Vũ Thất

Bảo Bình 1

Gia đình ‘Mẹ Nấm’ đến Mỹ

Gia đình ‘Mẹ Nấm’ đến Mỹ

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, một trong những người bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất của Việt Nam, đã đến Houston vào cuối ngày thứ Tư. Trước đó trong ngày, bà ra khỏi một nhà tù Việt Nam, nơi bà đang thụ án 10 năm tù vì bị cáo buộc ‘tuyên truyền chống nhà nước’. 

Quỳnh đã bị bắt vì đăng những bài viêt mà công an mô tả như là các bản tin chống nhà nước, kể cả một bản tin về thường dân chết khi bị công an bắt giữ.

Quỳnh là người bất đồng chính kiến thứ hai được trả tự do trong năm nay. Luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài được thả ra khỏi nhà tù hồi tháng Sáu và đã đến Đức.

Theo Nicholas Bequelin, giám đốc khu vực phía đông và đông nam châu Á của Tổ chức nhân quyền Amnesty International thì những bản tin loại này cũng là những lời nhắc nhở về hồ sơ nhân quyền đáng xấu hổ của nước CHXHCN Việt Nam đã đang tiếp tục tống giam bất kỳ nhân vật nào chỉ trích chế độ độc đảng ở đây. Ông nói thêm rằng có hơn 100 người đã bị bỏ tù vì họ đã vận động một cách hòa bình, dù ở nơi công cộng, trên blog hay trên Facebook.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho biết Việt Nam đã dùng một chiến lược đàn áp chính trị, bắt giữ các người hoạt động vì những cáo buộc “không có thật”, giam giữ họ trong thời gian dài và sau đó đưa ra con bài “tự do đi sống lưu vong” và tuyên bố là đã trả tự do cho những người tù. (Tin DCVOnline).

Houston chào đón Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh

Chuyến bay EVA-52 cất cánh từ Taipei đã đáp xuống phi trường quốc tế Houston vào lúc 11 giờ khuya. Dù đã muộn, thời tiết trở mùa, mưa phùn lạnh, nhưng đã có khoảng hơn 100 đồng hương Việt Nam đã có mặt để chào đón blogger Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, mẹ và hai con đến Hoa Kỳ sau 2 năm lao tù cộng sản.

Liên lạc với Mẹ Nấm đang ở trong Gate D5 thì Mẹ Nấm cho biết mọi người trong gia đình đều rất vui mặc dù khá mệt. Nhất là đối với Mẹ Nấm thì cuộc hành trình đã bắt đầu vào 6:30 sáng ngày 17.10.2018 từ trại giam số 5 Thanh Hoá, đến thẳng phi trường Nội Bài, quá cảnh 6 giờ tại Taipei và đến Houston 11 giờ khuya. Tổng cộng gần 29 tiếng đồng hồ.

Theo Danlambao

Đụng Độ Ngôn Ngữ

Đụng Độ Ngôn Ngữ

  • Dân Việt
  • Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ. Ông sanh năm 1962, sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn. Sang Mỹ năm 2006, hiện cư ngụ tại Quận Cam Nam Cali. Đã làm nhiều nghề để sinh sống. Hiện nay là nhà báo tự do.

Ngôn ngữ là phương tiện để liên lạc, kết nối giữa người với người. Nhưng cũng có khi, ngôn ngữ làm cho con người trở nên ngăn cách, xa nhau hơn. Chuyện “đụng độ” giữa tiếng Việt trong nước và tiếng Việt ngoài nước là một ví dụ.

Một số đông người Việt ở hải ngoại không chấp nhận một số từ ngữ người trong nước hiện nay đang dùng. Thí dụ như “Hãy vô tư đi!” Hay là “bữa tiệc hôm nay hoành tráng thật!” Những người mới sang Mỹ định cư  khi bị người ở lâu hơn bắt bẻ hoài, đâm cáu! Đã có người xẵng giọng: “Tại sao lại cấm tui ‘vô tư’ nói rằng ‘bữa tiệc này hoành tráng’? Xứ sở này tự do ngôn luận mà!”

Nhớ lại, hồi mới qua Mỹ, tôi cũng đã bị chỉnh một số từ ngữ. Cũng đã từng nổi “cơn tự ái”, nghĩ rằng người bên này “quá khích” khi bắt bẻ thói quen sử dụng ngôn ngữ của người khác. Nhưng rồi sau một thời gian, chính tôi cũng thấy là mình nên thay đổi cách sử dụng phải xét lại một số từ ngữ trong nước.

Là người đã học trung học đệ nhất cấp trước 1975, ở lại trong nước hơn 30 năm, và ở Mỹ được hơn 10 năm. Xét ra, thời gian “ở với cộng sản” còn lâu hơn thời gian trước 1975 và ở Mỹ cộng lại.

Thực ra, chuyện phê bình “tiếng Việt trong nước” đã xảy ra ngay trong nước từ lâu rồi. Tôi nhớ ngay sau 1975,  phải học “5 điều bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng”, trong đó có “học tập tốt, lao động tốt”. Tôi tự nghĩ, thầy cô mình ở tiểu học vẫn dạy “tốt” là tĩnh từ, dùng để bổ nghĩa cho danh từ. Ở đây “học tập” và “lao động” là động từ, mà dùng chữ “tốt” thì nghe cũng lạ tai.

Người đầu tiên nói với tôi về cách sử dụng từ ngữ sau 1975 ở Việt Nam là nhà báo Trần Đại Lộc, hồi anh mới đi tù cải tạo về năm 1978. Anh Lộc là một giáo sư dạy triết bậc trung học trước 1975. Là một người Nam hiền hòa, nhưng khi anh kể chuyện mấy anh cán bộ trong trại cải tạo dùng từ “đao to búa lớn” một cách bừa bãi, thì giọng anh khá châm biếm, chua chát. Một công ty tính toán lãi lỗ thì cán bộ nói là “hạch toán kinh tế độc lập”. Một người bị nhức đầu thì cán bộ y tế ghi toa là “chấn thương hệ thần kinh sọ não”, và rồi cho uống… xuyên tâm liên! Anh Lộc nói cách dùng từ kiểu này là “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”.

Trở lại với chuyện sử dụng từ ngữ trong nước ở bên xứ Mỹ. Ngôn ngữ còn được gọi là “sinh ngữ”, bởi vì nó giống như một thực thể sống. Nó cũng có quá trình sinh-trụ-hoại-diệt giống như muôn loài. Nó thay đổi liên tục, có khi tốt hơn, có khi xấu hơn. Một giáo sư có bằng cao học về ngôn ngữ cho biết người Pháp sử dụng cả Viện Hàn Lâm Pháp để tìm cách chống lại ảnh hưởng của tiếng Anh. Họ tìm cách thuyết phục cả nhà văn Pháp nên sử dụng tiếng Pháp thuần túy. Nhưng họ đã thất bại. Tiếng Pháp, cũng như bao ngôn ngữ khác, vẫn pha trộn với những ngôn ngữ khác, vì sự tương tác giữa các nền văn hóa là không thể cưỡng lại trong thế giới phẳng ngày nay. Người Mỹ “Hợp Chủng Quốc” dường như phóng khoáng hơn, không cứng nhắc với một thứ “tiếng Mỹ tiêu chuẩn”. Khi có số đông chấp nhận, thì từ ngữ đó trở thành tiếng Mỹ chính thức.

Có thể cũng từ góc nhìn này, các chương trình tiếng Việt của VOA, BBC, RFI khi nói cũng như viết, thường dùng kiểu ngôn ngữ trong nước, vì nó có tới hơn 90 triệu người sử dụng.

Trở lại trường hợp cá nhân tôi. Sau khi sang Mỹ gần 2 năm, tôi được kêu vào làm cộng tác viên của một tờ báo tiếng Việt ở vùng Bolsa. Ngày đầu tiên vào  để phỏng vấn, vị chủ bút hỏi tôi ở Mỹ được bao lâu? Anh ta cho rằng phải ở Mỹ đủ lâu để suy nghĩ, sử dụng ngôn ngữ giống với người bên này. Bởi vì nếu dùng từ ngữ theo kiểu trong nước, nhà báo sẽ dễ bị “ném đá”! Sau này nghiệm lại, tôi thấy lời khuyên này rất đúng, và đúng không chỉ riêng cho nghề báo. Văn hóa, xã hội ở Việt Nam khác với ở Mỹ một trời một vực. Nếu suy nghĩ, ăn nói hành xử theo thói quen ở Việt Nam, thì dễõ gặp khó khăn, thất bại không chỉ với báo chí, mà cả với các nhà kinh doanh, chính trị, giáo dục…

Sau vài năm sinh hoạt với cộng đồng người Việt ở Mỹ, khi tham dự những buổi hội họp của các đoàn thể cộng đồng như hướng đạo, hội đồng hương, hội cựu học sinh… tôi nhận ra rất nhiều người điều hợp đã sử dụng một thứ ngôn ngữ Việt chuẩn mực, nghe thích vô cùng. Thứ ngôn ngữ mà tôi đã từng quen thuộc thời còn học tiểu học trước 1975, từ ông bà, cha mẹ. Nhưng rồi sau đó, nó dần dần bị bỏ quên trong nước.. Ra hải ngoại, tôi bắt đầu nhận ra nó trở lại. Và cũng từ đó, tôi mới thấy mình không đúng khi trước đây “nổi cơn tự ái” vì bị bắt bẻ về một số từ ngữ. Tôi chú tâm đi tìm hiểu nhiều hơn nguyên do dẫn đến sự khác biệt giữa “tiếng Việt trong nước” và “tiếng Việt hải ngoại”.

Phân tích về ngôn ngữ là một đề tài mênh mông và đòi hỏi chuyên môn. Bài viết này chỉ là những chia sẻ trong giới hạn của một người bình thường.

Điều đầu tiên, ngôn ngữ thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh sống. Có những thứ trước 1975 không có, hoặc chỉ có ở Mỹ mà chưa có ở Việt Nam. Từ đó  mà đẻ ra từ ngữ mới. Một thí dụ rất hay cho trường hợp này là nhóm từ “cà thẻ”. Đây chắc chắn là một từ do người Việt sinh sống ở hải ngoại đẻ ra. Trước 1975 không có “thẻ”(tín dụng) để mà “cà”. Còn người Việt trong nước thì phải vài chục năm sau 1975 mới quen với khái niệm này. Cả người trong nước lẫn hải ngoại đều dùng từ mới “cà thẻ” một cách hết sức tự nhiên, không ai tranh cãi.

Một thí dụ khác là những từ ngữ kỹ thuật sử dụng trong ngành công nghệ thông tin, máy tính. Trước 1975 ngành công nghệ này còn phôi thai, chỉ mới bùng nổ vài thập niên cuối thế kỷ 20. Rất nhiều từ mới trong nước đã xuất hiện, dịch theo các từ ngữ chuyên môn từ Tiếng Anh. Thí dụ như “software”, người trong nước dùng từ “phần mềm”, còn ở hải ngoại dùng từ “nhu liệu”. Một tiếng Việt, còn một là từ Hán-Việt. Sự khác nhau không đáng kể.

Trường hợp thứ hai, ngôn ngữ khác nhau do thói quen sử dụng. Đây có lẽ là nguồn gốc lớn nhất của sự khác biệt giữa từ ngữ trong nước và hải ngoại. Sau 1975, Việt Nam chìm trong bức màn sắt. Những người thoát ra ngoài nhờ di tản, vượt biên, đoàn tụ… có rất ít thông tin những gì xảy ra trong nước. Đến thập niên 90 thời mở cửa, sự liên lạc giữa người trong và ngoài nước mới trở nên dễ dàng hơn. Và sự khác biệt về nhiều mặt giữa người sống trong và ngoài nước bắt đầu được nhận diện, trong đó có vấn đề ngôn ngữ.

Một thí dụ cho trường hợp này là từ “hộ chiếu” của người trong nước, và từ “thông hành” có từ trước 1975 và được người hải ngoại tiếp tục sử dụng. Cả hai đều  có nghĩa là giấy cho phép người mang đi qua biên giới (tiếng Pháp: “passeport”, hay tiếng Anh “passport”) Hộ Chiếu hay Thông Hành đều là từ ngữ  gốc Hán- Việt, nhưng cũng khác nhau. “Thông Hành” là từ ngữ thời quốc gia. Còn “Hộ Chiếu”, theo trang Vienam Global network, chỉ có hai nước cộng sản là Việt Nam và Trung Cộng dùng từ “hộ chiếu”. Có thể coi, tuy khác nhau nhưng còn có nghĩa để hiểu được..

Tuy nhiên, nếu thói quen sử dụng do dùng sai nghĩa một từ, rồi cứ  lập đi lập lại và mặc nhiên cho là đúng, thì điều này cần xem xét lại. “Liên hệ” và “liên lạc” là thí dụ rõ nhất cho trường hợp này, và đã gây tranh cãi rất nhiều. Trước 1975 và ở hải ngoại, hai từ này phân biệt rõ ràng, và đúng theo nghĩa của cả từ Hán-Việt lẫn tiếng Anh. “Hệ” trong tự điển Hán Việt có nghĩa ràng buộc, có dính dáng, liên quan với nhau. “Liên hệ” được  dùng tương đương với từ “relation” bên tiếng Anh. Còn “liên lạc” có nghĩa là tiếp xúc, giao thiệp, tương đương với từ “contact” của tiếng Anh. Tuy nhiên, nếu tra tự điển trong nước ngày nay, thí dụ như www.tratu.soha.vn thì thấy “liên hệ” đồng nghĩa với “liên lạc”. “Liên hệ” bây giờ là sự lắp ghép hai từ “liên lạc” và “quan hệ” lại, rồi gán cho nó ý nghĩa là:  “tiếp xúc, trao đổi để đặt và giữ quan hệ với nhau”. Đây là một cách dùng từ mà giới lãnh đạo trong nước rất hay làm, do đó đã đẻ ra những từ đặc trưng của chế độ, như  “quan ngại” (quan tâm + lo ngại), nay đã trở thành câu nói đầu môi chót lưỡi của Bộ Ngoại Giao CSVN.

Việc cố tình đánh đồng nghĩa “liên hệ” và “liên lạc” như vậy đã tạo ra thói quen của người trong nước sử dụng chúng lẫn lộn với nhau. Nhưng nếu xét về nghĩa gốc, thì không thể nào “relation” và “contact” lại đồng nghĩa với nhau được.

Và có cần thiết phải làm như vậy không? Tại sao phải đơn giản hóa, xóa đi sự khác biệt rõ ràng về nghĩa của hai từ này. Tại sao phải thay đổi từ va ønghĩa của từ đã có từ lâu trong lịch sử tiếng Việt?

Có nhiều lý do. Có thể là do một người, một nhóm người nào đó trong giới lãnh đạo do ngu dốt hiểu không đúng nghĩa khi bắt đầu, rồi bắt cả xã hội dùng theo. Nhưng cũng có thể là do giới lãnh đạo CSVN cố tình muốn làm khác với ngôn ngữ truyền thống. Giả thiết này rất đáng tin cậy.

Những người đã từng sống ở Miền Nam sau 1975 đều nhận thấy sự bài xích, cố tình xóa bỏ đi nền văn hóa, giáo dục của chế độ Miền Nam là một chủ trương rõ rệt của chính quyền cộng sản. Làm “cách mạng triệt để” phải xóa đi tận gốc “tàn dư của nền văn hóa chế độ cũ”! Và điều này cũng xảy ra ở những quốc gia cộng sản khác như Liên Xô, Trung Cộng.

Không ai diễn tả ý đồ của các chế độ độc tài cộng sản khi đơn giản hóa ngôn ngữ chính xác hơn George Orwell, tác giả của Animal Farm, 1984. Khi nói về khái niệm Newspeak (ngôn ngữ mới), ông cho rằng các chế độ độc tài đơn giản hóa ngôn ngữ để triệt tiêu tư tưởng đối kháng. Ngôn ngữ được đơn giản hóa đến mức trần trụi, thô thiển, không cần văn hoa, cảm xúc, không có trí tưởng tượng. Con người không có tư tưởng, từ đó dễ trở thành một công cụ trong một guồng máy, dễ điều khiển, dễ sai khiến.

Để đơn giản hóa ngôn ngữ, chính quyền cộng sản sau 1975 đã đổi từ máy bay “trực thăng” thành máy bay “lên thẳng”. Áo ngực đổi thành “nịt vú”. Những bảng hiệu như “cửa hàng thịt thanh niên tươi sống” bắt đầu xuất hiện. Và tệ hại hơn nữa, vào năm 1978, họ đổi bảo sanh viện Từ Dũ ở Sài Gòn thành “xưởng đẻ Từ Dũ”!

Nói đến đây, vấn đề đã mở rộng hơn, không còn đơn thuần chỉ là “vấn đề ngôn ngữ”. Dù là người trong nước hay ở hải ngoại, đại đa số người Việt Nam đã nhận ra rằng đất nước mình từ hơn 60 năm qua đã được dẫn dắt bởi nhiều người lãnh đạo dốt nát, dối trá và tàn ác. Không bàn sâu về vấn đề chính trị, ở đây chỉ bàn đến khía cạnh họ đã hủy hoại con người, từ đó hủy hoại văn hóa, hủy hoại ngôn ngữ truyền thống trong cả xã hội Việt Nam như thế nào.

Đã tự bao giờ, người Việt trở thành quen thuộc, nhàm chán với sự dốt nát trong cách sử dụng ngôn ngữ của giới lãnh đạo? Đã tự bao giờ, vì đã “nghe quen”, người Việt bắt đầu dùng thường xuyên những từ ngữ thể hiện sự dốt nát của giới lãnh đạo lúc nào mà không hay? Dùng một từ sai văn phạm, lẫn lộn với nhiều nghĩa khác nhau là một biểu hiện của sự ngu dốt, lười suy nghĩ. Phải chăng có một cán bộ cao cấp nào đó bắt đầu dùng từ “xử lý” một cách tùy tiện, bừa bãi, để rồi dần dần động từ này được cả xã hội trong nước dùng cho mọi trường hợp: “xử lý” công việc, “xử lý” văn bản, “xử lý” nước thải, “xử lý” bài hát… Có mấy ai nhớ lại trong từng trường hợp, tiếng Việt ngày xưa đã từng có những động từ khác nhau để diễn đạt những ý tưởng khác nhau: chế biến nước thải, diễn cảm bài hát, giải quyết công việc…

Hai từ “vô tư” và “hoành tráng” cũng nằm trong trường hợp này. Có rất nhiều người trong nước, ban đầu cố tình sử dụng hai từ này sai chỗ để hàm ý diễu cợt. Nhưng rồi nói mãi, trở thành thói quen lúc nào không biết! Và dùng từ sai trong câu chuyện phiếm thì vẫn còn chấp nhận được. Nhưng viết từ với nghĩa sai trên bài luận văn, báo chí, nói ở những nơi chốn cần sử dụng ngôn ngữ Việt tiêu chuẩn như trong hội nghị ngoại giao thì đó là biểu hiện của sự xuống cấp văn hóa, ngôn ngữ của cả một xã hội.

Ngôn ngữ thể hiện sự dốt nát là vậy. Còn ngôn ngữ thể hiện cái ác của lãnh đạo?

Ngày nay, ở trong nước từ “máu” được sử dụng tùy tiện như di chứng của một thời đại “say máu quân thù” của Tố Hữu: “thằng này rất máu!”, “sao mà máu thế!”… Chẳng lẽ cách dùng từ “sắt máu” kiểu này trở thành ngôn ngữ Việt chính thống chỉ vì có nhiều người sử dụng?

Những người ở lại Việt Nam cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 vẫn còn nhớ hai tên gọi trái ngược nhau dành cho những người vượt biên: nếu vượt biên bị bắt, thì đó là “kẻ phản quốc”; nhưng nếu vượt biên trót lọt, thì đó là… “Việt kiều yêu nước”! Càng về sau, ở trong nước càng có nhiều từ thể hiện sự lươn lẹo của chính quyền. “Tàu lạ” là một từ chỉ có ở Việt Nam, và được sử dụng chính thức bởi quan chức, giới truyền thông báo chí, để né tránh gọi đích danh tàu Trung Quốc khi chúng tấn công ngư dân Việt. Và mới đây nhất, quan chức Bộ Giao Thông đã “sáng tạo” ra từ “trạm thu giá” để thay cho “trạm thu phí”, chỉ vì muốn hợp pháp hóa những trạm thu tiền của dân một cách vô tội vạ! Chẳng lẽ người Việt hải ngoại cũng phải chấp nhận dùng những từ ngữ đầy lươn lẹo như vậy, chỉ vì đa số người trong nước phải chấp nhận chúng?

Khi biết tôi định viết về đề tài này, một người bạn  khuyên rằng “Ấy chớ! Đề tài này rộng lắm, và gây tranh cãi dài dài…”. Tôi cũng biết vậy, và cũng biết mình không phải là một nhà ngôn ngữ học.

Trong phạm vi vài trang giấy, chỉ mong được chia sẻ, cảm thông giữa mọi người Việt Nam.

Từ sau ngày cả nước bị dìm trong bạo lực cộng sản,  cả xã hội xuống cấp về mọi mặt, từ kinh tế, chính trị cho đến giáo dục, văn hóa, đạo đức… Phải sống trong hoàn cảnh như vậy, chúng ta rất dễ bị nhiễm những thói quen xấu mà không hề hay biết, trong đó có thói quen về ngôn ngữ.

Khi sang đến một xứ sở văn minh như Mỹ, hầu hết chúng ta sẵn sàng từ bỏ những thói quen xấu trong một xã hội xuống cấp để hòa nhập vào xã hội mới, thí dụ như đi xe vượt đèn đỏ, không xếp hàng trật tự… Thói quen sử dụng ngôn ngữ cũng vậy. Hãy bình tâm nhận ra những từ ngữ xuất phát từ một xã hội mà sự gian dối, tàn ác, ngu dốt đang thắng thế và dần dần từ bỏ thói quen sử dụng chúng, giống như từ bỏ những thói quen xấu khác.

Để có thể dẹp bỏ tự ái, xin hãy quan niệm như thế này: thứ ngôn ngữ Việt Nam đẹp, chuẩn mực không phải là của riêng cộng đồng người Việt hải ngoại, hay của những người Việt sống ở Miền Nam trước 1975. Nó là di sản chung của dân tộc Việt Nam, đã có từ thuở xa xưa, qua những câu hò, tục ngữ, ca dao, qua Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo,  truyện Kiều của Nguyễn Du, rồi tiếp nối bởi thế hệ hiện đại như Tự Lực Văn Đoàn, Nhân Văn Giai Phẩm, Sáng Tạo… Mỗi người Việt dù ở trong nước hay ở hải ngoại đều có sẵn di sản văn hóa ngôn ngữ đó trong tâm hồn. Chỉ từ khi đất nước gặp kiếp nạn cộng sản, những di sản ngôn ngữ văn hóa đó mới bị xóa bỏ, lu mờ. Những người ra đi sớm hơn có may mắn không bị ảnh hưởng bởi một nền văn hóa do những người dốt nát làm hỏng. Họ chỉ là những người gìn giữ lại cái đẹp của văn hóa, ngôn ngữ do tổ tiên dân tộc Việt Nam để lại.

Vậy thì những người ra hải ngoại sau này cũng nên tự điều chỉnh, để rồi cùng tham gia vào một sứ mạng cao quí: gìn giữ tính Chân-Thiện- Mỹ của ngôn ngữ Việt Nam.

Hãy tưởng tượng hình ảnh một dòng sông đang trôi chảy. Bỗng dưng có kẻ ngăn sông, biến một khúc quành của dòng sông tạo thành một vũng ao tù. Không muốn dòng sông không chịu cảnh tù đọng, một nhóm người khác đã tự khơi một nhánh mới, để nối dòng sông tiếp tục trôi chảy, không qua khúc quành đã bị chận lại thành ao tù. Sau một thời gian, một số dòng nước từ ao bắt đầu tìm đường chảy về con sông xưa. Từ chốn ao tù ra sông, những dòng nước cảm thấy khác lạ khi hòa nhập. Nhưng vì dòng sông xưa nay vẫn cuồn cuộn chảy, cho nên những nước ao tù nhanh chóng hòa mình vào dòng nước tự do. Và một này nào đó, khi những con đập ngăn sông bị phá, cả khúc  ao tù sẽ có dịp lại hòa mình vào dòng chảy lịch sử.

Tôi muốn kết thúc bài viết này bằng cách mời mọi người hồi tưởng lại giọng hát của Thái Thanh qua một ca khúc bất hủ của Phạm Duy, nói về tình yêu đối với ngôn ngữ, con người, đất nước Việt Nam. Một tác phẩm văn hóa tuyệt đẹp, đã từng bị cấm đoán trong nước trong suốt ba thập kỷ:

Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!

Mẹ hiền ru những câu xa vời , À à ơi! Tiếng ru muôn đời

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!

Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi

Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!.

Dân Việt
nguồn: vietbao.com

Vài nét ký ức về Đỗ Mười

Đọc báo vẹm:

https://www.youtube.com/watch?v=vEy1_9zXGwI

Vài nét ký ức về Đỗ Mười

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Chúng tôi cũng một thời nghe về Đỗ Mười, sau 1975 đã dẫn đầu những cuộc đánh tư sản Miền Nam. Những âm mưu của bè lũ tư bản, tư sản đối với công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên cả nước ra sao và thành tích cũng như tài trí của Đỗ Mười như thế nào qua những chiến công đó.

Những câu chuyện đó qua báo chí, sách vở và truyền miệng đã đưa đến một hình ảnh lãnh đạo đất nước tài giỏi như Đỗ Mười khiến chúng tôi thấy thật hạnh phúc nếu được diện kiến.

Gặp Đỗ Mười

Điều choáng nhất đối với tôi đầu tiên khi động đến chính trị và các lãnh đạo đất nước, đó là sau khi vào Đại học Xây Dựng Hà Nội. Khi đó, Trường ĐHXD Hà Nội vẫn còn sơ tán ở Hương Canh, Vĩnh Phúc.

Một buổi chiều, tôi ra nhà ông Hoàng Xuân Liễn, là người quen của bố tôi khi học Đại học Bách khoa Hà Nội. Ông làm Trưởng phòng Giáo vụ nhà trường. Đến nhà ông chơi, tôi chăm chú đọc tờ báo Liên Xô Ngày Nay, một loại họa báo in đẹp, tuyên truyền về Liên Xô, thành trì của Cách mạng vô sản và là Anh Cả trong phe XHCN.

Trên tờ họa báo, có in một đoạn bút tích của Hồ Chí Minh khi đến viếng Lenin. Đọc mãi mà tôi không thể hiểu được ý của ông Hồ định viết cái gì. Câu văn thì lủng củng, ngữ pháp không rõ ràng, khó hiểu. Tôi hỏi ông Liễn:

  • Bác có biết Bác Hồ viết như thế này là ý nghĩa gì không?

Thật bất ngờ, ông trả lời tôi:

  • Vớ vẩn. Tay này viết ngớ ngẩn.

Tôi giật bắn mình và không dám hỏi gì thêm. Bởi khi đó, với thế hệ chúng tôi ở miền Bắc, nói về Hồ Chí Minh mà nói vậy là sự xúc phạm còn hơn phá Nhà thờ. Bởi phá nhà thờ là điều chúng tôi thường thấy khi đó.

Năm thứ 3 ở ĐHXD, chúng tôi đã chuyển về học ở Đồng Tâm, Hà Nội. Khi đó, Trường ĐHXD có đến mấy cơ sở, Đồng Tâm là một trong 3 nơi. Nơi đó như một vũng lầy, đường sá bẩn thỉu, ngõ hẹp quanh co, lớp học và Ký túc xá ở lẫn nhà dân.

Người dân ở đó trồng rau, trồng hành, mùi… đủ thứ. Đến khi họ tưới phân thì khỏi học, ngồi trong lớp học hoặc ký túc xá như ngồi trong nhà vệ sinh công cộng. Cơ sở vật chất của ĐHXD chẳng có gì ngoài mấy dãy nhà cấp 4. Nhếch nhác, bẩn thỉu và xô bồ và đói là những gì mà thời sinh viên chúng tôi được hưởng.

Năm 1984, Trường ĐHXD tổ chức Hội nghị Khoa học. Không có hội trường nên nhà trường mượn  Hội trường C2 Đại học Bách khoa Hà Nội để tổ chức.

Phó Thủ tướng Đỗ Mười đến dự hội nghị khoa học công nghệ trường Đại học Xây dựng Hà Nội năm 1984

Đến dự, có Đỗ Mười, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Chúng tôi nô nức vì lần đầu được gặp một nhà lãnh đạo đất nước.

Cả hội trường tập trung một lúc lâu thì ông đến. Công an thì gác trong gác ngoài hết sức đông đúc và nghiêm trọng, cẩn mật.

Là những người xây dựng, chúng ta phải chú ý đến Thủ đô, nâng nó lên, ao hồ lấp hết đi – Đỗ Mười

Đỗ Mười đến, lên bục phát biểu một hồi dài. Phong cách của ông là chém tay liên tục. Tôi ngồi dưới hội trường thấy ông nói chuyện, giọng khàn đực và chém tay lia lịa, không thể nhớ được nhiều. Nhưng tôi choáng khi nghe ông nói có những nội dung mà tôi không nghĩ là người như ông lại nói thế. Tôi chỉ nhớ mấy ý như sau:

  • Tôi nhận được lời mời đến Đại học Xây dựng dự Hội nghị, mà tìm mãi không biết nó ở chỗ nào, mãi mới biết là mượn Hội  trường của Bách Khoa. Các đồng chí được nhà nước giao cho trấn giữ ở phía Nam thủ đô, phải xây dựng cao lên, không chỉ năm, bảy tầng mà là mười tầng hoặc cao hơn nữa.

Ông Hiệu trưởng nhà trường mừng rỡ vì những lời này, cả hội trường yên chí rằng trường mình chắc sẽ được đầu tư đẹp hơn, tốt hơn.

Ông lại chém tay nói tiếp:

  • Đảng và nhà nước hết sức quan tâm đến lĩnh vực xây dựng. Các đồng chí thấy vừa qua Hà Nội mới mưa một trận đã ngập lụt khủng khiếp như thế chưa. Là những người xây dựng, chúng ta phải chú ý đến Thủ đô, nâng nó lên, ao hồ lấp hết đi.

Cả hội trường cười như vỡ chợ. Là Bộ trưởng Xây dựng một thời gian dài, chẳng lẽ ông không biết rằng lấp ao hồ đi thì ngập lụt sẽ càng tăng lên? Quả thật là sau đó, Hà Nội thi nhau lấp ao hồ thật và ngập lụt lại cứ triền miên như hiện nay.

Điều thứ hai ông nói về đội ngũ trí thức Việt Nam, lại làm tôi chú ý. Ông nói:

  • Chúng ta có đội ngũ trí thức hết sức đáng quý. Tình hình hiện nay là rất khó khăn. Các đồng chí tưởng tôi là Phó thủ tướng chính phủ là sung sướng lắm à? Suốt ngày đi ăn xin, xin lương thực, xin viện trợ.

Cả hội trường lại cười nhưng những tiếng cười khác trước. Có lẽ là cái cười đau khổ nhất của một tập thể mà tôi thấy. Đỗ Mười nói tiếp:

  • Anh Trường Chinh nói rằng, các Giáo sư, tiến sĩ của ta lương chỉ đủ sống có 15 ngày. Nhưng tôi tính thì chỉ đủ 7 ngày. Còn lại thì chúng ta nuôi lợn, chúng ta đi rửa bát thuê cho hàng phở, chúng ta trồng rau, tự túc lương thực để nghiên cứu khoa học. Thế đấy, chúng ta có đội ngũ khoa học, trí thức đáng quý như thế đấy. Nó như thép đã tôi, tôi đi rồi tôi lại.

Lại một lần nữa, hội trường cười như chưa từng được cười. Dưới hội trường xầm xì: Trí thức mà cứ phải đi rửa bát thì làm sao còn có thể nghiên cứu khoa với chả học? Đói bỏ mẹ lo ăn chưa xong lại còn nghiên với cứu? Tôi thép chỉ tôi một lần chứ ai tôi đi rồi tôi lại…

Cả hội trường cứ râm ran và cười. Đỗ Mười thấy vậy cứ tưởng phía dưới hưởng ứng càng chém tay mạnh hơn.

Chợt Huỳnh Ngựa, một anh bạn cùng lớp đứng bật dậy đi ra. Hắn ra đến hiên nhà vừa đi vừa chửi: “Đm, chẳng có tướng mạo con c. gì”. Chúng tôi lại choáng vì công an cả đàn cả lũ đang đứng gần đó nhìn theo. Có lẽ anh ta cũng như chúng tôi đã gặp con người thực tế của một lãnh đạo đất nước không như những gì chúng tôi đã được nghe, được tuyên truyền xưa nay nên anh ta thất vọng.

Lần gặp trực tiếp Đỗ Mười ấy, đã làm xáo trộn trong tôi về hình ảnh một lãnh đạo đất nước không như tôi nghĩ, không như tôi nghe, cũng tầm thường và thiếu hiểu biết chứ không như những ông Thánh trong chuyện cổ tích chúng tôi vẫn được tuyên truyền.

Khi tôi về công tác tại Viện Thiết kế Bộ Giao thông, thỉnh thoảng chúng tôi được nghe về những câu chuyện của các lãnh đạo quốc gia bởi những người đã gặp, những câu chuyện họ đã nghe. Những câu chuyện về đời thực của các lãnh đạo, đều như những câu chuyện phản động nào đó, ít ai dám nói công khai.

Một lần, nói đến những nhà lãnh đạo, một chị trong phòng kể:

Ông chồng chị, một lần đi công tác với Đỗ Mười, về nhà thấy thì thầm với chị: Đúng là tay Đỗ Mười này ăn nói cục súc thật, như thằng ngoài chợ. Chị hỏi chuyện gì, ông kể rằng hôm nay, đi cả đoàn cùng với Đỗ Mười thăm Nhà máy Dệt Nam Định. Đến chỗ dệt, có một bộ phận cuốn sợi hay chỉ gì đó ông cũng không rõ, Đỗ Mười hỏi: Đây là cái gì thế? Sau khi được giải thích đây là bộ phận nọ kia trong quá trình dệt vải. Đỗ Mười nói một câu: “Nhìn như cái l. đàn bà ấy’. Cả đoàn choáng và ông cũng choáng về cách ăn nói của lãnh đạo đảng và nhà nước trước cả đoàn cán bộ cao cấp.

Ông Kiến trúc sư kể lại: Hồi tôi thiết kế phương án Trụ đầu cầu Thăng Long, sau khi thiết kế xong thì phải đến thông qua Đỗ Mười, nhưng không thể gặp ban ngày mà người ta bố trí buổi tối gặp ông ấy tại nhà. Chúng tôi đến quần áo chĩnh chiện nghiêm trang như đi hội nghị. Đến nhà, ông ấy bận một bộ quần áo ngủ tiếp khách. Ngồi nghe chúng tôi trình bày phương án xong ông phán mấy câu: Phải hiện đại, phải dân tộc, phải đáp ứng yêu cầu nọ kia của tình hữu nghị Việt – Xô… nghe xong chúng tôi ra về mà không hiểu cần làm như thế nào để đáp ứng tất cả những yêu cầu ấy. Chán.

Những câu chuyện tôi trực tiếp thấy và nghe về Đỗ Mười từ những con người cụ thể đã từng gặp là có thế. Sau này, khi mạng Internet đã vào Việt Nam, tôi mới hiểu hơn về thân thế, xuất thân cũng như những hành động, những mặt đằng sau của các lãnh đạo đất nước không như những lời mà hệ thống tuyên truyền đã bơm vào đầu cả dân tộc này bao nhiêu năm qua.

Tôi đã đọc Hồi Ký của Đoàn Duy Thành, hiểu rõ hơn về chân dung Đỗ Mười, về những kế hoạch tàn bạo, man rợ của tư duy cướp bóc bất chấp luật pháp và lẽ phải của ông ta trong những quyết định, những chỉ thị khi làm lãnh đạo. Tôi ấn tượng về câu chuyện khi ông đi từ Hà Nội xuống Hải Phòng, nhìn thấy ngôi nhà hai tầng của một thủy thủ tàu viễn dương bên đường, ông ta hỏi nhà thằng nào mà đẹp thế. Sau đó ông chỉ thị tịch thu tất cả những nhà cao tầng của bất cứ người dân nào để làm công sở, làm nhà trẻ không cần biết xuất xứ.

Tôi cũng thấy hiện lên qua đó, hình ảnh chân thực hơn về một trong những lãnh đạo xuất thân từ tầng lớp thất học và những hạn chế về kiến thức nhưng được giao quyền lực lớn đã để lại những hậu quả to lớn như thế nào đối với đất nước, dân tộc này.

Tôi cũng đọc nhiều về những việc làm, lời nói và cách lãnh đạo, bè phái trong đảng khi chọn người làm lãnh đạo đất nước như lời Đỗ Mười: “Nó lật tao thì tao lật nó”.

Và rồi hệ thống tuyên truyền với tư duy nói mãi thì sự dối trá cũng thành sự thật, tôi nghe một sư quốc doanh như Thích Thanh Hiền ca ngợi Đỗ Mười là “Bồ tát thị hiện” mà ngao ngán cho một tôn giáo đã bị lũng đoạn khủng khiếp như Phật giáo quốc doanh ngày nay.

Đặc biệt, tôi nhớ hình ảnh Đỗ Mười trong cái gọi là Hội nghị Thành Đô với Trung Cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam với bản mật ước mà đến nay đảng CSVN vẫn giấu diếm như một điều gì đó khủng khiếp dù nó liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc, của đất nước Việt Nam này. Người ta đồn đoán, người ta lên án sự bất minh đó.

Bởi thường những gì phải lén lút, giấu diếm một cách bất minh thì thường là sự bất chính.

Một đất nước, một dân tộc mà đưa sinh mạng, tương lai cũng như tất cả mọi thứ của cả trăm triệu con người giao vào tay một cái đảng với những lãnh đạo như thế này, thì tương lai sẽ về đâu?
Câu hỏi không khó trả lời cho lắm.

Hôm nay, Đỗ Mười đã trở về cát bụi như một quy luật tất yếu của tạo hóa. Liệu ông ta được xây lăng to, mộ lớn thì có làm yên lòng dân, có làm cho con cháu và họ hàng được tự hào?

Hãy nhìn những phản ứng của người dân trên mạng xã hội, ngoài quán nước và trong lòng dân thì sẽ hiểu.

Nhất là nếu là người tin có đời sống tâm linh thì liệu Đỗ Mười có được thanh thản nơi chín suối khi có thời gian để ngẫm lại những việc của mình đã từng làm trên đời này khi sống một kiếp người?

Nguyễn Hữu Vinh

nguồn: rfa.org

ĐỖ MƯỜI – DI SẢN TỘI ÁC

ĐỖ MƯỜI – DI SẢN TỘI ÁC

Cuối cùng thì Đỗ Mười, một trong những nhân vật cộng sản có ảnh hưởng nhất của Việt Nam đã qua đời, thọ 101 tuổi. Khi nhắc tới ông ta thì hầu hết người dân Việt Nam, nhất là miền Nam đều tưởng nhớ tới những sự kinh hoàng trong thời bao cấp. Di sản ông ta để lại là sự đau thương và tàn phá cho tới bây giờ vẫn còn được trông thấy.

Sau đây là những di sản tội ác của đồng chí này:

1. ĐÁNH TƯ SẢN – Sau khi đánh bại quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và chiếm miềm Nam, Đảng Cộng Sản ngay lập tức thực hiện chủ trương dẹp bỏ kinh tế tư nhân. Đỗ Mười, lúc đó là phó thủ tướng, được đảm nhận vai trò đánh tư sản với tên gọi bí mật là X3. Vào ngày 23/3/1978, chiến dịch đánh tư sản đã bắt đầu. Kết quả là gần như toàn bộ doanh nghiệp tư nhân đều bị tịch thu và nền kinh tế thị trường bị tiêu diệt hoàn toàn.

2. ÉP DÂN ĐI KINH TẾ MỚI – Dưới sự quan sát của ông ta, chính sách ép dân đi kinh tế mới được thực hiện. Từ những người có nhà cửa, nhiều gia đình đã phải mất tất cả và bị ép đi làm kinh tế mới ở những vùng sâu vùng xa. Theo ước tính thì tầm 1 triệu hộ gia đình và 3 triệu người đã bị ép đi như một hình thức trừng phạt người dân của chế độ cũ.

3. TRẠI CẢI TẠO – Sẽ là không chính xác nếu quy chính sách này cho riêng Đỗ Mười, nhưng ông ta là một trong những lãnh đạo giám sát và thi hành. Dưới chính sách này, các cựu quân nhân quân lực VNCH đã bị bỏ tù, tra tấn và giết chết dưới danh nghĩa “học tập cải tạo.” Với tầm 80 trại cải tạo trên toàn quốc, theo ước tính thì đã giam cầm hơn 300,000 người và trong số đó thì 165,000 người đã bỏ mạng.

4. NẠN THUYỀN NHÂN – Vì đánh tư sản cướp tài sản và bắt đi kinh tế mới, người dân bị ép vào đường cùng nên đã tìm mọi cách để trốn chạy. Trừ những người may mắn được đi theo diện HO, thì đa số đã chọn con đường vượt biên bằng thuyền. Theo Liên Hiệp Quốc thì tầm 800,000 người đã vượt biên và 10% trong số đó đã chết trên biển. Nhưng con số chính xác thì không ai biết, nhưng có lẽ là cao hơn nhiều.

5. ĐẤT NƯỚC TỤT HẬU – Hậu quả của việc dẹp bỏ tư sản và đánh kinh tế là Việt Nam đã bị tụt lùi ít nhất 50 năm. Trong khi các nước láng giềng phát triển thì Việt Nam vẫn còn bị giam cầm theo tư tưởng CNXH.

6. HẬN THÙ BẮC NAM – Một di sản quan trọng của Đỗ Mười cũng như ĐCS để lại chính là nạn hận thù Bắc Nam. Dân tộc sau năm 1975 bị phân biệt bằng sổ hộ khẩu, sơ yếu lý lịch cũng như chính sách tuyển chọn nhân tài. Vì lý lịch “Ngụy” nên nhiều người miền Nam và con cháu của họ đã không được đi học, không được học đại học, không được vào làm trong cơ quan nhà nước và bị phân biệt đối xử.

Đỗ Mười là một sự ám ảnh đối với nhiều người miền Nam. Khi nghe tin ông ta qua đời, nhiều người thế nào cũng đã thở phào nhẹ nhõm. Di sản ông ta để lại là sự tụt hậu của đất nước và tàn phá của một dân tộc. Nếu muốn tìm hiểu thêm, bạn có thể đọc Bên Thắng Cuộc và những tài liệu khác. Đồng chí Đỗ Mười, cuối cùng cũng nói lời giã biệt.

Ku Búa @ Cafe Ku Búa

Ký ức về những đợt đánh tư sản dưới trướng Đỗ Mười

Diễm Thi, RFA

Bị tịch thu nhà và đẩy đi kinh tế mới

Chỉ trong vòng mấy năm sau ngày 30/4/1975, người dân miền Nam Việt Nam phải chịu mấy đợt gọi là ‘đánh tư sản’, đưa dân đi vùng kinh tế mới. Kèm theo đó là mấy đợt đổi tiền.

Đối với nhiều người đó là những ký ức không bao giờ phai trong tâm trí, đặc biệt là nạn nhân. Một cô bé chỉ mới 10 tuổi vào thời điểm 1975 kể với chúng tôi:

Khi đó tôi lên 10 nhưng tôi nhớ rất rõ là bị đánh thức vào lúc 2 hay 3 giờ sáng gì đó… và rồi người ta đã lục xạo nhà tôi. Họ kiểm tra từng viên gạch, từng bát nhang trên bàn thờ, từng chân nến, từng khe cửa, từng bộ quần áo. Và chúng tôi ra khỏi nhà đúng nghĩa là hai bàn tay trắng.

Đợt đánh tư sản đầu tiên là vào tháng 9/1975 tại khắp các tỉnh thành phía Nam, tịch thu nhà cửa của những cư dân bị cho là tiểu tư sản, tư sản mại bản và cưỡng bức dân đi kinh tế mới. Một người dân nay đã hơn 80 tuổi nói với RFA:

Nó nhảy tường vô nhà nó lấy cớ là trốn quân dịch rồi nó khám xét tứ lung tung, nhưng nhà bác chẳng có gì cả, chỉ có mấy cái đồng hồ tốt thì nó lấy giống như ăn cướp ấy. Nó bắt ký giấy rằng của cải không phải của bác mà là tiền lấy của dân. Sau đó nó đến nhiều lần, nó đóng chốt rồi nó mang bác nhốt ở phường một đêm. Có mấy cái máy đan len đâu phải là tư sản, càng ngày bác càng biết ra nó ăn cướp. Nó cứ đổ oan cho mình vì mình sợ quá. Nó cứ bắt đi họp rồi nó bảo nhà này phải đi kinh tế mới.

Trong cuốn “Bên thắng Cuộc” của tác giả Huy Đức có đoạn ông Nguyễn Văn Trân, viện trưởng Viện Kinh tế Trung ương nói rằng “Khi bắt đầu chiến dịch, Bộ Chính trị chuyển anh Nguyễn Văn Linh sang làm Dân vận rồi đưa anh Đỗ Mười vào vì anh Đỗ Mười đã làm cải tạo công thương nghiệp ở Hà Nội. Anh Mười vào Sài Gòn áp dụng y chang những gì đã làm ở miền Bắc trong năm 1960”.

Câu chuyện đánh tư sản và đẩy dân đi kinh tế mới chỉ lạ với người dân miền Nam vào thời điểm đó, nhưng với người dân miền Bắc thì họ không hề lạ gì. Bà Đức nói với RFA:

Tôi vào miền Nam từ năm 1954 thế nhưng tôi có một người anh kẹt lại ở miền Bắc và ông sống gần như suốt đời ở đó. Năm 1977 ông có vô miền Nam thăm gia đình, và ông đặn tôi rằng, thứ nhất là phải giữ chặt quyển sổ mua gạo. Thứ hai là phải “bám chặt” lấy cái cột điện và đường nhựa. Ý ông ấy dặn tôi là phải ở thành phố chứ đừng nghe người ta dụ đi kinh tế mới.

Anh Đông, một người từng đi kinh tế mới năm 1977, hiện sống ở Colorado nói với chúng tôi rằng vùng kinh tế mới Lê Minh Xuân lúc đó không có điện, không có nước, không có trường học. Mỗi hộ gia đình được cấp một cái chòi chỉ có mái, tứ bề trống rỗng. Anh nói thêm:

Lên trên đó thì cứ mỗi sáng ông già phải đi làm. Nó khoán cho mình một khu đất trồng mía, thơm. Không hoàn thành thì nó cắt phần lương thực của mình. Đi kinh tế mới từ năm 1977 đến năm 1980 sống khổ quá mấy anh em trốn về trước.

Lấy hết tài sản rồi “mượn” nhà

Một nhóm người Việt Nam gần cổng trại tị nạn Pillar Point ở Hồng Kông ngày 30 tháng 5 năm 2000.
Một nhóm người Việt Nam gần cổng trại tị nạn Pillar Point ở Hồng Kông ngày 30 tháng 5 năm 2000. AFP

Chị Cẩm Vân, hiện ở Canada, con gái của ông Bùi Văn Lự, một tư sản lớn ở Sài Gòn trước năm1975, chủ nhiều kios kinh doanh phụ tùng xe gắn máy ở trung tâm quận 1 kể cho chúng tôi câu chuyện của gia đình chị mà đến bây giờ, ba chị đã 95 tuổi vẫn còn bị ám ảnh trong giấc ngủ.

Rạng sáng ngày 10/9/1975, cả gia đình đang ngủ thì họ đến họ bao vây hết hai khu nhà, một bên là 29-29bis Ngô Tùng Châu, một bên là 62-64 Ngô Tùng Châu. Nó đập cửa vô và đọc giấy “Vi phạm luật giao thông”. Tôi mới nói các ông nói vô lý vì ba giờ khuya cả nhà đang ngủ, không ai chạy xe mà lại bắt tội vi phạm luật giao thông. Lúc đó họ mới nói “đó là cái cớ để bắt gia đình này”.

Lúc đó nó kiểm kê và niêm phong hết hàng hóa, còn tiền bạc nó lấy đi. Gạo từng bao cả trăm ký nó chở đi hết. Nó nhốt cả nhà vô phòng mà trong không ra được, ngoài không vô được. Sáng hôm sau nó chở ba tôi lên bót ở đường Trần Hưng Đạo và giam ở đó đến 24/12/1975 mới chở về và nó đọc lệnh phải chịu sự quản lý của nó. Hàng hóa thì thuộc về Sở Công nghiệp, còn căn nhà ở số 62-64 Ngô Tùng Châu phải ký giấy cho Sở Công nghiệp mượn 10 năm.

Tháng 12 năm 1976, chính phủ tiến hành Chiến dịch cải tạo tư sản lần thứ hai. Gia đình chị Cẩm Vân lại một lần nữa bị đánh tư sản:

Năm 1978 là chiến dịch cải tạo công thương nghiệp lần thứ nhì là ông Đỗ Mười làm mạnh dữ lắm. Cũng vô nhà tôi đóng chốt mà lúc đó hàng hóa của mình nó lấy đi hết rồi, tiến bạc nó lấy đi hết rồi, nghĩa là mình không có cái gì để mình sinh sống hết. Lúc đó khổ lắm. Nó bắt mình lên phường ký giấy để đi kinh tế mới nhưng ba tôi và gia đình không ai chịu ký giấy, cứ ngồi ở phường, nó nhốt hai, ba ngày cũng chịu, nhất định không đi kinh tế mới.

Hậu quả

Nhà báo Võ Văn Tạo, cũng là một cựu binh vô Sài Gòn năm 1978 nói với chúng tôi cảm giác của ông về vùng đất phồn thịnh mà ông chỉ được coi qua sách báo trước đó:

Năm 1978 Sài Gòn như một thành phố chết. Mọi hoạt động công nghiệp gần như không còn nữa. Những người dân có tiền trước đó, những tiểu thương bị tống đi kinh tế mới hết nên thành phố nó thưa, nó vắng.

Rồi nạn ngăn sông cấm chợ nên người dân quê lấy gạo trắng cho vịt cho heo ăn vì có đem lên Sài Gòn bán được đâu, trong khi Sài Gòn thì đói kinh khủng vì không có gạo với chủ trương tỉnh nào giữ cho tỉnh nấy.

Dù không chứng kiến kinh tế Sài Gòn trước 1975 nhưng ông chắc chắn rằng sau 1975 thì Sài Gòn tiêu điều đi rất nhiều. Chính vì điều đó dẫn đến làn sóng vượt biên vì người dân không sống nổi thì phải bỏ nước ra đi thôi dù biết là đi thì một sống một chết. Ông nói thêm:

Ngoài chính sách kinh tế sai lầm thì còn sự thù hận về mặt chính trị. Con em của những người tham gia quân lực hay chính quyền VNCH thì có học giỏi mấy cũng không được vào đại học. Những chuyện đó họ thấy nghẹt thở thì họ phải đi tìm tự do thôi. Có hiện tượng vượt biên thì phải xử tội chính phủ này chứ không phải xử tội người vượt biên.

Mấy mươi năm đã trôi qua, hậu quả của các đợt đánh tư sản trong Nam cũng như cải cách ruộng đất ở ngoài Bắc để lại những nỗi đau thương, mất mát cho người dân qua biết bao thế hệ cả về tinh thần lẫn vật chất.

Nhà báo Huy Đức dẫn lời ông Võ Văn Kiệt thừa nhận rằng “Lúc đầu, tôi cũng cứ tưởng cải tạo tư sản sẽ khác với cải cách ruộng đất, một sai lầm mà những người ở miền Nam chúng tôi nhắc nhau phải tránh. Nhưng, tiến hành rồi mới thấy, cách cải tạo tư sản thương nghiệp mà anh Đỗ Mười làm, cũng không khác gì đánh tư sản mại bản nhưng tràn lan hơn.”

Diễm Thi

Nguồn : RFA

Sao cho đá nổi, dầu chìm!

Sao cho đá nổi, dầu chìm!

Huy Phương

“Hỡi các viên đá cuội, hãy nổi lên!

Hỡi dầu ơi, hãy chìm xuống!”(*)

Theo bản tiểu sử chính thức, Trần Đại Quang xuất thân trong một gia đình, cha làm nghề đơm đó bắt cá trên sông, còn mẹ ông làm nghề bán chuối. Năm 1973, từ một học viên cảnh sát lúc 16 tuổi, Trần Đại Quang đã leo lên đến chức Chủ Tịch Nước (Tổng Thống) năm 2016. Trong tiểu sử chính thức, không thấy ghi thời gian đi học ngày nào nhưng có bằng Cử Nhân (Đại Học An Ninh Nhân Dân,) Cử Nhân (Đại Học Luật Hà Nội), Tiến Sĩ (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh). Ở trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, rồi Bộ Chính Trị, Bộ Trưởng Công An rồi Chủ Tịch Nước.

Điều đặc biệt chúng tôi muốn nói hôm này, là trong hồ sơ phần dân tộc và tôn giáo của Trần Đại Quang có ghi rõ: “Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không,” thì hà cớ gì lúc “chuyển sang từ trần,” 500 tăng ni quốc doanh lại linh đình tổ chức tưởng niệm, cầu siêu cho ông?

500 tăng ni cầu siêu cho ông Trần Đại Quang hôm 23 Tháng Chín, 2018. (Hình: Kao Nguyễn /AFP/Getty Images)

Nhìn hình ảnh ông đang gục mặt “ăn năn” dưới chân tượng Phật lúc tới thăm chùa Mahabodhi ở bang Bihar, Ấn Độ, mang khăn vàng thay vì choàng “khăn quàng đỏ,” trong cổ tay lại đeo chuỗi hạt bồ đề, người ta nghĩ rằng ông là một Phật tử thuần thành, là một loại “buông dao đồ tể” hay để chứng tỏ “con chim sắp chết cất tiếng hót bi ai,” chứng tỏ ông là người thánh thiện, có Phật tánh.

Báo chí cũng nói đến việc vào lúc cuối đời Trần Đại Quang đã giúp đúc tượng Phật cho chùa Việt Nam Quốc Tự Saigon và cúng cho chùa Vĩnh Nghiêm một bộ “tam sự cách tân” (lư trầm và hai cây đèn) trị giá 19 tỷ (khoảng $800,000).

Đây là một loại tu hay cúng dường lấy phước, như chúng ta thường thấy trong xã hội này, như một việc trao đổi giữa Thần Thánh và con người phàm tục, hay là một loại sám hối, ăn năn.

Đây chính là một sự “đóng góp to lớn” mà ông Thích Trí Quảng, Trụ trì Việt Nam Quốc Tự đã không tiếc lời ca ngợi: “Chủ tịch Trần Đại Quang là người đã có nhiều đóng góp to lớn, có công lao trong việc thắt chặt mối đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc, các tôn giáo để tạo sự đoàn kết toàn dân, sức mạnh của toàn dân tộc!”

Chúng ta cũng biết năm 2009 khi xảy ra vụ tranh chấp tu viện Bát Nhã ở Lâm Đồng, Trần Đại Quang là Trung Tướng Thứ Trưởng Công an và báo Công An đã lên án Sư Ông Thích Nhất Hạnh có ý đồ mượn tôn giáo để làm chính trị, và triệt hạ thanh thế cũng như ngăn đường về của ông.

500 sư sãi tập họp để làm lễ cầu siêu cho Trần Đại Quang là thể hiện ý nghĩa mong cầu, cho linh hồn ông này sớm siêu thoát, tức là dùng phương thức nào đó để giúp cho vong linh của người đã chết thoát khỏi các cảnh giới khổ đau trong địa ngục. Nhưng đạo Phật cho rằng nghiệp đã gieo thì trăm, ngàn kiếp vẫn không mất. Khi đủ nhân duyên nó sẽ xuất hiện. Ai gây quả ác thì sẽ nhận quả ác, ai tạo quả lành sẽ nhận quả lành một cách công bằng, không thiên vị.

Sinh thời Trần Đại Quang xuất thân và thành đạt vượt bực trong ngành công an làm sao tránh được việc làm ác, để ngày nay có thể siêu thoát, tránh cảnh tai ương trong địa ngục.

Công an CSVN ngang tàng, độc ác – là vì chủ trương của Đảng và Nhà Nước càng ngày càng tàn ác với dân. Người dân nào vô phước lọt vào tay công an thì từ chết tới bị thương. Theo báo cáo của Bộ Công An từ 2012-2014, trong vòng ba năm (2011-2014) đã xảy ra 226 trường hợp chết tại nhà tạm giữ, trại tạm giam trên toàn quốc, vì lý do bệnh lý và tự sát. Nếu 500 sư quốc doanh mà cầu siêu cho Trần Đại Quang khỏi xuống địa ngục thì quả là mâu thuẫn với giáo lý đạo Phật.

Chuyện xưa kể, một ngày nọ có chàng trai trẻ tìm đến Đức Phật khóc mà nói rằng:

– “Cha con mới qua đời, xin Đức Phật hoan hỷ giúp cho cha con! Ngài là đấng toàn năng, chắc chắn ngài có thể làm được, như các vị Bà La Môn cúng tế, phát giấy xá tội, cử hành những nghi thức cúng lễ cầu siêu cho người quá cố để người qua đời sẽ được siêu thăng về Thiên Quốc.”

Không ngần ngại, Đức Phật nói: “Nhà ngươi hãy đi mua hai cái chậu đất nung, đổ vào chậu thứ nhất đầy đá cuội, chậu thứ hai đầy dầu cho ta.”

Chàng trẻ tuổi lấy làm sung sướng, nghĩ rằng Đức Phật đã nhận lời làm lễ cầu siêu cho cha, nên đã tức tốc đi chợ mua hai cái chậu bằng đất nung, bỏ đá cuội vào một chậu và đổ đầy dầu vào chậu kia.

– “Bây giờ bịt miệng cả hai chậu lại, xong bỏ xuống hồ nước.” Chàng trai trẻ làm xong, hai chậu chìm xuống dưới đáy hồ.

Đức Phật lại nói:

– “Đem cái gậy ra đây, chọc thủng cả hai cái chậu cho ta!”

Chàng trai trẻ rất lấy làm sung sướng, nghĩ rằng đức Phật đang cử hành những nghi lễ bí ẩn để cầu siêu cho linh hồn cha hắn.

Chàng trai trẻ đã dùng cây gậy thọc bể hai chậu. Lập tức, chậu đựng dầu bị vỡ, dầu nổi lều bều trên mặt hồ. Chậu kia đựng những hòn đá cuội vẫn nằm yên dưới đáy.

Rồi Đức Phật nói:

– “Bây giờ nhà ngươi hãy đi mời các thầy tế đến đây và nói với họ hãy tụng kinh và cầu nguyện: Hỡi các viên đá cuội, hãy nổi lên và hỡi dầu kia, hãy chìm xuống! Chúng ta sẽ thấy việc gì xảy ra.”

– “Thưa Ðức Phật, Ngài nói đùa với con! Không thể nào như thế được! Theo luật tự nhiên, những viên đá cuội nặng hơn nước, chúng chìm xuống đáy. Còn dầu nhẹ hơn nước, chúng nổi lên, chẳng bao giờ có thể chìm xuống được!”

– Phải! Nếu trong suốt cuộc đời của cha ngươi, ông ấy đã làm những điều nặng như những viên đá cuội, cha nhà ngươi sẽ bị đọa, không ai có thể giúp cha nhà ngươi siêu thoát lên trên được? Và nếu tất cả việc làm của cha ngươi nhẹ như dầu, ông ấy sẽ được siêu thoát; chẳng ai có thể đày ông xuống địa ngục đâu!”

Này ông Trần Đại Quang! Dù ông cúng “nhang đèn” cho chùa gần cả triệu đô la, hay Phật Giáo quốc doanh huy động 500 sư sãi, hay hết cả 50,000 tăng ni tại 17,000 cơ sở tôn giáo như các chùa, thiền viện, tự viện, tịnh xá, tịnh thất trên tất cả các tỉnh thành toàn quốc hiện nay, để cầu siêu cho ông, thì ông cũng như cục đá nặng tạo nhiều nghiệp ác, làm sao nổi lên được!

Huy Phương

(1) Trong chuyện xưa gọi là bơ, nhưng mãi đến năm 1860 một kỹ sư người Thụy Điển – Carl Gustf Patrik De Laval mới phát minh ra máy tách bơ từ sữa.

LỜI CHIA BUỒN VỚI ÔNG CHỦ TỊCH

LỜI CHIA BUỒN VỚI ÔNG CHỦ TỊCH

Bùi Quang Vơm

Một cái chết phải chết

Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng cộng sản, người ta đã biết từ lâu rằng, không có một cái gì nằm ngoài “quy trình”, nghĩa là mọi cái đều phải đúng trình tự mà đảng muốn và đảng xếp đặt trước. Ngay cả cái chết.

Rất nhiều cái chết của lãnh đạo được nghi là có thiết kế trước. Nhiều lắm, không kể hết được, vài cái tên như đại tướng Chu Văn Tấn, trung tướng Nguyễn Bình, đại tướng Hoàng Văn Thái, đại tướng Lê Trọng Tấn…, cả cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Gần đây, chuyện chết của ông Nguyễn Bá Thanh, ông Phạm Quý Ngọ, hay như chuyện chết hụt của ông Phùng Quang Thanh đều có dáng dấp của một kịch bản soạn trước.

Ông Quang chết vào 10h05 ngày hôm qua, 21/09/2018, nhưng người ta đã biết rằng ông sẽ chết từ rất lâu rồi.

Có quá nhiều lý do để ông phải chết

Người ta đã thống kê rằng dưới thời ông là Bộ trưởng công an, có hơn 260 người chết vì “tự chết” trong trại giam đồn công an. Đó là hơn 260 oan hồn, gọi đích danh tên ông, mỗi lần tuần rằm hương khói.

Trong vụ đàn áp Nhà nước Đề-Ga mà ông là Trưởng ban chỉ đạo Tây nguyên, tổng chỉ huy chiến dịch, người ta không biết được con số chính xác, nhưng có hàng trăm người chết, hàng nghìn gia đình phiêu tán vì bị cướp đất, đốt nhà. Đó cũng là những oan hồn và những uất hận của lòng người.

Làng chó Nhật Tân còn tan hoang vì tai hoạ liên tiếp đến từ oan hồn của những con chó, thì ông Quang không thể sống.

Người ta cũng biết ông sẽ chết sau cái chết bí ẩn của ông thượng tướng thứ trưởng Phạm Quý Ngọ. Ông Ngọ nhận của tử tù Dương Chí Dũng nửa triệu đô và nhận chuyển 1 triệu đô khác của Vạn Thịnh Phát cho một “anh cấp trên”. Vụ án “làm lộ bí mật quốc gia” của ông này được dừng vì nghi phạm đã chết.

Có dấu hiệu để người ta nghi cái chết vì nhiễm độc phóng xạ của ông Nguyễn Bá Thanh là do người của tổng cục cảnh sát Bộ công an thực hiện.

Hai cái âm hồn này, nếu có về đòi xác, thì chắc cũng tìm đến địa chỉ nhà ông Quang.

Nhưng lý do dẫn đến cái chết cụ thể hơn của ông Quang có lẽ phải tính từ câu: “nếu chiến tranh xảy ra trên biển Đông thì tất cả đều thua, không có kẻ thắng”, mà ông tuyên bố tại Singapore tháng 6/2016. Ông là nguyên thủ đầu tiên của Việt Nam khẳng định nguy cơ chiến tranh trên biển Đông. Ông đã chỉ cho thế giới biết kẻ sẽ gây ra cuộc chiến tranh này là Bắc Kinh và người làm cho nó thất bại sẽ là người Việt Nam. Tuyên bố này là sự tiếp nối của tuyên bố “Việt Nam không đổi chủ quyền lấy tình hữu nghị viển vông nào đó” của ông Nguyễn Tấn Dũng trước đó, không phải kiểu “anh em trong nhà còn cãi nhau” của ông Đại tướng Phùng Quang Thanh và “Biển Đông có gì đâu” của ông Trọng.

Ông Quang là người hết mình cho công cuộc làm xích lại gần nhau giữa người Mỹ và người Việt Nam.

Một tháng nằm bên Mỹ trước chuyến thăm lịch sử của ông Trọng, ông Quang được cho là đã phá vỡ hầu hết các rào cản quá khứ, giải toả các nghi ngại, xác lập sự tin cậy cao nhất cho quan hệ an ninh giữa hai quốc gia, trong đó phải kể đến quan điểm về lập trường chủ quyền và giải pháp an ninh vĩnh viễn của Việt Nam. Trung Quốc biết và tìm cách phá bằng được.

Ông Quang được cho là người phát hiện và trực tiếp chỉ huy phá vỡ âm mưu đảo chính theo lệnh Bắc Kinh của Phùng Quang Thanh, nếu Hiệp định An ninh chung giữa Mỹ và Việt Nam được ký kết.

Đầu tháng 5/2017, trước chuyến đi Mỹ gặp Tổng thống Trump của ông Nguyễn Xuân Phúc, ông Quang được Tập mời sang thăm và đón bằng 21 phát đại bác. Ông bị phát hiện nhiễm bệnh lạ từ tháng 7/2017, tức là sau khi TQ về hai tháng.

Những kẻ phản thiên triều thì chết

Nhưng người ta lại nói, ông Quang chết theo đúng quy trình, theo lý thuyết Xây dựng đảng mà ông Trọng là Giáo sư tiến sĩ.

Ông Quang phải chết, vì giống như ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Quang là hình ảnh ẩn hiện phía sau tất cả mọi vụ bê bối tham nhũng từ trước tới nay, và sẽ của tất cả các vụ khác sắp khui ra tới đây. Đơn giản là tất cả các vụ tham nhũng đều xuất phát và diễn ra dưới thời ông Dũng làm Thủ tướng và ông Quang làm Bộ trưởng Công An. Vụ án bảo kê đánh bạc của Trung tướng công an Phan Văn Vĩnh, đặc biệt, siêu Vụ án Vũ Nhôm đang kết thúc bằng các đường dẫn thẳng đến nhà ông Quang.

Nếu ở một chế độ Dân chủ thực, nơi luật pháp thực sự là độc lập và xã hội chỉ tôn thờ sự thật và danh dự, thì chuyện một thủ tướng, một tổng thống tham nhũng bị đưa ra Toà và bị nhốt vào tù, như tổng thống Nam Hàn, như thủ tướng Malaysia, tổng thống Bresil v.v… là chuyện bình thường. Nhưng ở một chế độ tồn tại chỉ bằng giả dối, lừa bịp, bằng thủ đoạn che đậy những thối nát bên trong, thì một vị Chủ tịch nước bị lật tẩy tham nhũng là chuyện không thể chấp nhận.

Phải cho ông Quang chết để dừng vụ án tại chỗ. Ông ta phải chết sao cho đảng vẫn còn được nói ông vì dân vì nước mà chết.

Người ta cũng nói tới chuyện ông Quang tự kết thúc. Ông không thể chịu đựng nổi nếu vụ Vũ Nhôm đi đến tận cùng, phơi ra tất cả những gì ông làm. Hối tiếc và đau đớn.

Có thể ông đã nhận được tín hiệu của định mệnh chợt đến từ đâu đó.

Giống như chuyện Tam Quốc, Chu Du ngửa mặt kêu “Trời đã sinh ra Du sao còn sinh ra Lượng”, rồi tắt thở. Thua cờ, vỡ mật mà chết đấy thôi!

Bởi vì, nếu không chết theo một lịch trình, thì không thể dễ và nhanh như vậy. Chiều ngày 19/09 ông Quang còn tiếp trưởng đoàn kiểm toán quốc tế. Người ngoại quốc cuối cùng ông Quang gặp là ông Chu Cường, Chánh án Toà tối cao Trung Quốc vào lúc chiều muộn ngày 19/09. Sáng ngày 20/09 ông nhập viện, 10h 05 phút ngày 21/09, đã tắt thở.

Ông Nguyễn Quốc Triệu, trưởng ban bảo vệ sức khoẻ trung ương cho biết, “ông Quang nhiễm một loại virus hiếm có, thế giới chưa có thuốc chữa”. Bệnh do virus liệu có gây ra đột quỵ như tai biến não hay nhồi máu tim được không?

Có thể nói gì về chuyện đầu độc

Trong nhiều năm gần đây, hiện tượng lãnh đạo đột tử không rõ nguyên nhân bệnh tật là một hiện tượng phổ biến, nhưng không một ai đặt ra câu hỏi tại sao, vì đâu? Có một đặc điểm chung là các vụ chết đột tử này đều ly kỳ và nhất là rất giống các vụ đột tử của lãnh đạo cộng sản Bắc Kinh và các vị vua chúa quan lại trong cấm cung các triều đại phong kiến Trung Quốc.

Kỹ thuật sử dụng chất độc trong cung đình và trong chiến tranh của Trung Quốc có lịch sử phát triển trên ba nghìn năm. Người Trung Quốc sở hữu và sử dụng thông thạo các loại chất độc có thể gây tử vong sau vài phút, sau vài tiếng, sau vài ngày và sau vài năm. Có thể không để lại dấu vết và không thể tìm được nguyên nhân. Nhưng có một quy tắc bất di bất dịch, là chỉ được phép sử dụng khi có trong tay thuốc giải độc. Nghĩa là cứu hay để chết hoàn toàn do người sử dụng.

Người ông Quang tiếp cuối cùng là Chánh Toà án Tối cao Trung Quốc, chiều ngày 19/09. Ông là người đẩy Việt Nam tới gần Mỹ. Bắc Kinh đã xử tử hình ông tội phản bội thiên triều. Ông được mời sang thăm TQ ngày 11/05/2017. Và án được thi hành sau 21 phát đại bác. Bây giờ, thuốc làm chậm hết thời hạn tác dụng, trước khi “đi”, ông phải được nghe tuyên án. Ông Chánh án Chu Cường sang bất ngờ chỉ để thực thi việc đó.

Kim Jong Un mỗi lần sang TQ đều mang theo tất cả mọi thứ cần thiết, cả buồng vệ sinh riêng, tuyệt đối từ chối ăn các đồ ăn do phía TQ đem đến. Tuyệt đối không dùng bất cứ gì do TQ cung cấp. Cha của Un là Kim Jong Il cũng đã đột ngột chết vì bệnh không rõ nguyên nhân, sau các cuộc gặp riêng, tuyệt mật với Nam Hàn và Mỹ. Có thể ông ta đã phát hiện ra điều gì và truyền lại cho Jong un.

Nếu đúng là tất cả những lãnh đạo của Việt Nam đều bị nhiễm độc sau mỗi lần sang Trung Quốc, thì con số phải lên tới hàng trăm. Thiếu tướng Trương Giang Long, tổng cục phó tổng cộng chính trị Bộ Công an đã nói: “bọn xấu chúng nó cài cắm đã có con số hàng trăm, mà con số hàng trăm không chỉ dừng lại hàng trăm mà trăm này còn thêm trăm khác nữa”.

Nguyễn Phú Trọng là người đồng sáng lập Hội thảo lý luận Trung-Việt. Tại Bắc Kinh, có một gian trưng bày thường trực các thành tựu từ kết quả các cuộc hội thảo suốt 10 năm, từ 2003 tới 2013, khi lần đầu tiên ông Trọng thăm Trung Quốc, gặp mặt Tập năm 2013. Tập Cận Bình đã đích thân, trực tiếp hướng dẫn Trọng thăm nhà trưng bày kỷ niệm này.

Những ai đã có thể bị nhiễm độc?

Hàng thái thượng hoàng có thể kể được là Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, đương nhiệm là Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Chí Vịnh, Phạm Minh Chính, Hoàng Trung Hải.

Võ Văn Thưởng chắc bị gài trong kỳ họp Hội thảo tại Trịnh Châu 25/05/2017. Ông Nguyễn Văn Bình và ông Trần Quốc Vượng có thể bị trong năm 2018. Tất cả các bí thư, chủ tịch của 7 tỉnh biên giới phía Bắc, tư lệnh và chính uỷ Quân khu Hai.

Kim Jong un đã xử tử phanh thây ông chú dượng vì tội làm gián điệp cho TQ, và có thể đã xử chết người anh Kim Jong nam được Bắc Kinh nuôi tại Ma Cau, nhằm tuyệt diệt âm mưu thay đổi chế độ của Bắc Kinh. Kế hoạch triệt thoái hạt nhân ký với Mỹ sẽ dừng ở mức tầm bay 5000km, không tới Mỹ nhưng đủ để tới các trung tâm của TQ.

Người Bắc Hàn chắc đã hiểu Tàu cộng hơn người Việt, nhất là có thể họ đã phải trả giá đắt hơn rất nhiều cho độc lập của họ. Không có người nào đểu hơn người hàng xóm “anh em” của mình bằng Tàu Cộng.

Người Việt cộng sản cuối cùng bám đuôi Trung Cộng giữ XHCN là ông Trọng. Nhưng không bám, thì khẩu phần thuốc giải độc hàng tháng tự biến mất, và ngày chết có thể phải đếm được đếm từng ngày.

Mọi ca bệnh của cán bộ trung ương đều phải qua tay kiểm tra và giám định của Ban bảo vệ sức khoẻ Trung ương. Mọi cán bộ cao cấp đều tắt thở, hoặc trải qua những khoảnh khắc cuối cùng tại Quân y viện 108. Như vậy, tất cả mọi nguyên nhân bệnh tật, trong đó có mọi vụ đầu độc, đều được thực hiện hoặc phát hiện ở hai Trung tâm này. Tội phạm hay đồng phạm chắc chắn nằm ở đây.

Ai có thể thay ông Quang?

Tất nhiên, việc thay ông Quang bằng một ông khác mà chế độ vẫn vậy, thì chỉ là việc thay mạng. Chưa bao giờ có chuyện chủ tịch nước lên Tổng bí thư vì chủ tịch nước là chỗ giành cho người đã kết thúc sinh mệnh chính trị.

Vì vậy, chuyện thay ông Quang sẽ tuỳ vào hai kịch bản: Nhất thể và không nhất thể.

Kịch bản thứ hai là không nhất thể vào lúc này, có nghĩa là chủ tịch vẫn là chỗ nghỉ cuối của nhân vật đã hết nghiệp chính trị: Nghi lễ và hiếu hỉ. Các loại chức danh khác chỉ có tính biểu tượng, hay an ủi.

Với phương án này thì thích hợp nhất là bà Tòng Thị Phóng. Bà Phóng sẽ làm chủ tịch một nhiệm kỳ rồi về hưu. Cũng có thể đưa bà Ngân sang, để Quốc Hội lại cho ông Uông Chu Lưu hay ông Đỗ Bá Tỵ, Uông Chu Lưu nếu phe thân Tàu thắng. Đỗ Bá Tỵ lên, nếu phe chống Tàu thắng. Thậm chí có thể đưa Đặng thị Ngọc Thịnh vào Bộ chính trị ngay trong hội nghị Trung ương 8 vào tháng 10 này, chuẩn bị bầu cho bà chính thức vào tháng 5 năm sau.

Phương án bà Phóng hay bà Thịnh là hiện tượng lịch sử lặp lại thời kỳ Hai Bà Trưng, nước Việt Hai Nữ Vương. Nước Tàu suy sụp, chủ quyền biên giới, biển đảo lại được thu về?!

Nếu ông Quang được “cho” chết để phục vụ mục tiêu Nhất thể hoá, thì vào lúc này, không có kẻ nào có khả năng chiếm chỗ của ông Trọng. Trong 15 ông uỷ viên bộ chính trị vào lúc này, được mặt này, nhưng không có mặt kia, không một ai đủ điều kiện để thay chân tổng bí thư. Ông Trọng đã thiết kế trước tình huống đó.

Nhiều người nói là Nguyễn Thiện Nhân. Nhưng ông Nhân đang rất cần cho cuộc chiến Thủ Thiêm với hệ thống Lê Thanh Hải tại Sài Gòn. Không ai thay được ông Nhân vào lúc này. Ông Nhân rời Sài Gòn thì Nguyễn Thành Phong phải lên bí thư, nhưng là bí thư không quân, vì ông Phong chủ yếu dựa vào bí thư Nhân để điều hành, chứ ông Phong chưa kịp có lực lượng. Xung quanh ông Phong vẫn toàn người của Lê Thanh Hải. Ông Võ Văn Thưởng không thể quay lại, vì chịu ơn nâng đỡ dìu dắt của “anh Hai” Hải, như chuyện Quan Công tha Tào Tháo, sẽ chẳng làm được gì. Ông Nhân lại không thuộc type người đứng đầu. Ông ba phải và thiếu khí tiết. Ông không được chọn cho phương án Nhất thể. Vả lại, có lẽ, ông sẽ tìm mọi cách để ở lại Sài Gòn, ông không hợp với Trung ương.

Phạm Minh Chính đã lộ mặt là “người nhà” của Bắc Kinh sau mấy năm làm bí thư Quảng Ninh, có lẽ được “người nhà” gợi ý chuẩn bị cho vị trí Tổng bí thư, nhưng ông này đang không được lòng người. Việc ông đang lo là từ nay cho tới Đại hội XIII phải sắp cho được một bộ máy thân Tàu, nếu không là của Tàu. Tuy vậy, khi đã lộ mặt là người của Bắc Kinh thì không có dân. Mà không có Dân thì đảng không phải “từ nhân dân mà ra” nữa. Phải nhớ rằng, từ nay, lúc lộ mặt theo Tàu là lúc kết thúc sự nghiệp chính trị.

Trần Quốc Vượng có lẽ là giải pháp. Được ông Trọng chọn vào ghế Thường trực Ban bí thư, có vẻ như ông Trọng đã cố tình xác nhận người kế nhiệm. Sau khi nhậm chức thường trực cũng đã sang Bắc Kinh (!). Nhưng ông này, lý luận thì không bằng Nguyễn Xuân Thắng, kĩ trị thì thua Vũ Đức Đam, làm thế nào để vừa điều hành lý luận vừa điều khiển được thủ tướng? Chắc chưa phải đợt này. Vả lại nếu ông Vượng thay ông Quang ngay từ bây giờ (tháng 5/2019), thì ai thay ông ở vị trí Thường trực? Chưa có ai, ngoài ông Võ Văn Thưởng, mà ông Thưởng chưa đủ sức.

Nếu nhất thể, thì chủ tịch nước chỉ định thủ tướng và phải điều khiển được thủ tướng. Trong thể chế này, Thủ tướng chỉ là người giúp việc chủ tịch. Vì vậy, trong chủ trương nhất thể hoá, việc chọn người thay ông Quang không chỉ để làm chủ tịch hai năm mà phải là Tổng bí thư kiêm chủ tịch một nhiệm kỳ tiếp theo nữa.

Nếu vậy, ngoài ông Trọng, người có khả năng nhất là ông Phúc. Nhưng ông Phúc không phải là người biết lý luận. Hơn thế, ông Phúc có quan niệm không giống ông Trọng về Kinh tế Thị trừng định hướng XHCN. Ông Phúc khó làm Tổng bí thư. cuối cùng thì vẫn là ông Trọng, sẽ hy sinh cuộc sống riêng tư, cống hiến cho đất nước, dân tộc đến hơi thở cuối cùng.

Trong danh sách uỷ ban Tang lễ, vị trí của ông Võ Văn Thưởng đang từ thứ 13, nhẩy lên thứ 6, sau ông Phạm Minh Chính, vượt lên trên Phạm Bình Minh và Nguyễn Văn Bình, trong khi ông Phạm Bình Minh tụt xuống thứ 11 sau ông Trương Hoà Bình.

Hội nghị Trung ương 10 vào tháng 10 này sẽ phải bầu thêm ba ông vào Bộ chính trị, Nguyễn Xuân Thắng, Phan Đình Trạc, Trần Cẩm Tú bổ sung vào ba chỗ khuyết của ông Đinh La Thăng, Đinh Thế Huynh và ông Trần Đại Quang. Nguyễn Xuân Thắng sẽ được thay ông Thưởng làm Trưởng ban Tuyên giáo kiêm chủ tịch Hội đồng lý luận. Ông Thưởng có thể thay chân Thường trực của ông Vượng hoặc vào thay ông Nhân, để ông Nhân thay bà Ngân sang Chủ tịch nước.

Nói tóm lại, vị trí chủ tịch chỉ quan trọng hay phải quan tâm cho phương án Nhất thể, còn không thì vẫn như cũ, Nguyên thủ là Thủ tướng, không phải chủ tịch nước, mà cũng không phải Tổng bí thư, quay lại thời của ông Nguyễn Tấn Dũng và để Hiến pháp 2013 trở về nguyên trạng giấy lộn.

Việt Nam cứ loay hoay mãi trong vòng luẩn quẩn. Đảng lãnh đạo toàn diện thì cùng lúc ba(3) ông nguyên thủ. Mà gom vào một chỗ Tổng bí thư thì gom tất cả Lập pháp, Hành phánh, Tư pháp vào một người, tất yếu là độc tài. Độc tài là tham nhũng, là chiến tranh.

Điều kiện tiên quyết để nhất thể hoá là Thiết lập thể chế Tam quyền phân lập. trước khi gộp ba chức danh vào một, thì phải độc lập Lập pháp khỏi Hành pháp.

Lời chia buồn

Tháng 3/2018, vợ chồng ông Quang đi thăm chùa Mahabodhi ở Bodhgaya, bang Bihar, Ấn Độ, nơi Thích Ca Mầu Ni đạt được Giác Ngộ và hoá Phật. Có lẽ bà Hiền vợ ông Quang muốn cầu xin đức Phật phù hộ cho ông Quang tai qua nạn khỏi. Vợ chồng ông Nguyễn Tấn Dũng cũng đã từng đến cầu xin Phật ở đây. Thật tiếc là không linh nghiệm, hay Trời Phật đã từ chối độ trì cho tội ác, nên Quang không thoát được.

Cả ông Quang lẫn ông Dũng đều là những kẻ đầy tội lỗi. Nhưng, có ai không trở thành đốn mạt trong cái bộ máy của cái hệ thống độc đảng trái luật này? Vả lại, một cách cảm tính, tôi không xếp ông Quang, ông Dũng vào cùng loại với ông Lê Thanh Hải, ông này mới thật là đốn mạt.

Image may contain: 11 people, people smiling, wedding and outdoor

Nhìn nét mặt và ánh mắt của bà Hiền trong bức ảnh ông Quang gục đầu vào phiến đá thiêng, biết ông Quang thật sự đau khổ. Sự cầu xin thành tâm cho biết rằng ông đã biết bệnh tật của ông từ đâu mà có. Bức ảnh toát ra một sự ăn năn hối tiếc nhưng tuyệt vọng và cam chịu. Nhìn bức ảnh này, cảm nhận sự đau đớn của bà Hiền, người ta có thể bật khóc.
Lòng tham của cải và thèm khát quyền lưc là bản tính tự thân của con người. Có quyền trách mọi tội lỗi, nhưng phải quy kết đúng chỗ. Tiền bạc chiếm đoạt được phi đạo đức đã không thể đem đi.

Dù sao thì cái chết của ông Quang cũng là một chết buồn.

25/09/2018

Bùi Quang Vơm
http://nguồn.danlambaovn.blogspot.com/

 

Thời Đại XHCN..VNCS….

Thời Đại XHCN..VNCS….

What the hell is it?

 

 

 

Đỉnh Cao Trí Tuệ: Lời ” Sốc” , Ý ” Sốc”

X.H.C.N= Xạo Hết Chỗ Nói….

Trên thế giới có một không hai!

Máy bay bị bắn lủng trên không, lấy tay bịt lại hạ cánh an toàn.

Image may contain: one or more people and text
Image may contain: 1 person, text
Nang Van Le
nangvanl@aol.com

Chết trong lòng dân

Chết trong lòng dân

Phạm Đình Trọng

Nguyễn Huệ Chi trả lời Mạc Văn Trang về nỗi băn khoăn trước thái độ không thiện cảm của dân chúng đối với cái chết của ông Trần Đại Quang

Tôi rất biết điều anh muốn nói mà không nói ra là chuyện “nghĩa tử nghĩa tận”, tôi cũng vậy đấy.

Nhưng ta phải đặt câu hỏi thế này anh Mac Văn Trang: Tính đếm xem chính quyền này đưa lại cho người dân được những gì? Cứ tính đếm thật sòng phẳng không để chính trị xen vào, có phải câu trả lời là zéro tròn trĩnh hay không? Thế thì người dân nào mà thương được các vị vô tích sự hiện nay khi họ ra đi, không kể là họ còn làm khốn khổ dân, mỗi anh lên là lại phá, lại cướp một ít (một nhiều) để kiếm chác, kể cả việc khi bị dân phản ứng thì đưa dân vào đồn cho dân “tự treo cổ” hoặc “ngã ngất ra chết bất thình lình”.

Năm 2009, sau hơn 6 tháng hoạt động trang Bauxite Việt Nam, tôi bị bắt đi thẩm vấn 22 ngày ròng rã. Làm việc với đám công an điều tra của Bộ, tôi vẫn còn le lói một niềm tin, rằng đám ấy còn có người tốt, và sau khi đối thoại với ông Thứ trưởng CA Nguyễn Văn Hưởng một buổi, tuy ai giữ quan điểm nấy nhưng tôi vẫn ngờ ngợ,  tự đặt dấu hỏi: phải chăng cái Chính phủ NTD đã vạch được một sách lược nào đấy bảo đảm cho đất nước giàu mạnh, và độc lập với TQ mà mình chưa nhận được ra? Nhưng rồi cứ mỗi năm tiếp theo thì câu trả lời đắng chát một lộ rõ hơn. Và liên tiếp đến 4 năm sau đó, đáp số tàn khốc đã phơi bày lồ lộ một cách toàn diện trước tất cả mọi người, chẳng có gì lấp liếm được nữa.

Vậy thì giờ đây, nhỏ lệ với Bá Kiến (vạn lần Bá Kiến) chẳng hóa ra mình còn thua đến cả chàng Chí Phèo của Nam Cao?

Nguyễn Huệ Chi

Đọc tin ông lớn Trần Đại Quang, Chủ tịch nước chết vì căn bệnh hiểm sáng 21.9.2018, tôi cứ nghĩ đến những cái chết tức tưởi, đau đớn của hàng trăm người dân trên đường phố, trong trụ sở công an, trong trại tạm giam bởi những cú ra đòn tàn độc của công an thời ông Trần Đại Quang làm Bộ trưởng Bộ Công an.

Vài dẫn chứng về những người dân bị công an đánh chết thời ông Trần Đại Quang đang đứng đầu Bộ Công an, đang đứng đầu trách nhiệm về những họa phúc do công an mang lại cho dân cho nước: Ông Nguyễn Mậu Thuận, 56 tuổi, bị đánh chết trong trụ sở công an xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội. Anh Ngô Thanh Kiều, 30 tuổi, bị công an đánh chết trong nhà tạm giam ở thành phố Tuy Hòa, Phú Yên. Em Tu Ngọc Thạch, 14 tuổi, bị công an xã Vạn Long, Vạn Ninh, Khánh Hòa đánh chết ngay trên đường cái quan số 1.

Hàng trăm người dân bị công an đánh chết vô cùng man rợ mà ông Bộ trưởng Công an vẫn dửng dưng rũ bỏ trách nhiệm, vẫn ham hố công danh, miệt mài leo lên tới chức Chủ tịch nước, tột đỉnh quyền lực. Hành xử đó là sự thách thức lương tâm con người của kẻ không còn liêm sỉ, không còn tính người. Đó là cái ác.

Trước cái chết của một con người, ai cũng ngậm ngùi, xót thương. Bảy dân thường bị chết vì sốc ma túy trong đêm hội nhạc ở công viên nước Hồ Tây, Hà Nội đêm 16.9.2018 cũng làm tôi lặng đi trong bùi ngùi xúc động. Nhưng tôi không chút xúc động khi hay tin về cái chết của ông lớn Chủ tịch nước Trần Đại Quang, nguyên là Bộ trưởng Công an, người đã trốn tránh trách nhiệm trước cái chết của hàng trăm người dân lương thiện bị công an, quân của ông Quang tước đoạt mạng sống. Dù người yếu lòng cũng không ai dành sự xót thương cho cái ác mà chỉ có sự căm giận. Dù cái ác vẫn còn nhưng bớt đi một cái ác, cuộc sống cũng nhẹ nhõm, an lành hơn.

Kế nhiệm ông Trần Đại Quang đứng đầu Bộ Công an là ông Tô Lâm. Số người dân bị công an đánh chết thời ông Bộ trưởng Tô Lâm còn dồn dập và man rợ hơn vì không có ai phải chịu trách nhiệm về cái ác của công cụ bạo lực nhà nước hoành hành mặc sức tước đoạt mạng sống của người dân.

Sự vô cảm của người dân, có người còn thở phào nhẹ nhõm trước cái chết khi còn khá trẻ của ông lớn nguyên Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang là sự nhìn nhận của lòng dân, là sự phán xét của cuộc đời, là sự cảnh tỉnh cho những người đang và sẽ kế nhiệm quyền lực và trách nhiệm của ông lớn Trần Đại Quang ở Bộ Công an.

Lòng dân là ngôi đền thiêng với những người có công với dân với nước nhưng cũng là pháp trường của cái ác, của những kẻ hại dân, phản nước. Chết trong lòng dân là cái chết đau đớn, nhục nhã nhất của một kiếp người.

P.Đ.T.

Tác giả gửi BVN

Phan Lạc Tiếp và Vớt Người Biển Đông

Phan Lạc Tiếp và Vớt Người Biển Đông

 LƯU NA

Nhà văn Phan Lạc Tiếp

Ngày 11 tháng 8 năm 2018, tại San Diego đã có buổi ra mắt sách Vớt Người Biển Đông của tác giả Phan Lạc Tiếp trong vòng thân mật của gia đình và bạn hữu. Buổi ra mắt sách cũng là dịp mừng thượng thọ cho hai nhân vật chủ chốt của chương trình Vớt Người Biển Đông năm xưa: Giáo sư Nguyễn Hữu Xương, chủ tịch Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển, và nhà văn Phan Lạc Tiếp, Tổng Thư Ký và Điều Hành của Ủy Ban. Chương trình còn có sự góp mặt của nhân vật chủ chốt thứ ba trong Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển: bác sĩ Đinh Xuân Anh Tuấn từ Pháp Quốc, người tiên phong đưa thuyền đi vớt người biển Đông và trở nên cầu nối để hiện thực công việc ý nghĩa ấy trên bình diện toàn cầu. Tiếc thiếu sự hiện diện của nhà văn Nhật Tiến và nhà thơ Trương Anh Thụy. Bằng những lá thư từ trại tị nạn Songkla, Nhật Tiến đã cất tiếng kêu đến thế giới về thảm cảnh của người vượt biển. Với những lời tố cáo mạnh mẽ sắc bén cho tệ nạn hải tặc nhưng lại đầy thiết tha trang trọng cho những nạn nhân, Nhật Tiến chính là nhân tố đầu tiên đưa đến việc hình thành Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển. Khi việc vớt người biển Đông không còn có thể tiếp tục, Trương Anh Thụy là người cầm đuốc chạy đoạn đường chót của công cuộc cứu người vượt biển.

Tuy gói ghém với thời lượng và số người tham dự, chương trình do ông Đinh Sinh Long và Phan Ngân Hà, trưởng nữ của nhà văn Phan Lạc Tiếp thực hiện, đã mang đến cho gia đình cùng thân hữu những phút giây cảm động và nói lên nhiều ý nghĩa.

Tất cả chúng ta có mặt trên đất người, nếu không trực tiếp là người tị nạn thì cũng phần nào liên hệ đến hai chữ tị nạn, và tị nạn chủ yếu là bằng đường biển, là vượt biên, và cũng có nghĩa là một trời thảm họa. Nếu tị nạn là căn cước của số đông chúng ta, thì hai chữ thuyền nhân cũng gần như là hộ tịch của những người phải bỏ quê hương vượt đại dương tìm đường sống mong lưu truyền một một giòng giống, cứu vãn một tương lai.

Vớt Người Biển Đông ghi lại công cuộc 10 năm vớt người tị nạn trên biển, ghi lại những thảm trạng, những nỗ lực những gian nan để người có thể cứu được người. Nếu ai chưa từng biết qua thảm nạn vượt biển, đọc sách, thấy những chứng cứ những tấm lòng những thành quả những khó khăn, sẽ hiểu – bấy nhiêu công sức bấy nhiêu nhọc nhằn bấy nhiêu hoạn nạn đều chỉ vì tang thương quá lớn lao thảm khốc, vì đâu nên nỗi đoạn trường, và chuyện vượt biển dẫu bi hùng chúng ta vẫn ước mong nó đã không xảy ra và đừng bao giờ lập lại.

Hãy cùng nhau đọc:

“Nhưng không lẽ một thảm kịch như thế, trong đó đã chất chứa bao nhiêu nỗi đau thương, nghẹn ngào, cũng như đã chôn vùi biết bao nhiêu cái chết đớn đau tức tửi của những con người vô tội lại không còn được nhắc đến?

Nếu mà như thế thì lịch sử đâu có lý do để tồn tại? Và nếu thế hệ mai sau muốn tìm lại dấu chân của các bậc cha anh, họ sẽ lấy gì để mà soi rọi? Rồi thêm nữa, nhà cầm quyền CS trong nhiều năm đã từng gây nên nguyên nhân sâu xa của thảm kịch thuyền nhân, đã gián tiếp xô đẩy hàng triệu con người ra biển cả chẳng lẽ lại được phủi tay, vỗ trắng trách nhiệm?

…..

Cho nên việc ôn lại những đau thương của thuyền nhân tị nạn trong muôn ngàn nỗi đau thương của bao nhiêu con người khác nữa kể từ sau biến cố 30-4-1975 sẽ chẳng phải là việc khơi lại hận thù, nhưng là chuyện cần thiết phải làm. Làm để dựng lại một mảnh gương lịch sử cho đời sau, để gìn giữ những chứng tích trước công lý ngõ hầu sau này trả lại công bằng cho mọi thành phần dân tộc trong ngày phán xét của lịch sử.” (Lời của Nhật Tiến, Vớt Người Biển Đông, trang 31).

Trong suốt mười năm Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển hoạt động, ngoài giá trị của chính công việc cứu người, chúng ta đã làm được với nhau một chuyện rất lớn lao, đó là đoàn kết. Nơi nơi góp tiền góp sức, đằng sau những tên tuổi được ghi nhận những công việc đã hoàn tất còn là muôn vạn những đóng góp công của của những “chiến sĩ vô danh,” cũng như biết.. bao quyết tâm để vượt qua trở ngại của hoàn cảnh, của lòng người. Đoàn kết không là chuyện dễ làm dễ thực hiện, và đứng trên thảm họa đen ngòm như biển chúng ta đã lưu lại được một vết son cho lịch sử người tị nạn.

Nhân chứng sống – những thuyền nhân còn mất đều đã góp phần nói lên chặng đường lịch sử tị nạn xứ người; sách Vớt Người Biển Đông ghi lại cho chúng ta, hoàn tất cho chúng ta câu hỏi “chúng ta đã làm gì được với nhau và cho nhau.” Hãy giữ lấy hộ tịch của chúng ta. Hãy bảo tồn mảng lịch sử “người tị nạn.”

12.08.2018

Lưu Na

Nguồn: sangtao.org

Ra Mắt Sách Vớt Người Biển Đông của Nhà Văn Phan Lạc Tiếp tại San Diego

Vào đúng 04:00PM ngày thứ Bẩy tại Solana Fletcher Cove Community Center xinh đẹp,bên này bờ Thái Bình Dương, gia đình nhà văn Phan Lạc Tiếp cùng bạn bè thân hữu gần xa, gồm có cả bác sĩ Đinh Xuân Anh Tuấn đến từ Pháp, một người rất nhiệt thành trong việc vận động Tổ Chức Y Sĩ không biên giới gửi tầu vớt người tỵ nạn trên Biển Đông, và tiến sĩ Nguyễn Hữu Xương đồng sáng lập Tổ Chức Báo Nguy Cứu Người Vượt Biển để cùng ngồi lại với nhau,ôn lại những kỷ niệm đày cam go của một nhóm người đầy thiện chí cùng chung sức quyết tâm giúp những đồng bào kém may mắn, chịu khổ nạn trên Biển Đông và vận động cho họ đặt chân lên đến bến bờ tự do an toàn.

 

Ông Đinh Sinh Long đang phỏng vấn nhà văn Phan Lạc Tiếp

 Dưới bóng Quốc kỳ và  ánh hoàng hôn

Ông bà Phan Lạc Tiếp

Bác sĩ Tuấn đã bùi ngùi kể lại câu chuyện ông bị từ chối khi tình nguyện làm việc trên các chiếc tàu cứu nạn vì ông chỉ là một sinh viên y khoa chưa tốt nghiệp và cho đến khi ông đứng trên tàu nhìn vào vùng biển đen tối  của quê hương và nghĩ đến những người giàu lòng bác ái, họ chỉ những hạt cát biển, đóng góp một phần nhỏ nhoi để mong giải tỏa những nỗi khốn khổ to lớn cho đồng bào trong vùng đất đau thương. Ông hy vọng rằng những người hiện diện trong buổi họp mặt này và các đồng hương khác đã từng góp tay giúp người tỵ nạn hãy truyền đạt truyền thống này cho con em để tiếp tục con đường nhân ái đó với đồng bào của mình trong nước trong hiện tại và tương lai.

 Ngân Hà và cậu em trai

Ngân Hà, ái nữ của nhà văn Phan Lạc Tiếp đã tổ chức buổi ra mắt sách này cho bố, lần lượt giới thiệu các tác phẩm của ông bằng tất cả sự kính yêu và trân trọng với đấng sinh thành, Cô nhắc lại hành trang của các anh em di tản trên chuyến tầu HQ 502 là cuốn Bờ Sông Lá Mục của bố cô và Tâm Hồn Cao Thượng của cụ Hà Mai Anh. Cô đã ngậm ngùi khi nhìn những thước phim chiếu cảnh đồng lúa xanh, mồ mả tổ tiên và nhà thờ họ Phan Lạc tại làng quê miền Bắc do chính cô bỏ hết tâm hồn ra thực hiện.

Nhà văn Phan Lạc Tiếp chỉ nói một câu vắn tắt: “Dân mình khổ quá”, ông vừa xuất viện ra vì một cơn stroke nhẹ, nhưng ông cố gắng hết sức mình để cùng gặp bạn bè tri kỷ đã từng có thời sát cánh bên nhau làm việc nghĩa. Sợi giây gắn bó của gia đình, nhất là với sự trợ giúp của bà Tiếp và các con, đã khiến ông vượt qua mọi trở ngại để hoàn thành những công việc ông cần phải làm trong cõi đời của mình.

Mọi người sốt sắng  hưởng ứng đóng góp cho mục tiêu của buổi ra mắt sách mà tác giả hứa sẽ dành trọn số tiền bán sách cho tổ chức cứu trợ TPB và Quả Phụ tại quê nhà. Ba vị sáng lập ra Tổ Chức Báo Nguy Cứu Người Vượt Biển đồng ký lên cuốn Vớt Người Biển Đông để cho độc giả giữ làm kỷ niệm.

Sau đó là bữa cơm thân mật trong không khí gia đình giữa cảnh trời cao biển rộng, và cùng thưởng ngoạn ánh hoàng hôn của Solana Beach thơ mộng trong làn gió mát từ đại dương dào dạt thổi về.


Nhà văn Phan Lạc Tiếp, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Xương, bác sĩ Đinh Quang Anh Thái

Hướng về Biển Đông.


Gia đình Hải Quân San Diego Khoa, Văn Mộch, Hải, Lý

Quyển “Vớt Người Biển Đông” được bán trên Amazon.com: 

https://www.amazon.com/Vot-Nguoi-Bien-Dong-Vietnamese/dp/1718618905/ref=sr_1_1?s=books&ie=UTF8&qid=1537451371&sr=1-1&keywords=v%E1%BB%9Bt+ng%C6%B0%E1%BB%9Di+bi%E1%BB%83n+%C4%91%C3%B4ng

nguồn: http://hoangsaparacels.blogspot.com

VỀ MIỀN TÂY, THƯƠNG…

VỀ MIỀN TÂY, THƯƠNG…

Tản văn Nguyễn Thị Hậu

Quê tôi ở miền Tây. Còn tôi sống ở Sài Gòn.

Quê ngoại tôi chỉ cách quê nội một nhánh Tiền Giang nối liền nhau bằng bến đò Mỹ Hiệp, xưa ghe chèo nay là chiếc phà có thể chở xe tải nhẹ hay xe hơi 16 chỗ. Mỗi ngày hàng chục lượt phà qua lại nối liền Cù Lao Giêng với thành phố Cao Lãnh, dân cù lao buôn bán quanh năm hay chợ búa hàng ngày từ lâu đã quen thuộc với thị tứ bên này. Nhiều gia đình kết sui gia với nhau, ngày rước dâu chiếc phà rực rỡ sắc màu chạy trên sông, lẫn trong tiếng máy nổ đều đều là tiếng nhạc rộn rã và tiếng con nít chỉ trỏ í ới…

Những đám rước dâu, đưa dâu trên sông gợi nhớ bài hát “Ngẫu hứng Lý qua cầu” của nhạc sĩ Trần Tiến. Người nhạc sĩ tài hoa của Hà Nội đã cảm nhận được sự bình dị và lời ăn tiếng nói của người miền Tây để chuyển thành những câu ca nghe chạm vào tận đáy lòng “bằng lòng đi em về với quê anh, một cù lao xanh một dòng sông xanh… Đóa hoa tím trôi líu riu, dòng sông nước chảy líu ríu… anh thấy em nhỏ xíu anh thương… Những đêm ngắm sông nhớ em buồn muốn khóc…”. Có một thời tôi đã thầm nghĩ, nếu có ai đó chỉ cần nói với mình một câu giản dị “anh thương em” thì mình sẽ bỏ tất cả mà theo. Lúc đó tôi còn chưa hiểu vì sao chữ “thương” của người miền Tây lại làm mình nao lòng đến thế. Sau này, mỗi lần về quê hay đi công tác miền Tây là đi qua vô số những cây cầu dọc theo quốc lộ, nhìn những con sông, dòng kinh, con rạch… xanh mướt hai bờ, ghe xuồng xuôi ngược, chợ búa ở đầu cầu tấp nập, trái cây rau cải tôm cá tươi chong… Bỗng thấy thương quê mình gì đâu! Mới hiểu, chữ thương của miền Tây ngọt ngào, nặng tình nặng nghĩa biết bao, bởi vì thương không chỉ là  thương yêu cha mẹ anh em, mà còn là thương nhớ người dưng, thương xót thân phận ghe xuồng trên sông, thương những gì gắn bó cả đời như thương chính mình.… Chữ thương bao dung và nhân hậu, nhẹ như hơi thở mà người miền Tây chỉ buông ra khi dằn lòng không được …

Về miền Tây thương đất hè nắng nứt, thương đất vàng phèn mặn, thương những dòng sông mùa nước nổi mang phù sa về tưới tắm cho những cánh đồng lúa mới, mang cá tôm về làm mắm làm khô nuôi sống dân miền Tây trong những tháng mùa khô sau đó; thương những mái nhà lá lô nhô trong nước, thương đồng lúa chín gặt vội chạy cho kịp mùa nước nổi, thương bầy trâu lặn lội mùa “len”, thương đàn vịt đồng ốm nhom mùa nắng tới…

Về miền Tây thương con nước ngày hai lần nước lớn cho ghe xuồng đi xuống miệt ruộng vùng sông Hậu, nước ròng cho ghe xuồng đi lên miệt vườn trên những cù lao sông Tiền. Mùa nước nổi có xuồng “năm quăng” giúp bà con sinh sống. Thương chiếc xuồng len lỏi theo những rạch, tắt, cựa gà… khuất vào đám dừa nước rậm rạp rồi chợt hiện ra nhỏ nhoi đơn côi trong tiếng “bìm bịp kêu nước lớn anh ơi…”. Thương những chiếc ghe thương hồ từ nhiều đời miệt mài xuôi ngược “buôn bán không lời chèo chống mỏi mê”…

Về miền Tây thương những xóm làng nghèo khó mà ấm áp tình người. Trưa vắng vẳng tiếng gà gáy lao xao trong vườn, ngọn khói bếp vẩn vơ trên tán xoài, cầu dừa chông chênh cô thiếu nữ thoát thoắt bước qua. Chiều xuống những bến nước ven con rạch ồn ào trẻ nhỏ, đờn bà giặt đồ trên chiếc cầu tre, đờn ông chạy ào xe  máy trên đường mòn, bất chợt nghe tiếng ai kêu dừng lại gạt chân chống để đó ghé vô, có khi tới khuya mới quay ra, xiêu xiêu lên xe chạy tiếp về nhà…

Về miền Tây thương những con đường giữa bóng xoài bóng dừa mát rượi, thương hàng rào bông bụt nhà ai đỏ vàng rực rỡ, thương dàn bông giấy màu trắng tím đỏ ngời lên trong nắng hạn làm lóa ánh mắt người qua… Về miền Tây thương nhà sàn lô nhô trên kênh rạch, thương bếp cà ràng đỏ lửa trên ghe, thương lò trấu trong gian bếp gọn gàng như những người đờn bà miền Tây vén khéo.

Về miền Tây thương ngôi chợ nhỏ đầu làng, sương sớm còn mờ đã lao xao mua bán, đến nửa buổi thì nhà lồng chỉ còn vài hàng cây trái. Thương chợ ngã năm ngã bảy trên sông ghe xuồng san sát, những chiếc sào cột các loại trái cây rau cải lơ lửng trên cao, ghe tạp hóa xanh đỏ đồ dùng, ghe than ghe chiếu giờ đã ít người mua kẻ bán… Thương phố chợ nhỏ mà cột antena san sát như đàn chuồn chuồn báo hiệu trời mưa, nhà cao tầng ngói đỏ ngói xanh, tiệm uốn tóc, tiệm vàng, tiệm thời trang… chẳng khác gì thành phố.

Về miền Tây thương những chành gạo ven sông, xà lan ghe lớn ghe nhỏ vào mùa gặt tụ họp về đêm ngày trên bến, những băng chuyền thay sức người tải gạo lên kho xuống ghe không dứt. Thương những lò gạch tròn như tổ tò vò khổng lồ in bóng xuống dòng sông. Những con sông dòng kinh như những mạch máu nuôi sống miền Tây.

Về miền Tây thương rừng tràm rừng đước xanh bạt ngàn miệt U Minh nước đỏ. Đêm Năm Căn câu vọng cổ nghe buồn chí xứ “chiếu này tôi chẳng bán đâu, tìm cô không gặp… tôi gối đầu mỗi đêm…”. Thương những Bãi, Bàu, Bắc, Bến, Bưng, Cái, Cầu, Cồn, Cù lao, Cửa, Đầm, Đồng, Gành, Hòn, Hố, Láng, Lung, Mũi, Mương, Rạch, Tắc, Vàm, Vũng, Xẻo… nghe giản dị mà gợi hình gợi cảnh.

Về miền Tây thương đám lục bình bông tím mong manh trôi xuôi ngược trên sông. Lúc nước ròng thì tấp vô như tìm chút hơi ấm của bờ đất mẹ, khi nước lên lại bơ vơ dập dờn trên mặt nước. Bông lục bình đẹp như  em gái miền Tây, chơn chất, hiền lành, biết lo toan cho gia đình cha mẹ, khi em phải lấy chồng xa xứ khác nào số phận lục bình trôi… Chỉ mong mỗi ngôi nhà và những người đờn ông miền Tây sẽ là những bè tầm vông chắn sóng chắn nước cho giề lục bình bông tím mong manh đừng trôi xa, bình yên ở lại bờ bến quê nhà.

Về miền Tây thương những gian bếp có máng xối hứng nước mưa vào hai hàng lu mái. Sân nhỏ trước nhà lác đác lá khô của cây mận hồng đào. Thương từng chùm trái đỏ rực, lúc lỉu trên cành vào mùa Tết, thương mỗi đêm gió chướng nghe trái cây ngoài kia rơi lộp bộp, thương bầy trẻ con tranh nhau lượm những trái mận chín rụng, giòn và ngọt như đường phèn.

Về miền Tây thương những giọng hò ơ lai láng trên sông, thương câu vọng cổ thổn thức đêm đêm, thương bài đờn ca tài tử những ngày giỗ chạp, thương những “hẹn, hò”, “giỗ, quảy”… Về miền Tây thương người dưng buông câu “anh thương em” để trái tim lỗi nhịp, thương em gái nghẹn ngào “em thương ảnh, chị ơi…” nặng đến thắt lòng… Chỉ một tiếng “thương” thôi mà miền Tây đã níu giữ bao người ở lại, bao người đã đi rồi còn quay trở lại.

Về miền Tây thương những cửa sông rộng mênh mông, từng là con đường dẫn ông cha đi tìm đất khẩn hoang lập ấp. Thương vùng biển bồi bùn nâu nước lợ, mắm trước đước sau lấn biển, cả ngàn năm mũi Cà Mau dày thêm từng thước đất.

Về miền Tây thương những con người bao đời khó nhọc, nói “làm chơi ăn thiệt” vì không hay than thở, nói “làm đại đi” vì can đảm dám chịu trách nhiệm về việc mình làm. Thời thế nào cũng có những người “giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha”, “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”, dù sau đó có phải chịu nhiều oan khuất…

Về miền Tây…

Thương…

Tác giả gửi cho viet-studies  ngày 15-9-18