Vũ Thất

Bảo Bình 1

Nỗi Bất Hạnh Đời Tôi !

Đôi lời vào truyện:

Tôi tên Nguyễn Bá Quang, là một sĩ quan QLVNCH cấp bậc Đại Úy thuộc đơn vị 101 P2/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Ở tù CSVN tại trại tù Tiên Lãnh, Quảng Nam, Đà Nẵng suốt hơn 12 năm. Qua Mỹ với diện HO.5 năm 1991. Hiện cư ngụ tại Reda, Califonia.

Trong thời gian tôi ở tù chưa được thả, gia đình vợ con tôi vượt biển tìm tự do tại Cà Mau tỉnh Minh Hải. Trong chuyến vượt biển hãi hùng ngày 22-2-1985 vợ và sáu người con trai của tôi đã bỏ xác trên biển cả vì bọn hải tặc làm đắm thuyền. Ngoài ra còn có cả nhạc phụ của tôi và các em vợ cùng các cháu đã chết một cách tức tưởi trên chuyến tàu đau thương ấy. Chỉ còn sống sót người con gái yêu thương của tôi tên Thùy Nhiên và dì ruột của cháu là Phạm Thị Sa.

Năm 1975 mất nước, con gái tôi mới có tám tuổi. Khi CS Bắc Việt chiếm miền Nam chúng dọa nạt, đấy ải gia đình của các sĩ quan QLVNCH đi cải tạo tại các trại lao động khổ sai. Vợ con tôi phải đi kinh tế mới tại Cà Mau, Minh Hải, việc học hành khó khăn, cháu chỉ học tới lớp bảy rồi phải bỏ lỡ dở đi buôn cá tại vùng ven sông thuộc Cà Mau để kiếm tiền nuôi gia đình và các em trai còn nhỏ tiếp tục đi học, vì thế nên cháu chỉ có thể thuật lại Nỗi bất hạnh của đời tôi một cách trung thực.

 Là ba của cháu, tôi cũng chỉ sửa những lỗi văn phạm, chính tả. Qua sự thúc bách của tôi, cháu mới có thể thuật lại câu chuyện thương tâm, vì mỗi lần nhớ lại những cảnh đau thương tang tóc của gia đình thì cháu đâm thẫn thờ, ngơ ngẩn hết mấy ngày, và lòng tôi cũng quặn đau vô vàn. Hiện cháu đã lập gia đình và sống với chồng con tại Úc. Sau đây là câu chuyện của con gái tôi, nỗi bất hạnh của cháu, cũng là nỗi bất hạnh của tôi.

Nguyễn Bá Quang

Nỗi Bất Hạnh Đời Tôi !

Thùy Nhiên

Sau bao tháng ngày mẹ và các anh chuẩn bị ghe thuyền, từng can dầu, tom góp từng gói lương khô như gạo sấy, thuốc men v….v…một cách bí mật. Ông ngoại, gia đình bà dì ruột, gia đình của cha Liêm, từng tốp, từng tốp len lỏi trong đêm tối lần lượt đến điểm tập trung tai bãi Đá Bạc Cà Mau thuộc tỉnh Minh Hải.

   Tất cả chúng tôi yên lặng lên thuyền, gồm có 22 người đã có mặt đầy đủ. Tiếng nổ dòn của máy lướt sóng ra khơi, mọi người chúng tôi nín thở hồi hộp.

    Qua mấy giờ lầm lũi chạy trong đêm, trời đã sáng, ánh nắng chan hòa, chúng tôi đã rời khỏi hải phận Việt Nam, mọi người thở ra nhẹ nhỏm, vui mừng, bồi hồi xúc động vì đã thoát qua được chặng đường  đầy nguy hiểm và bất trắc nhất, vì nếu chẳng may mà bị VC bắt lại, thì bị tù tội, tịch thu tài sản, tất cả đều mất sạch. Niềm vui thoát được khỏi bọn công an VC đang miên man trong đầu óc mọi người, bỗng nhìn đằng xa có chiếc tàu lớn hiện ra, tim tôi đánh thình thịch, tàu của ai đây? Của CS hay của thế giới tự do? Càng lại gần thì càng hồi hộp, một thoáng chán nản và sợ sệt hiện rõ trên nét mặt mọi người khi nhìn rõ màu cờ máu Liên Xô, Thuyền của chúng tôi cố ý lái chệch hướng chiếc tàu lớn, cứ thế tiến thẳng, đã qua thêm một sự nguy hiểm, và cũng vì thế thuyền đã chệch hướng đi như ban đầu đã định trước của mình. Chạy thêm vài giờ nữa thì đằng trước hiện lên một chiếc thuyền đánh cá treo cờ VC (cờ đỏ sao vàng), bên hông tàu thấy hai chữ Kiên Giang, giây phút trọng đại, mọi người như nín thở, từ thuyền bên kia phát loa yêu cầu thuyền chúng tôi ngừng lại để cho họ kiểm soát.

    Không thể để bị bắt, rồi phải ngồi tù, tài sản bị mất sạch, nên thuyền chúng tôi quyết định mở hết tốc lực. Một loạt đạn AK nổ dòn bắn về phía chúng tôi, tài công lúc đó là anh Hai Liêm của tôi bị thương ở cánh tay, Mẹ bị thương ở bả vai, ông Ngoại bị thương nhẹ ở đầu. Thuyền bắt buộc phải ngừng lại. Tất cả bàng hoàng chờ đợi những gì xấu nhất sắp xảy ra. Thuyền Kiên Giang là thuyền đánh cá nhưng có cán bộ VC, công an mang theo súng, bọn chúng bước qua thuyền chúng tôi lục soát từng người một kể cả những em bé 3, 4 tuổi, tịch thu một số vàng và tiền bạc (đô la) mà mọi người mang theo, chúng lấy một máy lớn của thuyền chúng tôi và dọa sẽ đưa trở lại vào bờ giao cho công an địa phương xử lý. Ông ngoại tôi là người lớn tuổi nhất trong thuyền, ôm vết thương còn chảy máu trên đầu loang xuống mặt, cố gắng năn nỉ giải thích: Các anh cho chúng tôi đi, nếu đưa chúng tôi trở lại bờ Việt Nam thì các anh chẳng có lợi gì cả, chúng tôi bị tù tội, tiền, vàng của các anh vừa tịch thu thì cũng phải giao nạp cho công an thôi. Sau đó bọn họ cho chúng tôi đi, và chỉ hướng cho tàu chạy.

   Còn lại một máy nhỏ, thuyền tiếp tục chạy một cách nặng nhọc, chậm chạp lướt sóng tiến về vùng biển Thái Lan. Chạy được một giờ đồng hồ nữa thấy có một chiếc thuyền giống thuyền đánh cá xuất hiện, khi chiếc thuyền này tiến lại gần không thấy treo cờ nước nào cả, nhưng dấu hiệu trên mạn thuyền được bôi lem, chạy với tốc độ nhanh rồi quay đầu chận ngang thuyền chúng tôi. Đã trải qua nhiều hiểm nguy, lần này tôi hồi hộp và lo sợ, tất cả như nín thở, những đứa nhỏ cũng biết được những gì quan trọng sắp xảy ra nên chúng ngồi thu mình vào thành ghe im re trông thật tội nghiệp. Tất cả không một tiếng động.

    Tiếng nói ở thuyền bên kia là một tiếng lạ không ai hiểu gì, lúc đó cha Liêm là người biết tiếng Anh nói xin họ giúp đỡ. Toán người kia như không nghe biết, với cử chỉ hung hăng dữ tợn, cặp vào thuyền chúng tôi la hét lục soát từng người một. Một lần nữa vơ vét sạch những gì tàu Kiên Giang VC vơ vét còn sót lại. Thấy kết quả lục soát chúng chẳng được là bao, chúng đi tìm từng bộ mặt một, nhất là nhìn chằm chằm vào những người đàn bà con gái. Mẹ tôi còn trẻ đẹp nhưng vừa bị thương mất máu co ro, mặt mày tái mét nên chúng bỏ qua không để ý tới. Chúng đến gần tôi và chị H, bạn gái của anh Hai, chúng liền nắm áo chúng tôi kéo qua thuyền chúng nó.

    Trước cảnh dã man này mấy anh tôi không kềm hãm được nên đã có phản ứng binh vực em mình (tôi lúc đó mới được 18 tuổi, cô kia xấp xỉ tuổi tôi hoặc lớn hơn một tuổi ) nên đã la ó phản đối. Mẹ tôi cúi lậy xin chúng tha. Ông ngoại, cha Liêm năn nỉ nài nỉ chúng chẳng nghe. Chúng đẩy chúng tôi qua thuyền chúng. Phẫn uất trước hành động tàn bạo này, mấy anh tôi đánh trả lại chúng. Chúng rút súng lục ra uy hiếp và chế ngự mấy anh. Lúc đó chúng lôi chúng tôi xuống nhốt dưới hầm tàu tối đen. Từ đó không hay biết chi nữa những việc xảy ra bên ngoài.

   Sau khi bắt chúng tôi, chúng nổ máy cho tàu chạy, sau đó quay trở lại đâm vào thuyền chúng tôi làm vỡ thuyền, thuyền chìm, chuyện xảy ra tôi sẽ kể tiếp phần sau khi tôi gặp lại người dì ruột tại trại SongLa.

    Ngồi trong hầm tàu tối đen mà lòng tan nát, tôi chấn tĩnh mình bằng lời cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria, hiện ra trước mặt tôi là hình ảnh của mẹ, các anh, em tôi và ba tôi. Mẹ, các anh em tôi giờ đây trên biển cả mênh mông đã trôi dạt về đâu rồi? Đã được tàu của thế giới tự do vớt chưa? Ba tôi trong trại tù CS tại trại Tiên Lãnh, Quảng Nam Đà Nẵng, ba là sĩ quan QLVNCH ở tù 10 năm rồi tương lai sẽ ra sao đây. Tôi nhớ hết những người thân thương, đầu óc tôi rối bời như có trăm ngàn mũi kim nhọn đâm vào quả tim bé nhỏ của tôi tan nát. Chưa bao giờ tôi nghĩ đến hoặc tưởng tượng ra hoàn cảnh mà tôi phải gánh chịu như hôm nay. Nước mắt tràn đầy ra má mà chẳng hay biết gì, nước mắt đã làm dịu cơn khủng hoảng của tôi. Một niềm hy vọng loé lên trong đầu, chắc mẹ và các anh em của mình còn sống sẽ được tàu vớt, sẽ vượt qua nguy hiểm để đến bến bờ tự do và mình sẽ được gặp lại.

    Ở trên tàu của bọn cướp được vài hôm, chúng chuyển tôi qua tầu đánh cá thứ hai, còn chị H. thì ở lại trên tầu của chúng nói tiếng Thái với nhau tôi không hiểu một tí gì cả chỉ biết cảm nhận theo linh tính của mình, thấy tàu này chuyên lo đánh cá, chắc là họ vừa đánh cá vừa làm hải tặc ăn cướp chăng? Một tuần sau chúng lại chuyển tôi qua tàu khác, cứ thế lênh đênh trên biển cả qua ngày thứ 51, ngày này chúng chuyển qua một tàu khác nữa, người trên tàu có vẻ hung tợn dữ dằn hơn những chiếc tàu trước đây.

    Vào khoảng nửa đêm một tên đàn ông vào kéo tôi dậy, nhìn cặp mắt nó, thấy dễ sợ như muốn ăn tươi nuốt sống tôi. Người tôi run bần bật, miệng thầm đọc kinh xin ơn trên phù hộ cứu giúp. Chúng nó sờ mó và bắt cởi hết quần áo, chúng nói gì với nhau tôi không hiểu, chỉ biết kẹp hai chân cứng lại, hai tay ôm chặt lấy ngực, và nhìn vào vết thẹo nổi đỏ trên cánh tay tôi. Lúc nhỏ khoảng hai tuổi bị tai nạn phỏng dầu làm đường đến 50% khi chữa lành vẫn còn vết thẹo luôn ửng đỏ. Không biết ai xui khiến cho tôi cứ nhìn vào vết thẹo ấy và kêu la thảm thiết. Bọn chúng nói với nhau những điều gì, tôi cảm nhận như chúng e ngại về vết thẹo của tôi là bị bệnh phong cùi gì chăng? Sau khi bàn bạc chúng đã xô tôi xuống biển không cho một vật gì có thể trôi nổi trên mặt biển.

    Nước lạnh làm tỉnh hẳn người, tôi đã thoát qua những bàn tay con quỷ dữ, cố gắng với hai chân để người mình nổi lên trên mặt nước (ở Cà Mau tôi sống bên sông nên bơi lội cũng khá giỏi. Trên biển giữa đêm đen, có gì ghê rợn bằng. Tôi cố sức mình chống chọi với bao ý nghĩ bi thương, bản năng sinh tồn lại đến với tôi mãnh liệt, tôi kêu xin mẹ Maria bổn mạng hãy cứu giúp tôi. Một lần nữa hình ảnh của mẹ, anh, em và Ba tôi ở trại cải tạo lại hiện ra như khuyến khích tôi hãy ra sức cố gắng chống chọi với tử thần để ráng sống may đâu có người cứu vớt. Vì thế mà đã qua được năm tiếng đồng hồ dưới biển lạnh.

    Trời đã hừng đông, một tia hy vọng đến với tôi, nhưng người càng ngày càng bị lạnh cóng, sắp sửa không chịu đựng nổi nữa rồi, thì may thay, nghe có tiếng động cơ của thuyền chạy đến. Tôi cố giơ tay lên nhưng thân hoàn toàn cóng cứng, rất may trên thuyền họ nhìn thấy, dừng thuyền lại và vớt tôi lên. Nguyện xin đây là một chiếc thuyền làm ăn lương thiện để tôi còn được sống an bình. Thật quả như lòng mong ước, tôi được những người này săn sóc tận tình, cho quần áo để mặc, cho ăn uống đàng hoàng và dùng máy vô tuyến gọi police (cảnh sát ) Thái cho tàu ra đón tôi vào bờ và đưa đến trại Song La và đến trại Sikiew.

    Hằng ngày ở trại, cô đơn lạc lõng, thân gái dặm trường, hằng đêm nguyện cầu cho lòng vơi đi ít niềm đau. Mong chờ mẹ, anh em sẽ đến với mình, nhưng càng ngày càng thấy bặt tăm vô âm tín, lòng buồn rười rượi. Mỗi khi có người mới nhập trại tôi thường đến để cầu mong gặp người thân. Hôm nay bất thần tôi thấy dì Sa, em của mẹ thất thểu bước vào trại, dì cháu gặp lại nhau, nước mắt tuôn trào như mưa, và Dì đã kể lại những gì xảy ra kế tiếp khi tôi bị hải tặc bắt qua tàu của chúng.

    Sau khi bọn hải tặc bắt con và H qua tàu của chúng. Vì không chịu nổi những uất ức các anh con đã phản ứng mãnh liệt đánh lại chúng nó. Nhưng chúng có súng, nên các anh con đành thúc thủ. Chúng lồng lộn lên lục soát nát bét trên tàu, bắt mọi người cởi bỏ hết quần áo chỉ cho mặc một quần lót mỏng, lấy hết những gì còn lại trên tàu, rồi rú máy cho tàu chạy.

    Mọi người chưa kịp hoàn hồn thì thấy tàu hải tặc quay đầu trở lại, và chạy rất nhanh đâm thẳng vào hông thuyền của mình đánh rầm, thuyền vỡ làm đôi, một số người văng xuống biển. Đồ vật nặng chìm xuống nước, những vật nhẹ nổi lềnh bềnh. Trong lúc hỗn loạn, mỗi người đều bơi lội, vớ lấy can đựng dầu, đụng nước làm phao. Các anh con, Chương, Long bơi vớt những tấm ván để kết làm bè, kèm lên phần thuyền còn lại nổi trên mặt nước. Phần bè và thuyền nổi cho mẹ, dì, con của dì và Đạt, Hoài, hai em con. Ông ngoại và anh Liêm đã ra đi trong lúc thuyền bị đánh chìm vì cả hai đều bị thương.

    Trời bắt đầu sập tối, nỗi kinh hoàng xâm chiếm lòng người. Màn đêm đem đến sự sợ hãi cho mọi người trong cảnh thập tử nhất sinh, lạnh đói và khát, nhưng vẫn cố gắng bu lấy bên nhau, cùng nhau sống chết. Thấy các em con vì đói khát và lạnh, quá tội nghiệp nên Chương liều bơi, lặn xuống lòng thuyền may ra tìm được nước uống hoặc thức ăn. Nhưng đã lâu không thấy Chương trở lại, mẹ và Dì kêu gào thật lâu chẳng có tiếng trả lời. Hễ người nào chịu không nổi buông tay ra là đi vĩnh viễn. Thấy những người thân lần lượt ra đi, lòng mẹ và dì tan nát nhưng biết làm sao đây hỡi trời, chỉ biết đọc kinh cầu nguyện Chúa, Mẹ cứu giúp, hộ phù. Phía bên kia có Linh mục Hồ Quang Liêm và người em Hồ Quang Lập cùng mấy người bà con của cha trong đêm đó cũng ra đi.

    Ngày thứ hai kể từ ngày đắm thuyền chỉ còn có dì, mẹ và mấy đứa nhỏ vì được ngồi trên bè, nên chống được sự lạnh cóng. Mẹ con bị thương máu ra nhiều, không ăn, không uống nên người mệt lả đi, hơi thở yếu dần, dì gọi mẹ không trả lời nổi, mẹ tức tưởi ra đi. Đạt, Hoài hai em của con ôm mẹ khóc thảm thiết, dì đứt cả ruột gan. Các cháu cứ muốn giữ mẹ lại bên cạnh không xa rời, dì khuyên nhiều lần các cháu mới chịu để mẹ con xuống lòng đại dương. Còn lại con Châu, con Xuân của dì mềm người vì đói khát lặng lẽ ra đi. Dì như người mất hồn, không còn biết gì nữa, đặt con mình xuống nước cho dòng nước trôi xuôi, đau đớn vô cùng.

    Ngày thứ ba chỉ còn lại Dì, Em Đạt của con, mệt quá gục trên tấm ván, bỗng nó ngồi nhổm dậy nói: Để con lấy nước cho dì, con thấy có dòng suối trong xanh, nước ngọt lắm dì ơi nó định bước xuống nước để đi. Dì cầm tay nó kéo lại: Con ơi không có đâu, đó chỉ là ảo ảnh mà thôi, con ngồi xuống đây đọc kinh với với dì xin ngài ban phước. Sau khi kinh nguyện, yên tĩnh được một lúc, nó lại kêu lên khát nước quá dì ơi con chịu hết nổi rồi. Dì nói trong vô thức hay con uống đại một hớp nước biển xem có chống chọi được không? Sau khi uống một miếng nước vào bụng, tức thì cháu ôm bụng rên la khủng khiếp, nước bọt trào ra nơi miệng, nước bọt giống như bọt xà phòng trào ra, trào ra, cháu lịm người dần và nằm bất động, người cuối cùng ở bên cạnh dì cũng ra đi.

    Còn lại một mình đang nằm chờ chết dưới ánh nắng như thiêu như đốt bỗng thấy có đám mây đen kéo đến trời đột nhiên dịu xuống, một vài giọt mưa rơi trên mặt dì, dì liếm từng giọt nước, nhưng người dì đã kiệt sức không còn hay biết gì nữa cả. Khi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trên thuyền đánh cá của người Thái Lan. Theo tàu họ trên biển, 15 ngày sau thì được đưa vào trại Batani, qua trại SongLa và dì gặp con tại đây.

    Ôi ! Những biến cố đó trong đời  làm tôi điên dại, sống dưới ánh nắng mặt trời mà như trong hang âm u. Tôi đã mất mẹ, mất anh, mất em, mất ông ngoại, cậu, cháu và những người thân yêu, 18 người đã chết tức tưởi, bỏ mình trên biển cả … Đó là tất cả NỖI BẤT HẠNH CỦA ĐỜI TÔI.

    Mẹ ơi! Sao mẹ nỡ xa lìa con, xa lìa ba, ba đã chịu bao nhiêu điều cay đắng tủi nhục trong ngục tù Cộng Sản. Các anh ơi! Các em ơi! Tất cả đã xa lìa tôi, vĩnh viễn ly biệt tôi một cách tức tưởi: Khổ đau tột đỉnh, hận thành non cao, Biển xa sóng lớn dạt dào, nhớ anh, em, mẹ có ngày nào nguôi.

Thùy Nhiên, viết từ Úc Châu

    * Viết để kính dâng linh hồn mẹ Phạm Thị Khanh, Ông ngoại Phạm Văn Đình, Cậu Phạm Văn Tiếng, các Anh: Nguyễn Bá Liêm, Nguyễn Bá Chương, Nguyễn Bá Long, các em, Nguyễn Bá Phú, Nguyễn Bá Đạt, Nguyễn Bá Hoài, Chú nguyễn Văn Dậu, các em con dì Nguyễn thị Minh Châu, Nguyễn thị Minh Xuân, Nguyễn Minh Toàn và Linh mục Hồ Quang Liêm, chú Hồ Quang Lập và các anh bà con với cha Liêm mà tôi không nhớ tên.

   * Viết cho Ba là Nguyễn Bá Quang. Ba và con cùng chịu NỖI BẤT HẠNH trên cuộc đời này.

nguồn: maybienvh.wordpress.com

Đôi bờ Hiền Lương

So Sánh Hà Nội-Sài Gòn năm 1975

Hà Nội ( 1974 ) & Sài Gòn ( 1969 )

Đôi Bờ Hiền Lương – Ranh giới chia cắt …

Thật Sai Lầm Khi Giải Phóng Miền Nam: L…

Sài Gòn trước 75

Sài Gòn trước 75

Cái chết trong tù CS của cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát

Nguyễn Tú

Bác Sĩ Phan Huy Quát sinh năm 1908 tại Nghệ Tĩnh, tham chính nhiều lần, từng làm Tổng Trưởng Giáo Dục, Tổng Trưởng Quốc Phòng, lần cuối cùng giữ chức vụ Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa, vào năm 1965. Ông cũng là Chủ tịch Liên Minh Á Châu Chống Cộng, phân bộ Việt Nam, và là chủ nhiệm tuần báo Diễn Ðàn, Sài gòn, 1972. Ngày 16 Tháng Tám 1975 Bác Sĩ Quát bị Cộng Sản bắt do nội phản trên đường vượt biên; và chưa đầy bốn năm sau ông từ trần trong nhà tù Chí Hòa. Bài dưới đây do ký giả kỳ cựu Nguyễn Tú, bạn ông, và cũng là bạn tù (người đã sống bên cạnh Bác Sĩ Quát trong những ngày tháng và giờ phút cuối cùng tại khám Chí Hòa), kể lại “như một nén hương chiêu niệm chung.”

Trong thời gian bị cầm tù, Bác Sĩ Quát bị bệnh gan rất nặng song Việt Cộng không cho chữa chạy, thuốc men do gia đình tiếp tế không được nhận. Người con trai út bị giam ở phòng bên, có thuốc cho bố, cũng không làm sao mang sang. Khi biết ông không thể nào qua khỏi, chúng mới đem ông lên bệnh xá. Ông chết ở đó vào ngày hôm sau, 27 Tháng Tư 1979.

Tang gia đã được phép để mang thi hài ra quàn tại chùa Xá Lợi và phát tang ở đấy vào ngày hôm sau, song phút chót, Hà Nội ra lệnh phải an táng ngay, vì ngày đó, 28 Tháng Tư 1979, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc tới Sài Gòn; Việt Cộng sợ dư luận quốc tế – nếu biết đến cái chết bị bỏ mặc của một cựu Thủ Tướng Miền Nam – có thể ngó tới tình trạng giam cầm của hàng trăm ngàn người khác. Cũng bởi thế, rất ít người nghe biết đến sự đày đọa tù nhân Phan Huy Quát cũng như cái chết trong tù của ông – bên cạnh các trường hợp tương tự của các trí thức văn nghệ sĩ khác – của nhà cầm quyền Hà Nội.

Chí Hòa, Sài Gòn – Một ngày cuối Tháng Tư 1979

Hôm nay đến lượt bốn phòng 5-6-7-8-, gác 1, khu ED được đi tắm, giặt. Mọi người đều rộn rạo, hối hả chuẩn bị, cười hô hố. Cứ ba ngày rưỡi mới được sối nước trên thân thể hôi hám, ngứa ngáy và vò vội quần áo đã tích trữ kha khá mồ hôi, đất ghét, thì trước cái hạnh phúc nhỏ nhoi chỉ được phép hưởng hai lần mỗi tuần, ai mà không “vui vẻ, hồ hởi, phấn khởi” dù, trên lý thuyết, thời gian tắm được quy định 30 phút cứ bị cán bộ ăn bớt, chỉ còn vỏn vẹn 15 phút.

Cả bốn phòng đã lần lượt ra hành lang ngồi xổm sắp hàng đợi cán bộ gác đến điểm số. Lần đó, viện cớ bị cảm, tôi xin phép ở lại trong buồng. Tôi có mục đích riêng.
Kiểm tra xong số người ở lại mỗi buồng, cán bộ ra hiệu cho mọi người đứng dậy, tiến về phía cầu thang. Tiếng guốc, tiếng dép khua trên cầu thang, tiếng nói lao xao của đoàn người xa dần rồi lắng hẳn. Từ dưới sân đã bắt đầu vọng lên tiếng sối nước ào ào, tiếng nói oang oang, tiếng cười khanh khách thỉnh thoảng xen tiếng chửi thề thân mật, tiếng sặc nước, tiếng rú khoái trá của các bạn tù được làn nước mát như nước lũ chẩy dồn dập trên da. Hạnh phúc thật!

Buồng 5 chúng tôi ở đầu dãy, sát với đầu cầu thang, nơi đây đặt một cái bàn và một cái ghế cho cán bộ gác. Chỗ tôi nằm sát hàng song sắt. Tôi đứng dậy, nhìn về phía đầu cầu thang chỉ cách chừng ba thước rồi quay người, đảo mắt suốt dọc hành lang. Không có bóng cán bộ. Căn phòng vơi đi 58 người như rộng ra. Hơi nồng của 60 mạng tù tích tụ từ suốt ngày và đêm trước tự giải phóng dần dần đem lại một cảm giác thoáng khí hơn.

Căn phòng chỉ còn lại hai người không đi tắm là tôi và một người nữa đang nằm ở hàng giữa, sát tường, trên diện tích vỏn vẹn có 60 phân tức 2/3 của một chiếc chiếu hẹp. Ðó là khoảng không gian đã được chia rất đều cho 60 tù nhân mà Việt Cộng đã cải cho cái danh từ mỹ miều là “trại viên” Người đồng phòng này nằm, hai chân duỗi thẳng, hai cánh tay gập lại trên bụng, hai bàn chân chắp vào nhau, mắt nhắm, vẻ mặt bình thản. Ông bị bệnh đã hơn một tuần, không thuốc men. Nước da mặt đã chuyển sang màu tai tái càng nổi bật với màu trắng của chòm râu và mái tóc. Bệnh nhân nằm im, không cựa quậy, thân hình như đã quen đóng khung trong không gian 60 phân của chiếc chiếu. Ông là Bác Sĩ Phan Huy Quát đã từng là Tổng trưởng nhiều lần, chức vụ cuối cùng và cao nhất trong hoạt động chính quyền của ông là chức Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa vào Mùa Xuân 1965. Năm 1979 ông đã trên 70 tuổi.

Tôi đảo mắt một lần nữa suốt dọc hành lang, dõng tai nghe ngóng. Vẫn không một bóng người, không một tiếng động khả nghi nào trên tầng gác vắng lặng. Tôi bước vội tới chiếu của Bác Sĩ Quát rồi ngồi sát bên. Bệnh nhân vẫn nằm im, mắt nhắm, không một phản ứng nào chứng tỏ ông cảm giác thấy có người bên cạnh. Hơi thở yếu. Bộ đồ ngủ của ông bận có cũ nhiều nhưng không bị xô lệch. Ðôi ống quần được kéo thẳng tới cổ chân. Ðôi tà áo được khép gọn, ôm kín thân trên. Cánh tay áo trùm tới tận cổ tay. Chẳng phải vì cuộc sống tạm bợ trong tù rất nhiều hạn chế khắc nghiệt cộng thêm lâm bệnh nặng đã hơn một tuần – một trường hợp bất cứ ai cũng có thể buông thả, mặc cho thân phận nổi trôi và có thể kém đi nhiều, ít cảnh giác về cách phục sức và tư thế – mà Bác Sĩ Quát thiếu chững chạc. Và từ cái chững chạc này như toát lên một cái gì có vẻ nghịch lý đến độ vừa đau đớn vừa dũng mãnh giữa thân phận con người và hoàn cảnh.

Tôi khẽ lên tiếng: “Anh Quát! Anh Quát!”

Không một phản ứng của bệnh nhân. Tôi lắc nhẹ cánh tay bệnh nhân, hơi cao giọng: “Anh Quát! Anh Quát!” Vẫn không một phản ứng, tôi đưa ngón tay trỏ qua mũi bệnh nhân. Hơi thở quá yếu. Dưới sân, tiếng sối nước bắt đầu thưa dần. Thời gian tắm giặt sắp hết. Tôi không muốn mục đích khai bệnh giả của tôi bị lộ là cố ý ở lại buồng để đích thân nói ít điều cho là cần thiết với Bác Sĩ Quát và cả với tôi nữa.

Buồng 5 chúng tôi vẫn được Việt Cộng coi là một buồng “phản động” nhất trong số bốn buồng của lầu 1, khu ED vì chứa một cựu Thủ tướng, 3 cựu Tổng trưởng, nhiều sĩ quan cấp tá, một số ít dân sự “đầu chai đá, khó cải tạo, phần tử rất xấu, mất dậy.” Một buồng “ngụy nặng” nên được Việt Cộng tận tình “chiếu cố” trong sinh hoạt hàng ngày. Ngoài ra, còn phải kể tới một vài tên “ăng ten” tức chỉ điểm được cài trong buồng. Tóm lại, chúng tôi đều bị theo dõi rất sát, rất chặt. Tôi phải làm gấp. Tôi lắc mạnh hơn cánh tay bệnh nhân, cao giọng thêm: “Anh Quát! Anh Quát!”

Bệnh nhân vẫn lặng im. Phải làm thật gấp. Tôi xoay nghiêng mình, tỳ tay xuống chiếu, ghé miệng sát tai Bác Sĩ Quát, cố nói thật rành rẽ: “Anh Quát! Anh Quát! Nhận ra tôi không?” Lần này đôi mi bệnh nhân hơi động đậy rồi dướng lên, hé mở. Tôi thoáng thấy lòng trắng mắt vàng khè. Chẳng cần phải học ngành y mới biết bệnh gan của Bác Sĩ Quát coi mới nặng. Bệnh nhân vắn tắt thều thào: “Anh Tú!” Tôi hơi yên tâm. Miệng lại sát tai Bác Sĩ Quát, tôi nói: “Anh mệt lắm phải không?” Ðầu bệnh nhân hơi gật gật. Không hiểu lúc đó linh cảm nào xui khiến, tôi cố rót vào tai Bác Sĩ Quát, giọng hơi nghẹn: “Anh có nhắn gì về gia đình không?” Bệnh nhân cố gắng lắc đầu, mắt vẫn nhắm. Dưới sân không còn tiếng sối nước nữa. Có tiếng các buồng trưởng dục anh em tập hợp để điểm số lại trước khi lên buồng. Chỉ còn độ hơn một phút. May lắm thì hai phút. Tôi dồn dập bên tai Bác Sĩ Quát: “Ai đặt bày, lừa bắt anh? Ai phản anh? Thằng Liên phải không? Nói đi! Nói đi!” Ðôi môi bệnh nhân như mấp máy.

Tôi vội nhổm lên, ghé sát tai tôi vào miệng bệnh nhân. Một hơi thở khò khè, theo sau là vài tiếng khô khốc, nặng nhọc như cố trút ra từ một chiếc bong bóng đã dẹp hơi đến chín phần mười: “Thôi! Anh Tú ạ.” Tiếng guốc, dép, tiếng cười, nói ồn ào đã bắt đầu từ chân cầu thang. Tôi chưa chịu buông: “Nói đi! Anh Quát! Nói đi!” Một hơi thở một chút gấp hơn, như làn hơi hắt vội ra lần chót! “Thôi! Thôi! Bỏ đi!” Tiếng guốc, dép, tiếng cười, nói ồn ào đã tới quá nửa cầu thang. Tôi vội nhổm dậy, bước nhanh về chiếu mình, nằm thẳng cẳng, vắt tay lên trán.

Ngoài hành lang, các bạn tù hối hả, xôn xao phơi quần áo mới giặt. Vài tiếng kỳ kèo nhau về chỗ dây phơi. Rồi như một đội quân đã chọc được phòng tuyến địch, họ ùa vào phòng, đứng lố nhố nghẹt lối đi quá nhỏ giữa ba hàng chiếu. Căn phòng như bị co hẹp lại. Tiếng cười đùa thưa dần khi tất cả đã về được chiếu mình. Khói thuốc lá bắt đầu tỏa. Ðây đó tiếng rít của vài bình thuốc lào nổi lên sòng sọc. Bây giờ thì mọi người, sau trận tắm thỏa thuê, đã ngả lưng trên chiếu. Cả phòng lặng tiếng.
Tôi ngồi dậy, hỏi vọng qua hàng chiếu giữa, phía sát tường: “Anh Châm! Anh coi lại xem anh Quát bệnh tình hôm nay ra sao?”

Bác Sĩ Hồ Văn Châm, cựu Tổng trưởng Thông tin, Chiêu hồi và Cựu chiến sĩ, có phần chiếu liền bên Bác Sĩ Quát. Ông Châm quay về phía Bác Sĩ Quát, tư thế nằm vẫn y như trước. Cảnh lộn xộn, ồn ào, ầm ĩ vừa qua của căn phòng không làm Bác Sĩ Quát động đậy chút nào. Cái gì đã như làm tê liệt bộ phận giây thần kinh điều khiển nguồn năng ý chí con người đến nỗi Bác Sĩ Quát không phản ứng gì, hay không còn muốn phản ứng gì dù chỉ là một phác họa – trước cảnh huống bên ngoài? Một hình ảnh buồn thảm lóe lên trong tưởng tượng; nếu không phải là mùa oi bức thì một tấm nền mỏng đắp lên người dong dỏng và gầy guộc của Bác Sĩ Quát thừa đủ để đóng vai trò một tấm khăn liệm.

Bác Sĩ Châm hướng về phía tôi, lắc đầu. Tôi lên tiếng với buồng trưởng: “Anh Phương! Báo cáo cán bộ xin đưa Bác Sĩ Quát đi bệnh xá chứ!” Phương là hạ sĩ quan binh chủng nhẩy dù, tuổi khoảng 30. Tuy còn trẻ, tóc Phương đã trắng xóa, có lẽ vì “xấu máu.” Anh em bèn dán cho cái nhãn hiệu “Phương đầu bạc.” Phương lặng thinh, coi bộ ngần ngại. Nói cho ngay suốt hơn một tuần lễ Bác Sĩ Quát lâm bệnh Phương đã mấy lần báo cáo xin đưa Bác Sĩ Quát đi bệnh xá, nhưng đều bị từ chối. Tôi quay về phía Bác Sĩ Châm: “Anh Châm! Nói cho Phương biết bệnh trạng của Bác Sĩ Quát đi!” Ông Châm bèn bảo: “Anh Phương! Báo cáo cán bộ ngay đi!” Phương không đáp, lộ rõ vẻ ngần ngại. Trong phòng bỗng nhao nhao nhiều giọng thúc giục, gay gắt: “Báo cáo đi! Chờ gì nữa? Bệnh như vậy mà không đi báo cáo, còn chờ gì nữa? Chờ người ta chết à?” Căn phòng đang im ắng, sống động hẳn lên.

Nhiều bạn đang nằm, nhóm người nhìn về phía Phương. Ðang cởi trần, Phương uể oải đứng dậy, bận áo, ra khỏi phòng, đi về phía đầu cầu thang. Một lát khá lâu, cán bộ gác tới, có Phương theo sau. Anh chàng cán bộ, mặt hơi khinh khỉnh, từ bên ngoài song sắt cộc lốc hỏi vọng: “Ðâu?” Bác Sĩ Châm nhích người qua một bên, chỉ vào Bác Sĩ Quát: “Ðây, cán bộ!” Nhìn một lát, cán bộ quay lưng, Phương lẳng lặng về chiếu mình. Những anh em khác lại đặt mình nằm. Căn phòng chìm trong im lặng hoàn toàn như thể hồi hộp chờ đợi một phán quyết sinh tử của trại.

Chừng 20 hay 30 phút sau, có tiếng lao xao ở đầu cầu thang. Hai bạn tù được làm ở bệnh xá, đem một băng ca tới cùng với cán bộ gác và một cán bộ khác, chắc là ở bệnh xá. Căn phòng lại náo động. Mọi người đều ngồi dậy hoặc đứng lên phần chiếu của mình.

Phương “đầu bạc” dẫn hai anh mang băng ca đến chỗ Bác Sĩ Quát. Bệnh nhân như mê man, tự mình không ngồi dậy được. Bốn anh em khỏe mạnh trong phòng xúm nhau nâng bệnh nhân đặt trên băng ca. Trong lúc đó Bác Sĩ Châm vội nhét vào một túi nhỏ vài đồ cần thiết cho Bác Sĩ Quát: Kem và bàn chải đánh răng, vài đồ lót, thêm một bộ đồ ngủ, đũa, muỗng, chén… Băng ca được khiêng đi. Bệnh nhân vẫn nằm, mắt nhắm, không một phản ứng. Dưới sân, một tiếng kêu lớn! “Lấy cơm!” Căn phòng trở lại cuộc sống đơn điệu hàng ngày của một trại tù. Lúc đó khoảng 10 giờ rưỡi.

Trưa hôm sau, khi lấy cơm trở về, anh em thì thầm rỉ tai nhau: “Bác Sĩ Quát chết rồi!” Cả phòng nhao nhao: “Hồi nào? Hồi nào? Chết mau quá vậy?” Một anh đáp: “Nghe nói, hồi trưa hôm qua thì phải.”

Chỉ một lát cáo phó miệng của các bạn tù đi lấy cơm đã lan truyền khắp khu ED. Bữa cơm trưa hôm đó ít ồn ào hơn thường lệ. Có ai trong phòng thốt một câu: “Bệnh như vậy, suốt hơn một tuần xin đi bệnh xá, không cho. Ðợi gần chết mới cho thì còn gì!” Một điếu văn ngắn, gọn, hàm súc cho một bạn tù đã nằm xuống. Một lời ngắn, gọn, hàm xúc lên án chế độ bất nhân, ác nghiệt của Cộng Sản. Căn phòng gần như lặng đi. Không bao lâu sau bữa cơm, cán bộ gác tới, bảo buồng trưởng thu dọn đồ của Bác Sĩ Quát. Trước khi quay lưng, hắn còn nói với: “Nhớ làm bản kê khai, nghe không!” Ðối với tù nhân, đó là lời công nhận chính thức cái chết của bất cứ “trại viên” nào.

Lần này, là cái chết của một vị cựu thủ tướng.
Manh chiếu của Bác Sĩ Quát đã được gỡ đi theo giỏ đồ còn lại của ông xuống văn phòng khu. Chỗ nằm cũ của ông trơ ra phần sân xi măng đã xỉn đen thời gian, mồ hôi, đau khổ và uất ức dồn nén của hàng hàng lớp lớp thế hệ tù chính trị mà ông đã là một trong biết bao người kế tiếp bất tận. Trí tưởng tượng của ta có mặc sức tung hoành sáng tác biết bao nhiêu chuyện về trại tù và thân phận tù nhân dưới chế độ Cộng Sản, thì mảnh không gian xi măng đen kia thầm lặng mà hùng hồn nói lên còn hơn thế nữa. Những ngày kế tiếp, cái chết tức tưởi mang nhiều vẻ không rõ ràng của Bác Sĩ Quát còn là đề tài bàn tán của nhiều người trong phòng được tóm gọn trong hai chữ “nghi vấn.” Nhiều người cho rằng nếu được đi bệnh viện sớm hơn, hoặc nếu không, mà được phép biên thư về nhà để thân nhân kịp thời gửi thuốc thì có thể Bác Sĩ Quát đâu ra đến nông nỗi đó.

Năm 1979 vẫn còn nằm trong thời kỳ mà Việt Cộng gọi là “rất căng.” Cuộc cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, nếu xuôi xẻ về mặt quân sự, thì về mặt dân tình và chính trị lại chẳng xuôi xẻ chút nào. Nhiều nơi đã nổi lên những phong trào chống đối vũ trang làm cho Việt Cộng vô cùng lo lắng trong việc ước lượng tầm cỡ của mỗi phong trào để liệu cơ đối phó. Ngay tại Sài gòn, năm 1976, vụ Vinh Sơn xẩy ra chưa đầy một năm sau “đại thắng Mùa Xuân” của Việt Cộng đã làm chúng thất điên bát đảo và mặc dù những người chủ trương và lãnh đạo vụ Vinh Sơn cùng với một số chiến hữu đã bị Việt Cộng thẳng tay đàn áp và thanh toán, dư âm và ảnh hưởng của vụ ấy vẫn còn kéo dài mãi tới 1979 và sau nữa. Lại thêm cuộc chiến với Trung Cộng Mùa Xuân 1979 ở miền Bắc và cuộc chiến với Căm Bốt ở miền Nam khởi sự từ 1978. Do đó Việt Cộng càng siết chặt kỷ luật đối với tù chính trị. Tuy không có bằng chứng rõ ràng, nhiều người trong phòng có cảm giác “ăng ten,” tức chỉ điểm viên, đã được tăng cường.

Cuộc sống tiếp tục trong bầu không khí càng ngày càng ngột ngạt. Việt Cộng “dư” lý lẽ để đối xử với tù nhân tàn nhẫn hơn, bất nhân hơn. Bác Sĩ Quát đã lâm bệnh trong hoàn cảnh khắc nghiệt đó. Con trai út của ông là Phan Huy Anh bị bắt cùng với ông ngày 16 Tháng Tám 1975 không được ở chung cùng buồng, mà bị giam ở buồng 6 sát bên. Hai cha con chỉ trông thấy nhau những lần đi tắm, tức hai lần một tuần. Khi tắm cũng không được liên hệ với nhau. Huy Anh dù có muốn giúp bố giặt quần áo hay một vài việc vặt vãnh cũng không bao giờ được phép. Còn nói chuyện với nhau thì tuyệt đối cấm. Nếu bị bắt quả tang hay có người tố cáo, hai cha con sẽ bị cúp viết thư về nhà với hậu quả kèm theo là bị cúp thăm nuôi. Ấy là chưa kể có thể bị kỷ luật đưa đi biệt giam. Việc thăm nuôi của gia đình cũng tách rời, riêng biệt: không bao giờ hai cha con được thăm nuôi, gặp gỡ thân nhân cùng một lúc, cùng một ngày. Hai cha con sống sát buồng nhau mà còn hơn hai kẻ lạ. Hai kẻ lạ còn có thể xin phép trao đổi với nhau chút quà, nói với nhau dăm ba câu. Bác Sĩ Quát và Huy Anh luôn luôn bị từ chối và bị theo dõi kỹ. Khi được tin bố lâm bệnh, Huy Anh nhiều lần xin phép qua thăm và đem thuốc cũng không được. Chỉ tới phiên đi lãnh cơm, Huy Anh mới được bước ra khỏi buồng. Những lúc đó tôi thoáng bắt gặp ánh mắt buồn bã của Huy Anh kín đáo nhìn qua song sắt tới chỗ bố đang nằm lịm. Tôi còn nhớ hai ngày trước khi Bác Sĩ Quát được đưa đi bệnh xá, cán bộ gác mới cho phép Huy Anh đem thuốc cho bố, sau không biết bao nhiêu lần năn nỉ. Huy Anh chỉ được phép đứng ngoài cửa nhìn vọng vào. Thuốc thì do buồng trưởng nhận đưa cho Bác Sĩ Quát. Thuốc đến quá muộn, dù chỉ là thứ thuốc thông thường trị bệnh gan. Lần “nhìn thăm” thầm lặng được phép công khai đó dài không quá hai phút. Và đó cũng là lần chót Huy Anh được chính thức nhìn bố qua chiều dài gần 8 thước của căn buồng dưới đôi mắt cú vọ của cán bộ gác ngồi phía đầu cầu thang giám sát.

Hôm Bác Sĩ Quát được khênh đi bệnh xá, Huy Anh cũng không được phép ra khỏi buồng dù chỉ để nói ít câu thăm hỏi và nhìn bố nằm thoi thóp trên chiếc băng ca. Một ngày sau khi Bác Sĩ Quát chết, Huy Anh được trại cho phép về thọ tang bố. Nhiều người trong chúng tôi hi vọng sẽ có tin thêm về tang lễ và nhất là về cái chết quá đột ngột của Bác Sĩ Quát khi Huy Anh trở lại trại. Thói quen giấu diếm, bưng bít đã trở thành một thứ siêu vi trùng trong máu của Việt Cộng, thế nên khi Huy Anh trở về, chúng tôi chẳng biết tin gì thêm ngoài việc tang lễ đã xong xuôi. Sau này có tin là Huy Anh sẽ được thả nếu “thật tâm cải tạo tốt.” Có nghĩa là không được tiết lộ bất cứ điều gì liên quan đến cái chết, đến tang lễ của bố, đến bất cứ những gì Huy Anh đã nhìn được, nghe được ở xã hội Sài Gòn bên ngoài trong thời gian được về nhà. Phải thừa nhận Việt Cộng rất “siêu” về thủ đoạn dọa nạt, nhất là đối với những ai đang bị gọng kìm của chúng siết chặt. Dù Bác Sĩ Quát đã chết, không còn là một mối lo chính trị đối với Việt Cộng, do vậy không còn cần thiết giữ Huy Anh làm con tin để đe dọa, đầy đọa tinh thần ông bố nữa, cũng phải đợi đến cuối năm 1979, Huy Anh mới được thả.

Trong thập niên 1940, Bác Sĩ Phan Huy Quát đã được nhiều người ở Hà Nội biết tiếng là một lương y. Bệnh nhân của ông, cả Việt lẫn Pháp, rất tín nhiệm ông vì tư cách đứng đắn và lương tâm nghề nghiệp rất cao của ông. Ngay cả một số người Pháp đã chọn ông làm bác sĩ gia đình của họ, một trường hợp rất hiếm trong y giới người Việt thời ấy. Một đề tài nghiên cứu y học của ông có liên quan đến bệnh đau mắt của Hoàng Ðế Bảo Ðại thời đó đã được tặng giải thưởng đặc biệt của Hoàng Ðế. Cuộc đời chính trị của ông chỉ thực sự bắt đầu sau khi cựu Hoàng Bảo Ðại đã ký hiệp ước Vịnh Hạ Long với Cao ủy Bollaert của Pháp ngày 8 Tháng Ba 1949. Trong chính phủ đầu tiên của quốc gia Việt Nam do cựu Hoàng Bảo Ðại lãnh đạo, Bác Sĩ Quát tham chính với tư cách Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Sau đó ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng. Từ giữa năm 1953 trở đi, tình hình cuộc chiến với Việt Minh ở miền Bắc Việt Nam ngày càng tồi tệ. Thất trận của Pháp ngày 07 Tháng Năm 1954 ở Ðiện Biên Phủ mở màn cho Hội Nghị Genève về Ðông Dương với hậu quả là Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17 do Hiệp Ðịnh Genève được ký kết giữa Pháp và Việt Minh ngày 20 Tháng Bảy 1954.
Ở Pháp, Quốc Trưởng Bảo Ðại phong ông Ngô Ðình Diệm làm thủ tướng. Ngày 7 Tháng Bảy 54, ông Diệm về nước. Ðược ủy toàn quyền lãnh đạo Việt Nam, ông Diệm thành lập nội các mới và kiêm nhiệm luôn Bộ Quốc Phòng.

Bác Sĩ Quát trở lại nghề cũ, mở một phòng mạch ở Dakao gần đầu cầu Phan Thanh Giản. Suốt chín năm ông Diệm cầm quyền, Bác Sĩ Quát không tham chính: ông khó có thể thuận với Tổng Thống Diệm về lề lối làm việc quá quan liêu, hống hách và độc đoán của gia đình họ Ngô. Thêm nữa ông là một thành viên trong nhóm Caravelle đã công khai đưa ra bản tuyên bố chỉ trích chế độ và đòi chính quyền Diệm thực hiện tự do, dân chủ. Cuộc đảo chính ngày 01 Tháng Mười Một 1963 do một số tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa lãnh đạo chấm dứt chế độ Ngô Ðình Diệm theo liền cái chết bi thảm của vị tổng thống và hai em ông là Ngô Ðình Nhu và Ngô Ðình Cẩn. Ðại Tướng Dương Văn Minh và Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ cầm quyền mới được ba tháng thì bị Tướng Nguyễn Khánh, tư lệnh vùng II chiến thuật, chỉnh lý ngày 30 Tháng Giêng 64. Bác Sĩ Quát được mời làm Tổng Trưởng Ngoại Giao. Ông ở chức vụ này tới khoảng Tháng Chín, 1964 rồi lại trở về phòng mạch.

Cuộc đời chính trị của ông đạt tuyệt đỉnh danh vọng khi, vào giữa Tháng Hai năm 1965, ông được Tướng Nguyễn Khánh triệu mời thành lập nội các mới. Giữ chức thủ tướng được khoảng ba tháng thì ông trao quyền lại cho Hội Ðồng Quân Lực vì những mâu thuẫn khó bề giải quyết giữa ông và Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu. Ông lui về, trực tiếp điều khiển phòng thí nghiệm y khoa của ông ở đường Hai Bà Trưng. Hoạt động chính trị của ông thu hẹp lại trong khuôn khổ của Liên Minh Á Châu Chống Cộng mà ông là chủ tịch phân hội Việt Nam cho tới ngày Sài Gòn thất thủ 30 Tháng Tư 1975.

Nhưng ngày kết liễu nền Ðệ Nhị Cộng Hòa chưa phải là ngày chấm dứt hoạt động của Bác Sĩ Phan Huy Quát. Nó đưa hoạt động ấy sang một hướng khác, hoàn toàn xa lạ với con người vốn dĩ trong bao năm đã quen và chỉ quen hoạt động chính trị theo lối “chính quy,” trong “đường lối chính quy.” Và con người thận trọng trong ông đã lao vào một trận địa mà trước kia ông chưa từng một lần lưu tâm và nghiên cứu địa hình phức tạp, hết sức bất thường do vậy cũng hết sức bất ngờ: địa hình của trận địa hoạt động bí mật, mà vì tính chất của riêng nó, đòi hỏi một cách suy nghĩ khác, một thứ thông minh khác, một loại bén nhạy khác, thậm chí đến cái can đảm trong hoạt động bí mật cũng phải là cái can đảm khác. Vị cựu thủ tướng, tự thân, chưa được chuẩn bị kỹ càng cho hình thái hoạt động bí mật nó có những điều luật, những nguyên tắc đặc thù của riêng nó. Ðiều này cũng dễ hiểu: ông chưa từng thấy có nhu cầu đó. Hoạt động chính trị của ông từ trước không cần đòi hỏi ông có những nhu cầu đó. Vậy mà trước hoàn cảnh đất nước rối bời đang diễn tiến trước mắt, ông đã chọn dấn thân vào con đường mới mẻ này. Một quyết định dũng cảm của một con người ngày ấy đã gần 70 tuổi, và chắc chắn không phải là một quyết định dễ dàng.

Sau ngày Sai gon thất thủ 30 Tháng Tư 1975, Bác Sĩ Phan Huy Quát không đáp “lời mời” ra trình diện của Việt Cộng được phổ biến trên đài phát thanh, truyền hình và báo chí của chúng cho tất cả “ngụy quân, ngụy quyền”. Liền sau khi cộng quân ào ạt tuôn vào Saigon từ hai hướng Bắc và Nam ngày 30 Tháng Tư 1975, Bác Sĩ Quát đã dời tư thất ở đường Hiền Vương và bắt đầu cuộc đời “du mục” trong Saigon, quyết không để cho Việt Cộng bắt. Cứ đôi ba ngày các con ông thay phiên nhau dẫn ông đi thay đổi chỗ trú ngụ. Sau gần ba tháng trốn tránh như thế, ông có dấu hiệu mệt mỏi. Các con ông khuyên ông trốn “trụ” hẳn một nơi. Ông nhượng bộ, về nhà trưởng nữ trong một hẻm khuất ở quận Phú Nhuận.

Những ai đã sống ở Saigon sau ngày 30 Tháng Tư 1975 chắc khó quên cái không khí ồn ào, nhộn nhạo, hỗn tạp bao trùm khắp nơi, khắp chốn của cái thành phố hơn ba triệu người này hầu như ngày nào cũng hối hả tuôn ra đầy nghẹt đường phố. Vẻ mừng rỡ bề ngoài vì chiến tranh đã chấm dứt không che đậy nổi nhiều nỗi lo âu âm ỉ bên trong: Kẻ chiến thắng sẽ định đoạt số phận của Saigon như thế nào? Thái độ nào tốt nhất để đối phó với kẻ chiến thắng đang huênh hoang, ngạo mạn? Tùy hoàn cảnh và cương vị riêng của mỗi cá nhân, người thì chọn lối âm thần sống ẩn, người thì mặc, muốn ra sao thì ra, cứ sống “tự nhiên cái đã”. Nhưng đại đa số thì tính chuyện trốn khỏi Việt Nam bằng đường biển sau khi Mỹ đã vĩnh viễn phủi tay. Một số khác thì tính chuyện tiếp tục tranh đấu chống Cộng. Ðã manh nha những sự thăm dò, móc nối nhau, tìm ngõ ngách trong hai lãnh vực chính yếu: thứ nhất vượt biên, thứ nhì chống Cộng.

Hai lãnh vực này tưởng là hoàn toàn riêng biệt, trái lại, thường xoắn vào nhau khá chặt, bởi lẽ nhiều khi tìm đường vượt biển lại dẫn đến mối chống Cộng, tìm đường chống Cộng lại dẫn tới mối vượt biên. Bất cứ ai chọn dấn thân vào một trong hai lãnh vực này đều bị lôi cuốn vào cái vòng luẩn quẩn lưỡng nguyên bi hài kịch đó. Bác Sĩ Quát không ngờ sẽ rơi vào chính cảnh huống ấy. Trong thâm tâm, ông không muốn bỏ chạy: ông vốn nặng tình quê hương. Nhưng gia đình ông 14 người, mặc nhiên là một áp lực tinh thần, thầm lặng đấy, nhưng đáng kể, buộc ông không thể không nghĩ đến sự an toàn cho vợ, con, dâu, rể và các cháu nội ngoại, nghĩa là phải nghĩ đến chuyện vượt biên. Ngoài tình quê hương ông cũng nặng tình gia đình không kém.

Thực ra, khoảng một tuần trước ngày 30 Tháng Tư 1975 lịch sử, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã ra lệnh cho ông Ðại sứ của mình ở Saigon nhân danh chính phủ mời Bác Sĩ Quát qua Ðài Bắc trú ngụ nếu như phía Mỹ chưa lo liệu cho bác sĩ. Lúc đó Bác Sĩ Quát chưa quyết tâm ra đi nên chỉ cảm ơn và nói sẽ liên lạc sau. Về phía Mỹ, khi hay tin Bác Sĩ Quát còn ở Saigon, ngày 28 Tháng Tư 1975 đã liên lạc với ông, hứa đưa hai ông bà qua Mỹ. Bác Sĩ Quát trả lời không thể nhận sự giúp đỡ quý hóa ấy nếu tất cả gia đình ông gồm 14 người không được cùng đi. Phía Mỹ ngần ngại, nhưng rồi cũng thuận ý muốn của Bác Sĩ Quát và cho ông một điểm hẹn. Ðiểm hẹn này sau bị lộ. Thêm nữa ngày 29 Tháng Tư 1975, tình hình căng thẳng tột độ, chính phủ Dương Văn Minh ra tối hậu thư buộc Mỹ phải triệt thoái toàn bộ nhân viên D.A.O. tức bộ phận tùy viên Quốc Phòng của Mỹ trong thời hạn 24 tiếng đồng hồ. Liên lạc giữa phía Mỹ và Bác Sĩ Quát bị tắc nghẽn. Chuyến trực thăng cuối cùng chở người Việt tị nạn không có Bác Sĩ Quát và gia đình.

Như đã nói, ông nặng tình gia đình, không muốn gia đình bị khổ trong vòng kìm kẹp của Cộng Sản và muốn gia đình sống một nơi an toàn. Ðồng thời ông cũng không muốn làm “kẻ bỏ chạy” vì ông cũng rất nặng tình quê hương, đất nước. Ông muốn, nếu đi thì cả nhà cùng đi. Nếu ở lại thì cả nhà cùng ở lại. Nhưng sau hai lần lỡ dịp di tản gia đình, Bác Sĩ Quát ý thức rất rõ hai mối tình song hành kia, tình gia đình và tình quê hương, đất nước, khó mà dung được với nhau và chỉ có thể chọn một. Và ông đã chọn.

Ông bằng lòng cho con trai út Phan Huy Anh đi thăm dò đường lối. Do một người bạn của Huy Anh giới thiệu, Bác Sĩ Quát thuận gặp một người tên Nguyễn Ngọc Liên. Liên tự xưng là một thành viên quan trọng của một tổ chức chống Cộng nhận nhiệm vụ bắt liên lạc với Bác Sĩ Quát, mời ông gia nhập tổ chức và nơi tổ chức có thể giúp gia đình ông vượt biên. Bác Sĩ Quát đồng ý về đề nghị thứ hai của Liên. Còn về đề nghị gia nhập tổ chức, ông nói sẽ có quyết định sau khi gặp người đại diện có thẩm quyền của tổ chức. Ðôi bên đồng thuận. Gia đình Bác Sĩ Quát gồm bà Quát, các con, cháu hơn mười người được dẫn đi trước xuống Cần Thơ, ở lại đó hai ngày. Hôm sau lên xe đi tiếp, dọc đường bị chận lại, đưa về khám Cần Thơ. Cả nhà biết là đã bị mắc lừa. Một tuần sau bị giải về trại giam Chí Hòa, Saigon. Bà Quát, tuy tuổi đã cao và mắc bệnh đau tim, vẫn bị biệt giam, điều kiện sinh hoạt rất khắc nghiệt. Do con, cháu bà năn nỉ mãi, Việt Cộng cho phép một cháu ngoại gái của bà mới 12 tuổi qua ở biệt giam để chăm sóc bà. Ðược mấy tháng, vì tình trạng sức khỏe ngày càng xấu đi, bà Quát được đưa ra ở phòng tập thể với các con cháu. Ðược hơn một năm, có lẽ vì xét thấy gia đình bà Quát đại đa số là giới nữ và khai thác cũng không thêm được gì, Việt Cộng bèn thả hết. Riêng người con rể còn bị giữ lại, đưa đi trại cải tạo Hàm Tân, gần mười năm sau mới được thả.

Về phần Bác Sĩ Quát và con trai út của ông là Huy Anh thì được tên Liên đưa đi tạm trú tại một căn nhà kín đáo ở Chợ Lớn. Hai ngày sau, theo kế hoạch, tên Liên đưa Bác Sĩ Quát và Huy Anh ra khỏi Saigon. Khi xe ô-tô tới một điểm hẹn vắng vẻ thuộc tỉnh Biên Hòa thì đã có một xe ô-tô khác đậu bên đường, nắp ca pô mở sẵn theo mật hiệu đã quy định. Xe chở Bác Sĩ Quát và Huy Anh dừng lại. Một toán người đi tới, vây quanh xe, rút súng hăm dọa. Bác Sĩ Quát biết mình bị lừa. Ông và Huy Anh được giải về Bộ Tư lệnh Cảnh Sát, đường Võ Tánh, Saigon. Hôm đó là ngày 16 Tháng Tám 1975, khởi đầu cuộc thử thách chót trong đời vị cựu Thủ tướng. Một cuộc thử thách không giống bất cứ một thử thách nào ông đã đương đầu trước kia. Một cuộc thử thách mà chủ đích của Việt Cộng nhằm hạ nhục con người chỉ chấm dứt sau khi vị cựu Thủ tướng đã vận tất cả năng lượng vật chất và tinh thần ném hết vào cuộc đấu tranh cuối cùng của ông, lần này mới thực là mặt đối mặt với quân thù với không biết bao nhiêu căng thẳng, gay go về nhiều mặt. Cuộc đấu tranh riêng lẻ mà ông chưa từng có một ý niệm và không bao giờ ngờ có ngày phải tiến hành trong đơn độc, đã kết thúc vào trưa ngày 27 Tháng Tư 1979, đúng ba hôm trước ngày Kỷ niệm Saigon thất thủ.

Cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát đã vĩnh viễn nằm xuống sau ba năm, tám tháng đấu tranh không nhượng bộ trong gọng kìm Việt Cộng.

Ngày 30 Tết, năm Mậu Ngọ (dương lịch: 1978)

Gần một tháng trước Tết Mậu Ngọ tôi bị chuyển về phòng 1, gác 1, khu BC. Ba phòng 2, 3, 4 bỏ trống. Chỉ riêng phòng 1 có “khách hàng”. Bác Sĩ Quát và tôi gặp lại nhau ở đó. Trong mấy ngày Tết, kỷ luật nới lỏng, mọi người được đi lại thăm bạn bè ở các phòng khác, gác khác trong cùng một khu. Bác Sĩ Quát và tôi không ra khỏi gác 1. Chúng tôi thường đi bộ dọc hành lang trống vắng vẻ, Bác Sĩ Quát bắt nhịp đi theo tiếng chống nạng của tôi lúc đó chân bị tê liệt. Mấy ngày Tết quả là một dịp hiếm có để có thể nói với nhau nhiều chuyện, khỏi sợ bị để ý hay soi mói quá đáng. “Ăng ten” cũng phải ăn Tết chứ! Bác Sĩ Quát đã tóm lược cho tôi nghe cuộc “phiêu lưu” của ông và gia đình. Tôi có hỏi ông về thời gian ông giữ tại Bộ Tư lệnh Cảnh sát, đường Võ Tánh. Ông kể:

“Chúng bắt tôi viết bản tự khai tất cả những gì tôi làm khi tôi giữ chức Thủ tướng. Bản viết của tôi không dài quá một trang tôi viết vắn tắt là trong thời gian tôi ở cương vị Thủ tướng, tôi lãnh đạo việc nước, tôi chỉ đạo cuộc chiến chống Cộng. Tất cả mọi cấp, từ cấp thấp nhất, đến cao nhất gần gũi với Thủ tướng ở mọi ngành quân, dân, chính đều làm việc theo chỉ thị và mệnh lệnh của tôi. Một mình tôi trách nhiệm. Chúng không bằng lòng, bắt tôi viết lại. Tôi viết y như trước. Cù cưa như vậy đến hơn một tháng, gần hai tháng. Chúng bèn chuyển sang thẩm vấn. Hỏi câu nào tôi trả lới vắn tắt: Tôi trách nhiệm. Chúng đủ trò áp lực như anh biết đấy. Sau đó, để bớt căng thẳng, tôi nhận viết. Vả lại, thú thực lúc đó nhịp tim đập của tôi loạn xạ đã nhiều ngày, và tôi không có thuốc trợ tim. Tôi cảm thấy chóng mệt. Tôi cứ từ từ viết được hơn 70 trang, trong đó tôi nêu một số nhận định về thời cuộc, đưa ra một số đề nghị kiến thiết quốc gia. Trên trang nhất, tôi đề tên người nhận văn bản của tôi là Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Chúng bắt tôi xóa, chỉ được viết là bản tự khai. Tôi không chịu. Sau cùng chúng cũng nhận tập viết của tôi.”

Tôi hỏi Bác Sĩ Quát: “Anh có tin là chúng chuyển tập viết của anh tới Nguyễn Hữu Thọ không? – Tôi ngờ lắm. Ông đáp. Nhưng không sao. Tôi mượn cớ đề tên Nguyễn Hữu Thọ để ngầm bảo chúng rằng tôi không biết tới Hà Nội trong khi tất cả chúng ta đều rõ là Nguyễn Hữu Thọ và Mặt trận Giải phóng Miền Nam chỉ là công cụ của Hà Nội và Hà Nội thừa biết điều đó hơn ai hết.”

Tôi bật cười, Bác Sĩ Quát cũng cười theo. Chúng tôi hiểu nhau. Trong buồng có một vài bạn tù đứng đắn, chúng tôi có thể nói chuyện thẳng thắn, cởi mở, không nghi ngại. Tôi nhớ một lần, vẫn trong dịp Tết Mậu Ngọ, chúng tôi năm người đứng nói chuyện gần ở một góc hành lang, câu chuyện loanh quanh thế nào mà dẫn đến việc một bạn tù hỏi Bác Sĩ Quát về một vài cộng sự viên thân cận nhất của ông mà ông thật tâm tác thành cho: “Có thật hay không, tiếng đồn có người đá ngầm anh khi có dấu hiệu anh trên đà xuống dốc?” Bác Sĩ Quát mỉm cười, trả lời, giọng bình thản: “Tôi đã có nhiều dịp gần cụ Trần Trọng Kim khi sinh thời cụ. Tôi nhớ mãi một lời cụ dậy: sống ở đời phải cho nó chững. Tôi thường kể lại cho các con, cháu trong nhà nghe lời của cụ Trần, kẻo uổng.” Câu nói của Bác Sĩ Quát không trả lời thẳng vào câu hỏi của anh bạn. Nhưng có vẻ như mấy bạn biết thưởng thức câu trả lời đó vì họ cười ha hả.

Sau Tết, chúng tôi bị chuyển sang phòng 5, gác 1, khu ED. Ðược vài hôm, phòng nhận thêm một tù nhân từ biệt giam qua. Người này, khi nhận thấy Bác Sĩ Quát thì tỏ vẻ lúng túng, ngượng ngập. Có chi lạ đâu? Hắn là Nguyễn Ngọc Liên, người mời chèo Bác Sĩ Quát vào khu để rồi rơi vào bẫy sập ở Biên Hòa. Trong phòng ngoài Bác Sĩ Quát và tôi, không một ai khác biết mối liên hệ giữa Bác Sĩ Quát và hắn. Bác Sĩ Quát cư xử rất tự nhiên, không tỏ vẻ gì khó chịu bực tức, nóng nẩy. Riêng tôi cũng không để lộ cho tên Liên rõ là tôi biết chuyện của hắn. Cuộc sống ở Chí Hòa đơn điệu, buồn tẻ, ngột ngạt.

Ngày này sang ngày khác, mọi người như chết đi trên 2/3 manh chiếu của mình. Không bao giờ tôi nghe thấy Bác Sĩ Quát thốt lên dù chỉ nửa lời than van về số phận của mình hay của gia đình về sự mất mát tài sản mà Việt Cộng đã tịch thu toàn bộ chỉ để lại cho ông hai bàn tay trắng. Ông sống lặng lẽ, trầm ngâm, kín đáo. Nhiều lần, cán bộ Việt cộng cố ý công khai làm nhục ông trước mặt mọi người. Ông giữ im lặng, cái im lặng kẻ cả. Không ai nhận thấy ở ông một vẻ gì kiêu kỳ, của một người đã từng giữ những chức vụ cao sang trong chính quyền cũ.

Ông biết hòa mình một cách đúng mức. Với anh em cùng cảnh ngộ và cái đúng mức không gượng ép ấy tự nhiên bảo vệ tư thế riêng của ông bằng một khoảng cách mà chẳng ai dám nghĩ muốn vượt qua. Ngay đối với tên Liên mà nhiều yếu tố trong vụ Biên Hòa đủ để được xứng đáng nhãn hiệu “tên phản bội, tên lừa bịp”, ông vẫn giữ được cách lịch sự bao dung buộc kẻ kia tự mình phải có thái độ ăn năn, kính cẩn đối với ông. Thế nên tôi rất hiểu tâm địa ông khi ông thều thào: “Thôi! Bỏ đi!” để trả lời câu hỏi dồn ông về tên Liên bên chiếu bệnh. Ông biết vì ông mà vợ, con, cháu ông đang dũng cảm chịu khổ, chịu nhục, chịu thiếu thốn ở khu phụ nữ. Ông biết một cháu nội gái của ông, con gái đầu lòng của Huy Anh, mới ba tháng đã “được” Việt cộng bỏ tù vì bố mẹ và đang thiếu sữa.

Ông biết chừng nào Việt Cộng chưa bẻ gãy được ý chí đối kháng thầm lặng của ông thì gia đình ông, đa số là phụ nữ và con nít vần là những con tin hữu hiệu trong tay Việt Cộng dùng làm lợi khí đe dọa, đầy đọa tinh thần ông, nghiền nát những gì là nhân tính trong ông, buộc ông phải thốt lên một lời quỵ lụy quy hàng, Nhưng ông đã đứng được đầu gió.
Vì ông đã cứng.

***

Tôi thường nghĩ, trong suốt cuộc đời tham chính, thành tựu của Bác Sĩ Phan Huy Quát có ý nghĩa lớn lao nhất, có ích cho quốc dân nhất, do đó quan trọng vào bậc nhất vì trực tiếp liên quan sâu sắc nhất đến tiền đồ tổ quốc, là ông đã giành được chủ quyền cho ngành giáo dục Việt Nam, khi ông được Cựu Quốc Trưởng Bảo Ðại phong ông làm Tổng Trưởng Bộ Giáo Dục trong chính phủ đầu tiên của Quốc gia Việt Nam mới được Pháp thừa nhận nền độc lập. Do lòng trí kiên nhẫn, thái độ khéo léo, mềm dẻo nhưng không thiếu cương quyết trong thương thảo rất khó khăn, nhiều khi đến độ rất căng thẳng với phái đoàn Pháp mà một số thành viên lại là thầy học cũ của ông ở Ðại học Y khoa Hà Nội. Ông đã thuyết phục được phía Pháp trao trả Việt Nam trọn quyền của ngành giáo dục. Ông đã đặt nền móng vững chắc cho việc dùng Việt ngữ là ngôn ngữ chính trong mọi giáo trình, mở đầu kỷ nguyên cải cách giáo dục toàn diện từ tiểu học, qua trung học, lên tới đại học và trên đại học mang tính chất hoàn toàn quốc gia mà dấu ấn căn bản và nguyên tắc đó không một ai, sau ông, có thể thay đổi được. Pháp ngữ đã lui xuống thứ hạng như bất cứ sinh ngữ nào khác được giảng dậy trong mọi cấp học trình. Thành quả tranh đấu gay go trong thầm lặng nhưng thật rực rỡ của ông với Phái đoàn Pháp và công cuộc tiến hành cải cách giáo dục của ông đã được báo chí thời đó xưng tụng và mệnh danh một cách rất xứng đáng là “Kế hoạch giáo dục Phan Huy Quát.” Tên tuổi ông đã gắn liền với tương lai của biết bao thế hệ nam, nữ, thanh, thiếu niên trong lãnh vực giáo dục nó là chìa khóa của tiến bộ văn minh và phát triển văn hóa cho đất nước, cho dân tộc.

Thành công nào có thể đẹp hơn, lâu bền hơn thành công của ông trong sự nghiệp giáo dục đào tạo con người?

***

Một phòng lẻ loi dành cho lính gác ở ngoài vòng rào trại giam Chí Hòa đã được quét dọn khá tươm tất. Giữa phòng, một tấm ván gỗ khổ hẹp đặt trên đôi mẻ. Trên tấm ván một hình người nằm ngửa, chân duỗi thẳng, hằn rõ dưới tấm mền mỏng phủ kín từ đầu xuống chân.
Thi thể Bác Sĩ Phan Huy Quát, cựu Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa nằm đó, cô đơn, lạnh lẽo giữa một buổi trưa hè nắng gắt, oi nồng. Cùng với tấm ván và đôi mẻ, thi thể ông là tĩnh vật trang trí độc nhất của căn phòng lính gác quạnh hiu. Chung quanh không một bóng người. Cái tĩch mịch của căn phòng như muốn thét lên mà bị nghẹn.

Tang gia được chính quyền Việt Cộng hứa cho phép quàn thi hài Bác Sĩ Quát tại chùa Xá Lợi. Ðến phút chót Việt Cộng bội hứa như chúng vẫn có thói quen đó đã trở thành quán tính. Chúng buộc tang gia phải chôn cất ngay ngày hôm sau tức là ngày 28 Tháng Tư 1979. Tìm hiểu ra mới biết ngày 28 là ngày ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc tới Saigon: cho đem thi hài Bác Sĩ Quát về quàn tại Chùa Xá Lợi có thể gây ra nhiều phiền phức, rối ren không lường được. Quái thật! Một chế độ luôn luôn tự vỗ ngực lớn tiếng huênh hoang ta đây “Anh hùng nhất mực” và “ra ngõ là gặp anh hùng” lại sợ đủ thứ!
Sợ từ đứa bé sơ sinh sợ đi nên phải bắt nó vào tù với mẹ nó cho chắc!

Sợ từ cái xác chết sợ đi, nên bắt chôn ngay sợ xác chết “thần giao cách cảm” với Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc thì rầy rà to. Ðám tang bị hối thúc rồi cũng chu toàn nhờ sự tận tình giúp đỡ của thân bằng, quyến thuộc.
Sau tang lễ đơn sơ, còn sót lại là nghi vấn về cái chết của vị Cựu Thủ tướng. Hồ sơ bệnh lý do Việt cộng chính thức đưa ra là “nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não cùng viêm gan siêu vi trùng”.
Hồ sơ vẫn nguyên vẹn là một nghi vấn.

***

Nếu tôi biết hát, tôi sẽ cất giọng ca vừa đủ nghe tù khúc:

“Anh nằm đây,
Bạn bè anh cũng nằm đây…”

Gọi là một chút để ấm lòng người đã khuất.

Nguyễn Tú

Ký giả Nguyễn Tú, nguyên đặc phái viên chiến trường Nhật báo Chính Luận tại Việt Nam trước 1975, cũng như của nhiều báo ngoại quốc, đã bị giam hơn mười năm trong lao tù Cộng Sản. Ông vượt biên tới Hong Kong năm 1990 và sau đó tới Hoa Kỳ.

Ông mất ngày 11/7/2010 tại thành phố Alexandria, tiểu bang Virginia, thọ 86 tuổi.

nguồn: batkhuat.net

Thói thường

Thói thường

Thói Thường – Như Nhiên Thích Tánh Tuệ

 

Vắng rồi, mới thấy lòng đau
 Lúc còn bên cạnh nhìn nhau hững hờ
Khuất rồi, quay quắt, thẩn thờ
Khi gần chẳng thiết một giờ cho nhau.
 Tháng ngày lạnh lẽo lướt mau
 Câu thương chưa nói, lời đau đã nhiều!
– Biệt rồi, mới biết là yêu
 Hỏi thời gian có ngược chiều được chăng?
 Xa rồi, mới thấy ăn năn
 Chưa lời tha thứ lòng băn khoăn hoài!
 Giận rồi, mới hiểu mình sai
 Người đi thôi hết còn ai tự tình.
 Mất rồi, mới biết đoái nhìn
 Còn đây chỉ một tấm hình lặng im.
– Hết rồi, nhịp đập trái tim
 Mới hay một kiếp vô minh sống cùng
Đông rồi, tiếc những ngày Xuân
 Thả mồi bắt bóng.. hư không cuối đời.
Mưa rồi, nhớ sực áo phơi
 Khóc rồi, tiếc hận bao lời đã buông.
 Mẹ Cha thuận thế vô thường
 Ngàn muôn hiếu hạnh, nhớ thương cũng hoài!
Chiều tàn, mới biết mĩm cười
 Toan cười.. thì đã ngập trời bóng đêm.
Đi rồi, mới nhớ gọi tên
 Người xuôi vào cõi lãng quên mịt mờ..
– Tỉnh rồi, mới ngộ rằng mơ!
Thế nên Sống trọn từng giờ hôm nay..
 Người không hết dạ lúc này
Đời mang hối tiếc đong đầy vị lai…
Như Nhiên –  Thích Tánh Tuệ

Một Sài Gòn chưa xa

Một Sài Gòn chưa xa

Tùy bút Nguyễn Thị Hậu

Chợ thiệp Sài Gòn

Hồi những năm 70, 80 của thế kỷ trước, Sài Gòn từng có một “ chợ ” bán thiệp quanh năm nhưng từ khoảng đầu tháng 11 trở nên tấp nập, rộn ràng và tươi vui muôn vàn màu sắc.

Đấy là thời gian Sài Gòn bắt đầu có những ngọn gió se se mát lạnh vào chiều tối, hơi sương lảng bảng quanh những ngọn đèn đường. Những đường phố khu trung tâm hình ảnh Ông già Noel đã xuất hiện sớm trên cửa kính quán xá nhắc nhở người qua đường mùa Giáng sinh đang đến, năm Dương lịch sắp hết. Một thành phố phóng khoáng và mang nhiều nét Tây phương như Sài Gòn thì mùa lễ hội cuối năm thường kéo dài từ Noel đến Tết âm lịch. Từ lúc này Chợ Thiệp ở trước Bưu điện trung tâm bắt đầu vào mùa cao điểm bán Thiệp Xuân.

Ngày thường nơi đây có những sạp bán bao thơ, bưu ảnh, giấy viết thư… Thời ấy người ta còn viết thư tay, bỏ bao thơ dán tem và gửi bưu điện. Tại đây bán các loại bao thơ đủ màu trắng xanh hồng tím hoa văn in nổi in chìm đậm nhạt đủ kiểu. Mỗi xấp là chục 12 chiếc cùng một màu hoặc nhiều màu, đơn giản nhất là bao thơ viền sọc xanh đỏ in chữ “ par avion ”. Bao thơ làm bằng loại giấy mịn màng, dày vừa đủ kín đáo nhưng cũng mỏng vừa đủ là “ cánh thư ”. Còn giấy viết thư là từng xấp mỏng, có kẻ hoặc không, góc tờ giấy cũng in màu nhạt và hoa văn chìm… Thời mới hòa bình những dòng chữ trên những tờ giấy đẹp như thế đã nối liền biết bao gia đình trong Nam ngoài Bắc. Rồi thiệp sinh nhật, thiệp chúc tốt lành… loại nào khi mua cũng được người bán cho vào chiếc bao nilon trong suốt và kèm theo bao thơ trắng tinh, làm người mua không thể chỉ mua một chiếc.

Vào mùa thiệp Tết sạp bán thiệp nở rộ trên vỉa hè và khoảng trống xung quanh Nhà Thờ Đức Bà. Mỗi sạp đơn giản là một chiếc bàn, hai bên đóng cái khung gỗ treo những chiếc khánh màu đỏ rực rỡ màu vàng lấp lánh xen lẫn những mẫu thiệp mừng Giáng Sinh và mừng năm mới của ta lẫn tây : Giáng sinh An lành, Merry Christmas, Cung chúc tân xuân, Chúc mừng năm mới, Happy New Year, Bonne Année… Vài năm sau tháng tư 75 còn có cả С Новым годом theo trào lưu học tiếng Nga… Thiệp Tây thì có ông già Noel và xe tuần lộc, ngôi nhà ấm áp ngọn đèn trong đên mưa tuyết, cây thông xanh lấp lánh trang kim… Thiệp Tết truyền thống có hình hoa đào hoa mai, cây nêu bánh chưng tràng pháo… dần dần có thêm nhiều thiệp vẽ bụi tre nhà lá dòng kinh cầu dừa thiếu nữ khăn rằn áo dài tóc bay theo gió… Là để gửi cho những người đã ra đi một chút hình ảnh quê nhà.

Chợ Thiệp bán từ sáng đến tối khi bưu điện đóng cửa vẫn còn vài sạp sáng đèn. Người mua từ già trẻ lớn bé giàu nghèo, từ người Sài Gòn đến du khách… mọi người đều chọn được những tấm thiệp đẹp ưng ý lại vừa túi tiền. Những tấm thiệp không chỉ có lời chúc xã giao lịch sự mà còn gửi gắm bao nỗi niềm thương nhớ…

Sài Gòn có nhiều nơi bán thiệp nhất là gần các nhà thờ, bắt đầu “ mùa thiệp ” là cho mùa Giáng sinh. Trong các Bưu điện hay nhà sách, các sạp báo và đồ lưu niệm ở đường Nguyễn Huệ cũng bán bưu ảnh thiệp tết… nhưng không đâu đông đúc và nhiều mẫu thiệp đẹp như chợ thiệp ở Bưu điện trung tâm.  Đó cũng là một nơi mà người Sài Gòn chí ít cũng vài lần lui tới trong năm, như đi chợ Bến Thành, đến Thương xá Tax, dạo chơi bến Bạch Đằng… Nó cũng là nơi nhiều du khách nhớ đến bởi sự phong phú của văn hóa Việt tập trung ở đây qua những tấm thiệp muôn màu muôn vẻ.

Từ khoảng cuối những năm 1980 chợ Thiệp vắng dần, vì chất lượng giấy làm bao thơ, làm thiệp ngày càng kém, mẫu mã đơn điệu, chất lượng in lại xấu. Dù vẫn còn nhu cầu về thiệp trong các dịp lễ tết vẫn còn nhưng người ta không còn thói quen dạo chơi và mua thiệp cũng vì chợ đã bị dẹp vì “ lấn chiếm lòng lề đường ”. Khoảng mươi năm trước Chợ thiệp lại được nhóm họp ở đây với phong trào thiệp hand make : những chiếc thiệp hình vẽ ngộ nghĩnh, trang trí không đụng hàng, trẻ trung, hiện đại… Nhưng cũng chỉ sôi nổi được một thời gian vì internet đã phổ biến.

Bây giờ người ta viết thư gửi thiệp đều qua mạng, chẳng mấy ai còn nhớ đến những cánh thiệp Xuân được bày bán bên hông Bưu điện Sài Gòn thủa trước…

Xích lô Sài Gòn

Xích lô không chỉ là một phương tiện giao thông đặc trưng của đô thị Sài Gòn mà còn là một nét đẹp của văn hoá giao thông ở đây, bởi những lý do sau.

Xích lô Sài Gòn đẹp : năm 1975 từ Hà Nội về nhìn thấy những chiếc xích lô đậu sát vỉa hè những con đường Sài Gòn, tôi đã ngạc nhiên vô cùng : So với phần lớn những chiếc xích lô cũ kỹ thấp lè tè, sàn và ghế chỉ bằng gỗ, miếng nệm nếu có cũng dúm dó cũ mèm ở Hà Nội thì xích lô Sài Gòn thiết kế cao, gọn, nệm mui luôn có sẵn, có khi làm bằng vải hoa vui mắt, nhẹ nhõm, phù hợp với thời tiết nắng gió của Sài Gòn. Xe được lau chùi bóng loáng, tra dầu mỡ thường xuyên nên đạp nhẹ mà chạy nhanh, không có tiếng kêu cót két nặng nhọc làm người ta ngần ngại khi ngồi trên xe mà họ có thể thoải mái ngắm nhìn phố phường.

Xích lô Sài Gòn là một loại dịch vụ đô thị : Do cấu tạo xe, ghế của người đạp xe khá cao nên người đạp có tư thế đàng hoàng hơn, không phải cúi thấp gò lưng nặng nhọc đạp xe, khách và chủ xe có thể nói chuyện thoải mái với nhau suốt cả cuốc xích lô. Phần lớn những người đạp xích lô Sài Gòn ăn nói nhã nhặn, mời chào khách nhưng không chèo kéo hay doạ nạt, khách đi thì cám ơn mà khách không đi cũng… cám ơn luôn. Vui vẻ, sòng phẳng, xích lô Sài Gòn cho thấy sự bình đẳng trong việc cung cấp và sử dụng dịch vụ – một đặc trưng của văn hoá đô thị.

Xích lô Sài Gòn cho biết về người Sài Gòn : dù người đạp xích lô là người nhập cư hay người Sài Gòn thì ứng xử và lối sống của họ cũng khá giống nhau : có thể thấy những bác xích lô khi rảnh rỗi chưa có khách thì mở tờ báo ra đọc, hoặc có người ngồi trên xe lịch sự kéo mũ che mặt ngủ một chút. Họ tự trọng và không mặc cảm vì “ thân phận ” đạp xích lô. Phần lớn khách đi xe cũng không có thái độ coi thường người đạp xích lô mà tôn trọng, vui vẻ, khi xuống xe cám ơn đàng hoàng. Nhiều người chuyên đạp xe ban đêm vì ban ngày họ mần công chuyện khác, vì vậy người đạp xe ban ngày nếu đến chiều đã kiếm đủ tiền cho vợ đi chợ ngày mai thì thường nghỉ, nhường cho đồng nghiệp làm đêm, có khi cho mượn cả xe vì có người không đủ tiền mua xe riêng.

Do yêu cầu về giao thông, nhất là ở khu vực trung tâm thành phố nên từ nhiều năm nay, xích lô Sài Gòn hầu như không còn tồn tại, những nét văn hoá đẹp như trên cũng dần biến mất. Lưu giữ những chiếc xích lô phục vụ du khách cũng là phục hồi một nét đẹp của đô thị Sài Gòn.

Đêm nhớ về Sài Gòn

Vào khoảng thời gian này, khi khắp nơi nhộn nhịp mừng Giáng sinh và đón năm mới với bản nhạc Happy New Year thì trong tôi lại vang lên giai điệu một bài hát tình cờ được nghe trong một phòng trà trên đường Đồng Khởi, cũng vào một đêm cuối năm…

Lúc ấy, sau một thời gian thành phố sôi lên vì sự đổi thay bất ngờ, cuối năm tiết trời bỗng se lạnh sau hàng chục năm Nam Bộ chưa biết mùa đông, một số sinh hoạt văn hóa của Sài Gòn đã “ âm thầm ” trở lại : nhà hàng, phòng trà có ca nhạc, ca sĩ hát những bài ca “ giải phóng ” nhưng thỉnh thoảng, bất ngờ một bài “ nhạc cũ ” vang lên : Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Trầm Từ Thiêng, Trường Sa… Tôi, cô gái Hà Nội khi ấy tuổi vừa đôi mươi, từ giai điệu lời ca da diết “ để đêm đêm nhớ về Sài Gòn thấy mình vừa trở lại quê hương, đã gặp người một trời yêu thương…” biết mình đã thuộc về Sài Gòn như thể được sinh ra ở đây.

Không như Hà Nội hay Huế có cả một dòng nhạc để gọi tên hay nhớ về, những tình khúc sáng tác trước 1975 ở miền Nam hầu như ít bài có hai chữ Sài Gòn trên tựa hay trong lời ca, nhưng ai cũng có thể nhận ra hình ảnh Sài Gòn thấp thoáng trong ca từ và giai điệu… Cái chất sang cả mà gần gũi, cởi mở mà thâm trầm của Sài Gòn thấm vào trong từng nốt nhạc, để khi người ca sĩ cất lên tiếng hát thì dù quê đâu người nghe cũng thấy mình thuộc về Sài Gòn. Cho đến bây giờ, theo tôi có hai ca khúc lột tả được đúng nhất cái “ chất Sài Gòn ”, đó là “ Sài Gòn đẹp lắm ” của Y Vân và “ Đêm nhớ về Sài Gòn ” của Trầm Tử Thiêng. Nếu trong “ Sài Gòn đẹp lắm ” đây là một thành phố đông vui, trẻ trung, sôi động, rộn ràng của những người tứ xứ tụ về thì “ Đêm nhớ về Sài Gòn ” lại như lời tự sự của một đô thành từng trải qua bao biến động, có nỗi buồn chia ly và những thân phận ẩn trong đêm tối…

Sài Gòn không có ban đêm, một cuộc sống khác bắt đầu ở đây khi mặt trời đi ngủ, phổ biến nhất là sinh hoạt nghệ thuật ở phòng trà, quán cà phê, tụ điểm ca nhạc, sân khấu, rạp phim ở trung tâm đến quán nhậu ven kênh hay nơi hẻm nhỏ. Khi thành phố lên đèn ánh sáng rực rỡ thì cũng là lúc nhiều người bước vào cuộc mưu sinh, nghệ sĩ trên sân khấu hay ca sĩ “ kẹo kéo ” nơi vỉa hè đều mang lại cho đêm thành phố đầy ắp cung bậc cảm xúc. Và không đâu như trong dòng nhạc Sài Gòn xưa hình ảnh người ca sĩ mong manh sương khói khuất vào đêm khuya lại được nhiều nhạc sĩ đưa vào ca khúc của mình, như chia sẻ, trân trọng và có gì đó như xót thương…

Sau một ngày hối hả vội vàng mưu sinh, đêm xuống bên những cuộc bia rượu ồn ào vẫn có giây phút cô đơn, lắng lòng nghe tiếng hát mà nhớ một Sài Gòn đâu đó, ngay ngoài khung cửa kia hay cách xa ngàn dặm, có thể chạm vào hay chỉ nhìn thấy trong tưởng tượng… Với rất nhiều người Sài Gòn không chỉ là quê hương, là người thương trong trái tim lỗi nhịp khi nhớ về, Sài Gòn còn là một phần của cuộc đời ngắn ngủi. Bởi vậy người đi xa nhớ về Sài Gòn đã đành mà người ở Sài Gòn cũng không ngừng nhớ nhung thành phố. Nhớ ánh đèn vàng, nhớ quán xưa, nhớ con đường hoa dầu bay bay, nhớ cơn mưa chợt đến chợt đi, nhớ Sài Gòn như nhớ mẹ nhớ người tình nhớ bạn tâm giao…

Tưởng chỉ có những người từng trải đã vào tuổi 60 mới có những hoài niệm về một Sài Gòn coi lạnh lùng mà nồng nàn, ngỡ hờ hững cách xa mà thân quen ấm áp. Đâu dè lại bắt gặp niềm thương nỗi nhớ như thế đầy ắp qua từng lời ca nốt nhạc bolero mà người Sài Gòn, có rất nhiều người trẻ, bây giờ vẫn thường hát.

Đêm nhớ về Sài Gòn để cùng thức và cùng hát, có những con người đã nuôi dưỡng sức sống của Sài Gòn bằng một tình yêu như thế !

‘Xui’ không chỉ Thủ Thiêm mà cả dân tộc

‘Xui’ không chỉ Thủ Thiêm mà cả dân tộc

Paulus Lê Sơn (VNTB) 

Xui là môt tính từ chỉ việc ai đó bị đen đủi, bị xúi quẩy, đó là phương ngữ, cách nói của người dân miền Nam. Dư luận chia sẻ một Video clip dài 2 phút 35 giây được đăng trên facebook của cô gái trẻ Nguyễn Thùy Dương, là dân oan Thủ Thiêm, trong một buổi ‘đối thoại’ với lãnh đạo thành phố Hồ CHí Minh ngày 22/11/2018 về việc giải quyết bồi thường thỏa đáng cho dân oan Thủ Thiêm.
Một người đàn bà chạc tuổi ngũ tuần, trong nước mắt kể về quảng đời vất vả, đau khổ từ khi bị chính quyền cướp đất đai tài sản, thế mà bao năm lăn lội đòi lại công lý cho gia đình, bà chỉ được tay Thanh tra phán cho một câu “Coi như chị xui đi”.
Đó là câu chuyện của dân oan Thủ Thiêm đau khổ triền miên trước sự “hên xui” của canh bạc cộng sản.
Trong canh bạc thời cuộc, vùng đất Thủ Thiêm được coi là một nơi ẩn nấp của quân cộng sản, dân nơi đây nuôi dấu người cộng sản, theo cộng sản. Thế mà, đời bạc bẽo, phản phúc, thật là xui cho những con người ngày hôm qua là ân nhân mà hôm nay lại trở thành nạn nhân của chế độ này.
Một dân oan mất đất ở Thủ Thiêm.
Những ngày này, bị hứng chịu cơn bão số 9 đổ bộ khiến Sài Gòn ngập nặng trong biển nước, cả thành phố tê liệt, người ta mượn cơ thể người chế thơ để đo mức độ ngập trên từng con phố, tên đường. Nhẹ thì đến háng đến bẹn, nơi ngập đến đến rốn đến bụng, nặng thì đến ngực, lên cằm, hay lút đầu. Coi như cả một con người bị chìm trong biển nước.
Hiếm lắm thì Sài Gòn mới có bão ập đến, nhưng khi ập đến rồi thì nó tàn phá khủng khiếp. Còn lụt lội thì Sài Gòn ngày nay chớm mưa đã ngập, ngập quanh năm suốt tháng, ngập như tình hẹn bất chợt vậy.
Người ta chịu khó an ủi nhau là người Sài Gòn cũng quen chịu và bình thản đón nhận giông bão, lụt lội. Thế nên giờ người Sài Gòn cũng có kỷ năng bơi trong lụt đến mực thượng thừa chăng ?
Sài Gòn trước 1975 được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, đường phố, cấu kiến trúc hạ tầng được mô tả như Pari hoa lệ khiến cho lân bang xa gần phải trầm trồ, ao ước. Chuyện lụt lội hiếm xảy ra. Nhưng nay đã khác xưa.
Coi như Sài Gòn xui đi…
Không! Không thể nói một câu vô trách nhiệm như viên thanh tra nói với dân oan Thủ Thiêm được vậy được.
Vạn vật xoay vần đều tịnh tiến theo quy luật nhân quả. Chúng ta cần phải tìm cho ra kẻ nào đã khiến cho Sài Gòn nói riêng và đất nước Việt Nam chúng ta tụt hậu, kém phát triển như ngày hôm nay.
Kể từ khi đất nước được mang tên chủ nghĩa xã hội trên toàn lãnh thổ, dân tình đói khổ, trải qua trăm bể ngàn dâu,… Cho đến hôm nay vẫn còn loay hoay trong mộng mị cộng sản, dân tình chán nản cam chịu uất hận mà biết bao giờ can qua.
Câu chuyện của người dân thủ thiêm bị thủ phạm chính là nhà cầm quyền cộng sản tấn công, cướp tài sản, đánh đập con người chẳng qua đó chỉ là một chấm nhỏ trong một bức tranh u ám của xã hội Việt Nam. Dân tộc này có hàng triệu người con bị chết vô nghĩa bởi chủ thuyết cộng sản, có hàng trăm ngàn gia đình tài sản bị mất trắng, thân nhân li tán. Đất nước này có hằng hà vô số tài nguyên khoáng sản bị chiếm đoạt vô tội vạ. Nền văn hóa của cả một dân tộc dần dần bị xóa nhòa, bóp méo, tính luân thường đạo lý của cội nguồn bị đảo lộn.
Và quan trọng nhất, đau đớn nhất là một ngày nào đó, Việt Nam không còn trên bản đồ thế giới. Khi đã thành một thực thể của Trung Quốc tàn bạo, lúc đó người ta lại nói rằng: Coi như Việt Nam xui đi.
Tư duy lãnh đạo cộng sản không có nền tảng đạo đức, vì thế sự chối bỏ trách nhiệm của kẻ lãnh đạo trước những hậu quả do nó gây ra còn dễ hơn cái chớp mắt vô thường của người đời.
Ngày hôm nay, những kẻ cầm quyền cướp đất của dân, rồi sau đó phán với dân “ coi như chị xui đi”
Ngày hôm nay, những kẻ cầm quyền gây bao tai họa, phá tan hoang đất nước, rồi sau đó phán với dân “ coi như người dân xui đi”
Ngày mai, giả như kẻ cầm quyền bán đất nước cho giặc thù , rồi sau đó phán rằng “ coi như đất nước xui đi”.
Chúng ta có là người vô cảm, vô trách nhiệm trước hồn thiêng sông núi hay không chính là sự thức tỉnh và hành động của mỗi người. Nếu cứ mãi thờ ơ hững hờ thì vận ‘xui’ cộng sản sẽ ám ảnh cuộc đời của mỗi người trong chúng ta mỗi ngày và suốt đời. Và vận xui cộng sản đó sẽ khiến cho bạn không còn là con dân của đất Việt như dân Thủ Thiêm không nhà không cửa vì bị chế độ cướp đất, cướp nhà.
nguồn: vietnamthoibao.org

Tàu cộng và văn hóa du mục

Tàu cộng và văn hóa du mục

Nguyễn Thị Cỏ May

Những nỗi lo sợ của Thầy giáo LHD dạy Văn ở Sài Gòn bộc bạch với mọi người ngày 22 tháng 11 năm 2015 đã đủ gợi cho chúng ta nhìn rõ thấy ngay trước mắt cái hiểm họa của Tàu cộng đối với đất nước Việt nam của chúng ta. Đây không còn là viễn ảnh nữa mà là thực tế.
Vì ý thức đó là thực tế, nên Thầy LHD đã lo sợ:
“…Tôi rất sợ 
rồi sẽ một ngày 
hình Mao Trạch Đông rất to 
đóng khung thật đẹp 
treo ở nơi trang trọng nhất trong nhà 
 
…Và tôi cũng rất sợ 
rồi sẽ một ngày 
trên bản đồ thế giới 
mảnh đất hình chữ S 
với cái tên Việt Nam thân thiết 
thành Khu Tự Trị Ngoại Biên (1) 
không còn nằm trong Liên Hiệp Quốc 
vì đã mất tư cách thành viên…” (LHD, 22/11/2015, Sài Gòn)
Người dân Việt Nam, nhất là người dân Miền Nam, đã trải qua việc phải treo hình Hồ Chí Minh trong nhà, treo ở chỗ thật trang trọng. Và từ đó tai vạ bắt đầu đổ ập tới cho mọi nhà. Ruộng đất, nhà cửa, cơ sở kinh doanh của dân chúng,… bị đảng và nhà nước tịch thu, mọi quyền căn bản về con người, kể cả bản thân, đều bị đảng và nhà nước tước đoạt. Đưa ra một lời đòi hỏi chính đáng cho quyền lợi đất nước liền bị buộc tội là “âm mưu lật đổ chế độ”. Đi tù. Trong tù bị công an tra tấn dã man theo cách của cộng sản. Chết nhưng công an nói tù nhân tự tử.
Khi mọi người phải treo thêm hình Mao Trạch Đông bên cạnh và cao hơn hình Hồ Chí Minh, thì đất nước chẳng những không còn, mà con người Việt Nam cũng trở thành nô lệ. Ngày xưa, nô lệ thực dân đã khổ nhưng chưa thấm vào đâu nếu so sánh với chế độ Hồ Chí Minh. Phạm Văn Đồng đã từng nhắc lại “Nếu chế độ tù tội của thực dân xưa kia như của ta thì lớp lãnh đạo đảng ngày nay của ta không còn ai cả”!
Nên nhớ văn hóa cộng sản tàu có nguồn gốc từ nền văn hóa du mục, hoàn toàn khác với nền văn hóa gốc nông nghiệp trước kia ở phía Nam sông Dương Tử. Văn hóa du mục là chiếm đoạt. Khi đất nước Việt Nam bị chiếm đoạt thì người dân dĩ nhiên trở thành nô lệ. Mà nô lệ thì con người chỉ còn là một giá trị trao đổi hay, tệ hơn, chỉ là một sinh vật. Chuyện Dịch Nha tự tay làm thịt con của mình dâng lên vua ăn cho biết hương vị thịt người vì vua chưa hề ăn, để mua chuộc chức quan, vẫn là thí dụ điển hình diễn tả cái ác của Tàu.
Gần đây, Tàu cộng buôn bán nội tạng của tù nhân, ăn và buôn bán thịt người, làm thuốc tây bằng thịt người. Cách đây vài hôm, TV và nhiều nhật báo pháp đều đồng loạt loan tin về chợ ở bên Tàu bán trẻ con bị bắt cóc.
 
Chợ Tàu bán trẻ con bị bắt cóc 
Ở Tàu, mỗi năm, có hàng chục ngàn trẻ con mất tích, bị bắt cóc. Phần nhiều những đứa trẻ này bị đem bán cho những gia đình không con, mua con nuôi. Họ thường chịu mua với giá cao.
Có từ 70 000 tới 200 000 trẻ con hàng năm bị bắt cóc. Cha mẹ của nạn nhân tụ tập tại công trường của khu phố để hỏi thăm tin tức về con em với nhau, trao đổi nhau những kinh nghiệm tìm kiếm. Vì thấy sự việc mất con em của dân chúng nghiêm trọng nên cảnh sát mới cho phép tập họp ở nơi công cộng như vậy. Một trường hợp ngoại lệ của chế độ dân chủ nhân dân.
Nói ở Tàu có chợ bán trẻ con bị bắt cóc vì có những kẻ bắt lén trẻ nít đem bán, có những người khác đi tìm mua trẻ nít. Người mua không ngại đưa ra trước giá mua hàng.
Cha mẹ bị mất con phổ biến hàng vạn truyền đơn tìm con. Có một người cha bị mất đứa con gái 3 tuổi trong lúc dẫn con đi chơi. Vì một chút sơ ý, đứa con gái bị một kẻ lạ mặt bắt đi mất. Ông đi tìm con khắp thành phố nơi ông ở. Sau cùng, ông làm nghề lái taxi để cả ngày rong rủi trên khắp đường phố mong tình cờ gặp được con. Ông mất 24 năm dài, may mắn, tìm được con. Cô bé ở chỉ cách ông hơn 20 km.
Bán được một đứa bé, người bán kiếm được tới 8000 € nên họ khó mà giải nghệ nghề thất đức này. Trong lúc đó, luật pháp tàu lại không nghiêm phạt người mua.
Nạn nhân thường là những người tới thành phố kiếm việc làm. Trong ngày cha mẹ lo đi làm, để con em ở nhà, ra đường chơi nên bị kẻ gian thừa cơ hội bắt đi dễ dàng.
Chợ bán trẻ con bắt nguồn từ chủ trương mỗi gia đình chỉ có một con từ những năm 80.
Khi mất con, cha mẹ chỉ được phép loan tin trên internet, “không gian cho tự do bày tỏ” duy nhất. Ngoài ra, không được phép đăng hình đứa trẻ mất tích. Mọi phản ứng khác, mặc dầu ôn hòa đi nữa, cũng đều bị nhà cầm quyền coi là làm mất trật tự công cộng.
Khi biết một trường hợp trẻ con bị bắt cóc, nhà cầm quyền thông báo “đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm tới sự cố này và chúng tôi đã kết hợp nỗ lực của các cơ quan chức năng để điều tra… ”. Nhưng dân chúng, không ai thèm tin những lời nói của nhà cầm quyền.
Một nạn nhân khác có con mất tích nói với nhà báo Global Times: “Chúng tôi trình bày những đứa trẻ bị bắt cóc với nhà cầm quyền địa phương nhưng chúng tôi vẫn không bao giờ được trả lời. Trái lại, một người trong chúng tôi – nạn nhân – còn bị công an đánh đập vì dám đòi nhà cầm quyền tìm đứa trẻ bị bắt đem trả về cho họ”.
Và báo chí không được đăng tin trẻ con bị bắt cóc đem bán vì đó là những tin nhạy cảm có khả năng làm nhiễu loạn xã hội.
Chợ bán trẻ con có cả bác sĩ, giám đốc nhà thương, y tá tham gia.
Từ nhiều năm nay, phụ huynh ở Tàu phải sống trong hoàn cảnh đau lòng nhìn thấy con em của mình bị bắt cóc đem bán cho một hệ thống mua bán trẻ con rộng lớn. Một vấn đề không thể có giải pháp chấm dứt bởi nó liên quan tới nhiều cơ quan, nhiều chức năng như cảnh sát, y sĩ, y tá và bệnh viện…
Sự ngụy tạo giấy khai sinh là nguồn gốc bắt cóc trẻ nít bán. Khi có một đứa bé bị bắt cóc, lập tức có một người trung gian tới nhà thương đút lót nhân viên để làm giấy khai sanh theo những dữ liệu của nhà thương cho đứa bé. Việc sanh đẻ ở nhà thương của đứa bé kể như bị xóa sạch hoàn toàn. Lý lịch của đứa bé bị thay đổi từ đây, một cách hoàn toàn tận gốc và hợp pháp. Đúng vào lúc này, cha mẹ mới và hợp pháp của đứa bé tới nhận đem con về nuôi.
Người mua con có thể coi giấy tờ khai sanh của đứa bé ở nhà thương để thấy mọi diễn tiến liên quan đến đứa bé đều hoàn toàn hợp lệ.
Lấy một giấy khai sanh của nhà thương hay một nhà bảo sanh mất trong vòng 2 tuần lễ, giá 100 000 yuans (15 000€). Bác sĩ cũng hăng hái tham dự vào dịch vụ đen này vì nó đem lại một số tiền khá quan trọng. Lương của bác sĩ chỉ từ 400 tới 600 € / tháng. Không riêng gì chỉ có bác sĩ tham gia, mà cả giám đốc bệnh viện, y tá, tất cả nhân viên nhà thương và người dẫn mối.
Giấy khai sanh giả ghi vào máy theo hệ thống của nhà thương nên nó trở thành giấy thiệt, không còn một vết tích gì là ngụy tạo hết cả.
Một bác sĩ làm việc ở một nhà thương ở Quảng Đông bị bắt về tội ngụy tạo giấy tờ để hợp thức hóa việc mua bán trẻ sơ sinh bị phát giác và bị phạt một năm tù. Cả cán bộ đảng và nhà nước làm việc trong Ủy Ban Y tế và Kế hoạch gia đình cũng bán giấy khai sanh để kiếm thêm tiền.
Vùng biên giới và thôn quê Việt Nam, lúc gần đây, có nhiều tin về trẻ con bị bắt cóc và mất tích luôn. Không biết có liên hệ với chợ bán trẻ con bên Tàu hay không?
 
Ăn thịt người và bán thịt người 
Ăn thịt người ở Tàu không phải chỉ là chuyện xưa của một vài trường hợp quá đặc biệt như truyện Dịch Nha làm thịt con trai của mình làm món ăn dâng vua để mua chức tước, mà nó đã trở thành một tập quán kéo dài từ cổ thời cho tới đầu thế kỷ XX. Đúng như vậy cũng dễ hiểu vì văn hóa tàu bắt nguồn từ văn hóa du mục. Dân du mục sống không rời lưng ngựa thì làm sao có thể canh tác để có ngũ cốc làm thức ăn? Họ ăn thịt nhờ săn bắn trên đường đi hoặc lúc hạ trại. Khi bức bách như không săn bắn được thì ăn thịt nô lệ vừa chiếm đoạt được.
Nên người Tàu ăn thịt người với nhiều lý do như ăn vì muốn thưởng thức hương vị lạ, ăn để chữa bệnh, ăn để cứu đói, ăn kẻ thù để trả thù, ăn theo tập quán văn hóa và ý hệ.
Theo truyện của Youyang, một vị tướng tàu của triều đại Tang nổi tiếng vì ông ăn mọi thứ, không từ thứ gì hết. Ông xác nhận “Không có gì là không ăn được. Điều quan trọng là cách chế biến thành món ăn, nghệ thuật nêm nếm”.
Vậy ông cũng ăn luôn thịt người à?
Theo nhà nghiên cứu về nhân chủng học người Đài Loan, ông Fu-shih, tự là Lin Ling, thì “Kinh nghiệm ăn thịt người của người Tàu dĩ nhiên là phong phú nhất thế giới”. Học giả về Tàu, người Pháp, ông Robert des Rotours (1891- 1980), trong một bài viết của ông “Vài ghi chú về nhân chủng học ở Tàu”, ông nói việc người Tàu ăn thịt người nhằm bốn mục đích chính: để sống còn trong thời kỳ nạn đói hoành hành, ăn để trả thù, ăn để thỏa mãn khẩu vị và sau hết, ăn để chữa bệnh hoặc bồi bổ. Điều đáng chú ý là họ ăn thịt người, mà phải là người còn sống và mạnh khỏe.
Sau khi nghiên cứu kỷ lịch sử tàu, Giáo sư Key Ray Chong cho biết thêm ở thế kỷ XX, người Tàu ăn thịt người còn vì lý do ý thức hệ nữa.
Sau cùng, theo Huang Wenxiong, Zhongguo, sau khi tổng kết lại các tài liệu nghiên cứu về tập quán ăn thịt người của người Tàu, thì đúng là không ngoài những mục đích đã nêu như trên đây: khoái khẩu, chữa bệnh, ăn để sống qua nạn đói, ăn để trả thù và ăn vì mục đích lý tưởng (Solange Cruveillé, La consommation de chair humaine en Chine – Les raisons d’un cannibalisme subi ou choisi, journals.openedition.org/ideo, Impressions d’Extreme- Orient).
Ăn thịt người là một vấn đề nhạy cảm ở Tàu nơi nó đã phổ biến từ thời Đại nhảy vọt cho tới cuối những năm 50, giai đoạn thảm hại của chế độ Mao. Nhưng rùng rợn hơn là vào thời Cách mạng Văn hóa (1966-1976), cán bộ cộng sản ăn thịt kẻ thù của cách mạng.
Ở Tàu, cho tới ngày nay, người ta không chỉ ăn thịt người mà còn bắt người để làm thịt bán nữa. Cảnh sát ở Tây-Nam nước Tàu bắt được một người đàn ông đã giết làm thịt cả hai mươi thanh niên trẻ tuổi. Anh ta xẻ thịt đem bày bán ở chợ làng, nói là thịt chim đà điểu. Phần còn lại là loại thịt không ngon, anh ta để dành nuôi chó. Sau đó không biết anh ta có làm thịt chó bán nữa hoặc để ăn hay không?
Vụ việc này bị cảnh sát phát giác, thế mà hai tuần sau, báo chí và các mạng internet ở Tàu đều không có một tiếng nói. Người ta biết được nhờ báo ở Hồng Kông tố cáo.
Trên Sina Weibo cũng không thấy có một lời phê bình nào về vụ bán thịt người này khi bị tố cáo. Có tìm trên mạng qua từ khóa “Yunnan” và “mất tích” hay “làm thịt bán” thì cũng không thây gì khác hơn. Thông thường một vấn đề về chính trị nhạy cảm thì mọi thông tin bất lợi cho chế độ, tuy có nói sự thật, đều bị cấm phổ biến (AFP, 22/05/2012)
Với người Tàu mà người Cộng sản Tàu còn bắt đem bán, bắt làm thịt ăn, bắt làm thịt đem ra chợ làng bán, thì mai này, Việt Nam trở thành khu tự trị của họ, tức một thứ quốc gia hạng hai, thì chắc chắn, họ sẽ không cần bắt trẻ con Tàu bán, bắt thanh niên làm thịt ăn, làm thịt bán nữa, mà bắt dân Việt Nam để thay đổi mặt hàng, thay đổi khẩu vị. Ít ra cũng đậm đà mùi nước mắm!
Trước thực tế đất nước nguy ngập như vậy, chẳng lẽ chỉ mới có Thầy giáo LHD ở Sài Gòn biết sợ:
“Hỡi tất cả 90 triệu người Việt Nam! 
Hỡi toàn thể cộng đồng người Việt hải ngoại! 
không còn là chuyện viển vông 
cái ngày đáng sợ ấy 
đang sờ sờ trước mắt 
bằng Hội Nghị Thành Đô 
Đảng Cộng Sản đã cam tâm bán nước 
 
… 
 
nếu cứ “lửng lơ con cá vàng” 
cái ngày đáng sợ ấy… sẽ đến.
Sài Gòn, ngày 22 tháng 11 năm 2015
LHD, một Thầy giáo dạy Văn yêu nước.

CÁO PHÓ

CÁO PHÓ

Chúng tôi vô cùng đau đớn báo tin cùng thân bằng quyến thuộc và bạn hữu gần xa

Chồng, Cha, và Ông của chúng tôi là:

Ônh Đinh Mạnh Hùng

(cựu phó Đề Đốc Hải Quân VNCH)

Pháp Danh: Nguyên Tuế

Vừa thất lộc vào ngày 22 tháng 11 năm 2018

(nhằm ngày 15 tháng 10 năm Mậu-Tuất)

tại Fairfax, Virginia

Hưởng thọ 87 tuổi

Linh cửu được quàn tại

Fairfax Memorial Funeral Home –- 703-425-9702

9902 Braddock Road, Fairfax, Virginia 22032

Tang gia đồng kính báo

            Vợ:                              bà quả phụ Đinh Mạnh Hùng, nhủ danh Phan Thị Kim-Yến

Trưởng Nữ:               Đinh Thị Kim-Dung, chồng Vũ Đức Pháp (Maryland)

                                    Cháu Alexander và Christine

           Thứ Nữ:                     Đinh Thị Quỳnh-Liên, chồng Trần Nguyên Tuấn (Virginia)

                                    Cháu Khải (Aaron) và Lộc (Michael)

     Trưởng Nam:            Đinh Quang Minh, vợ Nguyễn Diễm Hương (Maryland)

                                    Cháu Caroline, Viviane và Audrey

    Thứ Nữ:                     Đinh Thị Quỳnh-Hương, chồng Jason Ellis (New York)

                                    Cháu Anya và Julian

Gia đình bà Phan Thị Kim-Yến, các con:

                                    Lê Nguyên Quang, vợ Michelle và các con

                                 Lê Nguyên Minh, vợ Angela và các con

                            Lê Nguyên Chính, vợ Venice và con

                                          Lê Nguyên Tường-Vi, chồng Gilbert và con

Cáo phó này thay thế thiệp tang – Xin miễn phúng điếu

CHƯƠNG TRÌNH TANG LỄ

Fairfax Memorial Funeral Home –- 703-425-9702

9902 Braddock Road, Fairfax, Virginia 22032

Thứ Bảy, ngày 1 tháng 12 năm 2018

10:00AM –8:00PM

Lễ Phát Tang

Gia đình và thân hữu thăm viếng

Nghi lễ cầu nguyện

Chủ Nhật, ngày 2 tháng 12 năm 2018

10:00AM –3:00PM

Gia đình và thân hữu thăm viếng

10:30AM – Nghi lễ truy điệu Hải Quân VNCH

11:30PM – Gia đình và thân hữu nói lời tiễn biệt

2:00PM – Lễ Cầu Siêu

Lễ di quan và hỏa táng

Vô Ơn Bạc Nghĩa

Lời Cám Ơn – Nhạc Ngô Thụy Miên – Lời Hạ Đỏ Bích Phượng – SS: Trần Ngọc

Vô ơn bạc nghĩa

Huy Phương

Mùa Tạ Ơn, nhà nhà, người người nói chuyện báo ân đáp nghĩa, chúc tụng nhau những lời chúc tốt đẹp, mà mình đi nói chuyện ngược đời, không biết bạn đọc có mở lòng tha thứ không?

Năm 1621, bữa tiệc tạ ơn đầu tiên được những người sống sót trên tàu May Flower tổ chức để cám ơn những người thổ dân da đỏ đã cưu mang và nuôi sống họ qua những ngày giá buốt, khó khăn đã trở thành một ngày lễ truyền thống của nước Mỹ về ý nghĩa của sự tạ ơn. Nhưng những điều ấy có nghĩa gì khi ngày nay chúng ta nhìn lại cộng đồng người da đỏ trên đất Bắc Mỹ đã bị diệt chủng như thế nào trong lịch sử!

Dưới ngọn đuốc “mọi người đều bình đẳng” chính phủ Mỹ đã không tôn trọng nguyên tắc này, sự xóa môi trường và chính sách tàn độc nhằm tiêu diệt, đồng hóa và tước đoạt quyền sở hữu đất đai của các bộ lạc người da đỏ có thể bị xem là tội ác lớn nhất của những con người “chịu ơn” trả cho những người mà họ “mang ơn”.

Vào đầu thế kỷ XIX người da đỏ bị tập trung vào những khu dành riêng cho họ gọi là “reservation”, chẳng qua là những trại tập trung. Trong đó người da đỏ buộc phải bỏ y phục dân tộc, cắt tóc ngắn, tập ăn muỗng nĩa, đặt tên lại theo cách của người da trắng, phải học tiếng Anh và Kinh Thánh. Những thói quen như dùng tên ná, đan lát đều được cấm tiệt. Chính phủ Mỹ cưỡng ép một nền giáo dục, gọi là “văn minh hóa” bằng cách dùng võ lực cưỡng ép trẻ da đỏ vào các trường nội trú.

Inline image
Sitting Bull (1831-1890) lãnh đạo bộ lạc Sioux. Encyclopedia.com

Năm 1832 sau khi thành lập các trại tập trung để cầm giữ người da đỏ, chính phủ Mỹ thành lập “Văn Phòng Ðặc Trách về người da đỏ” thi hành các luật lệ và phân phối thực phẩm cùng các nhu yếu phẩm khác cho các bộ lạc (có khác chi thời bao cấp, tem phiếu của VC). Chính quyền thi hành chính sách truyền đạo cưỡng bức để bắt người da đỏ sang đạo Cơ Ðốc. Không thành công thì chính phủ lại quay sang cấm tất cả việc cử hành các nghi thức tôn giáo cổ truyền và đưa ra tòa “tòa án xử tội phạm da đỏ” thành lập năm 1883, để xét xử bất cứ người da đỏ nào không tuân lệnh, cắt bỏ khẩu phần (kiểu 13 cân của VC trong các trại tập trung) và bị bỏ vào nhà giam (thời đó chắc chưa có “conex”!).

Vào ngày 29 tháng 12 năm 1890, khi các chiến sĩ của bộ lạc Sioux và gia đình khoảng ba trăm năm chục người đóng trại ở Wounded Knee Creek, ở South Dakota ngày nay, bị Trung đoàn Kỵ Binh số 7 bao vây ra lệnh phải giao nạp vũ khí. Trong không khí căng thẳng ấy, người ta nghe tiếng súng nổ và bắt đầu một cuộc thảm sát đẫm máu xảy ra, kỵ binh Mỹ bắn xối xả vào các chiến binh Sioux và gia đình gồm vợ con, cha mẹ của họ, làm cho 300 người da đỏ bị thương vong.

Ðến cuối những năm 1800 thì phần lớn đất đai của người da đỏ đã bị chiếm đoạt, vì chính phủ muốn chiếm đất của người da đỏ chia cho dân da trắng đến định cư. Một đạo luật mang tên: “General Allotment Act” năm 1887 cắt các khu đất đai mênh mông thành lô chia cho những người da đỏ, nhưng chính phủ Mỹ làm chủ nắm bằng khoán đất trong thời gian hai mươi lăm năm, sau đó cho phép chính phủ “mua lại” để phân phối cho dân da trắng đến định cư. Con cháu của những người trên con tàu May Flower ngày xưa đã chiếm đoạt đất đai và bóc lột đẩy người da đỏ bảo bọc cha ông họ ngày trước vào chỗ nghèo đói, văn hóa bị suy tàn và dần dà bị diệt chủng.

Sau người Mỹ hơn 100 năm, con cháu những người Anh đi trên 11 chiếc thuyền buồm mang theo 950 tù nhân nam nữ Anh quốc, đặt chân tại vùng đất phía Nam của nước Úc ngày nay đã đối xử với thổ dân Úc là những người chủ nhà, không khác người Mỹ đã đối với dân da đỏ. Một chính sách đồng hóa và tiêu diệt thổ dân khốc liệt đã được thi hành. Từ năm 1930 đến 1970, 500 nghìn trẻ em thổ dân đã bị tách khỏi gia đình khi còn rất nhỏ từ tay cha mẹ, có người chỉ mới mười tháng tuổi, và đem nuôi tại khoảng 500 cô nhi viện, nhà thờ hay các gia đình trên khắp nước Úc để xóa bỏ tên tuổi, văn hóa, cội nguồn của chúng. Hầu hết các em phải chịu đau đớn về tinh thần, bị đánh đập, đôi khi bị xâm phạm tình dục, lao động vất vả hay bị bỏ đói…

Inline image
Thổ dân Úc và vũ Khí “boomerang.” content.ngv.vic.gov.au

Ngày 16 tháng 11 năm 2008, Thủ Tướng Australia Kevin Rudd đã thay mặt chính phủ liên bang đọc lời xin lỗi gửi tới “Thế hệ những người Úc bị đánh cắp” (Australia’s Stolen Generation) về những “đau khổ, mất mát và dằn vặt” mà họ phải gánh chịu trong lịch sử, thừa nhận sự ngược đãi đối với khoảng người từng sống trong các trại trẻ mồ côi trên khắp nước này trong suốt nửa thế kỷ qua.

Không phải ai cũng dốc lòng nghĩ đến ân huệ cho những người đã ra ơn, giúp đỡ, mà trong nhiều hoàn cảnh người mang ơn đã có thái độ phản trắc nhắm ngay những ân nhân của mình. Trong phong trào cải cách ruộng đất năm 1949 tại Bắc Việt, biết bao nhiêu những đứa con nuôi, kẻ ăn người ở, khi đói rét, thiếu ăn được những người phú nông cưu mang trở lại đấu tố, lên án đem lại cái chết cho hơn 15,000 người. Ðiển hình cho sự “vô ơn bạc nghĩa” của những người Cộng Sản là bản án tử hình dành cho bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Thanh Long ở Hà Nội, mẹ nuôi của Lê Ðức Thọ, Phạm Văn Ðồng và Trường Chinh, có con trai một là trung đoàn trưởng một trung đoàn của quân đội CS Bắc Việt. Trong Tuần Lễ Vàng, gia đình bà cũng đã hiến 100 lượng vàng cho chính quyền mới thành lập.

Inline image

Mẹ và huân chương!

Chịu sự vô ơn, ai cho bằng những bà mẹ đào hầm nuôi quân, che chở, nuôi ăn, liên lạc cho những cán bộ nằm vùng xưa kia, ngày nay đã trở thành những bà mẹ “dân oan” nghèo đói, bị cướp đất, cơm đùm gạo bới đi hằng trăm cây số gặp những đứa “mẹ mẹ, con con” ngày xưa, để khiếu kiện, kêu oan. Mới đây trong một vụ án “vu khống, mạ lỵ” xảy ra trong cộng đồng người Việt tại Austin Texas, thiên hạ rất đỗi ngạc nhiên khi biết nạn nhân bị vu khống mạ lỵ lại là người đã kiếm việc làm, cho mượn tiền “down” và đứng “co-sign” mua nhà cho kẻ chịu ơn, và con người phản phúc, vô ơn này đã trở lại vu khống, mạ lỵ ngay ân nhân của mình.

Thế giới này biết bao nhiêu kẻ đã chịu ơn người, bao nhiêu người đã ra ơn cho kẻ khác. Người ban ơn đôi khi đã quên, người chịu ơn ít người còn nhớ đến ai đã giúp đỡ mình. Nhưng ít ra đã làm người, không trả ơn thì cũng đừng như quân vô ơn phản trắc, bội bạc!

Huy Phương

nguồn: trenews.com

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa:

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa:

Ngày còn chinh chiến:
Miền Bắc Miền Nam 1975:

‘Hiểu thêm’ về thế hệ người lính VNCH

Những năm gần đây bắt đầu xuất hiện những nhà nghiên cứu trẻ nước ngoài gốc Việt thành danh với các công trình liên quan đến gốc rễ Việt Nam của họ.
 

Inline imageHình minh họa

 

Tại Mỹ, nơi tập trung cộng đồng Việt kiều, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Việt nhận giải văn học Pulitzer năm 2015 cho tiểu thuyết The Sympathizer. Một người khác cũng ở Mỹ, Tiến sĩ Nguyễn Liên Hằng, được giải Stuart L. Bernath của Hội Sử gia Quan hệ Ngoại giao Hoa Kỳ năm 2013 nhờ cuốn Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Vietnam.

Úc, với số người gốc Việt ước tính hơn 233.000 người, cũng chứng kiến sự xuất hiện của một số người lớn lên ở đây nhưng muốn viết về Việt Nam.

Một mảng được họ quan tâm là tiếng nói của thế hệ phi cộng sản trong chiến tranh ở miền Nam Việt Nam.

Trải nghiệm từ cha mẹ

Cuốn sách gần đây, South Vietnamese Soldiers: Memories of the Vietnam War and After (in năm 2016), là một nỗ lực như vậy của Tiến sĩ Nathalie Huynh Chau Nguyen, dạy tại Đại học Monash, Úc.

Cuốn sách bắt đầu từ dự án nghiên cứu của tác giả về các cựu binh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), chủ yếu định cư ở Úc, gồm tổng cộng 54 cuộc phỏng vấn.

Những cựu binh được phỏng vấn, người già nhất sinh năm 1917 và trẻ nhất 1955, kể lại cuộc đời họ.

Như tác giả cho hay, quan niệm của chính bà về cuộc chiến chịu ảnh hưởng từ trải nghiệm của cha mẹ.

Bản thân cha của tác giả, Nguyễn Triệu Đan, là Đại sứ cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa ở Nhật Bản (1974-75). Người cha rời miền Bắc Việt Nam năm 1950, mang theo bộ gia phả chữ Hán do người ông soạn, tiếp tục truyền thống học tập của gia đình.

Lấy bằng tiến sĩ luật ở Pháp, ông Đan trở thành nhà ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa, tham dự phái đoàn VNCH tại Hội Nghị Paris dẵn tới Hiệp định 1973.

Sau ngày 30/4/1975, gia đình tị nạn ở Melbourne, Úc.

Bà Nathalie Nguyễn từng gợi ý để cha viết lại hồi ký, nhưng ông không làm vì cảm thấy chủ đề còn quá đau đớn khi nhắc lại.

Nhưng bà Nathalie Nguyễn, sau khi nhận bằng tiến sĩ ở Đại học Oxford, vẫn băn khoăn khi giới viết sử hầu như bỏ qua trải nghiệm của người lính và thường dân miền Nam trong cuộc chiến kết thúc năm 1975.

Inline image

Quân nhân Quân lực VNCH trong ảnh chụp năm 1968
 

Nữ quân nhân

Qua các câu chuyện cá nhân, cuốn South Vietnamese Soldiers như một lược sử về những người lính Việt Nam, bắt đầu từ thời tuổi trẻ đến khi họ tìm đường sang Úc.

Tác giả nhắc lại rằng Nam Việt Nam mất hơn 254.000 người lính trong cuộc chiến, với số người bị thương khoảng hơn 783.000.

Một chương sách dành để nói về Đoàn Nữ Quân Nhân Quân lực VNCH, một đối tượng ít khi được nhắc tới.

Image result for hình ảnh nữ quân nhân vnchInline image

Vào lúc kết cuộc năm 1975, có khoảng 6.000 phụ nữ phục vụ trong Đoàn Nữ Quân Nhân. Miền Nam sụp đổ là “vết sẹo” lớn nhất trong cuộc đời nhiều phụ nữ này.

Một người phụ nữ kể về giai đoạn hậu chiến là “thời gian tuyệt vọng”. Bà chạy sang Campuchia mang theo con trai, ở đó suốt năm năm để có thể sang trại tị nạn ở Thái Lan rồi sang Úc năm 1990.

Inline imageImage result for hình ảnh nữ quân nhân vnch

Sau này, cũng người phụ nữ này quay về Việt Nam mỗi năm để giúp đỡ những thương phế binh VNCH.

Con trai bà hỏi sao mẹ cứ về Việt Nam, và “hãy quên đi những kỷ niệm đau thương”.

Nhưng bà nói: “Nỗi đau mới làm mình biết nhớ.”

Úc công nhận cựu binh VNCH

Qua sách, người đọc biết thêm rằng từ 1980, Úc có chế độ công nhận cựu binh của các đồng minh qua việc cấp cho họ lương hưu. Chính sách ra đời từ nhu cầu đáp ứng cho các cựu binh thời Thế chiến Hai, nhưng cũng áp dụng cho các xung đột sau này như Chiến tranh Việt Nam.

Lính Úc tham chiến tại Nam Việt Nam từ 1965Inline image
Lính Úc tham chiến tại Nam Việt Nam từ 1965

Với nhiều cựu binh VNCH, việc nộp đơn xin chính phủ Úc công nhận là cựu binh đồng minh không chỉ để có tiền hưu, mà quan trọng hơn, để tự hào rằng họ được công nhận trong danh dự.

Quân VNCHInline image
Quân lực VNCH trong một lần hành quân – ảnh do ông Hoàng Cơ Lân ở Paris cung cấp Việc Úc công nhận cựu binh VNCH cũng giúp những người này có chỗ đứng trong lịch sử di dân và chiến tranh của Úc, giúp họ hòa nhập với cộng đồng cựu binh Úc.

Một cựu binh chỉ ra rằng ngay tại Mỹ, không có mức độ công nhận cựu binh VNCH nhiều như tại Úc.

Chính sách của Úc đã cho những người lính VNCH có được diễn đàn, tạo cho họ cơ hội đóng góp và tham gia những dịp Úc kỷ niệm cuộc chiến Việt Nam.

Những nghiên cứu tiếng Anh nổi bật về Việt Nam Cộng Hòa gần đây chủ yếu tập trung vào chính thể Tổng thống Ngô Đình Diệm (1955-63). Một phần lý do là sự mở cửa ngày càng cởi mở của các kho tư liệu về giai đoạn này ở Việt Nam.

Cuốn sách của bà Nathalie Huynh Chau Nguyen là một nỗ lực khác, và bà nói việc người ta cố “xóa sổ VNCH” khỏi cả lịch sử Việt Nam và ngành viết sử về chiến tranh đã là động lực cho nghiên cứu của bà.

nguồn: BBC