyền thông tiếng Việt và tiếng Anh khắp thế giới khi Bộ trưởng Tô Lâm sung sướng ngửa mặt, há mồm cho đầu bếp Thổ Nhĩ Ký đút miếng thịt bò dát vàng vào miệng. Đất nước đang nghèo khó, đại dịch Covid-19 lại đẩy kinh tế cả nước vào đình đốn, đẩy hàng triệu gia đình người Việt vào thiếu, đói, mà Bộ trưởng Tô Lâm ăn thịt bò dát vàng 2000 đô la một suất, thì ông Bộ trưởng đó làm sao có thể là chính khách!

Bộ trưởng Công an chỉ lo nội trị lại đầy tai tiếng như vậy nhưng tuần chay nào cũng có nước mắt, chuyến xuất ngoại nào của Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng có mặt, thì suất xuất ngoại của Bộ trưởng Tô Lâm chỉ do tình cảm thân thiết, do mối quan hệ sâu xa giữa Thủ tướng Chính với Bộ trưởng Lâm, chứ hoàn toàn không phải do công việc, không phải do nhiệm vụ. Với thành viên như Bộ trưởng Tô Lâm, những chuyến đi ra thế giới của đoàn quan chức Chính phủ Chính càng không thể nâng cao vị trí, tư thế Việt Nam trong thế giới dân chủ văn minh.

3. Những quyền con người cơ bản, tối thiểu của người dân Việt Nam Xã hội chủ nghĩa đều bị hình sự hoá bởi những điều 109, 117, 331 Bộ Luật hình sự 2015. Hơn hai trăm người dân Việt Nam chỉ thực hiện quyền con người chính đáng đã bị các điều luật hình sự 109, 117, 331 buộc tội, phải nhận án tù mút mùa. Vậy mà ông Thủ tướng Chính khi đến Anh tháng 11-2021 dám hùng hồn tuyên bố: Tôi sẵn sàng đối thoại với bất cứ ai trên thế giới này về vấn đề nhân quyền.

Nhân quyền lớn nhất là lo cơm ăn áo mặc cho một trăm triệu dân, không để ai thiếu ăn thiếu mặc, khi khó khăn không bỏ ai lại phía sau. Tháng 5-2022, khi đến Mỹ ông Thủ tướng Chính lại dương dương tự tin: Tôi sẵn sàng đối thoại với bất cứ ai trên thế giới về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam! Dương dương như vậy là ông Thủ tướng Chính chẳng hiểu gì về nhân quyền. Không hiểu về Nhân quyền thì không thể là chính khách của thời đại dân chủ văn minh.

Dịp khác tôi sẽ trở lại thưa chuyện về nhân quyền với ông Thủ tướng Chính. Ở đây tôi chỉ nói nỗi đau buồn về con người chính khách trống rỗng thiếu hụt trong những chính khách Việt Nam.

Chính khách là người có lí tưởng sống cao cả, có khát vọng được thể hiện, được đóng góp hết mình cho đời, cho nhân dân, đất nước và có vị trí, có quyền lực để thực hiện lí tưởng, khát vọng. Tâm thế, nghĩ suy và hành xử của chính khách đều vì đất nước, vì người dân, vì tiến bộ xã hội, không mảy may vì cá nhân riêng tư.

Ông tướng công an Phạm Minh Chính dành ưu ái cho ông tướng công an Tô Lâm có mặt trong tất cả những chuyến xuất ngoại của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho thấy, ông Thủ tướng Phạm Minh Chính hành xử theo tình cảm riêng tư chứ không hành xử vì dân, vì nước.

Thoáng qua vài vụ việc trong đời sống xã hội và đời sống chính trị Việt Nam, thoáng qua vài gương mặt chính khách hàng đầu trên chính trường Việt Nam, người dân Việt Nam phải đau buồn và hổ thẹn nhận ra rằng, quan chức ở tầm chính khách trong chính trường Việt Nam quá thiếu vắng những chính khách đích thực xứng tầm với dân tộc Việt Nam văn hiến, xứng tầm với thời đại dân chủ, văn minh.

Phạm Đình Trọng (baotiengdan.com)

PHÂN ƯU

CÁO PHÓ

Happy Mother’s Day

Bà Jill Biden bất ngờ đến Ukraine

Đệ nhất phu nhân Mỹ Jill Biden ngày 8/5 đã có chuyến thăm không báo trước tới thành phố Uzhhorod, Tây Nam Ukraine, theo CNN.

Tại một trường học được chuyển thành địa điểm sinh sống tạm thời cho người tị nạn, bà Biden đã có cuộc gặp với Đệ nhất phu nhân Ukraine Olena Zelenska, người không xuất hiện trước công chúng kể từ khi Nga phát động “chiến dịch quân sự đặc biệt” nhằm vào Ukraine hôm 24/2.
“Tôi muốn đến vào ‘Ngày của Mẹ’”, bà Biden nói với bà Zelenska khi hai người cùng ngồi bên một chiếc bàn nhỏ trong một lớp học. “Tôi nghĩa điều quan trọng là cho người Ukraine thấy cuộc chiến phải chấm dứt. Người dân Mỹ sát cánh với người dân Ukraine”.

Về phần mình, bà Zelenska mô tả chuyến thăm của bà Biden: 

“Đầu tiên, tôi muốn cảm ơn bà vì hành động rất dũng cảm này”, đệ nhất phu nhân Ukraine tuyên bố. “Chúng tôi hiểu rằng đệ nhất phu nhân Mỹ đã đến đây trong một cuộc chiến, khi  mà hành động quân sự diễn ra mỗi ngày, khi tiếng còi báo động phòng không vang lên mỗi ngày, kể cả hôm nay”, bà Zelenska nói. “Chúng tôi muốn lưu ý rằng ‘Ngày của Mẹ’ là một ngày mang tính biểu tượng của chúng tôi, vì chúng tôi cũng cảm thấy tình yêu và sự ủng hộ của bà trong một ngày quan trọng như thế này”, vị đệ nhất phu nhân Ukraine khẳng định.
Hai người nói chuyện riêng khoảng một giờ đồng hồ.
Chuyến thăm của bà Biden tới Ukraine không được thông báo trước cho báo chí. Đệ nhất phu nhân Mỹ đang có chuyến thăm 4 ngày tới châu Âu, bao gồm các trại tị nạn ở Romania và Slovakia. Bà Biden đã di chuyển khoảng 15 dặm (khoảng 24 km) từ thị trấn biên giới Vysne Nemecke của Slovakia tới Uzhhorod, CNN đưa tin.
Bà Biden là nhân vật cấp cao tiếp theo của Mỹ và là người đầu tiên trong gia đình Tổng thống Joe Biden tới thăm Ukraine kể từ khi xung đột bùng phát.
Trước đó, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken, Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin và Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi cũng đã có các chuyến thăm tới quốc gia Đông Âu này.

Việt Hà (baohomnay.com)

Bà Mẹ Việt Nam Ngàn Đời Vất Vả – YouTube.mp4  

Cầu Tre Lắc Lẽo  (Nhac Cảnh) – YouTube.mp4 

Hình Bóng Quê Nhà (Việt Hùng, Vọng Cổ).mp4 

BÀI THƠ THÁNG TƯ

Nguyễn Đức Tùng

BÀI THƠ THÁNG TƯ

Tháng Tư anh về Sài Gòn 
Đi tìm em trên đường Tự do
Đồng khởi
Chùm me chín vội trong tay em ngày ấy
Mái ngói rêu xanh còn đây
Bầy sẻ nâu bằng đất
Cửa sổ đèn khuya hiu hắt người về

Dân tộc đi qua cơn mê
Người lính trận mạc miền quê
Bên kia núi, lạc đường thành phố
Kẻ ngây thơ khốn khổ hoặc trở thành lưu manh
Hay bị gạt ra ngoài
Trả về quê cũ
Kiếp ăn mày
Người lính thất trận cởi áo giáp
Cởi nón sắt
Ngơ ngác
Quần cọc ra về
Đi từng hàng trước lưỡi lê họng súng AK
Về làng, qua lũy tre xanh
Ngày ấy chúng ta tưởng rằng chiến tranh đã qua
Nhưng chiến tranh không hề đi qua
Trái ổi xanh bên tường nhà em ngày một chín
Nàng Tô thị đi lấy chồng

Đường Tự do không còn tự do
Người thắng trận thành người bại trận
Người bại trận chết trên biển Đông
Dinh Độc lập hóa thành dinh Thống nhất
Mà lòng người cách chia
Chiến tranh càng lùi xa hận thù càng lớn
Càng nói càng không hiểu nhau
Càng đọc nhau càng thêm ngu ngốc
Núi sông không biết khóc 
Nhân dân đã già
Các mùa hoa nở em không về

Anh đi giữa hàng me
Nhớ em như mùa nhãn chín nhớ loài chim tu hú
Trái hạnh phúc không còn anh đứng dưới gốc cây
Mùa hè nung như lửa, nhớ như điên
Ký ức đuổi anh bỏ chạy
Thời gian đầy kẻ ăn quỵt
Trong khu vườn lặng im quận Nhất
Tiếng ve vang rền quanh tường
Trái mộng rơi thình lình trên vai anh
Cây bàng giật mình rụng thêm một lá
Quán cà phê chưa mở, anh tìm gốc cây con
Ngồi xuống mà nhặt lên
Hình bóng cũ dại khờ, đoàn quân thất trận, thắng trận
Hương lúa đồng xưa, căn hầm bí mật
Cánh diều bung trời xanh

Anh tìm thấy chú ve sầu nhỏ bé
Rơi mơ hồ như sợi tơ qua
Từ cõi mơ ngoái lại
Anh ngoái nhìn bạn bè
Đứa chửi rủa tục tĩu
Đứa dịu dàng cười cười
Đứa cười cười làm bí thư đảng ủy
Có năm căn nhà cho thuê
Ba đứa con, hai đứa du học Mỹ
Một đứa bị Úc trả về
Ngậm miệng ăn tiền
Dịu hiền đưa tay sờ lông mu kỹ nữ
Đứa chửi rủa tục tĩu
Chạy xe ôm, đổi qua uber, rồi grab
Vừa bị đánh đập
Bởi bọn taxi
Trong quán Karaokê
Thằng bạn cười cười ngồi bên nhắc khéo
Nó co chân lại cho thằng kia bước qua
Như một người tử tế, nhắc chuyện ngày xưa

Ngay chiến tranh cũng chưa là thảm kịch 
Chưa là gì so với hôm nay
Tra tấn, giết người, bịt miệng 
Hãm hiếp trẻ con, dạy dỗ trí thức làm nô lệ
Lễ nghĩa bề ngoài
Ích kỷ đầy bụng
Chiếc hầm bí mật bốn mươi năm vỡ tung
Trời xanh trên đầu không xanh nữa
Mây bay qua buồn ngất buồn ngơ
Giặc ngoại thù chỉ là giả dối
Chính chúng ta là kẻ thù của chúng ta
Những bài ca mở cõi 
Lý tưởng ngày xưa vội xếp giáo quy hàng
Bạn bè lạc nhau chia làm hai nửa
Một nửa dạt về phía cái chết
Một nửa dạt về phía có trăng lên

Trời sập tối rồi em
Thắp đèn khuya đợi anh
Người đàn bà tưởng sau chiến tranh không còn chờ đợi
Kẻ chiến thắng tươi cười
Người thất bại lặng lẽ
Tất cả bây giờ nhường chỗ
Cho một đám trẻ tuổi thông minh lém lỉnh
Làm giàu rất nhanh
Núp sau khẩu hiệu
Đã lo liệu xong phần mình, phần vợ con, nhà cửa
Người mẹ thở nào nuôi chúng lớn lên
Chết rấp dọc bờ dọc bụi
Trong khi ở đây chúng nói toàn ơn ngãi, tự do
Nhà xa hoa treo đầy cờ đỏ
Giữa hai giàn hoa ti gôn
Bếp xưa khi về lửa lạnh
Chúng ta đi loanh quanh ba mươi năm chiến tranh
Đất nước toàn anh hùng và kẻ cắp
Lụa Hà đông và thi sĩ
Anh đi từ mũi Cà mau đến núi nàng Tô thị

Đâu đâu cũng buồn
Lời nguyền thổi bạc núi non
Mùa xuân đốt khói trên đồng
Em chẳng về thăm
Tuổi thơ đi qua sáu vài mười hai nhịp
Vai gầy mòn sắt thép
Khúc hát rong rêu phỉnh phờ
Em bước ra từ cửa Ngọ môn như từ trong giấc mơ
Thở dài im lặng
Trong mắt anh nhòe ngả đường
Chúng đã đổi tên xong những ngả đường
Và sẽ đổi thêm nhiều lần nữa
Ba năm một lần
Năm năm một lần
Xóa sạch ký ức con cái chúng ta
Tiếng rao chè đậu hũ đi qua
Chỉ còn là kỷ niệm

Lá vàng rơi im lìm bên suối
Trái tim ngưng đập trên sườn núi
Của một người chết trẻ vì ai
Mùa xuân thung lũng đầy mai trắng
Người lính dù trúng đạn
Rơi nằm bên người lính đặc công vừa nhắm mắt 
Lục tìm thấy lá thư anh viết về cho mẹ
Ở Bắc Giang
Anh đã đi qua ngôi làng không trẻ con 
Không cây đa không miếu thờ
Hoa gạo đỏ nở bừng lần cuối
Trước lệnh di dời
Sông Thạch Hãn thở dài
Tiếc dòng máu chảy
Tiếc những nén nhang, mưa bụi
Một bên cố thủ để làm gì
Một bên tái chiếm để làm chi

Chỉ còn gạch vụn
Các anh để lại quê hương vỡ nát
Người đau lòng cất bước ra đi
Để lại lời chia ly
Cho người nằm xuống 
Như anh tôi nằm xuống trên cánh đồng cỏ ướt
Trong tiếng dế kêu sương suốt mùa hạ ấy
Tất cả trở về mỗi người một gốc cây
Những người chết không ai thù hận mãi
Quắc mắt nhìn chúng ta
Tiếng sấm xa vang rền thúc giục
Buổi đoàn viên hứa hẹn bao ngày, không tới
Em đừng hỏi

Đời thường chiếm lĩnh căn nhà
Đám cưới, đám ma, tình yêu, lật kèo, lầm lỗi
Làm nên lễ hội hôm nay
Viên đạn lên nòng 
Nằm quá lâu hoen rỉ đường khương tuyến
Trời sao lấp lánh đứng chờ

Cho anh cầm tay em
Khởi đầu không có đêm chỉ có chúng ta
Hai kẻ không nhà ngoài tường dinh thự cũ
Buổi sáng hàng quán cà phê chưa mở cửa
Dưới cửa sổ khép hờ tiếng nhạc 
Thì thầm
Đêm chưa vội sáng
Chúng ta gọi về trắng xóa cơn mưa
Lời hứa xưa chưa thành sự thật
Hành quân Lam sơn vinh quang đường chín
Hổ xám Nam Lào bị bắt vì buôn lậu
Anh hùng Khe sanh chết không nhà 
Mẹ ở đâu khi chúng ta trở về
Ngày ba mươi tháng tư
Anh hôn em dưới khoảng trời nhỏ bé
Cửa sơn xanh mở hé lời bí mật
Sự thật tới pháp trường
Mang vòng hoa qua hư không 
Anh hôn em mùi khói nhang lồng lộng
Mùi mồ hôi muối mặn ước mơ xưa

Em bây giờ ở đâu
Gió thổi bạc đầu bến cũ
Không còn ai mơ ước
Hòa bình, không ai bước một mình trong đêm trăng
Đi tìm con, không còn đoàn người chạy giặc
Lá bàng bay xao xác tóc người
Anh lặng im đi giữa trời mây
Thành phố nỗi khổ đau cùng tận
Vỡ tan từng mảnh 
Thành phố hòa bình đẹp giật mình như khoảnh khắc chiến tranh

Anh đi trên đường Tự do
Mùi cà phê thơm ngát 
Nhìn kỹ mặt người lạ người quen
Cầm tay em nói lời từ tạ
Hẹn gặp nhau nhưng lòng chẳng tin
Trời xanh giản dị mà im sâu
Con đường lát đá đầy vết máu
Người lính xưa về đâu
Em về đâu
Màu hạ ve kêu xé trời xanh
Mối tình xưa khắc khoải
Anh đi tìm em dọc bờ suối
Nồng nàn gói ghém trong tay
Tháng Tư
Hoa lan đỏ góc tường
Sương đổ, trăng lên
Anh về như bướm trắng lang thang

Về như chú bé
Trượt ngã một lần trên ngưỡng cửa nhà em
Em che nghiêng khuôn mặt đời mình
Chỉ thấy trăng tàn bóng lửa
Choáng ngợp lòng mưa lá rụng
Anh nhớ lời xưa em dặn
Không thức khuya, không mặc áo phong phanh trời gió
Anh đi trên đường Tự do
Tay anh cầm lấy tay mình
Thì thầm tên cũ
Thấy một người đứng chờ trên bến xe lam
Dưới chân xòe đám lá sen xanh
Anh hôn em trời chiều ngả bóng

Nguyễn Đức Tùng (Kontumquetoi.com)

NGÀY QUỐC HẬN LÀ NGÀY QUỐC HẬN

Biến cố 30-4-1975 là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Nhiều sách báo đã viết về biến cố nầy. Nhân sắp đến ngày 30-4, ở đây chỉ xin ôn lại diễn tiến trong ngày 30-4-1975 tại Sài Gòn.

1. DIỄN TIẾN NGÀY 30-4-1975

Từ 26-4-1975, quân cộng sản bao vây Sài Gòn từ năm hướng: hướng bắc (Quân đoàn 1 CS), hướng tây bắc (QĐ 3 CS), hướng đông (QĐ 4 CS), hướng đông nam (QĐ 1 CS), hướng tây và tây nam (Đoàn 232 và SĐ 8 thuộc Quân khu 8 CS). Chiều 26-4, CS bắt đầu tấn công, đánh phá vòng đai phòng thủ bên ngoài, chiếm Long Thành, Trảng Bom, Nhơn Trạch, Bà Rịa, cắt đường số 4 từ Sài Gòn đi miền Tây.

Đối đầu với lực lượng lớn mạnh nầy, quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) bảo vệ thủ đô Sài Gòn chỉ gồm Quân đoàn III (hai sư đoàn 5 và 18), các chiến đoàn tập họp từ các sư đoàn của QĐ I và QĐ II di tản vào Sài Gòn, các lữ đoàn TQLC, Dù, các liên đoàn BĐQ, một số trung đoàn Pháo binh, Kỵ binh thiết giáp và Nghĩa quân, Địa phương quân. Các đơn vị nầy đều thiếu quân vì trước đó đã bị tấn công, phải di tản, đồng thời thiếu trang bị võ khí, đạn dược và thiếu nhiên liệu cần thiết.

Chiều 28-4, ngay sau khi cựu đại tướng Dương Văn Minh vừa nhận chức tổng thống, 5 chiếc A-37 trước đây của Không quân VNCH bị CS tịch thu, nay dưới sự hướng dân của Nguyễn Thành Trung, cựu trung úy phi công VNCH, vốn là đảng viên CS cài vào Không quân VNCH, bay đến thả bom phi trường Tân Sơn Nhứt. Tối hôm đó, CS tiếp tục pháo kích vào phi trường Tân Sơn Nhứt làm hỏng các phi đạo. Phi trường không thể sử dụng được, nên phải dùng trực thăng để di tản.

Hôm sau 29-4, CS chiếm được các căn cứ Nước Trong, Long Bình, thành Tuy Hạ (quận Long Thành, tỉnh Biên Hòa), Đồng Dù (Củ Chi), Hậu Nghĩa. Sáng 30-4 quân CS bắt đầu tiến vào nội thành Sài Gòn. Trước sự đe dọa của CSVN, ảo vọng thương thuyết của Dương Văn Minh hoàn toàn tan vỡ. Cuối cùng, lúc 10G 24 phút sáng 30-4-1975, qua đài phát thanh Sài Gòn, Dương Văn Minh, với tư cách tổng thống tổng tư lệnh quân đội, nhận chức trước đó hai ngày, ra lệnh toàn thể quân đội VNCH ngưng chiến đấu, hạ khí giới. Sau đây là nguyên văn lời Dương Văn Minh:

“Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu thì ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây đang chờ gặp chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa, 10 ngày cuối cùng, Fountain Valley, CA: Nxb. Nam Việt, 2006, tr. 358)

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, tổng tham mưu phó quân đội VNCH, thay mặt trung tướng Vĩnh Lộc, tổng tham mưu trưởng (vắng mặt), ra lệnh cho tất cả quân nhân các cấp phải nghiêm chỉnh thi hành lệnh của tổng thống Dương Văn Minh.

Lúc 11G 30 phút ngày 30-4-1975, xe tăng của Đại đội 4, Lữ đoàn Thiết giáp 203 CS tiến vào dinh Độc Lập. Lúc đó, một số cán bộ Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 304 CS, do đại úy trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ dẫn đầu, đến phòng họp dinh Độc Lập, nơi có mặt tổng thống Dương Văn Minh và nội các của thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Đại úy Thệ đã nói thẳng với Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu rằng các ông bị bắt làm tù, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện và không có gì bàn giao cả. Sau đó, quân CS áp tải Dương Văn Minh tới đài Phát thanh để đọc lời tuyên bố đầu hàng. Tại đài phát thanh, các sĩ quan CS soạn tại chỗ lời đầu hàng, và buộc cựu đại tướng Dương Văn Minh phải đọc như sau:

“Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn, từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao toàn chính quyền từ trung ương đến địa phương lại cho chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.” (google.com.vn) (vào chữ Dương Văn Minh, tìm 30-4.)

Trước áp lực của họng súng quân thù, cựu đại tướng Dương Văn Minh đành phải đọc bản văn do CS soạn sẵn, “kêu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam.” Quân đội VNCH liền ngưng chiến đấu, tự nhiên rã ngủ, trong khi còn nhiều đơn vị vẫn muốn tiếp tục chống cộng, nhất là Quân đoàn IV vẫn còn nguyên vẹn, chưa thất trận. Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn sụp đổ.

2. NGÀY QUỐC HẬN

Thông thường, người ta tản cư hay di tản khi chiến tranh bùng nổ. Người ta bỏ chạy để tránh lửa đạn. Đàng nầy, chiến tranh chấm dứt ngày 30-4-1975, lửa đạn không còn, mà người ta bỏ chạy, chạy xa thật xa, nghĩa là người ta sợ cái gì còn hơn lửa đạn.

Ngay khi CS chiếm Sài Gòn, khoảng 150,000 người Việt bỏ ra nước ngoài, trong đó khoảng 140,000 đến Hoa Kỳ và khoảng 10,000 đến các nước khác. (Nguồn: UNHCR, The State of the World’s Refugees – Fifty Years of Humanitarian Actions, ch. 4, tr. 81.) Cộng sản Việt Nam tố cáo những người di tản là tay sai đế quốc Mỹ. Theo luận điệu nầy, trưa ngày 30-4-1975, Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh Sài Gòn phát biểu rằng: “Những kẻ ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước.” . Viên nhạc sĩ nầy còn hát bài “Nối vòng tay lớn”, nhưng dân chúng không chấp nhận vòng tay lớn của CS, tiếp tục ra đi dù bị kết tội “phản quốc”.

Sau ngày 30-4-1975, càng ngày càng có nhiều người kiếm cách ra nước ngoài, dầu phải hy sinh chính mạng sống của mình, tạo thành phong trào vượt biên. Theo thống kê của Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 2000, từ ngày 30-4-1975 cho đến cuối năm 1995, tổng số người di tản và vượt biên đến được các trại tỵ nạn là 989,100 (gần một triệu) kể cả đường biển lẫn đường bộ. Người ta phỏng chừng có khoảng từ 400,000 đến 500,000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết. Ngoài ra, phải kể thêm số người rời Việt Nam qua các hải đảo nhưng không đậu thanh lọc và bị đuổi về nước. Nếu kể thêm chương trình ODP (Orderly Departure Program) và chương trình HO do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, đưa vài trăm ngàn người nữa ra nước ngoài bằng đường chính thức, thì tổng cộng tất cả các số liệu trên đây, sau khi CS chiếm miền Nam Việt Nam, trên 1,500,000 người Việt đã bỏ nước ra đi.

Đây chỉ là những người có điều kiện ra đi. Còn biết bao nhiêu người muốn ra đi mà không đi được. Nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã từng nói một câu bất hủ: “Ở Việt Nam hiện nay, cây cột đèn cũng muốn ra đi.”

Trước khi quân cộng sản vào Sài Gòn, nhiều chức quyền cao cấp VNCH đã di tản ra ngoại quốc. Trong số các chức quyền ở lại, có phó tổng thống rồi tổng thống Trần Văn Hương. Ngày 28-4-1975, trước khi bàn giao chức vụ tổng thống cho Dương Văn Minh, đại sứ Pháp ở Sài Gòn cho người đến mời tổng thống Hương di tản. Ông Hương trả lời: “Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là tôi sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.” Sau khi Trần Văn Hương giao quyền tổng thống cho Dương Văn Minh tối 28-4, thì hôm sau, ngày 29-4 đích thân đại sứ Hoa Kỳ là Graham Martin đến gặp Trần Văn Hương và mời ông ra đi. Trần Văn Hương trả lời như sau: “Thưa ông đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có một phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông đại sứ đã đến viếng tôi.” Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay từ biệt. (Trần Đông Phong, sđd. tt. 352-355.)

Trần Văn Hương thấy trước và nói rất đúng: “Tôi cũng dư biết rằng cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam.” Nước mất là mất tất cả. Mất tất cả các quyền tự do dân chủ, cả tôn giáo, văn hóa, mất tài sản, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, có người mất luôn cả thân nhân nữa. Trước ngày 30-4-1975, dầu chưa hoàn thiện, dầu bị giới hạn vì chiến tranh, chế độ Cộng hòa vẫn là chế độ tự do, dân chủ, tôn trọng dân quyền và nhân quyền.

Khi mới chiếm được miền Nam, cộng sản bắt ngay sĩ quan, công chức, cán bộ của VNCH còn lại trong nước giam giữ dài hạn, không tuyên án trên các vùng rừng thiêng nước độc. Số lượng sĩ quan, công chức và cán bộ VNCH bị bỏ tù khoảng hơn 1,000,000 người tại trên 150 trại giam; theo đó, khoảng 500,000 người được thả về từ 3 tháng đến 2 năm đầu, 200,000 bị giam từ 2 đến 4 năm, 250,000 bị giam ít nhất 5 năm, và năm 1983 (tức sau 8 năm) còn khoảng 60,000 người bị giữ lại. (Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Volume Two, Santa Barbara, California, 1998, tr. 602.). Số liệu nầy theo dư luận chung, còn thấp hơn so với số lượng người và số năm bị thực giam. Ngoài ra, trong số trên 1,000,000 người bị tù sau năm 1975, theo những cuộc nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Âu Châu, có khoảng 165,000 nạn nhân đã từ trần trong các trại tù “cải tạo”. (Anh Do & Hieu Tran Phan, “Millions of lives changed forever with Saigon’s fall”, nhật báo Orange County Register, số ngày Chủ Nhật, 29-4-2001, phụ trang đặc biệt về ngày 30-4, tt. 2-3.)

Sau khi bắt giam hàng triệu công chức quân nhân trên toàn cõi miền Nam Việt Nam, cộng sản trấn áp dân chúng miền Nam bằng nhiều phương thức khác nhau:

Thực hiện chế độ hộ khẩu, ai ở đâu ở yên đó, không được di chuyển, không có quyền tự do đi lại. Muốn đi lại phải xin giấy phép khó khăn. Về kinh tế, cộng sản đổi tiền nhiều lần một cách tàn bạo. (Đổi lần đầu ngày 22- 9-1975, 500 đồng VNCH lấy 1 đồng mới. Đổi lần thứ hai ngày 3-5-1978 và lần thứ ba ngày 14-9-1985.) Cộng sản tổ chức đánh tư sản mại bản, tư sản dân tộc, tư sản nhỏ (tiểu tư sản), lục soát nhà cửa, tịch thu vàng thật, rồi lập biên bản là “kim loại có màu vàng”, để đổi vàng giả. Cộng sản cướp nhà cửa, buộc những người khá giả phải hiến đất, hiến nhà để khỏi bị tù. Tại thành phố, CS đưa vào quốc doanh tất cả những xí nghiệp, cơ sở kinh doanh do CS quản lý. Tại nông thôn, CS quốc hữu hóa toàn thể đất đai, ruộng vườn; nông dân phải vào hợp tác xã, làm việc chấm công để lãnh lúa, dân chúng gọi là “lúa điểm” tức “liếm đũa”. Cộng sản buộc dân chúng phải đi kinh tế mới, sống trên những vùng khô cằn, nghèo khổ. Cộng sản thi hành chính sách ngăn sông cấm chợ, để CS độc quyền lưu thông và phân phối hàng hóa. Tất cả chính sách của CS nhắm làm cho dân chúng nghèo khổ cho CS dễ cai trị.

Chính sách cai trị của CS sau năm 1975 đưa Việt Nam đến bờ vực thẳm, nguy hại cho chính CS. Trước tình hình đó, CS mở phong trào đổi mới từ năm 1986. Cộng sản đổi mới để tự cứu mình chứ không phải để cứu dân tộc Việt Nam. Từ đó, Việt Nam thay đổi dần dần, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO vào đầu 2007. Tuy nhiên dầu đổi mới về kinh tế nhưng cộng sản vẫn duy trì độc quyền chính trị, lo sợ “diễn biến hòa bình”, định hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa, không cho tự do báo chí, bóp nghẹt tự do dân chủ, không tôn trọng dân quyền và nhân quyền. Cho đến nay, ở trong nước chưa có một tờ báo tư nhân, chưa có một tổ chức hay đoàn thể chính trị nào đứng ngoài quốc doanh.

Như thế, ngày CS vào Sài Gòn, chấm dứt chế độ VNCH, là một biến cố lịch sử có tầm vóc lớn lao, làm thay đổi dòng sinh mệnh dân tộc, ảnh hưởng lâu dài cho đến ngày nay. Ngày 30-4 cũng là ngày mở đầu thảm họa chẳng những cho dân chúng miền Nam mà cho cả toàn dân Việt Nam khi chế độ cộng sản càng ngày càng bạo tàn, tham nhũng và nhất là lộ rõ bộ mặt tay sai Trung cộng, dâng đất, nhượng biển, quy lụy Bắc Kinh để duy trì quyền lực. Vì vậy dân chúng gọi ngày nầy là ngày Quốc hận. Hai chữ Quốc hận do dân chúng tự động đặt tên cho ngày 30-4 và truyền khẩu với nhau thành danh xưng chính thức, chứ không có một chính phủ, hay một đoàn thể chính trị nào đặt ra. “Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”

3. NGÀY QUỐC HẬN LÀ NGÀY QUỐC HẬN

Những người vượt biên được gọi chung là thuyền nhân. Thuyền nhân là từ ngữ được dịch từ chữ “boat people” trong tiếng Anh, xuất hiện từ cuối thập niên 70 để chỉ những người Việt bỏ nước ra đi sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam. Người Việt vốn ràng buộc với đất đai, ruộng vườn, chỉ ra đi trong hoàn cảnh bất đắc dĩ mà thôi. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, số lượng người Việt bỏ nước ra đi lên đến hàng triệu người. Đặc điểm nổi bật của phong trào thuyền nhân là tất cả những người vượt biên đều tự nguyện ra đi, tự mình muốn ra đi, hoàn toàn tự phát ra đi theo từng gia đình, từng nhóm nhỏ. Không có một đảng phái, một thế lực chính trị hay một nước ngoài nào can thiệp hay tổ chức cho thuyền nhân ra đi. Có khi, nhà cầm quyền CS lợi dụng lòng khao khát ra đi tìm tự do của dân chúng để bán bãi, hay tổ chức vượt biên bán chính thức nhằm lấy vàng. Dầu ra đi trong kế hoạch mà CS gọi là “bán chính thức”, người ra đi vẫn là những người tự nguyện muốn rời bỏ Việt Nam để tránh nạn độc tài cộng sản.

Như thế, vượt biên hay thuyền nhân là một phong trào của vài triệu người, kéo dài trong nhiều năm và nhiều địa điểm khác nhau. Phong trào nầy là hậu quả của ngày Quốc hận 30-4. Ngày 30-4 là ngày đánh dấu sự thành công của chế độ độc tài toàn trị, gây tang thương cho dân tộc Việt Nam. Nỗi đau nầy càng ngày càng nhân lên khi CSVN càng ngày càng đàn áp phong trào dân chủ quốc nội. Chỉ vì lòng yêu nước, người Việt biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược mà cũng bị CSVN bắt giam thì trên thế giới, chuyện nầy chỉ xảy ra ở Việt Nam.

Hai sự kiện ngày Quốc hận 30-4 và Phong trào thuyền nhân hoàn toàn khác nhau và không thể lẫn lộn nhau. Ngày 30-4 là ngày kỷ niệm Quốc hận của toàn dân. Phong trào thuyền nhân ban đầu chỉ khoảng 1,500,000 người. Nếu ngày nay, dân số thuyền nhân phát triển lên khoảng 3,000,000, thì ở trong nước, dân số tăng lên mấy chục triệu người.

Vì vậy, để kỷ niệm phong trào vượt biên, ngày 28-4-2009, toàn thể Hạ viện Hoa Kỳ đã thông qua nghị quyết số 342 do dân biểu liên bang Hoa Kỳ gốc Việt Nam là Cao Quang Ánh đề xướng, ấn định ngày 2-5-2009 là “Ngày Vinh Danh Người Tỵ Nạn Việt Nam” tại Hoa Kỳ (tức thuyền nhân Việt + thêm những người ra đi theo chương trình ODP và HO). Sau đó, ngày 12-8-2009, Hội đồng thành phố Westminster, (thuộc Orange County, tiểu bang California) thông qua nghị quyết số 4257, ấn định ngày Thứ Bảy cuối cùng của mỗi tháng Tư hằng năm là “Ngày Thuyền Nhân Việt Nam”. Westminster là thành phố có Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ, khánh thành ngày 27-4-2003, và từ đó là nơi diễn ra lễ Kỷ niệm ngày Quốc hận hàng năm của Cộng đồng Người Việt Tỵ nạn CS.

Cả hai nghị quyết trên đây đều chọn một ngày khác với ngày 30-4 để kỷ niệm phong trào thuyền nhân, nhằm tránh làm mất ý nghĩa quan trọng của ngày Quốc hận 30-4. Chỉ có cộng sản và những người làm tay sai cho CS mới cố tình vận động chuyển đổi ngày Quốc hận 30-4 thành ngày Thuyền nhân, nhằm làm giảm nhẹ tội lỗi của cộng sản Việt Nam trước lịch sử, trong khi tội lỗi của cộng sản đối với dân tộc Việt Nam không thể xóa bỏ được.

Mưu toan nầy hoàn toàn thất bại vì Cộng đồng Người Việt Hải ngoại quyết liệt phản đối, chỉ vì một lý do đơn giản, thật đơn giản: NGÀY QUỐC HẬN LÀ NGÀY QUỐC HẬN, không thể nào khác hơn được và không có chữ nào đúng hơn được.

TRẦN GIA PHỤNG (geaweb.org)

THÁNG 4, BÚT KÝ NGƯỜI TÙ

Mặc Thủy

1. Bút ký người tù

Lời tác giả :Sau một năm giam giữ ở Cao Lảnh (Kiến Phong) để điều tra và thanh lọc, ngày 24/5/1976, Cộng Sản VN di chuyển một số “tù cải tạo” qua Thất Sơn (Châu Đốc) để chuẩn bị đưa ra miền Bắc. Đêm 25 rạng 26 tháng 6/1976, số tù này được đưa xuống hầm tàu Sông Hương ở Bến Bình Thủy (Cần Thơ) và đi ra Bến Cảng Vinh (Nghệ An). Sau đó đi tàu hỏa trong toa chở hàng hóa lên các trại tù vùng Hoàng Liên Sơn (Yên Bái). 

*** Xem ra Vũ Thất đã cùng đi chuyến này.

***Rời Thất Sơn

Lên xe đi chẳng đợi chờ,

Chiều tàn Châu Đốc đêm mờ Long Xuyên.

Nửa khuya Bình Thủy lặng yên,

Tàu neo bến đợi sông nghiêng mặt buồn…

  ***Xuống hầm tàu

Xuống đây tiếng hét chân dồn,

“Khối hàng đắc giá” lũ buôn làm giàu !

Trên kia thang đã rút cầu,

 Bốn bên nghẻn lối về đâu cuộc đời ?

  *** Ba ngày đêm trên biển

Từng cơn sóng vỗ tơi bời,

Trăm ngàn mủi nhọn rả rời xác thân.

Nát lòng nhìn khoảng trời xanh,

Con chim gảy cánh phải đành vậy sao?

 *** Bến Cảng Vinh

Lều tranh mấy chiếc lao xao,

Sóng xô bãi cát gió gào đêm hoang…

Mờ xa mấy ngọn đèn vàng,

Thì ra ngõ đến ” thiên đàng” là đây !!

 *** Dừng ga Thanh Hóa

Xôn xao lắm tiếng lắm lời,

Áo thô quần mốc mươi người đi qua. 

Vài thằng lên giọng ba hoa,

Một con chó đói chạy ra sủa ầm !!.

*** Thoáng qua Hà Nội

 Phố im rêu phủ lặng nằm,

Tưởng như giấc ngủ ngàn năm chưa dài !.

Còn đâu áo lụa đào bay,

Vẳng trong sương khói thở dài núi sông…

*** Qua cầu Long Biên

Dưới kia nước đỏ sông Hồng,

Máu trôi trôi mãi không đường về tim !!

 Ai ơi hãy cúi xuống nhìn,

 Gương soi lồng lộng rùng mình ngàn sau…

 *** Hoàng Liên Sơn

 Nhe răng núi hỏi đi đâu,

 Vung tay rừng muốn kéo sâu giữa lòng !

 Trên đầu nắng dập mưa dồn,

 Dưới chân đất níu đòi chôn cuộc đời…


2. Vết thương vong quốc

Rượu đắng canh trường thơ nhỏ lệ.

Mưa lòng ta đó đẩm thiên thu !!…

Đời giỡn trên đầu ta bỗng trắng,

Bao nhiêu năm đó tuyết bay bay…

Từng ly rượu đắng ….đời vong quốc,

Uống đến bao giờ mới thật say?

Này người hãy cạn thêm ly nữa,

Ôn lại cùng ta chuyện tháng tư…

Một sáng ngẩn ngơ cờ gục bóng,

Nỗi đau tủi nhục đến ngàn thu…

Này người hãy cạn thêm ly nữa,

Nói tiếp cùng ta chuyện tháng tư…

Cờ chơi đã đến hồi chung cuộc,

Đành với anh em gánh nợ tù !!

Này người hãy cạn thêm ly nữa,

Hoàng Liên Sơn (1) đó vẫn còn trơ…

Phá núi, khai rừng , làm trâu kéo,

Mỗi ngày lãnh mấy chén bo bo…

Này người hãy cạn thêm ly nữa.

Rừng hoang nước độc gió Văn Bàn(2)… . 

Những bộ xương khô da xám bọc,

Làm mồi cho bọ chó ruồi vàng…

Này người hãy cạn thêm ly nữa,

Đất đá Nam Hà (3) nát dấu tay…

Ghim từng mảnh nhọn vào tim óc,

Vết sẹo muôn đời há dễ phai!!

Này người hãy cạn thêm ly nữa,

Về lại Gia Trung (4) thăm mộ hoang…

Vất vưởng hồn ai trong gió hú,

Nằm phơi xương trắng hận không tan!…

Này người hãy cạn thêm ly nữa,

Ngày giặc thả về với cố hương…

Chín năm trời đất ôi… xa lạ,

Một bóng riêng ta một cõi lòng…

Này người hãy cạn thêm ly nữa,

Đêm lại bắt đầu một cuộc chơi…

Biển Đông dù có bao giông bảo,

Vẫn quyết ra đi tìm lại đời…

Này người hãy cạn thêm ly nữa,

Nghe sóng biển gầm chữ TỰ DO…

Bà mẹ ôm con trong bảo tố,

Bé thơ đã chết tự bao giờ!

Này người hãy cạn thêm ly nữa,

Đứa bé trai vừa sáu tuổi đầu

Nằm khóc thảm thương trên bãi cát,

Mất cha mất mẹ…biết về đâu!…

Này người hãy cạn thêm ly nữa,

Đa tạ đời cho chỗ tạm dung…

Đường rộng muôn hoa đua sắc thắm,

Nhưng hồn vẫn nặng bóng quê hương…

Này người hãy cạn thêm ly nữa,

Rượu đã hết rồi cũng chưa say!!

Mà lòng còn một trời u uất,

Ân oán bao giờ nói hết đây ??

Mặc Thủy (baocalitoday.com)

(1) Trại tù vùng Hoàng Liên Sơn (Fansipan mountain} gồm các Trại 1,3,5,7, 9, 12…, nay thuộc tỉnh Yên Bái.

(2) Trại tù Văn Bàn thuộc Huyện Văn Bàn, Tỉnh Lào Cai. Vùng này núi non hiểm trở, rừng hoang nước độc, khí hậu khắc nghiệt, rất nhiều tù cải tạo đã bỏ mình tại đây vì bệnh tật và kiệt sức. 

Từ xung đột Nga – Ukraine, ngẫm về quốc phòng và ngày mai

Cho đến giờ vẫn chưa thấy bất kỳ viên tướng nào trong đội ngũ sĩ quan được phong tướng cho khỏi… “tâm tư” nhằm giữ quân đội “trung với đảng” bày tỏ sự lo âu khi các cuộc diễn tập quanh đi, quẩn lại vẫn chỉ là xếp hàng, đi đều, sau đó bủa ra chạy lúp xúp trên đồng trống…

Các đơn vị lục quân từ khắp nơi trên lãnh thổ Mỹ được gửi đến Fort Irwin – căn cứ của lục quân Mỹ ở miền Nam tiểu bang California và là một trong hai Trung tâm Huấn luyện Quốc gia của Lục quân Mỹ (Trung tâm huấn luyện Quốc gia còn lại là Fort Polk tọa lạc ở miền Nam tiểu bang Louisiana) – huấn luyện thường niên sẽ phải thực hành những bài tập mới để có thể thích nghi, tồn tại và giành chiến thắng trong những cuộc chiến có thể có những đặc tính khác hoàn toàn với những cuộc chiến mà họ đã biết, đã từng trải qua…

***

Tuần trước là khoảng thời gian chẳng dễ dàng chút nào đối với Đại tá Ian Palmer, Chỉ huy trưởng Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1 Kỵ binh. Đơn vị với 4.500 quân nhân này vốn đồn trú ở Fort Hood (một căn cứ tại tiểu bang Texas), mới được điều động đến sa mạc Mohave để đánh chiếm “thị trấn Ujen” đang dưới quyền kiểm soát của “quân Denovian”. Phía Denovian chỉ có khoảng 1.350 người nhưng tham chiến với phương thức khác xa những gì Đại tá Palmer và binh sĩ Lữ đoàn 2 từng biết, từng đối diện ở Iraq, Afghanistan…

Ngoài xe tăng, thiết giáp và những loại vũ khí vốn chẳng xa lạ gì với người lính trên chiến trường, phía Denovian còn sử dụng rất nhiều thiết bị chiến tranh điện tử và khai thác tối đa các phương tiện truyền thông, tất nhiên có cả các ứng dụng tương tác trên mạng xã hội để tuyên truyền, khích động thường dân chống lại đơn vị của Đại tá Palmer. Gió trên sa mạc Mohave rất mạnh, Lữ đoàn 2 không thể tiến nhanh, đã vậy “quân Denovian” còn sử dụng rất nhiều thiết bị bay không người lái (drone) để giám sát hoạt động chuyển quân của Lữ đoàn 2 và tấn công nếu tìm ra sơ hở…

Đại tá Palmer cho biết, giống như đối thủ, đơn vị của ông cũng sử dụng rất nhiều drone để hỗ trợ tấn công. Mặt khác, họ phải tự tìm phương thức ngụy trang thích hợp với đặc điểm địa hình vì theo Palmer: Nếu bạn để bị đối phương nhìn thấy, cho dù bạn đang ở đâu bạn cũng có thể bị bắn… Palmer và lữ đoàn của ông còn phải đối phó với chiến tranh thông tin. Phía Denovian” có rất nhiều người sử dụng điện thoại để ghi hình rồi sáng tạo những câu chuyện tồi tệ nhất để tấn công Lữ đoàn 2 trên mạng xã hội. Lữ đoàn 2 vừa phải chiến đấu để chiếm mục tiêu, vừa phải chiến đấu để giành sự thật!

***

Thị trấn Ujen” không hiện hữu trên bản đồ. Đó chỉ là một trong nhiều bãi tập ở Fort Irwin. Với diện tích là 1.000 dặm vuông (khoảng 2.600 km2), Trung tâm Huấn luyện Quốc gia này của Lục quân Mỹ có nhiều bãi tập cho các đơn vị bộ binh, thiết giáp, pháo binh, phòng không, công binh,… luyện tập hàng năm và luyện tập trước khi được gửi ra chiến trường. Ngoài kỹ năng cá nhân và chiến thuật, Fort Irwin còn là nơi từng quân nhân lẫn các đơn vị của lục quân Mỹ luyện tập để có thể thích nghi với đặc điểm thời tiết của những khu vực giống như hoang mạc. Fort Polk ngược lại – đó là nơi luyện tập để có thể thích nghi với những khu vực nhiều rừng, đầm lầy, sông hồ…

Quân Denovian” cũng là lực lượng giả định. Tư lệnh của “quân Denovian” là Chuẩn tướng Curt Taylor, Chỉ huy trưởng Fort Irwin. Tại Fort Irwin có một đơn vị là Trung đoàn 11 Thiết kỵ (Blackhorse) chuyên sắm vai “địch” trong các đợt luyện tập. Nhận định về đợt luyện tập của Lữ đoàn 2, Tướng Taylor bảo rằng: Giống như một dàn nhạc, ở đây, mỗi người chơi một loại nhạc cụ và phải biết kết hợp để tạo ra sự đồng bộ. Pháo binh làm công việc của pháo binh, không kỵ làm công việc của không kỵ, các đơn vị cơ động làm công việc của họ. Cuộc tấn công vào “thị trấn Ujen” chậm trễ là vì họ không thể đồng bộ hóa các yếu tố đó

Cũng theo Tướng Taylor thì bài tập mới còn một thách thức khác: Hãy nghĩ đến giải pháp cho cả tình huống, anh có một loạt thương vong, sườn trái bị đối phương chọc thủng, tiếp liệu không đến đúng lúc, đúng nơi và không thể tìm ra những yếu tố mang tính đột phá và đối phương khai thác tối đa những yếu tố ấy trên… Twitter!.. Tướng Taylor kể thêm: Sắp tới, kịch bản huấn luyện dự kiến cho những lữ đoàn kế tiếp sẽ tập trung vào phương thức chiến đấu với kẻ thù sẵn sàng dùng hỏa lực để chinh phục một thành phố và phá hủy một thành phố bằng hỏa tiễn

***

Những gì mà Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1 Kỵ binh vừa đối diện trong đợt luyện tập thường niên không mới – ngay vào lúc này có thể xem những tình huống ấy trên TV, Internet. Chúng đang diễn ra ở Ukraine! Bà Christine Wormuth – Bộ trưởng Lục quân Mỹ, người vừa đến Fort Irwin để quan sát đợt luyện tập của Lữ đoàn 2 – bảo với AP: Toàn bộ quân đội Mỹ đang theo dõi – xem xét những gì đã xảy ra ở Ukraine và cố gắng rút ra những kinh nghiệm, bài học bổ ích bao gồm các vấn đề liên quan đến thiết bị và hậu cần của Nga, cho đến việc thiết lập – duy trì liên lạc và sử dụng Internet.

Theo bà Wormuth, quân đội Mỹ đã nghĩ tới và xem xét các khía cạnh như vậy trong năm năm vừa qua và xung đột Nga – Ukraine trở thành ví dụ minh họa rất rõ ràng. Đây là một cuộc chiến trong thế giới thực có thể quan sát trong thời gian thực. Những người như tướng Taylor và cộng sự được mô tả là đã và đang tách “cuốn sách về cuộc chơi của Nga” ra từng trang để xem xét, suy tính và bảo đảm rằng, lục quân Mỹ sẽ thực sự sẵn sàng để giành chiến thắng nếu trong tương lai phải thực sự đối đầu với những đối thủ như Nga và Trung Quốc.

Nội dung và yêu cầu của các đợt luyện tập dành cho cấp lữ đoàn bắt đầu được điều chỉnh khi Nga tấn công Ukraine và tiếp tục được điều chỉnh sau khi chứng kiến những thất bại của Nga trên lãnh thổ Ukraine: Tổ chức tấn công từ nhiều hướng nhưng không thành công, không thể hỗ trợ bộ binh trong việc đánh chiếm những thành phố quan trọng như Kyiv. Cuối cùng, bắn phá, ném bom các cơ sở dân sự (bệnh viện, trường học, khu dân cư), giết thường dân. Lục quân Mỹ cần làm những gì và phải làm những gì khi trực tiếp đối diện với đối thủ như thế?

Theo Tướng Taylor: Chúng ta sẽ phải tập trung vào việc tìm giải pháp, làm thế nào để chiến đấu chống lại địch thủ xem việc hủy diệt hệ thống hạ tầng như một kiểu chiến đấu. Chúng ta phải chuẩn bị để chiến đấu trong đô thị – nơi đối thủ không ngần ngại bắn giết bừa bãi.

Bà Wormuth nói thêm về việc xe tăng Mỹ rất nặng và địa hình châu Âu lầy lội, khác với sa mạc, thành ra phải tìm ra sự cân bằng, phù hợp giữa tính cơ động của xe tăng, khả năng tấn công, cũng như khả năng tồn tại của xe tăng. Muốn xe tăng cơ động hơn thì nó phải nhẹ hơn nhưng khả năng tồn tại lại thấp hơn… Rõ ràng, có rất nhiều điều để học từ cuộc xung đột Nga – Ukraine (1)…

***

Chắc chắn không chỉ có Mỹ theo sát các diễn biến trong cuộc xung đột Nga – Ukraine để học – điều chỉnh chiến lược, chiến thuật – nâng cao nâng lực quốc phòng. Còn Việt Nam thì sao? Dường như Bộ Quốc phòng Việt Nam vẫn thế, vẫn… “trước sau như một” là… “bình chân như vại”.

Hôm 10/4/2021, công chúng xôn xao trước lệnh đóng cửa phi trường Phù Cát ở Bình Định để… “diễn tập quốc phòng”. Theo các cơ quan truyền thông chính thức thì một số đơn vị của quân chủng Phòng không – Không quân tổ chức cho các loại chiến đấu cơ Su-22, Su-27, trực thăng Mi-28 bắn đạn thật, ném bom thật,… để thực tập tấn công các mục tiêu cả ban ngày lẫn ban đêm trong 10 ngày (10/4/2022 – 21/4/2022).

Nếu theo dõi các diễn biến trên chiến trường Ukraine giữa quân xâm lược Nga và lực lượng vệ quốc ở Ukraine trong gần hai tháng vừa qua, rồi đối chiếu những diễn biến ấy với thông tin, hình ảnh về đợt… “diễn tập quốc phòng” vừa kể (2), hay “diễn tập chiến thuật” (3), “diễn tập khu vực phòng thủ” (4) trước nay vẫn diễn ra đều đặn từ cấp xã trở lên tại Việt Nam, chắc chắn không có ai không cảm thấy lo ngại. Màu sắc chiến tranh càng ngày càng đa dạng, phức tạp nhưng… “diễn tập quốc phòng”, rồi “diễn tập chiến thuật” hay “diễn tập khu vực phòng thủ” tại Việt Nam vẫn chỉ như thế: Luôn có… khán đài với những viên tướng đầy đủ “mũ mão cân đai”, chễm chệ sau những dãy bàn dài phủ vải, bày hoa, bày nước uống,… để xem… rồi… ban huấn thị.

Cho đến giờ vẫn chưa thấy bất kỳ viên tướng nào trong đội ngũ sĩ quan được phong tướng cho khỏi… “tâm tư” nhằm giữ quân đội “trung với đảng” bày tỏ sự lo âu khi các cuộc diễn tập quanh đi, quẩn lại vẫn chỉ là xếp hàng, đi đều, sau đó bủa ra chạy lúp xúp trên đồng trống, trang bị cá nhân của quân nhân nghèo nàn đến mức tội nghiệp… Khi thắng – thua trong một cuộc chiến càng lúc càng phụ thuộc vào kỹ thuật, công nghệ nhưng đủ loại “diễn tập” tại Việt Nam vẫn như phim về… lịch sử – diễn tập thường niên cấp lữ đoàn mà vẫn còn cảnh hàng chục quân nhân xúm vào vừa kéo, vừa đẩy một khẩu đại bác vào đúng vị trị cần thiết (5)!

Chẳng lẽ sĩ quan cao cấp chỉ để tham nhũng rồi thỉnh thoảng lôi một loạt ra xử lý kỷ luật hay tống giam để chứng tỏ đảng… “chống tham nhũng không có vùng cấm, không có ngoại lệ”? Chẳng lẽ công việc của sĩ quan cao cấp chỉ là thúc đẩy để quan điểm kiểu như: Tổng thống Ukraine là… “thằng ngu” vì dám chống lại cường quốc khiến “quốc phá, gia vong”. “Khôn” là phải biết… nhẫn nhịn, bất kể ngoại bang sẽ “đè đầu, cưỡi cổ” trở thành… nhận thức của toàn dân?

Chú thích

(1) https://www.armytimes.com/news/2022/04/16/us-army-using-lessons-from-ukraine-war-to-aid-own-training/

(2) https://www.youtube.com/watch?v=zLXWkgRZX5s&ab_channel=TV24h

(3) http://phongkhongkhongquan.vn/26288/dien-tap-chien-thuat-va-hoi-thi-ban-dan-that-luc-luong-phong-khong-luc-quan-phong-khong-kiem-nhiem-bo-doi-bien-phong-khu-vuc-phia-nam-nam-2022.html

(4) https://www.youtube.com/watch?v=UM1wlj3xPP8&ab_channel=TruyềnHìnhĐồngTháp

(5) http://baoquankhu5.vn/quyet-tam-hoan-thanh-xuat-sac-nhiem-vu-dien-tap-nam-2021/

Trân Văn (VOA)