Vũ Thất

Bảo Bình 1

Hà Kỳ Lam: CHU MOM RÂY

CHU MOM RÂY

Hà Kỳ Lam 
Chiều thứ bảy.
Ông Bân và một người khách từ xa đến đang ngồi bên chiếc bàn cạnh bếp. Nếu không cần phải trịnh trọng, ông Bân vẫn thích tiếp khách ở khu vực này trong nhà, vì ông cảm thấy đầm ấm, thân mật hơn căn phòng khách tan loãng, khách sáo và lạnh lùng; huống hồ khách là ông Tuất chứ chẳng phải ai xa lạ. Ngày xưa, trong quân ngũ, họ vừa là đồng đội, vừa là thầy trò. Ông bà Tuất từ mãi tận tiểu bang Florida lái xe mười tám tiếng đồng hồ đến thăm người thầy tiểu đội trưởng cũ của mình.
Bà Bân nãy giờ loay hoay trong bếp xào vội một đĩa đồ nhậu, vừa bưng ra đặt giữa bàn:
– Hai anh em lai rai vài chai bia để lót lòng trong khi chờ ăn cơm tối.
Ông Tuất, với lời lẽ và thái độ “biết trên biết dưới” cố hữu, tươi cười nói:
– Cám ơn bà chị. Hai bà tham gia với tụi này cho vui.
– Được rồi chú. Để tụi này vừa làm bếp vừa tâm sự cũng vui.
Mười lăm năm rồi, từ ngày “gãy súng” tháng Tư 75 đến giờ, hai thầy trò mới gặp nhau, người này không biết người kia ở phương trời nào. Mãi cho tới cách nay vài tháng tình cờ ông Tuất tìm được tung tích gia đình ông anh bà chị nuôi ngày xưa thường hay đỡ đầu cho “thằng em nợ nần kinh niên” này. Nếu có những cuộc tái ngộ của những người không liên hệ ruột thịt mà vẫn gây cho đôi bên những bồi hồi, mừng tủi, thì trường hợp của đôi người bạn cũ này, ông Bân và ông Tuất, là một. Họ từng chia xẻ gian khổ, hiểm nguy, từng san sẻ tất lòng với nhau, và trong một hạn độ nào đó, có thể nói cùng chia cơm xẻ áo cho nhau. Và bây giờ họ gặp lại nhau, như hai hột gạo trên sàn qua cuộc chiến năm xưa. Nhưng mối thâm tình của họ vốn đã đặc biệt lại càng đặc biệt hơn vì cái gạch nối ngộ nghĩnh giữa họ là Lisa.
Sáng nay, lúc bước chân vào nhà, được trông thấy Lisa, một dáng dấp cao, cân đối, mắt to đen, da ngăm ngăm “màu nhiệt đới,” ông Tuất ngẩng người trong giây lát và thấy khó hình dung lại đứa bé gái lọ lem khoảng một tuổi mà mình bồng ẵm leo vội lên chiếc trực thăng tản thương ở một bìa rừng thưa cách nay mười mấy năm. Hôm nay ông Bân thấy lòng vui khác thường, vì gặp lại người bạn cũ, người đệ tử quý của mình ngày xưa. Đành rằng ngày thứ bảy hằng tuần là ngày ông ta vẫn thấy vui vì là ngày nghỉ xả hơi sau một tuần cày để trả nợ áo cơm, và là lúc ông ngồi nhàn nhã nâng chén chú chén anh với bạn bè, người quen, nhưng “ai tri âm đó mặn mà với ai”; và dễ thường mười mấy năm nay ông chưa có một ngày vui thật sự như hôm nay. Ông Bân thấy cao hứng nên uống nhiều hơn mọi lần. Ông Tuất cũng vui không kém. Hai người đàn ông chênh lệch nhau vài tuổi, và đều đã bước qua cái lằn ranh của tuổi năm mươi. Hai mái đầu đã ngả màu muối tiêu đang có nhiều chuyện để kể cho nhau nghe, nhiều kỷ niệm để nhắc lại với nhau. Điều quý báu là cùng chung những kỷ niệm. Nếu không cùng chung vùng trời đó người ta sẽ thiếu hẳn gạch nối quan trọng.
Chợt Lisa xuất hiện, phục sức và trang điểm lộng lẫy. Cô gái bước đến bên bà Bân, nói khẽ với bà một điều gì. Bất giác ông Tuất thốt lên:
– Chào Miss Kontum!
 Cô gái quay lại, với nụ cười lộ những chiếc răng đều đặn và trắng muốt, và đôi mắt mở tròn xoe ra chiều ngơ ngác. Ông Bân tiếp lời:
– Chú Tuất muốn nói con giống như hoa hậu xứ Nam Dương đấy.
– Ồ, con cám ơn chú.
 Lisa chào mọi người để đi dự tiệc cưới của một người quen. Ông Tuất nghĩ có lẽ mình đã nói hớ một điều gì mà gia đình ông bà Bân đang muốn giấu kín đối với Lisa. Không thấy họ nói gì thêm, ông Tuất không dám hỏi thẳng vấn đề. Ông nói:
– Cháu Lisa nói tiếng Việt khá quá. Đem cháu qua đây lúc còn bé mà anh chị dạy được như vậy thật quý.
Bà Bân nói:
– Hai đứa đều nói rành tiếng Việt, vì ở nhà tụi tôi bắt chúng phải nói tiếng Việt với mình.
 Bà Tuất hỏi:
– Cháu Thu năm nay chắc lớn lắm, hả chị?
Bà Bân đáp lời bạn:
– Thấp hơn Lisa. Cháu năm nay 22 tuổi. Nếu chú thím đến tuần trước thì đã gặp cháu rồi. Hè cháu mới về lại.
Ông Tuất có vẻ nghĩ  ngợi một lúc, đoạn nói:
– Chắc cháu Lisa nhỏ hơn cháu Thu khoảng ba tuổi.
 Ông Bân làm vẻ hơi lơ đãng:
– Ừ, chúng tôi làm giấy khai sinh cho cháu Lisa theo phỏng đoán như thế.
Ông Tuất hỏi ông Bân:
– Hồi nãy có lẽ tôi đã nói hớ một điều gì với cháu Lisa, và anh đã lái câu nói qua chỗ khác thì phải?
– Chúng tôi chưa cho cháu nó biết gì về gốc gác của nó cả. À, mà tôi cũng sơ ý đã không nói gì với chú về việc đó.
Cả hai người đàn ông đều im lặng trong giây lát, và mỗi người bỗng thấy mình trở về những giờ phút của một ngày mùa hè lâu lắm rồi, trên một dốc núi tại tỉnh Kontum bên quê nhà. Có điều khác biệt là dòng hồi tưởng của hai người nằm trong hai mẫu đậm nhạt khác nhau. Khúc phim dĩ vãng trong ký ức ông Tuất ngắn gọn, vì chỉ kết bằng những sen đại cương hay chính yếu, giống như những hình ảnh thoáng qua nhanh đi kèm bản tin thời sự tóm tắt trên một đài truyền hình. Thật ra, chẳng có gì nhiều để ông Tuất phải nghĩ ngợi hay xúc động với mớ hình ảnh bàng quan của một đoạn đời trôi qua như nước dưới chân cầu. Với ông Tuất, điều hồi tưởng chỉ vỏn vẹn là hoàn cảnh thường tình của tên bay đạn lạc khiến người tiểu đội trưởng của mình không nở làm ngơ với một con gà con mất mẹ, hãi hùng, ngơ ngác giữa vùng giao tranh vừa dứt. Trung Sĩ Bân đã xin phép thượng cấp nuôi đứa bé gái khoảng một tuổi mà mẹ là một thường dân sắc tộc Djarai vừa bị tử thương vì làn đạn vô tình của hai phe giao tranh. Và Trung Sĩ Bân đã phái binh nhất Tuất bồng đứa bé côi cút lên trực thăng tản thương cùng một mẫu giấy ghi mấy dòng vắn tắt của mình bảo vợ chịu khó chăm sóc đứa bé ít hôm, chờ cuộc hành quân kết thúc sẽ tính.
Ông Bân thì khác. Trong chuỗi ngày chinh chiến cũ của mình, không ít kỷ niệm, dù lý thú hay đau thương, mà ông vẫn thích chia sẻ với người khác, kể cả những ai sơ giao. Ấy thế mà những gì dính dáng đến gốc gác của Lisa vẫn là những gì chôn chặt tận đáy lòng ông, không một ai được biết, và càng không được biết là vợ ông. Dù đã mười mấy năm qua rồi, mỗi lần bất chợt những gì dính dáng đến Lisa được khơi dậy, ông Bân luôn luôn thấy lại rất rõ hình ảnh người phụ nữ sắc dân Djarai nằm chết sóng sượt trên một triền dốc, trong khi đứa bé khoảng một tuổi cứ cố bám sát thân thể mẹ đã giá lạnh. Cổ con bé đeo một sợi dây chuyền vàng y, có một tấm thẻ hình chữ nhật nhỏ xíu (cũng bằng vàng y) trên đó khắc hình một ngọn núi.
Hình ảnh đó lâu nay vẫn cộm trong lòng ông một cái gì không dễ chịu, một ray rứt, một dằn vặt không thôi. Và cứ thế, mỗi lần một hoàn cảnh nào đánh thức trong ông những ý nghĩ về Lisa thì cảm giác cộm kia lại trỗi dậy. Nếu ông Bân có thể chia sẻ niềm riêng tây đó với một ai thì có lẽ tình trạng sẽ đỡ tệ hại phần nào. Nhưng không thể được. Không một ai đủ gần gũi để ông ký thác điều bí mật éo le về một phần đời của mình. Người gần gũi là bà Bân, nhưng lại quá “xa cách” trong loại tâm sự như thế, nếu không muốn nói là “dị ứng” nữa kia!
Với một ít men rượu trong huyết quản người ta dễ nói lên những gì mà ở một lúc khác người ta không đủ mạnh dạn để làm. Ông Bân cảm thấy điều đó vô số lần, nhưng không cảm thấy đủ thôi thúc để ông bộc lộ tim gan mình với bất cứ ai đối ẩm. Nhưng hôm nay thì khác. Lần đầu tiên trong cuộc sống nơi xứ người ông tìm thấy đúng lúc, đúng người để ông san sẻ cái tâm sự đè nặng trong lòng bao năm nay. Bà Bân vừa cùng bà Tuất đi đến một siêu thị gần nhà để mua vài món còn thiếu cho bữa cơm thịnh soạn chiều nay. Còn lại hai người tri kỷ, ông Bân nói:
– Chú Tuất à, gốc gác của Lisa là một điều giấu kín trong lòng tôi bao lâu nay. Tôi chưa hề hé miệng với một ai. Nỗi khổ tâm của tôi là một tổng hợp của bao nỗi dằn vặt: hối hận, mặc cảm lừa dối, lòng ích kỷ. Hôm nay anh em gặp lại thật là quí, và tôi muốn tâm sự với chú ít nhiều cho vơi bớt những gì không nói ra được với ai…
Ông Bân ngừng lại, nâng ly nhấp một ngụm bia, trong khi ông Tuất chăm chú chờ đợi.
– Lisa là dòng máu của tôi.
– Anh không đùa chứ?
– Tôi biết đó là một điều thật bất ngờ với chú. Thật ra, chẳng ai ngờ câu chuyện lại xảy ra như thế.
 – Nhưng còn một ngạc nhiên nữa là không ngờ ông anh kín miệng đến thế. Suốt bao năm tháng vui buồn đời quân ngũ mà anh không hề hé môi tâm sự với thằng em này một tí gì về chuyện thầm kín kia.
Cái nhìn hiện rõ nét tò mò dò hỏi của ông Tuất cho ông Bân biết người đệ tử ngày xưa của mình đang nóng lòng muốn biết “thiên tình sử” của mình sẽ hay ho hấp dẫn tới mức nào! Ông tiếp:
– Để cắt ngắn câu chuyện, tôi xin nói ngay rằng mẹ của Lisa là một phụ nữ người Thượng đã mang thai với tôi. Nàng tên là Rờmah Coi, một tên phổ thông của dân Djarai.
Và không cần ông Tuất hỏi gì thêm, ông Bân thấy có “bổn phận” tường trình lại ngọn nguồn câu chuyện lòng năm xưa của mình:
– Dạo đó chú chưa về tiểu đoàn mình. Cả đơn vị đang tham dự một chiến dịch kéo dài ròng rã bốn tháng liền ở mạn tây nam tỉnh Kontum. Chiến dịch mệnh danh là “Sóng Tình Thương,” một chiến dịch nặng về củng cố lãnh thổ và bình định các thôn ấp của các bộ lạc Thượng để tách họ ra khỏi vòng kiểm soát của đối phương. Có lẽ chú cũng biết, không gì nản bằng phải đi chiến dịch loại đó. Ở thế công, người lính bận rộn túi bụi, lo đối phó với hiểm nguy, với mọi thử thách của chiến trường, và ngày tháng qua đi rất nhanh –tuy rằng cuộc đời cũng dễ kết thúc chóng vánh! – rồi thôi, về thành phố, thị trấn “đập phá” cho đã, kẻo không có ngày mai. Còn cái loại công tác mà tiểu đoàn đảm trách trong vùng thâm sơn cùng cốc đó chẳng có gì là lý thú với những chàng trai như tụi mình hồi đó. Mỗi ngày là một chuỗi thời gian đều đặn, nhàm chán của các cuộc tuần tiểu, các tổ báo động đêm, canh gác, và của các công việc “phi quân sự” như đốn gỗ, dựng hàng rào, làm thợ mộc, thợ nề, vân vân. Tối nằm vò võ một mình trên võng, thả hồn về thành phố mơ những bóng hồng đô thị, hay vợ con ở nhà. Và chắc chú cũng không lạ gì sự khao khát đàn bà trong thế giới toàn đàn ông bị cô lập lâu ngày…
Ông Bân dừng lại, nâng ly nhấp một ngụm nhỏ chừng như để thấm giọng “ca” tiếp. Ông nhìn bạn mình và kể tiếp, nhưng cái nhìn của ông dường như hướng về một cõi nào trong quá khứ xa xưa:
– Những lúc rỗi rãi tụi tôi hay dạo qua các làng người Thượng trong thung lũng dưới chân ngọn đồi đóng quân của tiểu đoàn. Dù sao cũng là dịp đi “rửa mắt” với các bóng hình đen đúa của các thiếu nữ Thượng để đổi món ăn cho thị giác đỡ nhàm chán vì lúc nào cũng nhìn toàn đàn ông trong quân phục tác chiến và súng đạn. Thế rồi, một hôm tôi gặp ngay tại cổng vào một ấp nhỏ một “giai nhân” trong đoàn con gái đi làm rẫy về. Trong các thôn ấp trong vung Polei Jarsieng trùng điệp xanh thẳm đó tôi chưa thấy một thiếu nữ nào xinh xắn như thế. Thân hình cô ta cao hơn hầu hết các cô gái khác, da khá trắng so với người Thượng. Đặc biệt là cặp mắt thật tương phản với đồng loại của nàng, không đờ đẫn mà lanh lẹ, cộng thêm một vẻ ngơ ngác rất “mán rừng.” Dĩ nhiên đôi bàn chân quanh năm di chuyển không giày dép phải phát triển ngoại khổ, nhưng hình ảnh cặp đùi ẩn hiện qua làn váy bằng vải đen tự dệt, đôi cánh tay trần khỏe mạnh, đôi gò ngực căng phồng không che kín hết trông rất bốc lửa đối với đám lính tráng lâu ngày không gần đàn bà. Sau ba lần gặp gỡ nữa dưới suối, nơi dân làng vẫn thường tắm giặt khi đi làm rẫy về, tôi quen cô ta nhiều hơn, và tôi biết tên cô ta là Rờmah Coi. Nàng là một thiếu nữ hơ hớ chưa chồng. Tôi thấy rõ nàng thích tôi hơn các người lính khác. Rờmah Coi nói tiếng Kinh khá trôi chảy, dù không loại hết được cái giọng lơ lớ của người miền núi. Tôi chẳng giấu diếm gì về gia cảnh của mình, và đã cho nàng biết tôi có vợ và một con. Có lẽ khi người ta không đặt sự quen biết với một phụ nữ thành vấn đề tha thiết thì người ta dễ thành thật, dễ phớt tỉnh, và oái oăm thay, chính vì vậy mà dễ trở nên khả ái, quyến rũ hơn là một thái độ thận trọng, đóng kịch vì lo ngại đủ điều.
Có thể điều đó đúng một cách tổng quát, và không áp dụng được với người thiếu nữ Thượng này, hay đó cũng là lý do nàng mê tôi, tôi thật không biết nổi, nhưng Rờmah Coi đã nói, “anh có vợ em cũng thương.” Lời nói như gáo nước lạnh xối vào lưng tôi. Thế là nghĩa gì? Người Thượng đâu có “chịu chơi” yêu suông, yêu để mà yêu? Hay là nàng bày tỏ ý định sẽ “bắt” tôi? Tôi được biết tục lệ cưới gả của các bộ lạc Thượng ở vùng này rập khuôn theo chế độ mẫu hệ; người đàn bà là chính trong cuộc sống xã hội và gia đình, người đàn bà đi cưới chồng, v.v… Nhưng nỗi lo sợ của tôi là mình có thể bị nàng thư, bỏ bùa, để không về với vợ con được. Tôi đã nghe nhiều về huyền thoại thư của người Thượng. Vì thế, bẵng đi cả hai tuần tôi không dám đi ngang ấp của Rờmah Coi. Cuối cùng, một phần vì bạn bè chế nhạo nỗi lo sợ viển vông của mình, một phần vì đàn bà là một “xa xí phẩm” hiếm quý đang mời gọi, tôi gạt bỏ hết những lo sợ và tiếp tục tìm gặp nàng. Điều tôi nhắm tới là thân thể của một thiếu nữ thiểu số “sạch nước cản”, chứ chẳng phải tình yêu gì ráo. Mùa gieo trồng vừa chấm dứt; Rờmah Coi không đi ra nương rẫy mỗi ngày, mà chỉ quanh quẩn ở nhà phụ giúp cha mẹ dệt vải, đan rổ rá, và làm các công việc lặt vặt khác. Nhờ vậy tôi dễ gặp nàng hơn. Tôi hay hẹn nàng ngoài suối nước, hoặc trên nương rẫy gần làng để tán tỉnh bằng những câu chuyện không đâu vào đâu. Nhưng rõ ràng Rờmah Coi lại thấy thích thú với những chuyện trò như thế. Dường như chỉ cần được nói chuyện với tôi và nghe tôi nói đã là hạnh phúc đối với nàng, dù lắm khi nàng chẳng hiểu tôi nói gì. Tôi bỗng thấy thương hại nàng, cũng như tôi vẫn thương hại đồng bào nàng, những bộ lạc Thượng khốn khổ từ mấy nghìn năm tới giờ. Ai đó đã từng bảo: từ thương hại đến tình yêu chẳng bao xa. Tôi nghiệm đúng. Trong một chừng mực nào đó, tôi đã yêu Rờmah Coi. Tuy nhiên tôi vẫn thèm khát nàng.
Một lần, trong một đám ngô rậm rạp, tôi đã đè nàng xuống đất, đưa tay tháo hết chiếc váy, “thọc” tay vào cái vùng kín đáo nhất của thân thể một người con gái, quyết nếm cho bằng được hương hoa miền núi. Trong cơn dẫy dụa của thân thể đàn bà bị chế ngự bên dưới, tôi bỗng hiểu được vì sao người ta hiếp dâm. Một khoái lạc điên cuồng! Nhưng tiếng kêu khóc của nàng làm tôi bỗng chùn bước. Một phần nào đó vì tôi cũng yêu nàng, và phần khác, tôi sợ bị dân làng phát giác. Chắc chú còn nhớ, vào thời đó những vi phạm liên quan đến sắc tộc thiểu số thường dễ bị trừng phạt nặng nề, vì chính phủ đang muốn lấy lòng người Thượng. Tôi buông tha nàng lần đó. Rờmah Coi vẫn thường bày tỏ nỗi lo sợ bị đuổi ra khỏi buông làng nếu nàng bị chửa hoang. Nàng nói luật lệ của người Djarai từ xưa đến giờ vẫn cứng rắn như thế đối với đàn bà con gái bị lên án trắc nết, lăng loàn. Nhưng chưa ăn được trái chín thì vẫn thèm. Tôi rắp tâm làm nàng xiêu lòng, chẳng cần lo đến hậu quả cho nàng. Người Thượng vẫn một mực trọng ân nghĩa và hay cả nể. Tôi nghĩ đến một món quà – một món quà chẳng đáng giá bao nhiêu nhưng là một giấc mơ thần tiên của người dân Thượng. Người Kinh có thiếu gì cách đi chinh phục, tôi ngẫm nghĩ một cách đắc ý. Thế là một hôm nhân sắp được về thành phố ít hôm để thăm gia đình, tôi gợi ý với Rơmah Coi về một món quà. Tôi đã muốn làm một ngạc nhiên cho nàng, nhưng sợ không đúng sở thích người nhận, món quà sẽ đâm phí đi, nên đành “bật mí” để thăm dò ý thích của đối tượng.
– Nếu được nhận một món quà thì Rờmah Coi thích cái gì nhất?
 Nàng cười chúm chím, đôi mắt như cũng cười theo và ánh lên một sôi nổi đang dấu trong lòng. Tôi đoán biết một nỗi vui, một náo nức trong lòng nàng lúc đó, nhưng nàng còn chần chừ chưa nói ra. Tôi nói:
– Em thích đồng hồ đeo tay không?
– Đồng hồ em cũng thích, nhưng em thích nhất là sợi dây chuyền mà các cô người Kinh hay đeo ở cổ. Nó có một bức tượng nhỏ hình Phật hay Chúa. Nhưng người Thượng như em thì tin ở các vị thần núi, nên em mơ ước có một tượng nhỏ khắc hình đỉnh núi Chu Mom Rây.
 
Tôi quay nhìn ngọn núi Chu Mom Rây trong buổi chiều quang đãng hôm ấy. Chúng tôi đang đứng cách chân núi khoảng ba cây số đường chim bay. Với cao độ 1777 thước trên mặt biển trung bình, nó là ngọn núi cao nhất trong vùng bán kính ba mươi cây số. Nó ngạo nghễ, uy nghi, lẫm liệt chắn ngang lối về miền xuôi như làm một cái mốc phân cách đời sống đô thị ồn ào, náo nhiệt của các quận lỵ, thị xã đồng bằng bên kia đỉnh núi, với các thôn bản âm thầm, nhỏ bé, đơn sơ ẩn hiện đó đây giữa rừng già bên nầy dãy Chu Mom Rây. Về ngọn núi này, người Thượng có vô số huyền thoại. Rờmah Coi có lần kể cho tôi nghe câu chuyện về một trung đội lính Pháp mất tích. Chuyện do ông nội nàng kể lại cho con cháu nghe. Vào thời chiến tranh Đông Dương, một trung đội Pháp được lệnh chiếm lĩnh đỉnh Chu Mom Rây để thiết lập một trạm tiếp vận truyền tin. Trong mấy tháng đóng đồn trên đỉnh núi, lính tráng đã làm nhiều điều xúc phạm tới thần núi, cho nên thần núi đã trừng phạt bằng cách bắt giữ toàn trung đội, không cho xuống núi để về với gia đình. Vì thế khi trung đội được lệnh rút khỏi núi bằng đường bộ đã mất tích luôn. Bộ chỉ huy Pháp đặt giả thuyết là trung đội đã bị Việt Minh chận đánh và tiêu diệt hết. Tôi tin một trung đội Pháp có đóng trên đỉnh núi, vì chính mắt tôi trông thấy vết tích những công sự phòng thủ họ để lại khi tôi đem tiểu đội lên đỉnh đó trong một chuyến trực thăng vận để thám sát địa thế hôm đầu tiên tiểu đoàn đổ quân xuông thung lũng Polei Jarsieng. Tôi cũng tin trung đội Pháp có thể bị mất tích, nhưng vì Việt Minh chận đánh, diệt gọn hết, chứ không phải do một quyền lực siêu nhiên nào. Dù sao thì những truyền thuyết thần kỳ như thế cũng nói lên được sự sùng bái của người Thượng đối với núi Chu Mom Rây. Rờmah Coi mà có được bức tượng hình quả núi đeo vào cổ thì chắc là hạnh phúc lắm, vì nàng tin một vật như thế sẽ có tác dụng của một lá bùa hộ mệnh; thần Chu Mom Rây sẽ che chở cho nàng trong cuộc sống đường rừng đầy hiểm nguy, bệnh tật, chết chóc.
Tôi diễu cợt:
– Hình quả núi nào cũng giống nhau. Em đeo ngọn núi  này người ta tưởng ngọn núi kia. Nếu không biết em,  khi thấy tượng anh sẽ nghĩ đến ngọn Ngok Ling ở  vùng Dak Pek, vì nó còn cao hơn đỉnh Chu Mom Rây  này nữa.
Rờmah Coi chân thật giải thích:
– Khi mình nghĩ mình đeo hình núi Chu Mom Rây thì  thần núi cũng biết ngay.
Tôi hiểu nàng muốn nói rằng thần linh chứng giám được  lòng thành của con người. Để chìu ý nàng, tôi phụ họa:
– Anh đùa đấy, chứ các thần núi thiêng lắm, mình có  lòng thành kính thì các vị ấy đâu có bỏ mình. Anh sẽ làm đúng như em thích.
Khuôn mặt Rơmah Coi rạng rỡ nét vui mừng vì toại nguyện. Tôi bỗng thấy trong ý nghĩ của nàng một cái gì đại đồng trong tín ngưỡng của mọi dân tộc. Hình đức Phật, hình đức Chúa có chắc là thật sự giống như thế không? Không ai nói được. Nhưng cần chi. Cái quan trọng không phải là hình tượng, mà là phần hướng thượng của con người. Hình ảnh chỉ giúp hình tượng hóa đức tin. Như vậy, tôi đã cho Rờmah Coi một món quà. Và điều tôi ao ước đã xảy ra. Cái tình của người”sơn nữ phà ca” đó đối với tôi đã thấm nặng ân tình sau khi tôi thực hiện món quà ưng ý cho nàng. Không nỡ từ chối, thôi đành “nhắm mắt đưa chân”, Rờmah Coi đã hiến cho tôi cái giây phút quý báu nhất của đời con gái!Nhưng sau giây phút ái ân cuồng nhiệt với nàng lối trên bộc trong dâu, tôi bỗng thấy rõ hơn cái bỉ ổi của mình – hay của mọi thằng đàn ông? Tôi không thèm muốn nàng nữa. Tôi bước đến một tảng đá, ngồi hút thuốc. Tôi muốn hất ra xa cái thân thể mà mới đây vài phút tôi còn say xưa ngắm nhìn, còn tôn thờ, còn ao ước chiếm cho bằng được.
Nãy giờ ngồi im lặng theo dõi câu chuyện của ông Bân, giờ ông Tuất mới lên tiếng pha trò:
– Lính mà em! Em dại thì em ráng chịu, phải không, đại ca?
Ông Bân mỉm cười:
– Mà chú có công nhận lính tráng đi đến đâu là gieo rắc “giống nòi” đến đó?
– Nói hết thảy lính tráng thì không đúng, chỉ một số cao thủ như đại ca mới làm nỗi thôi!
– Thôi đi cha nội, rầu thúi ruột. Lỡ ham vui nhiều lúc lòng rối như tơ vò.
– Chẳng qua ông anh còn lương tâm nhiều quá, chứ mấy thằng trời đánh trong đại đội mình hồi xưa chúng tỉnh queo sau mỗi affair.
 – Đồng ý, chơi phải lì, phải có bản lĩnh, nhưng thú thật trường hợp tôi  khó xử lắm.
– Tôi không nói trường hợp Lisa, mà chỉ nhận xét chung vậy thôi. À, mà đại ca tiếp tục đi chứ. Rồi sự việc còn đi đến đâu nữa?
– Thì xong rồi, tôi nản quá, soạn thảo kế hoạch truy phong. Tôi ở lì trong đơn vị mấy ngày liền, không bước ra ngoài, không muốn gặp Rờmah Coi nữa. Thật ra thì mấy hôm sau cũng muốn mon men tìm em nữa, nhưng nhớ lời dạy của mấy sư tổ ăn chơi là đánh mạnh rút nhanh, chứ tham lam tiếc của trời thì thế nào cũng sa lưới, nên đang nghĩ cách cao bay xa chạy.
– Có chứng tích gì đâu mà sợ. Bộ anh sợ nó mang cái bầu vào đơn vị chỉ mặt tố cáo hả?
– Chứ còn gì nữa! Đó là sự việc đã xảy ra cho tiểu đoàn bạn – thằng 3/40 đóng ở Dak Sut năm trước. Một anh lính “ngứa tay” lôi xễnh một cô Thượng vào đám khoai mì bên đường để bóp nhũ hoa cho đỡ ghiền. Con nhỏ về mét với cha mẹ và trưởng làng. Hôm sau vị trưởng làng đem nạn nhân vào bộ chỉ huy tiểu đoàn trình nội vụ lên tiểu đoàn trưởng. Trừ các đại đội đang hành quân, quân nhân còn lại phải tập họp trước sân cờ để cô gái nhận diện thủ phạm. Mọi người đều đội nón lưỡi trai, còn anh lính “ngứa tay” thì nảy ra sáng kiến đội chiếc nòn sắt vào để may ra thay đổi được “tướng mạo quân vụ”, vì lúc làm hỗn với cô gái thì anh ta cũng đội nón lưỡi trai. Cô gái lướt qua từng hàng quân, và bỗng dừng trước người lính đội nón sắt đang đứng sâu giữa đội hình: “Cái ông đội cái nồi nầy!”
Ông Tuất bật một tràng cười lớn, đoạn nói:
– Đã đội nón sắt, đã chen vào đứng giữa đám đông, tránh đứng hàng đầu, hàng bìa, hàng cuối, vậy mà cũng không thoát!
– Chú thấy đấy, tôi phải lo sợ chứ. Nhưng số tôi hên, vì đúng năm ngày sau khi tôi “hái hoa” thì đại đội nhận lệnh thượng cấp giữa đêm khuya cấp tốc thu xếp để tờ mờ sáng hôm sau được trực thăng vận vào vùng hành quân mới. Cả đại đội không ai biết mình sẽ được ném vào chiến trường nào. Tôi thì chẳng hề bận tâm gì cả, chỉ thấy mừng là bất chiến tự nhiên thành, được trốn chạy một cách hợp tình và hợp lý, tuy rằng thời gian công tác có thể ngắn hạn rồi sẽ quay về chỗ cũ. Nhưng chú biết rồi, ở nhà binh đừng có cầm chắc chuyện gì cả; nói là đi công tác ít hôm rồi trở về thì chỉ nên mong như thế, chứ đừng đinh ninh sự việc sẽ diễn ra như thế. Tôi có linh tính là sẽ “đi tàu suốt”, và đó cũng là điều tôi mong. Y như rằng, xong công tác tăng phái, đại đội được điều động đi chỗ khác vì lúc này chiến dịch mà tiểu đoàn tham dự cũng gần kết thúc, và thượng cấp không muốn chôn chân một số lượng lớn binh lính ở Polei Jarsieng nữa…
Ông Tuất ngắt lời:
– Anh nói tăng phái cho ai?
 – Lần đó đại đội đổ xuống tận vùng nam Pleiku tăng cường cho thằng 1/40 đang quần thảo với địch chưa phân thắng bại.
– Trận đó dữ dội không?
– Khá nặng. Đại đội cũng hụt đi mấy mạng, nhưng trung đội mình thì vô sự.
 Ông Tuất gắp thức ăn bỏ vào chén của ông Bân và nhắc:
– Anh nhấm nháp một chút, chứ nãy giờ quên ăn, mãi kể chuyện.
Ông Bân ăn qua loa vài mẫu đồ nhậu người bạn vừa bỏ vào chén, đoạn đặt đũa xuống:
– Kể tới đoạn nào rồi nhỉ?
– Đến lúc anh “bye bye” người đẹp và không trở lại nữa.
– Thế là tôi quên khấy người con gái Thượng đó, quên như chưa từng biết một người như thế. Ký ức gạt bỏ dễ dàng và triệt để những gì “không lợi ích”, không sâu đậm! Chừng ít tháng sau thì chú được thuyên chuyển về đại đội, và bổ sung vào tiểu đội mình. Và bánh xe cuộc sống của tôi tiếp tục lăn quay, đi tới phía trước, chẳng dừng lại hay quay lui nhìn lại những gì mình bỏ lại phía sau. Nhưng rồi bỗng nhiên đại đội lại có dịp ghé lại Polei Jarsieng. Chú có nhớ cái lần mình đóng quân tạm cạnh vị trí pháo binh của chi khu Polei Krong không?
 – Từ trên đồi nhìn xuống xa xa có mấy làng Thượng phải không?
– Đúng. Thời điểm đó là vào khoảng một năm hay lâu hơn tôi mới có dịp trở lại, từ khi đi chiến dịch ở đó. Dĩ nhiên tôi nghĩ đến Rờmah Coi. Sáng hôm sau tôi cùng vài anh em trong tiểu đội mình – không có chú; chả hiểu lúc đó chú ở đâu tôi không gặp để rủ cùng đi – tản bộ xuống thăm “làng xưa,” cái làng nằm gần bộ chỉ huy chi khu nhất. Tôi cố tìm gặp người con gái một thời đã thu hút tâm trí tôi. Gặp vị trưởng làng tôi hỏi thăm về nàng, và được biết Rờmah Coi bị làng khai trừ, đuổi đi từ nhiều tháng nay vì tội chửa hoang. Nghe vậy tôi bỗng thấy mình mất bình tĩnh hẳn. Không thể là tôi. Có biết bao đàn ông con trai khác, bao người lính như tôi cũng thèm muốn nàng, và cũng có thể dan díu với nàng. Tôi chỉ đến với nàng có một lần qua đường thôi; tôi không tạo thành lối mòn! Tôi không dám hỏi gì thêm. Cặp mắt nghiêm nghị của gười chủ làng làm tôi ngại. Có lẽ do mặc cảm, chứ ngày trước ở đây tôi vẫn thấy cặp mắt ông ta hiền hòa. Mà hỏi thêm chỉ tổ gây nghi ngờ. Tôi cáo từ ông ta.
Gặp một anh dân vệ (thanh niên làng) tôi lại hỏi thăm về Rờmah Coi để phối kiểm. Tôi được biết tin tức nhiều hơn: nàng dan díu với một trung sĩ người Kinh, rồi có bầu, không cưới hỏi, bị trục xuất khỏi làng. Không nơi nương tựa, nàng sống nhờ trong một làng nhỏ gần biên giới Lào-Việt, và đã hạ sinh một bé gái. Vùng đó, nơi các đơn vị quốc gia chưa hề hành quân đến, mệnh danh là Vùng Tự Trị của Các Dân Tộc Miền Núi. Mấy tay lái buôn trong làng này hay qua lại vùng biên   giới mua bán đổi chác đã gặp nàng bên đó. Tôi chẳng cần biết “vùng tự trị” kia nằm ở đâu, vì không nghĩ có bao giờ mình sẽ tới  đó, nhưng những gì anh thanh niên này nói ra làm tôi quan ngại hơn. Linh cảm về một đứa bé do mình tạo ra, và về nỗi đau khổ  của một người do mình gây nên càng lúc càng mạnh hơn trong tôi. “Một trung sĩ người Kinh” thì chắc không ai khác hơn là tôi! Tôi lẳng lặng trở về đơn vị, nằm vắt tay lên trán nghĩ ngợi về những điều vừa thu thập được trong dịp đi thăm “làng xưa.” Làng xưa còn đó, nhưng người xưa đâu rồi? Tôi có trách nhiệm gì trong thảm kịch của cô gái kia? Có chắc là tại tôi không? Có chắc là tại một trung sĩ người Kinh không? Nhưng rồi đơn vị lên đường, bao ưu tư, trăn trở rồi cũng bay theo vó ngựa trường chinh. Tôi lại bận lo đối phó với những bất trắc của trận mạc, miệt mài với mồ hôi, bùn đất, bờ bụi của kiếp lính bộ binh. Và tôi quên hết mọi thứ khác; tôi phải quên, phải biết  quên. Như chú thấy đó, thân phận một người lính mà! Nhưng dường như Tạo Hóa muốn lá rụng về cội. Chú biết rồi, có ai ngờ cuộc đột kích của tiểu đoàn vào an toàn khu của đối phương nằm giáp ranh nước Lào lân bang lại là dịp cha con gặp nhau và lần cuối nhìn mặt cố nhân!
Người phụ nữ Thượng nằm chết trên triền dốc hôm đó mà chú thấy lúc đại đội ra lệnh chúng ta mở rộng vòng lục soát, chính là Rơmah Coi. Thoạt đầu, lúc nghe tiếng con nít khóc, tôi nghĩ chắc có thường dân ẩn náu đâu đây, bèn một mình bò đến gần để quan sát. Tôi thấy đứa bé trần truồng cứ bám sát thân thể một phụ nữ nằm bất động. Nhìn kỹ tôi thấy cổ đứa bé đeo một sợi dây chuyền vàng có bức tượng tòn teng trước ngực. Tôi quay lại gọi chú và thằng Hoàng yểm trợ để tôi bò lại gần xem xét tử thi và đứa bé. Nói cho ngay, trước lúc cuộc hành quân khai diễn, nhìn trên tấm bản đồ thấy vùng mục tiêu nằm sát biên giới Lào-Việt tôi bỗng có một ý nghĩ lạ lùng là biết đâu chẳng là vùng có một làng nhỏ mà mẹ con Rờmah Coi đang nương náu. Chính mối ám ảnh kia là quyền lực khiến tôi phải đến xem xét hai mẹ con người Thượng đó, chứ bình thường công việc như thế tôi giao cho các anh em khác làm. Vừa với tới tầm tay là tôi cầm ngay cái tượng xem. Đứa bé khóc thét lên, như chú chứng kiến hôm đó.
Trời đất! Hình một quả núi! Tôi không tin nổi. Thiếu gì tượng quả núi, và biểu tượng đó đâu có gì đặc thù để không trùng hợp. Nhưng cần một kiểm chứng nữa là xác quyết: người đàn bà nằm đó. Bà ta nằm nghiêng, một bên má áp xuống đất. Quên cả thận trọng của một quân nhân ở chiến trường, tôi khẽ đẩy cho thi thể lật ngửa. Khuôn mặt Rơmah Coi hiện ra rõ ràng. Tuy tiều tụy và tái nhợt, màu tái của xác chết, Rờmah Coi vẫn giữ được những nét dễ nhận. Tôi bối rối không biết phải làm gì. Nhưng có một điều tôi quyết định rất nhanh, là nuôi đứa bé. Không biết có phải do tự kỷ ám thị không, nhưng lúc quay lại nhìn mặt đứa bé tôi thấy cái phần nhân trung của nó giống của tôi vô cùng. Mãi đến bây giờ mỗi lần nhìn Lisa tôi vẫn thấy thế. Không biết chú có để ý điều đó không?
Ông Tuất nhìn chăm chú ông Bân và nói:
– Bây giờ anh nói ra, tôi hình dung lại thấy có vẻ đúng. Không biết có phải lại do tự kỷ ám thị không.
– Rờmah Coi nằm đó, máu nhuộm đỏ vạt áo trước ngực, đôi mắt nhắm nghiền như trong một giấc ngủ, và tôi xúc động đến lặng người. Không phải vì trông thấy người chết mà xúc động. Rờmah Coi không đáng phải đi xa bản làng như thế này để rồi nằm xuống không có cha mẹ, họ hàng bên cạnh. Tôi nghĩ nàng chẳng mấy tiếp nhận đứng đắn cái “vùng tự trị” kia. Tôi đã xô đẩy nàng đến đó. Không biết lúc sống nàng có oán hận gì tôi không, hay nàng đã tha thứ cho tôi, vì nghĩ rằng vì việc binh tôi phải sống nay đây mai đó, không làm chủ được tháng ngày của mình! Và không biết nàng có nuôi ước mơ sẽ gặp lại tôi để cho tôi thấy con đã lớn như thế nào? Tôi bàng hoàng mình đã gặp lại nàng trong trạng huống đau khổ này. Tâm trí tôi lúc đó ở trong một trạng thái tê dại, hầu như quên hẳn mình vừa trải qua những giờ phút căng thẳng của chiến trận. Tôi xin đại đội cho phép mang đứa bé về nuôi, và tôi đã nhờ chú ẵm nó quá giang trực thăng tản thương về hậu cứ tiểu đoàn. Chú và mọi người chỉ xem hành xử của tôi lúc đó là một nghĩa cử thuần nhân đạo, chứ đâu có biết vì thôi thúc của giông bão trong lòng mà tôi hành động. Tôi còn có cả ý định chôn cất Rờmah Coi cho phải đạo, nhưng phải dẹp bỏ ý nghĩ đó ngay vì tình hình hành quân không cho phép. Tôi chỉ còn biết tự an ủi rằng khi chúng ta rút lui dân làng sẽ trở về và chôn cất nàng đúng phong tục người Thượng.
Đêm đó, khi đơn vị rút ra khỏi vùng chiến địa và nghỉ đêm trên một ngọn đồi, tôi nằm trên võng thao thức rất lâu. Chiến trận vừa diễn ra ban ngày vẫn còn hằn trong tâm trí tôi, cũng như trong lòng tất cả mọi người đã tham dự, dù ai có từng trải chiến trường cách mấy đi nữa: những đồng đội bị thương, những đồng đội đã mất, những xác của đối phương, mớ vũ khí lấy được, v.v… Nhưng tâm trí tôi dừng lại ở hình ảnh Rờmah Coi nằm trên triền dốc, và ở hình ảnh đứa bé với sợi dây chuyền. Tôi tự hỏi có phải Rờmah Coi đã đeo sợi dây chuyền vào cổ con mình từ lúc mới sinh để tưởng nhớ đến tôi, hay nàng chỉ vừa đeo vào cổ nó lúc súng bắt đầu nổ dữ dội sáng nay, để mong thần núi Chu Mom Rây che chở cho nó, còn mình thì sao cũng được. Chẳng ai đoán nổi. Nhưng có một điều tôi biết chắc chắn là con nàng đã được an toàn với bức tượng quả núi Chu Mom Rây nơi cổ, còn nàng thì đã không may…
Cũng may mà Trời Phật đưa đẩy tiểu đoàn mình hành quân vào mật khu đó để anh gặp và đem đứa bé về nuôi. Nếu mẹ nó linh thiêng chắc đã an lòng nhắm mắt, vì biết được những gì anh đã làm. Tôi nghĩ Trời khiến lá rụng về cội, hay Trời cho tôi dịp chuộc lỗi với người xưa. Có điều tôi không hiểu là tại sao số mệnh lại bắt nàng phải hy sinh.
Ôi, làm sao hiểu được mọi lẽ huyền vi của Con Tạo. Hãy nghĩ rằng anh đã làm tròn những gì phải làm trong khả năng mình. À, có một điều tôi thắc mắc từ nãy giờ là anh bảo chưa hề cho chị biết Lisa là con anh; vậy anh đã nói thế nào để chị chịu nuôi cháu? Tôi bảo nhà tôi là trong lúc giao tranh tôi lỡ bắn lầm thiệt mạng một thường dân Thượng, và lương tâm cắn rứt khiến mình muốn nuôi đứa con thơ dại của bà ta để chuộc lỗi lầm. Nhà tôi vốn hay thương người, nên đâu nỡ từ chối một trường hợp thương tâm như thế.
– Té ra là như vậy. Anh là một soạn giả có hạng đấy! Chuyện đã qua gần hai mươi năm rồi, và Lisa đã khôn lớn như thế này rồi, và mọi sự trong cuộc sống gia đình tôi vẫn êm ả, nhưng tôi vẫn thấy mình chưa hoàn tất một cái gì; câu chuyện xưa chưa chung cuộc.
– Chắc anh băn khoăn chưa nuôi nấng Lisa nên người, trưởng thành?
Ông Bân lắc đầu:
– Không phải chuyện đó. Đúng như chú nói vừa rồi, tôi là một soạn giả. Về Lisa, mỗi người đọc một kịch bản khác nhau. Chú thì trước khi tôi kể chuyện này vẫn tưởng tôi nuôi cháu vì lòng nhân đạo. Nhà tôi cho đến bây giờ vẫn tin rằng tôi nuôi cháu vì nhận lãnh trách nhiệm đã gây ra cảnh côi cút cho một đứa bé. Còn chính Lisa thì không hề hay biết gì về gốc gác thật của nó. Vì thế mà lòng tôi lúc nào cũng thấy mình chưa hoàn tất…
Ông Bân ngừng nói mà ông Tuất vẫn còn thừ người một lúc, dường như đang theo đuổi ý nghĩ riêng của mình, và cuối cùng nói:
– Không biết có nên để cho những gì đã xảy ra và đã lắng xuống bên kia đỉnh Chu Mom Rây tiếp tục ngủ yên không?
Ông Bân châm một điếu thuốc lá, hít một hơi dài, nhả khói lên trần nhà và im lặng. Ông không có vẻ đăm chiêu, nhưng không ai nói được tâm hồn ông đã được yên tĩnh chưa.
Hà Kỳ Lam
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: