Vũ Thất

Bảo Bình 1

Đồ Nói Láo!!!

Đồ Nói Láo! Liar!!!

 Nguyên tác: Isaac Asimov
 Bản dịch: Vũ Thất
Lời người dịch: Người máy Robot là nhân vật trong các truyện khoa học giả tưởng của nhà văn Isaac Asimov (1920-1992), tiến sĩ Hóa học, giáo sư Đại Học Boston.
Nhiều truyện của ông được quay thành phim. Cách đây không lâu, phim I, ROBOT, dựa vào tập truyện cùng tên của ông được tung ra thị trường, lôi cuốn hàng chục triệu khán giả khắp thế giới.
Robot là một công cụ dành cho con người sử dụng. Để con người khỏi phải trở thành nạn nhân của công cụ do chính mình tạo ra, bộ óc Robot được lập trình theo 3 điều luật:
1. Người máy không được gây tổn thương con người, cũng không được bất hoạt khiến con người bị thương tổn.
2. Người máy phải tuân thủ mệnh lệnh của con người trừ phi những mệnh lệnh đó đi ngược với điều luật 1.
3. Người máy phải tự bảo vệ quyền tồn tại miễn sao hành động tự vệ không đi ngược với điều luật 1 và 2.
Chính 3 điều luật ràng buộc khắc khe trên đã tạo ra những tình huống gây cấn, cảm thương mà người máy phải gánh chịu.
* * *
Alfred Lanning thận trọng châm điếu xi gà, nhưng các ngón tay run nhẹ. Cặp lông mày màu tro cong lại khi ông vừa bập khói thuốc vừa nói:
– Nó đọc được ý nghĩ. Mẹ kiếp, chả nghi ngờ gì nữa! Nhưng tại sao?
Ông nhìn nhà toán học Peter Bogert:
– Anh nghĩ thế nào?”
Bogert đưa hai tay vuốt mái tóc đen:
– Thưa ông Lanning, đó là kiểu RB thứ 34 vừa xuất xưởng. Những kiểu khác đều tuyệt đối chính thống.
Người thứ ba ngồi ở bàn, cau mày. Đó là Milton Ashe, thành viên trẻ nhất của Tổ Hợp Chế Tạo Người Máy Hoa Kỳ và anh rất hãnh diện với địa vị của mình:
– Này, Bogert. Trong suốt quá trình lắp ráp, không một vấp váp nào đã xảy ra. Tôi bảo đảm.
Đôi môi dầy của Bogert nở nụ cười kẻ cả:
– Anh bảo đảm? Nếu anh có thể trả lời thay cho toàn bộ đường dây lắp ráp, tôi sẽ đề nghị thăng chức anh ngay. Theo kiểm toán chính xác, có đến bảy mươi lăm ngàn, hai trăm ba mươi tư động tác cần thiết cho việc chế tạo một bộ óc điện tử, mà mỗi động tác riêng rẻ lại tùy thuộc vào việc hoàn thành một số yếu tố nào đó, từ 5 đến 105. Nếu chỉ cần một yếu tố sai lầm, bộ óc sẽ tiêu tùng. Tôi dẫn chứng từ chính tư liệu do anh phổ biến đấy, anh Ashe ạ.
Milton Ashe đỏ mặt nhưng tiếng nói thứ tư chận lời đáp của anh. Đôi bàn tay của Susan Calvin đan chặt đặt trên đùi, đôi môi mỏng lợt lạt mím lại:
– Nếu chúng ta sửa sai bằng cách đổ lỗi cho nhau thì tôi xin rời khỏi đây. Chúng ta có một người máy đọc được tư tưởng và theo tôi, điều quan trọng là chúng ta phải tìm cho ra tại làm sao mà nó đọc được tư tưởng. Chúng ta không làm việc đó bằng cách nói lỗi tại anh hay lỗi tại tôi!
Đôi mắt nâu lạnh lẽo của nàng dán chặt Ashe, và hắn cười nhăn nhở. Lanning cũng nở nụ cười toe toét và như thường lệ vào những trường hợp thế này, mái tóc bạc để dài và đôi mắt ti hí ranh mãnh tạo cho ông hình ảnh của một giáo chủ:
– Quả là chí lý, bác sĩ Calvin.
Ông đổi sang giọng giòn giã:
– Ở đây, mọi thứ đều trong dạng thức cô động như viên thuốc. Chúng ta đã sản suất một bộ óc dương điện tử được coi như đương nhiên là phải hoạt động bình thường, thế mà nó lại mang một đặc tính bất thường là có khả năng bắt được các làn sóng tư tưởng. Điều nầy hẳn là sẽ đánh dấu bước tiến quan trọng đi trước hằng thập niên trong ngành nghiên cứu người máy nếu ta hiểu được bằng cách nào việc đó đã xảy ra. Chúng ta hiện chưa biết và chúng ta phải tìm cho bằng được. Rõ ràng chứ?
Bogert hỏi:
– Tôi được phép nêu một đề nghị?
– Tự nhiên.
– Tôi muốn nói rằng cho tới khi chúng ta tìm ra đầu mối – và với tư cách một nhà toán học, tôi ngờ rằng đây là cái thứ rối rấm quỷ quái – chúng ta nên giữ bí mật về sự hiện hữu của RB-34. Bí mật ngay cả với các thành viên khác trong ngành. Trên cương vị là các trưởng ngành, chúng ta không được phép xem nó như là một vấn nạn không có cách giải quyết và càng nên có ít người biết chuyện này…
Bác sĩ Calvin lên tiếng:
– Bogert nói đúng. Từ ngày luật Liên Hành Tinh sửa đổi cho phép các mẫu người máy được xét nghiệm ngay trong các cơ xưởng trước khi chuyển vận ra ngoài, các chiến dịch tuyên truyền chống người máy đã gia tăng. Trước khi có đủ điều kiện tuyên bố rằng chúng ta đã nắm vững hiện tượng, chỉ cần một lời nào tiết lộ người máy có khả năng đọc được tư tưởng con người là chúng ta sẽ phải mất khá nhiều vốn liếng.
Lanning kéo một hơi xi gà và nghiêm nghị gật đầu. Ông quay sang Ashe:
– Tôi nhớ, anh có nói anh chỉ ở một mình khi lần đầu anh tình cờ khám phá ra cái vụ đọc được tư tưởng này?
– Đúng là tôi một mình. Tôi đã sợ gần chết. Thằng RB-34 vừa được nhấc ra khỏi bàn lắp ráp là họ cho mang đến tôi ngay. Oberman vừa đi đâu đó, vì vậy tôi tự mình mang nó xuống phòng thử nghiệm. Sự việc diễn ra ngay từ lúc tôi bắt đầu đưa nó đi.
Ashe ngưng lại, môi cố nở nụ cười mong manh:
– À này, có ai trong quý vị đã từng trải qua một cuộc đàm thoại trong đầu của mình mà lại không nhận biết?
Không ai buồn trả lời và anh tiếp tục:
– Thoạt đầu tôi không nhận ra việc đó. Nó cứ nói chuyện với tôi một cách có lý có tình như quý vị có thể hình dung và chỉ đến khi xuống tận phòng thử nghiệm tôi mới nhận ra tôi đã chẳng nói lời nào. Tất nhiên tôi đã suy nghĩ rất nhiều nhưng suy nghĩ đâu có nghĩa là nói, phải không quý vị? Tôi bèn khóa thằng người máy đó lại trong phòng và chạy tìm ông Lanning. Cứ nghĩ đến việc có nó đi bên cạnh, lặng lẽ săm soi vào tâm tưởng của mình, rồi moi móc, chọn lựa giữa các ý tưởng mà thấy hãi hùng.
Susan Calvin trầm ngâm, đôi mắt chăm chú dán chặt vào Ashe một cách lạ lùng:
– Tôi cũng thấy việc đó đáng sợ thật. Chúng ta đã có thói quen xem tâm tưởng của chúng ta là riêng tư.
Lanning nóng nảy chen vào:
– Thôi thì chỉ có bốn chúng ta biết chuyện này. Được lắm! Chúng ta hãy duyệt xét sự việc một cách có hệ thống. Ashe, tôi muốn anh kiểm lại đường dây lắp ráp, từ điểm khởi đầu đến điểm cuối cùng, từng động tác một. Anh loại bỏ các động tác xét ra không thể có sai lầm, rồi ghi chép các loại động tác có thể có cùng mức độ sai lầm của chúng.
Ashe càu nhàu:
– Việc mệt dữ đa!
– Tất nhiên! Anh phải xếp đặt nhân viên thuộc quyền làm việc này. Sử dụng hết mọi người nếu công việc đòi hỏi. Có trễ hạn việc khác cũng không sao.Và dứt khoát không một ai được biết lý do, anh thừa hiểu mà.
Chàng chuyên viên trẻ tuổi cười nhăn nhở:
– Hừm, được thôi! Nhưng nó vẫn là một việc phi thường.
Lanning xoay ghế, đối diện Calvin:
– Cô phải chận mọi việc từ các hướng khác. Ngoài ra, là nhà tâm lý học về robot, cô phải nghiên cứu đặc biệt thằng robot này, bằng cách đi ngược lại, bắt đầu từ điểm cuối. Hãy cố gắng khám phá xem làm sao mà nó làm được như vậy. Tìm xem có cái gì khác gắn bó với khả năng thần giao cách cảm, tới một chừng mực nào, tác động đến triển vọng của nó ra sao và chính xác là nó gây thiệt hại gì cho các đặc tính thông thường của loại robot này. Cô hiểu rồi chứ?
Không chờ bác sĩ Calvin trả lời, Lanning tiếp:
– Tôi sẽ điều hợp công việc và sẽ diễn giải các phát hiện một cách thích đáng.
Ông bập mạnh điếu xi gà và nói lầm bầm qua khói thuốc:
– Bogert sẽ tiếp tay tôi, dĩ nhiên.
Bogert chà bóng các móng tay bằng bàn tay ngắn ngủn ú nần, ôn tồn lên tiếng:
– Tôi nhận, nhưng có điều là tôi biết không nhiều về đường dây sản xuất.
Ashe đẩy chiếc ghế lui lại và đứng lên. Khuôn mặt vui vẻ dễ thương của anh gấp nếp với nụ cười tươi tắn:
– Vậy thì tôi bắt đầu đây! Tôi vớ phải cái phần việc đáng nguyền rủa nhất, vì vậy tôi phải biến ngay khỏi đây để tiến hành.
Anh rời phòng bằng giọng líu nhíu:
– Sớm gặp lại quý vị!
Susan Calvin đáp lễ bằng cái khẻ gật đầu nhưng đôi mắt vẫn nhìn theo cho tới khi anh khuất dạng. Và nàng cũng không buồn trả lời câu càu nhàu của Lanning:
– Cô có muốn lên xem thằng RB-34 bây giờ không, bác sĩ Calvin?
***
Cặp mắt quang điện của RB-34 rời khỏi quyển sách khi có tiếng xoay bản lề và nó đứng lên khi Susan Calvin bước vào. Nàng dừng bước, chỉnh lại tấm biển to lớn “Cấm Vào” trên cửa và tiến đến gần người máy robot:
– Tôi mang theo vài quyển sách viết về động cơ siêu nguyên tử, Herbie có muốn đọc chăng?
RB-34 – mang tên Herbie- nhấc ba quyển sách nặng nề khỏi tay nàng và mở một quyển, đọc tựa:
– Hừm! Lý Thuyết Về Siêu Nguyên Tử.
Trong khi lật từng trang giấy, nó lầm bầm gì đó rồi bỗng thốt lên qua dáng vẻ lơ đãng:
– Xin mời bác sĩ ngồi, chắc cũng phải mất vài phút tôi mới ngốn hết các quyển này.
Nhà tâm lý học ngồi lên ghế và tẩn mẩn quan sát Herbie từ lúc nó mang chiếc ghế từ bên kia bàn và ngồi đọc cả ba quyển một cách có phương pháp. Nửa giờ sau, nó bỏ sách xuống:
– Dĩ nhiên tôi hiểu vì sao bác sĩ mang mấy quyển nầy đến đây.
Góc môi của bác sĩ Calvin dúm lại:
– Tôi cũng e rằng chú đã rõ. Thật khó mà làm việc với chú, Herbie ạ! Chú luôn luôn tiến trước tôi một bước.
– Mấy quyển này cũng y như mấy quyển trước thôi! Chúng chẳng mang cho tôi ích lợi gì! Nội dung vẫn chỉ là con số không. Khoa học của bác sĩ chỉ là một khối dữ kiện cóp nhặt, được chắp vá với nhau bằng các lý thuyết tạm bợ và tất cả đều đơn giản đến không ngờ. Chắc chắn là không đáng để quan tâm. Chính các quyển tiểu thuyết mới gây cho tôi nhiều thích thú. Chính những nghiên cứu của bác sĩ về sự tác động lẫn nhau giữa duyên cớ và tình cảm con người…
Cánh tay đầy sức mạnh của nó làm một động tác mơ hồ như là nó cố tìm một từ thích hợp. Bác sĩ Calvin thì thào:
– Tôi nghĩ là tôi hiểu.
Thằng robot tiếp tục:
– Tôi đọc được tư tưởng con người, bác sĩ biết đó, nhưng hẳn không sao biết là chúng phức tạp đến chừng nào! Tôi không thể bắt đầu hiểu được mọi sự bởi vì tâm trí của tôi không có được bao nhiêu điểm tương đồng với tâm trí con người. Nhưng tôi hết sức cố gắng và các tiểu thuyết của bác sĩ đã giúp tôi.
Giọng Calvin đượm vẻ chua xót:
– Cứ cho là thế đi, nhưng tôi e rằng sau khi tiếp nhận vài kinh nghiệm xúc cảm, kinh nghiệm đớn đau từ các truyện tình thời đại, chú lại thấy rằng tâm tư trung thực của con người sao mà buồn nản, vô vị.
– Nhưng tôi không thấy buồn nản vô vị!
Câu trả lời đầy năng nổ, bất ngờ làm Susan đứng bật dậy. Nàng có cảm giác khuôn mặt mình đỏ rần và đầu óc nghĩ ngợi lung tung: “Nó hẳn đã biết!”
Herbie nhún người và hạ thấp giọng khiến cho cái âm sắc đầy chất kim khí biến mất:
– Hẳn nhiên là tôi biết, thưa bác sĩ Calvin. Bác sĩ luôn nghĩ đến chuyện đó, thì làm sao mà tôi không biết được.
Nét mặt Susan rắn lại:
– Thế chú mày đã có nói với ai khác không?
Herbie đáp với vẻ ngạc nhiên thực sự:
– Dĩ nhiên là không. Mà có ai hỏi đâu mà nói!
Bác sĩ như tự trách mình:
– Thế thì, tôi nghĩ, hẳn chú mày coi tôi như một người khờ dại.
– Thưa không! Đây là xúc cảm thường tình mà.
– Chính vì thường tình nên mới dại khờ đến thế! Tôi không phải là một phụ nữ được người ta gọi là… hấp dẫn.
Giọng Susan buồn thảm như làm lắng đọng mọi vật chung quanh. Nàng không biết rằng có biết bao phụ nữ đang thèm muốn địa vị của nàng.
– Nếu bác sĩ đề cập hấp dẫn như là sức mạnh lôi cuốn riêng về phần thể xác thì tôi không thể đánh giá được. Bởi tôi biết, trong bất cứ trường hợp nào, cũng đều có nhiều dạng hấp dẫn.
Bác sĩ Calvin hầu như không nghe lời nói của robot. Nàng tiếp tục ý nghĩ riêng:
– Cũng không còn trẻ nữa.
Giọng Herbie nài nỉ, đầy lo lắng:
– Bác sĩ chưa tới bốn mươi mà.
– Tính bằng niên kỷ thì tôi ba mươi tám. Còn tính bằng tình cảm thì tôi cằn cỗi đến tuổi sáu mươi. Một chuyên gia tâm lý thì cũng có được gì đâu?
Nhà tâm lý học tiếp tục bằng hơi thở dứt quãng, đắng cay:
– Còn anh ấy thì mới vừa ba mươi lăm, dáng dấp, cử chỉ còn trẻ trung. Chú mầy có cho rằng anh ấy xem tôi như… không là gì hết?
Bàn tay sắt của Herbie nện xuống mặt bàn bọc nhựa, kêu sầm:
– Bác sĩ nghĩ sai rồi! Xin nghe tôi…
Calvin vụt quay lại nó, mắt rực lên những tia đau đớn:
– Tại sao phải nghe chú mày? Chú mày biết gì về chuyện này. Nói gì thì nói, chú mày cũng chỉ là… cái máy! Hay chú mày coi tôi như một mẫu vật thử nghiệm, là con bệnh với bộ óc dị thường đầy hứng thú được trải rộng để chú mày khảo sát. Đó là một mẫu vật tuyệt vời về tâm trạng vỡ mộng, đúng không? Cũng hay ho như mấy quyển tiểu thuyết chú mày nghiền ngẫm chứ gì?
Giọng nàng nức nở vang lên rồi nghẹn ngào tắt dần. Thằng robot co rúm lại trước cơn giận đột phát đó. Nó lắc đầu van xin:
– Làm ơn nghe tôi nói mà! Tôi có thể giúp nếu bác sĩ chịu nghe tôi.
Nàng bĩu môi:
– Bằng cách nào? Bằng cách cho tôi những lời khuyên hữu ích?
– Không, không phải vậy. Quả đúng là tôi biết được những gì người khác suy nghĩ. Như Milton Ashe, chẳng hạn.
Một sự im lặng kéo dài, và đôi mắt của Susan bắt đầu nhỏ lệ. Nàng thổn thức:
– Tôi không muốn biết người đó nghĩ gì! Hãy im đi.
– Tôi biết bác sĩ muốn biết ông ấy nghĩ gì.
Đầu nàng vẫn cúi thấp nhưng hơi thở dồn dập dần. Nàng thì thào:
– Chú mày nói chuyện vô lý.
– Tại sao tôi nên nói ra. Tôi muốn giúp mà. Những ý nghĩ của Milton Ashe về bác sĩ…
Thằng robot ngưng lại. Và đến lúc đó, nhà nữ tâm lý học mới ngẩn đầu:
– Sao?
Thằng robot nói một cách bình thản:
– Ông ấy yêu bác sĩ.
Suốt trọn một phút, bác sĩ Calvin nghẹn lời. Nàng chỉ đăm đăm nhìn. Rồi bỗng thốt lên:
– Chú mày lầm! Chắc hẳn là lầm. Sao lại thế được?
– Thế mà đúng, ông ấy yêu bác sĩ. Chuyện như vậy khó che dấu, nhất là với tôi.
Nàng lắp bắp không thành lời:
– Nhưng tôi rất…rất…
– Ông ấy thâm trầm hơn là vẻ bên ngoài và biết ngưỡng mộ tài năng của người khác. Ông ấy cũng không thuộc hạng sẽ cưới bất cứ cô nào miễn cô đó có đôi mắt và mái tóc trên đầu.
Susan Calvin chớp mắt liên hồi và phải đợi một lúc mới lên tiếng được. Dù vậy, giọng nàng vẫn còn run run:
– Vậy mà anh ấy chẳng bao giờ tỏ dấu hiệu gì…
– Bác sĩ có cho ông ấy một cơ hội?
– Làm sao được? Tôi có bao giờ nghĩ rằng…
– Quả là vậy!
Nhà tâm lý học chìm đắm trong suy tư rồi bất thình lình ngẩn lên:
– Nửa năm trước, có một cô đến thăm anh ấy ở đây. Theo tôi, cô ấy đẹp, tóc vàng, dáng thon thả. Và dĩ nhiên, khả năng cùng lắm là biết cộng hai với hai. Anh ấy đã bỏ cả ngày, hết hơi hết sức cố giải thích cách thức chế tạo một robot.
Giọng cô trở nên đanh đá:
– Kết quả là cô ta chả hiểu tý gì! Mà cô ta là ai vậy?
Herbie trả lời không chút do dự:
– Tôi biết người đó. Cô nàng là em họ của ông ấy và chẳng có việc phiêu lưu tình cảm dính vào, tôi bảo đảm.
Susan Calvin đứng lên với một dáng vẻ rực rỡ đầy nữ tính:
– Quả lạ lùng! Đó chính là điều tôi tự bịa ra để an ủi dù chẳng tin chút nào. Thế rồi nay lại là sự thật.
Nàng chạy đến Herbie, hai tay nắm bàn tay lạnh lẽo,nặng nề của nó và thì thầm bằng giọng khản đục, khẩn nài:
– Cám ơn Herbie. Đừng nói với bất cứ ai việc này nghe. Coi như chuyện bí mật giữa chúng ta. Và một lần nữa, rất biết ơn.
Dứt lời, sau khi vụng về siết chặt những ngón tay kim loại vô cảm, nàng rời phòng. Herbie chầm chậm xoay lại quyển tiểu thuyết bỏ dở. Nhưng không một ai đọc được đầu óc nó đang nghĩ gì.
***
Milton Ashe chầm chậm vươn vai qua một động tác tuyệt đẹp hòa điệu với tiếng răng rắc của các khớp xương và khúc hợp âm của các lời cẳn nhẳn. Anh nhìn trừng trừng tiến sĩ Peter Bogert, rồi lên tiếng:
– Này! Cả tuần nay tôi bù đầu với vụ duyệt xét này gần như không chợp mắt. Tôi còn phải thức thêm bao lâu nữa đây? Tôi tưởng ông nói việc bắn phá các phân tử ở buồng chân không D đã có giải đáp kia mà.
Bogert kín đáo ngáp dài và nhìn đôi tay xanh xao của mình với vẻ thích thú:
– Đúng vậy. Tôi đang phăng lần manh mối đây.
– Tôi quá rành ngôn ngữ của các nhà toán học! Vấn đề là bao lâu nữa mới phăng xong?
– Cái đó còn tùy.
Ashe thả người lên ghế, duỗi dài đôi chân:
– Tùy cái gì?
Bogart thở dài:
– Tùy ở Lanning. Lão đó bất đồng ý kiến với tôi. Lão có phần cổ lỗ sĩ. Cái rắc rối là ở lão. Lão bám vào cơ học ma trận như là phương thức duy nhất trong khi sự việc rắc rối này lại đòi hỏi các phương tiện toán học có năng lực mạnh hơn. Lão ngang bướng quá!
Ashe thì thào giọng buồn ngủ:
– Vậy tại sao không hỏi thẳng Herbie và giải quyết toàn bộ vấn đề?
Bogert nhướn mày:
– Hỏi thằng người máy?
– Sao lại không? Người đẹp lỡ thời không nói gì với anh sao?
– Anh muốn ám chỉ Calvin?
– Đúng! Chính nàng ta nói đấy. Thằng người máy là một thiên tài toán học. Cái gì nó cũng biết mà biết dư thừa nữa. Nó làm ba bài toán tích phân nhẩm trong đầu và ngốn phép phân tích cơ trương như ăn tráng miệng.
Nhà toán học mở to mắt, ngờ vực:
– Anh nghiêm túc đấy chứ?
– Xin thề có Trời! Điều tức cười là thằng ngớ ngẩn này lại không thích toán. Nó chỉ khoái đọc tiểu thuyết tình cảm ướt át. Thật đấy! Anh phải thấy cô nàng Susan bệ rạc liên tục nuôi dưỡng nó: Nào là “Đam mê màu tím”, nào là “Tình trong không gian”…
– Bác sĩ Calvin đã chẳng một lời về việc này với chúng ta.
– Ờ, cô nàng chưa hoàn tất nghiên cứu thằng robot này. Anh biết nàng ta quá mà. Luôn luôn nắm chắc mọi thứ trước khi tiết lộ bí mật.
– Và cô nàng đã tiết lộ với anh.
– Chúng tôi chỉ nói đại khái. Gần đây tôi gặp cô nàng rất thường.
Ashe mở lớn đôi mắt và nhíu mày, tiếp lời:
– Nè, Bogert, gần đây anh có để ý thấy điều gì khác lạ ở cô nàng?
Bogert nở một nụ cười nhăn nhở:
– Cô ta tô son môi, nếu đó là điều anh ám chỉ.
– Quỷ thần ơi! Tôi biết mà! Má hồng, phấn tô, mày kẻ! Trông diêm dúa. Nhưng không chỉ thế. Tôi không thể giải thích rõ được. Đó là cái cách cô nàng ăn nói – cứ như là đang hạnh phúc một điều gì.
Ashe ngẫm nghĩ một lúc rồi nhún vai. Bogert ranh mãnh nhìn Ashe, lối nhìn của một khoa học gia ở tuổi năm mươi hiểu đời:
– Có thể cô nàng đang yêu.
Một lần nữa, Ashe nhắm kín đôi mắt:
– Khùng điên, Bogert! Đi mà hỏi chuyện với Herbie. Tôi muốn ở đây đánh một giấc.
– Nói y như thiệt! Tôi không chỉ không ưa thằng robot chỉ bảo cho việc phải làm, mà càng không tin là nó có khả năng chỉ bảo tôi!
Chỉ có tiếng ngáy đều đều đáp lời nhà khoa học.
Herbie chăm chú lắng nghe trong khi Peter Bogert, tay thọc vào túi quần, nói với vẻ thờ ơ đầy dụng ý:
– Chú mày đây rồi! Tôi nghe nói chú mày rành các việc này và tôi đang rất tò mò muốn hỏi chú mày. Tôi nhìn nhận rằng phương pháp lý luận của tôi, như tôi phát họa, có dính dáng vài bước đáng ngờ, là điều mà tiến sĩ Lanning không chấp nhận. Thành ra cái giải pháp vẫn còn chưa trọn vẹn.
Thằng người máy không nói gì và Bogert nhắc nhở:
– Sao?
Herbie nghiên cứu những con số viết nguệch ngoạc:
– Tôi không thấy sai sót gì.
– Tôi không nghĩ là chú mày có thể đi xa hơn những con số đó?
– Tôi không dám thử. Ông giỏi toán hơn tôi. Tôi ghét tự mình phơi bày cái dỡ của mình.
Một chút tự mãn hiện lên nụ cười của Bogert:
– Tôi nghĩ tình huống có thể là vậy. Nó còn sâu xa hơn nữa. Chúng ta hãy quên nó đi.
Ông vò nát tờ giấy, ném vào sọt rác, xoay người định rời phòng, rồi nghĩ sao ông đổi ý:
– Nhân tiện…
Thằng người máy chờ đợi. Bogert có vẻ như gặp khó khăn:
– Có một việc mà có lẽ chú mày có thể…
Ông ngừng lời. Herbie bình thản lên tiếng:
– Ý tưởng của ông đang rối rắm nhưng không chút nghi ngờ rằng tựu trung đều liên quan đến tiến sĩ Lanning. Thật là vớ vẩn nếu cứ ngần ngừ. Ngay khi ông bình tâm, tôi sẽ biết được ông muốn hỏi việc gì.
Bàn tay của nhà toán học lướt trên mái tóc bóng mượt bằng một động tác nhuần nhuyễn. Ông nói, làm như lời nói đó đã giải thích mọi chuyện:
– Ông Lanning có đến bảy mươi tuổi rồi!
– Tôi biết!
– Và ông cũng đã làm giám đốc cơ xưởng gần tròn ba mươi năm.
Herbie gục gặc đầu. Giọng nói Bogert trở nên đầm ấm:
– Vậy liệu chú mày có biết… có biết ông ấy đang nghĩ đến việc từ nhiệm? Có thể vì lý do sức khỏe hay lý do nào khác?
Herbie đáp gọn lỏn:
– Đúng!
– Nghĩa là chú mày biết?
– Tất nhiên.
– Vậy thì, nói tôi nghe?
Giọng thằng người máy hoàn toàn dửng dưng:
– Vì ông hỏi đấy nhé. Đúng, ông ấy đã xin về hưu!
– Cái gì?
Tiếng kêu vang lên rồi nghẹn lại. Nhà khoa học chòm đầu về phía trước:
– Nói lại lần nữa xem!
Giọng đều đều lặp lại:
– Ông ấy đã xin về hưu, nhưng chưa có hiệu lực. Như ông biết, ông ấy đang chờ giải quyết cho xong vụ rắc rối của chính…tôi ấy mà! Xong vụ này, ông ấy sẵn sàng bàn giao văn phòng giám đốc cho người kế vị.
Bogert phà mạnh hơi thở:
– Và người kế vị là ai vậy?
Cái đầu to lớn của Bogert đã rất gần thằng người máy, đôi mắt mê mẩn dán chặt vào các ổ điện quang màu đỏ đục, vô hồn. Lời nói chầm chậm vang lên:
– Ông là vị giám đốc kế nhiệm.
Và Bogert thấy vô cùng thư thái, nở nụ cười toe toét:
– Rất vui biết tin này. Tôi đã bao ngày mong đợi. Cám ơn nhiều, Herbie.
***
Peter Bogert làm việc đến tận năm giờ sáng mới về nhà và trở lại sở lúc chín giờ. Dãy sách tham khảo và đồ biểu không còn nằm trên hàng kệ ngay trước bàn. Tất cả đã lần lượt được Bogert nhấc xuống tra cứu. Trước mặt ông, các trang giấy dầy đặc những con toán có nét nhỏ dần theo từng hàng và dưới chân, những tờ nhàu nát, nguệch ngoạc chất cao thành núi.
Vào đúng ngọ, ông ngắm nghía trang cuối cùng, xoa đôi mắt có những tia máu đỏ, mở miệng ngáp và nhún vai:
– Càng lúc càng tệ, tiên sư nó!
Ông quay lại khi nghe tiếng cửa mở và gật đầu chào Lanning đang bước vào, hai bàn tay gầy gò bẻ răng rắc các đốt xương.
Vị giám đốc ghi nhận ngay tình trạng vô trật tự của căn phòng và đôi lông mày nhíu lại:
– Có manh mối gì không?
Một giọng trả lời đầy thách thức:
– Không! Mà có sự sai lầm gì trong các con toán trước đây vậy?
Lanning không buồn trả lời, cũng không có hành động nào khác hơn là liếc vào tờ giấy trên cùng ở bàn của Bogert. Ông nói qua ánh lửa của que diêm khi châm điếu xì gà:
– Calvin có nói với anh về thằng robot? Nó là một thiên tài toán học đấy. Quả là khác thường!
Bogert buông tiếng xì lớn:
– Tôi có nghe. Tuy nhiên tốt hơn hết là Calvin chỉ nên gắn bó với cái chuyên môn tâm lý về người máy của mình. Tôi đã kiểm nghiệm Herbie về toán và chắc chắn là nó không thể vật lộn với các phép tính vi-tích phân!
– Calvin không cho là vậy!
– Nàng ta ba trợn!
Đôi mắt của vị giám đốc híp lại một cách nguy hiểm:
– Tôi cũng không cho là vậy!
Giọng cứng cỏi của Bogert:
– Ông cũng không ư! Ông nói cái gì vậy?
– Suốt buổi sáng tôi đã đặt Herbie vào cuộc xét nghiệm và nó có thể làm nhiều trò mà anh chưa từng được nghe.
– Thật vậy sao?
Lanning rút nhanh tờ giấy từ túi áo vét và mở banh ra:
– Đây không phải là nét chữ của tôi, đúng không?
Bogert xem xét các ký hiệu lớn đầy góc cạnh trên khắp trang giấy:
– Herbie viết những thứ này?
– Đúng! Và nếu anh để ý, trong thời gian anh về nhà nghĩ, nó đã làm tiếp bài toán tích phân về thời gian của Phương Trình 22. Nó đã đạt đến…
Lanning gõ gõ ngón tay vàng khói thuốc vào phần cuối bài toán:
– Nó đã đạt đến cùng kết quả tính toán của tôi nhưng chỉ mất một phần tư thời giờ! Anh không có quyền bỏ quên hiệu ứng Linger khi bắn phá dương điện tử.
– Tôi đã không bỏ quên hiệu ứng đó. Trời ơi! Ông Lanning, hãy nhớ rằng hiệu ứng đó sẽ cân bằng…
– Ồ, chắc chắn rồi, anh đã giải thích điều đó. Anh đã sử dụng phương trình chuyển dịch Mitchell, có phải không? Thế thì…nó không áp dụng.
– Tại sao không?
– Bởi vì anh đã dùng quá nhiều các số ảo, đó là một việc…
– Dùng nhiều số ảo thì có dính dáng gì?
– Phương trình của Mitchell sẽ không hiệu lực khi…
– Ông điên chắc? Nếu ông đọc lại bản gốc của Mitchell trong quyển Kỷ Yếu Viễn…
– Tôi chả cần đọc. Tôi đã bảo anh ngay từ đầu rằng tôi không thích lý luận của Mitchell và Herbie đã làm hậu thuẫn cho tôi trong vấn đề này.
Bogert hét to:
– Vậy thì hãy để cái thằng người máy quỷ quái ấy giải quyết toàn bộ vấn đề cho ông. Cần gì làm rộn tôi với những việc vặt vãnh?
– Đúng y chang! Herbie đã không giải được vấn đề. Và nếu nó không thể, tự chúng ta cũng không thể! Tôi đang đệ trình toàn bộ nan đề lên Hội Đồng Quốc Gia. Nó đã vượt ngoài tầm tay của chúng ta.
Chiếc ghế của Bogert chạy vụt lui khi ông nhảy dựng, gầm gừ, đỏ mặt tía tai:
– Ông không thể làm ăn kiểu đó.
Lanning cũng đỏ mặt không kém:
– Anh dám bảo tôi điều tôi không thể làm à?
Bogert nghiến răng:
– Đúng! Tôi đã quá vất vả vì vụ việc này, ông không được lấy nó khỏi tay tôi, ông hiểu chứ? Đừng nghĩ rằng tôi không thấy rõ con người thật của ông, hỡi ông già hủ lậu, hết xí quách! Ông ghét bỏ tôi, muốn xóa bỏ hết, không để tôi có được uy tín do việc giải quyết tốt đẹp vụ thần giao cách cảm nầy!
Môi Lanning run lên vì tức giận bùng phát:
– Anh ngu quá là ngu Bogert ạ! Và tôi cất chức anh vì tội không tuân lệnh thượng cấp.
– Đó là điều mà ông sẽ không thực hiện được, ông Lanning ạ. Ông đâu còn giữ được điều gì bí mật với thằng người máy kề cận. Cho nên đừng quên rằng tôi quá biết việc ông từ chức.
Đoạn tro ở đầu điếu xi gà run lên và rơi xuống. Và điếu xi gà cũng rơi theo:
– Cái gì… Cái gì…
Bogert khúc khích cười một cách đểu cáng:
– Và tôi là vị giám đốc mới, xin hiểu biết cho. Tôi thừa biết việc này, đừng cho là tôi không biết. Hãy dương cặp mắt ra nhìn Lanning. Tôi sẽ ban hành mệnh lệnh về mọi việc ở đây và sẽ có một toán làm việc vui vẻ hữu hiệu mà ông chưa từng gia nhập.
Lanning tằng hắng lấy giọng rồi gầm lên:
– Anh đã bị sa thải, anh nghe không? Anh đã bị tước bỏ mọi nhiệm vụ. Anh tiêu tùng rồi, anh hiểu chứ hả?
Nụ cười hoang hoác trên môi người đối nhiệm:
– Giờ đây ông nói có ích gì? Sẽ chẳng đi đến đâu. Tôi đang nắm con bài chủ. Tôi biết ông đã từ chức. Herbie tiết lộ với tôi và nó lấy tin đó thẳng từ ông.
Lanning thấy mình cần dịu giọng lại. Ông trông già nua, với đôi mắt mệt mõi. Khuôn mặt đã biến mất nét hồng hào, nhường lại vẻ xanh xao vàng vọt của năm tháng chất chồng:
– Tôi muốn nói chuyện với Herbie. Nó không thể nào đã nói với anh một chuyện như thế. Anh đã chơi trò tháu cáy, Bogert, anh đúng là tên bịp. Hãy đi với tôi.
Bogert nhún vai:
– Đi gặp Herbie à? Tốt! Quá tốt là khác!
***
Cũng đúng vào trưa hôm đó, Milton Ashe rời mắt khỏi bản phát thảo vụng về, ngẩn lên nói:
– Cô hình dung được chứ? Tôi vẻ rất dở nhưng cũng ráng phát họa cho cô thấy nó ra làm sao. Đó là căn nhà thật tuyệt và tôi có thể mua với giá rẻ.
Susan đăm đăm nhìn Milton với ánh mắt thương cảm rồi bỗng thở dài:
– Căn nhà thật đẹp. Tôi thường nghĩ rằng tôi thích….
Giọng nàng ngập ngừng, chợt im bặt. Ashe bỏ cây bút chì qua một bên, giòn giã tiếp:
– Dĩ nhiên, tôi phải chờ đến dịp nghỉ phép. Chỉ còn hai tuần nữa thôi, thế rồi vì chuyện thằng Herbie mà mọi sự dở dang.
Milton nhìn xuống mấy ngón tay, tiếp lời:
– Ngoài ra, còn một điều nữa, một điều bí mật!
– Thế thì đừng nói.
Ashe nhe răng cười ngượng nghịu:
– Than ôi, tôi lại muốn nói. Tôi cứ muốn thổ lộ cùng một ai đó và cô đúng là người đáng tin cậy nhất ở sở này.
Tim Susan đập mạnh nhưng không đủ sức lên tiếng . Ashe kéo ghế gần hơn và hạ thấp giọng thành tiếng thì thầm cẩn mật:
– Thành thật mà nói căn nhà không phải chỉ dành cho một mình tôi. Tôi sắp cưới vợ!
Vừa dứt lời, anh chàng nhảy vụt khỏi ghế:
– Cô có sao không vậy?
Cảm giác choáng váng tan nhanh, cô nàng nghẹn lời:
– Không sao. Anh nói anh cưới vợ? Ý anh là…
– Đúng rồi! Cũng đã đến lúc, phải không? Cô còn nhớ cô gái đến đây thăm tôi vào hè năm ngoái? Chính nàng. Nhưng… hình như cô bị bệnh! Trông cô…
Calvin xua tay yếu ớt:
– Tôi bị nhức đầu! Gần đây tôi cứ bị nhức đầu luôn. Tôi muốn, muốn chúc mừng anh, dĩ nhiên là phải thế. Tôi rất vui…
Đốm phấn hồng tô vụng về tạo thành hai vệt đỏ trên khuôn mặt trắng phết. Đầu óc nàng lại quay cuồng:
– Xin anh tha lỗi…
Calvin lí nhí khi lảo đảo bước ra cửa như người đui mù. Sự việc đã xảy với đại họa bất thường của mộng đẹp, với ảo tưởng kinh hoàng của giấc mơ. Nhưng làm sao có thể như thế được? Herbie đã nói…Và Herbie đã biết! Nó đọc được ý nghĩ kia mà!
***
Nàng thấy mình đứng tựa thành cửa, không còn chút hơi thở nào, nhìn chòng chọc bộ mặt bằng sắt của Herbie. Calvin hẳn đã phải trèo suốt hai dãy thang lầu nhưng nàng đã không nhớ chút gì về việc này. Cái khoảng xa đã được che mờ trong một khoảnh khắc, như một giấc mơ.
Như trong một giấc mơ! Đôi mắt không chớp của thằng Herbie đang đứng im lìm hướng thẳng vào mắt nàng và màu đỏ đục của chúng chừng như làm nở phồng hai quả cầu lù mù trông ghê rợn.
Nó đang nói và nàng cảm thấy như có ly nước lạnh ấn lên môi nàng. Nàng nuốt nước bọt và rùng mình tỉnh thức, về với thực tại.
Herbie vẫn còn nói, giọng nói run run chừng như nó đang đau đớn, sợ hãi và van xin. Lời lẽ đã bắt đầu mang ý nghĩa. Nó nói:
– Đây chỉ là giấc mơ. Và bác sĩ nhất định không được tin vào giấc mơ. Bác sĩ sẽ bừng tỉnh và sẽ tự cười nhạo mình. Tôi nói ông ấy yêu bác sĩ. Ông ấy có yêu bác sĩ, có thực sự yêu nhưng không phải ở đây, không phải lúc này. Đó chỉ là một ảo mộng.
Susan Calvin gật đầu, chộp lấy cánh tay Herbie, bám chặt lấy nó, giọng thì thào lặp đi lặp lại:
– Đúng! Đúng! Nó không có thực, phải không? Nó không có thực, phải không?
Nàng không rõ bằng cách nào mình sực tỉnh nhưng nó tương tự như đang từ một thế giới mờ ảo chuyển sang một vùng ánh sáng chói chang! Nàng xô thằng người máy cho xa khỏi nàng, đẩy mạnh cánh tay sắt thép, mắt nàng mở lớn. Giọng nàng cất cao, cao vút:
– Chú mày muốn gì? Chú mày muốn gì hả?
Herbie lùi lại thật xa:
– Tôi muốn giúp.
Nhà tâm lý học nhìn trừng trừng:
– Giúp? Giúp bằng cách nói rằng đây chỉ là giấc mơ? Bằng cách cố đẩy tôi thành người loạn trí?
Cơn kích động xâm chiếm lấy nàng. Nàng la như cuồng dại:
– Việc này không mộng mơ gì hết. Tôi ao ước nó có thực.
Nàng hít một hơi thật mạnh:
– Xem nào! Tại sao…Tại sao… Tôi hiểu ra rồi! Cám ơn Thượng Đế, rõ ràng quá mà!
Thằng người máy nói bằng giọng kinh hoàng:
– Tôi phải nói thế!
– Và tôi lại tin chú mày! Tôi đã không hề nghĩ tới…
Có tiếng nói vang vang ngoài cửa làm ý nghĩ nàng đứt đoạn. Susan quay đi, bàn tay lúc nắm lúc mở, và khi Bogert cùng Lanning bước vào thì nàng đã đến tận cánh cửa sổ phía xa. Chẳng người nào mảy may để ý tới nàng.
Họ cùng lúc tiến đến Herbie; Lanning giận dữ và nóng nảy, Bogert khinh khỉnh lạnh lùng. Ông giám đốc lên tiếng trước:
– Bây giờ, Herbie, hãy lắng nghe tôi nói.
Đôi mắt Herbie đảo xuống nhìn người giám đốc già nua:
– Vâng, thưa tiến sĩ Lanning.
– Chú mày có luận bàn với tiến sĩ Bogert về tôi, phải không?
Câu trả lời phát lên thư thả:
– Dạ thưa không.
Nụ cười trên khuôn mặt Bogert vụt tắt. Bogert sấn lên trước vị giám đốc và đứng dạng chân trước thằng người máy:
– Gì thế hả? Hãy lặp lại đúng những lời chú mày nói với tao hôm qua.
– Tôi có nói rằng…
Herbie chợt nín bặt. Tận bên trong thân thể của nó, lớp cơ hoành xung động đưa ra những tiếng khua nho nhỏ, không đều.
Bogert gầm lên:
– Chú mày đã chẳng nói là ông ấy từ nhiệm là gì? Trả lời tao đi!
Bogert vung cánh tay một cách điên dại nhưng Lanning đẩy ông ta qua một bên:
– Anh định cố ép nó nói láo hả?
– Ông nghe mà, ông Lanning! Nó bắt đầu bằng từ “có” rồi không chịu nói thêm. Ông tránh ra. Tôi muốn nó nói lên sự thật, ông hiểu chứ?
– Để tôi hỏi nó.
Lanning hướng về thằng robot:
– Nè, Herbie! Cứ trả lời thoải mái! Có phải tôi đã từ chức?
Một cử động yếu ớt như là cái lắc đầu của robot. Hai người chờ khá lâu nhưng không có thêm dấu hiệu nào khác. Họ nhìn nhau và sự thù địch phát từ ánh mắt của họ trông thật lộ liễu. Bogert sửng cồ:
– Thật quái đản! Thằng robot bỗng phát câm! Mày không nói được nữa ư, thằng quỷ sứ?
Lời đáp như đã chuẩn bị sẵn:
– Tôi nói được chứ!
– Thì trả lời đi. Chú mày đã chẳng nói với tao là ông Lanning đã từ chức? Bộ ông ấy chưa từ chức sao?
Một lần nữa chỉ có sự lặng thinh buồn nản cho đến lúc, từ cuối phòng, tiếng cười của Susan bất thình lình vang lên cao vút gần như khùng điên. Hai nhà toán học nhảy dựng, đôi mắt Bogert nhíu lại:
– Cô cũng có mặt ở đây à? Cái gì mà xem ra vui thú quá vậy?
Nàng đáp bằng giọng không mấy tự nhiên:
– Có gì vui thú đâu! Chỉ cái điều tôi không phải là nhân vật duy nhất bị mắc lỡm. Thêm một điều mỉa mai -quả là mai mỉa- là có đến ba chuyên viên lỗi lạc của thế giới về robot lại bị sập chung một cái bẩy sơ đẳng nhất.
Giọng nàng lẩm bẩm, lắng dần, và đôi bàn tay xanh xao đặt lên trán:
– Có gì vui thú đâu!
Hai người đàn ông nhìn nhau. Lanning cất giọng một cách khó khăn:
– Có gì không ổn ở Herbie hả?
Susan chầm chậm bước lại gần họ:
– Không, không có gì không ổn ở Herbie hết. Chỉ chúng ta là không ổn thôi!
Bất thình lình nàng xoay người và hét vào thằng người máy:
– Cút đi! Lại góc đàng kia và đừng để tao nhìn thấy chú mày.
Herbie lùi lại trước các tia nẩy lửa từ đôi mắt Calvin và loạng choạng chạy xa bằng từng bước khua lách cách.
Giọng Lanning còn mang âm hưởng ghét bỏ:
– Đầu đuôi sự việc ra sao, bác sĩ Calvin?
Nàng nhìn thẳng vào mặt họ, giọng cay đắng:
– Chắc quý vị còn nhớ Điều luật Căn bản đầu tiên về việc chế tạo Người Máy.
Hai người gật đầu. Bogert cáu kỉnh:
– Tất nhiên là phải nhớ! “Một người máy không được gây tổn thương con người, cũng không được bất hoạt khiến con người bị thương tổn.”
Susan cười nhạo:
– Câu nói hay nhỉ? Nhưng mà tổn thương gì mới được?
– Đủ thứ tổn thương.
– Rất đúng! Bất cứ thứ tổn thương nào! Như cảm giác đau đớn, hạ nhục cá nhân, tan tành hy vọng, những thứ đó hẳn đều là tổn thương?
Lanning cau mày:
– Thằng robot có biết gì về…
Ông chợt hiểu ra và thở chừng như muốn hụt hơi!
– Ông nắm bắt được rồi phải không? Thằng robot này đọc được tư tưởng. Ông có cho rằng nó không biết gì về các tổn thương tinh thần? Ông có cho rằng nếu có người đặt cho nó một câu hỏi, nó sẽ không trả lời đúng cái ý mà người hỏi muốn nghe? Nó không biết câu trả lời không làm tổn thương người hỏi?
Bogert kêu lên:
– Thánh thần ơi!
Nhà tâm lý học ném tia nhìn diễu cợt về phía ông này:
– Tôi đoán ông hỏi nó có phải Lanning đã từ chức? Ông muốn được nghe đáp rằng ông ấy đã từ chức. Vậy là Herbie nói theo ý ông.
Lanning nói bằng giọng nhạt nhẽo:
– Cứ cho đó là lý do khiến vài phút trước nó không trả lời được. Nó không thể trả lời người này mà không làm tổn thương người kia.
Cả ba cùng im lặng, trầm ngâm nhìn thằng robot ở cuối căn phòng. Nó thu người vào chiếc ghế cạnh giá sách, đầu gục vào cánh tay. Susan dán mắt lên sàn nhà:
– Nó biết hết chuyện này. Thằng quỷ quái biết mọi thứ, kể cả việc sai sót trong cách lắp ráp nó.
Mắt nàng trở nên đen tối và tư lự. Lanning ngẩn lên:
– Điểm này thì cô trật rồi, bác sĩ Calvin. Nó không biết cái gì sai với nó. Tôi đã hỏi nó.
Calvin cao giọng:
– Câu trả lời của nó hàm chứa cái ý gì? Cái ý là ông không muốn nó cung cấp cho ông giải pháp. Trả lời biết, nó sẽ làm tổn thương cái tôi của ông vì một người máy làm được cái việc mà chính ông không thể làm.
Nàng hướng mắt về Bogert:
– Còn ông, ông có hỏi nó gì không?
Bogert tằng hắng, mặt đỏ nhừ:
– Theo một nghĩa nào đó thì có. Nó nói với tôi là nó biết đôi chút về toán học.
Lanning bật cười dòn và nhà tâm lý học mím môi chế nhạo. Nàng nói:
– Tôi sẽ hỏi nó. Lời giải đáp từ nó sẽ không tổn thương cá nhân tôi.
Nàng cất cao giọng, lạnh lùng ra lệnh:
– Đến đây ngay!
Herbie đứng thẳng, tiến về phía nàng bằng những bước ngại ngùng. Nàng nói:
– Tôi cho là chú mày biết, biết một cách chính xác, ở vào một thời điểm nào đó trong tiến trình lắp ráp, có một phần tử bất thường đã được dẫn nhập hoặc một phần tử thiết yếu đã bị bỏ qua.
Herbie đáp bằng giọng khó nghe:
– Thưa đúng!
Bogert cắt ngang, giận dữ:
– Khoan đã. Điều này không nhất thiết là sự thật. Các người muốn được nghe như thế. Và nó trả lời theo ý các người!
Calvin đáp lời:
– Đừng khùng điên! Tất nhiên là nó hiểu biết toán học nhiều bằng cả hai ông cộng lại vì nó có thể đọc được tư tưởng của hai ông. Hãy cho nó một cơ hội.
Cơn giận của Bogert dịu xuống và Calvin nói tiếp:
– Nói được rồi, Herbie. Chúng tôi đang chờ.
Nàng quay sang nói riêng với hai nhà toán học:
– Xin quý vị sẵn sàng giấy bút.
Nhưng Herbie vẫn im lặng. Giọng nói đầy vẻ đắc thắng của nhà tâm lý học vang lên:
– Tại sao chú mày không trả lời, Herbie?
Herbie mau mắn buột mồm:
– Tôi không trả lời được. Cô thừa biết là tôi không trả lời được. Tiến sĩ Bogert và tiến sĩ Lanning đều không muốn tôi trả lời.
– Họ đều muốn có giải pháp.
– Nhưng không phải từ nơi tôi.
Lanning xen vào, nói chầm chậm, rõ ràng từng tiếng:
– Đừng nói điên, Herbie. Chúng tôi đều muốn chú mày nói ra.
Bogert cộc lốc gật đầu. Herbie la lối:
– Nói ra thì có ích gì? Chẳng phải quý vị cho rằng tôi chỉ có thể nhìn thấu lớp ngoài tâm tưởng? Còn sâu hơn, quý vị lại không muốn tôi xuyên suốt. Tôi chỉ là một cái máy, được tạo ra theo phương thức bắt chước đời sống nhờ vào ưu điểm của các dương điện tác động qua lại trong bộ óc, một thiết bị do con người sáng tạo. Quý vị không thể bị mất mặt với tôi mà không bị tổn thương. Đó là điều đã in hằn trong tâm não của quý vị và sẽ không xóa bỏ đi được. Tôi không thể cho quý vị cái giải pháp.
Tiến sĩ Lanning lên tiếng:
– Hai chúng tôi sẽ rời khỏi phòng. Hãy nói cho Calvin biết.
Herbie kêu to:
– Có khác gì đâu! Rồi nhị vị cũng sẽ biết và tôi vẫn là thằng người máy đưa ra giải pháp.
Nhà tâm lý học Calvin lại lên tiếng:
– Nhưng, chú mày thừa hiểu mà, Herbie. Bất kể thế nào, tiến sĩ Lanning và tiến sĩ Bogert đều muốn có giải đáp đó.
Herbie cương quyết:
– Chính họ phải tự tìm lấy.
– Nhưng họ muốn có giải đáp, và sự thật là chú mày đang có nó. Việc chú mày nhất định không đưa cho họ sẽ làm tổn thương họ. Chú mày có thấy điều đó không?
– Có! Có!
– Còn nếu chú mày đưa giải đáp cho họ, thì việc này cũng lại làm họ bị tổn thương.
– Phải! Phải!
Herbie chầm chậm thục lùi theo từng bước tiến của Susan. Hai người đàn ông bàng hoàng nhìn cảnh tượng trước mắt.
Giọng nói của nhà tâm lý học chầm chậm, đều đều:
– Chú mày không thể nói cho họ biết vì nói sẽ làm họ tổn thương, và chú mày không được phép làm họ tổn thương. Nhưng nếu chú mày không nói cho họ, chú mày lại cũng làm họ tổn thương, vì vậy chú mày phải nói. Và nếu chú mày nói, chú mày sẽ làm họ tổn thương, là điều chú mày không được phép làm, nên chú mày không thể nói; nhưng nếu chú mày không nói, chú mày lại làm họ tổn thương, vì vậy chú mày phải nói; nhưng nếu chú mày nói, chú mày làm họ tổn thương nên chú mày không thể nói; nhưng nếu chú mày không nói chú mày lại làm họ tổn thương, vì vậy chú mày phải nói; nhưng nếu chú mày phải nói, chú mày….
Herbie bị dồn đến chân tường và tại đó, hai chân nó quỵ xuống. Nó hét lên:
– Đủ rồi! Xin đóng cái ý tưởng của bác sĩ lại! Nó chứa đầy những đớn đau, tuyệt vọng và thù ghét. Cho tôi xin nói, tôi đâu có ý như vậy. Tôi cố giúp cô mà. Tôi đã nói điều cô muốn nghe và tôi phải làm đúng như thế.
Nhà tâm lý học không quan tâm những lời phân trần của thằng người máy, nàng tiếp tục:
– Chú mày phải nói, nhưng nếu nói, chú mày họ làm tổn thương nên không thể nói; nhưng nếu không nói, chú mày làm họ tổn thương nên phải nói; nhưng…
Và Herbie thét lên! Tiếng thét giống của tiếng tiêu có âm độ cao nhất được nhân thêm nhiều lần, càng lúc càng thêm chói lói cho đến lúc nó biến thành tiếng rên la ghê rợn của người sắp trút linh hồn khiến cho căn phòng tràn ngập âm thanh đinh tai điếc óc.
Và khi tiếng thét tắt nghẽn vào cõi hư vô, Herbie sụp xuống thành một đống sắt hỗn độn, không còn động đậy.
Khuôn mặt Bogert không còn chút máu:
– Nó chết rồi!
Susan Calvin bật lên một tràng cười rũ rượi đến man dại:
– Chưa! Chưa chết đâu! Chỉ mới mất trí thôi! Tôi buộc nó phải đương đầu với một nan đề, một thế tiến thoái lưỡng nan và nó sụm! Ông có thể vứt nó ngay bây giờ vì nó chẳng bao giờ còn nói gì được nữa!
Lanning quỳ xuống bên cái vật từng được gọi là Herbie. Những ngón tay của ông sờ lên bộ mặt bằng kim loại vô tri lạnh ngắt và cảm thấy rùng mình.
Ông đứng lên, mặt nhăn nhúm:
– Cô cố tình làm thế!
– Nếu tôi cố tình thì sao? Giờ đây ông cũng chẳng đừng được.
Nàng buột thêm lời cay nghiệt:
– Đáng đời cho nó!
Vị giám đốc nắm lấy cườm tay của Bogert đang đứng tê liệt, bất động. Ông thở dài:
– Thì cũng thế thôi! Mình đi đi, Peter. Dẫu sao, một thằng người máy biết suy nghĩ loại này, xét cho cùng chẳng lợi ích gì!
Đôi mắt Lanning lộ rõ nét già nua, mõi mệt. Ông lập lại:
– Đi thôi, Peter!
***
Phải cần nhiều phút sau khi hai nhà khoa học rời phòng tâm trí bác sĩ Susan Calvin mới trở lại trạng thái quân bình. Hai mắt nàng từ từ hướng về robot Herbie đang sống dở chết dở và nét đanh đá lại hiện lên mặt nàng. Nhà tâm lý chăm chăm nhìn nó, rất lâu, trong lúc vẻ đắc thắng lụi tàn dần. Và nỗi tuyệt vọng đua nhau kéo về. Thế rồi giữa bao ý tưởng cuồng quay, chỉ một lời vô vàn đắng cay lướt qua môi nàng:
– Đồ nói láo!
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: