Vũ Thất

Bảo Bình 1

Hồi nhỏ cứ tưởng; Lớn lên mới biết

Hồi nhỏ cứ tưởng; Lớn lên mới biết

– Hồi nhỏ cứ tưởng học lịch sử là để biết về tổ tiên nòi giống,
Lớn lên mới biết cộng sản láu cá nhồi sọ;

– Hồi nhỏ cứ tưởng ráng học thành tài để phục vụ đất nước,
Lớn lên mới biết thành tài chỉ được phục vụ Nga Tàu và nước khác;

– Hồi nhỏ cứ tưởng công an bắt cướp, giúp dân,
Lớn lên mới biết công an ăn cướp, hại dân;

– Hồi nhỏ cứ tưởng công an là bạn dân,
Lớn lên mới biết công an là khuyển ưng của đảng;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Cờ đỏ sao vàng là Cờ tổ quốc,
Lớn lên mới biết đó là Cờ Phúc Kiến bên Tàu;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Mỹ-Ngụy là ác,
Lớn lên mới biết cộng sản mới ác;

– Hồi nhỏ cứ tưởng bán vàng giàu nhất,
Lớn lên mới biết bán nước giàu hơn;

– Hồi nhỏ cứ tưởng đánh trận, lập công lớn mới được lên tướng,
Lớn lên mới biết lòn cúi, hèn với giặc ác với dân mới lên tướng;

– Hồi nhỏ cứ tưởng chống Tàu là yêu nước,
Lớn lên mới biết chống Tàu là phản quốc;

– Hồi nhỏ cứ tưởng đảng giải phóng miền Nam đói rách,
Lớn lên mới biết là đảng cướp miền Nam giàu có;

– Hồi nhỏ cứ tưởng bác Hồ là người Việt Nam,
Lớn lên mới biết bác là người Tàu Hẹ;

– Hồi nhỏ cứ tưởng bác Hồ ‘đi xa’ nhằm ngày 03 tháng 9,
Lớn lên mới biết bác chết trùng ngày Quốc khánh, tháng 9 mồng 2;

– Hồi nhỏ cứ tưởng cán bộ là đầy tớ lo cho dân no ấm,
Lớn lên mới biết dân là đầy tớ lo cho cán bộ ấm no;

– Hồi nhỏ cứ tưởng yêu nước là yêu tổ quốc,
Lớn lên mới biết yêu nước là phải yêu đảng;

– Hồi nhỏ cứ tưởng những đồng bào Boat People là Việt gian,
Lớn lên mới biết đó là khúc ruột ngàn dặm;

– Hồi nhỏ cứ tưởng hy sinh xương máu đánh Mỹ là đánh cho dân tộc,
Lớn lên mới biết là đánh cho Liên Sô, đánh cho Tàu cộng;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Lê Văn Tám, Tô Vĩnh Diện, Hồ Thị Kỷ là anh hùng,
Lớn lên mới biết đó là sản phẩm tuyên truyền bố láo;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Trần Dân Tiên và T. Lan là hai nhà văn nào đó viết về bác Hồ,
Lớn lên mới biết cả hai đều là bí danh của bác Hồ tự ca tụng mình;

– Hồi nhỏ cứ tưởng CB là Carte Bleue (thẻ tín dụng bên Pháp),
Lớn lên mới biết CB cũng là bút danh Của Bác dùng khi viết báo trên tờ Nhân Dân, trong đó có bài Địa chủ ác ghê (2);

– Hồi nhỏ cứ tưởng đảng viên cán bộ hẳn phải cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư như lời bác Hồ trên giấy,
Lớn lên mới biết trong thực tế, đảng viên cán bộ cấp càng cao càng trây lười hoang phí, càng trí trá tham tàn, càng thiên vị bè lũ;

– Hồi nhỏ cứ tưởng trí thức xhcn là tầng lớp tinh hoa chính trực, uy vũ bất năng khuất,
Lớn lên mới biết chỉ là học giả, hương nguyện;

– Hồi nhỏ cứ tưởng CH xhcn VN là Độc lập, Tự Do, Hạnh Phúc,
Lớn lên mới biết là trừ (-) độc lập, trừ (-) tự do, trừ (-) hạnh phúc;

– Hồi nhỏ cứ tưởng công lý xhcn là bà cô thiết diện vô tư,
Lớn lên mới biết Công Lý là một ông chú diễn viên hài;

– Hồi nhỏ cứ tưởng bác Hồ vì nước vì dân nên trọn đời không vợ, không con,
Lớn lên mới biết là đếch phải vậy;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Hoàng Sa, Trường Sa, thác Bản Giốc, Ải Nam Quan là của Việt Nam,
Lớn lên mới biết bác và đảng đã ‘cầm cố’ cho Tàu cộng từ lâu;

– Hồi nhỏ cứ tưởng muốn thành tiên thành thánh thì phải tu thân tích đức,
Lớn lên mới biết gian manh xảo trá, độc ác nướng vài triệu người như bác Hồ, bác Giáp cũng được thành thánh thành tiên;

– Hồi nhỏ cứ tưởng tiền cứu trợ thiên tai là dành cho dân,
Lớn lên mới biết là để cứu trợ cán bộ;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Cờ vàng là Cờ của bọn “Ngụy”,
Lớn lên mới biết Cờ vàng đã có từ thời Vua Thành Thái;

– Hồi nhỏ cứ tưởng đảng tàn sát địa chủ trong Cải Cách Ruộng Đất là để chia ruộng, chia đất cho dân nghèo,
Lớn lên mới biết đó là để đảng thu gom về cho riêng đảng;

– Hồi nhỏ cứ tưởng đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ đất nước,
Lớn lên mới biết đảng lãnh đạo nhà nước, quản lý nhân dân, làm chủ đất nước;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Quốc hội là vì dân,
Lớn lên mới biết tất cả chỉ là Bonzaï của đảng;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Hiến Pháp là văn kiện pháp lý cao nhất của tổ quốc,
Lớn lên mới biết Cương lĩnh đảng còn cao hơn nhiều;

– Hồi nhỏ cứ tưởng mình đang sống ở ngưỡng thiên đường cộng sản,
Lớn lên mới biết đang sống ở địa ngục trần gian.

[…]

Học sinh Miền Bắc & Đảng Còm Sỹ Lề Dân
danlambaovn.blogspot.com

Advertisements

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé !

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé !

Thái Lý

Vậy là tôi và nàng đã hẹn hò sau mấy tuần “chat” trên Too và facebook. Ngồi trong quán café mang tên Yesterday mà tôi đã kỳ công lựa chọn qua internet trong số hàng chục quán cafe khu vực Phú Nhuận. Trong lúc chờ nàng tới, tôi lẩm nhẩm mấy câu thơ trong bài Ngập ngừng của Hồ Dzếnh: “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé! Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân. Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần…”. Nói chơi vậy thôi chứ khuôn viên cái quán café Yesterday này nhỏ xíu làm gì có sân mà đi dạo. Tôi đốt điếu Con Mèo nhã khói cho đỡ sốt ruột rồi nói khẽ: “Gớm, làm sao nhớ thế?”. Nhớ cái con khỉ (bây giờ tôi bắt đầu lây cách… comment trên facebook của nàng rồi), tôi thấy mình lãng xẹt, chưa gặp nàng lần nào làm sao có cái vụ nhớ nhung, nhung nhớ.

Không gian quán café Yesterday thực sự ấm cúng, rất thích hợp cho những đôi tình nhân hoặc những người tri âm, tri kỹ ngồi tâm sự, vậy là tôi đã chọn đúng quán. Tiếng đàn piano mở màn bài Yesterday của ban nhạc huyền thoại The Beatles: Yesterday, all my troubles seemed so far away… Đúng quá, hôm nay lần đầu gặp nàng, những phiền muộn, ưu tư hãy để nó qua đi, hãy vui lên ông bạn! Tôi đề nghị chú nhạc công piano của quán chơi tiếp bài Mộng dưới hoa của Phạm Đình Chương (phổ thơ Đinh Hùng) cho đúng… tâm trạng khi yêu, rồi hát nho nhỏ theo: “Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng, có nàng thiếu nữ đẹp như trăng, mắt xanh là bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn tôi không nói năng…”. Thực ra tôi đã gặp nàng trên Too và facebook, ảnh avatar của nàng với gương mặt ngó nghiêng thật đẹp, cặp mắt ươn ướt, long lanh, nét buồn xa xăm, quá hợp gu. Thêm cái vụ Twoo nó phán rằng sở thích tôi và nàng có đến… 99,9% phù hợp, nhất là về âm nhạc (lại nhạc), tôi chết chắc rồi.

Cái tật thích đủ thứ của tôi suy cho cùng sướng thì có sướng nhưng ngẫm lại cũng có lúc khổ triền miên nhất là cái vụ yêu thơ, yêu nhạc, cho tới điện ảnh vì những món này luôn liên quan đến… phụ nữ. “Hơn nữa đời hư” (nói theo cụ Vương Hồng Sển) mà cái hội chứng yêu đủ thứ này vẫn còn đeo đẳng.

Tôi nhìn đồng hồ, đã ngồi hơn nửa tiếng đồng hồ mà nàng chưa tới, lần hẹn đầu tiên sao trục trặc dữ vậy trời ? Tôi bấm điện thoại di động, có chuông nhưng nàng chẳng nghe, chắc đang trên đường tới. Tôi bấm điện thoại lần nữa đầu dây kia có một giọng nữ trong trẻo, như tiếng chuông ngân: “Xin lỗi, anh lộn số rồi”. Nãy giờ chờ nàng tôi chưa gọi đồ uống, ly trà đá quán đãi tôi đã nốc sạch, đốt hết 3 điếu Con Mèo, nàng vẫn chưa tới. Vậy là nàng cho tôi leo cây thiệt rồi. “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé! Tôi sẽ trách, cố nhiên nhưng rất nhẹ”. Tại tôi muốn vậy mà, đúng ra phải là “Em đã hẹn xin em đừng thất hứa!” .

Chẳng lẽ tính tiền trà đá, tôi vừa gọi ly café thì tiếng chuông điện thoại réo vang, nàng a lô: “Anh hả, ngồi đâu vậy anh ?”, tiếng nàng nói tôi nghe như đã quen nhau từ… kiếp trước. Thú thật trái tim tôi lúc đó đánh săng-cốp như muốn rớt ra ngoài, tôi không biết dung nhan nàng có giống trong ảnh không. Trời ạ, thời buổi kỹ thuật số, thợ nhiếp ảnh và photo shop có thể biến một lọ lem thành công chúa.

Vậy là nàng đã tới đúng vào phút 89, thời điểm mà khán giả trong một trận đá bóng hay bỏ đi về hoặc tắt tivi “go to bed”. Nàng đã làm một cú tắc-lin ngoạn mục khiến gã tiền đạo lơ ngơ ngã sống xoài trong vòng cấm tình yêu, để rồi cho hắn hưởng quả đá penalty ngọt ngào đúng vào phút bù giờ. Trong thực tế, quả penalty lại là quả khó đá nhứt (như chú Hai Trầu ở Kinh Xáng Bốn Tổng từng nói),  nhiều danh thủ đã phải khóc lóc vì đá hỏng quả này. Em đã hẹn và em đã đến, vậy mà suýt chút nữa tôi đã trách móc oan cho nàng cái tội thất hứa. Đời là thế đó, cái gì đến nó cứ đến, muốn hay không muốn nó vẫn cứ đến, có khi ngoài vòng kiểm soát. Có những cái mình tưởng như chắc ăn như bắp thì nó lại cứ vuột ra khỏi tầm tay, có cái mình tưởng chừng như xôi hỏng, bỏng không thì nó lại lù lù xuất hiện, “happy ending” ngoài mong đợi như trong điện ảnh Bollywood.

Tôi vừa hân hoan đứng dậy thì nàng đã bước vào quán. Tôi vẫy tay  thì thầm, anh đây mà, tôi đã thuộc lòng gương mặt của nàng qua ảnh rồi nên chẳng sợ nhầm. Dưới ánh sáng mờ ảo, lung linh của quán café Yesterday, tôi ngắm nàng… từ đầu đến chân, giống như ảnh avatar, nhưng trông bên ngoài nàng có vẻ tươi tắn, yêu đời hơn (có lẽ do nàng có hẹn với tôi chăng?). Thấy tôi nàng nhoẻn miệng cười. Trời ạ, nàng cười còn đẹp hơn lúc nàng… buồn man mác trên Twoo, nụ cười làm tôi trở nên mụ mẫm, giống hệt thằng cha Adam sau khi xơi trái cấm. Anh chờ em có lâu không? Tôi trả lời như cái máy, oh không lâu lắm đâu em (mới có gần 1 tiếng thôi mà). Nàng biện minh lý do nàng đến trể rằng nhà nàng cách khá xa, cái quán này nàng chưa từng tới bao giờ, phải hỏi đường và rằng nàng đi đâu thường có người chở (ai nhỉ?) nên ít để ý đường xá… “Tôi sẽ trách – cố nhiên! – nhưng rất nhẹ”. Trách cái khỉ khô gì ông bạn ? Trách nàng đến trể ư ? Nàng đến là quá ok rồi, chờ tới nữa đêm cũng rán chờ nữa là, gặp được nàng là may lắm rồi ông tướng.

         Đêm đó nàng diện bộ đầm công sở với áo màu cam cùng chiếc váy đen vừa vặn, ôm lấy thân người trông rất bắt mắt (xét về khía cạnh thời trang nàng cũng thuộc loại sành điệu đấy). Lúc nàng chăm chú chọn thức uống trong thực đơn tôi lén nhìn nàng, gương mặt nàng không đẹp như trăng, không mắt xanh hoang dại theo kiểu thơ Đinh Hùng miêu tả, nàng đẹp theo cái kiểu duyên dáng, đáng yêu làm sao ấy (khó tả thế). Nói tóm lại cho đỡ dài dòng văn tự: nàng đẹp, và kết luận luôn: tôi đã…love her at the first sight. Tôi cố tìm trên gương mặt nàng xem có khiếm khuyết gì không, nốt ruồi, tàn nhan, sẹo… nhưng không thấy (mà nếu có cũng nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ).

Nàng gọi một ly kem, vừa nhắm nháp vừa trò chuyện cùng tôi, về chuyện đời, chuyện người, rồi chuyện nhạc, đề tài mà nàng thích nhất và cũng là đề tài muôn thuở. Tôi như tướng quân giữa mê hồn trận, về nhạc nàng biết khá nhiều và nói chung những thể loại nhạc, bài hát nàng thích đều nằm trong tủ… kiến thức của tôi (cái gì không biết thì chịu khó lấy smart-phone search một phát là xong ngay í mà). Sở thích nghe nhạc của nàng gần như giống tôi, thích tình ca và hơi hoài cổ một tí: những tình khúc vượt thời gian (theo cách gọi của giới sành điệu). Mới gặp lần đầu nhưng tôi có cái cảm giác như đã quen nàng từ đời tám hoánh, nàng chuyện trò rất thân mật, tự nhiên, hay cười và tạo cho tôi cảm giác thật gần gũi, dể chịu. Tôi ngồi bên nàng, đê mê hít thở cái không khí huyền diệu, ấm áp của buổi đầu gặp gỡ, trong tiếng đàn piano réo rắc những bài tình ca của Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, rồi những bài nhạc trữ tình nước ngoài. Em thích bài này không ? Em thích. Anh có thích không ? Anh cũng vậy, rất rất thích nữa là khác. Nàng hỏi tôi, rồi tôi hỏi nàng sau những bài độc tấu piano của quán, giống như điệp khúc của một bài tình ca không bao giờ chán. Nàng bảo nàng hát nghe cũng được lắm (hát được với hát hay cũng gần gần nhau thôi mà). Tôi ỡm ờ, em hát được ha em gái? Lần sau anh em mình đi karaoke nha? Nàng suy nghĩ một tí rồi khẽ gật đầu đồng ý (nếu có dịp) làm tôi sướng tỉ tê.

Trước khi kết thúc đêm hội ngô, tôi đề nghị chú nghệ sĩ đánh đàn piano bài Woman In Love, bài hát tôi thường nghe vào đầu thập niên 80 ở mấy quán cafe hồi còn đi học ở Sài Gòn (do ca sĩ Barbra Streisand hát). Nàng nói biết bài này và khen hay đáo để (đúng tâm trạng chăng ?). Đúng ra phải là Man In Love mới đúng vì chắc chắn là tôi… đã yêu nàng, còn nàng có… love me at the first sight hay không thì có trời mà biết.

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé (nhưng em vẫn cứ đến, mừng quá!). Em tôi ơi tình có nghĩa gì đâu? Nếu là không sơ luyến buổi ban đầu…”. Vậy là tôi đã có một buổi tối ngọt ngào bên nàng nhạc mới quen. Cái buổi ban đầu sao đẹp thế, ấm cúng, nhẹ nhàng, bay bổng trong âm nhạc, trong tiếng đàn piano ngọt ngào của quán Yesterday. Cảm ơn nàng đã cho tôi một buổi tối tuyệt diệu..

Tôi và nàng còn gặp nhau vài lần sau đó, lúc đi café nghe nhạc, lúc đi hát karaoke (nàng có một giọng hát rất ngọt ngào và tự nhiên), chúng tôi thật sự hợp nhau về sở thích âm nhạc, ngồi với nhau hàng giờ không chán.  Nhưng cuối cùng chuyện tình hai đứa vẫn không đi tới đâu vì mỗi người một hoàn cảnh, vì ngoài âm nhạc ra, cuộc sống vẫn còn nhiều thứ khác. Nàng thú thật là cũng rất yêu tôi nhưng nàng không muốn sống ở Việt Nam. Nàng cứ lững lơ con cá vàng, khiến lòng tôi buồn hiu hắt. Cho đến một hôm, nàng thông báo chuẩn bị lên xe hoa với một anh Việt kiều để về nơi xứ sở cờ hoa. Đêm cuối cùng gặp nhau, trước lúc nàng ra đi đúng vào mùa Giáng sinh (nàng đạo Công giáo), nàng hát tặng tôi bài “Last Christmas” (tiếng Anh nàng khá hơn tôi), tôi trả lễ nàng với “Cho lần cuối” của Lê Uyên Phương. Hát xong tôi thấy mắt nàng thoáng buồn và ngân ngấn nước, đẹp lạ lùng, giống hệt tấm ảnh ngó nghiêng buồn man mác mà tôi đã gặp trên avatar thuở nào. Dù xa nhau, tôi và nàng vẫn coi nhau như bạn qua âm nhạc, qua facebook. Thôi thì đành tự ru lòng, tình chỉ đẹp khi còn dang dỡ, tôi cầu mong cho nàng luôn được hạnh phúc và may mắn (vì nàng xứng đáng được hưởng điều đó).

Và cho đến bây giờ tôi vẫn không quên cái thuở ban đầu lưu luyến ấy ở quán Yesterday, để rồi ngâm nga “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé. Em tôi ơi tình có nghĩa gì đâu? Nếu là không sơ luyến buổi ban đầu…” Cám ơn nhà thơ Hồ Dzếnh đã có một bài thơ tuyệt cú mèo, “cho nghìn sau… lơ lững… với nghìn xưa”./.

Thái  Lý

nguồn: thatsonchaudoc.com

Tâm sự của một cựu Sinh viên Luật khoa Sài Gòn

Tâm sự của một cựu nữ SV trường Luật Sài Gòn

Cao Đồng Phước

Chỉ vài ngày sau khi Sài Gòn mất là hai người bạn ấy đến thăm tôi. Phan hoạt động nội thành, còn Trần thì từ bưng biền trở về. Cả hai tiếp thu Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, và họ gặp em gái một người bạn thân của tôi lúc ấy hiện là Sinh Viên QGHC nên biết tôi đã di tản từ Đà Nẵng vào Sài Gòn, vì thế họ đã tìm đến thăm tôi. Biết tôi vừa sinh cháu trai chỉ được mười mấy ngày nên hai người khi đến, đã cầm theo quà tặng là một hộp sữa bột.
Tôi chua chát nghĩ thầm: “Hai người đến để nhìn cho thật rõ mặt kẻ thua cuộc hôm nay là tôi đấy à!” Nhớ ngày khi tôi vừa mới bước chân vào trường Luật Sài Gòn thì tất cả bọn họ đều là những học huynh của tôi, kẻ thấp nhất cũng học trên tôi một lớp. Có người năm thứ ba, và có kẻ đã cao học. Cả cái nhóm Ban Xã Hội Luật thuở ấy đã cùng nhau sinh hoạt thật là vui vẻ dễ thương. Những buổi sáng đến trường khi trời còn tờ mờ nên vào giờ đổi lớp đầu tiên là chúng tôi gộp tiền nhau lại để một người trong nhóm chạy ra bưu điện mua bánh mì Hương Lan đem về rồi cùng nhau ăn sáng, cười đùa. Cuộc đời sinh viên của chúng tôi đã mở ra êm ả theo với “con đường Duy Tân cây dài bóng mát”, rộn rã những tình thân và những giấc mộng đời xanh ngát.
Trong nhóm, tôi thân nhất với hai anh Phan, Trần, và với Lâm. Lâm sau này đã rẽ bầy, qua Quốc Gia Hành Chánh. Hiện nay Lâm đang sinh sống ở Melbourne, Australia, và hiện đang là “the webmaster” của một website chống cộng rất cực đoan, kiểu chống Cộng gây nơm nớp lo âu cho những bạn bè quan tâm. Khác với Lâm mà cuộc sống lúc bấy giờ có phần khó khăn, Phan và Trần đều là hai công tử con nhà giàu nhưng đã lao đầu vào những công tác xã hội một cách nhiệt tình và triệt để, khiến tôi lúc ấy vô cùng thán phục! Họ không giống như hầu hết các sinh viên thời thượng Sài Gòn thuở ấy, ngày Chủ Nhật là ra ngồi ngất ngưỡng ở Brodard, ở La Pagode, để tán hươu tán vượn và rửa mắt với phố xá dập dìu tài tử giai nhân, thụ hưởng thứ thanh bình xa xỉ trong lòng một đất nước đang lửa khói chiến tranh. Hai thanh niên này đã cùng với dăm ba người bạn của họ lần mò vào những khu xóm nghèo nàn để dạy đọc, dạy viết chữ, và dạy những phương pháp giữ gìn vệ sinh căn bản cho các trẻ em sống ở đó. Ôi những trái tim nhân ái tràn đầy lý tưởng bao la trong ngưỡng mộ của tôi!
Cho đến một hôm thì thông cáo dán đầy trường Luật, tố cáo những tên sinh viên Cộng Sản đã ẩn núp trong Ban Xã Hội, trong ấy có Phan, có Trần và một số các tên tuổi khác nữa! Tôi ngẩn ngơ để thấy rằng thì ra mình non nớt quá! Nhưng thật may, ngoài những công tác xã hội để phục vụ cho sinh viên lúc bấy giờ như liên lạc với Hợp Tác Xã Nguyễn Huệ để mua vải giá rẻ về bán cho sinh viên hay tham gia cùng với các trường bạn trong công tác quyên góp giúp đỡ các đồng bào bị thiên tai bão lụt thì tôi chưa hề bị họ lôi cuốn xa hơn vào những mục đích chính trị riêng tư của họ. Dòng đời cứ thế đã trôi nhanh, đẩy đám bạn bè chúng tôi mỗi người lưu lạc một hướng! Tôi yên thân vào làm việc ở một ngân hàng lớn. Phan và Trần sau đó cũng phải khoác vào người bộ quân phục. Một hôm Phan tìm đến thăm tôi, cho tôi biết Trần hiện đang sống ở Pleiku, không bị đưa đi tác chiến vì được một vị quan lớn giữ lại làm việc văn phòng để ngày ngày đến nhà dạy kèm cho các con của ông ta học. Còn Phan thì nhờ núp bóng cậu là một vị Đại Tá (cũng là cha nuôi anh ta từ ngày anh ta mồ côi cả bố lẫn mẹ) nên cũng được tạm yên thân. Bẵng đi một dạo, bỗng một hôm Phan lại đến tìm tôi để cho tôi biết rằng Trần đã trốn vào bưng! Phan nói: “Anh cũng muốn được như Trần nhưng anh không thể, vì anh không thể nào gây liên lụy đến cậu của anh!” Rồi Phan lại trầm ngâm bày tỏ thêm: “Anh bất lực và hèn quá phải không vì cứ phải cúi đầu nhẫy nhụa sống trong một xã hội quá thối tha và bất công!” Tôi khẳng định lập trường của mình: “Em thì lựa chọn Tự Do nên không thắc mắc gì khác hơn nữa hết! Xã hội này thối tha và bất công nhưng chúng ta cũng vẫn còn có thể xuống đường để chống đối kia mà!”
Tôi chỉ bày tỏ ngần ấy, còn đối với lựa chọn của họ, tôi không có ý kiến. Vì họ đều là những thanh niên trí thức và có lý tưởng nên tôi không ngu dại mất thì giờ để thuyết phục họ. Theo tôi thì tất cả mọi người hoàn toàn tự do trong chọn lựa của mình để đi con đường mà mình muốn đi.
Hôm ấy, sau ngày nước mất nhà tan 30 tháng 4 chỉ mấy hôm, hai vị học huynh này đến thăm tôi để ngầm cho tôi biết rằng tôi đã là kẻ thua cuộc trong chọn lựa năm xưa của tôi, hay nói rõ ràng và chính xác hơn, là kẻ chiến bại (?!)
Con đường tôi đã chọn lựa và đã đi, tôi sẽ vẫn mãi mãi đi, không bao giờ rẽ lối hoặc đổi chiều đâu, các anh ạ! Gặp lại các anh chỉ để tôi càng khẳng định hơn là mãi mãi chúng ta không bao giờ có thể đứng cùng chung một chiến tuyến! Không bao giờ! Gia đình tôi thuộc hàng ngũ “ đại ngụy” vì đã có đến bốn đấng nam nhi chi chí vác khăn gói cùng lên đường một lượt vào trại tập trung cải tạo: Hai ông anh ruột, một ông anh họ mà ba má tôi đã nuôi nấng từ thuở nhỏ, và phu quân của tôi. Ở nhà thì ông em út còn học lớp 11 của chúng tôi lại nổi loạn theo đám bạn bè đi dán truyền đơn “chống cách mạng” để rồi cuối cùng cũng theo chân các anh của mình vào nằm đếm rệp trong nhà tù!
Thêm một năm trôi qua, niềm hy vọng vào một sự lật đổ và đổi thay đến từ những sức mạnh vạn năng hải ngoại đã mỏi mòn dần, nhưng đôi mắt của đại đa số những người dân miền Nam chúng tôi thì mỗi lúc đã một sáng hơn để không còn một ảo tưởng nào về thiên đường Cộng Sản nữa. Ngay đến cả những cây cột đèn vô tri trên đất nước chúng tôi cũng ước muốn được rời bỏ quê hương, vượt biên tìm tự do, không phải có người đã nói như thế hay sao!
Một hôm, bỗng dưng tôi tình cờ gặp lại Phan. Tôi đã không thể ngăn được mình, buột miệng hỏi anh: “Cho đến hôm nay, anh vẫn còn thấy rằng con đường anh đã lựa chọn là lý tưởng hay sao?” Phan thành thật trả lời: Lý tưởng vì anh tưởng rằng có lý!” Lòng tôi đã chùng xuống trong một nổi cảm thương thay vì thù ghét bởi câu trả lời quá buồn bã, chua chát, và rồi chỉ nghe tội nghiệp cho một người đã một thuở nào trái tim mang đầy những mộng tưởng tốt đẹp. Anh ta chọn lầm con đường để đi, nhưng mộng tuởng của anh ta không sai trái. Công bằng để nói, cái xã hội mà trước đây chúng tôi đã sống quả thật cũng chả phải là một xã hội hoàn hảo gì. Xã hội ấy cũng đầy dẫy những bất công hiếp đáp, những cảnh con ông cháu cha bất tài vô tướng ăn trên ngồi trước, những mua quan bán tước, những lợi dụng chức quyền đến làm công phẫn lòng người ! Phan mơ ước một chế độ công bằng hơn, tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người dân, và điều này tôi có thể hiểu được. Nhưng tại sao Phan lại nghĩ rằng một chế độ độc tài sắt máu như chế độ Cộng Sản có thể giúp thực hiện giấc mộng này cho dân tộc thì quả thật tôi không cách nào hiểu được, không cách nào! Những ngày cuối còn ở Sài Gòn, tôi biết được rằng cả cái đám sinh viên Luật thiên tả ấy đang được đào tạo lại trong lớp pháp lý Cộng Sản để trở thành những viên chức hành chánh hay pháp luật thực thụ của chế độ vì đã bắt đầu bước qua giai đoạn mà đảng Cộng Sản Việt Nam phải sử dụng đến những người trí thức trong guồng máy của họ khi họ bắt buộc phải mở rộng cánh cửa ngoại thương để bước ra khỏi sự nghèo đói và lạc hậu.
Từ trại tị nạn Pulau Bidong, 3 mẹ con tôi đã được Canada tiếp nhận cho định cư, và hè năm 1999 tôi đã theo con gái tôi về Việt Nam để giúp cháu làm cái “tour package” của hãng “Premiere Tours” mà Việt Nam là một trong những địa điểm du lịch của “tour” này. Bạn tôi là Hoàng cứ khăng khăng bắt tôi phải đến gặp đám bạn cũ ở trường Luật ngày xưa: “Chị phải đến thăm họ với H. rồi mới biết! Các anh ấy vẫn quý chị lắm mà, để H. phone cho họ.”
Sự gặp gỡ thăm viếng này đều do một bàn tay sắp đặt của bạn tôi, và hai mẹ con tôi chỉ việc theo đuôi nàng mà thôi. Theo mệnh lệnh của Hoàng, chiếc taxi dừng lại trước một ngôi biệt thự kín cổng cao tường để cho 3 người chúng tôi bước xuống. Cái cổng sắt cao nghệu đến tôi không thể nào với tay qua được. Hoàng bấm chuông, và có gia nhân ra mở cửa. Trần và mấy người bạn nữa nghe tiếng chuông, cũng đang từ trong ngôi biệt thự to lớn, tươi cười bước về phía chúng tôi. Cánh cổng ngôi biệt thự vừa được mở ra là con gái tôi đã thảng thốt: “Eo ôi, nhà bạn của mẹ sao mà nguy nga và đẹp kinh khủng thế này!” Ấy là cháu đang sống ở Canada và đã được trông thấy bao nhiêu là nhà cửa to lớn đẹp đẽ nơi đây rồi!
Trước khi đến được ngôi nhà lớn, chúng tôi phải đi qua một khu vườn mênh mông có hồ nuôi cá sấu, hồ sen, hồ súng, và các loại cây kiểng được cắt xén tỉ mỉ thành hình chim công, chim phượng, cò, voi, thỏ, ngựa, vv….và vv…… Giữa khu vườn là ngôi nhà nghỉ mát hình bát giác với rất nhiều những hòn non bộ quanh đó. Quan sát tỉ mỉ khu vườn này một vòng, tôi hỏi Trần liền: “Anh làm sao có thể tự tay chăm sóc mấy con cá sấu và cắt tỉa các cây kiểng này chứ?” Trần cười: “Phải thuê người chăm sóc chứ!” Tôi nói: “Chắc tốn tiền bộn lắm!” Trần trả lời tỉnh bơ: “Mỗi tháng khoảng 1 cây vàng mà thôi!”
“Chỉ một cây vàng thôi!”, trái tim tôi bỗng dưng nhói thắt lại! Tôi nhớ đến bác xích-lô mà ngày mới về, hai mẹ con tôi đã gặp ở chợ Bà Chiểu, và từ đó sáng sớm tinh mơ nào bác ta cũng đến đậu xe ngay trước cổng nhà chúng tôi đang tạm ở. Chuyện trò hỏi han bác thì chúng tôi được biết mỗi ngày nếu may mắn, bác có thể kiếm được khoảng 1, 2 đô la Mỹ để đổi gạo cho gia đình. Có ngày không kiếm được một mối nào hết, bác phải vác xe về không, vì bây giờ các con đường mà xe xích-lô có thể chạy được bị giới hạn lắm nên ít du khách muốn đi xích-lô. Xích-lô chạy chậm, lại phải chạy lòng vòng trong trời nắng như thiêu như đốt và trong cả bụi bặm ô nhiễm của thành phố Sài Gòn, vì thế khó mời mọc được du khách! Mẹ con chúng tôi vì lòng “không nỡ” nên từ đó mỗi ngày đều phải ngồi xích-lô của bác để giúp, khiến mỗi buổi tối khi về đến nhà và lau mặt thì chiếc khăn mặt của cả hai đều đen như lọ nghẹ bởi khói xe Sài Gòn, còn da dẻ thì nước da trắng trẻo ngày mới về đã trở thành làn da rám nắng màu bánh mật! Vô vàn cảnh nghèo đói rất đổi thương tâm nữa được gặp ở ngay trong lòng thành phố Sài Gòn lộng lẫy mà tôi không thể nào kể xiết!
Bước vào bên trong nhà, sự sang trọng của giai cấp “quý tộc mới” này còn được trông thấy rõ ràng hơn với vô số đồ gỗ và các đồ vật quý giá được chưng bày khắp mọi nơi. Bắt đầu cuộc trò chuyện là tôi đã không ngăn được tôi phải mở miệng nói liền tức thì: “Nghe mấy bác xích-lô than thở mà tội quá, mỗi ngày lợi tức 1 đồng đô-la Mỹ có khi cũng không kiếm được thì làm sao có thể sống!” Trần trả lời ngay, cười cợt, dửng dưng: “Ồ, xạo đó, có khi họ kiếm được bộn lắm!” “Ba xạo? Bộn lắm là bao nhiêu hở? Có được 1 cây vàng như con số mà hàng tháng anh phải bỏ ra để nuôi cá sấu và chăm sóc cây kiểng hay không?” , tôi tự hỏi thầm trong nổi phẫn nộ đến lùng bùng tai óc! Nếu kẻ dửng dưng nói ra lời này chỉ là một tên VC tôi không quen không biết thì tôi cũng chẳng thèm lý đến để 3 có cái phản ứng giận dữ ấy vì với tôi: “Cái lũ đó, chúng là như thế mà!” Nhưng đây là vị học huynh mà tôi đã từng ngưỡng mộ. Vị học huynh khao khát công bằng xã hội và cơm ăn áo mặc cho dân tộc của anh ta. Vị học huynh đã từng hy sinh những ngày Chúa Nhật ngồi Brodard, Pagode, lặn lội vào những khu xóm nghèo nàn để lau tay, rửa mặt, để dạy đọc dạy viết cho những trẻ em lem luốc rách rưới không đủ điều kiện đến trường. Không phải là phẫn nộ mà là một nổi đớn đau thất vọng gần như là tuyệt vọng trong tôi! Một chế độ tham tàn đến như thế nào mà đã biến được người sinh viên quá trong sáng quá lý tưởng năm xưa trở thành một kẻ hoàn toàn không còn chút nhân tính hiện đang ngồi trước mặt tôi đây (???!!!)
Buổi tiệc chào đón tôi đã được bày biện trong căn nhà nghỉ mát hình bát giác (giống như lầu uống rượu ngắm trăng của các vị đại phú gia hay vua chúa Trung Hoa thời cổ xưa) với những món ăn đặc biệt và đắt tiền được nhà hàng đem tới. Bạn bè ngày xưa khá đông, trong số ấy dĩ nhiên có cả anh Phan. Nhưng cũng có dăm ba người lạ mặt với tôi mà tôi đoán là những kẻ đến để nịnh bợ chủ nhân lúc đó đang là một vị Giám Đốc Công Ty Xuất Nhập Khẩu TP HCM.
Tôi ngồi vào bàn và chỉ ăn uống lấy lệ vì không còn một chút hứng thú, điên tiết bởi câu bợ đỡ thối tha từ miệng ông thầy dạy Anh Văn của Trần khi tự cho rằng ông ta “đi Mỹ chỉ để làm một thứ ăn mày Mỹ mà thôi!” “Biết mình đi Mỹ chỉ để làm một thứ ăn mày mà vẫn đi thì đúng là một kẻ sĩ vô liêm sĩ!”, tôi búa liền một búa! Buổi tiệc hội ngộ từ giây phút ấy nặng nề mùi thuốc nổ từ vị khách quý được ưu ái mời đến là tôi, khiến mọi người yên lặng như tờ. Tôi cũng mong có người đứng dậy ra về để đứng dậy theo, nói lời cám ơn và giã biệt gia chủ cho thật nhanh. Cũng trong chuyến về Việt Nam rất ngắn ngủi này, tôi đã có cơ hội hơn những kẻ về thăm quê hương khác, được chứng kiến hoạt cảnh “tham nhũng tiếp nối tham nhũng!”
Hoàng không biết đã vô tình hay cố ý, đưa tôi đến nhà một vị luật sư tên tuổi của Sài Gòn ngay sau vụ án xử tử hình nhiều tay đầu sỏ tham nhũng của chế độ. Tôi ngồi đó để nhìn kẻ ra người vào lũ lượt suốt một ngày, mặc cả với vị “luật sư trung gian” về giá cả để án tử hình sẽ được giảm thành án chung thân, án chung thân thành án 30 năm, vv….và vv…., khi họ chống án.
Tôi ngồi để nghe họ mặc cả 300, 400, 500 cây vàng như chỉ đang nói đến 300, 400, 500 cây kẹo hay cây tăm thôi mà lạnh gáy!
Giai cấp tham nhũng này bị triệt tiêu chỉ để nuôi béo bở hơn một giai cấp tham nhũng khác mà thôi! Thật tội nghiệp cho đại đa số những người dân lao động Việt Nam lương thiện, dù quần quật đổ mồ hôi hay cả máu nữa, cũng vẫn không thểkiếm đủ cơm ăn áo mặc! Đó là kết quả sự chọn lựa của các học huynh tôi!
Một Phan rồi chỉ biết thụ động cúi đầu sống cho hết kiếp với sự chọn lựa sai lầm của mình, dù trong lòng có lắm chua chát và ít nhiều hối hận: ”Lý tưởng vì tưởng mình có lý!” Trần thì đã hoàn toàn thả trôi lương tri và mộng tưởng của anh ta theo với cái chế độ tham tàn để cùng quay khít khao một nhịp với cái guồng máy mà chắc chắn rồi một ngày cũng sẽ nghiến nát anh ta ra thành tro bụi mà thôi! Lại có một kẻ trăn trở chống chỏi trong chọn lựa để rồi cuối cùng đã phải buông tay ra đi trong tận cùng của tuyệt vọng!
Vĩnh Thọ là một phi công A-37 thuộc phi đoàn 524 tại căn cứ không quân Nha Trang. Anh đã thụ huấn ở Mỹ và trở về nước tháng 10/1968 với quân hàm Trung Úy. Trong một phi vụ bay huấn luyện đêm để duy trì khả năng và tái xác định hành quân bằng phi cơ A-37 thì không biết vì lý do gì, máy bay vừa cất cánh là bị rớt ở cuối phi đạo gần bờ biển. Thoát chết nhưng Vĩnh Thọ đã bị phỏng rất nặng ở đôi tay, khiến gân ở hai tay anh bị rút lại và gân các ngón tay cũng rút thành tật. Vì vậy mà từ đó, vị phi công A-37 này đã không thể tiếp tục nghiệp bay được nữa. Nhưng sau cái tai nạn máy bay A-37 bị rớt ngay tại bờ biển, đã nổi lên khắp mọi nơi ở Nha Trang quá nhiều những lời đồn đãi như những huyền thoại về vị phi công này: “Vĩnh Thọ là VC nằm vùng. Mỗi lần mang bom đạn đi hành quân thì Vĩnh Thọ thả bom lên quân bạn hoặc mang bom đi thả tầm bậy tầm bạ chứ không thả vào mục tiêu được phòng hành quân chỉ định, vv….và vv….”
Về chuyện Vĩnh Thọ có đích thực là VC nằm vùng hay không thì rồi từ từ chúng ta sẽ có nhận định chính chắn. Còn vấn đề cố ý thả bom ngoài mục tiêu chỉ định thì mới gần đây thôi, qua sự tìm hiểu với một người quen là một cựu Thiếu Tá Phi Công A-37 cũng cùng phi đoàn với Vĩnh Thọ ngày xưa, anh NVD hiện đang định cư tại Australia, tôi được biết một cách khẳng định rằng chuyện này tuyệt đối không thể nào! Theo anh NVD cho biết thì mỗi chiếc khu trục cơ khi đi hành quân chỉ có 1 pilot. Nhưng không bao giờ hành quân một chiếc đơn lẽ mà luôn luôn đi hợp đoàn tối thiểu là 2 chiếc, thường thì 3 chiếc. Lúc ấy Vĩnh Thọ chỉ là một “Phi tuần viên” phải bay theo sự hướng dẫn của “Phi tuần trưởng” thì làm sao anh ta có thể tách hợp đoàn để đi thả bom tầm bậy tầm bạ được chứ (???!!!) Anh NVD còn nói thêm: “Dẫn một hợp đoàn đi hành quân, vị Phi tuần trưởng để yên cho ai muốn làm gì thì làm à? Sau khi hoàn tất bất kỳ một phi vụ hành quân nào, nhiệm vụ của Phi tuần trưởng khi về đáp là phải báo cáo rõ ràng cho phòng hành quân : Phi vụ lệnh số mấy? Call sign là gì? Hợp đoàn bao nhiêu chiếc? Mang bom đạn loại gì? Toạ độ mục tiêu chỉ định là gì và ở đâu? Bom đạn thật sự đánh ở tọa độ nào, cách quân bạn bao xa (nếu có)…vv…và vv…
Tôi là một Phi tuần trưởng trước khi Vĩnh Thọ được bổ nhiệm về PĐ 524.” Sau khi anh Vĩnh Thọ không còn bay nữa thì thỉnh thoảng mỗi lần Ba tôi về Nha Trang nghỉ ngơi để viết lách và soạn bài vở cho khoá giảng tới, tôi vẫn thấy anh Thọ đến nhà đàm đạo học hỏi thêm với ông. Ba tôi vẫn khen anh Vĩnh Thọ thông minh và là người chịu khó đọc sách, khá có kiến thức. Nhưng ông lại lắc đầu: “Tiếc là hắn đang đắm chìm trong thiên đường ảo tưởng bằng pha lê của hắn!” Những lời đồn đãi nào rồi cũng phải lắng dịu xuống theo với thời gian. Về sau tôi không còn sống ở Nha trang nữa, và anh chị em gia đình tôi cũng di chuyển gần như toàn bộ vào Sài Gòn với Ba tôi, vì thế mà những việc đã xảy ra sau này ở Nhatrang, tôi không còn được biết gì hết.
Vận nước đổi dời, cuộc sống chúng tôi tất bật hơn xưa. Bây giờ ngày ba bữa lo cơm ăn áo mặc đã mệt nhoài, còn đâu thì giờ và tâm tư để thắc mắc đến chuyện của ai nữa cơ chứ! Thế mà bỗng một hôm, anh Vĩnh Thọ xuất hiện trước cổng nhà Sài Gòn của chúng tôi, ốm yếu và xanh xao như là một bóng ma! Bọn tôi đồng “Ồ!” lên một tiếng thảng thốt khi thoạt vừa trông thấy anh cà nhắc cà nhót, khập khểnh bước vào nhà. Ba tôi lúc ấy đang ngồi trong phòng khách nhìn ra bên ngoài nên trông thấy anh Vĩnh Thọ ngay, và ông cũng ngạc nhiên ú ớ không ra lời! “Thưa Bác, Bác có nhận ra con không?”, anh chào Ba tôi ngay. “À, Vĩnh Thọ phải không?”, Ba tôi cũng mừng rỡ lắm. Anh ngồi xuống và bắt đầu kể, không chờ đợi Ba tôi phải hỏi han: “Con lầm quá rồi Bác ơi! Con có tội! Con quá u mê! Bác ơi, con chính là người cương quyết trấn thủ Nha Trang và là một người trong đám tiên phong ra tận đèo rù rì nghênh đón bọn Vẹm vào! Con đáng chết!”
Rồi anh tiếp tục kể, như thể Ba tôi là cái hồ chứa để anh trút xuống nổi lòng, mong cầu vơi nhẹ bớt những ray rứt và hối hận: “Ban đầu con vào làm việc cho Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Khánh Hòa. Nhưng chỉ 3 tháng sau thôi, thưa Bác, là con đã thấy được bộ mặt thật của bọn Cộng Sản, và con quay qua góp ý, rồi phê bình, rồi chống đối! Kết cuộc chúng xiềng con vào chuồng cọp (phòng giam nhỏ xíu, chỉ đủ giam giữ 1 phạm nhân). Con chỉ được phép cho ra khỏi chuồng cọp vào những giờ giấc thẩm vấn mà thôi. Thay vì phải “phản tỉnh” thì con lại giận dữ chưởi bới tiếp tục nên lại bị cùm, rồi bị kéo lê kéo lết hết nhà tù biệt giam này đến nhà tù biệt giam khác, không một phút nghỉ ngơi! Cuối cùng, hai cái giò bị xiềng của con đã lúc nhúc giòi bọ, cơ hồ sắp phải cắt bỏ. Sau đó, con còn bị một cú tai biến mạch máu não tưởng đã đi theo ông bà, vì vậy chúng nó mới quyết định thả con ra vì con đã là người tàn phế rồi!”
Trong lần gặp gỡ này, Ba tôi chỉ lắng tai nghe anh Vĩnh Thọ nói chứ không hề phê phán hay góp ý, vì ông còn rất nghi ngại dè dặt. Ai là thù, ai là bạn của ta, thật khó mà có thể quyết đoán vội vàng trong không gian và thời gian này! “Bác ạ, con cho rằng muốn chống Cộng Sản thì chúng ta phải ở ngay trong lòng Cộng Sản, vì Cộng Sản nhìn từ xa xa thì rực rỡ như một con kỳ lân, dũng mãnh như một con sư tử. Hay nói cho có vần có điệu, chế độ Cộng Sản nhìn xa thì đẹp đẽ, nhìn gần thì chỉ là con chó ghẻ!”
Tôi nhớ mãi lời ví von cay đắng này của anh Vĩnh Thọ. Quả thật, anh Thọ đã là người hoàn toàn tàn phế khi được thả về! Áp huyết của anh cao đến đổi chúng tôi ai nấy đều lo sợ anh có thể ra đi bất cứ phút giây nào, và cơ thể anh suy nhược gần như toàn diện! Anh sống nương tựa người em trai còn độc thân ở một ngôi nhà nhỏ trên con đường Bắc Hải, gần Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa ngày xưa. Mẹ tôi nghe ai bày vẻ thức ăn hay món uống gì có thể giúp hạ áp huyết thì bà đều chính tay làm lấy rồi bắt chúng tôi đem đến cho anh, ước mong anh có thể kéo dài mạng sống. Nhưng rồi anh cũng phải ra đi! Tôi nhận được tin anh Vĩnh Thọ qua đời khi tôi đã định cư ở Canada. Giây phút nghe tin, tôi đứng lặng yên ở khung cửa sổ nhìn lên bầu trời xanh biếc đang trôi nhanh những đám mây trắng ngần như tuyết trắng, cầu nguyện cho linh hồn anh được an nghỉ trên đó, không còn phải trăn trở chống chỏi khổ sở với những ước mơ và lựa chọn quá hoang đường của anh nữa!
Dù lựa chọn của anh đã quá sai lầm và hoang đường, nhưng tôi thật sự ngưỡng mộ giấc mơ của anh cùng với ý chí cương quyết, dứt khoát không phản bội lại những điều tốt đẹp mà anh đã ôm ấp. So với biết bao nhiêu người mà lựa chọn chỉ là “làm kẻ đứng bên lề”, đất nước thịnh hay suy, mất hay còn, dân tình no ấm hay lầm than, đó chẳng phải là chuyện của họ mà chỉ là chuyện-phải-lo của một thiểu số người cầm quyền mà thôi, thì sự chọn lựa với một thái độ nhập cuộc thật tích cực và kiên cường của người phi công này xứng đáng được sự tha thứ cũng như ngưỡng mộ của tất cả chúng ta.
Tôi ước ao bài hồi ký này sẽ đến được tận tay hai vị học huynh Phan và Trần để có thể khơi dậy lại được trong trái tim họ một chút gì tốt đẹp còn rơi rớt lại của ngày xưa: Một chút lòng yêu nước thương dân. Một chút lý tưởng tranh đấu để thực thi công bằng xã hội, động cơ khởi đầu sự lựa chọn của họ. Xin cám ơn tất cả những “Chọn Lựa” đầy vị tha và tốt đẹp những “Chọn Lựa” đã vun đắp và tô điểm hoàn hảo lịch sử dân tộc tôi.
Cao Đồng Phước
Calgary, Canada
nguồn: PTAN

Tản mạn đôi dòng về cái sự “văn nô”

 

 Nguyễn Chính –

Tản mạn đôi dòng về cái sự “văn nô”

clip_image001_thumb

Có lần tôi được nghe ông K, một người rất mê đọc sách nói thế này : “Từ hơn ngàn năm trước, Khổng Tử đã dạy học trò của mình rằng, đã là trí giả thì không thể bị u mê, càng không thể vì mấy đấu gạo mà viết cho kẻ bất nhân …”. Tôi bảo : “ Chỉ vì được mấy đấu gạo mà viết cho bọn thất đức, thì là bồi bút rồi còn gì”. Ông K bảo ” Đúng vậy ! nhưng lũ bồi bút lại được sinh ra từ cái sự văn nô”. Tôi hỏi lại ” Văn nô là sao ?”. Ông K bảo ” Là sao, thì chú phải tìm hiểu. Chỉ biết cái sự ấy nó làm hỏng cả một nền văn học. Nó biến không ít kẻ cầm bút thành thứ mạt hạng. Nó …”. Tôi vội xua tay ” Thôi, thôi xin bác, xin bác, em sẽ tìm hiểu, sẽ tìm hiểu…”. Ông K liền nhìn tôi như kẻ xa lạ, nhìn từ đầu xuống chân, lại từ chân lên đầu, rồi chỉ vào tôi mà rằng : ” Nhìn chú kìa, mới nghe thế mà đã, trên thì mặt xanh như đít nhái, dưới thì vãi cả ra thế kia rồi, thì cầm bút thế đéo nào được”.

Hơn 20 năm đã qua, ông K bây giờ đã thành người thiên cổ. Còn tôi cũng dần ngộ ra rằng, thì ra cái sự “nô” ấy nó kinh khủng lắm. Cả một dân tộc, một đất nước đã từng là nô lệ. Bị nhốt chung trong cái cũi khổng lồ ấy nào là những nông nô, công nô, binh nô, trí nô và vân vân nô… Bằng núi xương, sông máu, lật đổ được cái kiếp nô lệ ấy rồi, thì không ai lại ngu muội chui đầu vào cãi cũi ấy nữa, trừ phi là bị phỉnh, bị lừa.

Còn cái sự văn “nô” ? Thấy tôi cứ lúng túng dây nhợ như gà mắc tóc mãi, một đồng nghiệp đã “đóng” vào tai tôi những lời như búa bổ : ”Nô, tức là cúc cung tận tụy, phụng sự cho bề trên, cho ông chủ. Như kiếp chó ấy. Bề trên bảo sủa to thì sủa to, bảo sủa nhỏ thì sủa nhỏ, bảo cắn thì cắn, thế thôi”. Nghe đồng nghiệp nói vậy thì biết vậy, nghĩ mình phận ếch ngồi đáy giếng, đọc chưa được bao nhiêu, viết cũng chẳng được bao nhiêu, lại toàn thứ vô bổ, chỉ đáng vứt sọt rác, nên nghe lời ông K, tôi phải tự lần mò tìm hiểu …

Khi cụ Đồ Chiểu vung bút với những câu âm vang như sấm ” Dù đui mà giữ đạo nhà …”, rồi ” Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” và khi cụ Tản Đà đầy khí phách “Xuống ngọn bút mưa sa, bão táp, vạch câu thơ quỷ thảm, thần kinh. Lũ mọt dân trừng trị bằng câu văn, người hiền sỹ tinh biểu bằng ngòi bút…” v.v…, thì cái sự “nô” ấy đã phải bạt xa rồi. Chưa hết, khi ở phương trời Âu đang ồn ào lý luận Mac-xít đưa quần chúng bần hàn lên tận mây xanh, bằng việc tấn phong họ là ” những người chân chính sáng tạo ra lịch sử”, thì cụ Tản Đà đã không ngần ngại chỉ thẳng ra cái sự thật bi thảm và “giáng” một búa nẩy lửa vào cái đầu còn tăm tối và cả tin của đồng bào mình, rằng ” Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn, Cho nên quân nó dễ làm quan”. Thiển nghĩ, với thiên chức góp phần hướng thiện con người, tôn vinh cái đẹp, thì người cầm bút phải tôn trọng sự thật, bảo vệ sự thật, vạch mặt giả dối, mị dân, bịp bợm. Mọi sự tô hồng, bôi đen, bóp méo sự thật nhằm phục vụ lợi ích của thiểu số kẻ cầm quyền, đều là kẻ thù của văn chương. Sự chân thực là phẩm giá của ngòi bút nên rất cao quý và thiêng liêng. Khi Liên Xô, thành trì của chủ nghĩa CS dưới thời Stalin mặc dù có cả một bộ máy KGB khổng lồ, nhưng một học giả người Nga vẫn lớn tiếng khẳng định ” Sự thật cao hơn tất cả, cao hơn nước Nga và cao hơn cả Lê-nin “. Được biết, lý luận văn học Xô-viết còn đẻ ra cái gọi là “hiện thực xã hội chũ nghĩa”, từng được các học giả Đông, Tây mổ xẻ xem nó là cái giống gì ? Đã “hiện thực” lại còn hiện thực nọ, hiện thực kia nữa. Cái ấm sứt vòi, nhìn từ mọi phía cũng không thể nào là cái bình pha lê được. Đúng là rặt một thứ “ný nuận nồn”, như cách nói ngọng của một bà bán mắm tôm nơi chợ quê. Cũng vậy, ở ta lâu nay còn có câu ” nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, một khái niệm không thể tìm thấy trong bất cứ học thuyết Đông, Tây, kim cổ nào. Ngay cả cụ tổ của CNCS là Kar.Max có tái thế chắc chắn cũng phải chào thua, không thể nào định nghĩa nổi. Nên nhà thơ Trần Mạnh Hảo mới có câu thơ thật mỉa mai ” khái niệm đưa ra không biết lối thu về”, là vì vậy.

Liên quan đến cái sự văn “nô”, có một vấn đề từng được nêu ra từ mấy chục năm qua, nhưng bị cho là “nhạy cảm” nên chỉ được “nhá xèng” lên tý rồi tịt luôn như pháo tịt ngòi. Đó là quan hệ giữa văn học và chính trị. Còn nhớ khoảng cuối 1990, một người bạn gặp tôi, hỏi : ” Này ! có một nhà thơ vừa đưa ra nhận xét là, văn học nghệ thuật cao hơn chính trị và xa hơn chính trị. Ông thấy sao ?”. Tôi liền khẳng định ngay : “Đúng ! đúng là như thế”. Không ngờ anh ta lồng lên ” Đúng, đúng cái con khỉ. Ông lúc nào cũng nằm mơ. Xa hơn, cao hơn cái nỗi gì. Chính trị là bố , là ông cố nội của văn học, thì có…”. Rồi anh dẫn ra nào Tần Thủy Hoàng; Hítler ; Mao v.v… Tôi liền hỏi lại : ” Vậy mấy bạo chúa ấy sống được 100 tuổi không ? Chết ngóm sau mấy chục năm cường quyền chứ gì ? Còn các tác phẩm văn học, nghệ thuật đích thực, thứ thiệt, thì sống muôn đời”. Và, để anh ta tâm phục, khẩu phục tôi đã lý giải nôm na thế này : Chính trị là phạm trù lịch sử, có nay không có mai. Lịch sử phát triển xã hội loài người hết chế độ này, thì đến chế độ khác. Triều đại nào thối nát, phản dân hại nước ắt sẽ sụp đổ và bị triều đại khác thay thế. Còn văn học nghệ thuật thuộc phạm trù vĩnh viễn. Các tác phẩm đích thực sẽ “bước” từ thời đại này qua thời đại khác, trở thành tài sản vô giá của nhân loại và bất tử. Các tác phẩm cổ điển, trung đại, cận đại v.v… là những minh chứng hùng hồn. Văn học nghệ thuật chân chính phản ánh chân thực ước mơ và khát vọng của nhân dân mình. Văn học, nghệ thuật chân chính (không phải thứ văn nô, bồi bút) luôn chỉ ra cho chính trị biết phải làm gì, làm thế nào để an dân, để được lòng dân. Bởi chính trị muốn tồn tại, thì phải được lòng dân. Nên văn học nghệ thuật cao hơn chính trị là ở cái lẽ ấy, vân vân và vân vân …

Cái sự văn “nô” còn liên quan đến bản lĩnh, khi phách người cầm bút. Phùng Quán , một nhà thơ “Nhân văn giai phẩm” rất đáng kính từng có tuyên ngôn rằng ” Dù ai ngon ngọt nuông chiều cũng không nói yêu thành ghét. Dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu…”. Ông Trường Chinh (Sóng Hồng), nếu tôi nhớ không nhầm cũng từng có câu : ” Lấy cán bút làm đòn xoay chế độ. Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Theo tôi, Những câu thơ này của Phùng Quán và Trường Chinh có giá trị thời đại rất cao, vì nói lên được bản lĩnh và tâm huyết người cầm bút. Không biết, Hội Nhà Văn VN có cho dịch ra nhiều thứ tiếng để gửi đến các văn nghệ sỹ đang phải sống trong những chế độ độc tài, phản dân chủ tại Hội nghị giới thiệu văn học VN ra nước ngoài vừa qua, hay in ra hàng ngàn bản cho bóng bay gửi lên kính cáo với trời đất, sông núi nước mình trong Ngày “Đại lễ thơ VN” hoành tráng rằm tháng Giêng Canh Dần vừa rồi ? Nhân đây xin nhắc lại một chuyện nhỏ. Trong một hội thảo ở Nha Trang về phát triển nông nghiệp của một tỉnh miền Trung hồi cuối thập niên 1980. Giờ giải lao, cánh nhà báo tụ tập ở hành lang, to nhỏ bàn chuyện trên giời, dưới đất, chuyện dân dã, chuyện triều đình … Anh Bốn T, tuy là một cán bộ chủ chốt của tỉnh PY, nhưng tỏ ra rất bình dân với cánh phóng viên, cũng đến góp chuyện. Chuyện trò một hồi, bỗng anh trầm ngâm giây lát rồi phán một câu xanh rờn : ” Đúng là cánh nhà văn, báo chí, văn nghệ sỹ chúng mày, thời nào cũng chống chính quyền …”. Lập tức một đồng nghiệp trong chúng tôi trả lời ngay : ” Anh Bốn nhầm rồi ! Không phải chống chính quyền mà là chống cường quyền. Thời nào những người cầm bút cũng chống lại cường quyền …”. Tất cả chúng tôi cùng cười vang tán thưởng.

Lẽ thường người cầm bút (nhà thơ, nhà văn v.v…) không thể làm điều ác, điều thất đức và càng không thể dùng ngòi bút để bảo vệ cái ác. Những nhà văn, nhà thơ nào còn coi CNCS là lý tưởng của đời mình , chắc càng không thể quên lời giáo huấn của cụ Kar.Max, rằng ” Chỉ có loài súc vật mới quay lưng lại với số phận người khác …”. Đến nay, ai cũng biết, “cải cách ruộng đất” từng được coi là ” cuộc cách mạng long trời lở đất”, là một đại họa đối với nông dân và nông thôn nước ta hồi giữa thập niên 1950. Vì thế, tôi không thể tin câu thơ đầy máu lạnh sau đây lại phát ra từ con tim của Xuân Diệu – một nhà thơ tình :

“Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ chúng nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống đọa đầy chết thôi”

Các nhà lý luận đã chia nền văn học nước ta theo từng giai đoạn, hoặc theo dòng này, dòng kia. Với riêng tôi, “Dòng hiện thực” (trước 1945) với những tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố; Nguyễn Công Hoan; Vũ Trọng Phụng ; Nam Cao v.v…là sáng giá nhất. Tác phẩm của các ông, chứng tích bằng văn học của một thời khốn nạn sẽ còn mãi với thời gian và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm của các ông, cho đến nay hình như vẫn còn đó :

“Đã rằng Bá Kiến hết rồi
Mà sao anh Chí ba đời còn đây ?”
(*)

Rõ ràng, trong đêm đen của “Tắt đèn”, trong hũ nút của “Bước đường cùng”, trong nhốn nháo, tha hóa, giả dối, đĩ điếm, lừa phỉnh, bịp bợp, mị dân, đạo đức giả … của “Số đỏ”, thời kỳ văn học này vẫn sản sinh được cho hậu thế những tên tuổi gắn liền với NHÂN CÁCH LỚN CỦA NGƯỜI CẦM BÚT.

Từng có người nói rất đúng rằng, nhà văn, nhà thơ là do “Tổ chức Trời” phân công. Thực ra là trời bắt “tội”, trời hành xác họ. Còn họ thì tự nguyện cho cái sự bắt tội và hành xác đó. Thế thì thì khuynh hướng sáng tác, quyền sáng tác phải thuộc về chủ thể sáng tạo là họ. Vậy tại sao cuối thập niên 1980 của thế kỷ trước, Nguyễn Minh Châu phải viết “lời ai điếu” cho một thời kỳ văn học? Có lẽ theo ông đó là thời “tụng ca,minh họa”. Nếu đúng vậy, thì thành tựu của thời kỳ này giá trị thế nào, hoành tráng đến đâu, có lợi cho ai, gây hại cho cái gì, đã được thời gian sàng lọc, trả lời rồi. Mọi người đều biết cả. Thiển nghĩ, dù Nguyễn Minh Châu không viết lời “ai điếu” thì những sản phẩm tụng ca, minh họa rẻ tiền một thời kiểu như … kiểu như … cũng sẽ lần lượt chết ngóm. Có những tên tuổi từng là trụ cột của nền văn học, nghệ thuật một thời như ông nhà văn Nguyễn Khải, đến cuối đời mới giật mình “Đi tìm cái tôi đã mất”, như ông nhạc sỹ Tô Hải mới cay đắng nhận ra mình là “một thằng hèn” (cho dù là trường hợp “thằng hèn” của ông Tô Hải đang và sẽ được lớp hậu sinh kính trọng), thì cũng là quá muộn. Lấy ngay ví dụ về tác phẩm “Tầm nhìn xa” minh họa, tụng ca cho phong trào hợp tác hóa nông nghiệp của Nguyễn Khải. Không biết ông nhà văn này có “tầm nhìn” xa cỡ nào, được mấy tấc, mấy thước, mà ngay hồi ấy trong dân gian đã có vè chửi cái mô hình hợp tác xã nông nghiệp “thằng còng làm, thằng ngay ăn” này rồi. Thôi thì “gặp thời thế, thế thời phải thế”, vì niêu cơm, vì mấy đấu gạo mà phải tụng ca, minh họa, còn cho là tạm thông cảm được. Nhưng đến cái sự văn “nô” hướng thượng, sun xoe, tới mức có cả một câu cửa miệng của người đời ” thằng đéo lào mà lịnh thế ?”, thì không biết còn có nền văn học thời hiện đại nào của nhân loại trên hành tinh này, nảy nòi ra được những văn sỹ như thế ? Vâng ! trăm năm bia đá cũng phải mòn . Nhưng những câu thơ “lịnh” mà tôi dẫn ra dưới đây của ông Tố Hữu, thì không biết đến kiếp nào “bia miệng” thế gian mới hết nói lời xấu hổ ? Quả thật, bất cứ người Việt Nam nào có lòng tự trọng với nguồn cội con Rồng cháu Tiên của mình, đều cảm thấy bị xúc phạm, khi phải lướt mắt thôi ( đọc lên là nhục lắm, xấu hổ lắm).

Lúc Stalin chưa chết và rất có thể ông ta vừa ký chưa ráo mực những sắc lệnh khủng khiếp, khiến hàng chục ngàn người vô tội bị khủng bố, bị sát hại, hoặc bị đưa đi lưu đày ở Xibêri ( trong đó có cả những văn nghệ sỹ nổi tiếng, sau này được nhận giải Nô ben). Chính Tổng thống Nga Putin cũng phải thừa nhận, rằng ” Những người bị thảm sát, khủng bố là những con người ưu tú nhất, có trí tuệ nhất và là những người can đảm nhất của nước Nga và Liên Xô thời đó”. Vậy mà, không biết xuất phát từ tình cảm gì Tố Hữu, một nhà thơ của cách mạng lại có mấy câu thơ hướng thượng, nghe vong bản đến buồn nôn là : ” yêu biết mấy nghe con tập nói, tiếng đầu đời con gọi Stalin”. Còn khi Stalin chết, không biết có họ hàng hang hốc gì với ông ta không mà Tố Hữu, một người Việt Nam (chắc chắn là chưa hề được gặp Stalin) đã có thơ khóc với theo quan tài cách cả hàng ngàn cây số đường chim bay, bằng những lời đại bất hiếu với người ruột thịt trực hệ của mình, thế này: ” Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một, thương ông thương mười”. Ôi! Lời thơ khóc mới thê lương, thảm thiết làm sao, nếu át được tiếng phèng la, tiếng nhạc chói tai, nhức óc của đội kèn đồng đưa đám, để Stalin nghe thấy, chắc “ngài” cũng thấy nhột, phải lập tức bật nắp quan tài ngồi dậy, mà rằng ” thằng đéo nào ở đâu mà lịnh thế !”.

Khoảng thời gian 1985 – 1990, bắt đầu xuất hiện và sau đó người ta nói nhiều đến hai từ “cởi trói”. Nào là, cởi trói cho nền kinh tế; cởi trói cho nông dân, cởi trói cho … v.v. Và, văn nghệ đã mừng húm vì cũng được “ban” cho hai từ “cở trói” này. Câu hỏi đặt ra là, ai đã “trói” văn nghệ ? “Trói” bằng cái gì ? Trả lời ư ! Ai cũng trả lời được, nhưng không ai trả lời. Lại cũng không ai muốn/dám trả lời cái mà mình có thể trả lời. Bi kịch thế đấy. Nhưng cũng có người phán tỉnh queo, rằng “có ai trói các anh đâu ! Tự các anh trói mình, rồi còn “trói” lẫn nhau đấy chứ ?”. Thế là thành bi, hài kịch. Than ôi! Có lẽ, chung quy cũng tại bởi cái tư duy văn “nô” của cái sự văn “nô”.

Tôi đã mang tất cả những “tản mạn” nói trên trao đổi với một bạn viết. Sau giây phút trầm ngâm, ông bảo ” Ừ ! kể cũng phải. Tiên trách kỷ hậu trách nhân, cái mình nghĩ trong đầu thì cường quyền, thời thế đéo nào “trói” được…. Chẳng qua là mình cứ tự huyễn hoặc mình, tự lừa mình, rồi lại mang cái sự lừa ấy để lừa nhân dân mình. Thế là giả dối, là khốn nạn, là lưu manh đấy ! “. Nghe ông nói, tôi giật mình nhớ đến bài thơ “Bi kịch hót” của anh Bùi Minh Quốc :

Tưởng bay ngàn dặm thơ
Hóa vòng vo nhảy nhót
Giữa cái lồng rất to
Tự đan bằng tiếng hót.

Bài thơ chỉ có mấy dòng mà cứa vào ta bao nỗi xót sa, cười ra nước mắt, thương cho con chim không tự biết rằng, nó đang “hót” theo, nhảy nhót theo, nhại theo lời ca và cái vũ điệu lăng nhăng, bát nháo, vô cảm của một thằng hề./.

(*) Thơ – Nguyễn Chính

Từ Hà Nội đến Sài Gòn. Từ di cư 54 đến di tản 75

Lời giới thiệu: Bài viết về năm di cư 1954 của tác giả Lữ Tuấn được coi là một tài liệu cô đọng nhất để thế hệ sau này hiểu rõ những gì đã xảy ra khi hiệp định đình chiến Geneve được ký kết. Tác giả là một thanh niên Bắc Kỳ di cư, nhập ngũ trường Võ Bị Đà Lạt, trải qua nhiều đơn vị và cuối cùng đã tồn tại sau 7 năm tù lao cải. Ông từ giã Hà Nội năm 1954 nhưng lại có dịp đi qua Hà Nội trong một đêm chuyển trại tù từ Việt Bắc vào miền Trung. Với những kỷ niệm đầy biến động và đau thương của cuộc đời một thanh niên, tác giả ghi nhận từng chi tiết đoạn đường đã trải qua với những nhận xét rất khách quan và chính xác. Lịch sử luôn luôn đã có những ngã rẽ khác biệt ảnh hưởng đến ngàn đời sau, bắt đầu từ một triệu người từ Bắc vào Nam 1954 và tiếp theo là 130,000 di tản đợt đầu năm 1975. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết đầy dữ kiện lịch sử 50 năm về trước của Lữ Tuấn.

Giao Chỉ
San Jose. Tháng 7, 2004

Tháng 6 năm 1954 đúng 50 năm về trước, là lúc mọi người trong vùng kiểm soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt cô cùng lo lắng và hoang mang sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng 20 tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan truyền nhanh chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia sẽ rút khỏi Nam Định và các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt doanh trại được tháo gỡ vội vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi Hà Nội. Kho đạn Nam Định cho phá hàng loạt đạn súng cối và đạn pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.

Bộ Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không hề lên tiếng về tình hình tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn tiếp tục công việc chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh Pháp, 14 tháng 7 năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin đồn ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác đác ở Nam Định.


Ba ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống liên tiếp. Khi đã chuyên chở gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân sự Nam Định bắt đầu cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ để đi Hà Nội.

Nam Định bắt đầu hoảng hốt thực sự từ ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối mù. Nhiều người chen chúc mua vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà Nội. Nam Định là nơi số doanh trại và binh lính dầy đặc nhất Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới nghiêm, thành phố vắng vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên tất cả chìm trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong bóng tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ giới nghiêm.

 
Đường phố Hà Nội, hình chụp vào tháng 7 năm 1954.

Gia đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công chức nơi mẹ tôi làm việc. Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người Pháp vào sở đưa một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này và gia đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải trưng dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi người phải có mặt đầy đủ trên xe.

Việc di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần lễ trước đó. Số người ngồi trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo đồ đạc gì nhiều ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn nhẹ.

Lệnh di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua trạm kiểm soát phía bắc hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà tôi nhớ là sau 8 giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe nào đến sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để tránh nhiễu loạn giao thông.

Hồi đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần áo, hình ảnh, giấy tờ cần thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và phải bỏ lại món nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố nói là để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi , người nuôi nấng tôi từ nhỏ không chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm cười can thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu.”

Mẹ tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với tốc độ không thua các tay đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô bạn mà tôi thương vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu đương.

Nàng đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu. Không rõ nàng có nhìn thấy tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu hết can đảm hôn gió trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió về nhà, trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến đi này sẽ lâu lắm., có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa bao giờ tôi phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình thế rất khó khăn nguy hiểm.

Quân cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy định. Tại trạm kiểm soát Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính hộ tống được cho khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ giải quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh đặt sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải phá nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua.

Buổi trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia đình tôi về ở nhà người thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt Minh tấn công. Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì còn lại.

Cuộc rút lui này tuy tiêu biểu cho việc Pháp thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành công. Dựa vào tài liệu của Pháp và thực tế quan sát thấy tại chỗ, cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân Khu Nam đã điều động cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất nhẹ không đáng kể. Đoàn quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch đánh chận.

Kế hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn thảo, trong đó chỉ có các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc đánh máy, chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc các tỉnh vùng này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt Minh bắt và giết hại.

Hà Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh bình không nghe tiếng súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo với những thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di tản 4 tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng vẫn không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật.

Lúc ấy hội nghị Geneve bắt đầu họp. Ai cũng thấy phe Cộng Sản đang nắm ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không biết sẽ đình chiến kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này năm 1972-73 người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào? Vĩ tuyến 13, 16 hay 19?

Đầu tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông đảo dân chúng chào đón ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn tình hình. Sau đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái chống Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn sàng tham gia việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ. Một số đông đảo đặt niềm hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ thay thế người Pháp.

Nhóm chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều hăng hái tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ Bắc Việt. Đêm đêm, chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc Sơn và nhiều nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu có không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.

Đường phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có những bóng dáng cảnh sát võ trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi tuần tiễu. Nhưng các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của Quân Đội Quốc Gia đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.

Ngày 14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình nắm đấm được thấy khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh phía Nam là bàn tay trước kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn. Tất nhiên ít ai tin vào luận điệu này.

Đám học sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng trước ngày 15 tháng 7 năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi tin tức và bàn luận về tình hình đất nước.

Chiều 21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ họp thì có tin trên đài Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời loan báo “Hiệp Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia ở sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.

Tân Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17/6/54, đã tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Geneve về Đông Dương được ký lúc sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng chạy từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.

Hà Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ Bắc Việt lịm tắt dần và dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một số bài trên báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt Minh. Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra vào Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có những chiếc máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn cờ đỏ sao vàng. Các cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.

Một số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi đến thăm và khuyên gia đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát ra đi. Sau đó 4 tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài Gòn. Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp thời ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.

Những gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày bán dọc bờ hồ Thiền Quang làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi những người đầu tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ đỏ sao vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi nóng trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.

Một trung tá người Pháp đi bộ ngang qua hung hăng can thiệp, lớn tiếng đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không được xúc phạm. Ông ta không ngờ những người bán chợ trời đều không ưa lá cờ máu ấy. Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.

Tin tức về di cư được loan báo chính thức vào đầu tháng 8. Nhiều nhà giầu đã đi vàoNam bằng phương tiện riêng. Đại đa số còn lại đợi ghi danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi từ Nam Định lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn cán bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã Hội thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm 1954 bốn đứa bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh quanh Hà Nội lần cuối.

Hình chụp vào tháng 9 năm 1954 với một số người Bắc di cư trên tàu USS Bayfield khi tàu vừa cặp bến Saigon. Sau Hiệp Định Geneve, tàu USS Bayfield là một trong những vận-chuyển hạm của Hải Quân Hoa Kỳ được giao phó nhiệm vụ chở người tị nạn từ Bắc vào Nam.

Sáng sớm 12 tháng 8 khi qua cửa kiểm soát phi trường Gia Lâm, một trung úy Nhảy Dù người Pháp hỏi chuyện chúng tôi vì thấy 25 đứa trong đoàn cán bộ xã hội toàn là thanh niên còn trẻ. Sau khi nghe chúng tôi nói rõ lập trường và mục đích ra đi, ông ta nắm tay chúng tôi giọng xúc động nói rằng, “Nước Pháp đã liên tiếp sai lầm để các bạn chịu hậu quả đau đớn hôm nay.” Nói xong không ai ngờ viên trung úy trẻ dưới 30 này bật khóc, nước mắt chảy dài trên má.

Chúng tôi cũng cảm động tuy nhiên vẫn còn cầm được nước mắt. Nhưng khi phi cơ lượn một vòng lấy cao độ, tất cả đều ngó xuống. Giữa tấm thảm mây mưa xám xịt che kín bên dưới phi cơ có một khoảng trống vuông vắn hiện ra Hồ Gươm và 36 phố phường. Cảnh tượng tuy tầm thường nhưng lại gây xúc động mạnh, khiến đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Đây là lần chúng tôi vĩnh biệt Hà Nội. Vĩnh biệt miền Bắc.

Sau những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất, cảnh những con rạch đỏ ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui hơn. Được đưa về nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội, ngày hôm sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của chính phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm 1954.

Nhờ vào dịp hè, các trường học vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để đón nhận người di cư đến bằng phi cơ quân và dân sự, các quân vận hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các mẫu hạm Anh và Pháp. Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều (sát trường đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn người.

Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5 đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.

Đời sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm, kết bạn, rã bạn, tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu. Những cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất sống động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.

Từ tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình hàng ngàn người từ Hà Nội và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và nhiều ngàn người mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành song song và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội trong nhiệm vụ chuyên biệt này.

Thời gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và các trường học được trả lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh. Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000 người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam.

Nếu tính theo giấy tờ, con số này có thể lên tới hơn 1 triệu vì có sự gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi dụng thủ tục khai và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di cư là tín đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di cư có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số.

Một điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di cư còn cao hơn nữa nhưng vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những cuộc giao tranh giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở Sài Gòn nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi ý.

Nói chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm và thái độ can dự của người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo người miền Bắc khiến họ yên tâm vàoNam. Đại đa số thành phần trí thức, chuyên viên cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã rời bỏ đất Bắc khiến chính quyền ông Hồ Chí Minh gặp khó khăn lớn trong mục tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là xương sống của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa.

Cuộc di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu rộng trong lịch sử Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra và những nét đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Geneve 1954 điển hình tại vùng thủ đô Sài Gòn.

Trước hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp hàn gắn những chia cách đáng buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia rẽ do hậu quả của những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau chóng. Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả nào nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển và chiến tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ mặt bề ngoài cũng như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong phú hơn.

Trước tháng 10 năm 1954, chính quyền địa phương còn gần y nguyên như thời Pháp Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở, phố xá còn dùng tiếng Pháp. Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền sau những âm mưu đảo chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh. Nhiều cải cách hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư, giấy tờ đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau vài giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành có kết quả tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư đối với chính phủ.

Cuộc đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam năm 1955 trong 3 ngày không giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa hàng tỷ bạc Đông Dương mà chính quyền Hồ Chí Minh thu gom được ở miền Bắc vì họ không kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5 cắc (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc một đồng. Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc mệnh giá trên một đồng.

Lúc ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất mạnh ở nam phần ngay tại Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà không ai bắt bớ. Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng Sản đã thật thà hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập rồi, mấy thầy cô dô đây làm chi?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ trong tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư một cách có thiện cảm hơn.

Trong bối cảnh ấy, lực lượng học sinh di cư đã dẫn đầu cuộc biểu tình vào dịp 20 tháng 7 năm 1955 đòi tống xuất các đoàn đại biểu của quân đội Cộng Sản từ Hà Nội trú đóng tại hai khách sạn Majestic và Galliéni (đường Trần Hưng Đạo). Khi bị khiêu khích, cuộc biểu tình biến thành bạo động, gây thiệt hại nặng cho hai khách sạn nhưng không có thương vong quan trọng. Những hành vi cương quyết của quần chúng khiến bọn thân Cộng Sản không còn nhởn nhơ tuyên truyền bán công khai như trước.

Người di cư tiếp xúc, trao đổi với dân chúng địa phương mau chóng tạo ra những hiểu biết và thông cảm. Về kinh tế thương mại, người Bắc vào Nam đã mở mang thương trường, ra các cửa hàng nhất là hàng ăn. Năm 1954 hầu hết cửa tiệm ăn do người Hoa kinh doanh, và họ dành độc quyền ngành lúa gạo cũng như các sạp thịt ở mọi chợ. Đời sống dễ dàng ở miền Nam khiến người Việt ít muốn cạnh tranh, ngay như ngành công chức cũng không hấp dẫn nhiều người. Bà con lao động xích lô kiếm đủ tiền tiêu trong ngày nhiều khi đẩy xe lên lề dưới bóng cây làm một giấc, khách gọi mấy cũng từ chối. Cách biệt giầu nghèo ở Nam Việt lúc ấy rất ít.

Các tầng lớp dân di cư cần cù chịu đựng tham gia thị trường lao động đã làm cho đời sống kinh tế miền Nam lên cao nhưng lại buộc mọi người phải làm ăn chăm chỉ hơn. Một số người địa phương không hài lòng vì nếp sống thong thả lè phè cũ đã mất đi không còn trở lại.

Hình chụp tại Saigon vào tháng 10 năm 1954 trong một trại định cư với hàng trăm căn lều. Lúc đó, một trong những trại định cư lớn nhất ở Saigon là trại Phú Thọ Lều được thiết lập tại Quận 10 sát bên trường đưa Phú Thọ. Trại này có lúc đã chứa đến 10,000 người di cư.

Trang phục phụ nữ hai miền khác nhau, nổi rõ nhất là giới nữ sinh trung học tuổi đôi tám. Nữ sinh Hà Nội làm dáng sớm hơn, quần hẹp, áo dài nở vòng số một. Nữ sinh Sài Gòn vận quần trắng rộng, áo bà ba trắng nhiều hơn áo dài được may vòng số 1 tương đối phẳng phiu có lẽ vì đó là cách tỏ ra là con nhà nghiêm túc. Sau hơn một năm các cô hai miền tự nhiên hòa hợp cách ăn mặc, bọn thanh niên sinh viên học sinh chúng tôi không còn phân biệt được gốc gác các cô qua y phục nữa. Điều quan trọng và dễ thương hơn hết là những câu chuyện tình Bắc duyên Nam đã nhiều khi hóa giải rất nhiều cho những mâu thuẫn văn hóa chính trị.

Các trường phía Bắc di chuyển vào Sài Gòn giữ gần y nguyên ban giám hiệu và tổ chức riêng. Từ Hà Nội vào, Chu Văn An tiếp tục tại cơ sở cạnh Petrus Ký. Trưng Vương học chung cơ sở nhưng khác giờ với Gia Long… sau hai ba năm mới ra học ở các cơ sở riêng trước Thảo Cầm Viên. Mấy năm sau nữa thì học sinh gốc hai miền dần dần pha trộn.

Chuyện đáng nhớ là năm 1955 học sinh Bắc vào Nam và các bạn gốc miền Nam mở chiến dịch phá bỏ tên đường tiếng Pháp. Nhờ đó mà việc đặt tên đường mới, vốn là việc mất nhiều công sức, đã được Tòa Đô Chánh Sài Gòn thực hiện trong vòng khoảng một tháng.

Về mặt văn hóa và báo chí, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ Bắc vào Nam đã hòa hợp với đồng nghiệp miền Nam tạo ra sinh khí mới, lối viết và văn phong, sắc thái trong sáng, có sức truyền đạt hơn. Sau một thời gian ngắn người đọc chỉ có thể nhận thấy một số khác biệt ít ỏi giữa bài vở sách báo do các tác giả gốc từ các miền khác nhau viết ra.

Đặc biệt là về tân nhạc, lớp nhạc sĩ và ca sĩ cũng như những người yêu nhạc từ miền Bắc vào Nam đã lôi cuốn được phong trào âm nhạc mới phát triển mạnh để tiến đến tới cao điểm nghệ thuật ca nhạc trong các thập niên sau. Và ngược lại số người Bắc di cư hâm mộ ca nhạc kịch cải lương cũng gia tăng nhiều.

Về mặt ăn chơi, sự thay đổi rõ rệt hơn. Sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới, khu mại dâm Bình Khang bị đóng cửa đầu năm 1955. Giữa năm 1954 cả Sài Gòn hình như chỉ có 2 hay 3 tiệm phở Bắc. Chỉ sau vài tháng số tiệm phở tăng đến hàng chục. Các quán cà phê cũng lục tục ra đời cùng với các ngành buôn bán khác. Các xuất gọi là phụ diễn tân nhạc trước khi chiếu phim chính ra đời dần dần tiến đến những buổi trình diễn âm nhạc chuyên nghiệp gọi là “nhạc hội” giúp vào việc phổ biến âm nhạc sâu rộng hơn. Trước đó hoạt động âm nhạc chỉ được biết qua các chương trình ca nhạc và các cuộc thi hát, tuyển lựa ca sĩ của các đài phát thanh quốc gia, đài quân đội và đài Pháp Á cùng hai đài Huế và Hà Nội.

Ngôn ngữ hai miền sau cuộc di cư cũng thay đổi và pha trộn về từ ngữ tuy vẫn giữ những nét độc đáo của từng vùng mà không lai giọng. Điểm đáng lưu ý là sau nhiều năm gia đình gốc gác miền Bắc di cư có con cái đứa thì nói giọng địa phương (Nam hay Trung), đứa thì nói giọng Bắc, đứa thì nói cả hai ba giọng tùy theo môi trưởng xóm giềng và trường học. Nhưng không mấy ai nói lẫn lộn cùng một lúc các giọng khác nhau.

Về mặt đời sống xã hội, người di cư dần dần và chậm chạp chịu ảnh hưởng bởi lối sống phóng khoáng, chân thật, thẳng thắn của dân miền Nam. Sau một thế hệ, tính nết người Bắc di cư khác hẳn tính nết của đồng hương của họ còn ở lại quê nhà. Đến sau 30 tháng 4 năm 1975 người ta càng thấy điều này rõ rệt hơn khi gặp đợt Bắc Kỳ mới vào Nam.

Trong đời sống tinh thần, có hai sự kiện đáng nhớ trong thời gian ấy. Một là trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội thì chùa Một Cột, di tích quý báu nhất của Việt Nambị kẻ vô danh phá bằng chất nổ. Rất may chùa chỉ hư hại một góc. Nghe tin ấy chúng tôi đều hết sức buồn phiền. Hai là giữa lúc nhịp độ di cư đang lên cao thì Hoàng Dương, em nhạc sĩ Hoàng Trọng cho ra đời ca khúc Hướng Về Hà Nội với lời ca tha thiết “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi… mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga… biết đâu ngày ấy anh về.” Ca khúc này khiến lứa tuổi 18, 19 chúng tôi cảm thấy rõ điều mà các văn thi nhạc sĩ gọi là “tan nát cõi lòng.”

Dĩ nhiên trong ngót một triệu người Bắc di cư có đủ mọi thành phần tốt xấu kể cả đầu trộm đuôi cướp, quan lại tham nhũng, trọc phú bất lương, tay sai thực dân và nội tuyến Cộng Sản. Nhưng so với số các phần tử tinh hoa của xã hội, số người yêu nước, chuyên viên giỏi các loại, các nhân sĩ, trí thức, chiến sĩ quốc gia chân chính, thì những phần tử xấu xa nói trên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé.

Một số người cho rằng người miền Bắc di cư đã là chứng nhân lịch sử khiến đồng bào miền Nam hiểu rõ bản chất của chế độ Cộng Sản. Điều đó có thể đúng một phần nhỏ. Phần quan trọng hơn là chính vì thực tế những đường lối mà Cộng Sản thi hành tại miền Nam tại nông thôn từ khoảng năm 1961 trở đi. Từ đó họ đã thấy rằng chế độ Cộng Sản đi ngược lại quyền lợi và sự an hòa của nhân dân ta nhất là giai cấp nghèo khổ ở nông thôn.

Tôi và các bạn cùng lứa tuổi di cư vào ở miền Nam gần 40 năm tính đến năm 1990 qua di trú sang Hoa Kỳ. Tuy sinh ra trên đất Bắc nhưng chỉ ở Bắc dưới 20 năm trong đó mới biết chuyện đời được dăm ba năm. Vì thế chúng tôi có hai miền quê quán. Quê quán thứ nhất ở miền Bắc còn ở trong tim nhiều hơn. Quê quán thứ hai ở miền Nam sau ngày di cư năm 1954 mới thực sự chứa đựng nhiều vui buồn, yêu thương, giận dỗi, vinh quang và tủi nhục vì trải qua quãng đường đời dài 40 năm với biết bao nhiêu là kỷ niệm.

Lữ Tuấn

nguồn: dsdatlanh.blogspot.com

Cá Rồng Đỏ & Điệp vụ Biển Đỏ

Việt Nam ‘bỏ dự án Cá Rồng Đỏ’ ở Biển Đông

Bill Hayton BBC News

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) yêu cầu hãng năng lượng của Tây Ban Nha, Repsol, ngưng một dự án ở khu vực ngoài khơi phía đông nam, một nguồn đáng tin cậy trong ngành nói.

Điều này đồng nghĩa với việc Repsol và các đối tác có thể sẽ thiệt hại khoảng 200 triệu đô la đã đầu tư vào dự án.

Đây là tin không ai ngờ, bởi vì các công tác chuẩn bị cuối cùng cho việc khoan thương mại đã diễn ra.

Có thể Trung Quốc xem diễn tiến này là thắng lợi quan trọng.

Quyết định của Việt Nam dường như cho thấy sự phô trương sức mạnh của Hoa Kỳ tại Biển Đông trong thời gian gần đây đã không làm thay đổi các tính toán chiến lược của Việt Nam.

‘Trả giá đắt’

Kể từ 2009, Việt Nam đã tìm cách thăm dò, phát triển mỏ dầu khí Cá Rồng Đỏ.

Inline image

Một phần của dự án Cá Rồng Đỏ, giàn khoan có tên Ensco 8504, theo dự kiến lẽ ra khởi hành từ Singapore tới địa điểm khoan vào hôm thứ Năm.

Địa điểm đặt giàn khoan nằm trong Lô 07/03, nơi Việt Nam và các công ty con của Repsol trước đó từng ước tính là có trữ lượng 45 triệu thùng dầu và 172 tỷ feet khối khí gas.

Hãng đã thuê công ty Yinson của Malaysia cung cấp một bể chứa dầu nổi (Floating Production Storage and Offloading – FPSO) tại địa điểm này trong 10 năm, với chi phí ước tính trên 1 tỷ đô la.

Hơn nữa, Repsol đã thuê hãng Keppel FloaTEC của Mỹ xây một giàn kỹ thuật (production platform) để phục vụ cho địa điểm này với mức chi phí có lẽ là hàng chục triệu đô la.

Theo nguồn tin BBC có được, nhìn chung, Repsol và các đối tác trong dự án (gồm Mubadala Petroleum và PetroVietnam) nhiều khả năng bị thiệt hại khoảng 200 triệu đô la.

Repsol và các công ty liên đới hiện chưa hồi đáp các câu hỏi của BBC về những diễn biến mới nhất này.

Đây là lần thứ hai Repsol bị yêu cầu ngưng hoạt động khoan.

Hôm thứ Năm, 29/3/2018, nhà báo và học giả Bill Hayton cũng nói với Bàn tròn thứ Năm của BBC với chủ đề ‘Việt Nam ngừng dự án Cá Rồng Đỏ và Trung Quốc tập trận ở Biển Đông’ rằng ông tin rằng việc phô trương diễn tập quân sự này là một biểu trưng và chỉ dấu cho thấy Trung Quốc đang ‘đe dọa’ chính Việt Nam.

BBC Tiếng Việt: Kể từ bài báo được đăng trên BBC hôm 23/3, ông có thêm cập nhật, quan sát gì mới xung quanh sự việc với dự án Cá Rồng Đỏ tại Biển Đông?

Bill Hayton: Mọi chuyện có vẻ trôi qua khá im ắng. Tôi vẫn chưa có thêm được nhiều thông tin từ nguồn của tôi và phía Việt Nam cũng chưa đưa ra một tuyên bố chính thức nào.

BBC Tiếng Việt: Tại sao lại không có tuyên bố chính thức nào, thưa ông?

Bill Hayton: Tôi cho rằng, một lần nữa đây là tình huống khó cho các nhà lãnh đạo Việt Nam. Và có thể thậm chí còn khó khăn hơn so với hồi tháng Bảy năm ngoái khi Việt Nam cho tạm dừng việc khoan của Repsol lần trước

BBC Tiếng Việt: Theo ông, sắp tới các bên sẽ có động thái như thế nào?

Bill Hayton: Các bên vẫn sẽ tỏ ra khá im ắng. Tôi không cho rằng các bên thực sự muốn gây khó cho nhau, đưa ra bất cứ thông tin nào hay thương lượng về các điều khoản thương mại tốn kém, hay ai sẽ trả tiền bồi thường cho số tiền đã được đầu tư cho phát triển giếng dầu cho tới thời điểm này.

Có bằng chứng hay không?

BBC Tiếng Việt: Có người cho rằng Trung Quốc có động thái gây áp lực buộc phía Việt Nam phải dừng dự án, có bằng chứng từ chuyện đó hay không thưa ông?

Bill Hayton: Từ những gì tôi đã được nói bởi nguồn của tôi, mà là chính xác. Tôi nghĩ rằng đây là lời giải thích hợp lý duy nhất rằng Việt Nam đã dừng việc khai thác cực kỳ đắt đỏ và quan trọng này.

Tôi muốn nói là ngân sách chính phủ cần nguồn thu mới từ lĩnh vực dầu vì hiện tình là nguồn thu xuống thấp nên chính phủ đang phải đối mặt với vấn đề cân bằng thu nhập, thu nhập đang giảm mà chính phủ lại cần chi nhiều tiền hơn.

Đây sẽ là một dự án hoàn hảo để chính phủ đạt được điều đó. Hơn nữa, để đạt được an ninh năng lượng, họ cần phải kiểm soát nguồn năng lượng đến từ đâu và họ cần phải dự án mà không thực sự đưa ra một lí do công khai, do đó tôi nghĩ rằng câu trả lời là áp lực từ Trung Quốc.

BBC Tiếng Việt: Có người cho rằng Việt Nam đang gặp một thế lưỡng nan, chẳng hạn dừng lại như vậy thì Việt Nam thua thiệt không chỉ kinh tế mà còn về chủ quyền, pháp lý. Nhưng nếu Việt Nam có động thái cự lại thì có thể gặp thêm áp lực từ Trung Quốc, dẫn tới tranh chấp xung đột mạnh hơn? Ông nghĩ sao về điều này?

Bill Hayton: Tôi nghĩ rằng, lần trước, tôi hình dung rằng mối đe dọa từ Trung Quốc thực sự sẽ liên quan đến mối đe dọa quân sự. Tôi không có bằng chứng trong dịp này nhưng tôi nghĩ nó phải là một phần của tính toán.

Có khả năng rằng để cho Việt Nam thấy, Trung Quốc sẽ nghiêm túc trong việc thách thức giếng dầu này.

BBC Tiếng Việt: Trong câu chuyện này, nếu như có xung đột xảy ra, có người cho rằng Việt Nam không nên tin rằng thể tin cậy và yêu cầu sự can thiệp hay hậu thuận từ Mỹ. Ông nghĩ như thế nào?

Bill Hayton: Tôi nghĩ điều quan trọng nhất ở đây đó là việc Việt Nam ngưng dự án Cá Rồng Đỏ chỉ một tuần sau khi hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson tới Đà Nẵng. Việc Việt Nam muốn hải quân Mỹ tới để chứng tỏ, ra dấu với Trung Quốc rằng họ có những người bạn rất mạnh mẽ và sẽ được Mỹ bảo vệ chống lưng trước áp lực từ Trung Quốc.

Nhưng mọi chuyện dường như lại không phải như vậy. Mỹ dường như không đưa ra bất cứ sự hậu thuẫn bảo vệ nào cho Việt Nam. Và họ có lẽ đã đưa ra quyết định rằng họ không muốn làm như vậy. Việc Việt Nam mời tàu Mỹ không tạo ra bất cứ sự khác biệt gì và mọi người đã hiểu được lý do.

BBC Tiếng Việt: Nếu như có áp lực từ phía Trung Quốc để chặn Việt Nam khai thác ở dự án Cá Rồng Đỏ thì họ căn cứ hay dựa vào đâu?

Bill Hayton: Trung Quốc nói về việc có những tuyên bố lịch sử, những quyền lịch sử nhưng thực sự, trong nghiên cứu của riêng tôi, tôi chưa thấy có bài báo khoa học nào từ trong lịch sử mà Trung Quốc tuyên bố ở đây, mà làm cơ sở cho việc Trung Quốc đưa ra lời tuyên bố chủ quyền ở vùng biển này, thực sự là do lỗi diễn dịch, được thực hiện trước hết bởi chính phủ và sau đó bởi giới hàn lâm, tính từ thập niên 1930.

Đây thực sự là một chuyện cũ rích. Đó là một sai lầm và tôi không nghĩ rằng chính phủ Trung Quốc thực sự hiểu căn cứ vì sao họ đưa ra yêu sách cho vùng biển này

BBC Tiếng Việt: Có một học giả người Pháp cho rằng để giải quyết điều tương tự như ở dự án Cá Rồng Đỏ thì không riêng cho Việt Nam mà cả trong khu vực ASEAN, chẳng hạn Philippines, phải giải quyết câu chuyện đánh đổtuyên bố chủ quyền bằng bản đồ đường lưỡi bò hay đường chín đoạn của Trung Quốc, đừng kí ngay thỏa thuận bộ Quy tắc Ứng xử (COC),như vậy có thể gây ra những bất lợi lâu dài, ‎ý kiến của ông thế nào?

Bill Hayton: Cảm giác của tôi, tôi thực sự hoài nghi về viễn cảnh COC đang được ký kết thực sự có ý nghĩa. Tôi muốn nói quan điểm của COC từ phía ASEAN là kiểm soát hành vi của Trung Quốc.

Nhưng rõ ràng, từ phía Trung Quốc, họ không muốn kiểm soát hành vi của họ. Vậy tại sao họ nên ký COC mà không đạt bất kỳ mục đích thực sự hay đem lại quyền lực nào. Trung Quốc, họ không muốn COC với tranh cãi về cơ chế giải quyết, họ chỉ muốn một cơ chế quản lý tranh chấp vì vậy thực sự là họ sẽ không giải quyết vấn đề cơ bản là yêu sách lãnh thổ.

Kiện hay không kiện?

BBC Tiếng Việt: Có người nói tại sao Việt Nam đến thời điểm này không tính đến chuyện theo chân Philippines kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế như Philippines đã từng làm liên quan đến câu chuyện đường lưỡi bò, ông nghĩ sao?

Bill Hayton: Tôi nghĩ rằng bây giờ cũng đến mức mà Việt Nam nghĩ rằng họ không có nhiều để mất. Ý tôi muốn nói là luôn luôn có một giả định rằng bằng cách đưa ra một vụ kiện pháp lý thực sự sẽ phá hủy mối quan hệ với Trung Quốc.

Vì vậy, câu hỏi mở ra với lãnh đạo Việt Nam, tôi nghĩ, là đó vẫn còn là một trường hợp mà họ sẽ mất nhiều hơn được. Và tôi nghĩ từ khía cạnh pháp lý, nếu họ chọn đưa vụ kiện ra đặc biệt về riêng vùng biển này thì họ sẽ giành chiến thắng rất dễ dàng nếu họ có những thẩm phán giống như như Philippines từng có. Một vụ kiện thực sự là giống nhau.

Tôi nghĩ rằng họ đã phải suy nghĩ về mối quan hệ tổng thể với Trung Quốc và thiệt hại sẽ ra sao nếu họ đưa ra một vụ kiện như vậy.

BBC Tiếng Việt: Ông dự phóng gì về toàn bộ vấn đề trong thời gian tới?

Bill Hayton: Tôi nghĩ một điều rất quan trọng là nhận thấy rằng bất chấp những áp lực này, không có quốc gia nào ở Đông Nam Á, Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippines, đã thực sự xem xét việc cùng hợp tác, phát triển với Trung Quốc.

Điều Trung Quốc muốn là các chính phủ này muốn nói: “Được rồi, chúng tôi có một vùng đặc quyền kinh tế và chúng tôi sẽ chia sẻ nó với bạn”. Không ai trong số các chính phủ này nói rằng họ sẵn sàng làm điều đó.

Và tôi nghĩ rằng điều quan trọng là phải nhận ra rằng bất chấp tất cả áp lực từ Trung Quốc, họ vẫn giữ nguyên lập trường căn bản. Rõ ràng, Trung Quốc đã thành công trong việc ngăn chặn các nước này phát triển, khai thác các mỏ dầu khí thuộc sở hữu của họ. Và có vẻ như đó sẽ là vấn đề khó cho tất cả các nước này.

Nhưng, họ dường như không thể có được một phản ứng chung của ASEAN bởi vì vấn đề chỉ ảnh hưởng đến một nửa số thành viên của ASEAN và các nước khác như Campuchia có nhiều lợi ích hơn từ việc không chỉ trích Trung Quốc hơn là hỗ trợ các đồng nghiệp ASEAN của họ.

Luôn luôn có cơ hội mà tôi cho rằng trong tương lai Trung Quốc có thể sử dụng ưu thế thượng tôn của họ về mặt số lượng tàu để khoan dầu khí tại các khu vực của các nước khác để tuyên bố chủ quyền và đó sẽ là một mối đe dọa lớn đối với an ninh toàn khu vực.

Thông điệp gửi cho ai?

BBC Tiếng Việt:Ông nhận xét về việc Trung Quốc đưa một hải đội hạm đội rất là hùng hậu, được cho là trình diễn hơn là tập trận ở vùng biển khu vực thì Trung Quốc đang muốn gửi tín hiệu cho bên nào là chính?

Bill Hayton: Tôi nghĩ rằng Trung Quốc đang gửi thông điệp tới nhiều quốc gia cùng một lúc: Việt Nam, Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước khác, cho thấy họ có thể tập hợp được lực lượng và hàng không mẫu hạm “Liêu Ninh” mà thường gắn với hạm đội phía Bắc của Trung Quốc đã được điều về phía Nam để tham gia hoạt động đột ngột.

Tôi nghĩ rằng đó là cách cho thấy rằng Trung Quốc có thể củng cố hải quân khi cần thiết.

BBC Tiếng Việt: Có ‎tuyên bố nói Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận, thao diễn để chuẩn bị cho chiến tranh, vậy liệu có nguy cơ chiến tranh nào không?

Bill Hayton: Nếu quí vị có thể tưởng tượng rằng Việt Nam đang chuẩn bị cho những việc khoan dầu khí tới đây sắp diễn ra và họ phải nghĩ tới việc họ phải bảo vệ như thế nào với tàu bè của các lực lượng tuần duyên và hải quân, thì Trung Quốc cũng cho thấy họ rất nghiêm túc về răn đe quân sự của họ.

Và họ phải tập hợp một lực lượng quan sự đáng kể, do đó nghi ngờ của tôi mà tôi không có bằng chứng nào, là lực lượng này là một biểu tượng để đe dọa Việt Nam.

Điệp vụ Biển Đỏ

Bài viết đăng trên trang web Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết “hải quân Trung Quốc tích cực ủng hộ bộ phim này”. “Trong đoạn cuối phim, còn có cảnh tàu tuần tra hải quân Trung Quốc trên vùng biển Nam Hải (cách Trung Quốc gọi Biển Đông), trục xuất tàu lạ nước ngoài tự ý xâm nhập vào khu vực quần đảo Nam Sa và các đảo đá liên quan: ‘Hãy lập tức rời khỏi đây’”, bài viết mô tả.

“Quần đảo Nam Sa” là cách Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thời gian qua, Trung Quốc đã bồi lấn phi pháp và triển khai vũ khí trên 7 đảo nhân tạo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hành vi của Trung Quốc bị cộng đồng quốc tế lên án là đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định khu vực.

Ra mắt tại Trung Quốc vào dịp Tết Nguyên đán 2018, Điệp vụ Biển Đỏ (Operation Red Sea) – bộ phim của đạo diễn Lâm Siêu Hiền – bán được tới hơn 562 triệu USD tiền vé, trở thành phim Hoa ngữ ăn khách thứ hai trong lịch sử, chỉ sau Chiến lang 2 (2017).

Bo Quoc phong Trung Quoc ca ngoi ‘Diep vu Bien Do’ hinh anh 1
Điệp vụ Biển Đỏ là phim ăn khách thứ hai trong lịch sử phòng vé Trung Quốc.

Là tác phẩm được Bộ Quốc phòng Trung Quốc đặt hàng, Điệp vụ Biển Đỏ mô tả câu chuyện biệt đội Giao Long của hải quân Trung Quốc giải cứu kiều dân nước này và người dân Yemen khi xung đột xảy ra ở quốc gia Trung Đông.

Bài bình phim Điệp vụ Biển Đỏ đăng trên phiên bản tiếng Anh của tờ báo Hong Kong Bưu điện Hoa Nam buổi sáng số 1/3 mô tả đoạn về Biển Đông ở cuối phim thể hiện “chủ nghĩa sô vanh hiếu chiến rõ ràng”.

“Đó là cảnh cảnh tàu tuần tra hải quân Trung Quốc xuất hiện trên vùng biển Nam Hải (Biển Đông theo cách gọi Trung Quốc), trục xuất những tàu nước ngoài chưa được Trung Quốc cho phép đi lại trên khu vực quần đảo Nam Sa và các đảo đá liên quan. Nam Sa chính là tên mà Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam” Một bộ phim cổ súy cho sự thị uy vũ lực đầy hiếu chiến, bất chấp luật pháp quốc tế và lợi ích của các quốc gia như thể hiện trong Điệp vụ Biển Đỏ, rõ ràng không nên trình chiếu tại Việt Nam.

Câu hỏi đặt ra là, tại sao Bộ Văn hóa lại cho chiếu phim về Hải quân Trung Quốc, khi mà lực lượng này đánh chiếm Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam?

 Sự thật rành rành, ấy vậy mà, Cục Điện ảnh vẫn dối dân, cho rằng, việc duyệt phim là đúng quy trình. Điều đáng sợ nhất là, trong cái “quy trình” mà Bộ Văn hóa thể thao và du lịch phát đi lại có các thành phần quan trọng: “Hội đồng trung ương thẩm định và phân loại phim truyện với 7/11 thành viên, trong đó có các thành viên là lãnh đạo cấp Vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Điện ảnh Việt Nam cùng các nhà chuyên môn uy tín đã thẩm định đúng quy trình hiện hành”.

Chính vì thời gian qua đã xảy ra quá nhiều sai phạm trong quá trình bổ nhiệm cán bộ mà hễ nhắc đến cụm từ “bổ nhiệm đúng quy trình”, là người dân ngao ngán. Bây giờ, thêm cụm từ “thẩm định đúng quy trình” mà Cục Văn hóa biện hộ cho việc cho phép công chiếu bộ phim “Điệp vụ Biển Đỏ” của Trung Quốc sản xuất, tuyên truyền phi pháp về biển Đông, càng làm cho lòng dân hoang mang. Liệu mất nước chúng ta sẽ mất về tay Trung cộng đúng quy trình như đồn đại?Điệp vụ Biển Đỏ được khởi chiếu tại Việt Nam từ ngày 16/3. Từ tối 24/3, nhà phát hành thông báo ngừng chiếu phim vì lý do vắng khách và muốn tập trung cho các tác phẩm khác.

Thứ đáng sợ nhất của đời người là dối trá. Bởi người dối trá khi có cơ hội sẽ trở thành kẻ lừa đảo, bán nước.

Tin tổng hợp.

Từ HÀ KỲ LAM đến VÙNG ĐÁ NGẦM

Từ HÀ KỲ LAM đến VÙNG ĐÁ NGẦM
 
Vũ Thất
 
Mùa hè 1990, nghe tin người bạn cố tri cùng gia đình đi HO đến cư ngụ ở Philadelphia, tôi vội đưa vợ con từ Maryland lên ra mắt. Chúng tôi học chung trường Võ Tánh ở Nha Trang, thậm chí có thời gian cả năm tôi ở trọ nhà hắn. Sau trung học chúng tôi cùng vào quân đội và sau 75 cùng vào tù cộng sản.
 
Năm 84, tôi được thả, mấy lần tìm đến nhà hắn để bàn chuyện vượt biên, lần nào cũng thấy cửa khóa then cài. Tôi nghĩ là hắn đã ra đi nên quyết định binh theo hắn. Nào ngờ hắn còn kẹt lại và nhờ HO đến Mỹ sau tôi những 5 năm. Hắn và tôi cùng cấp bậc nhưng “được” học trường đảng lâu hơn nhờ thành tích oai hùng tái chiếm Cổ thành Quảng Trị. Hắn là nhà văn Huỳnh Văn Phú, tác giả các tập truyện Mùa Xuân Âm Thầm (1969), Cuộc Tình Dấu Mặt (1971) … Và quyển Phóng Sự Chiến Trường đoạt giải nhì (1972).
Đến nhà Huỳnh Văn Phú lúc 2 giờ trưa, hàn huyên tâm sự đến 5 giờ thì chúng tôi mời gia đình Phú một chầu liên hoan tối. Phú cười khà khà:
   Phải liên hoan chớ! Liên hoan để cám ơn Thượng đế đã tạo ra … quả đất tròn!
 
Phú hướng dẫn chúng tôi chạy vòng vòng thăm trung tâm thành phố, qua khu treo Chuông Tự Do mà vì hết giờ nên hẹn vào xem dịp khác. Cuối cùng hắn đưa chúng tôi vào một nhà hàng rất khang trang: Việt Nam Palace. Một người đàn ông trung niên đang đứng ngay cửa tươi cười, vồn vã bắt tay Phú và tôi:
    Đợi có hơi lâu. Thôi mời vào bàn.
Sau khi mọi người an vị, Phú nhìn tôi:
    Mày không nhận ra Hà, Nguyễn Đình Hà, cùng Võ Tánh?
Tôi ngạc nhiên:
    Nguyễn Đình Hà nào? Đâu?
    Là đứa ở cửa bắt tay chào mừng mày và đang đứng sau lưng mày!
 
Tôi vội đứng lên, xoay trực diện và ngắm nghía người bạn cùng trường. Hà cũng đăm đăm nhìn tôi. Cả họ tên và dáng vóc không gợi nên một quen biết nào. Hà cũng thú nhận không nhận ra tôi. Hỏi han nhau thì hóa ra chung trường nhưng không chung lớp. Lên đệ nhị cấp, Phú chọn ban văn, tôi ban toán. Năm đó, Hà từ Quảng Nam vào nhập lớp của Phú. Mà có cần gì chung lớp, chỉ nhắc đến tên trường là đủ quá thân thương. Thế là mày tao ròn rã. Thì ra sau Võ Tánh, Nguyễn Đình Hà cũng nhập ngũ mà chọn thứ dữ hơn Thủy Quân Lục Chiến của Huỳnh Văn Phú: Lực lượng Đặc Biệt. Tôi đùa, chọn Lôi Hổ, rốt cuộc cũng bị… hổ lôi qua Mỹ! Hà cười cho biết còn một nhân vật Võ Tánh khác, không bị hổ lôi nhưng bị hà bá kéo cũng ở gần đây, có được mời đến chung vui nhưng chàng ta bận. Hóa ra là Trần Văn Tâm cùng Quân chủng Hải Quân với tôi, đang nổi tiếng là nhà văn Trần Quán Niệm.

Hà giới thiệu phu nhân vừa xuất hiện, tươi cười chào mọi người. So với cái tuổi ngũ thập nhi bất hoặc của chúng tôi, Nguyễn Đình Hà phu nhân trông trẻ hơn nhiều. Rất ân cần và tự nhiên. Chị bắt đầu đóng vai chính trong việc tạo bầu không khí gia đình ngay trong nhà hàng đông khách của chị. Chị đích thân chuẩn bị những món ăn mà chị cho là để nhớ hương vị miền Nam: món gỏi ngó sen tôm thịt nhậu với heiniken, món canh chua cá kho tộ, món xoài tượng cá chiên dầm nước mắm, món tráng miệng bánh lọt chè ba màu… Buổi liên hoan kéo dài mà không ai cần biết là đã quá nửa đêm. Chỉ có tôi đường xa, phải mất 3, 4 tiếng lái trở về nhà mới dứt khoát đứng lên. Ở quày trả tiền, tôi bị… từ chối! Trở lại bàn ăn, khiếu nại chị Hà, chị bảo cơm gia đình mừng Võ Tánh hội ngộ mà!
 
Tôi quen thân ông bà chủ nhà hàng từ hôm đó mà không ngờ rằng cũng đương nhiên quen thân nhà văn Hà Kỳ Lam. Từ Nguyễn Đình Hà đến Hà Kỳ Lam chỉ là một lời… xúi dại: cứ viết thử đi! Và truyện ngắn đầu tay “Từ Sài Gòn đến Denver” mở đầu với lời tặng người xúi dại: “Tặng Huỳnh Văn Phú, người thích một truyện như thế.” Rồi từ một truyện như thế đăng trên bán nguyệt San TỰ DO ở Texas, anh viết tiếp và liên tục gửi đăng trên các tập san văn nghệ các tiểu bang. Nguyệt san Thế Kỷ 21 luôn có bài mới. Đúng ba năm sau Hà Kỳ Lam tuyển chọn các bài đã viết để tạo nên một Vùng Đá Ngầm.
 
Inline imageInline image

Tuyển tập VÙNG ĐÁ NGẦM gồm 10 truyện ngắn, do nhà xuất bản THẾ KỶ ấn hành và do nhà văn LÊ VĂN LÂN đề tựa. Bìa và phụ bản của họa sĩ NGUYỄN ĐỒNG. Sách in rất đẹp, trình bày trang nhã. Nhưng theo tôi đẹp và trang nhã nhất là lời đề tặng trang trọng của tác giả ngay trang đầu của quyển sách: “Tặng người bạn đời và hai con, nguồn an ủi, khuyến khích và an tâm”.  Tôi yêu cái từ “người bạn đời”. Nghe như là biết bao âu yếm, nồng nàn, gắn bó. Nghe như tiếng thì thầm nghĩa nặng tình sâu.
 
Mười truyện ngắn gồm: (1) Người Láng Giềng  (2) Từ Sài Gòn Đến Denver  (3) Nỗi Buồn Thế Kỷ  (4) Con Chó Đại Đan Mạch  (5) Bóng Mát  (6) Vùng Đá Ngầm  (7) Băng Giá  (8) Chu Mom Rây  (9) Bỗng Dưng Người Đàn Bà Cuối Đời  (10) Ba Điều Ước.
 
Truyện VÙNG ĐÁ NGẦM nằm vị trí thứ sáu nhưng tôi chọn đọc trước tiên, một phần do cái tựa của nó được chọn làm tựa chung cho tập truyện, phần khác vì nó đụng chạm đến… nghề xưa của tôi. Đó là câu chuyện của một chuyến vượt biên bằng ghe của bốn mươi lăm người liều chết lánh nạn cộng sản. Ghe bị chết máy ngay sau ngày đầu ra khơi. Rồi cứ thế người với ghe lênh đênh. Người thì hết lương thực từ ngày thứ hai mươi và cố cầm cự sự sống bằng mọi khả năng. Ghe thì bập bềnh mãi đến ngày thứ bốn mươi sáu mới chịu tấp vào một vùng đá ngầm. Nơi đây người và ghe cùng chờ … an giấc nghìn thu!
 
May thay “Trời cứu các ông đấy.” Đó là kết luận của một thủy thủ chiếc tàu buôn tình cờ đổi hướng sang vùng đá ngầm. Nhưng thoát vùng đá ngầm của biển khơi, được đến xứ tự do, họ lại bị rơi vào vùng đá ngầm của cuộc đời.
 
Trong mười truyện, đây là truyện duy nhất Hà Kỳ Lam cho nhân vật chính kể chuyện ở ngôi thứ nhất. Danh xưng Tôi gần gụi, kết hợp với tài sử dụng chính xác các hình dung từ (tiều tụy, hốc hác, gầy đét, èo uột, lờ đờ, ngắc ngoải…) làm cho câu chuyện phiêu lưu thêm gian nan hãi hùng thương tâm sầu thảm. Nhưng đó không phải là chủ tâm của tác giả. Điều tác giả muốn nêu lên là lời nhắn nhủ của Nguyễn Du: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”.
 
Nếu theo thứ tự trong mục lục mà lần lượt điểm hết 10 truyện thì e rằng quá dài. Tôi xin tự ý chọn lựa bằng phượng pháp tình cờ. Tôi sẽ mở quyển sách, trúng bài nào đọc bài nấy.
 
CON CHÓ ĐẠI ĐAN MẠCH
 
Truyện thật đặc biệt, nói lên niềm đam mê chó của nhân vật gọi là Ông Tư mà thực tế chắc hẳn chính là tác giả. Niềm đam mê đó từ còn nhỏ tuổi ở quê nhà và mỗi ngày một tăng thêm khi mang tuổi già ở quê người. Ông Tư mê chó đến độ thấy chó là biết chó thuộc giống nào, Đức quốc hay Anh Cát Lợi, chó Ta hay chó Tây. Ông còn rành rọt tính tình từng loài chó và cả tài phân biệt loại nào là chó tác chiến loại nào là chó văn phòng.
 
Nhưng đam mê mấy cũng vẫn là đam mê, cũng vẫn là ông Tư sống trong mơ ước nuôi chó của mình. Là bởi vì ông không muốn trái ý người bạn đời ông hết lòng thương yêu từng tỏ ra… không ưa chó.
 
Vì vậy, mỗi khi có dịp đi ngang qua nhà người hàng xóm chủ nhân con chó thần tượng của ông, ông đứng ngắm nó qua cái hàng rào thưa đến mãn nhãn mới chịu rời. Chẳng khác nào nhân vật bác Chính trong Con Trâu của Trần Tiêu mê mẫn ngắm trâu hàng xóm: “Con trâu nằm gặp hai chân trước, một chân sau hơi ruỗi để lộ bộ vú hồng phơn phớp lông tơ trắng. Nó không buồn để ý đến bác, tư lự như một nhà hiền triết, cặp mắt lờ đờ nhìn đâu đâu… Từ hôm ấy không mấy chiều là bác không dừng chân đứng ngắm con trâu của Cân sau những buổi làm lụng vất vả. Bác mê nó như mê gái. Chiều nào không gặp nó, bác nhớ ngẩn ngơ như người thiếu thốn sự gì.”
 
Ông Tư cũng chiêm ngưỡng con chó thần tượng Đại Đan Mạch mê mẩn không thua: “Giống vật này không tỏ ra rụt rè, sợ sệt, cũng không hề lộ vẻ hung hãn, đố kỵ đối với người mới gặp lần đầu, như thái dộ cố hữu ở một số loài chó… Cặp mắt nó, không nhỏ ti hí như mắt heo, nhưng cũng không to qua và lộ như mặt của loài chó nhỏ… Thân thể nó trông chắc nịch với những đường bắp thịt cuồn cuộn ở hai đùi sau, ở hai vai, ở chiếc cổ lớn ngẩng cao. Lông nó rất ngắn, bóng loáng, ôm sát da và đen nhánh, không một chấm trắng dù chỉ bằng hạt cát. Vóc dáng nó to lớn nhưng… không gây cho người đối diện sợ hãi… cái nhìn lúc nào cũng trực diện nhưng không hau háu… mà chỉ biểu lộ một nhiệt tình “làm bạn”… Phong thái điềm đạm, hiền lành, quý phái”.
 
Tôi vốn người không ưa chó mà đọc bài Hà Kỳ Lam cũng bắt đầu chao đảo. Thảo nào khi ông hàng xóm ngỏ ý muốn tặng ông Tư con chó do thiếu người trông coi, bà vợ ông Tư bất chợt vui vẻ khuyên ông Tư đem “nó” về nhà…
 
TỪ SÀI GÒN ĐẾN DENVER
 
Như đã nói ở trên, đây là truyện mở đầu nghề văn của Hà Kỳ Lam. Đọc xong câu chuyện tôi càng thích cái tựa. Từ Sài Gòn đến Denver không nhằm nêu lên khoảng cách không gian mà lại là độ dài thời gian. Nó ghi dấu một chuyện tình đẹp mà… lạ vào năm 1960 tại Sài Gòn. Chuyện tình của một sinh viên Việt nghèo với cô nữ sinh giàu người Mỹ. Họ yêu nhau được một năm thì nàng bị đưa về xứ để vào đại học. Cái lạ là dù học trường Mỹ và được bu quanh bởi các sinh viên Mỹ, dù xa cách muôn trùng, nàng vẫn không quên chàng sinh viên Việt. Thậm chí sau khi chàng trở thành sĩ quan ngang dọc 4 vùng, thư của nàng vẫn chịu khó bay lên tận A Sao, A Lưới, rồi lại lặn lội xuống Bình Giả, Đồng Xoài… Chàng bận chiến chinh nên cứ phải xin lỗi về sự chậm trễ hồi âm. Nàng âu yếm bảo chàng: “Điều quan trọng là em biết anh còn sống ở nơi nào đó…” Nàng cứ tiếp tục viết thư và đến một lúc chàng thấy mình quá vô lý, quá ích kỷ! Chàng muốn chấm dứt cuộc tình vô vọng để … trả tự do cho nàng. Thế là chàng im lặng như một cách báo tin rằng chàng đã tử trận…
 
Rồi bỗng thời thế đẩy đưa, hai mươi bốn năm sau chàng tự mang thân đến định cư trên đất nước của nàng. Chàng cứ đêm ngày thao thức, xao xuyến, băn khoăn. Hẳn nhiên giờ đây nàng cũng đã có chồng có con như chàng đang có vợ có con. Thì gặp nhau lại để làm gì! Chàng cố quên những kỷ niệm xưa cứ thường xuyên về quấy rối, cố dồn hết tâm trí vào việc học việc làm để sớm tạo điều kiện bảo lãnh vợ con còn kẹt lại Việt Nam.
 
Sáu năm sau, chàng tình cờ biết được số điện thoại của nàng qua người bạn thân sống gần nhà nàng ở thành phố Denver thuộc Tiểu bang Colorado. Coi như trời dun rủi, chàng quyết định gọi nàng như một thăm hỏi xã giao. Giọng nàng vô cùng nồng nhiệt tiếp nhận tin chàng. Nàng đã sốt sắng mời chàng sang chơi với gia đình nàng.
 
Và chàng đã đến, đã ở nhà nàng trọn buổi chiều và buổi tối. Có lúc có mặt chồng con nàng, có lúc chỉ có riêng nàng và chàng. Cả hai nhiệt thành nhắc lại những kỷ niệm xưa, trao đổi nhau vui buồn về dòng đời qua thời gian xa cách như hai người bạn chí thiết. Cuộc hành trình từ Sài Gòn đến Denver để tái ngộ người xưa dài dến 30 năm, rốt cuộc chỉ để hai người lại nói lời chia tay và chúc nhau luôn hạnh phúc và nhiều may mắn.
 
Tôi không nghĩ Hà Kỳ Lam chỉ muốn kể lại một chuyện tình. Người ta thường vẫn cho rằng, trong xã hội tạp chủng như Hoa Kỳ, tình yêu và hôn nhân chỉ là cái gì tạm bợ, từ đó người ta lợi dụng “đặc tính” tạm bợ được gán cho nó. Hà Kỳ Lam hẳn muốn cho thấy điều ngược lại: chính người Mỹ lại càng biết thủy biết chung.
 
BÓNG MÁT
 
Bóng Mát cũng là một truyện tình mà theo tôi đây là chuyện tình đẹp hơn bất cứ chuyện tình nào! Một truyện được viết ra như là một cách biểu lộ lòng biết ơn sâu xa. Chuyện của một đôi vợ chồng từ độ tuổi hai mươi chia sẻ nhau vui buồn, vinh nhục qua suốt hai mươi năm. Nói cho đúng là là chuyện của một người vợ trung trinh, kiên trì vững bước trên con đường dài đầy chông gai, hiểm trở, thậm chí còn có lúc không biết rồi sẽ về đâu!
 
Suốt mười năm đầu, nàng thường làm một… chinh phụ. Chàng hết bận hành quân lùng diệt địch ở rừng núi Tây nguyên thì lại bận đi … tù cải tạo tận núi rừng Việt Bắc. Ngày xưa, người chinh phụ của Đoàn Thị Điểm khoe làm 2 việc: “Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam, dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân” mà đã được ngợi khen giỏi dang thì đem so với chinh phụ ngày nay có nhằm nhò gì. Chinh phụ ngày nay, ngoài việc phụng dưỡng mẹ cha, nuôi dạy con cái, còn phải xoay sở kiếm tiền mua thực phẩm không chỉ nuôi gia đình mà còn phải gồng gánh lội ngược Trường Sơn ra tận Ải Nam Quan để thăm nuôi chồng. Không một lần mà nhiều lần cho chồng khỏi nhận… nơi này làm quê hương! Chưa kể một lần đi là một lần liều mạng với bao bất trắc nảy sinh từ một chế độ còn tàn bạo hơn cả thời Tần Thủy Hoàng!
 
Mười năm kế là thế bơ vơ trên một đất nước xa lạ. Người chồng phải trở lại trường để hy vọng tìm được một việc làm ưa thích hơn là lao động chân tay. Vì vậy, người vợ lại tiếp tục lặn lội bờ ao để nuôi sống gia đình: may vá, bán thức ăn lề đường, lau chùi nhà cửa… Cái hình ảnh đẹp “Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ” vẫn chỉ là một  mơ ước ca dao!

Thế nhưng cho dù đã phải trải qua bao gian nan, cho dù cuộc sống còn lao đao lận đận, cuộc đối thoại ngắn ngủi ở luống hoa trước nhà vào một buổi sáng sau hai mươi năm chồng vợ cho thấy lúc nào hai người cũng hạnh phúc tràn trề.
 
“Phương đưa tay vuốt nhẹ lên một đóa hoa và nói:
– Anh nhớ tưới đều kẻo nó héo thì uổng lắm!
Trương im lặng, nheo mắt nhìn Phương. Chỉ cần một ngày em ra thăm chúng là đủ rồi, không cần đến nước. Em là sự tươi mát, là cơn mưa rào mùa hạ cho những cánh đồng khô hạn… Em có bao giờ nghe anh nói đến ý niệm bóng mát của cuộc đời chưa? Nhưng cần chi. Em là thế đấy, Phương ơi!”
 
Từ lâu tôi vẫn nuôi cái ý viết một truyện như thế để tặng “người bạn đời” của tôi nhưng cứ loay hoay không biết diễn đạt thế nào cho xứng với những gì nàng đã dành cho tôi. Lại nữa, viết xong rồi liệu có tìm ra được cái tựa mang hình ảnh ẩn dụ rất tuyệt như Bóng Mát. Nội cái tựa không thôi đã đủ mát dạ mát lòng. Tôi chỉ còn cách nói với người bạn đời của tôi:
– Này em, hãy đọc Bóng Mát của Hà Kỳ Lam. Đó cũng là những gì anh muốn nói với em.
 
Và đó cũng là những gì mà mọi người tù cải tạo muốn biểu lộ lòng biết ơn với các chinh phụ đã dám thách đố thời gian, không gian và lao khổ để cho chồng được sống còn…
 
CHU MOM RÂY
 
Cái tên truyện nghe lạ đến nỗi mười lần như chục, khi đề cập đến truyện này tôi cứ nêu bằng cái tên quen thuộc Chu Mơ Rong. Vâng, thì CHU MOM RAY. Đây cũng là một câu chuyện tình, chuyện tình thời chiến được xét qua góc cạnh nhân bản và đạo lý và được diễn đạt bằng những phân tích tâm lý đầy ngõ ngách rắc rối. Nhân vật chính được tác giả gọi là ông Bân, vốn là cựu Trung sĩ trung đội trưởng ngày xưa và nay cư trú ở miền Đông Hoa Kỳ. Một hôm ông được người đệ tử ruột từ tiểu bang khác đến thăm. Thoạt thấy một đứa con gái của ông thầy, người đệ tử đã thốt lên: “Chào Miss Kontum”. Và thầy trò lai rai nhậu, lai rai nhắc nhau về các trận đánh qua các làng người Thượng vùng này. Họ nhắc đến chiến dịch Sóng Tình Thương kéo dài bốn tháng, mà người Trung đội trưởng vì quá thèm đàn bà, đã dụ dỗ một cô gái Thượng thật thà… Rồi đơn vị về hậu cứ nghỉ ngơi, Trung sĩ Bân quên mất cô gái…
 
Bẳng đi một thời gian, đơn vị hành quân qua một vùng khác. Sau trận chiến, khi lục soát, Trung sĩ Bân lần dò theo tiếng đứa con nít khóc và tìm thấy một đứa bé gái trần truồng đang ôm cứng người đàn bà đã chết. Anh lặng người khi nhận ra người đàn bà đó là người ông từng… dụ dỗ. Vì cuộc hành quan còn diễn tiến, Trung sĩ Bân nhờ người đệ tử mang đứa bé về hậu cứ và sau đó từ hậu cứ Trung sĩ Bân mang về nhà, nói dối vợ là ông “lỡ tay” bắn chết người mẹ, nên muốn nuôi đứa bé để chuộc lỗi lầm. Mười chín năm trôi qua, đứa bé lúc nào cũng cận kề ông mà không hề dám hé môi cho nó biết ông chính là cha ruột của nó.
 
Tôi cho rằng Hà Kỳ Lam đã rất độc đáo khi cho ông Bân mượn hơi rượu để nói rất nhiều, nói thật, nói hết với người đệ tử mà rốt cuộc ông vấn không nói được gì hơn. Người đệ tử đã biết chuyện này từ 19 năm trước. Cái ông cần là lời thú tội với vợ ông, con ông, nhưng ông không can đảm. Phải chăng đó là hình phạt nặng nề mà Hà Kỳ Lam muốn ông Bân đeo mãi cho đáng với tội tình…
 
Tuyển tập đầu tay của Hà Kỳ Lam đã gây cho Huỳnh Văn Phú và tôi niềm ngạc nhiên thích thú. Suốt 10 truyện, tuy nội dung khác nhau, chủ đề khác nhau nhưng không ra ngoài một đề tài: người tỵ nạn. Người tỵ nạn với ông láng giềng thiếu thân thiện. Người tỵ nạn với người yêu thuở học trò nay lấy chồng Mỹ. Người tỵ nạn với tình nghĩa vợ chồng gắn bó thủy chung. Người tỵ nạn trong xã hội mới. Người tỵ nạn với những ước mơ đời thường. Người tỵ nạn rồi sẽ dần quên tiếng Việt. Vân vân…
 
Ngoài khả năng diễn đạt tâm lý sắc sảo, tài dùng chữ chính xác, cấu trúc hợp lý, tạo dựng tình tiết hấp dẫn, tác giả còn tỏ ra là một cây viết đầy triển vọng nghệ thuật.
 
Qua VÙNG ĐÁ NGẦM, tác giả đã chính thức gia nhập văn đàn hải ngoại. Từ ngày phát minh mạng lưới toàn cầu, tên tuổi Hà Kỳ Lam càng lan rộng qua việc hầu hết các diễn đàn văn nghệ chọn đăng các truyện ở tuyển tập này và các truyện được viết sau đó mà vài năm sau hợp thành tuyển tập thứ hai NÚI VẪN XANH.

Điều khiến tôi vui nhất là cái danh sách văn thi sĩ xuất thân từ trường Trung học Võ Tánh Nha Trang vốn đã dài nay càng dài: Thanh Nhung, Cao Hoành Nhân, Duy Năng, Sao Trên Rừng Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Huỳnh Văn Phú, Trần Quán Niệm, Điệp Mỹ Linh, Việt Phương, Cung Thị Lan, Quan Dương, Vũ Hoàng Thư, Nguyễn Thanh Ty, Phạm Tín An Ninh, Vũ Thất, Hà Kỳ Lam…
 
Tôi thật sự thấy tiếc một điều. Lẽ ra cái bút danh HÀ KỲ LAM đã phải xuất hiện từ khuya ở Sài Gòn chớ đâu cần chờ đến… Denver!
 
Vũ Thất
25/6/2017
nguồn: Đặc san Áo Trắng Ngày Xưa 2017

BÀI THƠ CHO NƯỚC

BÀI THƠ CHO NƯỚC

Trương Chi

Truong Chi
Nhà thơ Trương Chi

BÀI THƠ CHO NƯỚC

1. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản
Và lớn lên dưới ảnh Bác Hồ
Bao nhiêu năm viết “Độc lập – Tự do
và Hạnh phúc” nhưng chưa từng thấy thế

2. Đất nước tôi có bao người tuổi trẻ
Đều lầm tin vào lịch sử Đảng truyền
Họ nói rằng: Bác là thánh, là tiên
Người đưa Nước thoát khỏi vòng nô lệ

3. Nhưng trong tôi thắp muôn vàn lý lẽ
Cuộc chiến nào mà Đảng thắng – Nước thua?
Dân làm giặc mà Đảng lại làm vua
Trên danh nghĩa “kẻ tôi đòi trung hiếu”

4. Đất nước tôi tất thảy do Đảng liệu
Đảng phân công, quản lý hết cuộc đời
Từ cây kim, sợi chỉ đến chén cơm, manh áo dù rách nát, nhỏ nhoi
Thì tất cả đều nhờ ơn của Đảng

5. “Yêu Tổ quốc” có nghĩa là “yêu Đảng”
“Chống chính quyền” là “phản bội quê hương”
Bao người vì non sông với niềm tin vào ngày mai nước Việt hùng cường
Đều lần lượt chịu tù đày, khổ ải

6. Đất nước tôi có gì không độc hại
Từ thức ăn, nước uống đến không khí ô nhiễm tràn lan
Từ nhu yếu phẩm của đứa trẻ sơ sinh đến cụ già sắp lìa khỏi trần gian
Đều tẩm độc vào xác – hồn nước Việt

7. Có nơi đâu mà người dân thua thiệt
Bằng thiên đường Xã Hội Chủ Nghĩa thế này không?
Máu dân oan đã nhuộm đỏ sông Hồng
Loài hung bạo chiếm hết trời – đất – biển…

8. Đất nước tôi với mọi điều trái ngược
Ngược văn minh, ngược tiến hóa loài người
Những phát ngôn của quan chức nực cười
Ngược đời thế, nhưng “tài tình lãnh đạo”

9. Ươn hèn nhất, bọn bút nô – Tuyên giáo!
Với hàng trăm tờ báo, đài vô tuyến – truyền hình
Ngoài mị dân, ru ngủ, chỉ những tin “cướp – giết – hiếp” hay bản nhạc “đúng quy trình”
Còn nhục nước họa dân thì muôn đời nín lặng

10. Đất nước tôi với sưu cao thuế nặng
Còn hơn thời phong kiến, thực dân
Những trạm BOT mọc lên khắp tỉnh thành
Cùng hàng vạn “áo vàng” chực rình thu mãi lộ

11. Ôi chân lý mà bao người “giác ngộ”
Làm suy đồi đạo đức mấy ngàn năm
Đưa quốc dân vào chia rẽ – thù hằn
Và kiềm tỏa đường tương lai dân tộc

12. Đất nước tôi mất dần vào Trung Quốc
Mất Hoàng Sa, rồi mất đến Trường Sa
Mất Biển Đông, Bản Giốc, rồi những nơi trọng yếu của nước nhà
Đảng biết rõ, nhưng làm ngơ tất cả

13. Từ có Đảng, biết bao điều tai họa
Như mệnh trời muốn thử thách người Nam
Mà Đảng vẫn huênh hoang nào “thắng lợi vẻ vang”
Nào “thời đại Hồ Chí Minh”, nào “dân giàu nước mạnh”

14. Đảng hào nhoáng với ngai vàng lấp lánh
Còn dân đen thì đói khổ, nghèo nàn
Những ủy ban, hội đồng… đều mang mác “nhân dân”
Chỉ kho bạc là của riêng “nhà nước”

15. “Đổi mới” rồi “kiến tạo” với bao đời Thủ tướng
Bao đời Tổng Bí thư từ Chinh, Duẩn, Linh, Mười…
Bao sai lầm mà Đảng chẳng nên người
Sợi kinh nghiệm rút kiếp nào cho hết

16. Đảng cứ sống và dân thì cứ chết
Cứ chết dần trong mơ ước tàn phai
Trong căn bệnh ung thư hay tai nạn giao thông… rồi sẽ đến một mai
“Chết từ từ” để giết nòi giống Việt

17. Tôi xấu hổ khi nói cùng thứ tiếng
Và viết chung ngôn ngữ với một đảng đê hèn
Hít thở bầu khí quyển màu đen
Bóp nghẹt Tự Do ở dưới triều Cộng Sản

18. Tôi sinh ra giữa lòng Cộng Sản
Nhưng tôi là một người Việt Tự Do
Trong tim tôi là lý tưởng Quốc Gia
Và chính nghĩa là chủ trương dân tộc

19. Xin cảm ơn những tấm gương bất phục
Và những người yêu Nước của hôm nay
Đã dấn thân vào những chốn đọa đày
Vẫn khí khái cất cao lời tranh đấu

20. “Ghét Cộng Sản” chẳng bao giờ là xấu
“Yêu đồng bào” từ giòng máu Việt Nam
Chúng ta là con cháu xứ Văn Lang
Và thề quyết làm sáng danh Hồng – Lạc

21. Hỡi những người trai, cô gái Việt
Hãy đứng lên vì non nước lầm than
Diệt bá quyền, lật đổ lũ tham tàn
Cho không thẹn với hồn thiêng sông núi

22. Hãy bước đi theo tiếng đời thúc gọi
Triệu tấm lòng vì đất nước – quê hương
Sẽ noi gương anh dũng của Trưng Vương
Mang ý chí Diên Hồng xây đắp nền Cộng Hòa tự chủ.

Cho quê hương Việt Nam, mùa Xuân 2018
Trương Chi

nguồn: hoisinhviennhanquyen.org

 

Thủ tướng Việt Nam Xã nghĩa

Thủ tướng Việt Nam Xã nghĩa

Image may contain: 7 people, people standing and suit

Image may contain: 3 people, people standing and text

Ngậm Miệng Ăn Tiền! –

Ngậm Miệng Ăn Tiền!

ĐIỆP MỸ LINH

HoangsaParacel: Hàng Không Mẫu Hạm US Carl Vinson đem lại tình cảm nồng ấm Việt Mỹ, vừa nhổ neo rời Đà Nẵng xong thì nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội đã hấp tấp cử hành tưởng niệm 50 năm vụ Mỹ Lai.  Quên đi quá khứ, xóa bỏ hận thù rốt cuộc chỉ là đầu môi, chót lưỡi của vẹm cộng.

Được tin Hàng Không Mẫu Hạm USS Carl Vinson của Hải Quân Mỹ đến Đà Nẵng ngày March 5-2018, tôi cúi mặt, lặng yên, lòng dâng lên vời vợi một nỗi buồn! Lẽ nào đảng và người Cộng Sản Việt Nam (C.S.V.N.) gây ra cuộc chiến tương tàn, từ 1954 đến 1975, làm thiệt hại nhân mạng hơn 2 triệu thường dân – cả Nam lẫn Bắc Việt Nam; hơn 1 triệu quân của đảng C.S.V.N., bộ đội cụ Hồ; từ 200 ngàn cho đến 250 ngàn quân nhân miền Nam Việt Nam; chưa kể số thương vong của quân nhân Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Đại Hàn, cố vấn Trung Cộng, v.v… chỉ để đánh cho Mỹ cút; nay Mỹ trở lại!

Mỹ trở lại Việt Nam làm cho chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng khó chịu bao nhiêu thì sự kiện Mỹ trở lại Việt Nam cũng làm cho tôi xót xa bấy nhiêu!

Không xót xa sao được khi mà – sau khi Mỹ rút quân – đảng và người C. S. V. N. đã trút tất cả oán thù, uất hận trên hình tinh này xuống thân phận người miền Nam chúng tôi!

Thời kháng chiến chống Tây, ông Hồ Chí Minh đã ra lệnh thủ tiêu các nhà cách mạng không cùng chí hướng với ông. Sau hiệp định đình chiến Genève, 1954, ông Hồ Chí Minh theo lệnh của Trung Cộng, hô hào đảng và người C.S.V.N. phải tận diệt người miền Nam chúng tôi – vì chúng tôi không theo Cộng Sản!

Thế thì tại sao đảng và người C.S.V.N. lại thù hận chúng tôi? Chúng tôi không khởi động cuộc chiến 1954-1975. Chúng tôi không vượt sông Bến Hải ra Bắc để tấn công người C.S.V.N.. Chính người C.S.V.N. đã “xẻ Trường Sơn” khắc vào người “sinh Bắc tử Nam” để vào Nam khủng bố, bắn giết chúng tôi thì chúng tôi phải tự vệ. Dù chúng tôi chỉ tự vệ thì đảng và người C.S.V.N. cũng đừng nên hảo huyền mà tuyên truyền rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (V.N.C.H.) thua cuộc!

Khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Huy Tâm – thuộc Hệ Thống Truyền Thông Việt Nam Hải Ngoại – Điệp Mỹ Linh đã xác định: “Người Lính và Quân Lực V.N.C.H. chưa bao giờ thua bộ đội Cộng Sản Bắc Việt tại chiến trường mà chính quyền miền Nam đã thua C.S.V.N. tại bàn hội nghị – vì sự tráo trở, gian manh, lật lọng của C.S.V.N.!

Tháng Ba 1975, lệnh rút quân khỏi Cao Nguyên, rồi lệnh rút quân khỏi Vùng I và Vùng II Chiến Thuật. 

Sáng 30-04-1975, ông Dương Văn Minh đầu hàng và ra lệnh người Lính V.N.C.H. buông súng! 

Vào thời điểm nghiệt ngã như vậy, người Lính V.N.C.H. làm được gì khi vũ khí và đạn dược không được tiếp tế – vì Mỹ đã rút quân từ năm 1973, trong khi bộ đội cụ Hồ, đảng C.S.V.N. thì vẫn nhận được sự viện trợ vũ khí, đạn dược từ Trung Cộng và Nga – mà lệnh đầu hàng lại đến từ vị chỉ huy tối cao, Tổng Tư Lệnh Dương Văn Minh? Sự thật là như vậy. Tài liệu và phim ảnh còn đó.

Tôi nhận thấy, vị thế của người Lính V.N.C.H. vào ngày 30 tháng 04 năm 1975 không khác chi vị thế của quân đội Nhật vào thời điểm sau khi chính phủ Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng trên chiến hạm USS Missouri tại Tokyo Bay, vào mùa Hạ năm 1945!…” 

Trong cuộc chiến Mỹ-Nhật, vào thời đệ II Thế Chiến, Mỹ là kẻ chiến thắng thật sự; vì Mỹ chiến đấu đơn độc chứ Mỹ không hề nhờ cậy, lệ thuộc vào sự giúp đỡ của bất cứ một đồng minh nào cả. Thế mà, sống ngay trên đất nước Hoa Kỳ 43 năm, tôi chưa hề thấy chính phủ Mỹ, nhân dân Hoa Kỳ tổ chức kỷ niệm ngày Mỹ chiến thắng Nhật Bản!

Vì Hoa Kỳ xử sự cao thượng như thế cho nên giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản mới có được sự giao hảo tốt đẹp, bền vững suốt nhiều thập niên qua.

Trong khi kẻ thắng trận có văn hóa, có đạo đức – như Hoa Kỳ – đối xử với người thua trận như thế thì đảng và người C.S.V.N., tự phong là kẻ “giải phóng” miền Nam, lại chỉ chờ đến Tết hoặc ngày 30 tháng Tư mỗi năm, tổ chức mừng chiến thắng rất linh đình, “hoành tráng” để “đâm” vào vết thương không bao giờ lành trong lòng người dân miền Nam và cũng để tự xoa dịu mặc cảm tự ty của chính người C.S.V.N., bộ đội cụ Hồ!

Ai muốn biết mặc cảm tự ty của người C.S.V.N., bộ đội cụ Hồ là gì và như thế nào, xin mời xem lại hình ảnh ngày 30-04-1975 – ngày “đàn bò về thành phố”. (1)

Người miền Nam chúng tôi không cần đảng và người C.S.V.N. phải đối xử với chúng tôi một cách cao thượng như người Mỹ đối với người Nhật. Người miền Nam chúng tôi chỉ ước chi người C.S.V.N. bớt đi sự tàn ác, dã man – mà người C.S.V.N. đã hành xử đối với hơn 300 ngàn sĩ quan, công chức miền Nam trong các trại tù cải tạo, sau 30-04-1975 – thì ngày nay, thái độ của người Việt di tản đối với đảng và “nhà nước” C.S.V.N. có thể không như bây giờ.

Bây giờ người C.S.V.N. kêu gọi chúng tôi hãy khép lại quá khứ. Cái quá khứ tàn khốc do người C.S.V.N. gây nên, nếu chỉ xảy ra cho cá nhân chúng tôi thì chúng tôi có thể tự nhân danh chúng tôi để khép lại vết thương sâu thẳm đó. Đằng này, cái quá khứ khốc liệt, tàn ác của đảng và người C.S.V.N. lại trút lên số phận những người thân yêu của chúng tôi thì chúng tôi lấy danh nghĩa gì mà tha thứ cho đảng và người C.S.V.N.? Nếu chúng tôi quên đi tình ruột thịt mà tha thứ cho đảng và người C.S.V.N. thì chúng tôi cũng sẽ giống như người C.S.V.N. – nghĩa là chúng tôi sẽ không còn là những người có lương tri nữa!

Giả thử chúng tôi cao thượng, tạm thời khép lại quá khứ thù hận. Nhưng cứ đến ngày kỵ giỗ những người thân yêu trong gia đình chúng tôi thì đảng và người C.S.V.N. lại tổ chức ăn mừng, ca hát, nhảy múa, tuyên truyền, lên án, xuyên tạc, đổ tội những người thân yêu của chúng tôi thì cái quá khứ tàn ác, khốc liệt mà người Cộng Sản đã dành cho gia đình chúng tôi có thể xóa mờ được hay không?

Viết đến đây, tôi nhận được youtube về Hàng Không Mẫu Hạm Carl Vinson vừa đến Đà Nẵng. Mở youtube, nghe tiếng guitars dạo vài notes, tôi biết ngay Hải Quân Mỹ “chơi” trò tâm lý chiến. Khi nữ thủy thủ Emily Kerhaw hát đến câu: “…Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà…anh em ta về… gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng…”, tôi tắt youtube!

Tôi tự hỏi, có cơn bão nào – dù là giông bão, bão cát – đem đến an bình cho vạn vật trên quả địa cầu này hay không? Dĩ nhiên là không! Anh chị em gặp nhau vui mừng mà như “bão cát quay cuồng” thì hãi hùng, kinh khiếp quá chứ tốt đẹp gì, hạnh phúc gì! Và sự hãi hùng, kinh khiếp quả thật đã đến với người miền Nam chúng tôi, sau khi bộ đội cụ Hồ, người C.S.V.N. cưỡng chiếm miền Nam! Thế thì nhạc phẩm Nối Vòng Tay Lớn là lời tiên tri hay là lời nguyền rủa của Trịnh Công Sơn dành cho người miền Nam?

Tôi xót xa nhận ra rằng: Dù tiên tri hay nguyền rủa thì cũng chính sự tự do nhân bản của miền Nam đã giúp cho một nhạc sĩ thiên Cộng như Trịnh Công Sơn có đời sống an nhàn, khỏi phải đi lính như hầu hết thanh niên miền Nam, để Trịnh Công Sơn sáng tác những tác phẩm nói lên nỗi khao khát của anh ta.

Nỗi khao khát của Trịnh Công Sơn thể hiện rõ nét nhất trong bốn câu cuối của nhạc khúc Nối Vòng Tay Lớn: “…Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay. Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi. Vượt thác cheo leo, tay ta vượt đèo, từ quê nghèo lên phố lớn, nắm tay nối liền biển xanh sông gấm nối liền một vòng tử sinh.” 

Ngày 30-04-1975, nỗi khao khát của Trịnh Công Sơn trở thành hiện thực. Và – cũng chính trong ngày 30-04-1975 – Trịnh Công Sơn ôm đàn đến đài phát thanh ca vang: “…Vượt thác cheo leo…vượt đèo, từ quê nghèo lên phố lớn…” để chào mừng “bên thắng cuộc”. Nhưng, sau đó, không hiểu tại sao, Trịnh Công Sơn lại bị “bên thắng cuộc” đày đi kinh tế mới. Khi bị bệnh nặng, được “bên thắng cuộc” hứa cho đi ngoại quốc chữa bệnh, Trịnh Công Sơn từ chối – đây là lòng tự trọng cao cả cuối đời của một nghệ sĩ lạc lối!

Viết ngang đây, tôi lại nhận được youtube về bài Nối Vòng Tay Lớn được viết lời ca khác. Lời ca “mới” này thể hiện trọn vẹn hình ảnh của bộ đội cụ Hồ, người C.S.V.N. và hoàn cảnh của gia đình “Ngụy” quân, “Ngụy” quyền sau khi miền Nam bị bức tử: “Từ Bắc vô Nam đi bằng dép râu, hai tay cầm sợi giây gai để bắt con cầy…Thành phố tới thôn xa kêu gào, chẳng biết kiếm đâu ra hạc gạo, toàn là mì với bo bo…Từ Bắc vô Nam muôn người oán than, công an là bọn lưu manh khủng bố dân lành. Nhà nước tham ô, nhân dân đói nghèo. Làng thôn tràn lên phố lớn, dắt nhau ăn mày vì đâu nên nổi, cũng vì một bọn Cộng nô!”. (2)

Đây không phải là lần đầu tiên tôi nghe đảng và người C.S.V.N. bị người dân chế diễu một cách chính xác, cay đắng như vậy. Lúc còn bé, cùng gia đình ra “vùng giải phóng” để Ba tôi thực hiện ước nguyện chống Tây, tôi đã nghe trẻ em hát như thế này: “Tuốt gươm thiêng vung cho nước nhà, khiến ông bà mang gói tản cư. Hồ Chí Minh lai căng, Hồ Chí Minh! Làm cho máu thấm ướt nước Nam. Hồ Chí Minh lai căn, Hồ Chí Minh! Làm cho nước Việt Nam tan hoang!…” (3) Sau này, đủ hiểu biết, tôi hỏi Ba tôi, làm thế nào lũ trẻ em ngây thơ chất phác ngày đó lại có thể “tiên đoán” những điềm “ghê gớm” như vậy? Ba tôi cười hiền hòa, bảo, thành phần trí thức miền Nam thoát ly ra “vùng giải phóng” – sau khi nhận thức được sự trá hình của Việt Minh và ông Hồ Chí Minh – đã đổi lời ca như thế chứ trẻ em làm thế nào hiểu “lai căng, máu thấm nước Nam, nước Việt Nam tan hoang” là nghĩa gì mà tiên đoán!

Trong cuộc chiến 1954-1975, máu của gần 04 triệu người đã đổ trên Quê Hương Việt Nam; số lượng máu vỹ đại đó không “thấm ướt nước Nam” thì thấm vào nước nào? Việt Nam không “tan hoang” dưới gót dày của Trung Cộng thì Trung Cộng đang làm gì trên đất nước Việt Nam – từ Bắc chí Nam, từ cao nguyên xuống đồng bằng? Những cứ điểm biệt lập của Trung Cộng dùng vào mục đích gì?

Ngoài việc làm tan hoang đất nước, đảng và người C.S.V.N. còn tạo ra nhiều điều tệ hại chứng tỏ sự hèn hạ, thiếu tư cách của những nhà lãnh đạo đảng.

Sự hèn hạ to lớn nhất của đảng và người C.S.V.N. là: Chính người C.S.V.N., bộ đội cụ Hồ đã xâm phạm hiệp ước hưu chiến vào Tết Mậu Thân để tàn sát gần sáu ngàn thường dân ở Huế mà đảng và người C.S.V.N. không dám nhận lỗi, lại đổ tội cho Mỹ Ngụy! Không những thế, từ đó, năm nào đảng và người C.S.V.N. cũng chờ đến Tết để tổ chức tưng bừng “chiến thắng Mậu Thân”.

Chiến thắng cái nỗi gì mà – trong trận Tết Mậu Thân – khi thấy Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Biệt Động Quân của Quân Lực V.N.C.H. được tăng cường để tái chiếm các cứ điểm do bộ đội C.S.V.N chiếm cứ thì bộ đội C.S.V.N. “dông ba tê, chém vè” nhanh hơn… sóc!

Cái hèn thứ hai của ban lãnh đạo C.S.V.N. là: Khi Hàng Không Mẫu Hạm USS Carl Vinson đến Đà Nẵng, có đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Daniel Kritenbrink và Đô Đốc Scott Swift – Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ – trên Hàng Không Mẫu Hạm thì toàn ban lãnh đạo của đảng và “nhà nước” C.S.V.N. “trốn mất biệt”; chỉ vì ban lãnh đạo, “nhà nước” C.S.V.N. không dám làm mếch lòng chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung- Cộng! Cái hèn này làm nhục Quốc thể!

Cái hèn thứ ba của ban lãnh dạo C.S.V.N. là, năm 2017, công ty khí đốt – Repsol – của Tây Ban Nha, đã ký hợp đồng với Việt Nam để thăm dò dầu khí; nhưng khi chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng dọa Việt Nam rằng: Nếu Việt Nam để Repsol thăm dò dầu khí thì Trung Cộng sẽ đánh các căn cứ quân sự của Việt Nam tại Trường Sa. Thế là ban lãnh đạo C.S.V.N…. run, xóa hợp đồng với Repsol!

Cái hèn thứ tư của ban lãnh đạo C.S.V.N. là, vào những dịp lễ tưởng niệm, nếu biết được địa điểm dân chúng sẽ tề tựu để biểu tình phản đối Trung Cộng, đảng, “nhà nước” C.S.V.N. thì đảng và người C.S.V.N. ra lệnh cho dư-luận-viên đưa vợ, bồ nhí đến địa điểm đó, nhảy đầm để choáng chỗ!

Vào ngày Lễ Hoàng Sa năm nay, Trung Cộng đã thâm độc đưa đoàn biểu diễn nghệ thuật Nội Mông sang Việt Nam để rầm rộ trình diễn vào tối 19/01 tại thủ đô Hà Nội – như một hình thức ăn mừng chiến thắng Hoàng Sa năm 1974 – để người Việt Nam ham vui, quên đi ngày Trung Cộng chiếm Hoàng Sa! Khi bị dân chúng và dư luận lên án nặng nề, ban tổ chức đành phải hủy bỏ đêm trình diễn của Nội Mông.

Riêng dịp tưởng niệm 64 tử sĩ Gạc Ma, năm nay, một nhóm nhỏ gồm 20 nhà hoạt động có mặt ở khu vực tượng đài vào khoảng 9 sáng ngày 14/3/18 để tiến hành lễ tưởng niệm thì công an Cộng Sản xuất hiện, mời về đồn công an “làm việc”!

Từ sự hèn hạ của ban lãnh đạo C.S.V.N. tôi liên tưởng đến một tấm ảnh rất đẹp, rất ý nghĩa, chụp hôm đám tang của đại tá nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Ngay trước ngôi nhà của đại tá Nguyễn Văn Đông, rất nhiều người – có cả công an C.S.V.N. mặc sắc phục, đội mũ “kết” – đứng dọc hai bên đường. Khi quan tài của đại tá Nguyễn Văn Đông vừa được đưa ra khỏi nhà thì… thật bất ngờ, nhóm thường dân đứng bên phải của ngôi nhà vội đưa tay lên chào kính theo kiểu nhà binh! Sau này tôi mới biết nhóm thường dân chào kính cố đại tá Nguyễn Văn Đông là nhóm cựu Thiếu Sinh Quân.

Nhìn tấm ảnh nhóm cựu Thiếu Sinh Quân V.N.C.H. chào kính, tiễn đưa một sĩ quan cao cấp, một nhân tài của V.N.C.H., tự dưng nước mắt của tôi lăn dài! Tôi tự biết, tôi không khóc vì nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông qua đời; vì – dù rất thích và cũng đã từng đàn, từng hát nhạc của Ông – tôi chưa được hân hạnh gặp, quen với Ông. Tôi khóc vì tôi xúc động trước sự can đảm của nhóm Thiếu Sinh Quân đang sống trong lòng địch và đứng ngay trước mặt công an Cộng Sản mà nhóm Thiếu Sinh Quân này cũng vẫn không biết sợ, vẫn cứ chào kính một sĩ quan đàn anh. Tư cách, cử chỉ của nhóm Thiếu Sinh Quân hôm tang lễ của đại tá Nguyễn Văn Đông hơn hẳn tư cách của ban lãnh đạo C.S.V.N.; và cử chỉ của nhóm Thiếu Sinh Quân này cũng đã thể hiện rất rõ nét về tác phong của người Lính V.N.C.H. cũng như về đạo đức của nền giáo dục dưới chính thể V.N.C.H.!

Việt Nam là đất nước của người Việt Nam thì nhà cầm quyền của Việt Nam muốn mời ai, cho phép ai đến thăm là quyền của nhà cầm quyền Việt Nam; chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng không có thẩm quyền gì để tỏ thái độ về chuyện riêng tư của nhà cầm quyền Việt Nam! Nhưng chợt nhớ ra lý do thầm kín khiến chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng nổi giận khi thấy ban lãnh đạo đảng C.S.V.N. tỏ thái độ hòa nhã với Mỹ – “kẻ thù xưa” của đảng và người C.S.V.N. – tôi cay đắng nhận ra lý do toàn ban lãnh đạo của đảng và nhà nước C.S.V.N. “trốn mất biệt” là…đúng!

Tôi gọi là “lý do thầm kín” nhưng thật ra lịch sử và thực tế đã hiển hiện rõ ràng, ai tinh ý cũng có thể thấy được.

Ngược dòng lịch sử, kể từ khi ông Hồ Chí Minh du nhập vào Việt Nam lý thuyết Cộng Sản thì đảng và người C.S.V.N. chỉ biết “tuân thủ” theo ý muốn của đàn anh Trung Cộng. Từ cải cách ruộng đất đến khởi động cuộc chiến 1954-1975 để anh em nhà Việt Nam giết nhau; rồi chiến thuật “biển người” để thiêu rụi người Việt càng nhanh càng tốt; rồi trại cải tạo để hủy diệt tinh hoa, nhân tài, trí thức người Việt; rồi cho Trung Cộng xuất cảng sang Việt Nam thực phẩm có chứa hóa chất độc hại, v.v…

Sau khi thiêu rụi gần 04 triệu người Việt trong cuộc chiến và đuổi ra biển cả triệu người Việt, Trung Cộng bắt đầu từng phần, từng phần, đặt nền móng ngay trong lòng Quê Hương Việt Nam.

Người Việt Nam đau đớn khi thấy Formosa xả chất thải độc hại ra biển, làm cá chết ngập bờ, ảnh hưởng nặng nề đến môi trường sống, thì ban lãnh đạo C.S.V.N. kéo nhau xuống biển Vũng Áng tắm… giàn cảnh để trấn an người Việt. Còn những địa điểm chiến thuật quân sự quan trọng của Việt Nam đã bị Trung Cộng đặt cứ điểm – mà Trung Cộng dựng bảng “cấm người Việt lai vãng” – thì ban lãnh đạo C.S.V.N. có dám đến hay không? Người Việt Nam nào có thể biết được bên trong những cứ điểm này Trung Cộng xây dựng bao nhiêu hầm bí mật, bao nhiêu hệ thống ra-đa tối tân để theo dõi mọi động tịnh quân sự của Việt Nam – trong đất liền, ngoài biển khơi, trên bầu trời?

Chính những cứ điểm chiến lược này của Trung Cộng khiến cho ban lãnh đạo C.S.V.N. không dám “nhúc nhích” – vì ban lãnh đạo C.S.V.N. tự biết họ đã “rơi” vào âm mưu thâm độc của chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng rồi! Nhưng đảng và người C.S.V.N. không thể nào thoát được nanh vuốt của Trung Cộng; vì những số tiền kếch xù và vàng ròng mà Trung Cộng đã trả cho ban lãnh đạo C.S.V.N. khi ký hợp đồng thuê đất – trên Quê Hương Việt Nam – ban lãnh đạo C.S.V.N. đã chia nhau cả rồi! Sau đó, các vị trong ban lãnh đạo C.S.V.N. mạnh ai nấy gửi con sang Mỹ và các quốc gia Tây phương du học, mua bất động sản ở ngoại quốc, gửi tiền, vàng vào ngân hàng thế giới, xây dinh thự cho “em chân dài”, xây nghĩa trang “hoành tráng”, v.v… Thế thì, giả dụ như Trung Cộng bảo: “Trả tiền và vàng lại cho tui, tui sẽ rút về Tàu” thì tiền, vàng ròng ở đâu mà ban lãnh đạo C.S.V.N. trả lại cho Trung Cộng?

Ngoài số-tiền-không-thể-đếm-nổi và vàng-ròng-không-thể-cân-đo do Trung Cộng trả cho đảng và người C.S.V.N. để thuê đất của Việt Nam, đảng và người C.S.V.N. còn nợ Trung Cộng món tiền “khổng lồ” khác: Đó là số vũ khí, quân dụng – được Trung Cộng tính thành tiền, vàng – và số cố vấn, quân nhân mà Trung Cộng đã cung cấp cho C.S.V.N. từ trận Điện Biên Phủ và suốt cuộc chiến hơn 20 năm để người C.S.V.N. vào miền Nam tận diệt người đồng chủng!

Vì thế, ban lãnh đạo C.S.V.N. chỉ còn cách duy nhất – mà bao thập niên qua đảng và ban lãnh đạo C.S.V.N. vẫn âm thầm thi hành – là cúi đầu vâng lệnh quan thầy Trung Cộng!

Ban lãnh đạo C.S.V.N. đã “rơi” đúng vào vị thế mà Ông Bà mình thường bảo: “Ăn xôi chùa, ngậm miệng!” hay là “ngậm miệng ăn tiền!”

Dã tâm và sự hèn hạ của đảng và người C.S.V.N. khi đón tiếp Hàng Không Mẫu Hạm Carl Vinson làm cho tôi buồn và xấu hổ bao nhiêu thì khi nhìn những khuôn mặt vui tươi, hớn hở, thân thiện của người Việt và thủy thủ đoàn của Hàng Không Mẫu Hạm Carl Vinson, lòng tôi cũng cảm thấy nhẹ nhàng, an nhiên, thơ thới bấy nhiêu!

Suốt nhiều thập niên qua, bị đảng và người C.S.V.N. tuyên truyền, đầu độc rằng Mỹ là “đế quốc xâm lược”, nhưng cuối cùng – lần Tổng Thống Obama đến Việt Nam và bây giờ Hàng Không Mẫu Hạm USS Carl Vinson đến Đà Nẵng – người Việt Nam trong nước cũng nhận ra được, giữa Mỹ và Trung Cộng, ai mới là bạn và ai là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam!

ĐIỆP MỸ LINH

 http://www.diepmylinh.com/

  1. Lời ca bài Du Mục của Trịnh Công Sơn.