Vũ Thất

Bảo Bình 1

Mỹ phớt lờ những cảnh báo của Trung Quốc ở Biển Đông

Mỹ phớt lờ những cảnh báo của Trung Quốc ở Biển Đông

Trung Quốc đang ngày càng đưa ra các cảnh báo đối với các tàu và máy bay nước ngoài hoạt động gần các vùng tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, theo Associated Press

Khác với thực tế trước đây, những cảnh báo hiện nay được phát xuất từ các đảo nhân tạo của Trung Quốc, nơi Trung Quốc đã thực hiện các bước để tăng cường vị trí quân sự của mình thông qua việc triển khai công nghệ gây nhiễu sóng và các hệ thống hỏa tiễn đạn đạo khác nhau.

Trong khi đó Hải quân Hoa Kỳ, quyết tâm hoạt động bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, nói rằng họ không bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của Trung Quốc

Hải quân Hoa Kỳ và các đồng minh trong khu vực đã nhận thấy sự gia tăng các truy vấn vô tuyến của Trung Quốc đối với tàu và máy bay nước ngoài hoạt động ở Biển Đông, một số ít thân thiện và phần đông thì thực sự đe dọa.

“Ngay lập tức”, lực lượng Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa tranh chấp cảnh báo hồi đầu năm nay khi một máy bay quân sự Philippines bay đến gần một tiền đồn Trung Quốc, theo AP, trích dẫn một tường trình mới của chính phủ Philippines.

“Phi cơ quân sự Philippines, chúng tôi cảnh báo một lần nữa, rời khỏi ngay lập tức hoặc sẽ nhận các hậu quả có thể xảy ra”, quân đội Trung Quốc đe dọa khi máy bay từ chối rời khỏi khu vực.

Trong nửa cuối năm ngoái, máy bay quân sự Philippines tuần tra gần các vùng lãnh thổ tranh chấp đã nhận được ít nhất 46 lần cảnh cáo trên các làn sóng. Trước đây những cảnh cáo này đã được truyền đi bởi các đơn vị tuần tra duyên hải Trung Quốc, các tin nhắn hiện nay được phát xuất từ các trạm phát sóng tại các tiền đồn quân sự ở Biển Đông.

“Các tàu và máy bay của chúng tôi đã quan sát thấy sự gia tăng các chất vấn vô tuyến xuất hiện từ các cơ sở mới trên đất liền ở Biển Đông,” vị Chỉ huy Trưởng Clay Doss, phát ngôn viên cho Hạm đội 7 Hoa Kỳ, nói với AP.

“Những thông tin liên lạc này không ảnh hưởng đến hoạt động của chúng tôi,” ông nói thêm, lưu ý rằng khi liên lạc với quân đội nước ngoài trong tình trạch không chuyên nghiệp, “những vấn đề đó được giải quyết bằng các phương sách ngoại giao và quân sự thích hợp.”
Quân đội Philippines có xu hướng tiếp tục với các hoạt động như kế hoạch. “Chúng tôi làm điều đó vì nhu cầu tuyên bố chủ quyền đối với khu vực đó và chúng tôi có một phản ứng tiêu chuẩn và tiến hành với những gì chúng tôi đang làm”, Tổng thư Ký Không quân Philippines Galileo Gerard Rio Kintanar Jr nói với các phóng viên AP.

Mặc dù tuyên bố chủ quyền rộng lớn của Trung Quốc đối với Biển Đông, ở một mức độ nhất định, bị tòa án trọng tài quốc tế phủ nhận tình trạng pháp lý hai năm trước, Trung Quốc vẫn tiếp tục củng cố vị thế quân sự của mình trong khu vực một cách chớp nhoáng.

Trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã triển khai nhiều hệ thống phòng thủ khác nhau, như kỷ thuật gây nhiễu sóng, hỏa tiễn địa đối không, hỏa tiễn đạn đạo chống chiến hạm, và thậm chí cả máy bay ném bom hạng nặng, đến Biển Đông. Bộ trưởng Quốc phòng Jim Mattis cáo buộc Trung Quốc “đe dọa và cưỡng ép” trong đường tuyến hàng hải.

Bắc Kinh, tuy nhiên, lập luận rằng họ có quyền bảo vệ lãnh thổ có chủ quyền của mình, đặc biệt là các lần Hải quân Hoa Kỳ tiến hành các hoạt động tự do hàng hải trong khu vực. Hoa Kỳ đã thi hành hơn nửa tá hoạt động kể từ khi bắt đầu chính quyền Trump.

Bất chấp cảnh báo và phản đối của Trung Quốc, quân đội Mỹ đã nhiều lần nói rõ rằng Mỹ sẽ duy trì sự hiện diện quân sự tích cực ở Biển Đông bất kể hành động của Trung Quốc. “Luật pháp quốc tế cho phép chúng tôi hoạt động ở đây, cho phép chúng tôi bay ở đây, cho phép chúng tôi tập luyện ở đây, cho phép chúng tôi di hành ở đây, và đó là những gì chúng tôi đang làm và chúng tôi sẽ tiếp tục làm điều đó,”Chỉ huy trưởng Trung tướng Tim Hawkins cho biết vào tháng Hai.

Quân đội Hoa Kỳ cũng tự tin về khả năng đối phó với các tiền đồn quân sự của Trung Quốc trong khu vực nếu tình hình leo thang. “Quân đội Mỹ đã có rất nhiều kinh nghiệm ở Tây Thái Bình Dương trong việc chế ngự các hòn đảo nhỏ”, Trung tướng Kenneth McKenzie, giám đốc của Ban Tham Mưu Hổn Hợp, nói với các phóng viên vào tháng Năm. “Đó là một sự thật.”

Các hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông đã khiến Hoa Kỳ hủy bỏ lời mời Hải quân Giải phóng Quân đội Nhân Dân tham gia cuộc tập trận qui mô quốc tế RIM trong năm nay tại Thái Bình Dương và Philippines đã nêu vấn đề cảnh báo radio với Bắc Kinh trong nhiều lần.

Ngọc Thạch (Theo Business Insider)

nguồn: baocalitoday.com

NHỮNG THÁNG NGÀY BUỒN

NHỮNG THÁNG NGÀY BUỒN

Song Thao

Sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam vào tháng 4/1975, toàn dân miền Nam, nếu chậm chân không leo được lên tàu di tản, đều sống trong những tháng ngày buồn. Nhưng cô nữ sinh 18 tuổi Ngọc Ánh, hơn mọi người, đã phải chịu cảnh buồn hiu. “Ngày Tháng Buồn Hiu” là tập hồi ký của Ngọc Ánh, con một cán bộ Việt cộng có vai vế, nhưng không chấp nhận được chế độ mà cha chị đã say mê tham gia tranh đấu. “Ba tôi là một người Cộng Sản, ông đã tham gia cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp chống Mỹ, các chị em tôi lớn lên ở Sài Gòn, nằm trong lòng “địch” nhưng cả nhà đều là những chiến sĩ xung kích trên khắp các mặt trận ở miền Nam cho tới ngày “giải phóng”. Má thì nuôi giấu cán bộ Việt cộng, các chị em thì làm giao liên. Sau ngày 30/4/75, ba và chị tôi được đón về từ nhà tù Côn Đảo như những người vinh quang nhất trong ngày vui đại thắng, gia đình tôi là một địa chỉ đỏ của thành phố với nhiều huân chương kháng chiến chống Mỹ được treo đầy tường”.

Cô nữ sinh Ngọc Ánh, trước 1975, không ở với gia đình tại Sài Gòn mà được gửi về Sóc Trăng, trọ tại nhà người cô ruột, cô Sáu, một gia đình có người tham gia vào quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Sau ngày miền Nam bị cưỡng chiếm, Ngọc Ánh được mang về Sài Gòn đoàn tụ với gia đình. Đoàn tụ nhưng không…đoàn kết. Chị lẻ loi giữa những người thân. Trong một buổi họp gia đình, ba chị đã nhận xét về chị: “Tư tưởng còn lệch lạc, nặng về chủ nghĩa cá nhân, bản thân cần phải tích cực rèn luyện để phấn đấu tiến bộ”. Nhưng chị không tiến bộ như ba chị mong muốn. Sau vài tháng bị bắt buộc làm công tác xã hội, sinh hoạt tập thể vớ vẩn, chị được chọn kết nạp vào Đoàn Thanh Niên Cộng Sản. Chị không nhận. Ba chị hét lên: “Con có  biết tại sao con được vào Đoàn không? Nhờ ba, nhờ lý lịch cách mạng của gia đình mình. Con có biết mọi người vẫn mơ ước được đứng vào hàng ngũ vẻ vang này không? Có những anh bộ đội đi suốt từ Bắc vào Nam để chiến đấu, đã đổ biết bao xương máu mà vẫn chưa được kết nạp. Còn con, tại sao con không thấy được cái vinh quang đó?”. Chị đã bình tĩnh trả lời: “Thưa ba, chính vì con chưa đổ một giọt mồ hôi nào cho chế độ này nên con không muốn trở thành người Cộng sản!”.

Không muốn trở thành người Cộng sản, chị bị gia đình từ bỏ. Và chị lội ngược dòng. Thành hôn với anh Trần Thắng Tài, Ngọc Ánh cùng chồng lo khôi phục lại một đất nước không Cộng sản. Âm mưu bại lộ, công an xộc vào nhà. “Định vào nhà nhưng thoáng thấy bóng tên công an đứng ở đầu hẻm, tôi linh tính có gì đó bất thường, vội rẽ xe hướng khác đạp một mạch ra Ngã Bảy, quanh quẩn hàng giờ trên đường mà không biết đi đâu, lòng bồn chồn khó chịu khi nghĩ tới Vy Dân ở nhà một mình, chắc thằng bé đang đói sữa, trái tim tôi như nghẹn lại khi nghĩ đến những bất trắc sắp xảy ra, phải về thôi dù biết sẽ bị bắt với mớ tài liệu và cây AK giấu trong bếp (trời dung đất rủi anh mới mang về tối hôm qua, chúng tôi chưa kịp đem đi). Căn nhà im lặng đến ngột ngạt, giọng má Sáu khe khẽ: “Công an kêu nó lên phường có chuyện gì đó không biết”. Má không biết nhưng tôi biết, chấp nhận vào cuộc là đối đầu với rủi ro mà. Tôi đưa Vy Dân cho má và vội chạy lên lầu đốt tài liệu, không nhiều lắm nhưng có khói, đang tháo cuộn phim ra thì nghe tiếng chân chạy rầm rập lên cầu thang, bọn chúng đã tới, tôi đá cuộn phim vào gầm giường. Thế là hết! Mọi chuyện có vẻ như bắt đầu hơn là kết thúc, không hiểu sao tôi lại nghĩ như vậy”.

Không khó cho công an kiếm được bao súng giấu trong bếp. Cả ba người trong cái gia đình nhỏ bé của Ngọc Ánh bị bắt. “Chấp nhận cuộc chơi mà, chuyện thua thắng cũng bình thường thôi, ít ra trong chuyến xe cuối cùng này mình cũng còn có nhau…Chỉ thương cho thằng bé, nó bị vạ lây vướng vào ngục tù theo ba mẹ vì không có sự chọn lựa nào khác, nó còn quá bé nhỏ để cảm nhận biến cố đau buồn này của gia đình”.

Họ bị kết tội “âm mưu lật đổ chính quyền”. Tội không oan vì anh Trần Thắng Tài đã thực sự dấn thân vì đại nghĩa. Chị Ngọc Ánh biết tất cả công việc của chồng nhưng thủ khẩu như bình, nhất định không khai dù bị dụ dỗ ngọt ngào hay quát tháo xỉ nhục. Có lần một anh công an trẻ đã mai mỉa: “Tôi không hiểu sao một người vừa trẻ, vừa đẹp, vừa thông minh như chị lại lấy thằng cha vừa già vừa cận thị như tên Tài? Hay là chị mơ ước được làm bà Tổng Thống?”. Chị đối đáp: “Bởi vậy bây giờ tôi mới ngồi ở đây để nghe ông kết tội vợ tên phản bội!”.

Một ngày 30/4, khi đi khai cung, chị đã quấn khăn trắng trên đầu. Tên cán bộ hỏi: “Chị để tang ai thế, chồng chị chưa chết mà”. Chị trả lời nhát gừng: “Tang cho 30/4”. Tên cán bộ lồng lộn quát: “Chị đừng có bố láo nhé, đất nước giải phóng độc lập tự do hạnh phúc thế này mà tang chế gì?” Chị điềm nhiên đáp: “Người ta chết như rạ trong ngày này mà không để tang à? Nếu không có mấy ông vào đây thì làm sao nên nỗi”.

Trong hoàn cảnh tù tội khắc nghiệt, chị vẫn còn đủ bình tĩnh trải lòng với nước non.

Vì sao miếng cơm ăn vẫn nghẹn
Một nửa còn đau xót người ơi,
Vì sao bát canh rau bỗng mặn
Nước mắt nào thương nhớ không nguôi
Vì sao nụ cười tươi tắt vội
Nỗi tình nhà, nỗi hận nước đầy vơi
Vì sao đường đi không biết mỏi
Khi còn nghe tiếng khóc của dân tôi!

Tháng 7 năm 1981, phiên tòa xử vụ án bắt đầu. Có nhiều thanh niên còn rất trẻ cũng liên quan vào vụ này. Trên xe ra tòa, họ bị còng chân và tay. Mọi người nhường cho chị ngồi cạnh chồng. “Tháng bảy trời mưa lâm râm, buổi sáng sao mà âm u thế! Chúng tôi ngồi im lặng bên nhau, lòng rưng rưng xúc động, nhìn mắt anh tôi cảm nhận được điều đó, nhưng gương mặt anh vẫn bình thản muôn đời, tôi nắm bàn tay anh mân mê những ngón thuôn gầy như ngày nào, tự dưng một ý nghĩ thoáng qua khiến tôi hốt hoảng, có khi nào mình mất nhau không?…Chuyến xe khựng lại và lúc này anh mới nói với tôi bằng giọng trầm ấm dịu dàng như bao giờ: “Hãy can đảm lên, rồi con chúng ta cũng sẽ giống như vậy, cố gắng chăm sóc cho Vy Dân, em còn trẻ nên đừng để phí tuổi trẻ của em, nếu không làm một khán giả vô tư thì cũng nên làm một nhà phê bình sắc bén, anh xin lỗi đã đưa em ra khơi và bây giờ phải bỏ em trở về một mình”.

Trong tù anh Tài vẫn hiên ngang bất khuất bày tỏ chí khí của mình. Năm 1980, anh làm bài thơ sau:

Ta nay thất thế bị giam cầm
Nghiến răng ngậm miệng nuốt hờn căm
Một lòng vì nước vì dân tộc
Sá chi tù ngục chốn ta nằm
Đêm nghe tiếng cuốc chiêu hồn nước
Ngày thấy hoàng hôn phủ núi sông
Miền Nam tan tác, đau lòng khóc
Án tử chung thân, gió thoảng lòng.

Tòa đã tuyên án tử hình anh Trần Thắng Tài. Bản án được thi hành vào ngày 14/6/1982 tại Phan Thiết. Nhiều năm sau, chị Ngọc Ánh đã bốc mộ anh và thiêu ngay tại chỗ, mang tro cốt về nhà để thờ. Trước khi đi Mỹ, chị đã mang tro rải trên sông Sài Gòn để anh ra đi thanh thản.

Nuôi con trong tù là chuyện quá vất vả. Mặc dù có những giúp đỡ của các bạn đồng tù, Vy Dân cũng bị suy dinh dưỡng trầm trọng. “Bỏ thằng bé ở nhà, đi làm theo tập thể, sáng không kịp cho con ăn, trưa về muộn, thằng bé đói rã ruột, đành cố gắng vậy, để mẹ phấn đấu mau về, mọi khó khăn hai mẹ con đều phải khắc phục, dỗ dành mãi thằng bé mới chịu ở nhà. Vy Dân rất thông  minh và hóm hỉnh, nó nghe và hiểu tất cả, có điều nó không nói được, nó trở thành kẻ tật nguyền từ sau cơn viêm màng não lạ lùng ở tại trại giam, chân tay lỏng khỏng, không ngồi được, không nhai được, không cầm nắm được, chỉ có nằm ngửa suốt ngày với hai chân ngo ngoe mạnh mẽ để ra dấu thay cho ngôn ngữ bằng cái đập chân, chân đưa lên cao là “có”, chân hạ xuống thấp là “không”, mọi người cứ đặt câu hỏi và nó sẽ trả lời thành thạo, nhưng tôi biết trái tim nó tràn đầy cảm xúc mà chỉ có mẹ mới cảm nhận ra”. Sau 8 năm ở tù chung với mẹ, Vy Dân được một cơ quan thiện nguyện Thụy Sĩ can thiệp và mang về Thụy Sĩ nuôi nấng chữa trị.

Trong bài viết “Ông Già Noel Là Mẹ”, chị đã tâm sự:  Nhưng điều tôi ân hận nhất đời là phải đẩy thằng bé vào trong hoàn cảnh khốn khổ này. Đêm Giáng Sinh đầu tiên trong phòng biệt giam tăm tối ở một tỉnh nhỏ xa lạ ngoài Trung, tôi nghe tiếng chuông nhà thờ đổ rất gần, tôi ôm thằng bé đang khóc ngất vì đói sữa mà nát cả lòng Lạy Chúa con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao...” Tôi thành tâm cầu nguyện theo cái cách riêng của mình để mong Chúa nghe thấy, nhưng chắc Ngài cũng bận rộn với hàng triệu triệu con chiên đang khốn khổ trong cái xã hội loi nhoi ngoài kia cần cứu rỗi hơn, nên bóng tối vẫn phủ trùm quanh đây sự im lặng đáng sợ và tôi lại mơ đến ông già Noel đầy huyền thoại của tuổi thơ. Ước gì ông già Noel là có thật để ông mang đến đây một bình sữa cho thằng bé nhà tôi”. Rồi những năm tháng lạnh lùng trôi qua trong trại giam, chồng tôi bị tử hình sau đó không lâu, con trai tôi qua những cơn sốt nặng không thuốc men, thiếu dinh dưỡng, thoi thóp trong hôn mê kéo dài… Để khi tỉnh dậy thì tay chân co rút và lưỡi líu lại, một bác sĩ tù nào đó nói với tôi về di chứng của bệnh viêm não. Tôi tuyệt vọng tưởng mình có thể giết chết đứa bé và tự tử để thoát khỏi kiếp lưu đày. Nhưng khi nghe tiếng kêu thét đầy hoảng sợ  của con, tôi lại chùn tay bật khóc!.. Gương mặt ngây thơ của nó đáng yêu biết bao nhiêu, tôi phải sống để giữ lời hứa với anh ấy là sẽ nuôi dạy nó nên người, cho dù bây giờ hình hài nó không còn giống như bao đứa trẻ khỏe mạnh bình thường khác, cho dù chúng tôi đang sống trong sự trả thù hèn hạ của bên chiến thắng, nhưng tôi không thể dạy nó lòng căm ghét kẻ đã giết cha nó, không thể dạy nó sự oán hận cái xã hội đã đẩy người dân vào bước đường cùng. Chưa bao giờ tôi kể cho nó nghe về sự thật đáng buồn của gia đình mình. Tôi không muốn tinh thần nó bị tổn thương, chịu đựng một thân thể khiếm khuyết cũng đủ làm đau nó cả đời rồi.Trong buổi ra mắt sách, trước cử tọa, chị đã nói bằng một giọng buồn bã nhưng cương quyết: “Nếu bây giờ phải làm lại, tôi cũng sẽ làm y như vậy!”.

Phần chị, sau khi ra tù, về Bình Dương, nuốt tủi hờn, làm bất cứ việc gì để nuôi thân, kể cả làm con sen con ở. “Chủ nhà còn rất trẻ, dân Bắc kỳ 75 đanh đá chanh chua, tôi cần tiền nên cũng dẹp tự ái để làm con sen quần quật từ sáng sớm đến tối mịt mới ngả lưng nằm. Nhiều lúc thấy tủi thân nhưng tôi phải tập cho mình lòng kiên nhẫn. Một hôm con nhỏ chủ liệng cái quần lót từ tầng ba xuống thau đồ tôi đang ngồi giặt rồi cười hăng hắc vì “trúng mục tiêu” khiến tôi nổi giận thật sự. Tôi chửi con chủ te tét rồi xách giỏ đi về, không cần đòi  món tiền lương hèn hạ của đứa khốn nạn”.

Song Thao, Ngọc Ánh và Nguyễn văn Sâm (06/2018)

Cuốn hồi ký “Ngày Tháng Buồn Hiu” tôi có trong tay ngày chị Ngọc Ánh qua Montreal ra mắt sách thực ra là hai cuốn hồi ký, mỗi cuốn đúng trăm trang. Ngoài cuốn “Ngày Tháng Buồn Hiu” là cuốn “Nhật Ký Mực Tím” mà chị để như là phần phụ lục. “Nhật Ký Mực Tím” nói lên tâm trạng của lớp học sinh tại Sóc Trăng những ngày sống dưới ách thống trị của Việt cộng từ Bắc vào. Đó là nỗi lòng của những người trẻ lạc lõng trong nạn nước mất nhà tan.

Bữa ăn tối ngày 17 tháng 6 năm 2018, sau khi ra mắt sách, tôi ngồi cùng bàn với chị Ngọc Ánh, định hỏi chị về những ngày tiếp theo nằm ngoài cuốn “Ngày Tháng Buồn Hiu” nhưng vì chị ngồi đối diện với tôi trên một bàn ăn tròn mười người nên không tiện hỏi. Khi ra về, tôi mới hỏi được chị về cháu Vy Dân hiện ra sao. Chị cho biết cháu nay đã 40 tuổi, vẫn ở Thụy Sĩ, mỗi năm chị đều qua thăm cháu. Cháu vẫn không nói được nhưng nay chỉ hiểu tiếng Pháp. Nhưng khi chị hỏi bằng tiếng Việt, cháu vẫn hiểu được mẹ, chắc không nhiều. Cách trả lời của cháu rất đặc trưng. Muốn nói yêu thương ai thì lè lưỡi ra. Yêu nhiều thì lưỡi dài ra nhiều, yêu ít thì lưỡi chỉ lấp ló giữa môi.

Cũng tối đó, ngồi cạnh tôi là anh bạn nhà văn Nguyễn văn Sâm. Chị Ngọc Ánh là học trò của bạn anh Sâm. Năm chị 18 tuổi, anh có một lần gặp chị tại nhà bạn, khi đó anh 36 tuổi. Vài chục năm sau, anh từ Mỹ về thăm lại anh bạn và gặp lại chị. Anh tiết lộ trên hội trường trong buổi ra mắt sách: lúc đó chị gầy gò ốm yếu, ở trong một chái nhà tồi tàn lụp xụp. Anh không bị ràng buộc chuyện vợ con, thương hoàn cảnh của chị nên cưới và mang chị qua Mỹ. Tôi tìm được bài viết của nhà văn Nguyễn văn Sâm: “Hoàng Diệu Và Em”, (Hoàng Diệu là tên trường chị học và anh dạy học) mà tôi ngờ rằng anh viết về người bạn đời muộn màng của anh: Thời gian đăng đẳng với biết bao biến cố đau thương dồn dập đời em, vậy mà em vẫn đứng dậy, vững vàng, tự tin như chưa bao giờ vấp ngã, chưa bao giờ gặp bất hạnh. Khi nghĩ về em lúc này tôi nhớ tới câu  thơ của ai đó “….và chắc thế em ơi- em vẫn sống!”. Một lần nữa tôi lại ngả đầu cảm phục em, em đã kiên cường ở lại, trong khi tôi bỏ nước ra đi…Như một kết thúc có hậu, lần đầu tiên em làm cô dâu ở tuổi 50, hôn lễ do bạn bè tổ chức, ấm cúng và cảm động. Hoàng Diệu tuổi trẻ của em đứng đó không xa, đang chúc mừng hạnh phúc muộn màng, em  hồn nhiên rạng rỡ giữa bạn bè, tưởng như quá khứ xót xa chưa từng dẫm lên cuộc đời em”.

Trước khi tôi đọc cuốn hồi ký “Ngày Tháng Buồn Hiu”, nhà văn Võ Kỳ Điền, bạn thân của nhà văn Nguyễn văn Sâm, nức nở khen văn của Ngọc Ánh “ấm” lắm. Anh phụ đề thêm: khi đọc văn, anh cảm nhận được cái “khí hậu” của văn, có những bài viết “lạnh tanh”, đọc không nổi, có những bài văn “ấm” khiến người đọc cảm được. Tôi không giấu cái hàn thử biểu trong người nên không cảm thấy ấm hay lạnh nhưng tôi đã bị lôi kéo khi đọc cuốn hồi ký này. Cũng vẫn anh Võ Kỳ Điền, ngồi cạnh tôi khi cuốn sách được ra mắt, đã phàn nàn là không ai đề cập tới khía cạnh văn chương của cuốn hồi ký. Quả có vậy. Có lẽ câu chuyện can trường của một thiếu nữ đi ngược lại thời thế, gạt đi những đặc quyền đặc lợi của một gia đình “cách mạng”, anh dũng cùng chồng chống lại chế độ, chấp nhận tù đầy trong 10 năm trời, là một hy sinh cao quý, đã làm mờ đi phần văn học của tác phẩm.

“Ngày Tháng Buồn Hiu” được viết với một nhiệt tình hiếm có nên suốt cuốn hồi ký là những trang sách hừng hực sự kiện. Có những lúc quá bực tức khi phải sống trong một nơi chốn mà sự dối trá, bịp bợm lên ngôi, đã khiến tác giả không cầm lòng được phải lên tiếng…chửi thề. Tác giả đã “tiên sư anh” hoặc “sư khỉ” hoặc “mồ tổ cha nó” khi chứng kiến trò hề gọi là bầu cử dưới chế độ Cộng sản. Rất nhiều chỗ trong sách, tác giả phải chạy theo những sôi nổi do uất ức tràn đầy nên dùng những câu viết dài với rất nhiều dấu phết. Câu văn không dừng lại được bằng những dấu chấm cách đoạn. Điều này chứng tỏ cây viết của tác giả chấm hơi sâu vào bình mực, một thói quen của những người mới viết hoặc chưa quen viết. Nhưng khi kể lại một đoạn đời nhiều truân chuyên, người ta có cần phải trau chuốt câu văn không, tôi nghĩ là không. Chính cái thô nhám của những dòng chữ đã chứng tỏ sự trung thực của tác giả. Sự trung thực đã phả hồn vào chữ nghĩa khiến người đọc không rời được cuốn sách một khi đã đọc những dòng đầu. Chất văn học nằm trong cái tinh ròng của một mảnh quý kim chưa mài dũa.

Nhìn khuôn mặt không hề có lửa của Ngọc Ánh, tôi không hiểu do đâu mà chị có đủ nghị lực và cương quyết để dấn thân vào một cuộc sống ít người có can đảm làm được. Mặt nước phẳng lặng không phải là không có những chuyển động cuồn cuộn bên dưới. Tôi khâm phục con người thức thời và quả cảm này.

06/2018

nguồn:  songtthao.com

SÀI GÒN – một thời của một đời

SÀI GÒN – một thời của một đời

SÀI GÒN – một thời của một đời..,có nhiều bài thơ về Sài Gòn. Thành phố ấy, với nhiều người, là thánh địa của kỷ niệm…
Inline image
 

Với Nguyên Sa, là Tám Phố Sài Gòn, là “Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều”, là “Sài Gòn phóng solex rất nhanh” “Sài Gòn ngồi thư viện rất ngoan” là “Sài Gòn tối đi học một mình”, là “Sài Gòn cười đôi môi rất tròn”, là “Sài Gòn gối đầu trên cánh tay”…

 

Với Quách Thoại buổi sáng, là “sáng nay tôi bước ra giữa thị thành/để nghe phố nói nỗi niềm mới lạ/tiếng xe tiếng còi tôi nghe đường xá / cả âm thanh của cuộc sống mọi người/ một nụ cười chạy ẩn giữa môi tươi/trên tim nóng trong linh hồn tất cả /..”

Với Trần Dạ Từ là buổi trưa, về Thị Nghè: “vẫn một mặt trời trên mỗi chúng ta/ và mỗi chúng ta trên một bóng hình/tôi vô giác như mặt đường nhựa ẩm/trũng nỗi sầu đau náo nức lưu thông/mùa hạ đi qua tựa hồ giấc mộng/ tôi chạy điên trong một bánh xe tròn / và đứa trẻ hít còi người đàn bà bước xuống/ ôi chiếc cầu , ôi sở thú. ôi giòng sông/..”

Với Cung Trầm Tưởng, là mưa, là “mưa rơi đêm lạnh Sài Gòn / mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi/ mưa hay trời cũng thế thôi/ đời nay biển lạnh mai bồi đất hoang/..”

Với Luân Hoán, là ngồi quán, là “ngồi La Pagode ngắm người/thấy em nhức nhối nói cười lượn qua/mini-jupe trắng nõn nà/vàng thu gió lộng chiều sa gót giày/ ngẩn theo tóc, tuyệt vời bay/ hồn thơ thức mộng trọn ngày bình yên/”

Với Bùi Chí Vinh, là ngày bãi trường mùa hạ “những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng / em chở mùa hè của tôi đi đâu/ chùm phượng vĩ là tuổi tôi mười tám / tuổi thơ ngây khờ dại mối tình đầu..”..

Và với nhiều thi sĩ khác, Sài Gòn là phố cây xanh, là đêm cúp điện, là chiều mưa giọt, là trưa nắng đỏ. Ôi Sài Gòn, của cõi thơ không cùng, của những chân trời thi ca bao la, của những trái tim lúc nào cũng dồn dập nhịp thở của tháng ngày tuy náo động nhưng chẳng thể nào quên.

Với riêng tôi, Sài Gòn là muôn vàn kỷ niệm. Là những con đường quen thân , nhắc lại một thuở ấu thời. Là ngôi trường Chu văn An, nơi tôi miệt mài suốt bảy năm trung học. Là trường Khoa Học, là trường Luật trước khi vào lính. Là cổng Phi Long vào phi trường Tân Sơm Nhứt khi vừa nhập ngũ. Là những mơ mộng tuổi trẻ, lúc vừa bước vào đời sống quân đội trong một đất nước đang trong tình trạng chiến tranh.

Buổi trưa , nằm dài trên sân cỏ mượt nhìn lên nóc nhà thờ Ngã Sáu , dưới bóng cây dầu cao vút, nghĩ về tương lai nhìn theo những sợi mây bay qua . Nghe xôn xao trong lòng những sợi nắng lung linh. Ôi, thuở còn đi học, mấy ai tiên đoán được số mệnh mình. Mây bay đi, như đời trôi qua.

“nằm trên cỏ nhìn trời cao
lung linh sợi nắng thuở nào phai phai
nhìn tượng Chúa dưới tàng cây
giơ vai chĩu nặng tháng ngày chiến tranh
mùa hạ mấy bước đi quanh
cổng trường đóng những đoạn đành thế thôi
ngày mai đi bốn phương trời
mây phiêu lãng chợt thương đời phù du..”

Sài Gòn những mùa thu. Có những con đường xôn xao áo lụa. Có những buổi tan học nhìn tà áo trắng mà mơ ước vu vơ. Để đêm về, trên trang vở học trò, vẽ bâng quơ đôi mắt ai, mái tóc ai:

“Thành phố ấy , xôn xao tà áo trắng
nắng hanh vàng trải lụa những mùa thu
guốc chân sáo để hồn ai ngơ ngẩn
bước mênh mang nghe quẩn sợi sương mù
mây vào áo lồng lộng bay chiều gió
lụa trắng trong e ấp buổi hẹn hò
sợi mi cong tưởng chập chờn ngực thở
tóc ai buông dài xõa những câu thơ.
Thành phố ấy, mấy ngã tư đèn đỏ
Ai chờ ai khi kẻng đánh tan trường
Bài thơ trao còn nguyên trong cuốn vở
Thuở ngại ngùng lần bước đến yêu thương..”

Sài Gòn của một thời mặc áo lính. Khi ở xứ biên trấn xa xôi, nhớ về thành phố với người thương, với phố quen, trên máy bay lượn vòng thành phố , nghe như mình đã trỡ về quê hương mình. Khi đổi về đơn vị ở phi trường Biên Hòa , mỗi buổi sáng tinh sương ghé phở Tàu Bay, ăn tô phở đầu ngày trong cái không khí trong veo buổi sớm , nay nhớ lại còn trong dư vị miếng ăn ngon của một thời tuổi trẻ.

Năm 1968, lệnh tổng động viên nên vào lính nhập khoá với những người cùng trang lứa. Lúc ấy, với hăng hái của người nhập cuộc, hiểu được bổn phận của một công dân thi hành nghĩa vụ quân sự với đất nước. Lúc ấy, mắt trong veo và tâm hồn như tờ giấy trắng:

“Bọn ta ba trăm thằng tuổi trẻ
Chọn không gian tổ quốc mênh mông
Mắt sáng môi tươi như tranh vẽ
Vào lửa binh không chút nao lòng
Chia sẻ với nhau thời bão gió
Đời muôn nhánh rẽ ngược xuôi nguồn
Cánh chim phiêu bạc ngàn cổ độ
Tử sinh ai luận chuyện mất còn?
Ngồi uống cùng nhau các hảo hán
Tưởng ngày xưa rượu tiễn lên đường
Sách vở giảng đường thành dĩ vãng
Những chàng trai dệt mộng muôn phương..”

Rồi , vận nước đến thời , gia đình ly tán, đi vào trại tù , nếm đủ những cay đắng của đời cải tạo . Khi trở về, Sài Gòn, cảnh vẫn cũ nhưng người xưa đã khác . Như Từ Thức về trần , cả một thế thời thay đổi. Người về, từ trại tù nhỏ sang qua nhà giam lớn, vẫn những con mắt công an cú vọ rập rình, vẫn những lý lịch trích dọc, trích ngang đeo đuổi. Tạm trú, tạm ngụ , ở chính ngôi nhà của mình. Nơi sẽ định cư của những người tù cải tạo , là những vùng kinh tế mới xa xăm , những nơi chốn đầy ải của ngày tuyệt lộ. Trở về xóm cũ, làm người lạ mặt:

“Đỏ bầm mặt nhựt cơn mê
lạnh tanh khuôn mắt người về dửng dưng
vào ra lối rẽ ngập ngừng
mấy năm sao lạ , nỗi mừng chợt xa
cầu thang quẩn dấu chân qua
đời như hạt nước mưa sa bóng chiều
từ rừng máu giọt gót xiêu
thảm thương phố cũ nắng thiêu mộng người
đỏ bầm ánh điện đường soi
cây nhân sinh chợt nẩy chồi cuồng điên
nhìn soi mói nụ cười đen
mắt hằn dấu đóng chao nghiêng một ngày.”

Về trình diện công an khu vực , nhìn nụ cười gằn vừa mỉa mai vừa soi mói , nhìn đôi mắt cú đóng dấu vào một ngày thất thế của người bại binh, ôi đau xót cho một đời ngã ngựa.

Ở Sài Gòn những ngày giặc chiếm, vẫn còn âm hưởng của một cuộc chiến chưa tàn . Trên chuyếbn xe bus nội ô, một người lính què dẫn dắt người lính mù hát những bài hát ngày xưa ngày còn chiến đấu dưới cờ. Quân lực VNCH là tập thể của những người lính tin tưởng vào công việc làm của mình. Dù thua trận nhưng họ không muốn làm hèn binh nhục tướng…

“trang lịch sử đã dầy thêm lớp bụi
ngăn kéo đời vùi kín mộ phần riêng
Và lãnh đạm chẳng còn người nhắc đến
Người trở về từ cuộc chiến lãng quên
Đôi mắt đục nhìn mỏi mòn kiếp khác
Dắt dìu nhau khập khiễng chuyến xe đời
Người thua trận phần thịt xương bỏ lại
Trên ruộng đồng sầu quê mẹ rã rời
Chuyến xe vang lời thơ nào năm cũ
Nhắc chặng đường binh lửa thuở xa xưa
khói mịt mù thời chiến tranh bụi phủ
Nghe bàng hoàng giọt nắng hắt giữa trưa
Tiếng thê thiết gọi địa danh quen thuộc
Thuở dọc ngang mê mải ngọn cờ bay
Cuộc thánh chiến gió muộn phiền thổi ngược
Dấu giày buồn còn vết giữa sình lầy
Nghe lời hát tưởng đến người gục ngã
Cả chuyến xe chia sẻ một nỗi niềm
Âm thanh cao xoáy tròn dù gỗ đá
Thức hồn người vào nhịp thở chưa quên
Ơi tiếng hát vinh danh đời lính chiến
Cho máu xương không uổng phí ngày mai
Có sương khói từ mắt thầm cầu nguyện
Cho lỡ làng không chĩu nặng bờ vai
Người thản nhiên những tia nhìn cú vọ
Đây thịt xương còn sót lại một đời
Còn ngôn ngữ của Việt Nam đổ vỡ
Dù rã rời nhưng vẫn thắm nụ cười
Ta nghe rực trong hồn trăm bó đuốc
Mặt trời lên xua tăm tối cho đời..”

Ở Sài Gòn năm 1980, là những ngày tôi cựa quậy trong nan lồng

Nghèo đói, bất công, đe dọa, bắt bớ, đủ thứ khổ nạn đổ lên đầu người dân nhất là những người được thả về từ trại tù. Mỗi ngày trình diện công an, rồi mỗi tuần , mỗi tháng nhưng áp lực thì càng ngày càng tăng. Tạm trú, từng tháng, từng ngày. Không có một chỗ nào ở thành phố cho các anh, người thua trận. Tôi, không có hộ khẩu, ở tạm trong nhà của mình. Rồi tham gia tổ chức vượt biên ở Bến Tre bị công an tỉnh này lên Sai Gòn tìm bắt . May là thoát được nên sau đó là phải sống lang thang đêm ngủ chỗ này tối ở chỗ khác. Những buổi tối trời mưa, đạp xe đi tìm chỗ tạm trú , mới thấy ngậm ngùi cho câu than thở trời đất bao la rộng lớn mà sao ta chẳng có chốn dung thân. Những buổi chiều nắng quái , đi trong thành phố, mới thấy cảm gíac của một kẻ cô đơn như con chuột đang cuống cuồng trong lồng giữa cơn mạt lộ. Thấy đi tới đâu cũng gặp những cặp mắt ngại ngùng của những người thân, từ chối thì không nỡ mà chứa chấp thì bị liên lụy nên tôi phải tìm một phương cách để cho qua đêm dài. Thuê phòng trọ hay khách sạn cực kỳ nguy hiểm , nên chỉ cómột cách là trà trộn vào những người ngủ ngoài đường .

Lúc ấy , ở Sài gòn đầy những người ngủ ở hè phố, Họ là những người từ kinh tế mới về chịu không kham sự khổ cực hay những người vượt biên hụt trở về nhà bị chiếm. Mà chỗ an toàn nhất là bến xe Ngã Bảy. Ở đây là đường ranh của nhiều phường nên chỉ có một quãng ngắn, ở chỗ này bố ráp thì chỗ kia vẫn bình thường như không có gì xảy ra. Tôi có xem một video của trung tâm Asia có ghi lại hình ảnh của nhạc sĩ Trúc Phương cũng hoàn cảnh phải ra xa cảng để ngủ qua đêm mà chạnh lòng. Thì ra , ở lúc ấy , có nhiều người chung cảnh ngộ, phải lang thang ngủ đầu đường xó chợ một cách bất đắc dĩ. Bao nhiêu chuyện trái tai gai mắt, công an lộng hành , bắt người không cần lý do , kinh tế thì lụn bại, ngăn sông cấm chợ, cả nước nghèo đói không đủ gạo ăn , kỹ nghệ trì trệ không sản xuất được gì đáng kể. Rồi chính sách phân biệt đối xử , giáo dục thì nhồi sọ , hồng nhiều hơn chuyên, thi cử tuyển chọn theo lý lịch hơn là thực tài, y tế thì thiếu thuốc men phương tiện và y sĩ trình độ kém lại làm việc tắc trách. Thật là một thời tệ mạt nhất trong lịch sử dân tọc ta.

Ngủ ở bến xe Ngã Bảy, mướn cái chiếu 1 đồng , kiếm một chỗ qua đêm , tôi đã chứng kiến nhiều chuyện. Có những bà mẹ góp nhóp tiền bạc đi thăm con ở một trại tù nào đó, chờ xe ba bốn ngày, sống lang thang lếch thếch chờ đợi. Cũng có những người không nhà, nằm la liệt dưới mái hiên, sinh sống ăn ngủ và làm tình một cách thản nhiên như đang sống trong nhà mình. Cũng có những trai tứ chiếng, những gái giang hồ quanh quẩn kiếm ăn. Những anh lơ xe, những chị buôn hàng chuyến, những mối tình, hừng hực xác thịt cứ diễn ra hàng đêm. Rồi những đêm mưa gió, ướt át, những tiếng chửi than trời trách đất cứ dòn dã . Hình như, ở gần nỗi khổ, tâm hồn họ bị chai sạn đi. Công an từ phường này qua phường kia luôn luôn bố ráp nhưng như một trò chơi cút bằt. Áo vàng mũ cối đi qua, chỉ ít lâu sau là đâu vẫn đấy .

“ .. hè phố rác lạc loài hoa dại
nở buồn tênh phiến gạch ngậm ngùi
cỏ đớn hèn hạt sầu kết trái
ươm bao năm dầu dãi nụ cười
ngủ chợp mắt đèn khuya vụn vỡ
ho khan ai quằn quại phổi khô
tiếng còi hú nhát đinh vỡ sọ
nghiến xe lăn tim nhịp chày vồ
rưng não tủy bầu trời tháng chạp
cành cỏ khô héo mãi phận mình
ở vu vơ ngỡ ngàng tiếng khóc
đêm bến xe tưởng chốn u minh
đường bảy nhánh chỗ nào phải lối
ngủ nơi đâu còi rúc giới nghiêm
như tiếng cú rúc trong huyệt tối
người lao xao cõi tạm cuồng điên
gío nhọn hoắt ngon lành da thịt
mưa giọt soi mộng dữ chân người
ánh đèn pin mắt ai tội nghiệp
bờ đá xanh lạnh buốt chăn đời..”

Ở một đất nước vào thời kỳ mà cây cột đèn nếu đi được cũng muốn vượt biển , thì còn con đường nào khác hơn là thách đố với định mệnh, những lần sửa soạn ra đi , tự nhủ hãy đi một vòng thành phố thân yêu để rồi vĩnh biệt không còn gặp lại. Những khúc sông , những cây cầu , những dãy phố , mỗi mỗi đều nhắc đến kỷ niệm và khi sắp sửa ra đi như mất mát một phần đời sống mình. Có buổi tối , đi trong mưa, để tưởng nhớ lại lúc xa xưa, khi bềnh bồng trong cảm giác lãng mạn của một người đi tìm vần thơ.

Mai ta đi xa. Thôi giã từ thành phố. Lòng đau như cắt trong lúc giã từ “ ta thắp nến đọc hoài trang sách kể

“Chuyện người tù vượt ngục suốt một đời
Ta hùng hực cánh buồm chờ gió đẩy
Sống một ngày thêm thúc giục khôn nguôi
Đã đắp xóa bao lần cơn mộng biếc
đường phải đi cho đến lúc xuôi tay
sóng loạn cuồng con thuyền trôi biền biệt
giăng buồm lên phương viễn xứ một ngày
Ta cũng biết còn xa vùng đất hứa
Phải đi qua địa ngục chín mươi tầng
Đời hiện tại xích xiềng theu bão lửa
Nỗi niềm riêng còn khóe mắt thương thân
Đã thấm thía ngày qua ngày tù tội
Chim trong lồng mơ vùng vẫy trời cao
Cười khinh mạn những chão thừng buộc trói
Về phương đông nơi bến đỗ tay chào
Mộng ước mãi chiều nao vời cố quận
Chim sẻ ngoan còn ríu rít phố phường
Loài ác điểu vẫn gây căm tạo hận
Bẫy gai chông ngầm phục ở quê hương
Ta tin tưởng có quỉ thần dẫn lối
Dù giặc thù vây bủa cả không trung
Còn một chén nốc ngụm men vời vợi
Gió chuyển rồi thôi đến lúc lên đường
Chuyện sinh tử dỡn chơi thêm ván cuối
cạn láng rồi thử thách với phong ba
ngôi tinh đẩu dẫn ta về bến đợi
đường biển vẽ rối tay lái thẳng lối qua.”

Bây giờ, nhiều người trở lại nói thành phố đã đổi khác. Hết rồi, những con đường cũ, những ngõ hẻm xưa. Hết rồi, những tâm tình thuở nào, của một htời trong một đời người. Tôi, có lúc đọc những bài viết cũ, ngắm lại những hình ảnh xưa, lại nhói đau như vừa đánh mất một điều gì trân quí. Thôi vĩnh biệt sài Gòn, tiếng kêu thảng thốt của người vừa đánh mất một phần đời sống mình…

admin@saigonxua.org

Ngôn ngữ Sài Gòn trong mắt một người con đất Bắc

Ngôn ngữ Sài Gòn trong mắt một người con đất Bắc

Tết vừa rồi tôi có dịp trở lại Hà Nội, bạn bè anh em lâu ngày gặp nhau, câu đầu tiên “tay bắt, mặt mừng” là: “Hi, xin chào anh Hai Sài Gòn”, rồi những người đến sau cũng lại chào tôi là: “Anh Hai Sài Gòn mới ra hả”. Có chuyện gì muốn kết luận lại “anh Hai Sài Gòn cho ý kiến”, và tất nhiên cuối buổi nhậu nhiệm vụ của anh Hai Sài Gòn là… thanh toán. Phải chi tiền mà cũng thấy sướng cái bụng, bởi thấy cái tên “anh Hai Sài Gòn” mà bạn bè gọi tôi, tôi cũng thấy hay hay và có chút tự hào nữa.

 

Ngôn ngữ Sài Gòn trong mắt một người con đất Bắc

(Ảnh: Thanh Binh, kul.vn)

 

Có người hỏi:

– Tại sao có “anh Hai Sài Gòn” mà không có “anh Hai Hà Nội” nhỉ?

Tôi sực nhớ lại một thời đã có nhiều người đưa ra những giả thiết về cái tên gọi “anh Hai, chị Hai”, trong đó tôi nhớ có một giả thiết khá hợp lý và mang tính nhân văn cao.

Tôi kể họ nghe:

– Ngày xưa phương Nam của đất nước mình đất rộng người thưa, cò bay thẳng cánh, nên dân tứ xứ kéo vào sinh sống, làm ăn. Mà các cụ xưa người Bắc thì rất “tôn ti trật tự”, có nghĩa là trong nhà, ai có đi đâu thì đi nhưng chỉ những đứa con thứ! Người con cả (anh Cả) phải ở lại chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ già, trông coi đất đai, thờ phụng tổ tiên… Những người con thứ vào Nam, họ làm ăn phát đạt, sinh con đẻ cái, cháu con đề huề nhưng họ luôn nhớ về tổ tiên, cha mẹ và nhớ tới người anh cả của dòng họ ở lại ngoài Bắc. Vậy nên khi sinh ra những đứa con đầu lòng, họ không gọi là “anh Cả” mà gọi là “anh Hai” để tránh “phạm húy”. Rồi từ “anh Hai, chị Hai” gọi riết từ đời này sang đời khác thì người ta hiểu đó chính là “anh Cả, chị Cả” trong nhà. Thật là nhân văn, đúng hông?

Cả đám bạn bè vỗ tay tâm đắc: “Các cụ nhà mình trong đó quá hay”. Tôi được thể nói luôn: “Ở trỏng người ta vậy cả mà”.

Có anh bạn trẻ cuối bàn hình như lần đầu nghe câu chuyện “anh Hai, chị Hai” thấy thú vị quá, cầm ly bia to tướng đi lại bắt tay và kêu: “Trăm phần trăm đi anh Hai Sài Gòn!”, tôi “chơi luôn”, nhưng rồi cậu lại hứng lên: “Xin mời anh Hai Sài Gòn cốc nữa”. Tôi buột miệng: “Bình tĩnh đã cưng”. Một tiếng xuýt xoa phía góc bàn: “Lại một từ cưng, nghe hay nhất trong ngày rồi anh Hai Sài Gòn ơi, dzô đi”.

Vô Nam sinh sống lâu năm rồi, những từ “dễ thương” ấy cứ nhập vào gia đình tôi từ lúc nào không hay. Các con tôi nhiều khi gọi nhau bằng “cưng ơi, cưng à”, mẹ nó cũng gọi các con “cưng à, cưng ơi”. Tôi còn nhớ có lần cậu con trai nhỏ của tôi có chuyện nghịch ngợm gì đó, bị mẹ rầy la, chị gái nó lại vỗ vỗ nhẹ vai em: “Chị Hai bảo cưng của chị nè, lần sau đừng vậy nữa nghe cưng, cưng hổng sợ ba mẹ buồn sao?” Rồi một tiếng “Dạ” nhè nhẹ trong tiếng sụt sùi. Nói như vậy thì làm sao thằng em không nghe cho được, tôi nghe mà cũng thấy mát lạnh trong lòng.

Ngày xưa lúc còn sống ở Hà Nội tôi cũng đã được nghe từ “cưng” này, nhưng trong những hoàn cảnh hình như khác, như “Bà ấy cưng con chó quá” hoặc “Cậu ấm ấy là con cưng của nhà đại gia”… chứ không phải người ta dùng từ “Cưng” để gọi nhau như ở Sài Gòn. Tiếng “cưng” ở đây nghe nó tự nhiên, đằm thắm và dễ thương làm sao.

Khung cảnh nhìn từ trong một quán giải khát điển hình của khu vực Chợ Lớn, nơi phục vụ trà xanh, nước mía… cho người qua đường. (Ảnh qua saigoneer.com)

Tất nhiên, đã là xã hội thì sẽ có người này người nọ, lúc này lúc nọ nhưng những câu xã giao thân tình với cái giọng của người Sài Gòn dễ thương thật. Vào các cửa hàng thấy cách đón tiếp chào mời trong mua bán giữa khách và cô bán hàng: “Hàng này đồ thiệt hôn cưng?”; “Thiệt mà, thưa cô”… Người nghe cũng thấy nhẹ lòng. Đi ngoài đường, nếu vô tình ta quên gạt chân chống xe máy, ta sẽ được một cô, cậu thanh niên nhắc rất nhẹ, đủ nghe: “Cô/chú ơi, gạt chân chống” và một lời đáp lại: “Cảm ơn nha”. Nghe mà thấy vui.

Cuộc sống muôn vẻ, cuộc sống còn nhiều bộn bề, lo toan, nhưng cuộc sống cũng rất cần cái hương vị dịu dàng tưởng chừng như thường tình, vô vị, nhưng không phải vậy. Bởi vì từ những đứa trẻ mới lọt lòng cũng đã thích nghe những lời ru nhẹ nhàng êm ái của bà, của mẹ để đi vào giấc ngủ, cho đến khi tuổi cao sức yếu, gần đất xa trời, con người vẫn mong nhận được những lời nói dịu ngọt của con cái, người thân và bạn bè. Ngôn ngữ của người Sài Gòn nghe đã thiệt.

nguồn: saigonxua.com

Những kẻ bị khai trừ (Kết)

Những kẻ bị khai trừ (Kết)

 

Nguyễn Văn Lục

Chúng ta sẽ còn được chứng kiến nhưng cuộc thanh trừng, đánh đấm, tranh giành giữa bọn họ. Ngày nay, họ đánh đấm nhau vì tiền. Và chúng ta sẽ chứng kiến cái cảnh thằng ăn cướp xử thằng ăn cắp dài dài…

Vụ án Cimexcol-Minh Hải: Khai trừ vì tranh ăn

Đối với phe cánh của ông Võ Văn Kiệt thì vụ án Cimexco chỉ là “cơ chế cũ đánh cơ chế mới” hay “ kinh tế bao cấp đánh kinh tế mở cửa”. Trong phiên tòa xử vụ Cimexcol, người ta nhận xét là: Phiên tòa này lấy cái cũ xử cái mới, không đúng pháp luật, không được lòng dân. Tôi tự hỏi lòng dân liên quan gì đến việc các quan lớn “chơi” nhau, giữa cánh Nam với cánh Bắc?

Vụ án xảy ra vào tháng 7/1997. Kết quả vụ án là Dương Văn Ba, lãnh án chung thân khổ sai từ ngày 25/12/1987. (DVB, cựu dân biểu đối lập đệ nhị cộng hòa, miền Nam, thành phần thiên tả, thân cộng sản. Anh ta chỉ bị giam mấy năm và sau đó được thả do sự can thiệp của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt). Bên cạnh Dương Văn Ba có đồng lõa là Trịnh Thị Tuyết Sương, kế toán trưởng mà theo lời khai của đương sự là: Thị Sương bị Dương Văn Ba, (hồi còn sinh viên quen gọi DVB là Ba gà) mưu mô xảo quyệt mua chuộc bằng tiền tài vật chất, tình cảm, dần dần biến thành tay sai đắc lực, mù quáng thực hiện mệnh lệnh của DVB . Thị Sương tỉnh ngộ và đã thành thật khai báo nên cần xem xét giảm nhẹ đặc biệt đối với Thị Sương.

Những người khác cùng bị ra tòa với Dương Văn Ba là Nguyễn Quang Sang, Trương Công Miên, Huỳnh Văn Ngươn, Thạch Phen (cựu dân biểu đối lập, đệ nhị cộng hòa), Lâm Thành Đại, Dương Thị Nhung, Trần Công Thức, Huỳnh Kim Báu, Đặng Hữu Hiền, Trang Trung Trí, Phan Thị Hương Trang, Lương Công Trà, Nguyễn Duy Thưởng, Nguyễn Thanh Hòa, Lê Phương, Tạ Khắc Quyền, Lê Văn Bình. Tất cả là nhóm lãnh đạo miền Nam cộng một số “ngụy quân” , ngụy quyền” cũ. Nhất là con số 2000 công nhân viên mà một số không nhỏ là cựu sĩ quan chế độ miền Nam.

Sau này, vào ngày 9/3/1994, có vụ “làm việc” lại về vụ án Cimexcol, tỉnh Minh Hải với sự có mặt của:

– Bộ chính tri: Có anh Đỗ Mười, anh Võ Văn Kiệt, anh Đào Duy Tùng, anh Lê Phước Thọ ( Sáu Hậu), anh Đỗ Quang Thắng, anh Nguyễn Hà Phan.

– Đại diện các cơ quan pháp luật trung ương có: Viện Kiểm soát nhân dân: Anh Lê Xuân Dục.Tòa án: Anh Phạm Hưng, chánh án TANDTC, người đã xử vụ án, anh Tư Thắng, Phó chánh án TANDTC. Thanh Tra: Anh Tám Thẩm.

– Các ban Đảng: Ban Tổ chức: anh Nọ, anh Ba Niềm. Ban Kiểm tra: anh Sáu Kiến, phó chủ nhiệm và một số cán bộ phụ trách phía Nam. Ban Văn hóa tư tưởng : Anh Lê Thanh Nhàn ( Ba râu)

– Ban Thường vụ tỉnh Minh Hải: Đặng Thành Học, bí thư Tống Kỳ Hiệp, phó bí thư; Ngô Vân, chủ tịch tỉnh, Nguyễn Hoa, trưởng ban tuyên giáo; Nguyễn Văn Út, trưởng ban tổ chức. Trọng Nam, giám đốc sở công an…

– Và Đoàn Thanh Vị, nguyên Ủy viên trung ương đảng, bí thư tỉnh uỷ Minh Hải Phạm Văn Hoài, Phó bí thư, chủ tịch UBND tỉnh, Lê Văn Bình, nguyên phó bí thư, chủ tịch UBND tỉnh.

– Tổng số khoảng 40 người, trong đó có 6 anh Ủy Viên Bộ chính trị, và 8 anh trong Ban chấp hành TU đảng. Lời bình: Toàn thứ chóp bu để giải cái án này cho Dương Văn Ba, một thứ “sâu mọt” bị kẹt giữa hai lằn đạn. Vai trò của ông Võ Văn Kiệt là bênh vực cánh miền Nam, ngay cả “ngụy quân, ngụy quyền” cũ.

Nhận xét: Đây chỉ là một vụ án tranh chấp giữa phe cánh với Võ Văn Kiệt. Khi đọc hồ sơ vụ án, tôi thấy có lời phê duyệt của Nguyễn Văn Linh như sau: Hồ sơ tội trạng đã rõ ràng, cứ thế mà thi hành.

Cứ thế mà thi hành, vậy mà sau đó, vụ án bị đem ra mổ xẻ, xét lại dưới trào Võ Văn Kiệt.

Trong vụ án này có vài việc đáng ghi và viết ra đây:

Thứ nhất, có bị cáo là Ngô Vĩnh Hải, tổ trưởng tổ Kiều hối của Cimexcol. Anh bị truy tố về tội mua bán hàng cấm. Được biết Ngô Vĩnh Hải, trước 1975 là ký giả của tờ Điện Tín. Thẩm phán đã tra vấn anh là có phải anh có người anh là giáo sư đại học ở Mỹ (2) và anh đã được bảo lãnh không? Việc có người anh ở Mỹ có liên quan gì đến vụ án?

Anh đã không nhờ luật sư biện hộ và tự biện hộ trước tòa. Anh phủ nhận các lời khai do công an thẩm vấn anh trước đây. Anh khai:

“Thưa quý tòa, lời khai đó của tôi, nhưng tôi khai theo sự hướng dẫn của An ninh điều tra. Nếu tôi chịu khai như thế thì An ninh sẽ thả tôi về xum họp gia đình trước tết 1988 – tôi bị bắt cuối năm 1987.”

Cả hội trường đều xôn xao. Trên ghế chủ tọa, người ta thấy ông tòa nổi giận nói: “Anh đâu là trẻ con mà người khác bảo anh khai thế nào, anh khai thế nấy”.

Thưa quý tòa, bởi lẽ tôi không là trẻ con, tôi mới làm vậy, vì tôi muốn được thả ra. Nhưng an ninh điều tra không thực hiện lời hứa ấy với tôi, như vậy người thực hiện lời hứa đâu là trẻ con, thưa quý tòa!

Cuối cùng tòa xử Ngô Vĩnh Hải được trắng án. Nhưng ai có thể đền bù cho Ngô Vĩnh Hải bị 16 tháng tù giam trước khi xử trong đó có 10 tháng biệt giam?

Ông mạnh miệng như thế là phải rồi. Một năm tù treo là lối xử mà không xử. Vậy mà ông Lê Văn Bình uất ức mãi. Trong suốt 4 năm ròng, ông Lê Văn Bình phải chịu đựng nỗi oan Khiên và cũng 4 năm đó, ông đội đơn gõ cửa khắp nơi kêu oan, nhưng đến nay nỗi oan khiên vẫn còn đó!Người thứ hai là bị cáo thứ 21, Lê Văn Bình, người duy nhất trong ban Lãnh đạo tỉnh Minh Hải “được chọn” đưa ra xét xử. Ông Bình chỉ bị “một năm tù cho hưởng án treo. Giao cho UBND Phường 1, thị xã Bạc Liêu theo dõi, giáo dục”. Nhưng trước tòa, ông không đóng vai bị cáo mà buộc tội tòa án như sau: “ các anh chỉ biết xử chứ không biết xét, biết kết tội chứ không biết giải oan, chỉ vì mình hơn vì công lý.” Cả phòng im lặng, “tôi không thể hiểu nổi các anh, các anh không đủ tư cách.” Ông Lê Văn Bình mạnh miệng như thế, bởi vì ông còn là nguyên đại biểu Quốc Hội khóa 8 kiêm chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Minh Hải.

Riêng Dương Văn Ba, thời làm dân biểu VNCH, ăn to nói lớn, miệng hùm gan sứa, trong tòa nhà Quốc Hội đập bàn đập ghế, đánh bạc xì phé như ranh ngay từ thời sinh viên nên chuyện gì cũng dám làm. Chuyện tầy trời cũng không ngại. Nay, biết thân phận mình, anh tỏ ra hiền lành, tịnh khẩu… Anh nhũn như con chi chi.Ông Lê Văn Bình mà còn phải chịu đựng như vậy thì dân chúng thấp cổ bé miệng phải chịu đựng ra sao? Sau này khi có cơ hội, ông đã làm cho to chuyện. Lúc Dương Văn Ba bị bắt ra tòa thì ông đang bận họp ở Quốc Hội.

Người thứ tư là ông Trang Thanh Khả, giám đốc công ty gỗ. Bi kịch của Trang Thanh Khả là ông đã tự sát bằng cách: Trang Thanh Khả “tự cắt lưỡi mình, vì lưỡi để nói mà không được nói. Cắt hai động mạch chủ ở hai tay, để chứng minh hai bàn tay sạch. Mổ bụng, kéo ruột ra cắt một khúc, chứng tỏ lòng dạ tốt mà lãnh đạo không tin.” Sau này thì người ta ca tụng đồng chí Trang Thanh Khả là người can đảm đã dám “lấy cái chết đau thương thảm khốc để cảnh tỉnh người lãnh đạo”, một hành động có một không hai trong lịch sử cận đại, để mà tôn vinh cho xứng đáng.

Bên cạnh đó còn việc chết đuối của Lâm Thành Sự ở Laksao khi công tác ở bên Lào? Có thể là chết đuối là việc tự nhiên, nhưng việc gì cũng có thể là dối trá thì tại sao không nghi ngờ?

Dù sao thì đồng chí Trang Thanh Khả không còn nữa. Nói chi cũng bằng thừa.

Người thứ năm lên tiếng: Quyết định công khai ý kiến là ông Nguyễn Quốc Sử, nguyên viện trưởng, viện kiểm soát nhân dân, tỉnh Minh Hải.

“Trong cuộc đời tham gia làm cách mạng của tôi đến thời điểm này còn 3 tháng 26 ngày nữa là tròn 40 năm, chưa lúc nào tôi hay suy tư hơn lúc này, kể cả những năm tháng tôi bị lưu đầy và lúc được tin những người thân của tôi ngã xuống, mặc dù rơi nước mắt, nhưng ý chí căm thù lại thúc tôi đứng thẳng để trả thù.”

Còn bây giờ làm sao vô tư được?

Sau này, tờ tuần báo Tuần Tin Tức, số 38, ra ngày 19/09/1993 có đưa ra chứng cớ về tiền bạc thiếu hụt của công ty. Theo cáo trạng thì Cimexcol có thiếu hụt 4,62 triệu đô la, nợ nước ngoài 5,1 triệu đô la không có khả năng thanh toán. Nhưng theo kết luận của đoàn Thanh tra của tỉnh Minh Hải thành lập thì đã đưa ra con số nợ chỉ vỏn vẹn có 807.813, 48 đô-la . Mức chênh lệch tới 3,826 triệu đô la. Như vây số hơn 3 triệu đô la đi đâu?

Sau này, nhóm người của ông Võ Văn Kiệt (3) còn đòi truy cứu những ông lãnh đạo Trung ương và địa phương chủ đạo vụ án như ông Trần Kiên, bí thư Trung ương đảng,Trần Đình Hương (Mười Hương), bí thư trung ương đảng; Nguyễn Việt Thắng, Phó chánh án tòa án nhân dân tối cao; Trần Quyết, Viện trưởng viện KSNDTC và những ông thanh tra như Nguyễn Thanh, Đoàn Minh Thuần, Nguyễn Quang Thanh, Lê Xuân Đục, chủ tọa phiên tòa. Ở Minh Hải có Nguyễn Văn Đáng, Đặng Thành Học, Tống Kỳ Hiệp. Những người trong ban giám đốc kế nhiệm bi. tố cáo là đã làm thâm hụt hằng triêu đô la sau vụ án. Những người đứng đơn trong việc kiện ngược lại là quý ông Đoàn Thành Vị, Phạm Văn Hoài, Lê Văn Bình.

Nhưng hồi sau ngã ngũ ra sao thì không ai được biết?

(Trích tài liệu in photopy của cựu dân biểu đối lập Hồ Ngọc Nhuận. Sách không được ông Trần Bạch Đằng cho xuất bản).

Đây chỉ là một hình thức thanh trừng nội bộ dựa trên pháp lý để tranh ăn.

Vụ án những người kháng chiến cũ

Sau 1975, những kháng chiến cũ cho thành lập một hội lấy tên là: Hội truyền thông kháng chiến thành phố Hồ Chí Minh. Hội đã được Bí thư thành ủy thành phố HCM lúc bấy giờ là ông Nguyễn Văn Linh cho phép hoạt động vào năm1985. Chuyển hồ sơ về Trung Ương. Không ai dám quyết định. Một năm sau,16/05/1986, Lê ĐứcThọ mới cho quyết định hoạt động.

Hâu hết họ là người có gốc gác miền Nam.

Hội viên danh dự có Nguyễn Văn Linh, bí thư thành Ủy TPHCM, Võ Văn Kiệt, phó chủ tịch Hội đồng Bộ tưởng, Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch quốc hội và Huỳnh Tấn Phát, phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng.

Cố vấn: Thượng tướng Trần Văn Trà, ông Trần Bạch Đằng. Ban chấp hành có: Chủ tịch Nguyễn Hộ.

Các phó chủ tịch: Huỳnh Văn Tiếng, Nguyễn Đức Hùng,Tạ Bá Tòng, Phạm Chánh Trực, Ngô Liên, Nguyễn Thị Tấn, Lê Hồng Tư, Lê Trung Nghĩa.

Các ủy viên: Lê Đình Vũ, Lê Quỳnh Vân, LM Chân Tín, bác sĩ Võ Cương, đại tá Thái Doãn Mẫn, Trần Văn Thơm, Ni sư Huỳnh Liên, HT Thích Thiện Hào, Võ Anh Tuấn, bà Ngô Bá Thành, Phan Kim Phụng, Nguyễn Trọng Xuất, Nguyễn Đăng Nguyệt, Ls Trần Ngọc Liễng, Vũ Hải Sơn.

Có lúc số hội viên Câu Lạc Bộ Những Người Kháng Chiến Cũ (CLNNNKCC) đã lên tới con số trên 20 chục ngàn người, 90% là đảng viên đảng cộng sản. Họ có một số xí nghiệp như phân xưởng nhựa, phân xưởng bột giấy, phân xưởng cơ khí và cơ giới khai thác lâm sản.

Khi Hội đã tạm vững mạnh thì đề ra hai mục tiêu: Đấu tranh đổi mới và chống tham nhũng quan liêu.

Ngày 11/06/1988, tống thêm một bản kiến nghị yêu cầu kiểm điểm Bộ chính trị với 44 chữ ký. Lần này, đặc biệt có chữ ký của ông Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng và Thượng tướng Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn.Ngày 03/06/1988, họp tại nhà Hữu nghị, 31 đường Lê Duẩn, quận 1 mong Đảng đổi mới. Có khoảng 100 chữ ký. Đặc biệt có chữ ký của Lý Chánh Trung. Tôi dò tìm, nhưng không thấy tên của bất cứ người nào trong ban chủ nhiệm như quý ông Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng. Kiến nghị gửi đi, chắc không được trả lời.

Trước khi gửi kiến nghị, xin ghi lại mấy lời phát biểu rất thẳng và cứng rắn sau đây.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, người đã từng ăn bánh vẽ MTGPMN , ông nói: Nhân dân ai cũng thích cái bánh thật chứ chẳng ai thích cái bánh vẽ. Giáo sư Lý Chánh Trung, phó chủ tịch UBMTTQ thành phố, phó Trưởng đoàn Quốc Hội TPHCM nói:

Trước hết, chúng ta nên dứt khoát trục xuất chủ nghĩa hình thức. Không thể dân chủ hóa, nếu không công khai hóa mọi sự. Mà không thể công khai hóa nếu không có tự do báo chí và tự do ngôn luận.

Bùi Văn Nam Sơn, học Triết ở Đức về mạnh dạn:

Chỉ có đổi mới triệt để bộ máy tổ chức và nhân sự đây lùi xu hướng bảo thủ trì trệ mới có thể phát triên. Một tình trạng tha hóa về chính trị có thể nào quan niệm được trong một chế độ xã hội lấy tinh chân thật và tính nhân dân viết trên ngọn cờ của mình.

Trần Văn Giàu nhận xét:

Đặc biệt có câu hỏi của ông La Văn Lâm chất vấn bà Ngô Thị Huệ (Bảy Huệ), vợ ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh:Càng sống lâu, càng hư, làm quan lâu càng hư. Cách mạng là phải trẻ, phải tiến bộ. Phải tống cổ bọn tham nhũng và quan liêu ra khỏi đảng. Lập pháp trường cát ở Tao Đàn, Bến Thành để xử băn bọn đó.

Tại sao không kiểm điểm ông Đỗ Mười về những sai phạm trong cải tạo Công Thương nghiệp ở miền Nam? Bà Huệ nói ông Lê Duẩn hồi đó bảo bỏ qua. Còn ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh lại bị ông Lê Đức Thọ vô hiệu hóa. Ông Lê Đức Thọ tiết lộ toàn bộ ban chấp hành trung ương đảng cộng sản VN khóa 6, trừ 6, 7 người bị đánh rớt, còn lại hầu hết là người do ông chọn lựa, người của ông do ông sắp xếp. Ông Nguyễn Văn Linh chỉ làm trái độn, sẽ bị gạt đi. Rồi tung tin ông Nguyễn Văn Linh bị bệnh sắp chết, sắp bị từ chức!

Đảng kiểu đó là bè phái, Đảng vô Kỷ luật, Đảng ngồi trên đầu dân, bất chấp ý nguyện của dân.

Đây là những phát biểu mạnh mẽ nhất như cho rằng đảng: Nặng về đổi mới kinh tế, coi nhẹ đổi mới về chính trị. Hay Đảng không thể đứng trên Hiến pháp và luật pháp được.

Đảng viên đã gửi không biết bao nhiêu kiến nghị, nhưng chưa bao giờ được thư trả lời và giải quyết của Trung ương. Chỉ ra mệnh lệnh và biện pháp hành chánh quyền lực và cả vũ khị Thật vậy, dang đã dùng roi điện, chó béc giê, súng đạn để đàn áp các sự kiện xảy ra tại thôn Cộng Hòa (Thanh Hóa), thôn Tú Trình (Thái Bình), ở làng Chuối Nước – Đồng chó ngáp và Đầm Dơi của tỉnh Minh Hải và sự kiện Hồ Kỳ Hòa, Tp. HCM. Bản kiến nghị này mang 76 chữ ký có tên Nguyễn Hộ và Lý Chánh Trung.

Tờ Truyền Thông kháng chiến, cơ quan của Câu lạc bộ kháng chiến đòi Dân Chủ hóa và công khai hóa.

Trước những đòi hỏi, kiến nghị của CLBNNKCC, Trung ương đảng nổi giận và gọi đây là: Đây là vụ chống Đảng sau Nhân Văn giai phẩm.

Nếu nhân văn giai phẩm sau 54 là do các nhà văn đòi tự do tư tưởng, tự do báo chí cho người cầm bút. CLBNNCKCC sau 1975 là do các cựu cán bộ cs đòi tự do chính trị, xét duyệt lại đảng.

Bộ chính trị lậ p tức có biện pháp:
– Cấm CLBNNKCC tổ chức hội thảo.
– Cấm ra Đặc san Truyền thống kháng chiến
– Chỉ thị đấu tranh nội bộ, lọai những phần tử quá khích như Nguyễn Hộ và Tạ Bá Tòng
– Giải thể các tổ chức phụ thuộc như ban liên lạc
– Dẹp Bản tin liên lạc

Phần ông Nguyễn Hộ, không chấp nhận ý kiến của Bộ chính trị. Không chịu quay về thành phố theo lời khuyên của ông Võ Văn Kiệt Ông viết như sau trong tập tài liệu của ông: Quan điểm và cuộc sống (Tin nhà, Paris, xuất bản). Ngay lúc ấy, Trung ương đảng cộng sản Việt Nam đứng đầu là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và bí thư thành ủy Võ Tần Chí cùng nhiều cán bộ khác kể cả Trần Văn Trà (thượng tướng), Trần Bạch Đằng đã họp bàn kế hoạch tỉ mỉ nhằm đàn áp CLBNNKCC thành phố và nhiều nơi khác. Ý kiến phát biểu lên án, buộc tội CLB kháng chiến thành phố của Trần Văn Trà, Trần Bạch Đằng trong cuộc họp nói trên được in ra và phát hành khắp nước… Ông viết tiếp: Sau hơn 70 năm thể nghiệm ở Liên Xô, chủ nghĩa cộng sản đã hoàn toàn thất bại. Trong một bài tham luận khác, ông viết: “Tư bản chủ nghĩa – Con đường không thể đảo ngược được. (trích dần từ trang 11 đến trang 21, sách trên)

Thế là Bão tố xảy ra.

Nguyễn Văn Linh đổi giọng: “Chúng ta không cho phép mọi hành động lợi dụng dân chủ để phục vụ cho ý đồ xấu của một cá nhân hoặc một nhóm người chống chế độ xã hội chủ nghĩa.”

Nguyễn Văn Linh là anh hèn nhất trong đám. Ông cố đấm ăn xôi để hy vọng ở lại nắm quyền lực, ông được cử làm Tổng Bí thư Trung ương đảng sau này.

Vô số các biện pháp thanh trừng tiếp theo ngay sau đó.

Lần lượt cách chức, khai trừ đảng, thuyên chuyển, hoặc ngồi chơi xơi nước các ông Nguyên Ngọc, TBT báo Văn Nghệ, Bùi Minh Quốc, TBT báo Langbian, Tô Hòa, TBT báo Sàigòn giải phóng, Tô Nhuận Vỹ, TBT tạp chí Sông Hương, Kim Hạnh, TBT báo Tuổi Trẻ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, TBT báo Cửa Việt, Kim Tinh, phó TBT báo Ấp Bắc, Nguyễn Xuân Quang, TBT báo Sông Bé, Lê Phúc, TBT báo Đối Thoại.

Trần Văn Trà trở cờ bảo ông Nguyễn Hộ là “người nối giáo cho giặc”. Trần Bạch Đằng: “Đáng đời”.

Phạm Khải sau này thay thế ông Nguyễn Hộ nhận định: “Anh Năm Hộ muốn làm một Trung tâm lãnh đạo cả nước”.

Ngày 21/03/1990, ông Nguyễn Hộ bỏ Sài gòn về vùng Sông Bé và tuyên bố: Ly khai đảng Cộng Sản VN. Võ Văn Kiệt đã có lần đi gặp Nguyễn Hộ để thuyết phục ông Nguyễn Hộ. Nguyễn Hộ từ chối tất cả.

Cũng cần hiểu rằng nhiều người sợ quá mà đành lòng phải nói như thế.

Nhưng dù sao cũng ít ra ra vắng bóng một Tố Hữu, một đồ tể trong Nhân Văn Giai phẩm 1955.

Ngày 27/07/1990, Thành Ủy Tp. HCM khai trừ khỏi đảng các ông Tạ Bá Tòng, Đỗ Trung Hiếu, Hồ Hiếu và bác sĩ Đỗ Thị Vân, vợ ông Đỗ Trung Hiếu. Các ông Lê Đình Mạnh, Đỗ Ngọc Long, Luật sư Đoàn Thanh Liêm bị bắt giam. Luật sư Liêm bị xử 8 năm tù liên quan đến một vụ án chính trị khác.

Kể từ đấy, cai tên CLBNNKCC dần dần không còn ai nhắc tới nữa. Những kẻ có lòng với đất nước, có lý tưởng mong đất nước mỗi ngày mỗi khá hơn không còn cơ hội cất tiếng nói nữa.

Đảng trở lại nguyên hình là một tên độc tài bất khả xâm phạm. (Tài liêu do ông Đỗ Trung Hiếu, một cán bộ cộng sản trẻ của CLBNNKCC cũ viết từ trong cuộc tuồn ra bên ngoài và đã được nhóm Tin Nhà ở Paris cho in toàn bộ tài liệu lại)

Đôi lời kết luận 

Khai trừ, thanh trừng là chuyện thường tình trong thế giới cộng sản bởi lẽ có độc tài là có thanh trừng. Liên Xô những thập niên 30, 40, 50, Stalin đã giết và đưa đi lưu đầy hằng triệu người. Bên Trung Cộng, những năm 50, 60 trong cuộc Cách mạng Văn hóa, trong việc thành lập công xã nhân dân (Đại nhảy vọt, Great Leap) Mao Trạch Đông, Giang Thanh và lũ tay sai đã giết hại tra tấn, tù đày hàng triệu người dân Trung cộng vô tội. Ngay cả những cán bộ đảng viên kỳ cựu từng sát cánh với Mao Trạch Đông cũng bị thanh trừng sát hại như Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, La Thụy Khanh, Hạ Long. Và cũng không thể quên được biến cố đàn áp dã man sinh viên, học sinh trong biến cố Thiên An Môn ngày 04/06/1989 tại quảng trường Thiên An Môn. Cũng vậy, Pol Pot, Ieng Sary đã phạm tội diệt chủng, giết hại hàng triệu người dân vô tội Kam pu Chia trong những năm sau 1975.

Chúng ta không có hy vọng gì người Cộng sản Việt Nam làm khác hơn. Họ không tệ hơn đã là một điều tốt rồi. Một chế độ độc tài không có chỗ cho người tử tế. Làm người tử tế trong một chế độ xã hội cộng sản là điều không dễ.

Rất nhiều người lương thiện ở VN bây giờ cảm thấy cô đơn, lạc lõng trong một xã hội xô bồ, vô đạo đức, tranh dành như ăn cướp giựt.

Ông Đỗ Trung Hiếu, một thành viên tích cực trong CLBNNKCC thất vọng đưa ra lời nhận xét:

“Té ra cái gì cộng sản chống là cái Đảng làm. Cái gì đảng luôn luôn nói đến là cái không có trong thực tế. Đảng cộng sản là người họa sĩ đại tài luôn luôn vẽ bánh vẽ cho nhân dân ăn để riêng mình ung dung ăn bánh thật.”

Ông nhận xét tiếp: “Từ việc nhỏ đến việc lớn, từ suy nghĩ đến hành động, cách đối xử thì thấy rằng: Cuộc sống sao mà khó chịu đến cái quần áo, giày dép, đến cái răng, cái hòm cũng có cấp.”

Thật là một nhận xét chua xót.

Ở Việt Nam, kẻ nào bị thanh trừng, kẻ nào bị gán ghép là kẻ có tội. Thì kẻ đó là người liêm chính, là người tử tế. Tội của đệ tứ chỉ vì bọn đệ tam thời Stalin thắng thế nên hết đệ nhất, đệ nhị rồi đến đệ tam. Dừng lại ở đệ tam thì được. Sang đệ tứ là bị thanh trừng ám sát. Thời Andropov và Gorbachev thì Stalin bị lên án, là có tội. Việt Nam là con đẻ của Stalin và Mao Trạch Đông. Nên tội tính theo mùa, theo thời kỳ.

Tội của CLBNNKCC cũ là đi nhanh quá, tội đòi đổi mới khi chưa cho phép đổi mới. Tội đòi đa nguyên, đa đảng trong khi cộng sản muốn độc quyền. Họ là thứ hình thức tự thực dân hóa (autocolonisation) trên chính đất nước của mình.

Trong tương lai, chúng ta còn được chứng kiến nhưng cuộc thanh trừng, đánh đấm, tranh giành giữa bọn họ.

Nhưng nay, họ chỉ còn đánh đấm nhau vì tiền. Và chúng ta sẽ chứng kiến cái cảnh thằng ăn cướp xử thằng ăn cắp dài dài… dài … dài … dài…

© 2008-2018 DCVOnline


DCVOnline:
(2) Ngô Vĩnh Long, giáo sư Sử, Đại học Main.
(3) Võ Văn Kiệt đang viết thư gửi trung ương đề nghị minh oan cho những người bị hàm oan trong vụ án Cimexcol. Bức thư có tựa đề: “Nhìn lại việc điều tra, khởi tố, xét xử vụ án Cimexcol Minh Hải: Sự thật và số phận của những người trong cuộc”.

Trích đoạn đầu:

“Tôi: Võ Văn Kiệt, là người từng có trách nhiệm, có quá trình theo dõi vụ án Cimexcol Minh Hải từ khi bắt đầu đến khi kết thúc và những hậu quả kéo dài cho tới tận ngày nay. Xin được trình bày những gì mình biết, cảm nhận xung quanh vụ án này. Tôi khẳng định, toàn bộ vụ án là oan sai, không bình thường, bản thân tôi đã nhiều lần phát biểu ý kiến của mình với tập thể lãnh đạo trực tiếp và qua thư. Trong đó, tôi cũng đã đề xuất các phương án giải quyết đối với trong nội bộ Đảng và cơ quan pháp luật, nhà nước. Phần lớn đều thừa nhận thực tế những kiến nghị đều có cơ sở, có căn cứ nhưng ngại đặt ra, giải quyết lại vụ án”…

(Trích CIMEXCOL Minh Hải – 20 năm oan án – Bài 1: Những bức thư kiến nghị gửi trung ương, Đặng Huỳnh Lộc, Online: http://snipurl.com/29v5l [www_phapluattp_vn] , May 20, 2008)

Những kẻ bị khai trừ (I)

Những kẻ bị khai trừ (I)

Nguyễn Văn Lục

Tôi đã là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đã không còn. – Dương Quỳnh Hoa

Kể từ khi thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam đến nay đã có bao nhiêu cuộc thanh trừng nội bộ, hoặc thủ tiêu các đồng chí của chính họ?

Câu trả lời là không kể xiết được. Bàn tay sắt của đảng cộng sản với bạo lực và lừa bịp đã kéo dài từ hơn nửa thế kỷ nay. Lúc mà người ta nhận diện ra được thế nào là chủ nghĩa cộng sản thì đã quá trễ… Sở dĩ có tình trạng khai trừ là vì chế độc độc đảng, độc tài đến nỗi con người nghĩ ngợi cũng cần phải xin phép. Con người luôn luôn ở trong tình trạng có tội, bị khai trừ. Đó là một thứ tù nhân trong tương lai.

Và mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, mỗi lần thay đổi chính sách lại có thứ tù nhân mới, có kẻ bị khai trừ mới. Có thứ bị khai trừ trong “thời kỳ” theo đệ tứ hay theo đệ tam, khai trừ “thời kỳ” cải cách ruộng đất, khai trừ “thời kỳ” Nhân Văn Giai Phẩm, khai trừ “thời kỳ” chính sách theo Nga hay theo Tàu, khai trừ “thời kỳ” trong “vụ án chống đảng, chống nhà nước ta đi theo chủ nghĩa xét lại và làm tình báo cho nước ngoài”, khai trừ “thời kỳ” Mặt trận Giải phóng miền Nam, khai trừ “thời kỳ” những người cựu kháng chiến Nam bộ.

Và nay có thêm một thứ khai trừ mới: Phe phái tranh ăn tìm cách loại trừ nhau… Như mới đây, những người dính dáng trong vụ PMU nay bị bắt và bị điều tra. Tướng công an Phạn Xuân Quắc bị điều tra. Hai nhà báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ bị bắt.

Tham Nhũng liên kết với đảng được dịp trả thù đối với những ai đòi công lý.

Thêm nạn nhân, thêm oán hận, thêm tủi nhục, thêm phân hóa, chia rẽ, thêm lãng phi nhân lực. Đã có biết bao gia đình tan nát lầm than trong cải cách ruộng đẩt. Phùng Quán đã diễn tả bản chất đảng cộng sản đối với dân:

Những con người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả

Chúng tôi, xin lược chọn một vài thời kỳ khai trừ chưa được nói tới nhiều mà thôi.

Đối với người cộng sản, họ chia dân chúng ra ba loại người và có ba cách đối xử. Hoặc dân phải “ngoan”, chữ dùng của Vũ Thư Hiên. Ngoan thì tạm yên thân Bảo biểu tình chống Mỹ, chống Tàu thì chống. Bây giờ bảo không được chống thì không đựợc chống. Nghĩa là bảo gì nghe nấy.

Nhưng nếu trong xã hội chẳng may có nmhiều người ngoan thì bướng trở thành một cái tội. Bướng, bất mãn, không “giáo dục” được, tức ngoan cố thì bị khai trừ. Nhưng nếu chống đối nữa thi trở hành phản động sẽ bị thanh trừng, bị tù tội hoặc thủ tiêu, ám sát..

Khai trừ nhóm đệ tứ, còn gọi là Trốt-kít

Vì thế, ngay từ cuối năm 1937, tại Nam phần, đã xảy ra liên tiếp các cuộc thanh trừng nội bộ giữa đệ tam và đệ tứ quốc tế do cộng sản Pháp như Duclos, Gitton giật giây những người cộng sản đệ tam như Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Nguyễn. Gitton đã viết thơ cho Nguyễn Văn Nguyễn, đề ngày 19 tháng 5, 1957 như sau:

“Phải chấm dứt sự hợp tác với bọn Tạ Thu Thâu kể từ nay..Phải gấp rút ly khai.” 

Chứng cớ là Daniel Guérin, bạn thân của ông Tạ Thu Thâu hồi ở Pháp đã viết như sau:

“Ngoài sự bắt bớ của chính phủ, bọn Stalinist quyết đồ sát Tạ Thu Thâu, vu cáo là Phát Xít. Ấy là, chính ở Paris mà bọn Stalinist mưu đồ sát hại Tạ Thu Thâu và các bạn của Thâu. Các bạn nên hiểu ràng, chính từ trong khám đường sâu thảm, Tạ Thu Thâu, người bạn của chúng ta chỉ còn trông cậy có chúng ta, hy vọng có chúng ta.

(trích dẫn Nguyễn Kỳ Nam, Hồi ký 1925-1964, từ trang 23-25, chưa xuất bản).

Ngoài Tạ thu Thâu, lần lượt đến Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn Phương, Trần Quang An, Phan Văn Chánh, Nguyễn Bình hay những người có cộng tác với Việt Minh trong Mặt trận Quốc gia thống nhất như Huỳnh Phú Sổ, Dương Văn Giáo.

Họ đã lần lượt bị sát hại. Vì đối với cộng sản, đệ tứ là kẻ thù trên cả kẻ thù như thực dân Pháp.

Trong dịp Trần Văn Giàu đến Paris hồi tháng 10, 1989, hơn 100 nhân sĩ, trí thức VN ở Pháp đã chất vấn Trần Văn Giàu về vấn đề thủ tiêu ám sát đệ tứ. Theo bác sĩ Trần Ngươn Phiêu cho biết Trần Văn Giàu rất lúng túng. Việc họp này đã được thu băng và còn được lưu giữ. Trần Văn Giàu cũng hứa “rửa” tiếng cho Tạ Thu Thâu, nếu đảng cộng sản VN không “rửa”. Nhưng từ đó đến nay, chưa bao giờ thấy Trần Văn Giàu làm gì để “rửa” cả. (Trích Trần Ngươn Phiêu, Phan Văn Hùm, thân thế và sự nghiệp, trang 358). Ngoài các nhóm đệ tứ bị sát hại ở miền Nam, ngoài Bắc những trí thức miền Bắc như Trương Tửu, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường cũng bị tiếng oan là đệ tứ. Nhất là trường hợp Trần Đức Thảo, một trí thức thân với đệ tam.

Nhưng ai đã giết Tạ Thu Thâu?

Vào năm 1989, tại Pháp, hơn 100 nhân vật chính trị và văn hóa đòi phục hồi danh dự cho Tạ Thu Thâu bị giết tại ven biển Mỹ Khê, Quảng Ngãi vào tháng 9, 1945. Những người giết Tạ Thu Thâu kết tội ông làm Việt gian cho phát xít Nhật. Cuối năm 1939, chính Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo cho quốc tế cộng sản ghi rõ:

Đối với bọn Trốt Kýt, không thể có một thỏa hiệp hay nhân nhượng nào cả. Phải lột mặt nạ chúng như là tay sai của Phát xít, phải tiêu diệt chúng về chính trị.

Ông viết tiếp khi ở bên Tàu: “Bọn Trốt kít là một lũ bất lương, những con chó săn của chủ nghĩa Phát xít Nhật và chủ nghĩa Phát xít Quốc tế” (Trích Thành Tín, Mặt Thật, trang 112-113, Turpin Press 1994).

Theo ông Hoàng Hoa Khôi, thuộc nhóm đệ tứ trong tập hồ sơ: Nhìn lại sáu mươi năm tranh đấu cho Việt Nam, ông viết:

“Sau khi điều tra, chúng tôi biết được ba thủ pham. Họ đều là những người cộng sản. Người thứ nhất là Kiều Đức Thắng, trách nhiệm nghiệp đoàn, người thứ hai là Nguyễn Văn Trấn, đã từng được đi học tập ở Moscow, người thứ ba là Nguyễn Văn Tây, cựu bộ Trưởng chính phủ Trần Văn Giàu”.

(Trích Hoàng Hoa Khôi, Hồ sơ đệ tứ, trang 228 ).

Cũng cần nói thêm ông Nguyễn Văn Trấn sau này đã phản tỉnh và viết cuốn: Viết cho mẹ và Quốc Hội. Trong sách, ông Trấn né tránh về vai trò sát thủ của ông trong việc thủ tiêu những người CS đệ tứ. Ông là cánh tay mặt của Trần Văn Giàu, người bị coi là có trách nhiệm trong các vụ ám sát nhóm đệ tứ. Ông mất năm 1998.

Cũng có nhiều tài liệu khác viết về cái chết của Tạ Thu Thâu như cuốn Việt Nam 1920-1945 của ông Ngô Văn hay tài liệu: Người Việt ở Pháp 1940-1954 của ông Đặng Văn Long.

Khai trừ nội bộ ở ngoài Bắc

Sau cuộc chiến 1954-1975, theo ông Bùi Tín, có đến hàng trăm vụ án chính trị gọi là “chống lại lãnh đạo”, “chống đảng”, “xét lại”, “phản động” vẫn không được thanh minh để giải tỏa nỗi oan ức. Những người trực tiếp trách nhiệm là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Mà Võ Nguyên Giáp sợ. Mà Hồ chí Minh im lặng. Sau đó, ông Bùi Tín trong bản kiến nghị của một công dân, ông đã đưa ra hằng trăm tên tuổi những người bị tù, bị oan ức, bị xỉ nhục. Gia đình họ bị điêu đứng. Có người đã chết oan ức và tủi nhục. Ông Bùi Tín đã đòi công lý cho các người sau đây: các tướng Đặng Kim Giang, Nguyễn Vinh, Lê Liêm; các đại tá Đỗ Đức Kiên, Nguyễn Minh Nghĩa, Nguyễn Hiếu, Phan Hoàng; các giáo sư: Bùi Công Trừng, Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh; các nhà báo: Hoàng Thế Dũng, Nguyễn Kiên Giang, Quang Hân, Mai Luân, Mai Hiển, Định Chân, Trần Thư, Khắc Tiếp, Hồng Văn; các văn nghệ sĩ Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Nguyễn Bính, Hữu Loan, Minh Giang, Quang Dũng, Trần Châu, Trần Đĩnh, Hà Minh Tuân, Việt Phương, Anh Chính, Sỹ Ngọc, Văn Cao, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Trần Lê Văn, Chu Ngọc, Trần Tích Linh; vụ trưởng Vũ Đình Huỳnh; các đại tá Ngọc Bằng, Cao Nham, Đỗ Trường, Nguyễn Trần Thiết bị giữ và vụ án ông Ta Đình Đề.

Trong cuốn Án tích cộng sản Việt Nam, tác giả Trần Gia Phụng đã đưa ra một danh sách trong “Thông Điệp xanh” mà nhiều tên tuổi phù hợp với danh sách của ông Bùi Tín:

Bùi Công Trừng, Bùi Ngọc Tấn, Dương Bạch Mai, Đào Phan tức Đào Huy Dếnh, Đặng Cần, Đặng Đình Cầu, Đặng Kim Giang, Đinh Chân, Đỗ Đức Kiên, Đỗ Văn Doãn, Hoàng Minh Chính, Hoàng Thế Dũng, Huy Vân, Lê Liêm Lê Minh Nghĩa, Lê Trọng Nghĩa, Lê Vinh Quốc, Lưu Động, Mạc Lân, Mai Hiến, Mai Lân, Minh Tranh, Nguyễn Cận, Nguyễn Gia Lộc, Nguyễn Hồng Sỹ, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thẩm, Nguyễn Văn Vịnh, Phạm Kỳ Vân, Phạm Quang Đức, Phạm Viết, Phan Thế Vấn, Phùng Văn Mỹ, Quảng Hân, Trần Châu, Trần Đĩnh, Trần Minh Việt, Trần Thư, Tuân Nguyễn, Ung Văn Khiêm, Vũ Đình Huỳnh, Vũ Huy Cương, Vũ Thư Hiên.

Đó là những nạn nhân ở phía Bắc mà ông Bùi Tín có giao tiếp, quen biết và biết rõ.

Trong số những người trên, nhà văn Vũ Thư Hiên cho biết bố ông là Vũ Đình Huỳnh bị bắt vì tội thành phần “xét lại”. Ông bị bắt ngày 18/10/1967 vì “chống đảng”. Theo bà Phạm Thị Tề, chồng bà bị còng tay bằng còng số 8, nhưng còng sắt không vừa, họ đã trói giật cánh khủy ông, một ông già đã về hưu. Hình ảnh đó cho đến chết tôi cũng không thể quên, vì nó tàn bạo và man rợ gấp bội phần so với thời thực dân” (trên Diễn đàn số 44).

Ít lâu sau đến lượt Vũ Thư Hiên theo bố vào tù. Bố đi tù thì theo lý lịch, theo luật tru di tam tộc, không tội trở thành có tội, con phải tù theo là phải rồi. Cũng nhờ đó mà sau này Vũ Thư Hiên viết cuốn Đêm giữa ban ngày.

Một cuốn sách làm nên tên tuổi anh.

Mặt trận giải phóng miền Nam

Phần đông những người của MTGPMN đều là trí thức, chuyên viên. Có tất cả khoảng 30 người vào khu. Chỉ có ba cặp vợ chồng, còn tất cả đi một mình. Có thêm 6 thanh niên chưa quá 30 tuổi. Vào khu rồi bà Dương Quỳnh Hoa mới thành hôn với kỹ sư Huỳnh Văn Nghị. Ngay sau 1975, chừng một tháng, Hà nội đã xóa sổ MTGPMN. Từ đó phần đông những người đã theo Mặt trận bất mãn, chống đối và ly khai. Họ là những người như Lữ Phương, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Nguyễn Trọng Văn, (ba người này không vào khu, vẫn ở thành phố) Trương Như Tảng, Dương Quỳnh Hoa. Trước đây, họ bị coi là bù nhìn, sau họ cảm thấy bị phỉnh gạt trắng trợn. Phần lớn âm thầm, nuốt nhục rút lui, hoặc trốn ra ngoại quốc như bộ trưởng Trương Như Tảng.

Dù sao, bỏ quên là một hình thức khai trừ nhẹ nhàng nhất mà họ may phúc được hưởng.

Hoặc xin ra khỏi đảng như vợ chồng bác sĩ Dương Quỳnh Hoa.

Bà Dương Quỳnh Hoa mất ngày 25/02/2006, tại Sài gòn. Sinh thời, bà theo học ngành thuốc tại Sài gòn và nhất là tại Pháp, gia nhập đảng cộng sản Pháp vào những năm 1948-1954. Với tư tưởng xã hội và cấp tiến như thế, bà tham gia MTDTGPMN. Sau này bà đã thú nhận, đó là một ảo tưởng chính trị trong đời.

Ông Huỳnh Văn Nghị, chồng bà đã phản đối quyết định thống nhất ngay lập tức Mặt trận giải phóng miền Nam và Liên minh các lực lượng dân chủ và hòa bình. Họ bị loại trừ. Bà xin ra khỏi đảng, nhưng thời đó, thủ tướng Phạm Văn Đồng đồng ý với điều kiện bà phải giữ im lặng. Nhưng sư im lặng đó không kéo dài được lâu khi bà phải chứng kiến quá nhiều điều “phản cách mạng” từ khi đảng cộng sản Việt Nam ‘thực thi’ cái lý tưởng mà bà đã hy sinh cả đời sống cho nó. Khi được tờ báo Far Eastern Economic Review (FEER) phỏng vấn vào ngày 17/10/1996: Quel est l’évènement le plus marquant pendant les 50 années passées? Bà trả lời: L’effondement du mur de Berlin qui mit un terme à la “grande illusion” (Tạm dịch. Biến cố nào được kể là nổi bật nhất trong 50 năm qua? DQH: Sự sụp đổ bức tường Bá Linh và chấm dứt một “ảo tưởng” lớn.

Nhất là khi được Stanley Karnow phỏng vấn về sự thất bại của cộng sản Việt Nam (The Failure of Communism in Vietnam, Nguyen Phuc Buu Chanh, Online: http://snipurl.com/29phe [www_freerepublic_com], May 19, 2008) bà Dương Quỳnh Hoa đã trả lời rằng:

“Tôi đã là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đã không còn.”

(“I have been a Communist all my life, but now I’ve seen the realities of Communism, and it is a failure-mismanagement, corruption, privilege, repression. My ideals are gone.”)

Chủ nghĩa cộng sản là tai họa. Những cán bộ đảng cộng sản không hề hiểu biết về sự cần thiết của việc phát triển một cách hợp lý. Họ bị mê hoặc bởi những khẩu hiệu của Mác Xít đã không còn giá trị nữa, nếu không muốn nói rằng chúng không bao giờ có giá trị. Họ là những kẻ (tàn ác) quá độ. (“Communism has been catastrophic. Party officials have never understood the need for rational development. They’ve been hypnotized by Marxist slogans that have lost validity—if they ever were valid. They are outrageous.”)

Người ta tự hỏi rằng nếu bà Dương Quỳnh Hoa không phải là một khuôn mặt nổi tiếng, một trí thức hàng đầu của MTGPMN thì bà có được bình yên, không bị tù tội sau khi tuyên bố những lời như trên với một ký giả Hoa Kỳ? Nhưng điều này có thể giải thích phần nào vì khi nhà cầm quyền cộng sản nộp đơn kiện chính phủ và một số công ty hoá chất Hoa Kỳ tại toà án New York về những thiệt hại về nhân mạng và nhất là ảnh hưởng tai hại phụ nữ Việt Nam ở những vùng ô nhiễm thường bị xẩy thai hay sinh ra trẻ dị dạng. Một trong ba người đứng tên trong đơn kiện này lại là bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa.
Những dữ kiện về bà Dương Quỳnh Hoa trong đơn kiện do phía cộng sản đưa ra trước toà án New York đọc được như sau:

Người đi kiện DUONG QUYNH HOA
Điều thứ 135. Năm 1964, plaintiff Duong Quynh Hoa là một người Việt Nam và là một y sĩ cư ngụ tại thành phố Saigon thuộc miền Nam Việt Nam
Điều 136. Trong thời gian này, bà thường đi lại tỉnh Biên Hoà và vùng Sông Bé là những nơi bị nhiễm thuốc độc do những bị cáo trên đây sản xuất.
Điều 137. từ 1968-1976, Dr. Hoa là Bộ Trưởng Y tế cuả CPLT MNVN và sinh sống tại tỉnh Tây Ninh.
Điều 138. Trong thời gian ở Tây Ninh, bà được chỉ thị nhiều lần phải bao đầu bằng bao Plastic vì quân đội Hoa Kỳ sẽ rải hoá chất độc. Trong thời gian này, bà đã trông thấy một thùng đựng chất độc da cam sản xuất bởi những bị cáo được thả xuống từ máy bay quân đội Hoa Kỳ.
Điều 139. Tháng 5, 1970, Dr. Hoa sinh hạ một bé trai tên là Hùynh Trung Son. Plaintiff Huynh Trung Son sinh ra bị dị tật và bị tàn phế.
Điều 140. Plaintiff Huynh Trung Sơn chết khi được 8 tháng tuổi.
Điều 141. Sau chiến tranh, Dr. Hoa bắt đầu có triệu chứng ngứa ngáy và bị lở ngoài da.
Điều 142. Năm 1971, Dr. Hoa có thai và bị sẩy thai vào tháng 7, 1971 sau 8 tuần lễ có thai.
Điều 143. Dr. Hoa có thai lần nữa nhưng lai sầy thai sau sau tuần vào tháng 1 năm 1972.
Điều 144. Sau khi mất đứa con đầu lòng và sầy thai hai lần, Dr. Hoa quyết định sẽ không có con nữa.
Điều 145. năm 1985, sau khi bị ngất xỉu và chóng mặt nhiều lần, Dr. Hoa bị khám phá là bị bệnh tiểu đường.
Điều 146. Năm 1998, Dr. Hoa bị bệnh ung thư vú và phải giải phẫu cắt bỏ ngực.
Điều 147. Năm 1999, Dr. Hoa thử máu và khám phá ra nồng độ chất độc da cam dioxin trong máu bà cao hơn độ bình thường rất nhiều.
Điều 148. Cả hai cái chết của hai người đi kiện, plaintiff Duong Quynh Hoa con trai của ba là Huynh Trung Son là do chất độc da cam do những bị cáo nêu ra ở trên sản xuất.

(Trích từ phán quyết cuả toà UNITED STATES DISTRICT COURTEASTERN DISTRICT OF NEW YORK vụ VN xin kiện vụ chất độc da cam)

Năm 2004, mặc dù chi rất nhiều tiền cho các tổ hợp luật sư danh tiếng cuả Hoa Kỳ toà án ờ New York đã bác đơn xin kiện của chính phủ Việt Nam về vụ chất độc da cam. Từ đó đến nay, tuy phía Việt Nam cho biết sẽ kháng án nhưng vấn đề này không còn được đề cập tới sôi nổi như trước đây. Ghi chép lại dài dòng về những chi tiết của đời sống riêng của bà Dương Quỳnh Hoa để thấy rằng dù không bị cộng sản thanh trừng, bà cũng đã phải trả cái giá quá đắt. Bà là một điển hình cho trí thức miền Nam khi chọn sai lý tưởng để theo đuổi và nhất là khi đó lại là chủ nghiã cộng sản. Ít ra thì khi có phán quyết này của toà án Hoa Kỳ, bà Dương Quỳnh Hoa đã qua đời, khỏi phải thêm một lần thất vọng

Trong Hồi ức Nguyễn Thị Bình, một người còn được trọng dụng, dày đến 700 trang, người đã một thời là đồng chí với nhau ở trong bưng là bà Dương Quỳnh Hoa đã không được bà Bình nhắc đến một lần.

Những người khác như quý ông Trịnh Đình Thảo (1901-1982), vợ là bà Ngô Thị Phú, quê quán Sóc Trăng. Ông Lâm Văn Tết ( 1896-1982) Ông bà Phùng Văn Cung, vợ là Lê Thoại Chi. Giáo sư Nguyễn Văn Kiết, Nhà văn Thanh Nghị, Hoàng Trọng Quỳ, vợ là nghệ sĩ Tâm Vấn. Ông bà Trần Kim Bảng, bút hiệu Thiên Giang, vợ là nữ sĩ Vân Trang, thân sinh ra gs địa chất Trần Kim Thạch. Em gái bà Vân Trang là nghệ sĩ Mộng Trung, vợ Trần Văn Khê. Giáo sư Nguyễn Văn Chì, vợ là là bà Nguyễn Đình Chi, Chánh án Phạm Ngọc Thu, Võ Ngọc Thành, dược sĩ Hồ Thu, kỹ sư Cao Văn Bổn, kỹ sư Tô Văn Cang, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, chức sắc Cao Đài Nguyễn văn Ngỡi, bà Bùi thị Nga (vợ của ông kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát.)

Sau 1975, sau “ngày giải phóng”, họ làm gì? Họ ở đâu ? Họ chẳng làm gì cả Họ tiếp tục ngồi chơi xơi nước với danh hão? Họ tiếp tục ăn bánh vẽ dù chẳng còn muốn ăn. Bà Bùi Thị Nga có thay chồng viết cuốn Huỳnh Phát, cuộc đời và sự nghiệp, dày trên 600 trang cùng không một chữ cho bà Dương Quỳnh Hoa.

Hồi đó quý vị được đảng bố trí ở biên giới Việt Nam-Campuchia, khoảng giữa bót Tà Xúa tới Chợ Giữa, Kà tum. Nhưng vì vấn đề an ninh,quân sự, chỗ ở cũng bị thay đổi nhiều lần để tránh phi cơ Mỹ ném bom.

Nhiều vị được dẫn đến “Trung ương” MTGPMN, phải vất vả lắm.Trước hết, phải vượt qua kinh Đìa Vàng, đến Ba Thu trong vùng Mỏ Vẹt. Nhà ở là mấy chục nóc nhà ni lông. Ai cũng ngủ võng cả. Nghe tiếng máy bay là lăn từ võng xuống hầm ngay đó. Nhà ăn tập thể thì nóc lợp lá trung quân, chung quanh có nhiều hầm đào sẵn để tránh bom. Nhà này vừa dùng làm chỗ ăn uống đồng thời là chỗ hội họp chính tri. Hằng ngày, Huỳnh Tấn Phát, linh hồn của Mặt trận, họp để đọc tin tức, nghe bá cáo và học tập. Nhất là nhanh chóng “để các vị ổn định tư tưởng và đời sống riêng tư.”

Nhiều vị ra đi tưởng chỉ vài tuần là “Giải phóng xong miền Nam”. Nay nhớ nhà, nhớ cơm, nhớ phở, nhớ điện, nhớ nước, nhớ cầu tiêu, nhớ tiện nghi Sài Gòn Nhiều khi không biết làm gì thì gs Nguyễn Văn Kiết mang triết học của Kant, Hegel ra giảng cho các quý vị nghe đỡ buồn. Vấn đề ăn uống chắc không có trở ngại gì. Chỉ sợ kiến rừng. Đồ ăn dư phải để trong một bát nước, nếu không kiến bò vào bát xơi trước. Nhưng vấn đề tắm rửa cho mấy vị phụ nữ thì thật phiền hà. Người như bác sĩ Dương Quỳnh Hoa mà nay phải ra tắm suối cởi truồng thì coi sao được. Bảo vệ phải làm nhà tắm, đi khuân nước về, rồi phải đun sôi cho vị nữ bác sĩ tắm cho đỡ lạnh. Đối vị nữ lưu như bà, thế là cực khổ lắm rồi.

Công việc chính là ngồi chơi xơi nước. Biết mình bị lợi dụng, biết bị làm cảnh, biết bị lừa.

Nhưng, như nhạc TCS, Tiến thoái lưỡng nan, đi… về… lận đận.

Muốn về cũng không có đường về.

Trước 1975, 4 vị thanh niên là Trần Quang Long, Trần Triêu Luật, Lê Hiếu Đằng, và Trần Thiên Tứ sang công tác ở tuyên huấn R. Trần Quang Long và Trần Triệu Luật đã chết sau ba đợt bom tại đây.Quý vị thì nhàn, không có việc gì làm, họp hành đưa ra nghị quyết, tuyên bố rồi biên bản bị vứt vào sọt rác, vì Trung ương đã soạn sẵn. Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch Hội đồng cố vấn chính phủ cũng nhàn. Ngồi chơi xơi nước đến hai lần. Trong khi đó theo Trần Thanh Quốc, thư ký riêng của Huỳnh Tấn Phát – chủ tịch Phát làm chủ tịch chính phủ cách mạng lâm thời cộng Hòa miền Nam VN – với chức vụ đó ông “không có một chút thì giờ để nghỉ ngơi. Chỉ có thể nói những phút giây rảnh rỗi là khi anh lên yên con ngựa sắt để đi họp. Đó là thời gian nghỉ ngơi thanh thản nhất.” Bận thế đấy.

Hầu hết những vị này, sau 30/04/1975 đều cho ngồi chơi xơi nước. Đó là cách đãi lọc kiểu cộng sản. Chỉ riêng những người đã từng chiến đấu dưới hàng ngũ cộng sản như Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình còn được giữ chức vụ ngồi chơi nước như Phó Thủ tướng chính phủ. Ông Phát sau này chỉ lo vụ tiêp tân, đón tiếp khách ngoại quốc hoặc có nhiệm vụ đi ra nước ngoài thay mặt chính phủ.

Đó là số phận dành cho những kẻ chạy cờ. Một cách khai trừ “ êm dịu”

(Còn tiếp)

© 2008-2018 DCVOnline

Tản mạn đôi dòng về cái sự “văn nô”

Tản mạn đôi dòng về cái sự “văn nô”

Inline image
Nguyễn Chính

Có lần tôi được nghe ông K, một người rất mê đọc sách nói thế này : “Từ hơn ngàn năm trước, Khổng Tử đã dạy học trò của mình rằng, đã là trí giả thì không thể bị u mê, càng không thể vì mấy đấu gạo mà viết cho kẻ bất nhân …”. Tôi bảo : “ Chỉ vì được mấy đấu gạo mà viết cho bọn thất đức, thì là bồi bút rồi còn gì”. Ông K bảo ” Đúng vậy ! nhưng lũ bồi bút lại được sinh ra từ cái sự văn nô”. Tôi hỏi lại ” Văn nô là sao ?”. Ông K bảo ” Là sao, thì chú phải tìm hiểu. Chỉ biết cái sự ấy nó làm hỏng cả một nền văn học. Nó biến không ít kẻ cầm bút thành thứ mạt hạng. Nó …”. Tôi vội xua tay ” Thôi, thôi xin bác, xin bác, em sẽ tìm hiểu, sẽ tìm hiểu…”. Ông K liền nhìn tôi như kẻ xa lạ, nhìn từ đầu xuống chân, lại từ chân lên đầu, rồi chỉ vào tôi mà rằng : ” Nhìn chú kìa, mới nghe thế mà đã, trên thì mặt xanh như đít nhái, dưới thì vãi cả ra thế kia rồi, thì cầm bút thế đéo nào được”.

Hơn 20 năm đã qua, ông K bây giờ đã thành người thiên cổ. Còn tôi cũng dần ngộ ra rằng, thì ra cái sự “nô” ấy nó kinh khủng lắm. Cả một dân tộc, một đất nước đã từng là nô lệ. Bị nhốt chung trong cái cũi khổng lồ ấy nào là những nông nô, công nô, binh nô, trí nô và vân vân nô… Bằng núi xương, sông máu, lật đổ được cái kiếp nô lệ ấy rồi, thì không ai lại ngu muội chui đầu vào cãi cũi ấy nữa, trừ phi là bị phỉnh, bị lừa.

Còn cái sự văn “nô” ? Thấy tôi cứ lúng túng dây nhợ như gà mắc tóc mãi, một đồng nghiệp đã “đóng” vào tai tôi những lời như búa bổ : ”Nô, tức là cúc cung tận tụy, phụng sự cho bề trên, cho ông chủ. Như kiếp chó ấy. Bề trên bảo sủa to thì sủa to, bảo sủa nhỏ thì sủa nhỏ, bảo cắn thì cắn, thế thôi”. Nghe đồng nghiệp nói vậy thì biết vậy, nghĩ mình phận ếch ngồi đáy giếng, đọc chưa được bao nhiêu, viết cũng chẳng được bao nhiêu, lại toàn thứ vô bổ, chỉ đáng vứt sọt rác, nên nghe lời ông K, tôi phải tự lần mò tìm hiểu …

Khi cụ Đồ Chiểu vung bút với những câu âm vang như sấm ” Dù đui mà giữ đạo nhà…”, rồi “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” và khi cụ Tản Đà đầy khí phách “Xuống ngọn bút mưa sa, bão táp, vạch câu thơ quỷ thảm, thần kinh. Lũ mọt dân trừng trị bằng câu văn, người hiền sỹ tinh biểu bằng ngòi bút…” v.v…, thì cái sự “nô” ấy đã phải bạt xa rồi. Chưa hết, khi ở phương trời Âu đang ồn ào lý luận Mac-xít đưa quần chúng bần hàn lên tận mây xanh, bằng việc tấn phong họ là ” những người chân chính sáng tạo ra lịch sử”, thì cụ Tản Đà đã không ngần ngại chỉ thẳng ra cái sự thật bi thảm và “giáng” một búa nẩy lửa vào cái đầu còn tăm tối và cả tin của đồng bào mình, rằng ” Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn, Cho nên quân nó dễ làm quan”. Thiển nghĩ, với thiên chức góp phần hướng thiện con người, tôn vinh cái đẹp, thì người cầm bút phải tôn trọng sự thật, bảo vệ sự thật, vạch mặt giả dối, mị dân, bịp bợm. Mọi sự tô hồng, bôi đen, bóp méo sự thật nhằm phục vụ lợi ích của thiểu số kẻ cầm quyền, đều là kẻ thù của văn chương. Sự chân thực là phẩm giá của ngòi bút nên rất cao quý và thiêng liêng. Khi Liên Xô, thành trì của chủ nghĩa CS dưới thời Stalin mặc dù có cả một bộ máy KGB khổng lồ, nhưng một học giả người Nga vẫn lớn tiếng khẳng định ” Sự thật cao hơn tất cả, cao hơn nước Nga và cao hơn cả Lê-nin “. Được biết, lý luận văn học Xô-viết còn đẻ ra cái gọi là “hiện thực xã hội chũ nghĩa”, từng được các học giả Đông, Tây mổ xẻ xem nó là cái giống gì ? Đã “hiện thực” lại còn hiện thực nọ, hiện thực kia nữa. Cái ấm sứt vòi, nhìn từ mọi phía cũng không thể nào là cái bình pha lê được. Đúng là rặt một thứ “ný nuận nồn”, như cách nói ngọng của một bà bán mắm tôm nơi chợ quê. Cũng vậy, ở ta lâu nay còn có câu ” nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, một khái niệm không thể tìm thấy trong bất cứ học thuyết Đông, Tây, kim cổ nào. Ngay cả cụ tổ của CNCS là Kar.Max có tái thế chắc chắn cũng phải chào thua, không thể nào định nghĩa nổi. Nên nhà thơ Trần Mạnh Hảo mới có câu thơ thật mỉa mai ” khái niệm đưa ra không biết lối thu về”, là vì vậy.

Liên quan đến cái sự văn “nô”, có một vấn đề từng được nêu ra từ mấy chục năm qua, nhưng bị cho là “nhạy cảm” nên chỉ được “nhá xèng” lên tý rồi tịt luôn như pháo tịt ngòi. Đó là quan hệ giữa văn học và chính trị. Còn nhớ khoảng cuối 1990, một người bạn gặp tôi, hỏi : ” Này ! có một nhà thơ vừa đưa ra nhận xét là, văn học nghệ thuật cao hơn chính trị và xa hơn chính trị. Ông thấy sao ?”. Tôi liền khẳng định ngay : “Đúng ! đúng là như thế”. Không ngờ anh ta lồng lên ” Đúng, đúng cái con khỉ. Ông lúc nào cũng nằm mơ. Xa hơn, cao hơn cái nỗi gì. Chính trị là bố , là ông cố nội của văn học, thì có…”. Rồi anh dẫn ra nào Tần Thủy Hoàng; Hitler ; Mao v.v… Tôi liền hỏi lại : “Vậy mấy bạo chúa ấy sống được 100 tuổi không ? Chết ngóm sau mấy chục năm cường quyền chứ gì ? Còn các tác phẩm văn học, nghệ thuật đích thực, thứ thiệt, thì sống muôn đời”. Và, để anh ta tâm phục, khẩu phục tôi đã lý giải nôm na thế này : Chính trị là phạm trù lịch sử, có nay không có mai. Lịch sử phát triển xã hội loài người hết chế độ này, thì đến chế độ khác. Triều đại nào thối nát, phản dân hại nước ắt sẽ sụp đổ và bị triều đại khác thay thế. Còn văn học nghệ thuật thuộc phạm trù vĩnh viễn. Các tác phẩm đích thực sẽ “bước” từ thời đại này qua thời đại khác, trở thành tài sản vô giá của nhân loại và bất tử. Các tác phẩm cổ điển, trung đại, cận đại v.v… là những minh chứng hùng hồn. Văn học nghệ thuật chân chính phản ánh chân thực ước mơ và khát vọng của nhân dân mình. Văn học, nghệ thuật chân chính (không phải thứ văn nô, bồi bút) luôn chỉ ra cho chính trị biết phải làm gì, làm thế nào để an dân, để được lòng dân. Bởi chính trị muốn tồn tại, thì phải được lòng dân. Nên văn học nghệ thuật cao hơn chính trị là ở cái lẽ ấy, vân vân và vân vân …

Cái sự văn “nô” còn liên quan đến bản lĩnh, khi phách người cầm bút. Phùng Quán , một nhà thơ “Nhân văn giai phẩm” rất đáng kính từng có tuyên ngôn rằng “Dù ai ngon ngọt nuông chiều cũng không nói yêu thành ghét. Dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu…”. Ông Trường Chinh (Sóng Hồng), nếu tôi nhớ không nhầm cũng từng có câu : “Lấy cán bút làm đòn xoay chế độ. Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Theo tôi, Những câu thơ này của Phùng Quán và Trường Chinh có giá trị thời đại rất cao, vì nói lên được bản lĩnh và tâm huyết người cầm bút. Không biết, Hội Nhà Văn VN có cho dịch ra nhiều thứ tiếng để gửi đến các văn nghệ sỹ đang phải sống trong những chế độ độc tài, phản dân chủ tại Hội nghị giới thiệu văn học VN ra nước ngoài vừa qua, hay in ra hàng ngàn bản cho bóng bay gửi lên kính cáo với trời đất, sông núi nước mình trong Ngày “Đại lễ thơ VN” hoành tráng rằm tháng Giêng Canh Dần vừa rồi ? Nhân đây xin nhắc lại một chuyện nhỏ. Trong một hội thảo ở Nha Trang về phát triển nông nghiệp của một tỉnh miền Trung hồi cuối thập niên 1980. Giờ giải lao, cánh nhà báo tụ tập ở hành lang, to nhỏ bàn chuyện trên giời, dưới đất, chuyện dân dã, chuyện triều đình … Anh Bốn T, tuy là một cán bộ chủ chốt của tỉnh PY, nhưng tỏ ra rất bình dân với cánh phóng viên, cũng đến góp chuyện. Chuyện trò một hồi, bỗng anh trầm ngâm giây lát rồi phán một câu xanh rờn : “Đúng là cánh nhà văn, báo chí, văn nghệ sỹ chúng mày, thời nào cũng chống chính quyền …”. Lập tức một đồng nghiệp trong chúng tôi trả lời ngay : “Anh Bốn nhầm rồi ! Không phải chống chính quyền mà là chống cường quyền. Thời nào những người cầm bút cũng chống lại cường quyền …”. Tất cả chúng tôi cùng cười vang tán thưởng.

Lẽ thường người cầm bút (nhà thơ, nhà văn v.v…) không thể làm điều ác, điều thất đức và càng không thể dùng ngòi bút để bảo vệ cái ác. Những nhà văn, nhà thơ nào còn coi CNCS là lý tưởng của đời mình , chắc càng không thể quên lời giáo huấn của cụ Karl Max, rằng “Chỉ có loài súc vật mới quay lưng lại với số phận người khác …”. Đến nay, ai cũng biết, “cải cách ruộng đất” từng được coi là “cuộc cách mạng long trời lở đất”, là một đại họa đối với nông dân và nông thôn nước ta hồi giữa thập niên 1950. Vì thế, tôi không thể tin câu thơ đầy máu lạnh sau đây lại phát ra từ con tim của Xuân Diệu – một nhà thơ tình :

“Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ chúng nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống đọa đầy chết thôi”

Các nhà lý luận đã chia nền văn học nước ta theo từng giai đoạn, hoặc theo dòng này, dòng kia. Với riêng tôi, “Dòng hiện thực” (trước 1945) với những tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố; Nguyễn Công Hoan; Vũ Trọng Phụng ; Nam Cao v.v…là sáng giá nhất. Tác phẩm của các ông, chứng tích bằng văn học của một thời khốn nạn sẽ còn mãi với thời gian và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm của các ông, cho đến nay hình như vẫn còn đó :

“Đã rằng Bá Kiến hết rồi
Mà sao anh Chí ba đời còn đây ?”
(*)

Rõ ràng, trong đêm đen của “Tắt đèn”, trong hũ nút của “Bước đường cùng”, trong nhốn nháo, tha hóa, giả dối, đĩ điếm, lừa phỉnh, bịp bợp, mị dân, đạo đức giả … của “Số đỏ”, thời kỳ văn học này vẫn sản sinh được cho hậu thế những tên tuổi gắn liền với NHÂN CÁCH LỚN CỦA NGƯỜI CẦM BÚT.

Từng có người nói rất đúng rằng, nhà văn, nhà thơ là do “Tổ chức Trời” phân công. Thực ra là trời bắt “tội”, trời hành xác họ. Còn họ thì tự nguyện cho cái sự bắt tội và hành xác đó. Thế thì khuynh hướng sáng tác, quyền sáng tác phải thuộc về chủ thể sáng tạo là họ. Vậy tại sao cuối thập niên 1980 của thế kỷ trước, Nguyễn Minh Châu phải viết “lời ai điếu” cho một thời kỳ văn học? Có lẽ theo ông đó là thời “tụng ca, minh họa”. Nếu đúng vậy, thì thành tựu của thời kỳ này giá trị thế nào, hoành tráng đến đâu, có lợi cho ai, gây hại cho cái gì, đã được thời gian sàng lọc, trả lời rồi. Mọi người đều biết cả. Thiển nghĩ, dù Nguyễn Minh Châu không viết “lời ai điếu” thì những sản phẩm tụng ca, minh họa rẻ tiền một thời kiểu như … kiểu như … cũng sẽ lần lượt chết ngóm. Có những tên tuổi từng là trụ cột của nền văn học, nghệ thuật một thời như ông nhà văn Nguyễn Khải, đến cuối đời mới giật mình “Đi tìm cái tôi đã mất”, như ông nhạc sỹ Tô Hải mới cay đắng nhận ra mình là “một thằng hèn” (cho dù là trường hợp “thằng hèn” của ông Tô Hải đang và sẽ được lớp hậu sinh kính trọng), thì cũng là quá muộn. Lấy ngay ví dụ về tác phẩm “Tầm nhìn xa” minh họa, tụng ca cho phong trào hợp tác hóa nông nghiệp của Nguyễn Khải. Không biết ông nhà văn này có “tầm nhìn” xa cỡ nào, được mấy tấc, mấy thước, mà ngay hồi ấy trong dân gian đã có vè chửi cái mô hình hợp tác xã nông nghiệp “thằng còng làm, thằng ngay ăn” này rồi. Thôi thì “gặp thời thế, thế thời phải thế”, vì niêu cơm, vì mấy đấu gạo mà phải tụng ca, minh họa, còn cho là tạm thông cảm được. Nhưng đến cái sự văn “nô” hướng thượng, sum xoe, tới mức có cả một câu cửa miệng của người đời “thằng đéo lào mà lịnh thế ?”, thì không biết còn có nền văn học thời hiện đại nào của nhân loại trên hành tinh này, nảy nòi ra được những văn sỹ như thế ? Vâng ! trăm năm bia đá cũng phải mòn . Nhưng những câu thơ “lịnh” mà tôi dẫn ra dưới đây của ông Tố Hữu, thì không biết đến kiếp nào “bia miệng” thế gian mới hết nói lời xấu hổ ? Quả thật, bất cứ người Việt Nam nào có lòng tự trọng với nguồn cội con Rồng cháu Tiên của mình, đều cảm thấy bị xúc phạm, khi phải lướt mắt thôi (đọc lên là nhục lắm, xấu hổ lắm).

Lúc Stalin chưa chết và rất có thể ông ta vừa ký chưa ráo mực những sắc lệnh khủng khiếp, khiến hàng chục ngàn người vô tội bị khủng bố, bị sát hại, hoặc bị đưa đi lưu đày ở Xibêri ( trong đó có cả những văn nghệ sỹ nổi tiếng, sau này được nhận giải Nô ben). Chính Tổng thống Nga Putin cũng phải thừa nhận, rằng “Những người bị thảm sát, khủng bố là những con người ưu tú nhất, có trí tuệ nhất và là những người can đảm nhất của nước Nga và Liên Xô thời đó”. Vậy mà, không biết xuất phát từ tình cảm gì Tố Hữu, một nhà thơ của cách mạng lại có mấy câu thơ hướng thượng, nghe vong bản đến buồn nôn là : “Yêu biết mấy nghe con tập nói, tiếng đầu đời con gọi Stalin”. Còn khi Stalin chết, không biết có họ hàng hang hốc gì với ông ta không mà Tố Hữu, một người Việt Nam (chắc chắn là chưa hề được gặp Stalin) đã có thơ khóc với theo quan tài cách cả hàng ngàn cây số đường chim bay, bằng những lời đại bất hiếu với người ruột thịt trực hệ của mình, thế này: “Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một, thương ông thương mười”. Ôi! Lời thơ khóc mới thê lương, thảm thiết làm sao, nếu át được tiếng phèng la, tiếng nhạc chói tai, nhức óc của đội kèn đồng đưa đám, để Stalin nghe thấy, chắc “ngài” cũng thấy nhột, phải lập tức bật nắp quan tài ngồi dậy, mà rằng “thằng đéo nào ở đâu mà nịnh thế !”.

Khoảng thời gian 1985 – 1990, bắt đầu xuất hiện và sau đó người ta nói nhiều đến hai từ “cởi trói”. Nào là, cởi trói cho nền kinh tế; cởi trói cho nông dân, cởi trói cho … v.v. Và, văn nghệ đã mừng húm vì cũng được “ban” cho hai từ “cở trói” này. Câu hỏi đặt ra là, ai đã “trói” văn nghệ ? “Trói” bằng cái gì ? Trả lời ư ! Ai cũng trả lời được, nhưng không ai trả lời. Lại cũng không ai muốn/dám trả lời cái mà mình có thể trả lời. Bi kịch thế đấy. Nhưng cũng có người phán tỉnh queo, rằng “có ai trói các anh đâu ! Tự các anh trói mình, rồi còn “trói” lẫn nhau đấy chứ ?”. Thế là thành bi, hài kịch. Than ôi! Có lẽ, chung quy cũng tại bởi cái tư duy văn “nô” của cái sự văn “nô”.

Tôi đã mang tất cả những “tản mạn” nói trên trao đổi với một bạn viết. Sau giây phút trầm ngâm, ông bảo “Ừ ! kể cũng phải. Tiên trách kỷ hậu trách nhân, cái mình nghĩ trong đầu thì cường quyền, thời thế đéo nào “trói” được…. Chẳng qua là mình cứ tự huyễn hoặc mình, tự lừa mình, rồi lại mang cái sự lừa ấy để lừa nhân dân mình. Thế là giả dối, là khốn nạn, là lưu manh đấy !”. Nghe ông nói, tôi giật mình nhớ đến bài thơ “Bi kịch hót” của anh Bùi Minh Quốc :

Tưởng bay ngàn dặm thơ
Hóa vòng vo nhảy nhót
Giữa cái lồng rất to
Tự đan bằng tiếng hót.

Bài thơ chỉ có mấy dòng mà cứa vào ta bao nỗi xót sa, cười ra nước mắt, thương cho con chim không tự biết rằng, nó đang “hót” theo, nhảy nhót theo, nhại theo lời ca và cái vũ điệu lăng nhăng, bát nháo, vô cảm của một thằng hề./.

(*) Thơ – Nguyễn Chính

nguồn: kontumquetoi.com

Chuyện phi thường

Chuyện phi thường

Quê tôi có chuyện phi thường
Toàn dân vùng dậy, xuống đường đấu tranh
Đả đảo Cộng sản gian manh!
Gây nên thảm họa, tan tành núi sông
Phản bội nòi giống Tiên Rồng
Giang sơn, biển đảo, hiến dâng quân thù
Ham tiền, bán cả Đặc Khu
Âm mưu giao trọn Tầu phù, biên cương

Quê tôi có chuyện phi thường
Người dân chống Cộng, tràn đường khắp nơi
Biểu dương hùng khí ngất trời!
Tấm lòng yêu Nước ngời ngời trăng sao
Năm Châu, Thế Giới trông vào
Càng đàn áp mạnh; Càng cao tinh thần!
Bạo quyền Cộng đảng bất nhân
Đánh dân đổ máu, muôn phần bi thương!

Quê tôi có chuyện phi thường
Các em nhỏ, cũng xuống đường đấu tranh
Mặc dù trong tuổi học sinh
Hồn thơ ngây vẫn nặng Tình Núi Sông
Trẻ già, son sắt một lòng
Giặc vào nhà, quyết xung phong đuổi thù!
Diệt trừ Việt-cộng, Tầu-phù
Để cho Đất Tổ, thiên thu phú cường!

Quê tôi có chuyện phi thường
Toàn dân nay đã kiên cường vùng lên
Ghét Cộng, như lũ chó điên
Không còn sợ Đảng; liên miên biểu tình
Lòng “Yêu Nước”, đã hiện hình
Trong Nước ngoài Nước, liên minh toàn cầu!
Khó khăn mấy, cũng đương đầu
Không thì nô lệ thằng Tầu, mục xương!!!

Quê tôi có chuyện phi thường
Cụ già chống gậy xuống đường hiên ngang
Các con cháu cũng dàn hàng
Tay cầm biểu ngữ hô vang “Đuổi Tầu!!!”
Người Việt ở khắp năm Châu
Hết lòng yểm trợ, cùng nhau biểu tình.
Nguyện cầu Quốc Tổ anh linh
Hộ phù Nước Việt, chuyển mình “thoát Trung”!

Trần Quốc Bảo
(Đặc San Lâm Viên)

Phải để chúng em hỏi mới đúng!

Phải để chúng em hỏi mới đúng!
Facebooker Nguyễn Văn Chung
 
Trả lời câu hỏi “bất hủ” của bà Chủ tịch Quốc hội Việt cộng: “Các bạn đã làm gì cho đất nước chưa?”
Inline image

…dạ, em có đóng thuế!

Thuế đất, thuế nhà, thuế xe, thuế môn bài, thuế thu nhập cá nhân, thuế đường bộ, thuế môi trường…vân vân…
Nhưng,
Đường vẫn ngập
Cây vẫn bật gốc
Giá xăng vẫn tăng
Giá điện vẫn tăng
Tiền vẫn lạm phát
Trẻ em vẫn đói khát
Cá vẫn chết
Biển vẫn chết
Thức ăn vẫn nhiễm độc
Thức uống vẫn nhiễm chì
Formosa vẫn ở đây!
Tượng đài vẫn xây
Công trình vẫn bỏ phế
Trộm cắp vẫn như rươi
Học sinh vẫn đánh nhau
Bệnh viện vẫn thờ ơ
Tiến sĩ vẫn ngu ngơ
Nhà trường vẫn vô cảm
“Đầy tớ” vẫn ăn tham
Giấy tờ vẫn lằng nhằng
Cán bộ vẫn rung đùi nhũng nhiễu
Vì đã có thẻ xanh
Còn TQ vẫn đi loanh quanh trong nhà mình mà nói rằng nhà họ!
——–
Vậy, câu hỏi đó đáng lẽ phải để chúng em hỏi mới đúng!

“CÁC NGƯỜI ĐÃ LÀM ĐƯỢC GÌ CHO ĐẤT NƯỚC CHƯA?”

Trách nhiệm người dân là “đóng thuế”, còn “làm gì” là trách nhiệm của những người lãnh đạo mà cô!
Xin phép không viết hoa từ “cô”!

Nguyễn Văn Chung
nguồn: chantroimoimedia.com

Trung Quốc từ chối ngăn đập để cứu đội bóng Thái Lan mắc kẹt trong hang

Trung Quốc từ chối ngăn đập để cứu đội bóng Thái Lan mắc kẹt trong hang

Sáng nay, Tỉnh trưởng Chiang Rai, ông Narongsak Osottanakorn tiết lộ trên trang Thairath việc giới chức Thái Lan đã gửi yêu cầu sự trợ giúp của Trung Quốc trong công cuộc giải cứu các em nhỏ còn đang mắc kẹt trong hang. Tuy nhiên Trung Quốc đã từ chối.

Lính Trung Quốc đứng gác khi một đập nước xả lũ, các con đập nước lớn của TQ ngoài có nhiệm vụ thủy lợi và cung cấp nguồn điện, còn được xem là một vũ khí nguy hiểm đối với các quốc gia ở hạ nguồn.

Cụ thể, Thái Lan đã yêu cầu Trung Quốc ngăn đập trên sông Thanlwin chảy từ Trung Quốc để ngăn nước lũ về trong những ngày tới, nhằm ngăn tình trạng lũ quét vào hang gây bất lợi cho quá trình giải cứu.

Được biết, sông Thanlwin là dòng sông lớn được UNESCO công nhận là di sản văn hoá, chảy từ Trung Quốc qua Myanma và xuống Thái Lan. Từ tháng 7 đến tháng 12, hang Tham Luang nhận lượng nước đưa vào từ 2 nhánh sông của sông Thanlwin.

Sông Thanlwin

Từ tuần trước, DNP cùng dân làng lân cận đã đắp đập để dẫn nước từ hai nhánh Huay Nam Dan (phía Bắc hang Tham Luang) và Huay Makork (phía Nam hang) xuống các cánh đồng gần đó. Tuy nhiên theo như dự báo, các ngày tới sẽ có mưa lớn kèm theo các đập trên thượng nguồn xả lũ, đập nước tạm thời do người dân đắp nên sẽ không thể chống cự. Toàn bộ hang sẽ ngập lụt, làm cắt đứt gần như toàn bộ nguồn tiếp tế và liên lạc với các em.

Nếu Trung Quốc chấp nhận yêu của Thái Lan, lượng nước chảy xuống 2 nhánh sông vào hang Tham Luang sẽ giảm xuống mức tối thiểu. Cộng với việc hàng trăm máy bơm đang tích cực bơm nước ra ngoài, việc giải cứu các em sẽ hết sức đơn giản và an toàn.

Hang động Tham Luang và vị trí phát hiện người bị nạn.

Tuy nhiên Trung Quốc đã ngay lập tức từ chối yêu cầu của giới chức Thái Lan. Lí do được Trung Quốc đưa ra: “Trung Quốc đang thiếu nguồn điện để bán theo các hợp đồng đã kí kết với các quốc gia trong khu vực.”

Sau khi đưa được 4 em ra khỏi hang ngày hôm qua, 11h trưa nay đội thợ lặn đã tiến hàng đợt giải cứu thứ hai.

Đồ họa hành trình lặn ra khỏi hang Tham Luang. Nguồn: AMARIN TVHD

“Điều kiện giải cứu thuận lợi như hôm qua. Đội cứu hộ tham gia chiến dịch hôm qua tiếp tục nhiệm vụ với chỉ một chút thay đổi”, Narongsak Osatanakorn, người đứng đầu chiến dịch giải cứu cho biết tại cuộc họp báo chiều nay bên ngoài hang Tham Luang. “Mực nước không có gì đáng lo ngại. Trận mưa hôm qua không ảnh hưởng đến mực nước trong hang”, ông nói thêm. Các thợ lặn đã thay thế các bình oxy và bảo trì thiết bị trong hệ thống cứu hộ dọc lối thoát gần 5km trong hang.

Cách các thợ lặn dẫn các em ra khỏi hang Tham Luang. Nguồn: Guardian

Những cậu bé khỏe mạnh và sẵn sàng nhất sẽ được đưa ra trước trong đợt giải cứu thứ hai và cậu bé đầu tiên sẽ được đưa ra ngoài lúc 19h30-20h30 hôm nay.

Sông Thanlwin (tên cũ dùng trước năm 1991 là sông Salween) là một dòng sông lớn của châu Á chảy qua các nước Trung Quốc, Myanma, Thái Lan. Sông bắt nguồn từ Tây Tạng, chảy qua vùng phía Tây của Vân Nam sát biên giới với Myanma, qua phía Đông Bắc của Myanma và làm đường biên giới tự nhiên giữa Myanma và Thái Lan, chảy sâu vào trong lãnh thổ Myanma và đổ ra biển Andaman tại Mawlamyine. Ở gần cửa sông, nó tạo nên đồng bằng nhỏ Thanlwin.

Sông có chiều dài là 2.815 km và là nhà của 7.000 loài thực vật và 80 loài thú và cá quý hiếm hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Chính vì thế, vào năm 2003, UNESCO đã công nhận sông Thanlwin là một di sản thế giới (sinh thái).

Sông Thanlwin có nhiều tên gọi ở các địa phương. Ở Vân Nam, nó được gọi là 怒江 (Nù Jiāng, Nộ Giang), ở Myanma thì có tên gọi là Thanlwin (phát âm quốc tế là θànlwìn; trong hệ thống chuyển ngữ cũ thì viết là Salwine), ở Thái Lan thì có tên gọi là สาละวิน (Salawin).

Năm 2004, chính phủ Trung Quốc quyết định sẽ xây 14 con đập trên phần sông chảy qua Vân Nam. Chính phủ Thái Lan và Myanma dự định hai nước sẽ hợp tác xây một số con đập trong đó có thể có một con lớn hơn cả đập Tam Hiệp.

nguồn: http://hoinhanong.info/trung-quoc-tu-choi-ngan-dap-de-cuu-doi-bong-thai-lan-mac-ket-trong-hang.html