Vũ Thất

Bảo Bình 1

Tưởng nhớ Thầy Cung Giũ Nguyên (1909- 2008) ‘kỳ 1’

Giáo sư Cung Giũ Nguyên (28/4/1909 – 7/11/2008)

Sinh năm 1909 tại Huế. Họ thật là Hồng bị cải thành Cung ; khi vua Tự Đức, húy Hồng Nhậm lên ngôi. Vì lý do chính trị hay kinh té – tổ tiên của Cung Giũ Nguyên, người Phúc Kiến, đã qua lập nghiệp tại Việt Nam giữa thế kỷ XIX . Tại đây, họ Hồng cùng với nhiều họ Trung Hoạ khác, lập ở Bao Vinh, Thừa Thiên, phố Thanh Hà, sau thành làng Minh Hương , và sau đó đều được xem là người Việt Nam. Thân phụ Cung Giũ Nguyên là Ông Cung Quang Bào, một đốc học. Thân mẫu là bà Nguyễn phước thị Bút, trưởng nữ quận công Hồng Ngọc, và cháu nội Ngài Nguyễn Phước Miên Lịch , An Thành Vương, con út Vua Minh Mạng, và có lần đã làm Nhiếp chánh Thân thần.

– CUNG GIŨ NGUYÊN học cấp trung học tại trường Quốc Học Huế những năm 1922-1927. Đáng lẽ đi học trường Cao đẳng Mỹ thuật Hànội, nhưng vì con trưởng một gia đình nghèo và đông con, phải từ bỏ mộng trở nên họa sĩ để kiếm kế sinh nhai. Năm 1928, được bổ làm trợ giáo tập sự tại trường Nam tiểu học Nha Trang nhưng đến đầu năm 1930 bị bãi chức ; nghị định thải hồi của Khâm sứ Trung kỳ không nêu lý do, nhưng có thể ước đoán là vì lý do chính trị. Năm 193O là năm thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, và cũng là năm Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí trong Việt Nam Quốc dân đảng bị xử tử tại Yên Báy. Trong bài thơ Le Mot đăng trong tạp chí France-Asie, Sài Gòn, năm 1948, Cung Giũ Nguyên có nhắc đến biến cố nầy. Giáo sư Bùi xuân Bào trong phần giới thiệu các nhà văn Việt Nam viết tiếng Pháp trong quyển Littératures de langue francaise hors de France, đã nhắc lại bài thơ ấy và xem 1930 là năm đánh dấu khúc quanh đời của tác giả.

– Cung Giũ Nguyên viết văn từ năm 1928 và từ đó, đã cộng tác với nhiều báo chí trong nước và ngoài nước, trong số có : Đông pháp thời báo (Sài Gòn), Sài Gòn-Mới Nam Phong (Hànội) , L’Indochine Nouvelle (Sài Gòn) ,France-Annam. La Gazette de Huế , Tân Văn (Sài Gòn) Symposium (Syracuse) Books Abroad (Oklahoma, Hoa Kỳ) France-Asie . (Sài Gòn) . Bách Khoa (Sài Gòn) ,Présence Francophone (Sherbrooke, Canada) Đại Học (Huế) , Tri Thức (Đà Lạt). La Tribune (Sài Gòn) .v.v.
– 1938-1940 – Cùng với Raoul Serène, sau nầy là Giám đốc Hải Học Viện Đông dương, chủ trương nguyệt san LES CAHiERS DE LA JEUNESSE, Nha Trang.
– 1939 – Chủ bút Nguyệt san song ngữ TƯƠNG LAI TẠP CHÍ Nha Trang
– 1940-1942 – Chủ bút nhật báo LE Soir D’Asie Sài Gòn.
– 1954 – Chủ bút tuần báo LA PRESSE D’EXTREME-ORiENT. Sài Gòn

TÁC PHẨM : – Một người vô dụng, tiểu thuyết.Tín đức thư xã, Sài Gòn, 1930 ; – Nhân tình thế thái, truyện ngắn, (Phổ thông văn xã, Gia định, 1931, Nợ văn chương, tiểu thuyết, Nhà in Châu Tịnh, Vinh 1934) ; – Volontés d’existence, tiểu luận Editions France-Asie Sài Gòn 1954 ; – Le Fils de la Baleine, tiểu thuyết, Editions Arthẻme Fayard, Paris 1956. Bản dịch : Der Sohn das Walfischs, Genf và Frankfurt, 1957, – Kẻ thừa tự của ông Nam Hải, Nxb Văn Học Hà nội 1995; – Le Domaine Maudit, tiểu thuyết, Fayard Paris 1961 ; – Thái Huyền, tiểu thuyết, Nxb Đại Nam, Glendale, Hoa Kỳ, 1995… – Trên bốn mươi (40) đầu sách khác chờ xuất bản .
– Cung Giũ Nguyên trở lại nghề dạy học từ 194O.
Tại Nha Trang, đã dạy (các môn, tùy theo trường : Việt văn, Hán văn, Latinh, Pháp văn, Anh văn , Sử địa. Kinh tế học, Văn học, Triết học…) ở các trường Kim Yến, Collège de Nha Trang, Võ Tánh, Lê quý Đôn, các Trường Dòng Phanxicô, Lasan, Giuse, Lớp Tu Muộn Địa phận , Lớp Kỷ thuật viên Viện Psteur. Lớp Anh văn Trung Học Y tế v.v.
– Từ 1955 đến 1975 : Hiệu trưởng trường trung học đệ nhị cấp bán công Lê quý Đôn, Nha Trang,
– 1972-1975 – Giáo sư thỉnh giảng Viện Đại học Cộng đồng Duyên Hải Nha Trang, trưởng phòng Pháp văn, phụ trách nội san Duyên Hải.
– 1990-1999 – Giáo sư thỉnh giảng (Ngôn ngữ và văn chương Pháp), Khoa Pháp văn, Trường Cao đẳng Sư Phạm Nha Trang.


Công tác xã hội : – Phó hội trưởng Hội Khuyến Học Nam kỳ (Société d’Enseignement Mutuel de Cochinchine), Sài Gòn 1940-1942
– Hội trưởng Hội Vinh Sơn (Conférence de Saint Vincent de Paul) Nha Trang. 1950-1952. Hội trưởng Hội Kiến Hương, Nha Trang, 1950.
– Uỷ viên Đạo trưởng Đạo Nam Hội Hướng Đạo Trung Kỳ, 1938-1944.
– Deputy Camp Chief of Gilwell. Phụ tá Trại trưởng Gilwell. Thành viên Ban Huấn luyện Trại trường Hướng đạo thế giới, London Anh quốc, 1957. Uỷ viên Huấn luyện Hội Hướng đạo Việt Nam, Trại trưởng Việt Nam 1958-1963.
– 1950-1954. Nghị viên Hội đồng quốc gia lâm thời.
– 1972 – Hội viên thiệt thọ Hội Nhà Văn Tiếng Pháp, Association des Ecrivains de langue francaise (ADELF), Paris .

nguồn: http://votanh.fateback.com

 
TRI ÂN THẦY

Tưởng nhớ bậc Thầy Cung Giũ Nguyên
Giả từ trần thế lắm ưu phiền
Giáo sư học giả lừng danh tiếng
Huynh trưởng đầu đàn sáng phúc duyên
Thông bác văn chương còn dấu tích
Thăng hoa đạo đức mãi lưu truyền
Kính Thầy xin gởi bài thơ tiễn
Vọng tiếng tri ân tận cõi Tiên

Nguyễn Đình Sài
(Đệ tử của Thầy năm 1957-1961)
 

HỌA

Xin tiễn đưa thầy Cung Giũ Nguyên
Từ nay rủ sạch hết ưu phiền
Cõi trần đau khổ nhiều oan nghiệp
Nước Chúa an bình lắm thiện duyên
Ngày xưa thầy rải bao tri thức
Bây giờ trò gặt lắm chân truyền
Thầy thênh thang bước vào thiên quốc
Chốn ấy thiên đường bạn với tiên .

Hương Cao

Ngọc lành tưởng vỡ lại hoàn nguyên

Ba chục năm qua lắm não phiền
Tài lắm lắm khi còn vướng tiếng
Tình bằng bằng  ấy mối lương duyên
Thái huyền* thế giới còn ghi tích
Nam Hải* trùng khơi vẫn dấu truyền
Thắp nén tâm hương ly rượu tiễn
Khóc Thầy Cung Giũ chốn thần tiên

  • Thái huyền: tên tác phẩm Le Boujoum
  • Nam Hải: tên tác phẩm Le fils de la Baleine
Nguyễn Thanh Ty
Thời gian và Cung Giũ Nguyên

Công Khanh

Cuối cùng, thầy tôi và nhiều thế hệ học trò từ những năm 1920 – 1970 ở Nha Trang, ông Cung Giũ Nguyên, đã qua đời ở tuổi 100. Còn nhớ, một dịp tết những năm 1970, lúc ấy thầy đã trên 60, lũ học trò đến nhà chúc thầy “sống lâu trăm tuổi”, thầy nghiêm mặt, lên giọng: “Không được trù thầy bằng cái giới hạn trăm năm ấy!”.
Lúc ấy, lũ học trò chúng tôi, tuy đang học triết với thầy Võ Doãn Nhẫn niên khoá 1973 – 1974 tại trường trung học bán công Lê Quý Đôn, nhưng cũng không mấy đứa để ý đến cái khái niệm thời gian mà thầy Nguyên đưa ra. Bản thân thầy Nhẫn cũng suốt đời đi tìm ý nghĩa của thời gian. Theo lời thầy Nhẫn, “sau cùng không chịu được nỗi niềm thao thức nhưng không kém tâm trạng nhức nhối về Thời gian, tôi đánh bạo viết điện thư qua thầy Nguyên nhờ thầy lý giải hộ: có Thời gian hay không…” Thầy Nguyên trả lời: “Thời gian hiện hữu thực sự anh Nhẫn ạ. Học sinh các lớp thảy đều công nhận hiện hữu Thời gian. Cứ mỗi lần các giáo sư giảng một bài tập toán hóc búa, các ông học trò non ấy đều thấp thỏm trông cho thì giờ trôi qua thật nhanh, nhưng khổ nỗi giờ phút trôi qua lại dài dằng dặc. Thế nhưng mà anh có quyền không chấp nhận cung cách nói về Thời gian của tôi đó nghe, tự do tư tưởng mà!”.
Bây giờ ngẫm lại mới thấy ý nghĩa của thời gian thực hữu với thầy Cung Giũ Nguyên, vì ở cái tuổi bảy mươi, ông già đã miệt mài bên máy tính, để hoàn thành bản thảo tác phẩm Le Boujoum dày 756 trang bằng tiếng Pháp (sau đó chính thầy lại phải cặm cụi ngồi dịch ra tiếng Việt với tựa đề là Thái Huyền (NXB Đại Nam California,1994)). Đó là một cuốn tiểu thuyết triết học khó nuốt. Và Le Boujoum kết thúc cũng bằng một nhận định về thời gian: “Cuộc đời không có chấm dứt, từ không đến có, rồi lại từ có đến không, qua những giai đoạn thành, thịnh, suy huỷ, rồi thành…”.
Cũng vậy, thời gian theo học thầy Nguyên của tôi chỉ có hai niên học, một ở trung, một ở đại học, nhưng đó là thời gian thực hữu qua nhanh, chứ không dằng dặc như ông nói xấu học trò trong định nghĩa thời gian ở trên. Nói về tài năng của ông trong một bài báo e không đủ, và sức cũng không đủ. Nói về một vài kỷ niệm có được với một người thầy hơn 40 năm đứng trên bục giảng thì khả dĩ.
Nếu thế hệ sau tôi, lỡ học Pháp văn nhằm thầy Nguyên đứng lớp thì hụt hơi liền! Đó là một ông thầy lên lớp không mảy may tôn trọng giáo trình, tuy đang là hiệu trưởng của trường chúng tôi đang theo học. Tôi nhớ bài học đầu tiên môn tiếng Pháp của niên khoá 1973 – 1974, có tính từ “loin” nghĩa là xa xôi. Thế là ông dẫn học sinh từ xa xôi đến hiu quạnh, đến cô đơn, với tất cả những từ phái sinh từ loin, và sau cùng ông nói về sự cô đơn của nhân loại – một lĩnh vực của… triết học. Đúng là ông thầy rất ư “sang đàng” chi địa. Hai giờ học chỉ có mỗi từ loin.
Có bận, có đứa học trò hỏi: thầy học triết hồi nào mà có thời gian thầy dạy triết ở Võ Tánh? Thầy Nguyên tỉnh bơ kể rằng có lần ông vào Sài Gòn, đến hiệu sách của ông Khai Trí, thấy bán nhiều sách triết, vốn trong túi đang có tiền, mới bảo cửa hiệu đo bán cho ông một thước sách triết, về để chưng trong nhà lấy le. Tình cờ thanh tra giáo dục ghé nhà, thấy ông có nhiều sách triết, trường Võ Tánh lại đang thiếu thầy triết, bèn mời ông dạy triết…
Thực ra, suốt đời ông, tự học là chính, vì từ năm 19 tuổi, học xong trung học, ông đã đi dạy học, đã có truyện ngắn đầu tiên đăng trên France-Asie. Tấm gương tự học của ông đã truyền lửa cho nhiều thế hệ học trò. Ông tự học triết và toán tại thư viện một tu viện ở Đà Lạt mất mấy năm. Sau khi hết đi dạy, ông lại tiếp tục làm việc ở các thư viện, cũng chính một trong những nơi này giúp ông già làm quen với tin học, để còn kịp cập nhật mình với phương tiện mới.
Lợi dụng cái đầu bách khoa của ông, lũ con gái trong giờ học, hỏi đủ chuyện sang đàng, từ tâm lý tình cảm, đến cả tính dục, nhờ ông xem tướng, xem chỉ tay. Mấy thầy dạy triết như thầy Nhẫn mỗi lần gặp từ khó giải thích như “kê gian” trong bài giảng về libido của S. Freud môn tâm lý học, mới bảo qua nhờ thầy Nguyên giải thích kỹ hơn. Nghe hỏi, thầy Nguyên lại kể chuyện sang đàng rằng ông nuôi một chuồng gà mái, một hôm có ai đem cho con gà trống, ông đem nhốt chung và con gà trống tử nạn vì nghĩa vụ. Rồi ông mới giải thích từ kê gian gọn gàng là đạp mái, ai không hiểu, kệ!
Trong không khí lớp học phí phạm thời gian của thầy Nguyên, học trò học được nhiều chuyện làm người. Ngay cả chữ viết của từng đứa thầy cũng chú ý. Nhìn chữ viết, thầy có thể nói về hoàn cảnh gia đình, về tính tình của học trò. Có đứa học trò nữ lớp 12 được thầy bảo thẳng: “Chị mà không đổi chữ viết lại thì sau này chỉ có nước làm… gái!”.
Cũng nhiều đứa thắc mắc tại sao thầy Nguyên viết bằng tiếng Pháp, có khi bằng tiếng Anh, ít viết bằng tiếng Việt. Tiếng Pháp của thầy thì nhà văn viện Hàn lâm văn học Pháp Daniel Rops thừa nhận từ năm 1956 qua cuốn Kẻ thừa tự ông Nam Hải. Còn lũ học trò đọc một số văn bản tiếng Việt của thầy thì kháo nhau, thầy viết tiếng Việt dở ẹc! Nghe được ông chỉ cười miệng móm sọm.
Những kỷ niệm thầy trò có với thầy Nguyên khó mà kể hết. Đó là ý nghĩa thời gian thực hữu mà tôi cảm nhận từ một người thầy với một khối lượng tác phẩm đồ sộ rất phi thời gian.

Công Khanh

nguồn: qhbntkh

Đọc tiếp kỳ 2

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: