Vũ Thất

Bảo Bình 1

VIỆT NAM NGÀY NAY (kỳ 34)

1. ‘Bất mãn chưa từng thấy’?

Theo BBC

Tình hình kinh tế chính trị Việt Nam đang xấu đi rất nhiều

Tình hình kinh tế chính trị Việt Nam đang xấu đi rất nhiều

Nhật báo New York Times hôm thứ Tư ngày 24/4 vừa đăng một bài báo về lòng tin của người dân Việt Nam vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tình hình khó khăn hiện nay.

 Dưới tiêu đề ‘Những lúc khó khăn cũng là lúc bất đồng và trấn áp công khai nở rộ ở Việt Nam’, nhà báo Thomas Fuller của New York Times đã đưa ra quan sát này trong một lần đi tìm hiểu thực tế mới đây ở thành phố Hồ Chí Minh.

 Nhân vật chủ đạo trong bài báo là giáo sư Nguyễn Phước Tương (tức Tương Lai), cựu cố vấn của hai đời thủ tướng Việt Nam.

 Ngoài ra ký giả này cũng đã trao đổi với ông Trương Huy San (tức nhà báo Huy Đức), một cựu cố vấn khác của thủ tướng là Tiến sỹ kinh tế Lê Đăng Doanh, cũng như một số nhà quan sát khác để tìm hiểu về tình hình kinh tế chính trị của Việt Nam hiện nay.

‘Không tin Đảng nữa’

 “Trên các kệ sách chất đầy các tuyển tập của Marx, Engels và Hồ Chí Minh, dấu ấn của một đời trung thành với Đảng Cộng sản, nhưng ông Nguyễn Phước Tương, 77 tuổi, nói ông không còn tin vào Đảng nữa,” bài báo bắt đầu từ tư gia của GS Tương Lai ở ngoại ô thành phố lớn nhất nước.

 “Ông Tương, cũng giống như rất nhiều người khác ở Việt Nam hiện nay, đang lên tiếng phản đối chính quyền mạnh mẽ.”

 “Chế độ của chúng tôi là độc tài toàn trị,” ông Tường được dẫn lời nói, “Tôi là người sống trong lòng chế độ – tôi biết tất cả những khiếm khuyết, những sai lầm sự suy thoái của nó.”

“Nếu chế độ này không được sửa đổi thì tự nó sẽ sụp đổ,” ông nói thêm.

 Theo Fuller thì Đảng Cộng sản Việt Nam đang đối mặt với sự giận dữ ngày càng tăng của người dân về sự trượt dốc của nền kinh tế và nội bộ Đảng đang bị chia rẽ giữa một bên là những người bảo thủ muốn vẫn duy trì những nguyên tắc soi đường của chủ nghĩa xã hội và sự độc quyền lãnh đạo và một bên là những người kêu gọi một xã hội đa nguyên và chấp nhận hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.

 Tuy nhiên quan trọng nhất là Đảng đang đối phó với một xã hội thông tin ngày càng rộng mở và khán giả ngày càng tỉnh táo trước các thông tin khi mà có nhiều tin tức và ý kiến khác nhau lan truyền trên mạng làm ảnh hưởng đến sự tuyên truyền của truyền thông Nhà nước.

 Bài báo dẫn nhận định của ông Carlyle A. Thayer từ Học viện Quốc phòng Úc, một trong những học giả nước ngoài hàng đầu về Việt Nam, cho rằng giờ đây sự chỉ trích Đảng đã ‘bùng nổ trên toàn xã hội’.

 Đây là khác biệt lớn nhất so với các thách thức mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng trải qua kể từ khi Đảng này thống nhất đất nước 38 năm trước đây như cuộc chiến với Trung Quốc và Campuchia, khủng hoảng tài chính và chia rẽ nội bộ.

 Cũng theo quan sát của ông Thayer thì ‘bất đồng nở rộ nhưng đồng thời sự đàn áp cũng gia tăng’.

‘Bi quan sâu sắc’

Kinh tế Việt Nam đang bộc lộ hết tất cả những khiếm khuyết mà thời gian dài không được khắc phục

Kinh tế Việt Nam đang bộc lộ hết tất cả những khiếm khuyết mà thời gian dài không được khắc phục

“Có thêm nhiều người muốn bày tỏ chính kiến phê phán chính phủ của mình hơn trước và những gì họ chỉ trích cũng nghiêm trọng hơn,” ông Trương Huy San (tức nhà báo, blogger Huy Đức – tác giả Bên Thắng Cuộc), nói với New York Times.

 Vấn đề đăṭ ra ở đây, theo nhà báo Fuller, là ‘khó mà hiểu được sự bi quan sâu sắc’ của người dân trên đất nước này nếu nhìn vào bề mặt của sự tăng trưởng kinh tế.

 Theo bài báo này thì nhiều người cho rằng Việt Nam đang mất phương hướng mặc dù đất nước này có dân số trẻ và làm việc chăm chỉ.

 “Trong vòng 21 năm sống ở đất nước này tôi chưa bao giờ sự bất mãn với chế độ của trí thức và doanh nhân đến mức độ như hiện nay,” ông Peter R. Ryder, giám đốc điều hành của Quỹ đầu tư Indochina Capital, được dẫn lời nói.

 Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức hồi đầu tháng Tư năm nay, các diễn giả đã ‘tranh nhau nói trước micro’, kinh tế gia Lê Đăng Doanh thuật lại với New York Times.

 Ông cho biết nhiều người đã chỉ trích mặc dầu nền kinh tế cần phải được tái cơ cấu sâu rộng nhưng ‘gần như chẳng ai làm gì cả’.

 “Đó là sự khủng hoảng lòng tin,” ông Doanh được dẫn lời nói, “Năm nào người ta cũng nghe hứa hẹn là thời gian tới mọi việc sẽ được cải thiện nhưng họ không thấy gì cả,” ông nói.

Bài báo đã nêu đích danh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là trung tâm của cơn bão chính trị hiện nay.

 “Sự tự tin thái quá và các chương trình đầy tham vọng của ông Dũng lúc đầu giúp ông có người ủng hộ bởi vì ông đã đoạn tuyệt với khuôn mẫu một cán bộ Đảng xơ cứng,” bài báo viết.

 Tuy nhiên, sau đó ông làm nhiều người bất mãn với việc giải tán ban cố vấn vốn là động lực phía sau chương trình cải cách kinh tế mà ông Tương Lai là một thành viên.

 Bên cạnh đó, chính sách kinh tế mang dấu ấn cá nhân ông Dũng là thúc đẩy thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước theo kiểu các chaebol của Hàn Quốc, đã đem lại hiệu quả ngược.

 Điều hành các tập đoàn này những người thân cận với Đảng Cộng sản, những người đã biến các tập đoàn thành nhiều công ty khác nhau mà họ không đủ khả năng điều hành cũng như đầu cơ trên thị trường chứng khoán và bất động sản.

 Hai tập đoàn trong số này đã gần như sụp đổ và đang đứng bên bờ vực phá sản.

‘Căng thẳng trong Đảng’

Báo Mỹ viết Đảng Cộng sản ngày càng mất đi sự ủng hộ trong lòng người dân Việt Nam

Báo Mỹ viết Đảng Cộng sản ngày càng mất đi sự ủng hộ trong lòng người dân Việt Nam

Ông Nguyễn Phước Tương nói với New York Times rằng những khó khăn của nền kinh tế đã khiến cho căng thẳng trong nội bộ Đảng Cộng sản dâng cao.

 Hồi tháng Hai, ông đã tham gia soạn thảo một thư kiến nghị gửi đến lãnh đạo Đảng Nguyễn Phú Trọng để kêu gọi thay đổi Hiến pháp theo hướng đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân. Ông nói đến nay ông chưa nhận được phản hồi gì cả.

 Giờ đây ông đang cảm thấy áp lực thời gian, ông cho biết. Căn bệnh ung thư của ông, mặc dù đang thuyên giảm, giống như là sự giải phóng tư tưởng thôi thúc ông phải nói lên điều mà ông cho là sự thật, ông nói.

 “Nói cho cùng, Marx là một nhà tư tưởng vĩ đại,” ông nói, “Nhưng nếu như thế giới này chưa từng có Marx thì có lẽ sẽ tốt đẹp hơn.”

 Bản điện tử của bài báo này trên trang chủ của New York Times đã nhận được một số ý kiến phản hồi của độc giả.

 Một người ký tên là R. Vasquez đến từ tiểu bang New Mexico của Hoa Kỳ bình luận:

 “Đảng (Cộng sản Việt Nam) đã cạn nhiệt huyết và ý tưởng. Những người thật sự còn trung thành với lý tưởng cộng sản giờ cũng đã 70, 80 tuổi… Các thế hệ tiếp nối sẽ thấy ngày càng khó mà hài hòa giữa những lý luận của các nhà tư tưởng ở châu Âu vào thế kỷ 19 với nhu cầu và khát vọng của nước Việt Nam trong thế kỷ 21.”

 Còn Party State đến từ thành phố Vancouver của Canada thì viết:

 “Đảng Cộng sản Việt Nam đã suy đồi cả về tinh thần lẫn đạo đức. Sự mục nát sẽ dẫn đến chỗ Đảng sụp đổ. Vấn đề ở đây là điều gì sẽ xảy ra sau đó? Liệu Việt Nam có trở thành một chế độ độc tài quân sự hay sẽ có một nhân vật như Hun Sen lên nắm quyền? Tương lai, tôi sợ rằng, sẽ còn tồi tệ hơn nhiều so với hiện tại.”

‘Giá đừng phản chiến’

Charles ở Slough, Vương quốc Anh, tự vấn phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Độc giả này viết:

 “Những người chúng ta đã từng tham gia vào phong trào phản chiến trong những năm 60 và 70 nên treo cổ trong tủi hổ và nên xin lỗi người dân Việt Nam. Với việc ủng hộ phe cộng sản và gây sức ép lên Quốc hội cắt đứt mọi viện trợ cho miền Nam Việt Nam thì chúng ta đã góp phần đảm bảo cho chiến thắng của ông Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta.

 Lại nữa, hãy thử nghĩ xem nếu không có cuộc cách mạng này thì ngày nay Việt Nam đã tốt hơn như thế nào? Ba mươi năm chiến tranh, số người chết không kể xiết, thiệt hại và đau thương vô cùng lớn – tất cả chỉ để đem đến kết cục là một chế độ kinh tế Marxist không khả thi do một Đảng cộng sản suy đồi và tàn bạo lãnh đạo.

 Hãy nghĩ xem giờ này Việt Nam sẽ như thế nào nếu họ trải qua 60 năm thị trường tự do giống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Singapore. Chắc chắn là không hoàn hảo nhưng sẽ tốt hơn nhiều và lại không có chết chóc hay tàn phá.”

 Tuy nhiên ý kiến này đã bị một công dân mạng khác có tên là Khang Duong từ Việt Nam phản bác:

“Ông chỉ đọc từ một phía và ông không hiểu gì về Việt Nam cả. Tôi không nghĩ rằng Việt Nam sẽ tốt hơn nếu không làm cách mạng. Đất nước của ông bị nước khác tàn phá, người dân của ông mất hết quyền lực và bị đối xử như súc vật? Miền Nam điêu tàn dưới tay của một kẻ độc tài. Ngô Đình Diệm không phải do người dân Việt Nam mà là người Pháp, người Mỹ đưa lên. Nếu Hồ Chí Minh không làm cách mạng thì cũng sẽ có một cuộc cách mạng khác mà thôi.”

nguồn: Que Choa

2. 38 NĂM SAU 30-4-1975 VIỆT NAM ĐEN TỐI HƠN BAO GIỜ HẾT

Phạm Trần

Cứ tưởng sau 30/4/1975 khi đất nước đã quy về một mối, hết còn chiến tranh thì mọi người Việt Nam ở hai  chiến tuyến Bắc-Nam sẽ tay bắt mặt mừng, cùng nhau xây dựng lại Tổ quốc để được sống hạnh phúc, nhưng 38 năm sau lòng người vẫn phân tán, hạnh phúc còn xa tầm tay và đất nước chưa thấy ngày mai.

Đó là thực tế phũ phàng và đáng buồn, không ai muốn thấy nhưng nó đã xẩy ra và chưa ai biết rồi vận nước và phận mình sẽ đi về đâu.

Sau đây là những nguyên nhân tạo thành bức tranh u ám ấy:

Thứ nhất, đảng cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã mất định hướng, kể từ sau Cuộc cách mạng “Đổi mới hay là chết” 1986  để cứu nguy đất nước dười thời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh.

Hy vọng vội vàng muốn đảng “mở cửa chính trị” và “ tư do tư tưởng” đã bị khoanh lại chỉ sau 2 năm ngắn ngủi.

Ngay cả những bài viết, được người dân và đảng viên hoan nghênh, trong mục “Những việc cần làm ngay”  trên báo Nhân Dân của Tác gỉa N.V.L. ( Nói Và Làm hay Nguyễn Văn Linh) bàn về những việc cần phải sửa đổi  trong xã hội và chính quyền cũng bị rút lại.

Đến thời Tổng Bí thư Đỗ Mười, sau Đại hội đảng kỳ VII (27/06/1991), chính sách bóp nghẹt hà khắc được áp dụng theo Cương lĩnh  gọi là “Xây dựng đất  nước trong thời ký qúa độ lên Chủ nghĩa Xã hội”. Kinh tế phát triển ngập ngừng “nửa nạc nửa mỡ” theo  “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tham nhũng nở rộ. Đảng viên đi chệch hướng, nghi ngờ tính hữu hiệu của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh lên cao sau khi các nước Cộng sản Đông Âu rồi  Nga Sô tan rã (từ 1989 đến 1991).

Ông Mười bỏ Nga theo Trung Cộng để được bảo vệ cả về an ninh, kinh tế lẫn lý  thuyết chính trị Cộng sản.

Có tin loan truyền  rộng rãi ở Việt Nam nói rằng, khi ông Đỗ Mười sang Thành Đô (Trung Cộng), trong tư cách Chủ tịch Hội đồng Bộ trường (Thủ tướng) tháp tùng Tổng Bí thư đảng Nguyễn Văn Linh và Cố vấn Phạm Văn Đồng họp với Tổng Bí thư đảng CS Trung Cộng Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng năm 1990, trước Đại hội đảng CSVN kỳ VII, phía Việt Nam đã ký với Trung Cộng một thỏa hiệp gọi là “Kỷ yếu hội nghị”, nhưng cả hai phiá đều “giữ bí mật”.

Ngòai việc hai nước nối lại bang giao sau Hội nghị Thành Đô, sau khi Việt Nam buộc phải rút quân khỏi chiến trường Cao Miên mà Việt Nam đã xâm lăng tháng 12/1978, đảng CSVN không cho ai biết ba ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng đã “thỏa hiệp” với Trung Cộng những gì !

Nhưng từ đó đến nay, Trung Cộng đã công khai  “xâm lăng” Việt Nam từ kinh tế, lãnh thổ đến đến chính trị mà Việt Nam chỉ dám phản ứng yếu ớt.

Ông Lê Khả Phiêu thay ông Đỗ Mười từ Đại hội đảng VIII (28-6-1996), nhưng nội bộ đảng lại rệu rã thêm với tình trạng tham nhũng gia tăng, kỷ luật kém, nạn chạy chức chạy quền lên cao. Cán bộ, đảng viên xa đảng và xa cả dân khiến liên hệ được gọi là “máu thịt” giữa dân và đảng lõang ra.

Vào tháng 2/1999, Ban Chấp hành Trung ương đưa ra Nghị quyết 6 (lần 2) về “một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay ” nhằm xây dựng, chỉnh đốn đảng.

Nghị quyết 1999 viết rằng: “ Trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng đang bộc lộ một số yếu kém: sự suy thoái về tư tưởng chính trị; tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm, bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước chậm được củng cố và đổi mới. Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy rmạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng phải có biện pháp phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục củng cố, chỉnh đốn, để ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ.”

 

Đến Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) , sau khi ông Nguyễn Phú Trọng lên làm Tổng Bí Thư, thì Nghị quyết về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, giống hệt như Nghị quyết 6 (lần 2) của 13 năm trước được chấp thuận ngày 31/12/2011.

Văn kiện quan trọng này viết : “ Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ.”

Nghị quyết  nói rõ  rằng : “ Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”

Như thế thì đảng CSVN  đã “ mất định hướng” chưa hay vẫn còn nói là mới có “tự diễn biến” và “tự chuyển hoá”, chưa  đến tình trạng “tự rã đám” hay “tự ý tan hàng” ?

AI THEO TẦU HƠN AI ?

Thứ hai, nội bộ thì như thế, nhưng trong quan  hệ với Trung Cộng thì ông Phiêu đã lưu lại vết nhơ không kém hai ông Linh và Mười bao nhiêu.

Dù Việt Nam đã nhiều lần cải chính, nhưng việc  nhượng đất ở biên giới và lãnh hải cho Trung Cộng của “triều đại” Lê Khả Phiêu đã rõ trong 3 “Hiệp ước biên giới trên đất liền” (30/12/1999); “Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ” “Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ” (25/12/2000)

Cụ thể Việt Nam đã mất  đất như thế nào thì hãy nghe lời kể của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ của CSVN tại Bắc Kinh từ 1974 đến 1989, như sau :

Đánh ta năm 1979 một mặt gạt bỏ sự hàm ơn của ta đối với những giúp đỡ trước đây của nhân dân Trung Quốc, mặt khác tự phơi bày ý đồ vụ lợi trong sự viện trợ cho ta. Khi không đạt được thì trở mặt….Năm 1984, Trung Quốc huy động một Trung đoàn với hỏa lực mạnh liên tục tấn công bắn giết phân đội quân ta đóng giữ cao điểm 1.502 ở huyện Vị Xuyên, cuối cùng chiếm lấy cao điểm ấy làm điểm quan sát từ xa, nhòm vào nội địa ta. Ở biên giới phía Bắc nước ta từ trước đến nay, dân hai bên đã có những việc xâm canh, xâm cư, dân ta cũng có một số điểm xâm canh sang đất Trung Quốc, diện tích không đáng kể, dân Trung Quốc xâm canh, xâm cư sang nước ta tại rất nhiều điểm, tổng diện tích khá lớn. Trong đàm phán phân định biên giới, Trung Quốc luôn nêu lên “phân định theo hiện trạng”, tranh luận qua lại, Trung Quốc luôn nêu “nhân nhượng lẫn nhau vì đại cục (?), cuối cùng Trung Quốc vẫn ăn hơn thì mới chịu. Thác Bản Giốc vốn của ta nay họ chiếm đứt được một nửa. Xưa Nguyễn Trãi tiễn cha đến tận ải Nam Quan, trước nay  ta vẫn nói đất nước ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, sau đàm phán, biên giới nước ta tụt lùi xuống mãi đến chợ Tân Thanh, đối diện đã là trụ sở hải quan của Trung Quốc….”
(17-03-2010, Bauxite Viet Nam)

Sau ông Phiêu, đến phiên ông Nông Đức Mạnh lên giữ chức Tổng Bí thư liền hai khoá đảng IX và X (từ 22/04/2001 đến 12/01/2011).

Trong 10 năm, ông Mạnh đã để cho Trung Cộng vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, mặc dù không có phép của Ủy ban Trung ương đảng và của Quốc hội.  Rất nhiều Công ty của Trung Cộng đã được ưu tiên “trúng thầu” nhiều dự án kinh tế với gía rẻ, chiếm nhiều vị trí chiến lược dọc theo bờ biển và dọc theo biền giới, qua kế họach cho thuê đất rừng dài hạn đến 50 năm !

Về khai thác Bauxite, mặc dù đã bị hàng ngàn người dân, trong số có nhiều Trí thức và chuyên viên Khoáng sản hàng đầu của Việt Nam, kể cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Nguyên Phó Chủ tịch Nước Bà Nguyễn Thị Bình và Đức cha Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch Ban Công lý và Hòa bình của Hội đồng Giám mục Việt Nam  khuyên can “dừng lại”, đảng vẫn hăm hở thực hiện mà chưa biết lợi hại về an ninh và kinh tế sẽ đưa đất nước đến đâu!

Ngày 24/4/2009, ông  Trương Tấn Sang (khi ấy là Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư )  đã thay mặt Bộ Chính trị ký Thông báo số 245- TB/TW về Kết luận của Bộ Chính trị về Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025. 

Kết luận viết : “ Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bô-xít là chủ trương nhất quán từ Đại hội IX và Đại hội X của Đảng đến nay. Triển khai các nghị quyết Đại hội, trong 2 nhiệm kỳ, Bộ Chính trị đã nhiều lần bàn và ra các nghị quyết, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng ngành công nghiệp bô-xít, alumin, nhôm, phục vụ phát triển kinh tế đất nước nói chung, góp phần phát triển kinh tế – xã hội Tây Nguyên nói riêng.

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng và phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025 với bước đi cụ thể và chỉ đạo triển khai 2 dự án khai thác bô-xít, sản xuất alumin đầu tiên tại Tân Rai (Bảo Lộc, Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắc Nông); đồng thời, chỉ đạo tìm kiếm, lựa chọn đối tác nước ngoài có năng lực để hợp tác phát triển kết cấu hạ tầng và đầu tư xây dựng ngành công nghiệp bô-xít, alumin, nhôm. Chính phủ đã giao Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam là đơn vị có kinh nghiệm trong khai thác khoáng sản làm chủ đầu tư thực hiện 2 dự án và chủ trì đàm phán với các đối tác nước ngoài.”

“Đối tác nước ngòai”, không ai khác hơn chính là  nhà thầu Chalieco  của Trung Cộng, nước đã thúc ép ông Nông Đức Mạnh phải để cho họ nhảy vào khai thác vì nhu cầu cầu quặng nhôm kỹ nghệ của Bắc Kinh !

MẮC MƯU TRUNG CỘNG ?

Thứ ba, việc làm ì ạch của hai nhà máy Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông) đã khiến nhiều chuyên viên lo ngại sẽ sa lầy như nhiều dự án kinh tế khác có bàn tay người Trung Quốc dính vào.

Sự lo âu này đã được trả lời bằng việc sản xuất chậm mất 2 năm của Nhà máy Tân Rai, nhưng sau khi chính phủ quyết định đình chỉ kế họach làm cảng Kê Gà,Bình Thuận (18/02/2013) vì phương án xây dựng cảng “không mang lại hiệu quả”để xuất khẩu quặng Alumin (sản xuất từ quặng Bauxite) thì các chuyên viên đã báo động “sẽ thua lỗ nặng” nếu Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) cứ “cố đấm ăn xôi”.

Trong khi Vinacomin tiếp tục cảng cổ ra cãi “sẽ có lời” thì từ Nhà máy Tân Rai (Lâm Đồng) các viên chức của Công ty TNHH MTV nhôm Lâm Đồng (đơn vị quản lý xí nghiệp mỏ tuyển) đã xác nhận tin 20.000 tấn alumin làm ra bị tồn kho chưa biết bán cho ai !

Báo Đất Việt Online ngày 19/04/2013 báo động : “Hàng ế tồn kho, công nhân thiếu việc làm, nợ lương, đường nát … là những điều có thể dễ kể ra khi người ta đến ‘thực mục’ tại tổ hợp bauxite nhôm Tân Rai (Bảo Lâm, Lâm Đồng).

Báo này viết : “ Đã 3 ngày qua, hơn 50 tài xế lái các loại xe đào, xe múc và xe ủi thuộc phân xưởng thi công cơ giới (Xí nghiệp mỏ tuyển bôxit Tân Rai) đã đồng loạt ngưng làm việc để phản đối các chính sách về định mức xăng dầu, tiền lương và thiếu việc làm khiến họ phải nghỉ triền miên.

Anh Nguyễn Đình Đề (tài xế xe ủi) phản ánh, anh đã làm việc ở đây đã sáu năm liền. Từ đó đến nay, anh và nhiều anh em khác chỉ được hưởng lương theo khối lượng công việc. Trong khi đó việc làm thì thất thường, mỗi tháng chỉ làm việc khoảng 16 ngày công.

Cũng theo anh Đề, từ đầu năm 2013 đến nay, lương của anh em rất thấp. Tháng 1, anh Đề chỉ nhận được gần 1,1 triệu đồng và tháng 2 là 1,2 triệu đồng, hiện vẫn chưa nhận được lương tháng 3. Định mức xăng dầu dùng cho các đầu xe ngày càng xuống thấp khiến tài xế lâm vào cảnh nợ nần.”

Ông Nguyễn Văn Thắng, phó tổng giám đốc Công ty TNHH MTV nhôm Lâm Đồng nói : “Nhà máy tuyển quặng và nhà máy sản xuất alumin đang chạy theo công suất không tương xứng nhau. Nhà máy tuyển quặng đã bàn giao nên sản xuất hết công suất, còn nhà máy alumin thì đang chạy thử nên chỉ chạy 50% công suất”.

Hiện tại, kho của nhà máy tuyển quặng đang tồn 40.000 tấn quặng tinh, nhà máy alumin tồn kho 20.000 tấn do chưa bán được. Hiện nhà máy alumin vẫn tiếp tục hoạt động, mỗi ngày sản xuất khoảng 1.000 tấn.

Ông Thắng cho biết hiện sản phẩm alumin chỉ mới được tiêu thụ trong nước với số lượng rất ít và chưa có hợp đồng xuất khẩu. Dự kiến đến tháng 6/2013 toàn bộ tổ hợp mới được bàn giao từ nhà thầu Chalieco (Trung Quốc). Khi việc kinh doanh sản phẩm alumin đi vào ổn định, hạn chế tồn kho thì 1.300 công nhân tại tổ hợp bauxite nhôm Tân Rai mới ổn định việc làm.”

Một trở ngại lớn và quan trọng khác là việc sửa chữa, nâng cấp Quốc lộ 20 để  chuyên chở Alumin từ Tân Rai về cảng Gò Dầu (Tỉnh Đồng Nai) không tiến triển như dự liệu.

Báo Đầt Việt cho biết : “Quốc lộ 20 sẽ là cung đường chính phục vụ quá trình vận chuyển bauxite từ nhà máy Alumin Tân Rai (Lâm Đồng) về cảng Gò Dầu (Đồng Nai). Mặc dù việc nâng cấp, cải tạo đã thực hiện hơn 1 năm nhưng đến nay, con đường này vẫn chằng chịt ổ voi, ổ gà khiến người lưu thông qua đây lúc nào cũng nơm nớp lo tai nạn.

Trước đó Dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 20 đoạn từ ngã tư Dầu Giây, huyện Thống Nhất – Đồng Nai đến TP Bảo Lộc – Lâm Đồng dài 120 km, khởi công từ tháng 12/2011 với tổng vốn đầu tư hơn 4.600 tỉ đồng từ nguồn vốn ngân sách, do Công ty Cổ phần BT20 thực hiện dưới hình thức xây dựng – chuyển giao.

 Mục tiêu của dự án là làm cho con đường cũ kỹ, xuống cấp này có đủ độ lớn và sức chịu tải phục vụ quá trình vận chuyển bauxite, đồng thời bảo đảm nhu cầu đi lại an toàn cho người dân. Thế nhưng chỉ riêng đoạn đường dài hơn 75 km chạy qua các huyện Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú – Đồng Nai vẫn đầy rẫy ổ gà, ổ voi.

Mặt đường hẹp, có đoạn không đến 7 m, sờn tróc nham nhở và không có phần đường riêng cho xe máy. Một số đoạn đã thi công, cải tạo nhưng những “miếng vá” chưa kịp khô đã lại bong tróc và trở thành cái “bẫy” trên đường.”

Như thế thì “giấc mơ sẽ lời to” của Dự án Bauxite Tây Nguyên sẽ đi về đâu ? Và trong khi thị trường quặng Alumin đang hạ giá trên thế giới  khỏang 320 Mỹ kim 1 tấn thì các chuyên viên Khoáng sản độc lập của Việt Nam lo ngại Công ty Vinacomin của Chính phủ chỉ có thua và lỗ nặng, nếu họ thật lòng  công khai và minh bạch  “tổng cộng giá thành” gồm tất cả các khỏan tiền phí tổn để có được  1 tấn Alumin !

Gỉa thử như Trung Cộng sẽ mua nhưng bắt Việt Nam phải hạ giá xuống đến mức tối đa, trong khi không nước nào muốn mua hàng Việt Nam thì Vinacomin tính sao ? Chẳng nhẽ cứ “giữ hàng tồn kho” để chờ giá lên cao mới bán thì đến bao giờ ?

Và trong khi “hàng làm ra nhiều mà bán chẳng được bao nhiêu” thì lấy tiến đâu trả nợ và trả tiền công cho nhân viên, thợ thuyền ?

Đấy là hiểm họa kinh tế đang treo trên đầu mỗi người dân Việt Nam, chưa kể thảm họa “bùn đỏ” độc hại ở thượng nguồn Tây Nguyên mà ông Nông Đức Mạnh đã để lại cho người dân sau  10 năm làm Tổng Bí thư đảng !

CÙNG KHAI THÁC CỦA AI ?
Thứ tư, sau ông Mạnh thì đến phiên ông Nguyễn Phú Trọng nhận chức Tổng Bí thư ngày 19-01-2011 tại Đại hội đảng khóa XI.

Nhưng chỉ 10 tháng sau đó ông Trọng đã sang Bắc Kinh, gọi là thăm Trung Cộng, nhưng thật ra là để ký  6 điểm thỏa hiệp với Tổng Bí thư đảng Cộng sàn Trung Cộng Hồ Cẩm Đào, được gọi hoa mỹ là  “Nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung” , trong đó điểm nổi bật và then chốt là  “hợp tác cùng phát triển”.

Thỏa hiệp ông Nguyễn Phú Trọng  ký ở Bắc Kinh ngày 11/10/2011 có 3 điểm quan trọng nhất là :

Điểm 2: ”Trên tinh thần tôn trọng đầy đủ chứng cứ pháp lý và xem xét các yếu tố liên quan khác như lịch sử…, đồng thời chiếu cố đến quan ngại hợp lý của nhau, với thái độ xây dựng, cố gắng mở rộng nhận thức chung, thu hẹp bất đồng, không ngừng thúc đẩy tiến trình đàm phán. Căn cứ chế độ pháp lý và nguyên tắc được xác định bởi luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nỗ lực tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được cho các vấn đề tranh chấp trên Biển.”

 Điều 4:” Trong tiến trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi, tích cực bàn bạc thảo luận về những giải pháp mang tính quá độ, tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển theo những nguyên tắc đã nêu tại điều 2 của Thỏa thuận này.”

Điểm 5: “ Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn.”

Cha đẻ của thuyết “gác tranh chấp để cùng khai thác”, ông Đặng Tiểu Bình cũng chính  là người  đã xua khỏang 600,000 quân Trung Cộng vượt  biên giới đánh sang 6 tỉnh cực bắc của Việt Nam hồi tháng 2/1979 mà ông ta bảo là “dạy cho Việt Nam một bài học” !

Nhưng Trung Cộng làm gì có chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông mà đòi “hợp tác cùng phát triển” ? Và dù biết rõ hai-năm-rõ-mười như thế mà tại sao ông Nguyễn Phú Trọng dám ký để “chia đôi  chủ quyền” với người hàng xóm chưa bao giờ “làm theo lời hứa” này ?

Giờ đây, Trung Cộng đã gọi đấu thầu Quốc tế ít nhất là 9 lô tìm kiếm dầu trong vùng “đăc quyền kinh tế” , hoặc  “nằm chồng lên” các lô tìm kiếm mà chính Việt Nam đã gọi thầu Quốc tế trước Trung Cộng ở giữa Quần đảo Trường Sa và bở biển tỉnh Khánh Hòa !
Trung Cộng cũng đã và đang  khai thác dầu trong vùng Vịnh Bắc Bộ dù hai bên chưa ngã ngũ về đường ranh giới chủ quyền, theo Thỏa hiệp năm 2000 thời ông Lê Khả Phiêu ?

TĂNG CƯỜNG ĐE DỌA VIỆT NAM

Thứ năm, song song với hành động chiếm lấn chủ quyền biển đảo trắng trợn này, Trung Cộng còn  tăng cường các Tầu Hải quân, ngụy trang Hải Giám có võ trang đi tuần tra khắp vùng Biển Đông từ Hòang Sa xuống Trường Sa của Việt Nam để ngăn chặn, truy kích và bắn phá các ngư dân Việt Nam đến đánh cá ở Hòang Sa và Trường Sa.

Nhiều tầu đánh cá của Việt Nam đã bị đâm chìm khi đang hành nghề sâu trong vùng biển Vũng Tầu, Hải Phòng, Đà Nẵng và Quảng Ngãi từ 2 năm qua mà Hải quân và lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam không làm gì được !

Bằng chứng bỏ ngư trường mà chạy để bảo vệ tính mạng  và tài sản đã được ngư dân đảo Lý Sơn nói thằng với Chủ tịch Nước Trương Tấn Sáng khi ông ra thăm đảo ngày 15/4 (2013) vừa qua.

Đấy là chưa kể vụ 1 tầu cá Quảng Ngãi bị tầu Hải Giám Trung Cộng bắn cháy rụi nóc tầu ngày 20/3 (2013) mà Trung Cộng bảo vì tầu Việt Nam xâm phạm “vùng biền của  họ” ?

Những vụ tấn công tầu cá Việt Nam diễn ra song song với cuộc tập trận 16 ngày (17/3-1/4/013)  ở Biển Đông của 4 Tầu chiến Trung Cộng thuộc Hạm đội Hải Nam đã khiến các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam và Phi Luật Tân lo ngại.

Nhưng Hải quân Trung Cộng đã cho biết các tầu chiến của họ sẽ tập trận quy mô hơn thêm 40 lần nữa ở Biển Đông trong năm 2013. Các sỹ quan Hải quân Trung Cộng nói là các cuộc tập trận là nhằm “đánh dấu lãnh thổ” của Trung Cộng trên Biển Đông !

Trên mặt trận tuyên truyền để dành lấy biển đảo, Trung Cộng đã tổ chức du lịch ở Hòang Sa và tung ra bản đồ mới vẽ Hòang Sa và Trường Sa là của Trung Cộng, nhưng Việt Nam chỉ “phản đối suông” và cổ võ “giải quyết tranh chấp với Trung Cộng bằng biện pháp hòa bình” !

NHỮNG TIẾNG NÓI PHẪN UẤT

Trước hiểm họa “lưỡng đầu thọ địch” của đất nước như thế mà lãnh đạo Đảng chỉ biết tập trung vào công tác đàn áp dân lành đi khiếu kiện oan sai và tố cáo cán bộ, đảng viên tham nhũng như đe dọa  của ông Huỳnh Phong Tranh, Tổng Thanh tra Chính phủ đưa ra tại Hà Nội ngày 18/4 (2013) thì có lương tâm không ?

Bản tin của Ban Thanh tra viết : “Riêng UBND TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh phải kịp thời nắm bắt tình hình khiếu kiện đông người, có phương án cưỡng chế, giải toả đối với các công dân khiếu nại, tố cáo tập trung sai quy định về Trụ sở Tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước để tổ chức tiếp, hướng dẫn, vận động công dân trở về địa phương.

Đồng thời, không để các đoàn khiếu kiện đông người đến các khu vực hội trường nơi diễn ra các cuộc họp và nhà riêng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, xử lý kiên quyết hiện tượng người khiếu kiện trưng băng rôn, biểu ngữ, ngăn chặn việc chặn, đón xe Đại biểu Quốc hội.”

Như thế là ông Tranh chỉ mong sao cho các Ủy viên Trung ương đảng về họp Hội nghị kỳ 7 ở Hà Nội vào đầu tháng 5 (2013) và sau đó đến lượt các Đại biểu Quốc hội về họp khoá 5, khai mạc ngày 20/5 (2013), đừng nhìn thấy mặt dân khiếu kiện kẻo xấu mặt nhà nước hay sao ?

Vì tính toán có hành động phản dân chủ, coi thường dân của Chính phủ trong khi lại chểnh mảng trước đe dọa của Trung Cộng ở Biển Đông  đã rõ như ban ngày đã làm cho một số cựu tuớng lãnh, Nhà thơ và Nhà báo  nổi tiếng của Việt Nam phải lên tiếng trong  phẫnn uất chưa bao giờ thấy có ở Việt Nam.

Trước hết hãy đọc lời cảnh giác  của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (nguyên Đại sứ của CSVN gtại Trung Cộng) : “Việt Nam ta tất yếu phải cuốn theo kinh tế thị trường, nhưng lãnh đạo vẫn lấy CN Mác – Lênin làm cơ sở tư tưởng, vẫn chủ trương xây dựng CNXH. Thử hỏi xây dựng CNXH theo mô hình nào? Trong xã hội ta hiện nay, nội dung gì là XHCN, không ai chỉ ra được. Còn nói phát triển kinh tế thị trường “theo định hướng XHCN”. Cái đuôi “theo định hướng XHCN” thật là mơ hồ, vô nghĩa.”

Ông nói thẳng với lãnh đạo Nhà nước : “ Vấn đề đặt ra đối với nước ta hiện nay là: thoát ra khỏi mọi ràng buộc tham lam, ác ý, thực hiện đường lối chủ trương độc lập tự chủ, thực hiện ngoại giao cân bằng giữa các nước lớn, một mặt không phá bỏ hiện trạng hữu nghị hòa bình với Trung Quốc, mặt khác thắt chặt mối quan hệ hữu nghị với các nước lớn Nga, Nhật, Ấn Độ, Mỹ, cải cách thể chế, thực hiện dân chủ, gắn bó với khối đại đoàn kết dân tộc, trọng dụng hiền tài, xóa bỏ mọi lợi ích nhóm, phe phái quyền lực để đưa đất nước thoát khỏi yếu kém tụt hậu và tiến lên.

(Trích từ Bài viết  mới nhất của ông phổ biến trên các mạng báo Truyền  thông Xã hội trong nước: “Giữa Việt Nam và Trung Quốc không truyền thống hữu nghị, cũng không tương đồng về ý thức hệ)

Và sau đây là những dòng thơ thật buồn cho hòan cảnh của đất nước hôm nay của một số Nhà Thơ, Nhà báo nổi tiếng ở Việt Nam.

Hãy đọc Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Trường ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương:

Đất nước những năm thật buồn

Nửa đêm ngồi dậy hút thuốc vặt

Lần mò trên trang mạng tìm một tin lành

Như kẻ khát nước qua sa mạc

Chung quanh yên ắng cả

Ngoài đường nhựa vắng tiếng xe lại qua

Người giàu, người nghèo đều ngủ

Cả bầy ve vừa lột xác

 

Sao mình thức ?

Sao mình mải mê đeo đuổi một ngày mai tốt lành ?

 

Bây giờ lá cờ trên Cột cờ Đại Nội

Có còn bay trong đêm

Sớm mai còn giữ được màu đỏ ?

Bây giờ con cá hanh còn bơi trên sông vắng

Mong gặp một con cá hanh khác ?

Bao giờ buổi sáng, buổi chiều nhìn ra đường

Thấy mọi người nhẹ nhàng, vui tươi

Ấm áp ly cà phê sớm

Các bà các cô khỏe mạnh yêu đời

Hớn hở tập thể dục

Bao giờ giọt nước mắt chảy xuống má

Không phải gạt vội vì xấu hổ

Ngước mắt, tin yêu mọi người

 Ai sẽ nắm vận mệnh chúng ta

Trong không gian đầy sợ hãi ?

Những cây thông trên núi Ngự Bình thấp thoáng ngọn nến xanh

Đời đời an ủi

Cho người đã khuất và người sống hôm nay …
(22/04/103)

(Trích từ Quê Choa của Nhà văn Nguyễn Quang Lập)
————-

ĐIỀM ƠI

(Viết sau khi đọc bài thơ “Đất nước những tháng năm thật buồn thật buồn” của Nguyễn Khoa Điềm)

Khi Điềm còn ở trên cao

Cái buồn thế sự đã vào chúng tôi

Bây giờ trời đã chiều rồi

Ngẫn ra thì muộn khóc cười làm chi

Phố phường vẫn lắm người đi

Hoa vẫn nở chẳng có gì khác đâu

Khác là ở chốn xa sâu

Trẻ em đi học không cầu qua sông

Khác là tận ngoài biển đông

Chủ quyền ta họ nói không lâp lờ

Riêng màu đỏ của ngọn cờ

Ở Đại Nội hay biển bờ xa xôi

Vẫn luôn phơi phới đỏ tươi

Nhạt là nhạt ở tình người Điềm ơi

Lê Duy Phương

(Từ Quê Choa)
————-

Nhà Thơ Trần Mạnh Hảo đáp lời:

Đất nước có bao giờ buồn thế này chăng?

Đêm trường ma giáo mặt trời đỏ

Những dòng sông là đất nước thở dài

Chó sủa trăng nhà ai ?

Không phải vầng trăng đất nước

Tôi ngồi ngót bảy mươi năm

Chờ một lời nói thật

Bầy sói tru ý thức hệ lang băm

Người nông dân bị cướp đất phải hát bài dân chủ

Đêm đêm thạch sùng tắc lưỡi bỏ đi

Đất nước đang treo trên sợi chỉ mành

Sợi chỉ mành 16 chữ vàng và dối lừa 4 tốt (1)

Có kẻ rước giặc lên bàn thờ

Xì sụp lạy khấn tàn nhang chủ nghĩa

Những giáo điều làm cơm nguội bơ vơ

Xin cứ tự do bán lương tâm cho chó

Vãi linh hồn vào thùng rác nhân dân

Mối mọt ăn rào rào lòng rường cột

Ôi thương thay giẻ rách cũng tâm thần

Anh sẩm bạc đầu dẫn đường dân tộc

Đám gà què bàn hiến pháp cối xay

Đất nước có bao giờ buồn như hôm nay

Những thiên đường vỡ chợ

Những học thuyết đứng đường

Hoàn lương tượng đài

Hoàn lương chân lý

Nghị quyết còn trinh bạch cũng hoàn lương

Không ai đuổi cũng giật mình bỏ chạy

Nhốt hết mây trời vào hiến pháp tự do

Mơ được đứng bên lề đường

Nói một câu gan ruột

Đất nước buồn

Đất nước bị ruồi bu

 Đất nước bị cầm tù trong ngực trái

Chưa kịp nghĩ một điều gì

Sao đã toát mồ hôi ?

Có nơi nào buồn hơn đất nước tôi ?

 Lý tưởng của loài dơi là muỗi

Dơi bay đêm cho đất nước đỡ buồn

Không ai tin vào hoa hồng nữa

Không ai tin vào dơi nữa

Dơi trở về làm chuột khoét quê hương

Sài Gòn, 24-4-2013
(Trên Internet)

(1) Chú thích của Phạm Trần: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”  do phiá Trung Cộng (Giang Trạch Dân) nói với Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tại Bắc Kinh năm 1999.
———

BÙI MINH QUỐC

Nhân đọc bài thơ “Đất nước những tháng năm thật buồn”của nhà thơ – chiến sĩ Nguyễn Khoa Điềm và bài thơ “Điềm ơi!” của nhà thơ – chiến sĩ Lê Duy Phương trên Quê choa của nhà văn – chiến sĩ Nguyễn Quang Lập, trân trọng gửi đến các đồng nghiệp đồng đội chiến sĩ – nghệ sĩ trong Hội nhà văn Việt Nam bài thơ dưới đây của tôi:
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm

 Tổ Quốc bao giờ nhục thế này chăng ?*

Hãy trông kìa !

 Hãy trông kìa !

 Bọn thẻ – đỏ – tim – đen tiếm quyền hóa giặc

 Bịt biệng người kêu nỗi đau Ải Bắc

 Bóp cổ người thét nỗi nhục Hoàng Sa

 Sông có nghe nỗi nhục chuyển sơn hà ?

  Hãy trông kìa !

 Hãy trông kìa !

 Bọn thẻ – đỏ – tim – đen tiếm quyền hóa giặc

 Một lũ sói nhe nanh kết bầy nhâng nháo khắp

 Móc túi dân

 Cướp đất dân

 Bóp cổ dân

 Nỗi oan dâng núi thét sông gầm !…

 Hỡi sông Hồng

 Hỡi sông Hồng

 Hỡi sông Hồng tiếng thét bốn nghìn năm

 Tổ Quốc bao giờ nhục thế này chăng ?

Đà Lạt 12.09.2008

_________

* Bài “Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng ? ” của Chế Lan Viên có 2 câu mở đầu :

 Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm

 Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng ?

(Từ Quê Choa)

Sau cùng, chúng ta hãy lắng nghe Tác giả Đoàn Vương Thanh, tức Nguyễn Thanh Hà, 79 tuổi, cựu phóng viên TTXVN

giãi bầy tâm tư của ông trước thời thế  trên mạng báo Quê Choa của Nhà văn Nguyễn Quang Lập :

“Tôi rất thích đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm, trong đó có bài Khúc hát ru những em bé ngủ trên lưng mẹ...Tôi đồng cảm nỗi buồn của Nguyễn Khoa Điềm và nỗi buồn của nhiều nhà văn, nhà thơ đã từng có thời gian lăn lộn trên các chiến trường ác liệt, nỗi buồn của nhiều ông tướng, ông Bộ trưởng về hưu hoặc sắp về hưu, cả nỗi buồn mất đất của nông dân, nỗi buồn một số trí thức muốn góp ý vào xây dựng Hiến pháp mới bị coi là “trí thức rởm” “suy thoái”, nỗi buồn của học sinh sinh viên đang thụ hưởng một nền giáo dục bế tắc…
Còn trong hệ thống chính trị, không thiếu những kẻ bất tài vô học, chỉ đua đòi ăn chơi trác táng…Lại con gái, con trai mấy vị vào hàng “nguyên thủ” xây “khách ạn 5 sao”, du học nước  ngoài, chỉ suốt ngày gái gú, chơi game…Khi cần thì vẫn có thể xếp vào những cai ghế êm ru hái ra tiền. Con gái một vị to đầu tư cho một khu đô thị sinh thái chiếm đoạt 500 ha đất canh tác của nông dân, nay không rõ ôm tiền đi đâu. Đặc biệt, những thông tin về nhóm lợi ích, về phe phái này “chiến đấu” với phái kia, dường như “một mất một còn”.

Một số vị ở vị trí cao của đất nước vẫn có những hành xử không đẹp đẽ chút nào, vẫn vì động cơ cá nhân ích kỷ…
Vì sao, đất nước sau gần 40 năm được thống nhất, có độc lập, hòa bình mà vẫn có mấy chục vạn phụ nữ trẻ phải “trần như nhông” để “bọn nước ngoài” lựa chọn để cưới làm vợ. Ai đã cấp hộ chiếu cho gần 30 vạn phụ nữ sang Hàn Quốc, Đài Loan “tìm chồng”, “lấy chồng”, trong nước còn có đến 30 vạn gái điếm và một lũ “đĩ quý tộc”?..
Ông Nguyễn Phú Trọng Tổng Bí thứ của Đảng, đã dũng cảm thừa nhận “đi đến đâu cũng thấy người hư hỏng…” mà lại chính là những người của ông, đã được rèn luyện phấn đấu nhiều năm. Bộ máy chính quyền vừa đông vừa không được việc, vừa nhiều vừa quan liêu. Cơ quan hành chính thì hành dân là chính, dân khiếu nại theo luật định thì bị ghép vào tội làm mất trật tự xã hội.”

Tất xả những dòng chữ, dòng Thơ trên đây, tuy không ai có thể nhìn ra nước mắt, nhưng mỗi chữ, mỗi câu đã mang một nỗi buồn man mác như thúc giục  phải thoát ra  từ mỗi trái tim đáng rướm máu vào dịp 30 tháng 4 năm 2013.

Cái  mốc thời gian của 38 năm sau  ngày đất nước “thống nhất” lý ra phải tươi mát và rực rỡ hoan ca chứ đâu có buồn thảm đến nhường này ?

Lỗi tại ai, hay lỗi tại tất cả chúng ta, những người dân đã sống nhục quen ?

Phạm Trần

(04/013)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: