Vũ Thất

Bảo Bình 1

Về thơ TRẦN PHÙ THẾ

1. TRẦN PHÙ THẾ:   CÂU THƠ GỌI TÌNH NGỌT NGÀO HƯƠNG VỊ   PHÙ SA MIỀN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỮU LONG

Trần Văn Sơn

tran_phu_the Nhà thơ Trần Phù Thế được nhiều người biết đến ở hải ngoại sau khi anh xuất bản hai tập thơ : Giỡn bóng chiêm bao [ 2003 ] , Gọi khan giọng tình [ 2009 ] , những bài thơ đăng trên các báo Khởi Hành , Văn Hóa Việt Nam , Thư Quán Bản Thảo … và trên các trang báo điện tử như : Sáng tạo , Da màu , Phố Văn… Anh còn phụ trách trang thơ trên tuần báo Tuổi Trẻ ở Dallas – Texas . Thật ra , anh làm thơ đã lâu , lúc còn ở Việt Nam , từ thuở cắp sách đến trường , gần nửa thế kỷ nay . Năm 1962 , anh cùng với Lâm hảo Dũng – Lưu Vân – Triệu Ngọc thành lập thi văn đoàn Cung Thương Miền Nam tại tỉnh Sóc Trăng , về sau có thêm nguyễn lệ Tuân – Trần biên Thùy , mục đích phổ biến thơ văn của nhóm trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn . Bài thơ đầu tiên của anh mang tựa NHẠC TRĂNG đăng trên báo VĂN vào thập niên sáu mươi với bút hiệu MẶC HUYỀN THƯƠNG . Cần phải nói thêm , tạp chí Văn là tờ báo văn học nghệ thuật nổi tiếng tại Việt Nam . Chủ nhiệm Nguyễn đình Vượng , thư ký tòa soạn Trần phong Giao , và sau là nhà văn Nguyễn xuân Hoàng . Bài vở chọn lọc cẩn thận , thơ văn đăng trên báo này rất có giá trị. Những nhà văn đã thành danh như Y Uyên , Lê văn Thiện…đều xuất thân từ tờ Văn . Anh còn có bài trên các tạp chí Thời Nay của Khánh Giang , Khởi Hành của Viên Linh …Năm 1967 , anh định in tập thơ đầu tay “ Thầm yêu trộm nhớ ’’ nhưng không thực hiện được vì có lệnh nhập ngũ vào trường SQTB Thủ Đức .

Bút hiệu Mặc huyền Thương không phải tự nhiên mà có , nó bắt đầu bằng hai chữ tình yêu . Cô bé mang tên Thương Huyền đã hớp hồn cậu học trò vừa mới lớn đang tuổi mộng mơ . Cậu lộn ngược tên Thương Huyền thành Huyền Thương rồi thêm chữ Mặc đặt trướcchữ Huyền cho có vẽ thơ . Thật ra , theo tâm sự của nhà thơ , chữ Mặc có nghĩa im lặng , yêu không dám nói . Tình yêu tuổi học trò bao giờ cũng e ấp , chỉ biết thẩn thờ nhìn người yêu trong tà áo dài nữ sinh thướt tha cắp sách đến trường , hoặc đôi khi gặp mặt thì ngần ngại mở lời , chỉ nói bâng quơ chuyện trên trời dưới đất . Và phải chăng bài thơ Nhạc Trăng là kỷ niệm một thời tuổi trẻ của nhà thơ về mối tình đầu đơn phương này :

Trăng nhập vào trăng lạnh tiếng đàn

Nghe sao giòn vỡ thủy tinh tan

Chơ vơ tiếng hát cao trừng vọng

Ta gửi hồn qua giấc hỗn mang

Rỉ máu lên từng giọt ngón tay

Ta thương hồn chết đã bao ngày

Trăng mơ chảy mượt từng chân tóc

Ta uống trăng vàng giọt giọt say

Trăng hát miên man buồn chậm chậm

Mây đời che khuất bóng trăng tan

Hồn ta treo cổ vầng trăng khuyết

Và chết vào đêm bóng nguyệt tàn

( Nhạc trăng . TPT )

Cô bé Thương Huyền diễm phúc thật , được hóa thân thành vầng trăng , và thi sĩ đã ngụp lặn trong tiếng đàn trăng nghe như những mảnh vỡ thủy tinh hòa tan vào tiếng hát trăng buồn muôn thuở . Bài Nhạc Trăng là tiếng lòng thổn thức bi thương đầy huyết lệ, thống thiết như bài thơ PHAN THIẾT – PHAN THIẾT của Hàn Mặc Tử : /Trăng vàng ngọc , trăng ân tình chưa phỉ / Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng / Ta vã tung thơ lên tận sông Hằng / Thơ phép tắc bỗng kên rên thống thiết / Hỡi Phan Thiết , Phan Thiết / Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu , Mi là nơi ta sầu hận ngất ngư / . Nhạc Trăng ý và từ mượt mà , điêu luyện , vậy mà Trần phù Thế sáng tác vào cuối năm 1962 , lúc đang học lớp đệ nhất trường trung học Hoàng Diệu – Sóc Trăng . Đây có phải là điềm báo hiệu cho những mối tình đầy sóng gió của thi sĩ sau này , hay là những nụ hoa bắt đầu chớm nở trong khu vườn văn học nghệ thuật Việt Nam .

Người đẹp Thương Huyền sau hơn bốn mươi năm vắng bóng bỗng nhiên xuất hiện bất ngờ qua lời kể của Trần Phù Thế : “Năm 2004. Võ Đức Trung của nhóm Văn Hóa Pháp Việt tại Paris, có mời tôi góp mặt trong tuyển tập thơ Một Phần Tư Thế Kỷ Thi ca Việt Nam Hải Ngoại 3. Sách phát hành một tháng sau. Tôi nhận được một phong thư gởi từ nước Germany trời Âu. Tôi ngỡ ngàng khi hai chữ Thương Huyền nằm trên góc trái bìa thư đập nào mắt tôi. Dễ chừng hơn bốn mươi năm không gặp nàng. Bây giờ bỗng nhiên xuất hiện. Tôi vội vàng xé phong bì với niềm xúc động. Tội đọc ngấu nghiến, những con chữ như nhảy múa dưới mắt tôi …Gia đình nàng vượt biên năm 1980 và hiện định cư tại Đức. Nàng cho biết ngày xưa có biết tôi làm thơ và đã từng thích thơ MHT nhưng không biết là bút hiệu của tôi…. Nàng cho biết đã đọc bài thơ “Tuổi Thơ Đại Ngãi” trong tuyển tập của Nhóm Văn Hóa Pháp Việt và bần thần suốt ngày. Những kỷ niệm thời thơ ấu như sống lại, hiển hiện trước mắt. Nàng bèn liên lạc với Võ Đức Trung xin địa chỉ tôi và đã viết thư cho tôi với lời cám ơn. Đọc thư xong, niềm cảm khái dâng trào, tôi ngồi vào bàn viết và viết trong bốn mươi lăm phút là hoàn tất bài thơ “Bậu về”:

bậu về liếc mắt đong đưa

gió Xuân đầy mặt

như vừa chín cây

bậu về má đỏ hây hây

ta mười lăm đã lòng say bậu rồi

bậu còn

chơi ác nói cười

những câu dí dỏm

chết đời ta chưa

bậu về nhớ nắng thương mưa

hình như cây cỏ cũng ưa bậu về

như là có chút nắng hè

như là có cả

chùm me chua lừng

như là xoài tượng thơm giòn

thêm vào nước mắm chút đường khó quên.

bậu về

Đại Ngãi mình ên

bỏ quên kẹp tóc

bắt đền tội ta

bậu quên là tại bậu mà

tại sao bậu bắt đền ta một đời

tội này không chịu bậu ơi !

( B ậu V ề – TPT )

Chữ BẬU rất nhiều nghĩa , thường được dùng trong ca dao Việt Nam hoặc trong lời hát ru con của những bà mẹ miền quê được Trần Phù Thế đem vào thơ thật tài tình , vừa dí dỏm lại vừa nủng nịu của lứa tuổi mộng mơ “ chùm me chua lừng – xoài tượng thơm giòn “ . Một bài thơ tình tuyệt vời , từng câu từng chữ mộc mạc , bình dị như lời nói thường ngày rất gần gũi thủ thỉ bên tai : / bậu về / Đại Ngãi mình ên / bỏ quên kẹp tóc / bắt đền tội ta / bậu quên là tại bậu mà / tại sao bậu bắt đền ta một đời / tội này không chịu bậu ơi / .Hình ảnh chiếc kẹp tóc trong thơ sao mà dễ thương quá , khiến ta nhớ đến những mái tóc thề vừa chấm ngang vai , những tà áo dài trắng của những nữ sinh thời trung học… và chắc chắn ta không thể nào quên những dỗi hờn trách yêu : / bậu còn / chơi ác nói cười / những câu dí dỏm / chết đời ta chưa / .

Tôi và Trần Phù Thế có duyên văn nghệ với nhau vào cuối thập niên 1960 . Trần Phù Thế làm trưởng ban 2 Liên đội …BCH đóng tại Bà Hom – Gia Định . Đại đội tôi trực thuộc Liên đội , và tôi là trung đội trưởng đóng quân tại mật khu Lý văn Mạnh . Biết tên nhau qua thơ văn đăng trên Văn , Khởi Hành , Thời Nay … nay lại là lính cùng chung đơn vị nên lần đầu gặp mặt không hề có những rào đón , khách sáo xã giao mà rất cởi mở , chân tình . Giờ đây đã hơn bốn mươi năm , tuổi đời đã trên dưới bảy mươi , trải qua một cuộc bể dâu : Trầm luân và khổ nạn , tình bạn chúng tôi cũng vẫn nồng ấm như ngày xưa cùng với những tình thân trong nước và ở hải ngoại như : Ngô Nguyên Nghiễm , Lưu Vân , Nguyễn Thành Xuân , Phạm Nhã Dự , Hà Thúc Sinh , Vũ Uyên Giang , Nguyễn lê La Sơn…

Nhắc đến những người bạn cùng thời mà không nhắc đến Khánh Giang và Dương Trữ La thì quả là điều thiếu sót không thể nào tha thứ được có phải không Trần Phù Thế ? Hai anh là nhà báo , nhà văn chuyên nghiệp . Khánh Giang làm tổng thư ký bán nguyệt sanThời Nay , chủ nhiệm tuần báo Đời Nay . Dương Trữ La viết feuilleton trên các nhật Báo , đồng thời cộng tác với tuần báo Khởi Hành , Đời Nay và một v ài t ờ b áo kh ác.. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau tại nhà Phạm nhã Dự ở Mười tám thôn vườn trầu Bà Điểm – Hốc Môn , thảo trang của Ma Xuân Đạo ở Thạnh Lộc Thôn sát bờ sông Sài Gòn , hoặc nhà Khánh Giang ở Chợ Lớn , nhà Dương Trữ La tại con hẻm nhỏ đường Trần Quốc Toản …Chúng tôi đầy ắp những kỷ niệm với nhau , văn nghệ là lẽ đương nhiên còn đời thường rất nhiều lần bên tách trà chung rượu .

Nhớ đêm khai trương quán cà phê văn nghệ Phương tại đường Nguyễn Trãi , ca nhạc do ca sĩ Quốc Phong đãm trách với sự có mặt chung vui của Lâm Chưong , Tô Đình Sự , Trần Phù Thế , Phạm Nhã Dự , Nguyễn Lê La Sơn …Tất cả đều mặc quân phục chỉ riêng có Khánh Giang và Dương Trữ La mặc đồ dân sự , không nhớ Lâm Chương hay Trần Phù Thế nói khích thế nào , hai anh về thay hai bộ đồ lính mới tinh cổ áo mang cấp bập chỉnh tề . Thì ra hai anh là quân nhân biệt phái .

Nhà thơ Phạm Nhã Dự viết : “ Từ đó chúng ta tìm gặp nhau ở Khởi Hành hoặc Tin Sáng với Dương Trữ La lân la “ Cây Lý” thân tình ; ở Thời Nay với Khánh Giang , ngồi vỉa hè Phạm Ngũ lão bên “ dĩa cơm sườn và chai Vĩnh tòn ten “ , cùng những bài chưa đăng đã trả tiền trước , ở Kim Sơn hay La Pagode ’’. “Cùng những bài thơ chưa đăng đã trả tiền trước ’’ , ý Phạm Nhã Dự đề cập đến con người Khánh Giang , rất hào sãng và rất phóng khoáng .Tôi nhớ rất rõ tòa soạn báo Thời Nay nằm trên đường Phạm ngũ Lảo , tầng một là nơi làm việc của Khánh Giang , tầng trệt dành riêng cho cô thư ký . Mỗi lần đến đưa bài anh đều bảo cô thư ký ứng tiền trước hoặc chờ anh lo xong bài vỡ rồi chúng tôi sẽ kiếm một cái quán nào đó hàn huyên tâm sự thâu đêm . Hai anh tửu lượng rất cao , uống không bao giờ say . Có lần tại thảo trang của nhà văn Ma Xuân Đạo sát bờ sông Sài Gòn , Dương Trữ La sau một chầu nhậu nhảy xuống sông tắm bị lục bình quấn chân suýt chết đuối , tôi dân biển lội giỏi kè vai dìu anh vào bờ . Giờ đây Dương Trữ La – Khánh GiangTô Đình Sự – Trần Kiêu Bạt – Quốc Phong … không còn nữa , nhưng mỗi lần nhắc đến chúng tôi đều xót xa , ngậm ngùi, tiếc thương cho những người bạn tài hoa bạc mệnh không tiếp tục theo đuổi con đường mà các anh đã chọn lựa .

Nầy Sự , rượu tới phiên mày

uống say một trận cho đầy cơn mê

tuổi thanh niên cũng chẳng hề

Thằng ra chiến trận , thằng về áo quan

[ Tô Đình Sự – uống rượu ở vườn trầu Bà Điểm – TPT ]

Khói sương là chốn vô thường

nắng mưa là chuyện âm dương của trời

tử sinh là lẽ con người

Bạt ơi , số mạng một đời như không

đục dòng thơ rượu khơi trong

ta nghe tiếng đứt , mệnh mông mênh chìm

hỏi mày nằm đó lặng im

bao quanh hương khói ai tìm hồn xưa

một đời quanh quẩn gió mưa

khăn sô đắp mặt sao thừa rượu cay

một đời hào phóng vung tay

lòng quên thiên hạ tình say bạn bè

[ Trần Kiêu Bạt – TPT ]

Lục bác là thể thơ thuần túy Việt Nam , dễ làm khó hay không khéo sẽ thành vè . Người xưa đã lưu danh muôn thuở với những áng thơ lục bác bất hủ như Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du , Chinh Phụ Ngâm của Đoàn thị Điểm …Thời tiền chiến có Huy Cận , Nguyễn Bính … Thập niên năm mươi sáu mươi có những nhà thơ làm lục bác rất hay như Cung Trẩm Tưởng , Viên Linh , Hoàng Trúc Ly , Bùi Giáng , Trần Tuấn Kiệt , Phạm Thiên Thư , Trần Yên Thảo , Nguyễn Đức Sơn ( Sao Trên Rừng ) … Trần Phù Thế thật sự nặng nợ với thơ lục bác từ ngày anh định cư tại Mỹ vào thập niên chín mươi . Anh rấtmê thơ lục bác bằng chứng anh làm rất nhiều thơ lục bác , hơn năm trăm bài thơ của anh tôi đọc được , hai phần ba là thơ lục bác .

Anh còn thử nghiệm làm mới thơ lục bác bằng cách thay đổi hình thức thơ . Bài thơ hai câu :

con chim nó gọi bạn tình

còn ta gọi bậu một mình tàn hơi

Phân thành sáu câu :

con chim

nó gọi bạn tình

còn ta gọi bậu

một mình

tàn

hơi

[Tàn hơi – TPT ]

Bài ba câu :

biết tận cùng nghĩa đau thương

hiểu tận cùng lẽ vô thường tử sinh

em ơi thấy bóng chẳng hình

Phân thành năm câu :

biết tận cùng

nghĩa đau thương

hiểu tận cùng lẽ vô thường tử sinh

em ơi

thấy bóng chẳng hình

[ Biết – TPT ]

Và còn rất nhiều bài lục bác anh mở bài câu tám và chấm dứt câu tám :

lênh đênh chin cửa trăm năm cõi người

một lần lỡ bước rong chơi

ta thân phù thế một đời như không

[Bạt – TPT]

Bài mở câu sáu kết câu sáu :

một hôm lịch sử rụng đầu

cha Long Quân hởi

mẹ Âu Cơ hời

con rồng phiêu bạt khắp nơi

[lịch sử – TPT]

Bài thơ lục bác ngắn hai ba câu ngắt thành nhiều câu rất cô đọng , giàu nhạc tính . Mỗi câu : một , hai hoặc ba …chữ tạo nên một nhịp thơ mới thật lạ , âm điệu vừa phong phú lại vừa lơ lửng chênh vênh , ẩn chứa bên trong những câu , chữ là ý thơ mênh mông vô tận . Nhà thơ Thiếu Khanh đã nhận định :

“Dường như những thể nghiệm đó cho thấy hình thức sáu chữ, tám chữ không hề là cái khuôn cứng ngắc gò bó trói buộc câu thơ, trái lại, trong giới hạn câu chữ đó tài năng của nhà thơ vẫn có thể làm cho thể thơ càng thêm uyển chuyển và giàu tính biến hóa khiến mỗi bài thơ có vẽ phá vỡ và thóat ra khỏi hình thức câu chữ của nó, hóa giải ranh giới ràng buộc của số câu số chữ, làm

tăng thêm sự phong phú của âm điệu, nhạc điệu. Có lẽ thời gian sẽ giúp khẳng định giá trị của sự

tìm tòi sáng tạo của anh, ít nhất là về cách xếp đặt mới cho thể thơ truyền thống quen thuộc nầy mà nhiều nhà thơ từng ngậm ngùi nhận xét: thơ lục bát dễ làm mà khó hay!”

[ Thiếu Khanh : Thơ lục bác mới của Trần Phù Thế ]

Trần Phù Thế sinh ra , lớn lên tại Sóc Trăng , học trường Hoàng Diệu – Ba Xuyên trường Phan Thanh Giản – Cần Thơ và sau khi ra tù anh đã hơn mười năm phiêu bạt giang hồ khắp các tỉnh miền Tây trước khi định cư tại Mỹ , nên những bài thơ tình của anh ngọt ngào hương vị phù sa miền đồng bằng sông Cữu Long . Đặc biệt chữ dùng trong thơ anh không pha trộn hai miền Trung – Bắc mà thuần túy chất giọng miền Nam , đôi khi anh còn dùng những đặc ngữ miền Tây mộc mạc , chân chất thấm đượm tình quê như : xa ngái , sao vậy cà , chua lừng , con nước nhửng , chết điếng , tuốt luốt… rất gần gủi thân thương .

Ta ghét mười năm ở xứ này

Mười năm đủng đỉnh lục bìng quay

Như con nước nhửng dòng sông Hậu

Thương cả lần đi ứa máu đầy

[ ta ghét – TPT ]

Hai con trống mái giận nhau

Hai con chim mái làm sao vậy cà

Mấy lần

bước xuống

con đò

mà quên tuốt luốt

thăm dò cạn sâu

[ lục bát không đề – TPT ]

Những nơi anh dừng chân : Đại Ngãi – Hậu Thạnh – Cần Thơ – Sóc Trăng – Kiên lương – Mương Điều – Đường Đức – Trường Khánh – Hòn Me – Hòn Đất … anh đều để lại những bài thơ bát ngát , mênh mông cỏ nội hoa ngàn . Và thấp thoáng đó đây một vài mối tình chơi vơi như những cánh lục bình bập bềnh sóng nước Cữu Long .

Một lần ở lại lỳnh quỳnh

đêm nghe cá quẩy bờ kinh tám ngàn

xác xơ đầu ngỏ cuối làng

hòn me , hòn đất héo vàng tuổi xanh

em đi cỏ úa hồn anh

ngày về như thể mỏng tanh cánh chuồn

một lần ở lại Kiên Lương

khói xi măng thở bụi đường hà tiên

[ lỳnh quỷnh – TPT ]:

phải chăng Hậu thạnh mù xa

khúc sông xóm ngọn , cây đa , cái đình

ta về mắt ướt điêu linh

phải chăng người cũ hiện hình đâu đây

lòng đau biết mấy đêm dài

ta đau biết mấy ngàn ngày quê hương

đi lên , đi xuống con đường

bước lê cái bóng tà dương một mình

ta về gió thổi hiển linh

[ Hậu Thạnh – TPT ]

Nhà thơ Phan Xuân Sinh nhận định về ngôn ngữ miền nam trong thơ Trần Phù Thế như sau :

Thơ anh vừa sâu sắc vừa lắng đọng . Vừa chua chát nhưng cũng vừa vị tha , độ lượng . Trong thơ anh hiện rõ cái nét chơn chất của người miền nam lục tỉnh hiền hòa , chất phác Cái ngôn ngữ mộc mạc được anh đưa vào thơ một cách tự nhiên và làm câu thơ trở thành duyên dáng mượt mà .

[ Một góc nhìn : giọng miền nam lục tỉnh trong thơ Trần Phù Th ế –

Phan Xuân Sinh ]

Nếu ai hỏi tôi nhớ bài thơ nào của Trần Phù Thế nhất , tôi sẽ không ngần ngại trả lời đó là bài ĐỜI TA . Không những tôi mà cả vợ tôi đều thuộc lòng , thỉnh thoảng tôi đọc cho cả nhà nghe mọi người không cầm được nước mắt . Đây không phải là một tuyệt tác , nhưng bài thơ đã nói lên được phần nào đời tôi , đời bạn…những ngưởi lính VNCH , sau khi cọng sản Bắc việt xé bỏ hiệp định Paris và cưỡng chiếm miền nam ngày 30/ 4/75 , đều chung số phận nghiệt ngã như nhau . Sống chết trong khói lửa chiến tranh . Khổ nhục trong các trại tù cọng sản . Và sau khi ra tù một số không ít anh em ngậm đắng nuốt cay khi phải đối diện với sự thật đau lòng , gia đình ly tán , cha mẹ vợ con không biết lưulạc phương trời nào , còn sống hay đã chết ; cộng thêm sự kềm kẹp khắc nghiệt của bọn công an phường xã , nhưng vẫn âm thầm chịu đựng , ngẩng cao đầu không chịu khuất phục trướcc bạo quyền cọng sản .

Bài thơ ĐỜI TA dài 66 câu , 16 đoạn mỗi đoạn 4 câu , ghi lại một phần đời của tác giả , thời gian bắt đầu từ ngày vào tù năm 1975 và ra tù từ trại GIA TRUNG năm 1982 . Nói đến trại tù Gia Trung là nói đến sự vô nhân , độc ác cùng cực của bọn cầm thú lên làm người . Chúng đánh tù bằng thanh sắt gõ kẻng báo hiệu giờ lao động , ra lệnh cho bọn trật tự là tù hình sự cùng chúng luân phiên đấm đá những người mà chúng ghét , bất luận thành phần nào , kể cả tu sĩ và những người đáng tuổi cha ông chúng .

chiều xuống sương mù bay lãng đãng

bảy năm không án tù Gia Trung

Bảy năm vắt kiệt đời trai trẻ

Mây trắng Trường Sơn mỏi núi rừng

Thà chết như là con kiến nhỏ

Còn hơn hèn mọn kiếp lao tù

chiều nay mây oán trên đầu núi

Hãy chở lòng ta đến hư vô

…………………………………….

Trong lúc bạn ta còn nằm lại

Trên đồi hiu quạnh đất Gia Trung

Gió mưa rát mặt không nhang khói

Hồn lạnh bơ vơ giữa núi rừng

( ĐỜI TA – TPT )

Tôi từ trại Nam Hà chuyễn vào trại Gia Trung cuối năm 1981, bị bệnh nặng nên được đưa lên bệnh xá nằm ở phòng lao chờ chết . Nguyễn Hải Chí [ họa sĩ Choé ] làm ở phòng

Văn hóa thỉnh thoảng thăm tôi . Anh đã từng bị biệt giam nhiều tháng chỉ vì táy máy tay chân , trong giờ nghĩ lao động anh vẽ trên cát thằng tù ốm trơ xương , cái đầu là củ khoai lang sùng nham nhở . Anh và tôi tâm sự rất nhiều . Người mà anh nhắc đến nhiều nhất là nhà thơ Viên Linh và tạp chí Khởi Hành . Nhà thơ Viên Linh đặt bút hiệu Choé cho anh . Khởi Hành đăng tranh biếm họa của anh . Bắt đầu từ đó anh đã trở thành một họa sĩ nổi tiếng không những ở trong nước mà cả thế giới . Chúng tôi dự định khi ra tù sẽ vượt biên Mộng của anh sẽ viết một phim truyện bằng tranh đại ý cho Max – Lênin – Stalin – Mao Trạch Đông –Hồ Chí Minh tranh dành ngôi vị Diêm vương dưới âm phủ , kết cuộc âm mưu bại lộ , Max bị quỷ sứ cắt lưỡi , còn những tên khác bị vất vào chảo dầu sôi… Tiếc thay anh mất sớm nên không thực hiện được hoài bảo của mình .

Cũng chính nơi trạm xá này , tôi đã chứng kiến tận mắt cảnh cai tù trút những đòn thù dã man trên thân thể ốm trơ xương như thây ma của anh em tù nhân . Tôi không bao giờ quên được hình ảnh một vị mục sư khả kính , áo quần bê bết máu , mặt mũi sưng vù nằm sóng soãi trên nền cát mặc cho bọn trật tự và bọn cán bộ đánh đập dã man cho đến khi ngất xỉu . Trung tá Nguyễn văn Thanh bị đánh chết tại đây . Một số văn nghệ sĩ bị giam tại trại này như : Nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh , nhà thơ Hà Thượng Nhân , Nguyễn sỹ Tế , Trần Tuấn Kiệt , Trần Dạ Từ , ký giả dzoãn Bình … …

Nhà thơ Trần Phù Thế ở tù tại Gia Trung nên người viết tạm ghi lại một phần rất nhỏ về những sự tra tấn khốc liệt của bọn cai tù cọng sản . Muốn biết thêm cảnh lao tù của cọng sản khắc nghiệt như thế nào xin đọc trường thiên bút ký Đại học máu của nhà văn Hà Thúc Sinh , Đáy địa ngục của nhà văn Tạ Tỵ , Thép đen của Nguyễn Chí Thiệp …và kể cả bút ký của các nhà văn Miển Bắc sống trong chế độ cọng sản như Đêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên , Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn …

Trong tù , không biết ngày nào được tha , tương lai mờ mịt nên chúng tôi đã chuẫn bị tinh thần rất vững vàng cho những tình huống xấu nhất có thể xẩy ra , kể cả cái chết . Và với người đầu ấp tay gối , có thể vì hoàn cảnh xã hội đưa đẩy đến bước đường cùng , cũng có thể thanh xuân tràn trề sức sống không chờ đợi được , bước thêm một bước nữa cũng là chuyện bình thường . Chúng tôi không hề oán trách dù trong lòng hết sức xót xa , đau đớn . Tuy nhiên , phần đông những người mẹ , người vợ có chồng tù tội dưới chế độcọng sản đều làm tròn thiêng chức của một người đàn bà Việt Nam , thủ tiết chờ chồng ,và dù chồng có chết trong tù cũng vẫn một lòng một dạ thủy chung thờ chồng nuôi con .

Vợ ta hãy nhớ lời ta dặn

Mai mốt bặt tin đừng đi tìm

cải tạo , đi tù coi như chết

coi như vĩnh biệt phút ban đầu

một mai em thấy lòng son trẻ

vẫn còn nóng hổi chuyện thanh xuân

thì em cứ bước thêm bước nữa

ta chúc cho em phúc vạn lần

khuyên em là giả , em đi thật

hai đứa con khờ đói bơ vơ

hai đứa con khờ ba bốn tuổi

cha tù mẹ bỏ sống bơ vơ

( Đời Ta – TPT )

Nhà thơ Lê Phi Ô nghiến răng cắn nát môi lấy máu viết thành thơ : / vợ bỏ con thơ theo cán bộ / Đổng tiền đánh đổi cả nhục vinh / Hỡi ơi canh bạc đời đen đỏ / Mỹ nhân hề chén rượu tàn canh /Tiếng gọi Việt Nam .LPO / Cảnh nhà Trần Phù Thế bi thảm hơn nhiều . Chổng tù tội . Vợ ôm cầm sang thuyển khác bỏ hai con nhỏ mới lên ba bốn tuổi bơ vơ không nơi nương tựa , lang thang , đói rách .Ông bà nội tuổi già sức yếu lặn lội tìm cháu nhiều tháng trời mới gặp được hai cháu đang ăn mày giữa chợ . Điều bi thãm nhất ở đây là hai cháu ăn xin ở hai nơi khác nhau , khi gặp lại ông cháu chị em chỉ còn biết ôm nhau khóc .Viết những dòng này mà tay tôi run run bồi hồi xúc động , dù tôi biết hiện nay hai cháu định cư tại Mỹ cùng cha theo diện HO , cuộc sống ổn định , hạnh phúc bên chồng con .

em đi một tiếng không giao lại

hai đứa con thơ cho mẹ chồng

bà đi tìm cháu bao ngày tháng

gặp cháu ăn mày giữa chợ đông

con chị ôm em mừng khóc ngất

nội ôm hai cháu lệ lưng tròng

ta về đứa chị theo bà nội

bán chuối ven sông với chiếc xuồng

bảy năm vắng mẹ , cha tù tội

con trải thân đời với gió sương

còn con gái nhỏ cùng ông nội

chăn vịt trên đồng mới gặt xong

tuổi thơ đội nắng , hai màu tóc

nắng cháy đời con , cháy cả lòng

ta về hai trẻ nhìn ngơ ngác

xa lạ bừng trong mắt trẻ thơ

nước mắt còn đâu . Còn nước mắt

ôm con mà khóc tự bao giờ

thưa ba , thưa mẹ , con tạ tội

ba khổ mẹ rầu những bảy năm

lich sử chơi con đòn đau điếng

bảy năm tù tội nặng nghìn cân

(Đời ta – TPT )

Vâng , lịch sử không những chơi ta một đòn đau điếng mà còn chơi cả dân tộc chúng ta một đòn đau điếng có phải không Trần Phù Thế ? Giờ đây , sống ở xứ người , nhìn về quê hương Việt Nam mà lòng đau như cắt . Xã hội băng hoại . Đạo đức suy đồi . Biển , đảo , đất , rừng dần dần mất về tay Trung Cộng . Vậy mà bọn sâu bọ Ba Đình vẫn sống phè phỡn , nhỡn nhơ trên mồ hôi , nước mắt , và xương máu của đồng bào . Chúng còn đánh đập dã man , bắt nhốt vào tù những người yêu nước đã can đãm đứng lên đáp lời sông núi , cất cao tiếng nói bão vệ giang sơn , tổ quốc .

Đọc một câu thơ hay sướng cả tuần . Đọc một đoạn thơ hay sướng cả năm . Đọc một bài thơ hay sướng cả đời . Không nhớ câu nói này của ai , nhưng rất đúng với những người yêu thơ và nặng nợ với thơ . Thời kháng chiến có Màu tím hoa sim của Hữu Loan , Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác , Tây Tiến của Quang Dũng , Tống biệt hành của Thâm Tâm …, vào thập niên 50 , 60 còn có rất nhiều bài thơ của Cung Trầm Tưởng , Nguyên Sa , Thanh Tâm Tuyền , Hoàng Trúc Ly , Viên Linh , Tuệ Sĩ , Tô Thùy Yên… mà trong bài viết ngắn này người viết không thể trích ra hết được ; đã vượt thời gian lưu danh muôn thuở . Thơ Trần Phù Thế có rất nhiều câu hay , đoạn hay , và bài Bậu Về rất hay theo thiển ý của người viết , không biết sau này sẽ ra sao ? Thời gian sẽ trả lời . Nhà thơ Trần Phù Thế có lẽ khi làm thơ không nghĩ đến điều này , được – thua – còn – mất chỉ là một thoáng phù du có phải không Trần Phù Thế ? Anh vẫn tiếp tục đi theo con đường anh đã chọn lựa , dệt những vần thơ tình ngọt ngào hương vị phù sa miền đồng bằng sông Cữu Long .

TRẦN VĂN SƠN

ĐƯỜNG TRÚC THƯ TRANG

1 / 2013

nguồn: sangtao.org

2. Phong vị và phương ngữ miền Nam

trong “Giỡn bóng chiêm bao” của Trần Phù Thế

Lâm Hảo Dũng

Trải qua một thời kỳ nở rộ của các cây viết học đường sang đến giai đoạn in ấn và ra mắt các đặc san, chúng ta phải kể đến Trần Phù Thế, Lưu Vân, Lan Sơn Đài, Trần Như Liên Phượng, Ngô Nguyên Nghiễm, Nguyễn Bạch Dương… ở miền Tây sông Cửu. Miền Trung có Hoàng Lộc, Hoàng thị Bích Ni , Thái Tú Hạp, Luân Hoán,Hoàng Khai Nhan, Nguyễn Lệ Uyên, Hoàng Xuân Sơn, Tần Hoài Dạ Vũ…Riêng Trần Như Liên Phượng đã bỏ cuộc chơi sớm vào lúc mà thơ anh đang độ chín mùi.

“ Em chưa nay mười bốn

Lòng trẻ thơ đâu rồi

Những bước dài bão tố

Vũng nước mặn trên môi”..

( Đó em của TNLP trên tờ Tiểu thuyết tuần san)

Những câu thơ gần như tiên tri, báo trước một giai đoạn trổi dậy của tuổi trẻ, của những phong trào hiện sinh vào những năm kế tiếp, nhất là sau năm 1963, có những đổi thay về thể chế chánh trị.

Những năm đầu thập niên 1960, những tâm hồn mới lớn say mê chữ nghĩa thèm những bước đi xa. Và tờ Tiểu thuyết tuần san của ông Nguyễn thiện Dzai là một trong vài tờ tạp chí đã đáp ứng được khát vọng của các cây viết trẻ như Ngàn Khơi, Văn, Bách Khoa..

Cho đến hôm nay, tại hải ngoại,những cây viết vẫn còn nặng nợ với “ văn chương”, vẫn miệt mài chữ nghĩa, trả cho hết nợ tằm như Thái Tú Hạp, Luân Hoán, Hoàng Lộc, Nguyễn Lương Vỵ, Trần Hoài Thư…

Những năm tháng chiến tranh khốc liệt , nhiều anh em nhập ngũ được tung ra chiến trường từ  miền Trung hỏa tuyến đến rừng đước , rừng mắm sình lầy ở Cà Mau, Rạch Gía…Họ là chứng nhân thật của sự va chạm giữa cái sống và cái chết, giữa những trái tim rất người và giữa những khối óc được nhồi nắn căm thù.

Từ gĩa mái trường nhập ngũ, tham gia nhiều cuộc hành quân. Tháng tư tan hàng. Nhà thơ Trần Phù Thế, cũng như nhiều anh em quân nhân khác không thoát khỏi cảnh tù đày, gia đình ly tán.

Anh đến xứ người trong tâm trạng “ Là ta cách biệt quê nhà- Nghe mưa xót ruột đau và miếng cơm” ( Giởn bóng chiêm bao trang 5) hoặc “ Phân vân không nẻo quay về- Muốn lên phía Bắc lại lìa phương Nam- Mõi lòng một dấu chấm than- Bâng khuâng một góc trời tàn quê ta- Quê nhà trang 6”.

Nơi tác gỉa ở mùa đông cũng chừng như có tuyết lạnh- nhưng cái lạnh của một nơi có gia đình đoàn tụ, quây quần, có nhiều người cùng nói một ngôn ngữ mẹ đẻ, cái lạnh xem chừng cũng dịu bớt đôi chút. Ngược lại những năm đầu 1980, nỗi cô đơn gậm nhấm tâm hồn, nhẹ nhàng nhưng tàn bạo như nỗi lòng của kẻ xa nhà với “ căn gác lưu đày” của nhạc sĩ Anh Bằng. Sau những giờ làm việc mệt nhọc, những mong có cơ hội giúp gia đình còn ở lại bên kia bờ đại dương. Tâm trạng rã rời hơn khi nhìn căn phòng nhỏ trống trải, buồn một mình không người sẻ chia. Trong lúc đó ở quê nhà, hoạt cảnh sinh động được Trần Phù Thế ghi lại lúc còn ở trại tù Vườn Đào  Cai Lậy vào năm nước lụt,những tù nhân phải sống vất vưởng  trên nóc nhà:

“ Trên trái đất này

nhất định

không trại tù nào

dị hụ đến thế

( đỉnh cao trí tuệ –trang 14)

Tương tự như cách gọi của Ông Trần Văn Nam, những phương ngữ Nam bộ mà khi viết lên người đọc, người nghe cũng nhận thức được. Chữ “ dị hụ” hay “ dị hợm” diễn tả  những đặc điểm khác biệt, không giống ai.

Và trong bài “ Biết rót  về đâu” có câu:

“ Ta và bạn lạ hoắc lạ huơ

Một thằng Huế một thằng Nam bộ

Khi khổng khi không hai thằng gặp gỡ

Uống cạn ly đầy ly rượu tàn canh”

( Biết rót về đâu trang 21)

Trần Phù Thế ngẫu hứng đã đưa phương ngữ lạ hoắc lạ huơ vào câu  mở đề thật tự nhiên lý thú. Đó là những nét đặc thù của các người làm thơ miền nam, nơi mà đời sống hiền hòa như hai mùa mưa nắng.

“ Nơi tụ điểm thương hồ

Nơi hẹn hò bến đậu

Khẳm “lừ” ghe dưa hấu

No đầy xuồng khoai lang

Con nước rong tràn bờ

Thuyền anh dừng bến đợi”

( Ngã tư cột lồng đèn)

Chữ “no đầy” được tác gỉa sử dụng thật khéo léo đối với chữ “ khẳm lừ”. Khẳm là đầy ắp đến độ hết chỗ chứa.

Trong bài “ Chuyện đời ta” trang 25, nhà thơ viết:

“ Cây mít cây xoài

Ông nội trồng vừa ra trái chiến…”

Trái chiến là trái ra đầu tiên từ khi trồng cho đến ra hoa kết trái. Nó là kết qủa của một qúa trình gian khổ , dày công vun xới.

Tình vợ chồng gắn bó mặn nồng, đôi lúc vì kinh tế gia đình, hoặc thiển cận nhìn lệch lạc vấn đề, sự hờn giận là lẽ tất nhiên:

“ Cũng như vợ chồng ta cưới nhau từ tuổi đôi mươi

Nhiều năm qua ngọt bùi đều chia xớt

Giận cũng nhiều, yêu cũng lắm: dễ ợt

Chuyện thường tình của đôi lứa trăm năm”

( Thư không tem gởi vợ trang 52)

Ôi làm thơ như Trần Phù Thế cũng rất là “ dễ ợt”

Ngôn ngữ bình dân,  đời thường được nhà thơ múa bút quẳng vào thi phú bỗng trở nên dung dị và trác tuyệt đến vô ngần. Có người đặt câu hỏi- còn ngôn ngữ văn chương đâu?. Chúng ta sẽ cảm nhận trong những bài khác. Quan trọng là khi đọc thơ liệu thơ có thẩm thấu qua tâm hồn người đọc được không?.

Tác gỉa cố gắng tự kềm hảm trong thành lũy cô đơn vì sự thật thà bất hạnh của mình. Đau đớn thể xác chỉ là một sự thể hiện của đau khổ tinh thần

“ Như là như thể đánh rơi -Trái tim rướm máu nằm phơi chợ đời -Và anh thức mãi một thời – Cơn mê bất chợt thành người chiêm bao- Nói năng Bắc đẩu Nam tào- Và anh quên tuốt ngõ vào ngõ ra- Dẫu đi đường lạnh trăng tà- Chia đôi bất hạnh thật thà niềm tin- dẫu anh giỡn bóng một mình- Cũng không đốt nỗi cái hình nộm kia…”

( Giỡn bóng chiêm bao trang 71)

Chúng ta bắt gặp chữ: “Bắc đẩu Nam tào”, “ quên tuốt” hay là “ quên tuốt luốt”, chừng như là quên hết , quên tất cả…Người thơ của miền sông nước Hậu Giang, chân chất sống bằng trái tim giản dị hiền hòa, nên những câu, những chữ giao tiếp hằng ngày đã nhập vào tim óc tác gỉa lúc nào không hay?. Cơn mộng đã dẫn dắt tác gỉa đến cơn mê sảng, say thiếp, trách cứ mình rất đỗi that thà và khi tỉnh day:

“ Níu chi cái bóng tàn khuya- Để tan theo tiếng động về rạng đông”.

Qua bài “ Giỡn bóng chiêm bao”, những ngôn từ phổ cập đã được Trần Phù Thế dàn trải thật điêu luyện, người đọc không cảm thấy khó chịu khi giọng thơ từ câu này chuyển sang câu khác không bị gò bó, nó xuôi chảy như dòng sông Đại Ngải- Hậu giang tuôn về biển cả.

Trong bài “ Tuổi thơ Đại ngải”, tác gỉa diễn tả rất mộc mạc, ngây ngô thời đi học ở làng quê- thoắt cái mấy mươi name. Thời gian và kỷ niệm nhạt nhòa, nhưng cũng không ai ngờ bỗng dưng nơi xứ người lại bừng sống day:

“ Em cười nở cả đôi môi- Bởi tôi “ húi” trọc mồ hôi chảy ròng” ( TTĐN trang 74)

“ Húi” trọc hay cắt trọc được người thơ đưa nhẹ vào câu viết tạo nên moat hình tượng đầy sống động của moat cậu nhỏ, tuổi còn thơ.

Hay:” Ngày qua Trường khánh mấy lần

Nghe thơm cốm giẹp từng sân nếp nhà”

Cốm giẹp là đặc sản của miền Tây, như vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu. Thật thú vị khi ngậm một ít hạt cốm giẹp đầu mùa, chúng ta sẽ thưởng thức được mùi nếp mới. Hương vị càng gia tăng nếu chúng ta trộn thêm cơm dừa bào nhỏ và nước dừa. Người Cao Miên vùng Hậu Giang đã góp phần trong thực đơn của chúng ta, lâu dần thành thói quen lúc nào không hay.Ngoài ra, còn có bún nước lèo, bánh ống…

Cho đến bây giờ, người dân Đại Ngải- Sóc Trăng không thể tìm ra và không hiểu vì sao con cá cháy biệt tăm. Cá cháy, một loại cá nước lợ ,to, daì , có vảy trắng, mình hơi dẹp, giống như cá vảnh, nhưng dài hơn nhiều. Cá kho mẳn, ăn với bún, nhất là nếu gặp con có trứng, những chùm trứng chan hòa trong nồi cá kho, sẽ khiến ta thèm thưởng thức. Thêm vào đó, đầu cá mềm, nhai từ từ sẽ thấy chất béo thấm tràn trong dịch vị của người ăn:

“ Còn tôi biết tới thuở nào- Đợi con cá cháy lội vào sông xưa” ( TTĐN trang 76)

Tâm trạng, xa quê hương nhớ mẹ hiền  vẫn vương vít  trong lòng tác gỉa. Người đã tám mươi, tóc bạc, đã hy sinh chịu đựng vì lũ con, giờ lại moat lần rơi nước mắt khi tiễn con đi nghìn dặm xa.Nhớ mẹ, nhớ bát canh rau giản dị. NHớ mẹ nhớ  nồi canh chua cơm mẻ khôn nguôi. Chân tình ấy đã nuôi dưỡng Trần Phù thế thành hình hài hửu dụng cho nhân quần, xã hội

“ Hơn nửa đời người tóc bạc lưa thưa

Ngược xuôi tất bật

Dù ở nơi đâu

Cùng trời cuối đất

Mỗi buổi chiều

Con còn nhớ mãi

Cái vị thơm long cơm mẻ nấu canh chua”

( Canh chua cơm mẻ -84)

Ngoài những cây trái thân quen, những đặc sản của mỗi địa phương hằng có dù còn tồn tại hay đã thành qúa vãng. Nơi con người Trần Phù Thế, tâm hồn anh chàng chân quê không thể nào goat rửa được. Chúng ta hãy nghe tác gỉa năng ly:

“ Nầy bằng uống chút mà say- Chúa hay gỉa bộ kéo dài cuộc chơi- Mầy đi lính vác dùi cui- Lính như lính cậu rong chơi Sài Gòn “. ( Uống rượu ở vườn trầu Bà Điểm- 86).

Hoặc: “ Nầy Dự, rượu heat hay còn- Đừng chơi tao nhé tiếng đồn đế ngon”

( UROVTBĐ-86).

Những câu nói bình dị, nửa như giận dỗi, nửa như pha trò. Mọi người ai cũng hiểu chữ “ chơi” theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, đã ăn sâu vào trong tâm trí dân Việt, không phân biệt trình độ, giai cấp: “ mầy chơi tao hả” hay “Đừng chơi tao nhé”. Ở nay chữ “nhémang hơi hướm của miền Bắc, làm dịu lại chữ” chơi”. Có gì không hài long, vừa ý cũng đành xuống thấp ở cuối chữ “ nhé”.Nghe lịch sự và thanh thoát hơn.

Bên cạnh những câu đầy chất giản dị, địa phương tính, chúng ta không thể không thưởng thức những chữ, những câu rất “ đượm”của tác gỉa.

“ Một lần ở lại Kiên Lương- Khói xi măng thở bụi đường Hà Tiên”. ( Lỳnh Quỳnh-19)

Như đã có dịp bàn về chữ “ thở” trong moat bài viết khác của Trần Phù Thế. Tôi vẫn không thể không khoái cảm khi mường tượng ra nhà máy xi măng chạy đều, bụi khói phủ nay những con đường làng quê, thôn xóm. Nó cũng tạo ra công việc nuôi sống nhiều người. Nó cũng đánh dấu moat thời chánh trị, kinh tế an bình của  miền Nam.

Trong bài “ Chuyện đời ta”, TPT với nỗi sầu ray rức khôn nguôi:

“ Ngày ra tù- Ta về đứng trước sân

Nghe mẹ nói

Con vợ mày đi biệt

Hai đứa con ba bốn tuổi làm sao biết

Lỗi ba đi tù

Hay lỗi mẹ còn son “

( CĐT-29).

Người thơ cuối cùng chỉ tự trách bản thân. Ai cũng phải vất vã vì cuộc sống và lo toan nhìn về tương lai cho cá nhân mình.

Chuyện gia đình ly tán, bè bạn chia xa, kẻ ở người đi, kẻ còn người mất. Nhà văn Nguyễn văn Ba cựu sinh viên Trường đại học Cần Thơ, định cư ở Saskatoon- Canada, viết nhiều bài về miền Nam, nhưng chẳng may anh mất ở vào tuổi trung niên, nhiều hứa hẹn cho sự nghiệp văn chương. Trong nỗi xúc động nghe tin Nguyễn văn Ba mất, TPT thảnh thốt kêu lean:

“ Nha Mân em có về không?

Phương Nam xa lắc nhưng loon g là nay

Một đời mê tỉnh cuồng quay

Mối hờn vong quốc biết ngày nào nguôi”

( Lời ru Nguyễn văn Ba-33)

Một câu nói nghe ra làm cheat được lòng người

Hoặc “ Chút long đau, nát long đau

Nén hương cố xứ bay vào cõi xa

Trái tim em để quê nhà

Nợ văn em để làm qùa mai sau

( LRNVB-034)

Vâng, đúng nhu ước nguyện của Nguyễn văn Ba và cũng là ước nguyện của tất vcả mọi người dân Nam nước Việt. Bước chân đi còn nhớ quê nhà. Văn chương là món qùa tặng vô gía cho đời sau trong cũng như ngoài nước.

Trong giỡn bóng chiêm bao, không thiếu những câu thơ đẹp, thoang thoảng như nụ tình trai gái tuổi thanh xuân. Bài “ Mùa xuân” chan chứa biết bao n9ềm hy vọng:

“ Thưa em ngày mới tinh khôi- Nắng biêng biếc chảy vàng phơi nụ tình- Trên cây mùa đã cựa mình- Con chim lạ hót trên nghìn nắng xuân.” ( Mùa xuân trang 41).

Sự quan sát vô cùng tinh tế theo từng chút biến đổi của  cảnh vật, thời tiết và ngay cả chính ntâm hồn:

“ Thưa em ngày đã lặng im- Gío xuân rất nhẹ thổi mềm nắng tơ- Lòng em cỏ rối đôi bờ- Anh hôn lean đó như ngờ hôn em” ( Như ngờ hôn em-42).

Còn nỗi vui nào hơn khi nhìn con ngủ. Đứa trẻ là đất trời bao la; là tiếng thôi thúc gọi tavề

mỗi khi lang bạt.;là ta làm hàng dương , phi lao ngăn sóng bảo. Tất cả dâng hiến cho:

“ Trong nôi con nhoẻn miệng cười- Giang tay con noun mặt trời tháng tư- Xoãi chân con đợi gío mùa- Tiếng ru của mẹ chưa vừa giấc con- Đỏ hồng tí xíu chân son- Nâng niu cha ẳm đời con vào long” ( Khi con đầy tháng- 48).

Quan sát, quan sát và quan sát như Pavlov đã nói. Trần phù Thế có là nhà quan sát không, chúng ta hãy:” Bờ vai em những lông tơ mềm mại- Cũng sượng sùng khi nghĩ đến lừa nhau” ( Thư gởi người yêu ở xa – 67). Tác gỉa có liều lĩnh để phỏng đóan không?.

Thu là đề tài muôn thuở của thi nhân. Phác thảo qua văn chương, chúng ta có Nguyễn Khuyến với Thu điếu, Thu Vịnh:” Thu ăn măng trúc đông ăn gía- Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”. Lưu trọng Lư với” Tiếng thu”. Huy can với “ Thu Rừng”: Nai cao gót lẫn trong mù- Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về. Họ là những người đi tiên phong, làm cách mạng cho ngôn ngữ…

Thu của Trần Phù Thế đầm thấm như cốc trà đậm nồng hương đời, như kẻ lữ hành day dặn kinh nghiệm và ở moat lúc nào đó, có thể trở thành người ẩn dật sau hàng phong:

“ Ở nay trời chẳng trong xanh- Ngày thu cuối đã quẩn quanh tuổi gìa- Rừng phong nay lá hiên nhà- Vàng phai sắc nhớ chiều pha sắc vàng- Biết ta cõi sống muộn màng- Vơi đi lá úa bean ngàn nay thu- Đã nghe tiếng thou sương mù- Tan trong cô quạnh với từ biệt tăm” ( Thu muộn- 92).

Tâm tình chân phương rất mực, tác gỉa phó thường dân miền Tây Nam Bộ đang diễn trò “ sơn đông mãi võ” đang cổ động mời gọi, rao giảng cùng Hắc Bạch giang hồ:

“ Tôi biết tôi không có quyền lựa chọn

Người tốt- kẻ xấu đến với mình

Nên tôi vui lòng đón nhận như moat niềm hạnh phúc”

( tâm sự moat con đường- 96).

Con người là sinh vật đáng yêu hay đáng ghét. Phạm Duy cứ khản cổ haut:” Giết người đi thì ta ở với ai?…”.Trần Phù Thế phóng khoáng, cao ngạo:

“ Hởi những con người đáng yêu

Đang thở bầu trời xanh ngát

Hoặc những người ở xa

Hãy đến với tôi

Dù chỉ một lần

Tôi xin tự nguyện

Làm một con tàu chung thủy

Chuyên chở suốt đời “ ( TSMCĐ trang 96).

Dường như tác gỉa đang lang thang trên núi Sam- Châu đốc vào mỗi tháng ba nhân dịp Lễ Vía Bà. Có đi mới thấy núi non, cây đá chập chùng. Không hùng vĩ so với những nơi khác, nhưng cũng đã tạo nên moat sắc thái trang nghiêm, huyền bí cho dân chúng miền tây và dân chúng từ Sài Gòn đổ xuống . Thất Sơn, bảy ngọn núi- linh địa của miền nam- Có Tây An Tự ( Bửu Sơn Kỳ Hương), có lăng Thoại Ngọc Hầu. Nơi an vị Phật bà khói hương nghi ngút. Khách thập phương nnm nữ vui vẻ bầy đàn, rộn rịp cả một góc núi.

“ ước gì ta được hóa thân- Thành mưa tưới mát núi Sam ngàn đời- Hỏi long long có đổi dời- Như cơn gío thoảng rtên đồi Bạch vân”. ( Hỏi long- 98).

Buổi chiều cô độc, ngồi nhớ mông lung, khách giang hồ nơi xứ người vẫn còn mang mang tình hận khôn nguôi;

“ Nghìn năm một chữ vô thường

Bóng anh nhòa nhạt bên đường thu phong

Lá bên đời lá chạy rong

Trăm năm kiệt sức mình không thấy mình”. ( Mùa thu và lá trang 102).

Qua hơn name mươi bài thơ trong “ Giỡn bóng chiêm bao” của Trần Phù Thế dàn trải qua các đề tài về thân phận, tình yêu và quê hương. Đặc biệt là tình yêu trai gái vẫn không làm mờ nhạt đi tình yêu của cha mẹ và con cái. Sợi day ràng buộc mà mối thắt mở không thể tìm được đáp số.

Ngoài ra, tâm sự kẻ xa quê hương, tự nhận mình là kẻ lưu đày hay dưới bất kỳ danh xưng nào, cũng nói lên rằng mình không còn trên xứ Việt.

“ Ta cười ta nợ núi sông

Xẩy tay mất nước lưu vong xứ người

Ta cười ta một trận cười

Trăm năm hồ dễ mấy người như ta” ( Ta cười ta  trang 104)

 Lâm Hảo Dũng

( VGH- 8-2012)

nguồn: tập san Thân Hữu

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: