Vũ Thất

Bảo Bình 1

Tháng Tư Đen (kỳ 20)

1. 38 năm nhìn lại biến cố Tháng Tư Đen

Giám Sát Viên Janet Nguyễn
Với dòng thời gian trôi nhanh, trong khoảnh khắc biến cố lịch sử Tháng Tư Đen xảy ra 38 năm trước đây lại trở về trong tâm tư của mọi người Việt quốc gia trong nước cũng như hải ngoại. Niềm đau chung, nỗi nhục nhằn của đất nước và dân tộc sẽ không bao giờ phai lạt trong ký ức chúng ta.Trong sự bi thương, đổ vỡ đến tận cùng của hàng triệu gia đình người Việt tại miền Nam, xen lẫn nỗi thất vọng miệt mài của người dân miền Bắc, chỉ còn lại niềm “tự hào” xuẩn động của những người Cộng Sản, chúng ta những người Việt trong nhiều thế hệ tiếp nối lẫn nhau, cùng tưởng niệm ngày Quốc Hận đau thương nhất trong lịch sử Việt Nam cận đại. Chúng ta cùng thành tâm cầu nguyện cho các anh linh các quân cán chính đã hy sinh vì đại nghĩa và hương linh của các đồng bào vô tội đã bỏ mình trên biển cả hay rừng sâu khi đi tìm tự do sớm được siêu thoát.

Là một trong số những thuyền nhân đã vượt biển để đi tị nạn Cộng Sản, ngay khi còn thơ ấu, trong tâm khảm của tôi không bao giờ quên được những giây phút đau thương, kinh hoàng và thấu hiểu được cái giá mà hàng trăm ngàn đồng bào chúng ta đã trả cho sự tự do, và quyền căn bản làm người.

Đã 38 năm trôi qua, đất nước chúng ta mặc dầu đã có một khoảng thời gian dài tương đối thanh bình, với những trợ giúp đến từ quốc tế và tài nguyên được chuyển về từ khối người Việt tại hải ngoại, việc phát triển kinh tế vẫn hoàn toàn có tính cách tạm bợ và không theo kịp với đà phát triển của các quốc gia láng giềng. Việt Nam vẫn nằm trong danh sách các quốc gia đang phát triển không đồng bộ và có khả năng tụt hậu nếu có một biến cố khủng hoảng kinh tế hay tài chánh khu vực xảy ra.

Khoảng cách hố sâu giữa đại đa số người dân nghèo và thiểu số giàu có nhờ vào những đặc quyền ngày càng lớn rộng, hiện trạng tài nguyên quốc gia bị hủy diệt vì những đầu tư và khai thác một cách thiếu khoa học và quản trị hợp lý, môi trường bị ô nhiễm nặng nề, môi sinh bị hủy hoại đến tận cùng và không đủ thời gian tính phục hồi. Đặc biệt chính sách giáo dục quần chúng bị băng hoại vì tình trạng thiếu kỹ luật và nạn tham nhũng hoành hoành từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc của chính quyền mọi cấp, thêm vào đó những vi phạm nhân quyền trầm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống thường nhật của người dân, tình trạng cưỡng đoạt đất đai của những người dân thôn quê là một điển hình.

Những quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận là những quyền căn bản mà chính quyền đã ký vào những thỏa ước quốc tế của Liên Hiệp Quốc khi trở thành một phần tử chính thức của Tổ Chức này đã không được tôn trọng hay thi hành một cách đúng đắn. Chính sách độc tài đảng trị không còn thích hợp với nguyện vọng của toàn thể người dân vẫn được tiếp tục duy trì bằng những phương sách độc đoán và nếu cần kể cả áp dụng các phượng tiện vũ lực, bạo hành. Tất cả những điều kể trên sau cùng đã đưa đất nước đến bờ vực thẵm của một nguy cơ mất nước vì nạn ngoại xâm.

Với chính sách bành trướng bá quyền của phương Bắc, Trung Quốc mặc dầu dưới chính thể Cộng Sản và được coi là một cường quốc kinh tế thứ hai trên toàn cầu đã trở thành một cơ nguy xâm lược ngoại bang nguy hiểm và trầm trọng đến nền an ninh và chủ quyền lãnh thổ cũng như lãnh hải của Việt Nam. Chính quyền CSVN ngày nay và chủ nghĩa Cộng Sản được áp dụng bởi chính quyền hiện tại không còn là một phương cách để bảo vệ cho sự an sinh của đất nước và dân tộc. Bất cứ một sự nhượng bộ nào trong bất kỳ hoàn cảnh chính trị, ngoại giao, kinh tế, quân sự đều đưa đến một nguy cơ lệ thuộc vào ngoại bang đặt dân tộc và đất nước dưới gông cùm nô lệ Bắc Thuộc một lần nữa trong lịch sử cận đại.

Bổn phận của người dân trong nước và của tập thể người Việt tại hải ngoại là phải quyết tâm chống lại âm mưu xâm lược của Trung Cộng và nô lệ hóa Việt Nam trở thành một vùng đất biên giới của Trung Quốc tại phía nam Á Châu. Vùng biển và các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa là lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam đã được minh chứng rõ rệt qua các tài liệu lịch sử và được quốc tế công nhận từ nhiều thế kỷ trước đây (Xin xem tài liệu: Hoàng Sa-Trường Sa theo các tác phẩm Lịch Sử và Địa Dư của người Việt Nam- tác giả Võ Long Tê (Les Archipels De Hoang Sa et De Truong Sa Selon Les Anciens Ouvrages Vietnamiens Dhistoire et De Geographie) Xuất Bản Bộ Văn Hóa Giáo Dục, và Thanh Niên Việt Nam Cộng Hòa, Saigon 1974). Chính quyền Cộng Sản Trung Quốc vì nhu cầu tự vệ và phát triển đã cưỡng chiếm vùng biển này và tự nhận là lãnh hải của Trung Quốc. Người Việt chúng ta, từ hế hệ này sang thế hệ khác tiếp nối sẽ không bao giờ chấp nhận sự cưỡng chế, và áp đặt bất chấp công pháp quốc tế, chúng ta sẽ tiếp nối tấm gương của tiền nhân và sẳn sàng trả bất cứ một giá nào để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải do ông cha chúng ta để lại.

Vấn đề tranh đấu nhân quyền tại Việt Nam là một trọng trách của người Việt trong nước lẫn hải ngoại. Chúng ta đều thấu hiểu rằng chủ nghĩa Cộng Sản ngày nay đang áp dụng tại Việt Nam là một chủ nghĩa ngoại lai, cổ hũ không còn thích hợp với đà tiến bộ của nhân loại. Thành phần lãnh đạo hiện nay trong nước sử dụng chủ nghĩa này như một phương tiện để áp đặt cai trị người dân cho một mục tiêu bảo vệ quyền lợi cho một thiểu số và gia đình của họ và làm ngơ trước quyền lợi của đại đa số người dân hiện đang sống trong những lầm than chậm tiến.

Hiến pháp mà CSVN đang áp dụng chỉ là sự cóp nhặt của hiến pháp Liên Sô năm 1997 và đã được diễn dịch một cách sai lầm để cai trị nhằm mục đích áp đặt sự độc tài đảng trị lên trên những nhân quyền căn bản tự do dân chủ, tôn giáo, chính trị và nhất là quyền tối thiểu làm người. Bản hiến pháp này chỉ có thể bãi bỏ một khi chế độ CS không còn hiện hữu trên toàn thể đất nước từ Nam Quan đến Cà Mau. Người Việt trong nước phải can đảm đứng lên hành động hủy bỏ chủ nghĩa này. Người Việt hải ngoại phải hỗ trợ những ước vọng của đồng bào trong nước bằng những vận động thực tiển với quốc tế trong đó có cả chính quyền và quốchội Hoa Kỳ.

Kỷ niệm ngày Quốc Hận 30 tháng Tư lần thứ 38 là dịp để chúng ta tưởng niệm đến những hy sinh to lớn các Quân Dân Cán Chính đã hy sinh cho đại nghĩa trong cuộc chiến bảo vệ tự do, dân chủ và chính nghĩa quốc gia, tưởng niệm đến sự can đảm của đồng bào đã bỏ mình trên biển cả,trong rừng sâu, để đi tìm tự do và đánh động lương tâm thế giới trước hiểm họa Cộng Sản.

Kỷ niệm ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư cũng là cơ hội để các nhà lãnh đạo tinh thần, tôn giáo, các vị lãnh đạo các đoàn thể chính trị các đảng phái Quốc Gia, và đồng hương khắp nơi trên hải ngoại, đồng bào trong nước, chúng ta cùng đồng tâm hiệp lực trong quyết tâm mưu cầu cho một nước Việt Nam tự do, dân chủ không Cộng Sản và bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải để Việt Nam sớm trở thành một phần tử trong cộng đồng quốc tế mưu cầu một sự an sinh và hạnh phúc mãi mãi cho dân tộc Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Giám Sát Viên Janet Nguyễn

2. Nỗi buồn 30/4 và những nghĩ suy

 Lê Diễn Đức

30-04-1975

Tôi không hứng thú lắm khi viết về ngày 30/4 vì đã nhiều năm nay, năm nào cũng viết, nhưng những bài viết thường chỉ mang đến cho tôi những nỗi buồn hơn là những ký ức khó quên.

Cái buổi hôm ấy, lúc mọi người trong nhà tù Hoả Lò khấp khởi vui mừng “chiến thắng” khi được giám thị thông báo, thì tôi đau xót, im lặng và hụt hẫng. Tôi vẫn hy vọng sau khi ra tù, sẽ tìm cách trốn vào Nam để sống. Với cái lý lịch ở tù, sự tồn tại vươn lên của tôi trong chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) chắc chắn sẽ vô cùng nan giải.

Tôi đã từng kín đáo hỏi thăm, tìm hiểu cách “chạy” vào Nam từ một người bạn tù. Khó khăn nhất là đoạn từ sông Bến Hải vào đến sông Hàn, Đà nẵng. Còn qua được sông Hàn thì mọi việc êm xuôi. Lúc này tôi vẫn hy vọng bộ đội miền Bắc không tiến được vào sâu hơn nữa. Tôi không nghĩ đến một cái “chiến thắng” nhanh chóng như vậy!

Thật chua xót. Tôi từng là anh chàng học sinh, biết được đi nước ngoài du học nhưng vẫn rủ đám bạn bè trong lớp lấy máu viết thư xin đi bộ đội. Ra chiến trường, dù có chết, với chúng tôi thật vô cùng ý nghĩa. Tôi đã tận mắt trông thấy và tham gia cứu thương trong những trận dội bom của máy bay Mỹ xuống làng mạc miền Bắc làm chết nhiều người. Chỉ với lòng căm thù đế quốc Mỹ. Sôi sục ý chí trả nợ nước thù nhà.

Nhưng rồi dần dà tôi đã hiểu. Đây là chiến tranh. Một cuộc chiến tranh khốc liệt, tắm máu, huynh đệ tương tàn, cho việc nhuộm đỏ toàn đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), một cuộc chiến ý thức hệ, rõ ràng và nhất quán. Mỹ và miền Nam đã phải nỗ lực ngăn chặn và bảo vệ tự do.

Năm 1954, Việt Nam chia hai. Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) là một quốc gia độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, là quan sát viên của Liên Hiệp Quốc. Miền Nam sẽ thanh bình, phát triển và đi lên nếu như miền Bắc không gây chiến và phá rối. Người ta có thể thống nhất đất nước bằng nhiều cách, không cần đổ máu, không cần đến “bạo lực cách mạng”, mà nước Đức là một ví dụ.

Nhưng để đánh chiếm miền Nam, miền Bắc có thể “đốt cả dãy Trường Sơn”, dồn cả dân tộc vào máu lửa, quyết tâm trở thành “tiền đồn” của cả phe XHCN.

Hồ Chí Minh từng nói: “Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, nhân dân Việt Nam luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại, và coi Liên Xô là Tổ quốc Cách Mạng, Tổ quốc thứ hai của mình”- (1959, HCM toàn tập, tập 11, trang 166).

 Còn Lê Duẩn, trả lời phỏng vấn BBC Việt Ngữ, Nguyễn Mạnh Cầm, cựu Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam đã nói: “Chính sách này dựa trên nền tảng “một lý do quan trọng mà cố Tổng bí thư Lê Duẩn có lần đã giải thích một cách đơn giản: Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô!“.

Vâng, hầu như tất cả mọi phương tiện cho cuộc chiến, sản xuất, cũng như mọi nhu yếu phẩm cho đời sống, từ hạt gạo đến cây kim, sợ chỉ, đều do Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác trong hệ thống cộng sản đổ tiền vào cung cấp. Nhưng vì “tất cả cho chiến trường”, dân miền Bắc đã phải cam chịu cuộc sống đói nghèo, thiếu thốn, dồn hết tinh thần và vật chất cho công cuộc “giải phóng miền Nam”.

Và miền Bắc đã “giải phóng” miền Nam. Ngày 30/4/1975.

Trong bài “Phản nhân văn“, nói về cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” của nhà báo Huy Đức, tờ Công an Nhân dân (CAND) viết:

“Đáng kinh ngạc nhất là Huy Đức “nhai lại” ý kiến sai trái, xạo xược của Dương Thu Hương. Trước khi sang châu Âu sống lưu vong, bà ta phun ra hàng loạt phát ngôn điên loạn, trong mớ hổ lốn, hồ đồ đó, có đoạn nói rằng, ngày mới đặt chân đến Sài Gòn, bà ta đã choáng ngợp trước cuộc sống tiện nghi ở miền Nam, khác rất xa với cuộc sống khó khăn ở miền Bắc: “Tôi đã ngồi phệt xuống vỉa hè Sài Gòn khóc, tôi biết miền Nam đã giải phóng miền Bắc chứ không phải ngược lại…”.

Giờ đây, Huy Đức lại bắt câu đó với hàm ý khen miền Nam nhiều hàng hóa và đời sống sung túc hơn miền Bắc, tự do dân chủ hơn miền Bắc nên đã “giải phóng” ngược lại miền Bắc! Về đoạn này, trên mạng có bài viết ký tên “nhà văn Đông La” phân tích: “Cái nền văn minh mà Huy Đức thấy qua “mấy chiếc xe đạp bóng lộn”, “cặp nhẫn vàng chóe”, “những chiếc máy Akai, radio cassette” rồi “rạp chiếu bóng, nhạc viện và sân khấu ca nhạc”… đều có từ “925 tỷ USD” mà Mỹ đã chi cho cuộc chiến ở Việt Nam kèm theo 58.000 nhân mạng nữa để rồi mất trắng trở về…”.

Không chỉ nhà văn Dương Thu Hương khóc mà sau ngày “giải phóng”, nhiều người khác đã vỡ mộng! Phải có tấm lòng thật nhân văn mới hiểu rằng, tiếng khóc của Dương Thu Hương là thành thật và là sự cảnh báo. Những thứ mà họ “giải phóng” và huỷ hoại thì chính họ chứ không ai khác lại đã quay lại một  thập niên sau đó.

925 tỷ USD đã Mỹ chi cho cuộc chiến ở Việt Nam. Vâng, nhưng thử hỏi bao nhiêu tỷ USD mà Liên Xô, Trung Quốc và phe XHCN đã rót cho miền Bắc kèm theo hàng triệu nhân mạng cũng ra đi không trở về?

Người miền Nam không chỉ có “những chiếc xe đạp bóng lộn”, “cặp nhẫn vàng choé”… Việt Nam Cộng hoà (VNCH), trong 20 năm, tuy chưa có một nền dân chủ hoàn toàn, phải đối mặt với tình trạng chiến tranh, nhưng đã có một nền kinh tế đa dạng, một xã hội văn minh, một nền giáo dục kỷ cương đáng tự hào, một tập quán sinh hoạt công cộng lịch lãm và tiến bộ. Những người gắn bó với VNCH có lý do chính đáng để tiếc nuối. Những thứ này sau 1975 đã dần dần bị băng hoại.

Cònmấy chiếc xe đạp bóng lộn”, “cặp nhẫn vàng chóe”, “những chiếc máy Akai, radio cassette”, tất tật mọi thứ của miền Nam sau ngày 30/04/1975, muốn hay không muốn, chúng vẫn trùng trùng nối nhau ra Bắc. Tôi vẫn nhớ cuối năm 1975, hình ảnh ở khu tập thể quân đội số 3B đường Ông Ích Khiêm, Hà Nội. Cứ tối đến, hàng xóm quây quần, xúm xít ngồi xem phim qua chiếc Motorola của gia đình mang từ trong Nam ra. Máy truyền hình ở miền Bắc lúc đó là cả nột tài sản lớn.

Bài báo CAND viết tiếp:

“Cũng cần phải nhắc lại rằng: từ số tiền khổng lồ đó, Mỹ đã đổi ra 7,5 triệu lít chất độc da cam/dioxin; 7,85 triệu tấn bom đạn để rải xuống Việt Nam, giết chết khoảng 4 triệu người, gây thương tật cho hàng triệu người khác, nhất là những đứa trẻ nạn nhân của chất độc da cam/dioxin; tàn phá hàng ngàn thành phố, thị xã, làng mạc, trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo…

Thế nhưng Huy Đức, Dương Thu Hương và một vài “nhà dân chủ” mới được “bơm”, cố tình không hiểu điều đó, họ tôn thờ tiện nghi vật chất hơn phẩm giá và lòng tự trọng của một dân tộc, sùng bái “bơ”, “sữa”… hơn xương máu của những người con dân đất Việt đã ngã xuống để có độc lập, tự do hôm nay!”.

Tôi không nghĩ rằng, “số tiền khổng lồ đó, Mỹ đổi ra 7, 85 triệu tấn bom đạn, để giết chết khoảng 4 triệu người và thương tật cho hàng triệu người khác”. Cái chết của khoảng 4 triệu người và thương tật của hàng triệu người khác có sự can dự của cả hàng triệu tấn đạn dược của Liên Xô, Trung Quốc. Cuộc tổng tấn công của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân 1968, những cuộc pháo kích, đánh mìn, nổ bom vào các chợ, trường học, rạp hát… Cuối cùng, đây là con số của cả cuộc chiến. Chiến tranh, bên nào cũng đều phải sử dụng đến súng đạn.

Còn “7,5 triệu lít chất độc da cam/dioxin” diệt cỏ, phát quang của Mỹ không nhắm vào dân thường mà nhắm vào nơi ẩn trú của Việt Cộng. Có thể nó để lại di hại cho môi trường nhưng không quá bị thổi phồng như bộ máy tuyên truyền của cộng sản. Tôi đã vào sống trong Nam và đi nhiều nơi, ở đâu cũng thấy màu xanh cây lá. Những đám rừng bị chất độc da cam xa lắc lơ đâu đó tôi không có cơ hội nhìn thấy. Còn nạn phá rừng giờ đây khủng khiếp hơn nhiều. Bọn cơ hội bắt tay với các quan chức cộng sản phá rừng, lấy gỗ làm giàu, mà Trầm Bê hay Cường Đô La là những ví dụ. Thực phẩm độc hại mà dân Việt dùng hôm nay, chủ yếu từ Trung Quốc, công khai huỷ diệt nòi giống Việt, làm cho bệnh ung thư của Việt Nam ở vị trí cao nhất thế giới và mỗi năm chết khoảng 75 ngàn người, man rợ và bi thảm hơn nhiều. Người ta cứ thích nhớ mãi cái đã qua đi gần 40 năm mà cho phép mình “quên” hiện tại trước mặt!

Sùng bái “bơ”, “sữa” không ai hơn những quan chức cộng sản, những “đại gia” đỏ phè phỡn với ô tô siêu sang trọng, nhà lầu, người hầu kẻ hạ, con cái đi du học nước ngoài. XHCN không thấy đâu, nhưng tư bản chủ nghĩa ngấm sâu vào từng sinh hoạt nhỏ nhất của giới chức có quyền, của những ông “vua tập thể” trong triều đại phong kiến-cộng sản quái thai này.

Tôi quen thân với ông Nguyễn Lương Thuật, một cựu sĩ quan hải quân VNCH, cư ngụ ở Seattle, tiểu bang Washington. Chiều 29/4/1975 ông chỉ huy một chiến hạm và đã tiếp nhận hàng trăm người leo lên tàu di tản khỏi Sài Gòn., Ông đã đứng ngẩn ngơ nhìn con tàu xa dần bến bờ quê hương và thầm nghĩ, thôi, dù sao cũng đã chấm dứt một cuộc chiến, những người cộng sản đã thắng, đất nước thống nhất, mong rằng họ sẽ đưa đất nước phát triển, bình yên và dân chúng được hạnh phúc. Ông đã chết năm 2007 vì ung thư và mang theo giấc mơ vô cùng vị tha của mình xuống mồ.

Máu xương của những người con đất Việt đã ngã xuống, nước nhà thống nhất, độc lập, nhưng hoàn toàn không có tự do. Người Việt phải bỏ nước ra đi, tha phương cầu thực, sự chia rẽ vẫn nhức nhối. Đất nước nằm trong tay một tập đoàn bao gồm các băng nhóm trục lợi. Quyền tự do của công dân bị bóp nghẹt và đàn áp. Không có bầu cử tự do, không có báo chí tự do, cả một hệ thống chính trị là một nhà tù vĩ đại giam cầm, khống chế dân tộc.

Những người đã từng dấn thân, bị tù đày cho chính thể hôm nay đã phải thất vọng. Có lẽ câu nói của ông Huỳnh Nhật Tấn, cựu Phó giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng, mang tính đại diện nhất: “Tôi có lỗi với dân tộc. Chính cái hăng hái, nhiệt huyết của tôi đã góp phần dựng nên chế độ độc tài hiện nay, đã vô tình đem lại sự đau khổ hiện nay“.

Cầm quyền 38 năm, và còn tiếp tục 39, rồi 40 năm và có thể sẽ lâu hơn, ĐCSVN đã chứng tỏ là một tập đoàn phản động, phản bội, chạy theo đồng tiền bất chấp lợi ích và chủ quyền lãnh thổ của đất nước. Nhân dân, những người đã bỏ xương máu để có nhà nước hôm nay, trở thành kẻ nô lệ, bị lừa gạt và sống trong sợ hãi của sự đàn áp, bị u mê bởi những trò mị dân “mua thần bán thánh”, hoặc bị lên đồng điên khùng bằng những chất kích hoạt khác. Đất nước là tổng thể của một bức tranh ô hợp, lạc loạn, kẻ có địa vị giàu có cứ tiếp tục giàu có thêm, kẻ bần cùng vật lộn với miếng ăn hàng ngày, phó mặc sự đời, kỷ cương phép nước và các giá trị đạo đức của xã hội đảo lộn.

38 năm “giải phóng” thực sự trở thành 38 năm kinh hoàng của thời kỳ phong kiến-tư bản man sơ, hoang dã với mỹ từ “kinh tế thị trường định hướng XHCN”.  Vâng, chỉ mới “định hướng” thôi, còn tiến về đâu không biết. 38 năm đi hoài, đi loanh quanh, đi mãi về một nơi mà chẳng bao giờ biết nó là cái gì cả, có tồn tại hay không.

© 2013 Lê Diễn Đức – RFA Blog

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: