Vũ Thất

Bảo Bình 1

Tưởng nhớ Thầy Cung Giũ Nguyên ‘kỳ 2’

Điếu văn của đại diện Trung tâm Cung Giũ Nguyên và một số học trò cũ của Thầy Nguyên ở hải ngoại

Kính thưa Thầy,

 Trong bức phát họa chân dung của Thầy in nơi bìa sau tác phẩm Le Boujoum có ghi lời đệ tử một thiền sư Trung quốc như sau: “Khi chưa học với Thầy, thấy sông là sông thấy núi là núi. Khi theo học với Thầy, thấy sông không còn là sông thấy núi không còn là núi. Sau khi học với Thầy, thấy sông vẫn là sông thấy núi vẫn là núi.”
Học trò cũ của Thầy đang sống nơi hải ngoại hay còn ở quê nhà trung bình đã học với Thầy hơn 40 năm rồi. Người trẻ nhất gần 20 năm, lớn nhất hơn 60 năm. Ngày nay, cách thấy sông, núi của mỗi người hẵn là khác nhau, và có thể khác cả cách thấy sông, núi của chính Thầy. Tuy nhiên, đối với rất nhiều người trong chúng con, hình ảnh Thầy không khác bao nhiêu. Đặc biệt, với thế hệ học trò Nha trang thuộc thập niên 50, hình ảnh đó gắn bó thân thiết với tuổi thơ chúng con. Không đơn giản chỉ là hình ảnh một người thầy có tài năng chuyển giao tri thức, mà dĩ nhiên Thầy có thừa khả năng đó trong phạm vi chuyên môn của Thầy. Gắn bó một cách đặc biệt vì đó là hình ảnh một vị Thầy khả kính biểu tượng của một thế hệ thầy giáo vào tuổi 100 mà chắc chẵng còn bao nhiêu ở lại với thế gian này, nhưng đã tác động sâu xa vào tâm hồn học trò mình. Cho đến nay, học trò Thầy rời mái trường đã lâu lắm rồi, hầu hết đầu đã bạc, vậy mà âm vang những câu chuyện hay bài học “ngoài môn học,” hay những lời giảng về cách nhìn cuộc đời, cách nhìn một thế giới lớn rộng hơn cái không gian nhỏ bé của mình hay vượt ngoài cái thời gian hạn hẹp của mỗi đời người, dường như vẫn còn đâu đó. Đồng thời, khó có mấy ai quên được nụ cười thật đặc biệt mỗi khi thầy chuyển tải các bài học này.Bài học nhiều lắm. Chúng con chỉ muốn nhắc lại ba bài học chính của Thầy, được nhắc đi nhắc lại rất nhiều, mà chúng con phải học mãi trong suốt cuộc đời mình. Những bài học ngỡ rằng đơn giản nhưng thật không dễ học. Những bài học vô cùng quý giá vì nó thật sự quan trọng cho cuộc đời và vì không chắc học trò nào khi đến trường đều được dạy theo một cường độ và cung cách như vậy. Nhắc lại ở đây như một lời biết ơn trước khi nói lời vĩnh biệt Thầy.Hãy luôn nhìn về tương lai. Hãy luôn làm việc hết mình và không ngừng học hỏi. Hãy nuôi hy vọng.Thời gian mấy mươi năm qua, học trò Thầy và cả chính Thầy, đã trải qua bao thăng trầm. Càng thấm thía với những lời dạy này, và với rất nhiều học trò của Thầy, nó trở thành một cái phao tinh thần cho cuộc đời họ, bởi vì, trong suốt mấy mươi năm qua, có mấy ai không có những lúc muốn quị xuống, muốn buông xuôi, muốn bỏ cuộc, muốn mặc cho thế sự quay quần như thế nào, quay mình đi như thế nào. Bài dạy chỉ thật sự có tác dụng nếu chính người dạy tin và sống theo nó. Từ những nơi rất xa, nhìn về quê nhà, thấy cách sống của Thầy, ở vào cái tuổi của Thầy mà vẫn lừng lững không chịu thua với khả năng tàn phá của thời gian, học trò Thầy ấn tượng vô cùng.

Thầy có một quá khứ rất đáng để trân trọng nhưng Thầy luôn nhìn về trước và luôn làm giàu thêm cho sự nghiệp tinh thần của mình và làm giàu thêm cho cuộc đời. Trong một hoàn cảnh không thuận lợi chút nào, Thầy không ngừng viết, suy nghĩ, và cả học hỏi. Ở tuổi gần 100, vượt xa cái tuổi tự cho là “tri thiên mệnh” của người xưa, Thầy vẫn học. Thầy sử dụng computer rành hơn nhiều học trò Thầy bên kia bờ đại dương. Gần tuổi 100, Thầy vẫn còn ngồi trước máy vi tính gởi e-mail đến các học trò, người thân ở khắp nơi, cho đến khi… cơ thể Thầy không còn cho phép Thầy tiếp tục.

Chúng con, mỗi lần hồi tưởng lại khoảng thời gian đổi thay lớn trong đời, không mấy ai không thấy lạnh người. Nhưng cũng trong thời gian đó, ở Nha trang, thầy lặng lẽ ngồi viết tác phẩm Le Boujoum bằng tiếng Pháp, dày 684 trang. Chúng con thích ghi lại câu mở đầu và cũng là câu kết thúc trong tác phẩm này, do chính Thầy chuyển ngữ “…một vật lơ lững trên vực thẳm, được những sợi tơ mành của hy vọng giữ lại. Hy vọng nơi ai? Hy vọng nơi gì? Và có lý do nào để hy vọng? Nhờ biệt lệ nào được nâng đỡ như thế này, trong thời gian có giới hạn nhất định. Hay ta lại muốn cho thời gian còn kéo dài mãi, hay ít ra còn lâu nữa mới chấm dứt. Bởi tánh cách đột ngột của sự việc quá rõ ràng, nhưng một mối đầu luôn luôn phải có đối ứng tất yếu là đầu mối kia. Tuy sự quên lãng những quy luật thường đi đôi với ảo tưởng. / Dưới kia là một vực thẳm âm u cuồn cuộn…”
Kính thưa Thầy,
“Trăm năm” không chừa ai. Thầy đã vượt qua cái khoảng thời gian gần đúng 100 năm với một phẩm cách riêng biệt của Thầy, xưa nay mấy ai có được? Thầy để lại bao nhiêu thương tiếc cho người thân và cho rất nhiều học trò củ của Thầy. Thầy để lại những tác phẩm làm giàu cho cuộc đời, Thầy để lại những bài học quý giá. Đến lúc Thầy vĩnh viển ra đi. Chúng con cầu mong linh hồn Thầy sớm về nơi tốt đẹp.
Vĩnh biệt Thầy.
Trương Hồng Sơn
Thay mặt Trung tâm Cung Giũ Nguyên và một số học trò cũ của Thầy ở hải ngoại.


Chữ trinh còn một chút này!

Nguyễn Thanh Ty
Theo Từ điển văn học (bộ mới, NXB Thế Giới 2004): Cung giũ Nguyên là một nhà giáo dục, nhà báo, nhà văn Việt Nam. Ngoài ra ông còn có tên trong danh sách các nhà văn thế giới viết văn bằng tiếng Pháp. Tác phẩm của ông đã được các nhà xuất bản ở Pháp, Đức, Canada, Hoa Kỳ và Việt Nam phát hành. Trong đó có những tác phẩm được chú ý nhiều như, về tiếng Việt: Một người vô dụng, Nhân tình thế thái, Nợ văn chương, Những ngày phiêu bạt, Nửa gánh tang bồng, Một chuyến về…
Về tiếng Pháp, những tác phẩm nổi tiếng được thế giới biết đến nhiều vào những năm 1950-1960 như: Le fils de la Balaine, Le Domaune Maudit, tiểu luận Volontés d’existence, Le Boujoum, tập thơ Texte Profane…
(Trích Phan song Ngân )
 
 
“Trăm năm trong cõi người ta…”
 
Thầy Cung Giũ Nguyên đã đi trọn đọan đường trăm năm của “cõi người ta” vào ngày mùng 7 tháng 11 năm 2008, lúc 3giờ15 sáng, tại nhà riêng, số 60 đường Hoàng văn Thụ Nha Trang Khánh Hòa, một cách thanh thản, nhẹ nhàng.
Thầy sinh ngày 28 tháng 4 năm 1909 tại Minh Hương, Thừa Thiên, Huế. Sau khi “nợ tang bồng trăng trắng vỗ tay reo” Thầy đã bách niên viên mãn tuổi trời ban.
Thầy đã rũ sạch bụi trần ai để về nơi “Nước Nhược” sau khi lưu lại cho hậu thế, nhất là đám môn sinh của Thầy, một gia tài văn học quí hiếm và nhiều lưu luyến tiếc thương.
Về tài năng và sự cống hiến của Thầy đối với xã hội, sách vở trong nước lẫn ngoài nước trên thế giới, người ta đã ca ngợi Thầy quá nhiều rồi.
Tôi chỉ là một học trò nhỏ của Thầy từ niên khóa 1955-1956, trường tư thuc Tương Lai, lớp Đệ Thất, học Pháp văn chỉ có một năm với Thầy, chia vẹc bờ “être” chưa sạch nước cản.
Qua năm sau, học Thầy Nguyễn Bá Mậu. Tới năm Đệ Tam, vào trường Võ Tánh, học Thầy Bửu Cân.
Cho nên hôm nay, tưởng nhớ đến Thầy, tôi chỉ có vài mẫu kỷ niệm nho nhỏ mà tôi vẫn ghi nhớ trong lòng mãi không quên, xin kể lại đây như một nén tâm hương thắp lên để tiễn đưa Thầy đến nơi an nghỉ vĩnh hằng.
 
Hôm đó đang giữa giờ học, nhân viên văn phòng mang đến cho Thầy một bưu kiện. Thầy mở ra xem. Đó là những tờ quảng cáo cho cuốn sách của Thầy vừa mới in xong tại Pháp. Tờ quảng cáo in nhiều màu sắc rất đẹp trên giấy láng. Bọn nhóc chúng tôi thấy đẹp nhao nhao lên xin. Thầy vừa cười vừa phát cho mỗi đứa một tờ với lời dặn dò:
–         Giấy dầy lắm đó! Các con không dùng được đâu!
Chúng tôi không hiểu ý Thầy nói. Mặc dù chúng tôi không đọc được những gì in trên đó, nhưng tờ giấy láng có nhiều màu sắc xanh đỏ rất đẹp vẫn được chúng tôi trân trọng mang về nhà dán trên vách, trước bàn học để dành khoe với mấy đứa bạn học trong xóm, khác trường, một cách hãnh diện:
– Tờ quảng cáo sách của Thầy tao, Thầy Cung Giũ Nguyên viết truyện bằng tiếng Tây, in tận bên Tây đó mầy!
Người ta học tiếng Tây bỏ vào bụng, còn tôi học tiếng Tây lại bỏ vào “vò”. Cho nên câu vè dân gian của xóm tôi thường dùng để chế diễu mấy anh học trò dốt như tôi, rất thấm thía:
 
“Tiếng Tây anh bỏ trong vò,
Đến khi Tây hỏi lại mò không ra!”
 
Chính cái lúc gặp Tây ngoài đường hỏi chuyện, miệng cứ lúng ba lúng búng, nói chữ được chữ mất, cứ như đang ngậm hột thị, thì tôi mới hiểu ra những lời giảng dạy và câu nói của Thầy năm xưa, lúc học vỡ lòng tiếng Tây.
Và cũng hiểu được thêm rằng “être” không chỉ có nghĩa “thì là mà” mà còn nhiều nghĩa thâm sâu, triết lý của cuộc đời như “hiện hữu” của Sartre, như “bản ngã” của giáo lý nhà Phật…mà lúc ấy chúng tôi chỉ nghe như vịt nghe sấm.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một cuộc đổi đời, một nền văn hóa mới, “văn hóa xã hội chủ nghĩa” được áp đặt lên miền Nam, tất cả những giáo chức ở Nha Trang (và có lẽ khắp miền Nam!) được lệnh cơm bầu, nước giỏ đến trường Tiểu Học Tân Phước để học tập ba ngày về đường lối chủ trương của “Nhà nước cách mạng”.
Số giáo chức Nha Trang chạy vào Sài Gòn khá nhiều. Số còn lại chỉ chừng hơn vài trăm, ngồi im phăng phắt để nghe cán bộ giáo dục thuyết giảng về “sự ưu việt” của “văn hóa xã hội chủ nghĩa”.
Mấy cán bộ ngồi trên bàn chủ tọa, súng lục xề xệ bên hông, phía sau lưng có ba anh “thầy giáo ngụy” đang lăng xăng hầu trà pha nước.
Không biết họ moi ở đâu ra mấy cuốn “Đồi thông hai mộ”, “Minh tâm Bửu giám”…cứ nhá lên, nhá xuống, vừa cười nham nhở vừa phê phán:
–         Đấy! Cái thứ văn hóa đồi trụy của Mỹ Ngụy như thế đấy!
Một trong ba cán bộ cộng sản ngồi bên trên có ông Cung Giũ Phú, ở ngoài Bắc mới vô, đang nắm giữ chức Giám đốc Khu Triễn lãm 2/4 tại Nha Trang, em ruột của Thầy Cung Giũ Nguyên.
Phía dưới đám “ngụy giáo”, Thầy Cung Giũ Nguyên ngồi hàng đầu. Suốt ba ngày, Thầy vẫn ung dung tự tại, thái độ điềm nhiên, ngồi yên lặng, miệng vẫn ngậm pipe, lơ đảng nghe lời giáo huấn của kẻ thắng trận.
Tôi ngồi sau lưng Thầy, lòng cứ bồn chồn, tâm trạng vừa ngao ngán vừa thắc thỏm không yên.
Ngao ngán cho sự đời, kẻ vô học được thời nhảy bàn độc thì ít, mà cho ba anh “giáo ngụy” điếu đóm sau lưng thì nhiều.
Kết thúc ba ngày “cải tạo tư tưởng”, làm bản “thu hoạch” để tổng kết thành tích học tập, “Ban Giảng huấn” mời Thầy Cung Giũ Nguyên đại diện cho học viên khóa học, lên phát biểu ý kiến.
Tôi tự hỏi không biết Thầy mình sẽ nói cái gì bây giờ? Nói theo chăng? – Không được! Nói nghịch lại để phản ứng chăng? – Lại càng khó. Sẽ “có vấn đề” ngay!
Trong lúc tôi đang lúng túng tìm cách để tự trả lời thì Thầy ung dung đứng dậy tại chổ, chứ không bước lên phía trên, và vẫn cứ bằng một giọng cố hữu, vừa trầm vừa chậm rãi, Thầy thong thả nói rõ từng tiếng:
– Trong ba ngày nay các ông đã nói quá nhiều rồi, quá đủ rồi, chúng tôi đâu còn có gì để nói nữa!
Nói xong, Thầy ngồi xuống và tiếp tục ngậm ống tẩu, thở khói.
Tự dưng tôi nghe hả hê trong dạ và chợt nhớ đến lời của Thầy Nguyễn Duy Nhường dạy Việt văn: “ Nghề dạy học có ba điều đáng hãnh diện. Đó là “Bần hàn bất năng di, phú quí bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất.”
Thầy Cung Giũ Nguyên của tôi đang thể hiện điều thứ ba một cách tự nhiên như ông đang hút ống vố.
 
Cách đây mấy năm, tôi nhận được một tape Video do Trung tâm CGN gửi tặng. Tôi không còn nhớ rõ là cuốn băng thu hình về buổi lễ trao học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo ở Nha Trang-Khánh Hòa hay là buổi họp mặt đầu xuân của toàn thể Thầy, Cô giáo còn lại quê nhà.
Tôi ngồi coi cuốn băng mà lòng cứ ngậm ngùi khi thấy lại hình ảnh của những người Thầy thân thương của mình giờ đây sao mà… mặc dù các Thầy Cô vẫn cười nói, vẫn vui vẻ…
Có Thầy vẫn còn tráng kiện lắm, bước đi vẫn còn mạnh mẻ, lưng vẫn còn thẳng dù tuổi đời ai cũng đã quá bảy mươi.
Hình ảnh cứ lần lượt chạy qua, sao trong thâm tâm tôi vẫn không thể nào quên được hình ảnh Từ Hải của Cụ Nguyễn Du:
“Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo phận mình ra chi.”
Nhưng đến đoạn Thầy Cung Giũ Nguyên được mời lên phát biểu, tôi đưa tay bấm âm lượng lớn hơn lên và chú ý lắng nghe.
Lâu lắm, kể từ ngày ấy, cái ngày mà “trời đất nổi cơn gió bụi”, tôi đã không có dịp nào gặp được Thầy nữa để nhìn lại cái cười nửa miệng của Thầy, nghe lại giọng nói “thâm trầm” của Thầy mà theo nhiều bậc trưởng thượng trong làng “nhà giáo” kể lại là “đêm nằm nghĩ lại nát bầm lá gan”.
Kể ra cũng đã ba mươi ba năm. Một phần ba đời người.
Tôi nhìn miệng Thầy nói, vẫn cái cười nửa miệng, vẫn cái giọng trầm trầm, nhưng đôi mắt hình như đã lờ đục sau đôi kính trắng.
Thầy nói rất ngắn, gọn:
– Hôm nay, trước các Thầy giáo, Cô giáo tôi xin nói về chữ trinh của nàng Kiều.
Bên dưới, tiếng các Thầy, Cô giáo cười rộ lên vui vẻ. Thầy lặng đi một chút cho tiếng cười lắng xuống rồi tiếp tục:
– Nàng Kiều sau mười lăm năm lưu lạc một kiếp phong trần, khi cả nhà được đoàn viên, Kim Trong xin nối lại tơ duyên, Kiều đã than rằng:
– “Chữ trinh còn một chút này!”
Các Thầy, Cô giáo có biết chữ trinh này nghĩa là gì không?
Nghe đến đây, bỗng dưng nước mắt tôi trào ra, không kịp ngăn lại. Một nỗi xúc động mãnh liệt vỡ òa trong tôi giống như dòng thác ngầm âm ỷ bấy lâu nay giờ bỗng được khơi nguồn. Dòng nước mạnh mẽ chảy tràn trề lênh láng trong đối mắt tôi.
Hình ảnh của Thầy Nguyên nhập nhòa trước màn ảnh ti vi không rõ nét. Tôi cứ để mặc cho nước mắt tôi tự do tuôn chảy. Tôi khóc to thành tiếng một cách ngọt ngào. Lâu lắm rồi tôi không khóc được. Nước mắt tôi đã khô cạn từ lâu.
Cám ơn Thầy Cung Giũ Nguyên. Cám ơn Thầy đã điểm đúng tâm huyệt của con. Cám ơn Thầy đã giúp con có thể khóc, có thể cười trở lại để còn đủ nghị lực đối diện với cuộc đời đầy nghiệt ngã, đau thương.
– Vâng, Thưa Thầy, con hiểu. Con nguyện theo lời Thầy mà mãi mãi giữ gìn tấm lòng trinh này.
Hôm nay Thầy đã giã từ cõi tạm, “cõi người ta”, nơi Thầy đã đến, để trở về lại quê hương vĩnh hằng.
Con xin dâng nén tâm hương và mượn mấy lời thơ của B/s Tâm Minh Lê đình Thám để tiễn đưa Thầy lên đường:
 
“ Trăm năm trước thì ta chưa có
Trăm năm sau có lại hoàn không
Cuộc đời sắc sắc không không
Trăm năm còn lại tấm lòng từ bi.”
 
Nguyễn Thanh Ty Boston 10/11/2008
nguồn: votanh.fateback.com
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: