Vũ Thất

Bảo Bình 1

Sự kiện Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan

Đỗ Thị Thoan (Nhã Thuyên)

Báo chí “lề phải” và những tên “bồi bút” đang tìm cách túm oánh theo kiểu “bề hội đồng” Đỗ Thị Thoan (tức Nhã Thuyên) y hệt như phong trào “Nhân Văn-Giai Phẩm” dạo nào… Nhờ vậy mà cô ta trở thành người nổi tiếng và đi vào lịch sử văn học dân tộc?

1. NHỮNG TIẾNG NÓI NGẦM

Những tiểu luận phê bình trong tập sách này phản chiếu một phần quan sát của tôi vào một phiến cảnh thơ ca còn chưa sáng rõ, có thể xem là những tiếng nói ngầm trong bối cảnh văn chương Việt Nam Hậu Đổi Mới, chủ yếu dựa trên sự tiếp cận các chủ đề chính trị nổi bật và giá trị văn chương của các tác giả mà tôi đã quan tâm. Những hiện tượng văn chương chịu áp lực này đã gây nhiều tranh luận, đồng thời hấp dẫn cộng đồng nghệ thuật và giới trí thức trong/ngoài nước, như biểu hiện của nỗ lực trên cả hai phương diện đổi mới nghệ thuật và đòi hỏi tự do ngôn luận, nhưng đến nay vẫn là khoảng trống của nghiên cứu. Từ sự tham dự của một người sáng tác, tôi muốn nhìn những hiện tượng này như một hướng vận động đáng kể của thơ – và rộng ra là văn chương, nghệ thuật − ở Việt Nam nhiều năm qua, tương tác với một bối cảnh xã hội, văn hóa, chính trị đang có nhiều biến động.
Như mọi nghiên cứu, tác giả của nó liên tục phải đặt ra những câu hỏi, đòi hỏi mình đưa ra được những khám phá, những gợi mở. Điều này thật thách thức và dường như quá tham vọng với tôi, vì sự phức tạp của chủ đề, của bối cảnh, vì sự mênh mông của văn chương, vì những kì vọng và thất vọng liên tục biến đổi của chính bản thân mình. Điều trước hết tôi hi vọng đã làm được, không phải là đưa ra một thống kê xã hội học về thơ ca trong danh sách các tác giả, tác phẩm, những phán đoán về giá trị văn bản, mà là một thái độ tham dự với đời sống văn chương bằng cách quan tâm tới những hiện diện vắng mặt. Sự tiếp xúc này với tôi thật sự có ý nghĩa: không chỉ với các vật liệu thực tế bằng việc đọc, tìm tư liệu, viết lách, làm phim, phỏng vấn, mà còn là những tiếp xúc vô hình trong thế giới tinh thần của những người cùng thời, những người có thể rất xa nhau và lại rất gần nhau.
Khả năng nối tiếp và gợi mở những trao đổi về thơ ca Việt Nam hẳn nhiên là điều tôi trông đợi. Sẽ là bất công với một nền văn học nếu những tác giả của mỗi giai đoạn văn chương không nỗ lực, cùng với những người đọc, ủng hộ những tiếng nói mới, những thái độ mới, và dường như là vô lý nếu các tác giả lại ngồi im lặng trong một ngôi nhà trùm kín bằng vải đen. Tôi muốn làm nổi lên qua các tiểu luận hình ảnh của một không gian văn học năng động với những tác giả tỏ ra cam kết với lựa chọn phản biện và đổi mới văn chương, những người dường như đang giữ chặt lấy vị trí bên lề của mình để nuôi dưỡng một kinh nghiệm chống đối, nuôi dưỡng tiềm năng sáng tạo một năng lực chống đối, sáng tạo một thế giới thay thế. Tôi đã nhìn đâu đó những nền văn học bé nhỏ đang cất tiếng nói, và tôi muốn nghe thấy tiếng nói của văn chương Việt Nam. Vậy thì điều nhỏ bé tôi có thể làm không phải chỉ là đưa ra một cái nhìn chủ quan về những tiếng nói khác biệt với những gì bạn đọc tiếng Việt quen nghe, quen biết, mà quá trình này không nằm ngoài nỗ lực trao đổi về sự tồn tại của những tiếng nói khác nhau trong văn chương.
Một câu hỏi lớn mà nhiều người viết, người đọc ở Việt Nam đã đặt ra: vì sao văn chương Việt Nam chậm phát triển và thiếu những tiếng nói đặc sắc? Tôi muốn nhìn một cách bình tĩnh hơn: có phải thật sự văn chương Việt Nam đang đóng cặn và thiếu những tiếng nói độc đáo, những vấn đề đáng quan tâm? Quả thật, những gì đang diễn ra dường như đem lại cảm giác bi quan nhiều hơn: những khoảng trống của nghiên cứu, dịch thuật lý thuyết và thực hành phê bình, những thành kiến văn chương thấy ở mọi nơi, những nghi ngờ và sự xa lạ của bạn đọc trước một số thể nghiệm bị dán nhãn “đồ lạ” “dè chừng có độc”, “cần kiểm nghiệm”, thiếu vắng các diễn đàn văn học, sức lấn át của thương mại, và có thể cả những bế tắc của người sáng tác, v.v. Người ta đã từng dự báo về một cuộc khủng hoảng để thay đổi, nhưng dường như điều đó diễn ra thật chậm, hoặc bị ách lại giữa chừng. Nhưng giữa những thất vọng, phải chăng sự bất an, hỗn loạn và dường như thiếu khuynh hướng của thơ Việt Nam hôm nay có thể lại là một mảnh đất sống động giàu tiềm năng?
Cái đang diễn ra không phải là một xác chết hóa thạch, và tôi hiểu, cần nhiều tỉnh táo và cẩn trọng để hiểu được những cơ thể sống. Ngập trong cái văn bản khổng lồ, bề bộn, phi lý thuyết và dường không tương thích thực sự với bất kì lý thuyết nào là không gian văn chương Việt Nam đương đại, một thứ văn bản đan dệt các văn bản thơ ca, xã hội, chính trị, văn hóa cùng những diễn ngôn siêu văn bản, tôi có thể sập bẫy vì sự hàm hồ, bồng bột của chính mình. Tuy nhiên, tôi ý thức rằng lựa chọn viết cũng là một lựa chọn thái độ sống. Để không ì trệ trong cái cỗi già, không bị cuốn dễ dàng theo cái thời thượng, tôi đang chọn lửng lơ ở giữa, cố gắng không đóng khuôn mình trong những khung diễn giải, những khung khổ quyền lực đã được thiết lập. Tôi đang ở giữa cái bên lề và trung tâm, ở giữa hiện tại và quá khứ, ở giữa những đứt gãy và kết nối, giữa những phân lập và sự nhập nhằng, giữa sự sáng tỏ và rối loạn, giữa sự đi lên và thoái hóa, tôi đang đứng chênh vênh để nhìn ra bên ngoài và nhìn vào bên trong, vừa như kẻ ngoại cuộc vừa như người trong cuộc, nhưng là lựa chọn không đứng về phía sự trấn áp.

MỘT NGƯỜI VIẾT TIẾNG VIỆT HẲN NHIÊN PHẢI GẮNG GỎI RẤT NHIỀU ĐỂ HIỂU LẠI VĂN CHƯƠNG ĐẤT NƯỚC MÌNH, HIỂU MẠCH CHẢY NÀO ĐÓ NẰM BÊN DƯỚI SỰ TRÔI CHẢY CỦA THỜI GIAN VÀ CÁC THẾ HỆ THƠ CA TỪ QUÁ KHỨ TỚI HIỆN TẠI, VÀ HI VỌNG ĐÓNG GÓP VÀO SỰ SÁNG TẠO CHUNG TỪ KINH NGHIỆM RIÊNG BIỆT CỦA MÌNH. ĐIỀU TÔI HI VỌNG PHẦN NÀO LÀ SẼ XÓA ĐI MỘT ÍT CÂU HỎI CỦA BẢN THÂN ĐỒNG THỜI THÊM VÀO MỘT ÍT CÂU HỎI MỚI.  (HTTP://DAMAU.ORG/ARCHIVES/26260)

2. NHỮNG TIẾNG NÓI NGẦM VÀ MỘT THÁI ĐỘ NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH CẦN ĐƯỢC TRÂN TRỌNG

Diên Vỹ

Gửi Chu Giang, tuần báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh,
Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội
Bài viết này bàn về “thái độ chính trị” Nhã Thuyên thể hiện trong tập tiểu luận Những tiếng nói ngầm đăng trên Da Màu từ 18 đến 26 tháng 10 năm 2012. Nó phản hồi bài viết “Có giải thiêng lịch sử được không?” của Chu Giang đăng trên tuần báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minhsố 256, xuất bản ngày 30 tháng 5 năm 2013. Theo quan điểm của tôi “thái độ chính trị” của Nhã Thuyên không mâu thuẫn với một vị trí trong trường đại học chính thống của nhà nước. Tôi là bạn đọc, không có thẩm quyền gì để quyết định giữ Nhã Thuyên ở lại hay không, nhưng vẫn muốn góp lời. Khi một tác phẩm đã được biết tới thì người đọc là người có trách nhiệm với nó hơn.
Tuần báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh không đăng ý kiến trái chiều. Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội đã yêu cầu Nhã Thuyên thôi việc. Sau đó báo chí dòng chính chuyển sự chú ý sang luận văn thạc sỹ về nhóm Mở Miệng Nhã Thuyên thực hiện và bảo vệ năm 2010, một văn bản chưa được công bố rộng rãi. Như Chu Giang viết trong số tiếp theo của Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, loạt tiểu luận của Nhã Thuyên không đáng bàn nhiều vì nó chỉ đăng trên internet, không mang tính pháp quy như luận văn. Tôi tưởng bài viết của mình đã thành “cũ” thì gần đây bắt gặp một bài báo lật lại Những tiếng nói ngầm với những phán xét nặng nề khiến tôi lại thấy mình muốn lên tiếng. Khi tiếp cận một tác phẩm chúng ta cần suy xét kĩ lưỡng từng câu chữ của nó chứ không nên căn cứ vào đề tài nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu hay một chuyện bên ngoài là tác giả nhận được tài trợ của một tổ chức quốc tế để quy kết những điều xấu. Nếu như người ta muốn phê phán những tư tưởng “sai lệch” thì tôi e rằng việc lấy Nhã Thuyên ra làm đối tượng là một nhầm lẫn đáng tiếc. Để góp lời vào một câu chuyện chung, tôi xin gửi bài viết của mình cho các diễn đàn, báo chí.
Hà Nội ngày 01 tháng 08 năm 2013
1. Giới thiệu
Trước cùng một văn bản người ta có thể có những đọc hiểu rất khác nhau. Dù không đồng tình, tôi xin ghi nhận cách Chu Giang tiếp cận chuỗi tiểu luận Những tiếng nói ngầm của Nhã Thuyên với bài viết “Có giải thiêng lịch sử được không?” đăng trên trang 16-17 tuần báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh số 256, bộ mới, xuất bản ngày 30 tháng 5 năm 2013. Theo tôi hiểu, Chu Giang quan tâm đến việc đánh giá thái độ chính trị của người viết thể hiện qua tác phẩm. Ông cho rằng Nhã Thuyên đã lựa chọn một vị trí rõ ràng là chống đối chính quyền và phỉ báng lịch sử dân tộc, giống như những tác phẩm, tác giả mà cô ca tụng. Một người có thái độ chính trị như vậy theo ông không đủ tư cách để đảm nhận công tác giáo dục văn học trong nhà trường xã hội chủ nghĩa và bài viết của ông đề gửi Khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nơi Nhã Thuyên công tác. Đó là một nỗ lực bảo vệ thế hệ trẻ, chính quyền hiện thời và lịch sử của dân tộc đã qua. Nỗ lực này không phải là vô ích; tuy nhiên, tôi hiểu Nhã Thuyên khác với Chu Giang nên mong được trao đổi.
Tại thời điểm này cá nhân tôi đang làm việc cho một cơ quan nhà nước, có lòng tự hào dân tộc, kính trọng Hồ Chí Minh và ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng. Tuy vậy tôi vẫn xin được bất đồng với tất cả những luận điểm của Chu Giang về Nhã Thuyên. Thái độ chính trị của Nhã Thuyên nếu đúng như Chu Giang mô tả có mâu thuẫn với nhiệm vụ giảng dạy văn học trong nhà trường chính thống hay không, không phải là điều mà tôi quan tâm bởi thực sự tôi thấy Nhã Thuyên không có thái độ như thế. Trong bài viết này, tôi sẽ trình bày cách hiểu của tôi về thái độ chính trị Nhã Thuyên thể hiện qua chuỗi tiểu luận Những tiếng nói ngầm đăng trên Da Màu từ 18 đến 26 tháng 10 năm 2012. Tôi cho rằng cô ấy đã thể hiện một thái độ đúng đắn với đạo đức của một người làm công tác nghiên cứu và phê bình văn học. Đó là một thái độ trung lập với các đảng phái chính trị và chế độ xã hội nhưng cam kết theo đuổi trí tuệ và các giá trị nhân văn trong phạm vi nghiên cứu của mình. Theo tôi đây không phải là thái độ đúng đắn duy nhất nhưng đó là một lựa chọn cần được tôn trọngnếu như ngành nhân văn của Việt Nam muốn đem lại những giá trị nhân văn cho đời sống. Những tiếng nói ngầm chưa tìm được chỗ đứng trên diễn đàn văn học chính thống (Da Màu là một diễn đàn văn học mạng phi chính thống) nhưng việc Nhã Thuyên giảng dạy tại Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội là một dấu hiệu đáng mừng hơn là đáng lo.
2. Vị trí của nhà phê bình: trung lập với các đảng phái chính trị, chế độ xã hội và cam kết với những giá trị nhân văn
Tôi không thấy Nhã Thuyên lựa chọn vị trí ca tụng “những tiếng nói ngầm”. Nhã Thuyên lựa chọn tìm hiểu “một phiến cảnh thơ ca còn chưa sáng rõ” và đã làm điều đó với sự trân trọng đối tượng nghiên cứu của mình. Người nghiên cứu, ngay cả khi tìm hiểu kẻ thù hay những tội nhân bị cả xã hội nguyền rủa, có lẽ cũng cần giữ cái đức ấy.
Tôi xin dẫn lại đoạn văn trong lời ngỏ của Nhã Thuyên mà chính Chu Giang đã trích: “Tôi muốn làm nổi bật lên qua các tiểu luận hình ảnh của một không gian văn học năng động với những tác giả tỏ ra cam kết với lựa chọn phản biện và đổi mới văn chương, những người dường như đang giữ chặt lấy vị trí bên lề của mình để nuôi dưỡng một kinh nghiệm chống đối, nuôi dưỡng tiềm năng sáng tạo một năng lực chống đối, sáng tạo một thế giới thay thế.”
Khi đọc đoạn văn bản này tôi để ý đến việc Nhã Thuyên dùng hai từ “tỏ ra” và “dường như” để bày ra một thái độ cẩn trọng. Còn không gian văn học đó có “năng động” hay không thì tùy quan niệm của từng người. Tôi đồng tình với cách dùng từ “năng động” của tác giả và không cho rằng tính từ ấy có nghĩa ngợi ca. Những sáng tác và ấn phẩm phi chính thống đang có đời sống của chúng. Dòng văn học phản kháng tồn tại trong bất cứ một chế độ xã hội nào chứ không phải chỉ là sản phẩm riêng của Việt Nam.
Đoạn văn vừa trích dẫn chỉ thể hiện đối tượng nghiên cứu của tác phẩm còn vị trí của người nghiên cứu được Nhã Thuyên trình bày ở một đoạn văn khác trong lời ngỏ: “Tôi đang ở giữa cái bên lề và trung tâm, ở giữa hiện tại và quá khứ, ở giữa những đứt gãy và kết nối, giữa những phân lập và sự nhập nhằng, giữa sự sáng tỏ và rối loạn, giữa sự đi lên và thoái hóa, tôi đang đứng chênh vênh để nhìn ra bên ngoài và nhìn vào bên trong, vừa như kẻ ngoại cuộc vừa như người trong cuộc, nhưng là lựa chọn không đứng về phía sự trấn áp.”
Vị trí Nhã Thuyên lựa chọn là sự chênh vênh ở giữa. Chu Giang trích dẫn lại rằng Nhã Thuyên lựa chọn “không đứng về phía trấn áp” và tự ngầm hiểu phía trấn áp là phía chính quyền. Thật ra bất cứ một cá nhân nào cũng có thể trấn áp những người khác. Theo tôi hiểu, “không đứng về phía trấn áp” có nghĩa là nhà phê bình không tìm hiểu dòng văn học phản kháng với sẵn mong muốn trấn áp nó.
Nhã Thuyên không viết phê bình với sự khách quan lạnh lùng của khoa học. Cô ấy chọn một đường hướng nghiên cứu nhân văn cam kết với sự trân trọng giá trị văn chương của “những hiện diện vắng mặt”. Sự trung lập mà tôi muốn nói ở đây là sự trung lập với các tham vọng chính trị nhằm xây dựng hay lật đổ một chính quyền. Nhã Thuyên đã rất kỹ tính khi không tự mình dùng một từ ngữ nào thể hiện định kiến với chính quyền và lịch sử dân tộc. Không biết nhầm lẫn của Chu Giang đã diễn ra như thế nào nhưng toàn bộ những từ ngữ thể hiện định kiến với chính quyền và lịch sử dân tộc là của các tác giả và tác phẩm mà Nhã Thuyên nghiên cứu hoặc chúng mô tả một vấn đề là đối tượng quan tâm của các tác giả và tác phẩm đó. Tôi đã cất công tìm xem cụm từ “sự thống trị dai dẳng của tư tưởng Hồ Chí Minh” mà Chu Giang trích dẫn được Nhã Thuyên sử dụng trong trường hợp nào và tìm thấy nó trong một câu viết tại đó nó được nhắc tới như một vấn đề mà các nhà thơ phản kháng quan tâm. Trong khi các nhà thơ phản kháng bày tỏ thái độ chống đối chế độ thì Nhã Thuyên không chọn vị trí đó. Người ta có thể đặt ra câu hỏi rằng tại sao Nhã Thuyên lại hứng thú với không gian văn học phản kháng nếu như cô ấy không muốn trấn áp hay tuyên truyền những luận điểm chống chính quyền. Tôi không biết rõ câu trả lời, và cũng không cần phải biết, nhưng nếu thử suy đoán, ta có thể thấy những lý do rất con người. Sự cấm kỵ một số đề tài nghiên cứu trong nhà trường có thể đã khơi gợi trí tò mò của nhà nghiên cứu. Cũng có thể cô ấy giàu lòng trắc ẩn với các thân phận bên lề. Hoặc thơ ca phản kháng có những giá trị văn chương thực sự cuốn hút.
3. Vấn đề nghiên cứu của Những tiếng nói ngầm: Mối quan hệ giữa thơ ca và chính trị
Tôi đã dành nhiều công sức để đọc các tiểu luận của Nhã Thuyên và thấy rằng nhà phê bình này xác định công việc của mình là đi tìm giá trị văn chương của những tiếng nói chống đối chứ không phải là phán xét thái độ chính trị của những tiếng nói ấy. Dòng văn học ngầm thường hấp dẫn người đọc bởi thái độ chính trị của nó, và Nhã Thuyên muốn hướng sự quan tâm của mình và bạn đọc sang một vấn đề khác: tính văn học nghệ thuật của những sáng tác có đặc trưng chính trị đó. Có thể nói văn học nghệ thuật không tách khỏi chính trị, nhưng chúng cũng không trùng khớp hoàn toàn nên tra vấn mối quan hệ giữa thơ ca và chính trị là một lao động trí tuệ có ý nghĩa. Với tôi, cách đặt vấn đề của nhà phê bình không hề gượng ép, nó hợp với những băn khoăn của tôi. Tôi không sẵn một tâm thế ngợi ca dòng văn học phản kháng. Tôi đã gặp những tác phẩm mà nếu không phải là bàn chuyện chính trị thì chẳng đáng chú ý vì chúng không có gì thú vị về ý tưởng hay ngôn từ. Ở một chiều khác, tôi nghĩ rằng không tìm hiểu giá trị văn chương của dòng văn học này thì không công bằng, với bản thân mình và nhất là với văn chương.
Chu Giang có thể không thừa nhận những giá trị văn chương của các tác phẩm và tác giả như Nhã Thuyên nêu ra, nhưng Nhã Thuyên không hề ca ngợi lập trường chống chế độ và phỉ báng lịch sử. Nhã Thuyên chỉ nhận định rằng trong lịch sử văn học Việt Nam thì dòng văn học phản kháng mà cô nghiên cứu đặt ra những câu hỏi về mối quan hệ giữa nhà thơ và thể chế, trình diễn những quan niệm mới về thi ca, và để lại một vài bài thơ làm cô xúc động. Nhã Thuyên xúc động trước Nguyễn Quốc Chánh chắc chắn không phải là vì cô có chung quan điểm chống chế độ và phỉ báng lịch sử mà vì ông là một con người có những nỗi đau, những tìm tòi và những câu thơ đẹp. Cô viết: “Đến giờ, tôi vẫn xúc động khi lần giở những trang sách cũ, lần giở những trang mạng để đọc ông, không phải một biểu tượng của chịu đựng và phản kháng, mà như một thi sĩ, kẻ luôn tìm cách vượt qua những giới hạn của cá nhân mình để tra vấn những tiềm năng thơ ca mới, những không gian mới cho thơ.” Chu Giang phê phán tư tưởng của Nguyễn Quốc Chánh, tuy nhiên điều này lại không hề liên quan tới Nhã Thuyên bởi cô không quan tâm tới việc phán xét thái độ chính trị của các tác giả đúng hay là sai, lợi hay hại cho sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Nhã Thuyên không thể trả lời câu hỏi nghiên cứu của Chu Giang vì đây không phải là công trình cộng tác giữa Nhã Thuyên và Chu Giang. Chu Giang sẽ cần tự viết riêng một tập tiểu luận khác để phát triển cách nhìn của mình. Những tiếng nói ngầm là sự xử lý hai câu hỏi nghiên cứu chính:
  • Mối quan hệ giữa nhà thơ về thể chế được gợi ra như thế nào từ những tiếng nói ngầm?
  • Đâu là những đóng góp mang tính thi ca của những tiếng nói ngầm?
Theo tôi đó là những câu hỏi nghiên cứu có chất lượng – nghĩa là chúng đáng để hỏi và có thể trả lời.
Khi một nhà phê bình tìm kiếm giá trị văn chương của dòng văn học ngầm thì chưa chắc ấy đã là một sự thiên vị bởi càng khát khao nhìn thấy cái hay cái đẹp thì người ta lại càng phải chất vấn những gì mình gặp. Nhã Thuyên chất vấn những tiếng nói ngầm một cách quyết liệt, nhưng không phải là chất vấn về tính đúng sai của quan điểm chính trị. Như tôi đã trình bày ở trên, đó không phải là câu hỏi nghiên cứu Nhã Thuyên đặt ra. Cô chất vấn tính thi ca và diễn đạt những chất vấn của mình với một thứ ngôn ngữ tôn trọng mọi người. Những người chờ đợi một thứ ngôn ngữ nhạo báng dòng văn học chống đối có thể thất vọng, nhưng những người có một số khúc mắc về giá trị văn chương của dòng văn học này có thể tìm thấy những sẻ chia. Nhã Thuyên không chỉ trình bày về các đóng góp của những tiếng nói ngầm mà còn chỉ ra những nguy cơ mà thơ ca phản kháng chế độ có thể rơi vào. Từ những phần viết của Nhã Thuyên tôi nhìn thấy ba nguy cơ chính. Một là phản kháng chế độ có thể bị biến thành một yếu tố câu khách. Nó thỏa mãn sự hiếu kỳ của người đời hoặc có thể tận dụng cho các mưu đồ chính trị. Hai là thơ ca phản kháng có thể không có giá trị thơ ca mà chỉ giống như việc người ta chống đối hoặc ủng hộ chế bộ bằng các hành vi khác. Ba là thơ ca phản kháng có khi cũng chỉ là sản phẩm nô lệ mà thôi. Cô viết: “Có điều, tự do là bất khả nếu chúng ta chỉ là sản phẩm nô lệ, dù ngợi ca hay chống đối…” Ở tiểu luận “Thơ ca của sự phủ định và sự phủ định thơ ca”, Nhã Thuyên gợi ra rằng tính chính trị của thơ ca không thể chỉ hiểu đơn giản là sự quan tâm tới việc chống đối hoặc ủng hộ chế độ. Thơ phản kháng cũng chẳng khác vì những văn bản tuyên truyền mà chính nó ghét bỏ nếu như nó không đạt tới tính chính trị của thơ ca- sự khơi dậy những điều mới mẻ.
Tóm lại, với cách đọc hiểu của tôi, tác phẩm Những tiếng nói ngầm của Nhã Thuyên về cơ bản là một nghiên cứu mang tính chất vấn chứ không phải là một trình hiện những luận điểm ca tụng. Nếu có cái gì đó khiến người ta có thể nhầm lẫn với sự tán dương thì ấy là sự trân trọng tác giả dành cho đối tượng nghiên cứu, sự tìm tòi và nâng niu những giá trị nhân văn.
4. Lời kết
Tác phẩm phê bình của Nhã Thuyên “có vấn đề” có lẽ chủ yếu là vì nó tìm hiểu một chủ đề bị cho là cấm kỵ. Cô nghiên cứu một mảng thơ ca viết bởi những người chống lại các định chế xã hội, nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là cô ra sức ủng hộ sự chống chế độ và giải thiêng lịch sử. Lẽ dĩ nhiên người ta có thể lý luận rằng những xúc động của Nhã Thuyên trước dòng văn học ngầm có thể xui khiến người đọc có cảm tình với dòng văn học này và từ đó họ có thể bị tiêm nhiễm những quan điểm, ngôn ngữ độc hại nào đó. Cứ cho là có khả năng như vậy đi thì tôi nghĩ rằng khả năng đó là quá nhỏ. Văn chương của Nhã Thuyên không phải là thứ dễ đọc. Người đọc của cô là những người có học và tự chủ về lập trường chính trị.
Chu Giang và Nhã Thuyên là những người phê bình ở những thế hệ cách nhau khá xa. Trong đời sống chính trị của cả nước, có những chủ đề cấm kỵ thời xưa nay đã được đem ra thảo luận công khai trước Quốc hội, ví dụ như luật hôn nhân đồng tính và đề xuất đổi tên đất nước. Có cần coi dòng văn học phản kháng là một đề tài cấm kỵ nữa không? Về bản chất, dòng văn học này khác với các vấn đề xã hội nêu trên ở chỗ nó công khai chống lại chính quyền hiện thời. Tôi không cho rằng các diễn đàn chính thống của nhà nước cần ủng hộ dòng văn học này bằng cách xuất bản những tác phẩm của nó hay đem vào nội dung giảng dạy của nhà trường phổ thông. Tuy nhiên, tôi cũng không cho rằng cần phải cản trở và loại trừ những nỗ lực tìm hiểu dòng văn học phản kháng hay quy định sẵn rằng bất cứ nghiên cứu nào về dòng văn học này cũng phải nói xấu nó. Chúng ta có thể cần quan tâm tới thái độ chính trị của một người để xét duyệt một vị trí trong nhà trường chính thống, thì ngay cả khi ấy thái độ chính trị Nhã Thuyên thể hiện ở Những tiếng nói ngầm là một thái độ mang tính xây dựng nên được hệ thống trân trọng. Việc cô có một vị trí ở Khoa Văn trường Đại học Sư phạm đem lại môt hình ảnh tốt đẹp về một chính quyền tôn trọng tự do tư tưởng và ngôn luận. Đấy chẳng phải là một thành tựu hay sao?
© 2013 Diên Vỹ & pro&contra

3. Thư học trò gửi nhà thơ Nhã Thuyên, tức cô giáo Đỗ Thị Thoan

Cô kính mến!

Em vừa đọc được các thông tin trái chiều nhau về luận văn cao học của cô. Các nhà văn phi nhà nước nhận định đây là một luận văn có tính cách mạng, chí ít là kiến giải về ý nghĩa tự do trong sáng tác, sáng tạo và giải thiêng những chuẩn mực gò bó có tính chính trị áp đặt vào người nghệ sĩ nói riêng và giới trí thức nói chung bấy lâu nay. Và cũng không ít ý kiến lên án cô một cách gay gắt rằng cô phản động, bôi nhọ hình tượng Hồ Chí Minh, bôi nhọ đảng Cộng sản. Thậm chí, một ông giáo sư còn đề nghị kỷ luật cả hội đồng đã chấm bài và tham gia vấn biện cho luận văn của cô. Thật là hết chỗ nói đúng không cô? Làm sao mà người ta có thể nghĩ và đưa ra những hành động hết sức vớ vẩn, vô văn hóa đến như thế? Rất tiếc đây là lời nói và hành động của kẻ có ăn học, có học hàm giáo sư hẳn hoi chứ không phải là ý kiến của một kẻ thất phu vô học nào.
Điều này làm em nghĩ đến câu nói của một cán bộ an ninh cấp tá, ông này vốn là bạn học cũ của ba em, trong lần đến thăm nhân dịp sinh nhật ba em, chuyện trò một lúc, rượu vào lời ra, ba em có nói về chủ đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam và đưa ra một số mô hình dân chủ mà ba đã nghiên cứu trong những lần đi công tác nước ngoài. Ông này nghe ba em nói xong, tím môi lại và chỉ nói đúng một câu: “không có chân chủ dân chiết gì hết, nếu cần thiết, chúng tôi sẽ biến Việt Nam thành một Thiên An Môn thứ hai!”. Nghe xong câu này, ba em chỉ biết lắc đầu và thở dài, cũng từ đó, tình bạn đồng liêu, đồng môn giữa ba em và ông đại tá an ninh cắt đứt, không qua về với nhau nữa!
Thật là buồn phải không cô? Vì trong một đất nước mà mọi sự đều nằm dưới sự quản lý, chăn dắt của đảng Cộng sản, con người trở thành con cừu ngoan ngoãn phục tùng. Như vậy, còn gì để bàn nữa chứ! Hơn nữa, câu nói của ông đại tá an ninh làm em nghĩ đến hai thế lực rõ rệt, một thế lực chưa đầy 5 triệu nhưng lại thao túng mọi thứ quyền bính trong tay, đó là đảng Cộng sản, một thế lực lòng dân gồm hơn tám chục triệu con người mong mỏi được tự do, được làm người đúng nghĩa và căm ghét những gì trù dập, đè nén lên mình nhưng lại không có tấc sắt trên tay, đó là thế lực nhân dân. Và hơn bao giờ hết, thế lực chưa tới năm triệu con người kia hiểu rằng mình đã đánh mất uy tín, đánh mất niềm tin và đánh mất giá trị trước tám mươi lăm triệu người, họ bắt đầu dùng vũ lực, dùng đến sự dã man để hù dọa và áp đặt nhân dân. Rõ ràng, họ đã xem nhân dân là một địch thủ, là kẻ bắt buộc phải tuân phục sự chăn dắt của họ!
 Và bây giờ, khi luận văn cao học của cô được bảo vệ xong, điều này chấm vào lịch sử giáo dục Việt Nam một dấu mốc mới về tính tự do trong sáng tạo, và nó cũng là bước khởi sự cho cuộc cách mạng mô phạm mà lâu nay vẫn luôn là địa hạt bỏ ngỏ, không có giáo viên, giảng viên hay trí thức nào dám chuyển hóa nó thành văn bản có tính gáo dục chính qui. Cô đã làm được điều này, chí ít là cô cũng giới thiệu cho các thế hệ sinh viên tìm hiểu về nhóm thơ Mở Miệng của Bùi Chát, Lý Đợi, Khúc Duy, Nguyễn Quán. Giúp các sinh viên hiểu thêm thế nào là văn học phi nhà nước, thế nào là giải thiêng, phá vỡ trung tâm hay dẹp bỏ đại tự sự… Tất cả những thao tác này có ý nghĩa lịch sử vô cùng lớn, nhằm cổ xúy cho các phong trào dân chủ trong nước cũng như hâm nóng bầu nhiệt huyết yêu nước vốn nguội lạnh trong một số thành phần, tầng lớp thanh niên Việt Nam.
Và hơn hết, đây là vấn đề chữ nghĩa, cô đã mô phạm hóa những gì gọi là vỉa hè, ngoài luồng, phi trung tâm, không mang tính đại tự xã hội chủ nghĩa thành một dòng suy tư và ý niệm. Cô đã cho thấy rằng bên ngoài những thứ hào nhoáng và vỏ bọc về một đất nước tươi đẹp, vẫn còn những thân phận, những mảnh đời lay lắt, sống ở cống ngầm, sống ở vỉa hè và trải nghiệm cuộc đời trên những giao lộ heo hút, bất định của thiên đường xã hội chủ nghĩa. Và, thông qua cô, bạn đọc nói chung, sinh viên nói riêng hiểu được thế nào là ngôn ngữ vỉa hè, thế nào là dấn thân cho nghệ thuật tự do và thể nghiệm nghệ thuật tự do. Thế nào là đứng trên tư cách một nghệ sĩ tự do để phản ánh nỗi thống khổ của con người, để chụp, chép và ghi những cảm giác của một thân phận bị hất bên lề xã hội chủ nghĩa.
Đương nhiên, tất cả những việc cô đã làm là việc cần thiết cho dân tộc và nhân loại trên con đường nghiên cứu, tạo tác nghệ thuật. Nhưng, cô cũng đã làm cho những kẻ cố tình bóp nát tự do trong đôi tay độc tài chạm nọc. Họp cảm thấy mọi thứ quyền lợi và mọi thứ tô vẽ của mình lâu nay bị lột trần, bị giễu nhại và bị coi rẻ không đáng xu nào. Và, những giáo sư chuyên chế xã hội chủ nghĩa là chạm nọc nặng nhất.
Vì sao? Vì họ bị cô dùng chiếc búa khoa học và sáng tạo đập vỡ vụn cái khối lý luận chính trị được bọc vỏ văn học xã hội chủ nghĩa của họ. Và hơn hết, sự hiện diện của luận văn đậm chất phi nhà nước của cô đã vô hình trung làm họ bẽ mặt, họ cảm thấy uy đức công thần xã hội chủ nghĩa của mình mấy chục năm nay lại bị một đứa ngang tuổi con cháu mình dẹp bỏ, xem như chưa từng có. Đó là những gì khiến họ cay cú, và họ cũng rất thù hận cô vì cô đã làm cho máu công thần, máu bảo vệ đảng Cộng sản của họ nổi lên tận cổ vì họ vẫn còn ăn lương nhà nước, vẫn là giáo sư, vẫn là trí thức Cộng sản, họ sẽ bị khiển trách và trừng phạt nếu không dẹp bỏ được cô. Vì cô chẳng biết sợ họ, cô đã ngang nhiên làm luận văn, nghiên cứu đề tài về những thứ tuyệt đối cấm kỵ của nhà nước Cộng sản. Vì cô là một thi sĩ, một trí thức chân chính!
Em thật tâm cảm phục cô. Cô nhớ giữ gìn sức khỏe và cẩn thận mọi việc cô nhé, người ta nói rằng kẻ sĩ thường qua sông qua biển không chết nhưng chết vì dẫm phải cứt trâu. Cô nhớ nhìn thật kỹ dưới mỗi bước chân mình cô nhé! Kính chúc cô khỏe mạnh và an nhiên tự tại!
Thân kính
Nguyễn Thị Diễm Hà – Theo blog Văn Chương+

4. NHÃ THUYÊN – QUẦN THOA PHẢI LÀM TIỀN PHONG THAY CHO ĐÁM MÀY RÂU RÚC RÍCH THƠ

Không có kẻ tiền phong không thể có miền đất mới. Khi có miền đất mới như châu Mỹ chẳng hạn, mọi giá trị của châu Âu mới được xới tung gieo hạt làm tinh khôi và tươi tắn tràn trề trong sinh khí mới. Vừa qua, nước ao tù buồn ngủ của văn học mậu dịch Việt Nam vẫn cũ như tem phiếu khi để ruồi đậu mép xếp hàng mua vài cân cá ôi, thịt thối đã sôi sùng sục và dư chấn ào ào như đám chợ búa vỉa hè. Vỉa hè ở đây không mang nghĩa dè bỉu mà là một hiện thực sống động nhảy nhót bươn chải tươi tắn của cuộc mưu sinh hơn hẳn cái thứ văn học cán bộ văn phòng lờ đờ xếp ghế và khoe con dấu. Cơn dư chấn đó dậy sóng phía sau của một chiếc xuồng vẫn còn phấp phới  váy quần thoa, có cái tên đệm chữ “Thị”, mà là hai chữ “Thị” cơ chứ. Mở đầu là Đỗ Thị Thoan với luận văn “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa”.  Và một “yếm thắm” khác hướng dẫn cho cô là PGS Nguyễn Thị Bình. Hai má đào này ngay lập tức đã biến thành bản mẫu minh chứng cho phương ngôn “Kẻ đi tiên phong bao giờ cũng bị hy sinh”.
Lịch sử Việt Nam đã từng có những nữ nhi siêu quần bạt chúng như Bà Trưng, Bà Triệu. Hai bà làm vẻ vang cho các nữ nhi yếu đuối. Nhưng xét toàn thể, khi hai bà vẻ vang bao nhiêu thì đám đàn ông lại hèn mạt chui gấu váy bấy nhiêu. Tại sao ở Hy Lạp hay la Mã cổ đại không có những người như thế? Tại sao nàng Penelope lại nổi danh là một phụ nữ khôn ngoan, kiên nhẫn và chung thủy? Bởi nàng nổi lên như một bản mẫu theo giới tính của nàng. Còn đám đàn ông Hy Lạp biết làm bổn phận nam nhi của mình thì đâu còn chỗ cho đàn bà chân yếu tay mềm phải xung trận. Còn Việt nam ở thời Hai Bà Trưng, đàn ông đã hèn nhát không làm bổn phận của mình, thì đàn bà mới phải gánh vác việc chinh chiến của đàn ông.
Anh hùng trong  chiến trận luôn luôn nhiều gấp hàng nghìn lần anh hùng văn hóa. Chỉ một lẽ nhỏ này là thấy: trong triều đình luôn đông rúc ríc những kẻ khom lưng uốn gối nịnh bợ kiếm chút bổng lộc của vua chúa, thì chỉ có một hoặc hai vị trung thần dám nói điều ngay thẳng. Và sự ngay thẳng của họ luôn mấp mé sự trả giá bằng sinh mạng. Mới đây cũng đã nổi lên hai nữ nhi làm anh hùng văn hóa giữa hằng hà sa số đám đàn ông đang hì hục hám danh bên mấy vần thơ nhẹ thõm. Đó là Y Ban đã từ chối giải thưởng “cây nhà lá hội” của những cán bộ hàng xóm viết văn vẫn còn mang giấc mơ tem phiếu kiểu “những giấc mơ hình cái thớt”. Và Kim Chi nữ nghệ sĩ ưu tú đã từ chối cả giải thưởng của Thủ tướng. Nếu như ngày xưa, chắc chị phải chịu án chu di tam họ vì tội dám phạm thượng.
Trong cơn dư chấn của Nhã Thuyên tức Đỗ Thị Thoan, có hai cái tên đàn ông rất xứng đáng vì đã làm được việc thích đáng chứ không phải vì tên tuổi của họ. Trước hết là GS Trần Đình Sử đã có bài viết khá kỳ công về đề tài này, hơn thế ông còn đưa ra cả phương ngôn – giống như thương hiệu vậy, đó là “Phê bình kiểm dịch”. Nguyên cụm từ này  đã phản ánh nền văn học chui lỗ kim bấy lâu nay luôn phải chui qua sự kiểm duyệt chặt chẽ thô sơ như kiểm dịch súc vật vậy. Một sự kiểm dịch chui lỗ kim như vậy làm sao còn đôi cánh kiêu hùng của đại bàng, còn vây duyên dáng của cá, mà chỉ còn con hình thuôn như giun để chui lọt mà thôi.
Thứ hai là nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, người cũng có công đưa ra phương ngôn “Phê bình chỉ điểm”. Xưa nay người ta chỉ dùng từ chỉ điểm cho kẻ thù, chứ mấy ai dùng từ đó cho quân ta. Phía ta thì chỉ gọi là tai mắt quần chúng báo cáo thôi. Và trong trường hợp của Nguyễn Văn Lưu thì người ta sẽ gọi là tai mắt cán bộ tham mưu cho cấp trên.
Xét về luận văn của Nhã Thuyên. Với cái tên “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” là một cái tê rất khoa học và chính xác, không những với đề tài mà còn trong bối cảnh chung của thời đại. Rõ ràng, nhóm Mở Miệng đã xác định vị trí nghệ thuật của họ như những người bên lề, họ còn ra nhà xuất bản “Giấy Vụn”. Giấy vụn là cái thứ người ta đã xé nhỏ để ném vào sọt rác. Vậy thì người thành lập nhà xuất bản đó đã phải tủi phận thế nào để thành lập nó?! Nếu người ta được quyền tự do thành lập đàng hoàng để cạnh tranh kẻ hơn người kém, hoặc được cơ chế Xin – cho đồ sộ ưu tiên bao cấp thì cần gì phải hèn kém đến độ ra nhà sách Giấy vụn? Ngay đến cả Mở Miệng cũng thế, nếu sáng tác của mình được thể hiện ra như các cán bộ mậu dịch thì làm sao phải lo chỗ loay hoay mở miệng. Và với đề tài “Thực hành thơ”, Nhã Thuyên muốn nói: nhóm này không phải sáng tác thơ, mà họ Thực hành một cuộc mở miệng, giống như được chui lọt cửa để bước vào rạp hát của sáng tạo. Vào được rồi, thì mới nói đến sáng tạo cái gì. Như vậy tính thông điệp, tính chủ đề của luận văn này hết sức mạch lạc, rõ ràng và khoa học, chứ không ú ớ, tù mù, ăn gian, đi đêm, tháu cáy như một số luận văn đi chép khác. Và lớn hơn thế nhiều, luận văn đã tiền phong vào một vùng đất dữ mà chưa ai dám mở miệng phát hiện, đặc biệt các cán bộ ăn cây mậu dịch đòi rào tem phiếu.
Nhưng kìa một đấu sĩ Nguyễn Văn Lưu đã nhảy ra đem cả chợ tem phiếu vào mà không nấu nổi một bữa ăn ra tấm món mùi vị. Ông đăng đàn cả bốn số báo Văn nghệ TP. HCM đòi nốc ao một nữ nhi bé nhỏ. Ông quả là đấu sĩ mượn cái oai của tem phiếu mà không có tim làm hiệp sĩ  mã hiệp và cao thượng. Trong đấu võ, người ta chỉ đấu cùng hạng loại, không bao giờ hạng nặng đi đấu với hạng lông, không bao giờ đàn ông đi đấu với đàn bà, đặc biệt tuổi cha chú lại đấu với yếm đào đang tuổi yêu. Đấu thế là phạm qui và thiếu hào hiệp. Mới đây, khi Giáo Hoàng Francis sang Brazil, ông có trả lời thẳng về vấn đề trọng đại “có phong chức linh mục cho phụ nữ không?” Ông nói còn trên cả từ chối, rằng: Việc này từ hồi Giáo Hoàng John Paul II đã chính thức khép lại rồi.
Việc từ chối phụ nữ làm công việc cô đơn nặng nhọc, cũng có nghĩa là ưu tiên phụ nữ. Vậy mà nhìn thấy Nhã Thuyên viết luận văn, ông NVL lại cậy thế ỷ dốc của hệ mậu dịch, xông vào chém tới tấp bừa bãi. Nhưng hiệp sĩ nhà nghề đích thực chỉ cần ra một đòn, đằng này ông đem cả quầy mậu dịch toàn “hàng mẫu không bán” ra thi thố, thì lại lộ tẩy rằng: đố kỵ với một yếm đào không xong???
Theo các triết gia Hy lạp, con người và xã hội quan trọng hàng đầu việc “Tiết độ” và “Khoan dung”. Con người nếu không tiết độ sẽ ăn uống sinh hoạt bừa phứa, bừa phứa như hội nghị lý luận Tam Đảo về nôn cả bia và đồ nhắm lên người nhau. Nếu không biết tiết độ, con người sẽ vong thân, không có nhân cách và đạo đức nữa. Nhà nước với toàn bộ quyền lực trong tay, xét theo thực tiễn và lý thuyết có thể tru di cá nhân bất cứ lúc nào. Nhưng nếu nhà nước không biết tiết độ quyền lực của mình thì chẳng khác gì cá nhân bạ chỗ nào ăn chỗ đó, bạ chỗ nào thải chỗ đó. Nhà nước thực hiện tiết độ, có cân nhắc trong quyền lực của mình, đó chính là cách khoan dung của nhà nước.
Luận văn là thứ “án tại hồ sơ”, đúng sai thế nào còn nằm đó và còn được tranh luận để thu hái nhận thức, đó cũng là quyền tự do tư tưởng và trình bày của cá nhân. Nhà nước hay ai đó thấy chưa đúng thì tranh luận lại, tại sao lại phải đuổi việc người ta? Làm vậy có phải thiếu tiết độ và bao dung không?
Thêm nữa mấy người khác tham gia tranh luận lại tìm cách nhục mạ nhau, rủa xả ngu hay dốt. “Nói phải củ cải cũng nghe” và “quân tử đấu lý, tiểu nhân đấu chân tay”, mình có lý lo gì không thắng, dở trò cơ bắp “cường từ đoạt lý” làm gì?
Tôi đề nghị, nhà nước nên trả lại cho PGS Nguyễn Thị Bình và Nhã Thuyên việc làm, như thế nhà nước mới tỏ rõ khả năng tiết độ và khoan dung của mình. Các loại phê bình tem phiếu cũng chỉ có tầm vóc ở mức tem phiếu, ta chớ nên nghe họ đánh trận giả vè vè quanh nồi cơm gạo mậu mà xử lý vấn đề, như vậy chẳng cố chấp lắm ru! Cố chấp như ông già không chịu về hưu lại vác đao tả xung hữu đột chém cháu gái mới qua tuổi vị thành niên thì còn gì để bàn về trí tuệ hay lòng cao thượng nữa đây?!
 Nguyễn Hoàng Đức

5. Chính trị hóa khoa học & văn học để “đánh” luận án thạc sĩ của Nhã thuyên là việc làm không chính danh, không đàng hoàng, không tử tế, trái với chủ nghĩa Marx

Trần Mạnh Hảo (Danlambao) –

Thạc sĩ văn học Đỗ Thị Thoan (bút danh Nhã Thuyên), sinh năm 1986, từng là giảng viên khoa văn trường đại học sư phạm Hà Nội (mới bị đuổi việc) đang cực kỳ nổi tiếng với luận văn thạc sĩ: “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” do PGS.TS Nguyễn Thị Bình, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hướng dẫn” đã được hội đồng các giáo sư phản biện cho điểm tuyệt đối 10/10 vào tháng 11-2010; sau ba năm, nay nhờ nhà phê bình văn học Chu Giang (Nguyễn Văn Lưu) và GS. Phong Lê và ngót một trăm bài “đánh” khác trên các báo “lề đảng”… mà Nhã Thuyên đường đường chính chính bước vào lịch sử văn học, một mình làm thành hiện tượng kỳ vĩ ngang ngửa với vụ án “Nhân Văn giai phẩm” ngày xưa.
Trong “Hội nghị lý luận phê bình lần thứ 3 của Hội nhà văn VN” ngày 05/6/2013, nhà phê bình văn học Chu Giang & GS. Phong Lê đã lên diễn đàn tố cáo luận văn thạc sĩ trên của Nhã Thuyên là phản động chống đảng, muốn lật đổ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản, rằng khoa văn trường đại học sư phạm Hà Nội là một ổ phản động; tiếp đến báo “Văn Nghệ TP HCM” ngày 13/6/2013 in bài đầu tiên của ông Chu Giang (Nguyễn Văn Lưu) bắn phát đại bác mở màn cho đại chiến dịch tấn công của chế độ đương thời vào “thành lũy của đế quốc Nhã Thuyên” có tên: “Vấn đề ở khoa văn đại học sư phạm Hà Nội – Một luận văn kích động sự phản kháng và chống đối” (hai số sau của báo này, ông Chu Giang lại in tiếp hai bài đánh vu hồi khác vào bản luận văn trên: “Văn sư tử và văn cầy cáo”“không thầy đố mày làm nên”) đã mở đầu một chiến dịch “Điện Biên Phủ trên giấy và trên Internet” đánh vào “tên đế quốc Mỹ bé xíu Nhã Thuyên” của các báo chính thống hùng mạnh nhất nước: Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công an nhân dân, tạp chí Cộng Sản, Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng, Công an TP. HCM, Công an thủ đô, báo Thanh Tra, Văn Nghệ, Văn Nghệ quân đội, Văn Nghệ Trẻ, Hồn Việt, Đài tiếng nói Việt Nam, báo mạng Vietnamnet, VNexpress, mạng Dân Trí, cùng hàng trăm mạng chính thống khác, thì hiện tượng Nhã Thuyên không còn nằm trên bình diện quốc gia mà đã loang ra thành bình diện quốc tế.
Nói chơi, nếu nhà nước ta dại dột nghe theo đám thầy dùi Phong Lê, Chu Giang… mà ra lệnh bắt Nhã Thuyên, tôi tin không chỉ có đế quốc Mỹ can thiệp mà ngay cả các nước dân chủ trong khối ASEAN cũng có thể can thiệp…
Nếu luận văn thạc sĩ này được dịch ra tiếng Anh, được giảng dạy trên các đại học thế giới, nhất định Nhã Thuyên sẽ được giải thưởng quốc tế về công trình nghiên cứu khoa học này, thậm chí cô có thể được mời thỉnh giảng ở các đại học danh giá như Harvard không chừng… thì công lớn lăng xê Nhã Thuyên lên hàng nhân vật nổi tiếng thế giới này thuộc về ông Chu Giang, ông Phong Lê và các báo lớn nhất của chế độ vậy!
Tất cả ngành truyền thông vĩ đại của chế độ xã hội chủ nghĩa của nước Việt Nam đang cùng hè nhau kết tội một cô bé tài ba Nhã Thuyên, mới 24 tuổi đã bảo vệ thành công xuất sắc điểm 10/10 luận văn thạc sĩ văn học về một đề tài gai góc nhất, khó khăn nhất là thơ của nhóm “Mở Miệng” và đã được mời làm giảng viên khoa văn đại học; cả hệ thống truyền thông ấy cùng “bề hội đồng” kết án rằng: Nhã Thuyên, bằng luận văn thạc sĩ đã phạm tội: “âm mưu lật đổ đảng cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “kích động nhân dân chống chế độ”, “phỉ báng, bôi nhọ chủ tịch Hồ Chí Minh”, “một luận văn vô văn hóa, bẩn thỉu, đê tiện, chống lại chế độ, chống lại dân tộc, chống lại đất nước và chống lại cả loài người”
Người viết bài này không thể kể hết ra đây các thứ tội lỗi khác mà hàng trăm cơ quan truyền thông của chế độ đã kết án Nhã Thuyên bằng những lời kém văn hóa nhất.
Người viết bài này cũng đã tìm đủ mọi cách nhưng không thể có bản luận án thạc sĩ của Nhã Thuyên trong tay, nên không thể kiểm định xem bản luận án bị kết tội kia đúng sai hay dở ra sao? Do vậy, với bài báo này, chúng tôi nhằm phê bình cái cách mà người ta kết tội một nhà khoa học trẻ là một phương cách phản khoa học, phản nhân văn, phản Marxism.
Với những tội tày trời cả chế độ đã kết án Nhã Thuyên, xem ra còn to hơn các tội lỗi được quy kết cho hai người cầm đầu vụ án Nhân Văn giai phẩm ngày xưa là bà Thụy An (1916-1989) và ông Nguyễn Hữu Đang (1913-2007); cứ bằng những tội bị kết trên, Nhã Thuyên có thể bị kêu án tử hình mới xứng…
Than ôi, cả một hệ thống truyền thông của một chế độ tự khoe mình dân chủ tự do hơn triệu lần Mỹ, Anh, Pháp… lại không dám in trọn vẹn luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên ra công khai để mọi người kiểm chứng xem đúng sai hay dở ra sao, đã dùng phương pháp luận “người mù sờ voi” chính trị hóa khoa học, chính trị hóa văn học để đàn áp khốc liệt, kết tội, lăng nhục hết mức một con người, một nhà khoa học, một nhà văn mà tuổi đời chỉ đáng bằng cháu nội, cháu ngoại ông Phong Lê mà thôi, thì các ông, các vị, các giáo sư, các đồng chí ơi, các đồng chí không còn chính danh nữa rồi, không còn tử tế, không đàng hoàng nữa rồi khi các đồng chí luôn nhân danh Marx để chống lại học thuyết Marx nói về khoa học, văn học nghệ thuật. Chúng tôi sẽ chứng minh.
GS. Phong Lê là một trong những người từng đi đầu trong cộng cuộc “cởi trói văn học” 1986 (chữ của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh) được dư luận kính trọng, nay sao lại chưa hề đọc văn bản bản luận án này của Nhã Thuyên, đã vội kết án tội khi quân chết người cho nhà khoa học nghiên cứu văn học trẻ tuổi chỉ bằng tuổi cháu chắt mình là sao? Xin trích:
“Nhóm “Mở Miệng”: lịch sử văn học đẫm máu sắp lập lại? 
Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-07-20:
Riêng Giáo sư Phong Lê, người mà bài báo mô tả: “hai lần lên diễn đàn đề nghị các cơ quan chức năng phải làm việc nghiêm khắc và xử lý thích đáng đối với tác giả bản luận văn cũng như hội đồng chấm luận văn” trần tình với chúng tôi: Bài viết trên tờ QĐND hôm 7/7/2013 có tên “Một góc nhìn phản văn hóa và phi chính trị”. 
 
“Sự thật là thế này: điều ấy tôi biết được qua thành viên chủ trì cuộc họp đó đó là anh Chu Giang. Anh này khảo rất sâu về luận văn đó và anh sâu ngược lên về nhiều chuyện khác nữa và anh viết trên tờ Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh anh đặt vấn đê phải kiềm tra lại khoa văn Đại học Sư Phạm vì sao lại đào tạo ra cái luận văn như thế. Tôi chưa được đọc trong nội dung ấy tức nhiên là phức tạp, mỗi người một cách đánh giá nhưng tôi nói rằng nếu như nội dung ấy đúng như anh nói thì nó phạm phải một điều mà tôi cho là không thể giải thiêng được và xúc phạm đến Hồ Chí Minh, xúc phạm nhiều chân lý, nhiều điều đáng lẽ phải tôn trọng. Đối với tôi việc giải thiêng Hồ Chí Minh thì tôi không chấp nhận được và tôi nói nếu sự thực như thế thì hội nhà văn nên kiến nghị với Bộ Giáo dục về việc phải xem lại cái nội dung của luận văn đó chứ tôi không bao giờ nói công an cả. Câu chuyện này tôi biết ở trên họ đã bắt đầu “động” rồi đấy. Sắp tới báo chí nó sẽ xuất hiện.” 
Theo những thông tin mà chúng tôi có thì Giáo sư Phong Lê là một thành viên trong hội đồng xem xét trường hợp luận văn này và nó sẽ bắt đầu trong thời gian ngắn sắp tới.”
(hết trích)
Cả một nền truyền thông của đảng cộng sản Việt Nam cũng như GS. Phong Lê, chưa hề đọc văn bản của người ta, không dám in công khai bản luận văn cho bạn đọc đối chứng, chỉ nghe hơi nồi chõ mấy đoạn trích bị cắt xén trong bản luận văn thạc sĩ Nhã Thuyên nơi bài báo của ông Chu Giang, rồi vội vàng kết tội chết người cho nhà khoa học trẻ, thì việc làm này đã phạm vào luân thường đạo lý tối thiểu của con người, mắc vào tội vu cáo, tội ăn gian nói dối rồi đó.
Đưa bản luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên ra tòa buộc tội mà không hề dẫn chứng, không hề trưng ra chứng cớ nguyên trạng, chỉ cắt một tí móng tay, trưng ra một sợi tóc của bản luận văn rồi kết tội bản luận văn và chính Nhã Thuyên mắc tội lật đổ đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, phỉ báng lãnh tụ… thì việc làm này có khác gì các ông lấy hai bao cao su đã dùng rồi để buộc tội tuyên truyền chống chế độ xã hội chủ nghĩa cho tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ vừa qua?
Cả một nền truyền thông hè nhau đánh tráo khái niệm. Luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên nằm trong thể loại nghiên cứu khoa học, dùng khoa học để khảo sát một hiện tượng văn học, các ông lại dùng chính trị để làm hệ quy chiếu quy kết một văn bản khoa học là hoàn toàn chống lại phương pháp luận Marxism.
Chủ nghĩa Marx từng chỉ ra kinh tế là hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc xã hội. Thượng tầng kiến trúc gồm có chính trị, khoa học, văn học nghệ thuật… Nằm chung trên một mặt bằng của thượng tầng kiến trúc, khoa học, văn học, tôn giáo, triết học… tồn tại độc lập với chính trị. Việc các vị nhân danh Marx để đồng nhất khoa học cũng là chính trị, văn học cũng là chính trị, thậm chí các vị còn bảo văn học, khoa học, tôn giáo, triết học… đều là đày tớ của chính trị, với khẩu hiệu “ văn học phục vụ chính trị” là những quan niệm phản Marxism.
Dùng vũ khí chính trị để đàn áp một đề tài khoa học như việc báo Nhân Dân và các báo lớn nhất nước vừa làm để trấn áp, kết tội một luận văn khoa học của Nhã Thuyên là một hành vi chống lại chủ nghĩa Marx của những người tự xưng là cộng sản, tự xưng là Marxism, rõ ràng là một việc làm không chính danh, không đàng hoàng, không tử tế của các thế lực bảo thủ toan “gây ra một cơn bão trong tách trà” để cốt ý gây rối, phá hoại con đường đổi mới của đất nước trong những tháng ngày nước sôi lửa bỏng giặc ngoai xâm đang lăm le xâm chiếm biển đảo và đất đai Tổ Quốc hôm nay (!)
Một lần nữa, chúng tôi mong nhà khoa học, nhà văn, thạc sĩ Nhã Thuyên hãy bình tĩnh và thầm cám ơn hai ông Chu Giang & Phong Lê, cùng cám ơn cả hệ thống truyền thông phản biện chứng (chống lại biện chứng pháp Marxism, triệt tiêu đối lập, triệt tiêu phản kháng, độc tôn chính trị, độc tôn chân lý) đã giúp cô (cháu) thành hiện tượng nổi tiếng vào bậc nhất trong lịch sử khoa học và văn học Việt Nam đương đại, giống như chỉ mình cô (cháu) đã làm ra cả một phong trào Nhân Văn Giai phẩm đời mới.
Trần Mạnh Hảo xin chúc mừng Nhã Thuyên; và nhân đây, chúng tôi xin nhờ chú em kết nghĩa ngày xưa là nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa một việc nhỏ như con thỏ: nhờ Khoa ra ngay chợ hoa Ngọc Hà mua dùm anh Hai một bó hoa thật đẹp, rồi tìm đến nhà tặng Nhã Thuyên dùm anh Hai với nhé! Xin cám ơn…
Trần Mạnh Hảo
Sài Gòn ngày 08-8-2013 
nguồn: Email Thuan Nguyen

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: