Vũ Thất

Bảo Bình 1

HOA THẠCH THẢO & MÙA THU CHẾT

1. Hoa Thạch Thảo và Mùa Thu Chết

SƯƠNG LAM PORTLAND

https://i0.wp.com/i195.photobucket.com/albums/z149/minh40/Mua%20thu%20la%20bay/Slide3-2.jpg

https://i1.wp.com/i195.photobucket.com/albums/z149/minh40/HoaTrongNhac/FORGET-ME-NOT-1__zpsb4d1175f.jpg

Hoa Thạch Thảo tím ngát một màu yêu thương

Nguồn: Youme,Lính thủy sưu tầm.
Hoa Thạch Thảo (Aster amellus L) thuộc họ Cúc (Asteraceae). Tại Việt Nam, người miền Nam hay gọi là Cúc Sao, Cúc Cánh mối, người Bắc gọi là Thạch Thảo.
Thạch Thảo hay mọc thành bụi, nhiều bông với cánh nhỏ xíu xoè rộng ra. Hoa Thạch Thảo có ba màu chính: tím, hồng, trắng. Thạch Thảo có nguồn gốc từ nước Ý, ngày nay được lai tạo thêm thành loại hoa cánh kép rất đẹp. Tại Châu Âu, Thạch Thảo tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp mềm mại, thanh tú, nữ tính. Đôi khi Thạch Thảo cũng tượng trưng cho sự chính chắn vì nó thường nở vào cuối Thu, khi mà đa số các loại hoa khác đã tàn.
Chẳng biết từ khi nào tôi đã yêu loài Thạch Thảo, loài cúc dại dễ thương này. Lần đầu tiên gặp một cụm thạch thảo ở nhà người bạn tôi đã thích ngay. Có lẽ, bởi màu tím dịu dàng của loài hoa này đã Thu hút tôi.
Sau này, một lần vô tình tôi nghe được Elvis Phương ca:
“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo,
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi”
Tò mò, tại sao người ta nhắc hoa Thạch Thảo trong bài hát “Thu buồn” này nhỉ? Sao không là hoa Cúc? là hoa hồng hay hoa gì khác mà là loài hoa bé nhỏ, loài hoa đồng nội này?
Và thật sự bởi có một truyền thuyết buồn mà lãng mạn về hoa Thạch Thảo:
Kể rằng ngày xưa ở một ngôi làng vùng ngoại ô có một đôi trai gái là Ami và Edible. Hai người này sống cạnh nhà nhau từ nhỏ và họ chơi với nhau rất thân.
Ngày tháng dần trôi, cô bé và cậu bé của ngày ấy nay đã trưởng thành. Edible giờ đây là một người có gương mặt khôi ngô, tuấn tú, dáng người cao cao và là tầm ngắm của biết bao cô gái trong làng. Nhưng anh không để ý tới ai cả vì trong lòng anh đã có hình bóng của người ấy, người con gái mà anh yêu chính là cô bé hồi đó bây giờ cũng đâu còn bé nữa đâu. Với làn da trắng, đôi môi mỏng, nho nhỏ, hồng hồng, xinh xinh cùng với mái tóc bồng bềnh màu gỗ nâu, những đường cong xoăn ôm lấy bờ vai nhỏ bé và khuôn mặt khả ái của Ami làm bao nhiêu chàng trai say đắm và mong ước có được trái tim nàng. Nhưng Ami chỉ đồng ý lấy ai thoả mãn được yêu cầu đó là đem về cho nàng một loài hoa lạ và nàng cảm thấy thích. Biết bao nhiêu chàng trai đã thử và đều lắc đầu bỏ cuộc. Không ai có thể tìm ra loài hoa mà nàng thích kể cả Edible người hiểu rõ tính cách của nàng nhất.
Ami và Edible thường hay cùng nhau vào rừng. Ami hái nấm còn Edible săn thú.
Vào cái ngày hôm ấy, lúc hoàng hôn khi mà giỏ nấm của Ami đã đầy và Edible cũng đã săn được một chú nai rừng. Hai người cùng nhau đi về, nhưng hôm nay họ ko về đường cũ như mọi khi nữa mà họ đã rẽ sang đường khác. Trên đường về, họ cùng nhau trò chuyện và ngắm cảnh rừng núi. Bỗng Ami nói lớn, gọi Edible và chỉ cho anh bụi hoa dại màu tim tím mọc trên vách núi cao: “Chính là nó, loài hoa ấy, Ami thích, rất thích”.
Edible nhìn lên bụi hoa rồi nói với Ami:
– Ami đứng đây chờ tôi, tôi sẽ hái xuống cho Ami
– Không, không được. Edible vách núi cao và nguy hiểm lắm
– Nhưng đó là loài hoa Ami thích, Edible sẽ lấy xuống cho Ami.
– Không, Ami không cho Edible đi.
Lúc đó, Edible nhìn Ami mỉm cười rồi dùng ngón tay trỏ cốc nhẹ vào trán Ami:” Ami ngốc, đứng đây chờ anh, anh sẽ quay trở lại, sẽ mang nó xuống cho Ami, sẽ mang hạnh phúc đến cho Ami mãi mãi”.
Nói xong anh từ từ leo lên vách núi ấy. Mặc cho Ami ngăn cản. Vách núi cao dựng đứng thật nguy hiểm không cẩn thận trượt chân thôi là mất mạng ngay.
“Được rồi, cuối cùng thì Edible cũng làm được” –  Edible nắm được bụi hoa trong tay quay xuống nói với Ami nhưng tại sao tự nhiên anh lại cảm thấy chóng mặt quá.
Sao dưới mặt đất bây giờ lại có nhiều Ami thế. Anh bình tĩnh lại, quay xuống nói với Ami: “Ami! Edible làm được rồi, anh làm được rồi nhé!”
Anh thả bụi hoa xuống cho Ami rồi sau đó tìm cách leo xuống. Lạ quá, đầu anh đau lắm, mắt không còn nhìn thấy gì nữa chóng hết cả mặt. Đau quá, anh không thể minh mẫn được nữa. Tay anh mỏi dần, chân mềm nhũn ra…
– Edible…..KHÔNG…..Ami hét lên khi thấy Edible đang rơi xuống, thả người trong không trung.
Anh quay mặt về phía Ami nói: “xin đừng quên tôi” rồi nở nụ cười mãn nguyện và anh đã đi xa xa mãi.
Ami ngồi đó, ngồi bên bờ vực thẳm, ngồi như người mất hồn, không nói, không cười tay cầm lấy bụi hoa tim tím ấy. Cô ngồi đó cho đến khi người trong làng vào tìm kiếm và đưa cô về.
Một mình cô về được thôi còn Edible thì giờ đã không về được nữa rồi. Ami không khóc, cô không ăn uống gì cả, suốt ngày chỉ lặng lẽ ngồi trong vườn chăm sóc cho bụi hoa tim tím ấy, bụi hoa khiến cho Edible không về được nữa.
Cứ như thế trong suốt một thời gian, cho đến một ngày cô đã chìm vào giấc ngủ dài, dài đến nỗi không bao giờ tỉnh lại và trong giấc ngủ đó chắc chắn 1 điều rằng cô và Edible đã gặp được nhau và họ là của nhau mãi mãi.
Sau khi Ami chết đi loài hoa tim tím ấy được người dân trong làng chăm sóc cẩn thận. Ai ai cũng thương xót cho đôi tình nhân trẻ.
Ban đầu họ đặt tên cho nó là Forget me not, sau nhiều năm và qua được trồng ở nhiều nước nó lại có những cái tên khác nhau như Muget De Mai (Pháp), Thạch Thảo (Việt Nam)…
Và những đôi tình nhân trẻ thường tặng cho nhau loài hoa này để rồi sẽ mãi mãi không quên nhau, sẽ luôn ở bên nhau cho dù là chết.”
Đó là câu chuyện tôi đọc được trên mạng. Giờ chẳng thể tìm ra đâu tình yêu lãng mạn như thế nhưng sao vẫn cứ thích.
Bài hát “Mùa thu chết” có lẽ cũng dựa vào truyền thuyết này mà viết nên chăng? Cả bài hát là sự chia ly mãi mãi, là sự đau buồn.
“Mùa thu đã chết, em nhớ cho mùa thu đã chết
Em nhớ cho mùa thu đã chết…
Đã chết rồi, em nhớ cho”
“Em nhớ cho đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa
Trên cõi đời này, trên cõi đời này.
Từ nay mãi mãi không thấy nhau,
Từ nay mãi mãi không thấy nhau,
Từ nay mãi mãi không thấy nhau.”
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo,
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo,
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em.
Vẫn chờ em, vẫn chờ em, vẫn chờ em,
Vẫn chờ, vẫn chờ… đợi em”
Một trong những bản nhạc nói về mùa thu hay diễn tả mùa thu nổi tiếng ở Việt Nam vào thập niên 70 phải kể đến bài nhạc Mùa Thu Chết của Nhạc sĩ Phạm Duy. Lời viết trong bản nhạc phỏng theo một bài thơ ngoại quốc. Trong bản nhạc, ngay câu đầu tiên có nói đến hoa thạch thảo: “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo”. Hoa thạch thảo cũng được nói đến trong rất nhiều bài thơ văn hay nhạc khác từ trong nước đến hải ngoại.Vậy hoa thạch thảo ở Việt Nam và hoa thạch thảo trong bài thơ L’Adieu của nhà thơ Pháp gốc Ba Lan Guillaume Apollinaire, mà nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc cũng như trong bài thơ dịch của nhà thơ Bùi Giáng khác nhau, có tên Latin ra sao và thuộc họ hay gia đình nào?Bài viết ngắn này phân biệt hai loại hoa mang tên thạch thảo, một loại mang tên nguyên thủy ở miền Bắc Việt Nam và hoa thạch thảo có xuất xứ ở Âu châu. Những bàn luận về lý do và tình tiết làm sao bài thơ được ra đời cũng được thu thập và ghi nhận ở đây.

Mùa Thu Chết- Julie

Hoa thạch thảo ở Việt Nam
Hoa Thạch thảo hay hoa Cúc Cánh mối ở Việt Nam (Hình từ internet)
Hoa Thạch Thảo ở Âu Châu
(tài liệu của Thạch Thảo)
Hoa Thạch thảo Âu châu là thuộc cây Bruyère (tiếng Pháp) hay Heather (tiếng Anh) còn gọi là Common Ling hay Briar.Từ điển Sinh Học Anh Việt và Việt Anh, nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật dịch heather là cây thạch nam. Erica. Trung hoa gọi là Hồng phương bách hay thạch nam. Từ điển phổ thông Pháp Việt gọi là cây thạch thảo.Phân loại

Tất cả các loại thạch thảo đều trong gia đình Ericaceae, có một loại hoa thạch thảo duy nhất thuộc giống Calluna, ngoài ra là loại Erica. Dưới đây là một số giống Erica khác nhau trong hàng vài trăm loại khác nhau trên thế giới.

Loại Calluna vulgaris là loại thạch thảo thật sự (true heather), loại cây nhỏ, có hoa nhỏ hình chuông màu tím, hay hồng nhạt.

Loại Erica gồm nhiều giống khác nhau từ giống cây nhỏ mọc từng bụi nhỏ hoặc có thể là cây lớn.

 Erica arborea, treeheath, briar, brier: cây nhỏ ở vùng Địa Trung Hải có chùm hoa trắng hình chùy, thơm và có rễ cứng như gỗ được dùng để làm ống điếu hút.

– Giống Erica carnea, spring heather, winter heather, là loại cây hoa nhỏ mùa đông hay mùa xuân, ở Âu châu có hoa hình chuông màu đỏ hay hồng.

– Giống E. cinerea: loại thạch thảo có lá nhỏ, hoa hình chuông màu đỏ tím

– Giống E. tetralix, bellheather, cross-leaved heath là loại cây nhỏ lùn có hoa màu hồng

– Giống E. vagans hay còn gọi là Cornish heath là loại thạch thảo mọc cả bụi có hoa màu hồng hay trắng thường thấy ở cánh đồng hoang tại Cornish và đông nam Ấu châu.

– Giống E. lusitanicahay Portugese heath, Spanish heath mọc rậm rạp ở vùng bán đảo Iberia, có hoa trắng hồng.

– Giống E. perspicua hay Prince of Wales heath mọc rất nhiều ở Anh quốc và Nam Phi châu, có hoa màu trắng. Hoa dài và trông tựa như chùm lông của huy hiệu trên Coat of Arms của Hoàng tử xứ Wales- Anh Quốc, nên mang tên Prince-of-Wales heath

– Erica mammosalà loại Erica có nhiều màu nhất từ màu trắng, tím, cam đến màu đỏ. Hoa chuông đặc biệt dài hơn các loại Erica khác (1)

Calluna vulgaris

Erica lusitanica

Nếu nói về ý nghĩa của màu hoa thạch thảo thì thạch thảo trắng tượng trưng cho sự che chở, cho sự mong mỏi. Thạch thảo mầu hồng tượng trưng cho may mắn, và màu xanh lạt lavender tượng trưng cho cô đơn, sự hâm mộ thán phục. (2)

*

Bài thơ L’Adieu

Bài thơ nguyên tác của Guillaume Apollinaire (1880-1918) như sau.

L’Adieu 
J’ai cueilli ce brin de bruyère 
L’automne est morte souviens-t’en 
Nous ne nous verrons plus sur terre 
Odeur du temps brin de bruyère 
Et souviens-toi que je t’attends 

Bản dịch của Bùi Giáng

Bài thơ năm câu trên đây đã đuợc nhà thơ Bùi Giáng dịch như sau.

Lời vĩnh biệt (1) 

Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo 
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi 
Chúng ta sẽ không tao phùng đựợc nữa 
Mộng trùng lai không có ở trên đời 
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi 
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó …

Nhưng Bùi Giáng không phải chỉ dịch một lần. Nhà thơ Bùi Giáng đã khai triển và tiếp tục viết sang bài thứ hai.

(2)
Đã hái nhành kia một buổi nào 
Ngậm ngùi thạch thảo chết từ bao 
Thu còn sống sót đâu chăng nữa 
Người sẽ xa nhau suốt điệu chào 
Anh nhớ em quên và em cũng 
Quên rồi khoảnh khắc rộng xuân xanh 
Thời gian đất nhạt mờ năm tháng 
Tuế nguyệt hoa đà nhị hoán tam.

Và tiếp tục dịch thoát ý sang bài thứ ba.

(3)
Mùa thu chiết liễu nhớ chăng em? 
Đã chết xuân xanh suốt bóng thềm 
Đất lạnh qui hồi thôi hết dịp 
Chờ nhau trong Vĩnh Viễn Nguôi Quên 
Thấp thoáng thiều quang mỏng mảnh dường 
Nhành hoang thạch thảo ngậm mùi vương 
Chờ nhau chín kiếp tam sinh tại 
Thạch thượng khuê đầu nguyệt diểu mang. 

Bùi Giáng (1925-1998) dịch
(“Đi vào cõi thơ“. Bùi Giáng, trang 80-82, nhà xuất bản Ca Dao, Sàigon, Việt Nam.1969)
**
Và dưới đây là:
Mùa Thu Chết

Mùa thu chết là tên một bài hát của Phạm Duy sáng tác năm 1965, phổ từ bài thơ tiếng Pháp L’Adieu của Guillaume Apollinaire. Bài này rất nổi tiếng trong thập niên 70 tại Sài Gòn, và gắn liền với tên tuổi ca sĩ Julie (Quang). (3)

“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo 
Em nhớ cho: Mùa Thu đã chết rồi! 
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho 
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho 
Mùa Thu đã chết, đã chết rồi. Em nhớ cho! 
Em nhớ cho, 
Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! 
Trên cõi đời này, trên cõi đời này 
Từ nay mãi mãi không thấy nhau 
Từ nay mãi mãi không thấy nhau… 
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo 
Em nhớ cho: Mùa Thu đã chết rồi! 
Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo 
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em. 
Vẫn chờ em, vẫn chờ em 
Vẫn chờ…. 
Vẫn chờ… đợi em!” 
Mùa Thu Chết (Phạm Duy)

Tiếng hát Bằng Kiều:

*

Guillaume Apollinaire (28 August 1880-09 November 1918)

Vài hàng tiểu sử Apollinaire

Guillaume Apollinaire: tên thật Wilhelm Albert Vladimir Apollinaris Kostrowitcki, nhà thơ Pháp gốc Ba Lan, sinh ở Roma, Italy.
Nãm 1887 Wilhelm Kostrowitzky cùng gia đình mẹ chuyển về Monaco và học ở Monaco, Cannes. Từ nãm 1899 chuyển về sống ở Paris, làm thơ, viết báo với bút hiệu Guillaume Apollinaire, ông cộng tác với một số tờ báo như La Revue blanche, La Plume và Le Mercure de France. Năm 1903, ông lập ra các tờ tạp chí của chính mình Le Festin d”Esope (November 1903-August 1904) và La Revue immoraliste (1905).
Năm 1912 ông cùng bạn bè thành lập tạp chí “Les soirées de Paris” và làm chủ bút từ năm 1913. Cũng trong năm này in bài thơ nổi tiếng nhất của ông: Le Pont Mirabeau và trường ca Zone. Năm 1913 ông phát hành tập thơ Alcools (Rượu), và năm 1914 có xuất bản một số bài thơ viết theo kiểu tạo hình. Apollinaire mất ngày 9 tháng 11, năm 1918 tại Paris, Pháp (4). Mộ ông chôn ở nghĩa trang Père Lachaise ở Paris. (5)

Bàn luận về bài thơ L’Adieu
Apollinaire làm bài thơ L’Adieu làm sau khi đi thăm mộ con gái của Victor Hugo vào ngày 16 September 1913.

Arnaud Laster, Giáo sư văn chương tại trường Sorbonne (University of Paris III), trong một bài viết đã đặt câu hỏi: “Có phải Apollinaire đã viết bài L’Adieu này để tưởng nhớ Victor Hugo sau khi đi thăm mộ người con gái của Hugo tên là Léopoldine đã chết đuối cùng chồng ở biển tại tỉnh Villequier vào năm 1843″. Bài này có thể có liên hệ với bàiDemain, dès l’aube và là nguồn cảm xúc để Apollinaire sáng tác bài L’Adieu chăng? (6)

Trước khi tìm hiểu, cần phải nhắc đến bài thơ Demain dès l’aube của Victor Hugo
Bài Demain, dès l’aube là bài thơ Victor Hugo (1802-1885) đã làm vào năm 1847 (đề ngày 03 September 1847) đề tặng con gái đúng 4 năm sau ngày Léopoldine chết (04 September 1843). Sự mất mát lớn lao này đã làm Hugo đau khổ suốt một thời gian dài và ông đã không in thêm tập thơ nào nữa trong mười năm sau cái chết của Léopoldine.

Demain, dès l’aube… 

Demain, dès l’aube, à l’heure où blanchit la campagne, 
Je partirai. Vois-tu, je sais que tu m’attends. 
J’irai par la forêt, j’irai par la montagne. 
Je ne puis demeurer loin de toi plus longtemps.

Je marcherai les yeux fixés sur mes pensées, 
Sans rien voir au dehors, sans entendre aucun bruit, 
Seul, inconnu, le dos courbé, les mains croisées, 
Triste, et le jour pour moi sera comme la nuit. 
Je ne regarderai ni l’or du soir qui tombe, 
Ni les voiles au loin descendant vers Harfleur, 
Et quand j’arriverai, je mettrai sur ta tombe 
Un bouquet de houx vert et de bruyère en fleur. 
Victor Hugo
03 September 1847
(Les Contemplations– cuốn IV.1856)

Ngày Mai, Từ Rạng Đông

Ngày mai, từ rạng đông lúc trời đồng quê bắt đầu sáng 
Cha sẽ đi, Con thấy không cha biết con đang chờ cha 
Cha sẽ vượt qua rừng, cha sẽ vượt qua núi. 
Cha không thể nào xa cách con lâu dài hơn được nữa 
Cha sẽ đi, đôi mắt chãm chú vào suy nghĩ của cha 
Chẳng hề màng nhìn chung quanh, không màng nghe một tiếng động 
Một mình, không ai biết, lưng còng, hai bàn tay đan nhau 
Sầu buồn, và ngày đối với cha cũng tựa như đêm thôi. 
Cha sẽ không màng nhìn chiều vàng đang đổ xuống, 
Hay những cánh buồm xa đằng phía cảng Harfleur, 
Và khi cha đến nơi, cha sẽ đặt trên mộ của con 
Một bó hoa có ô-rô xanh cùng thạch thảo đang nở. 
(Sóng Việt phỏng dịch nghĩa)

Cái chết của Léopoldine ảnh hưởng mạnh trên Victor Hugo đến độ ông bị ám ảnh vì cô, ông tự hỏi bây giờ Léopoldine ở đâu sau khi chết. Ông tìm kiếm cô qua khung cửa tối tăm của vĩnh cửu, và ông cũng tìm kiếm cô ở ngoài cỗ quan tài, với hy vọng cô thấy có một bóng người đi qua cỗ quan tài đen mà ông tưởng tượng là được đóng lỏng lẻo, người đó chính là ông đã tìm đến bên cô trong bóng tối thiên thu.

“Dis, qu’as-tu fait pendant tout ce temps-là ? – Seigneur,
Qu’a-t-elle fait ? – Vois-tu la vie en vos demeures ?
A quelle horloge d’ombre as-tu compté les heures ?
As-tu sans bruit parfois poussé l’autre endormi ?
Et t’es-tu, m’attendant, réveillée à demi ?
T’es-tu, pâle, accoudée à l’obscure fenêtre
De l’infini, cherchant dans l’ombre à reconnaỵtre
Un passant, à travers le noir cercueil mal joint,
Attentive, écoutant si tu n’entendais point
Quelqu’un marcher vers toi dans l’éternité sombre ?
Et t’es-tu recouchée ainsi qu’un mât qui sombre,
En disant : Qu’est-ce donc ? mon père ne vient pas !
Avez-vous tous les deux parlé de moi tout bas ?”
[“A celle qui est restée en France,” 393]

Một đoạn thơ khác ông kể lể con gái chết là ông mất tất cả, ông đã chôn vùi cả ước mơ, cả hy vọng, cả tình yêu vào trong nấm mồ mà ông đào trong lồng ngực của ông:

“Qu’ai-je appris ? J’ai, pensif , tout saisi sans rien prendre ;
J’ai vu beaucoup de nuit et fait beaucoup de cendre.
Qui sommes-nous ? que veut dire ce mot : Toujours ?
J’ai tout enseveli, songes, espoirs, amours,
Dans la fosse que j’ai creusée en ma poitrine.
Qui donc a la science ? où donc est la doctrine ?
Oh ! que ne suis-je encor le rêveur d’autrefois,
Qui s’égarait dans l’herbe, et les prés, et les bois,
Qui marchait souriant, le soir, quand le ciel brille,
Tenant la main petite et blanche de sa fille,
Et qui, joyeux, laissant luire le firmament,
Laissant l’enfant parler, se sentait lentement
Emplir de cet azur et de cette innocence !”
[“A celle qui est restée en France,” 395]

Bộ Les Contemplations gồm 6 cuốn sách. Cuốn số 4 gồm 17 bài thơ làm riêng cho Léopoldine có đề tựa Pauca meae (vài câu thơ cho con gái tôi). Những bài đầu trong tập 4 ghi ngày làm 3 năm sau ngày con gái ông chết đuối với người chồng mới cưới cỡ 6 tháng. Sự mất mát Léopoldine là một sự mất mát quá lớn lao, nó ăn sâu vào suy nghĩ của V. Hugo làm ông suy tưởng về ý nghĩa của đời sống và tìm cách giải đáp bí ẩn của cái chết cùng thế giới vô hình. Tìm cách giải thích bí ẩn của cái chết có nghĩa là tìm lại được Léopoldine và giải đáp ðược thắc mắc về cái chết. Tuy Hugo đã không thành công trong việc nối kết được với thế giới vô hình, nhưng ông có lòng tin vào Thông linh học/Tâm linh học (Spiritiualism). Hơn mười năm sau cái chết của Léopoldine , sách đã ghi lại là ông đã tham dự nhiều lần vào ngồi bàn cầu hồn, và đã có lần người gọi hồn đã gọi được hồn Leopoldine lên gặp ông. Tưởng cũng nhắc rằng Victor Hugo được Đạo Cao Đài ở Việt Nam tôn sùng như là một trong ba vị thánh mà họ thờ phụng (Tam Thánh: Sun Yat Sen /Tôn Dật Tiên, Victor Hugo, và Nguyễn Bỉnh Khiêm).(7)

Bài thơ L’Adieu (và cả bài Le Pont Mirabeau) của Guillaume Apollinaire đã là đề tài bàn luận và làm tốn khá nhiều giấy bút cho những ai muốn phân tích và tìm hiểu thơ ông. Lý do vì Apollinaire làm thơ mà không hề bỏ dấu vào bài, thí dụ như dấu phẩy, dấu chấm, hay dấu ngoặc đôi (quotation-marks) tại mỗi câu thơ cần bỏ vào trong ngoặc đôi.

Vì thế khi đọc bài thơ không dấu L’Adieu của ông, hai câu chót làm độc giả phải phân vân không biết đó là do nhân vật với đại danh từ Je ở câu đầu vẫn tiếp tục nói hay là đó là lời trả lời của nhân vật thứ hai, được tạm thời bỏ trong ngoặc cho dễ hiểu như sau :

Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends”

Nếu như hai câu này đã ở trong ngoặc đôi thì rõ ràng là câu trả lời của nhân vật thứ hai:

“Mùi hương thời gian nhành hoa thạch thảo
Và cha nhớ rằng con chờ đợi cha”.
(Với lý luận người chết chờ người còn sống xuống âm phủ với mình chứ người chết làm sao trở lại trần gian như ông đã than ở câu trên).

Lối làm thơ mang vào trong ngoặc đôi của Victor Hugo rất quen thuộc vì ông luôn đóng vai người cha hỏi hay nói rồi trả lời thay cho con như thể chính người con gái nói với ông.

Kết luận

Tóm lại, liệu bài thơ L’Adieu có thể xem như là do Guillaume Apollinaire cảm tác và tưởng niệm Victor Hugo một cách gián tiếp sau khi thăm nhà mồ của Léopoldine và đọc bộ sáchLes Contemplations của Victor Hugo không?

Và nếu đúng như thế thì ba câu đầu của bài thơ L’Adieu có thể hiểu như là Apollinaire đã viết thay lời của V. Hugo để nói với con gái đã chết, và trong hai câu chót người con gái yêu của V. Hugo đã trả lời rằng cô mong muốn và chờ gặp lại cha cô ở thế giới vô hình? Hiểu như thế chúng ta sẽ không còn có thắc mắc cho câu chót trong nguyên tác “Et souviens-toi que je t’attends” và trong những bản dịch của nhà thơ Bùi Giáng.

L’Adieu 
J’ai cueilli ce brin de bruyère 
L’automne est morte souviens-t’en 
Nous ne nous verrons plus sur terre 
Odeur du temps brin de bruyère 
Et souviens-toi que je t’attends 
Guillaume Apollinaire

Và bài thơ mà Bùi Giáng dịch:

Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo 
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi 
Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa 
Mộng trùng lai không có ở trên đời 
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi 
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó … 
(Bùi Giáng dịch)

Có thể hiểu như sau:

Cha đã hái nhành lá cây thạch thảo 
Con nhớ cho, mùa thu đã chết rồi 
Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa 
Mộng trùng lai không có ở trên đời 
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi 
Và nhớ nhé con đợi chờ cha đó 
(Sóng Việt thay đại danh từ)

Hoặc có thể vì Appollinaire biết rằng V. Hugo tin vào Thông linh học, và Hugo đã có lần được tiếp xúc với Leopoldine qua bàn cầu hồn, thì chúng ta cũng có thể cho rằng Apollinaire đã viết thay lời cho V. Hugo nói chờ hồn Leopoldine hiện về thế gian để gặp ông: “Và con nhớ rằng cha chờ đợi con“:
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends
Mùi hương thời gian nhành cây thạch thảo
Và con nhớ rằng cha chờ đợi con.
(Sóng Việt dịch)

Cái khó khăn khi dịch một bài thơ Pháp ngữ sang Việt ngữ là những đại từ nhân xưng. Trong khi Pháp ngữ chỉ có một số chữ cho ngôi thứ nhất và thứ hai như je, me, tu, te, toi, moi, vous, nous, thì trong tiếng Việt đại từ nhân xưng rất phong phú; cách dùng những đại từ nhân xưng này như anh, em, cô, chú, ông, bác, dì, dượng, tôi, con, cháu, mày, tao, v.v�cho người đọc biết sự liên hệ thứ bậc, thái độ và tình cảm của những người giao tiếp với nhau. Khi dịch thơ nếu không hiểu biết rõ hoàn cảnh và thời điểm bài thơ được làm nên thì đôi khi sự sai lầm có thể xẩy ra.

Bài thơ L’Adieu mà Bùi Giáng dịch có thể là do cố ý của Bùi Giáng để tạo thành một bài thơ tình cảm nói về sự chia lìa của đôi nhân tình dù ông biết bài thơ nguyên tác có ý nghĩa khác chăng?

Và có thể nhờ do cố ý hay vô tình dịch như thế (dùng chữ ta, em, thay vì cha, con), mà bài thơ đã là nguồn cảm hứng cho nhạc sĩ sáng tác bản nhạc Mùa Thu Chết?

Không có Hoa Thạch Thảo thì làm sao có Lời Vĩnh Biệt,
Không có Lời Vĩnh Biệt thì làm sao có Mùa Thu Chết?

Hoa thạch thảo (bruyère) được nhiều thi sĩ mang vào thơ nhưng có thể nói rằng hoa thạch thảo đã được đời đời gắn liền với bài thơ Demain, dès l’aube của Victor HugovàL’Adieu của Guillaume Apollinaire (8).

Có phải chăng thu miền viễn đông,
Nơi có thạch thảo mọc ven sông,
Hoa chuông nho nhỏ vờn trong gió
Gợi nhớ thành sầu chĩu mênh mông?

NGUỒN: suonglamportland blog

 

2. APOLLINAIRE: CHỜ NHAU QUA CÕI CHẾT


kim thanh

 
1.
     Apollinaire (1880-1918) không phải là thi sĩ quen thuộc đối với độc giả Việt Nam  –và cả người Pháp trung bình– so với Lamartine hay Victor Hugo, chẳng hạn. Người ta biết ông nhiều qua bài “Le pont Mirabeau” phổ quát, dễ hiểu, loại trữ tình, bi ca (élégie), mà học sinh từ 4ème (đệ tứ) đều phải thuộc. Tuy nhiên, một bài thơ khác của ông cũng hay không kém, hoặc hơn, nhưng ít ai nhắc đến, trừ trong sách nghiên cứu  –nhất là ở Việt Nam, mặc dù đã được một ông nhạc sĩ lấy dịch làm thành ca khúc1.
     Đó là bài “L’adieu”. Sự vĩnh biệt, bởi mạo từ (article) l’. Chứ không phải Vĩnh biệt, “Adieu”  –thán từ (interjection) chia ly, như tựa đề một bài thơ văn xuôi của Rimbaud2. Đầu đề “L’adieu” tự nó báo trước sẽ kể về một chuyện tình buồn, chia lìa lứa đôi. Bài thơ rất ngắn, như sau:
          1  J’ai cueilli ce brin de bruyère
          2  L’automne est morte souviens-t’en
          3  Nous ne nous verrons plus sur terre
          4  Odeur du temps brin de bruyère
          5  Et souviens-toi que je t’attends  [tôi đánh số]
 
đã được hiểu, và dịch, từ trước đến nay bởi đa số độc giả như lời độc thoại của một nhân vật (nam) duy nhất:
          Anh đã hái cọng thạch thảo này
          Mùa thu đã chết em hãy nhớ
          Ta sẽ không thấy nhau nữa trên đời
          Mùi thời gian cọng thạch thảo
          Và em hãy nhớ rằng anh chờ em3 [tôi nhấn mạnh]
Bài thơ trích từ Alcools (Tửu thi, 1913), thi tập đầu tiên xuất bản của Apollinaire, gồm những bài đã đăng rải rác trên các báo từ 1898 đến 19124. Apollinaire, sống cùng thời với các họa sĩ lập thể, được xem như người tiên phong của phong trào Siêu thực, hô hào giải phóng thi ca, đi tìm “cái chưa biết” (l’inconnu), “ngôn ngữ mới” (nouveau langage) bằng những sáng tạo độc đáo, gây ngạc nhiên với hình ảnh táo bạo, lời thơ giàu nhạc điệu5. Tuy nhiên, ông không được André Breton, thủ lãnh phong trào, và văn học sử công nhận là một thi sĩ siêu thực chính hiệu, vì thơ ông tổng hợp nhiều thể điệu và thể loại khác nhau, kể cả tượng trưng (“Signe”, “Cors de chasse”). Như bài “L’adieu” trên, bề ngoài có vẻ “tự do” bởi xóa bỏ các dấu chấm câu (phát minh đầu tiên trong thi ca Pháp), thực ra chỉ là một trong những bài “ngũ cú bát ngôn” (quintil d’octosyllabes) với qui luật nhất định và cách hiệp vận bắt buộc A B A A B, từng gặp ở Baudelaire6.
                                        
                                                     
     “L’adieu” được đăng lần đầu trong báo Le Festin d’Ésope, số 2, tháng 12, 1903, cách đây (2007) 104 năm. Khởi thủy được viết dưới dạng đối thoại giữa hai người, với ngoặc kép, dấu chấm câu, một khoảng trống sau câu 3, và nội dung câu 2, 4 khác với bản hiện tại. Câu 1-3 dành cho người sống nói (chàng?), và 4-5 là của người chết hoặc sắp chết (nàng?):
          1  “Anh đã hái cọng thạch thảo này.
          Em hãy đặt nó trên tim em lâu hơn
          Ta sẽ không thấy nhau nữa trên đời.”
 
          “Em đã đặt hoa thạch thảo trên tim em,
          anh hãy nhớ rằng em chờ anh.”  [tôi đánh số và nhấn mạnh]
Hai câu 2 và 4 trên, thi sĩ thấy tầm thường, nên đã thay bằng Mùa thu đã chết em hãy nhớMùi thời gian cọng thạch thảo khi đăng lại trong Vers et prose, bộ XXXI, tháng 10-11, 1912, và nhờ vậy bài thơ bỗng biến hình, trở nên diễm tuyệt. Dấu ngoặc kép và chấm, phết bị bỏ, nhưng vẫn còn khoảng trống sau câu 3 để giữ lại thể đối thoại7. Bản in trong Alcools –cũng là bản chính thức, vĩnh viễn– nhập chung lời hai người, như ta thấy, để độc giả muốn hiểu, hoặc tưởng tượng, ra sao cũng được. Và chính cái mơ hồ, mông lung đó tạo cho bài thơ nét đẹp cô đọng tuyệt vời và điệu buồn man mác, ngất ngây. Vấn đề của độc giả Việt Nam là phải biết lai lịch và hiểu rõ nội dung bài thơ mới dịch đúng hai đại danh từ (pronom) jetu: anh trở thành em, và ngược lại.
     Đối thoại hay độc thoại không là thắc mắc đối với dân Pháp. Họ hiểu một cách tự nhiên, qua mạch thơ, rằng “L’adieu” kể về hai người xa cách nhau trên cõi đời này bởi cái chết, hơn là do mối tình tan vỡ: chàng vào nghĩa trang thăm nàng, cả hai tâm sự (dĩ nhiên chỉ trong tâm tưởng chàng, như những lời độc thoại miên man, không dứt), giữa cảnh thu tàn, đìu hiu và hoang dại với những cành hoa thạch thảo mọc quanh mộ.
     Và ta thử dịch lại, với khoảng trống tưởng tượng sau câu 3 –đã có trước kia– như lời đối thoại giữa hai người:
          Anh đã hái cọng thạch thảo này
          Mùa thu đã chết em hãy nhớ
          Ta sẽ không thấy nhau nữa trên đời
          Mùi thời gian cọng thạch thảo
          Và anh hãy nhớ rằng em chờ anh
 
     Ở tiếng Việt, khác với tiếng Pháp, câu cuối thay đổi cách xưng hô đột ngột như vậy làm độc giả bỡ ngỡ. Nhưng thay đổi rất hợp lý. Vì đó là ý của thi sĩ, ít ra từ lúc đầu, như ta biết. Và vì nếu chính chàng nói je t’attends (anh chờ em) sau khi bảo nous ne nous verrons plus sur terre (chúng ta sẽ không thấy nhau nữa trên đời) thì hóa ra tự mâu thuẫn, ngoại trừ chờ em ở một nơi nào bên kia thế giới. Mà dù bên kia thế giới, chàng cũng thể nói câu đó được. Phải là nàng. Em chờ anh, để tái hợp dưới chốn tuyền đài. Chỉ người chết mới chờ người sống. Ngược lại, là chuyện liêu trai.
     Có thể, đơn giản hơn, em chờ anh đến thăm em, tại nghĩa trang này, như Victor Hugo, trong bài Demain, dès l’aube…”, buổi sáng sắp đi viếng mộ con gái, Léopoldine, cũng nói cô chắc đang chờ ông8: Demain, dès l’aube, à l’heure où blanchit la campagne / Je partirai. Vois-tu, je sais que tu m’attends [] (Ngày mai, từ rạng đông, vào giờ mà cánh đồng phủ trắng / Cha sẽ ra đi. Con thấy không, cha biết con chờ cha)…
     Về “L’adieu”, vài nhà bình luận nêu giả thuyết rằng hai tình nhân chia tay vì hết yêu nhau. Có thể như vậy. Nhưng nghĩ cho cùng thấy không ổn. Vì vĩnh biệt là ra đi, một khởi hành mới, nhưng ra đi đâu phải lúc nào cũng có nghĩa là tình đã mất  –điều lại càng không xảy ra ở bài thơ này9. Mà giả sử tình đã mất và bắt buộc xa nhau trọn đời (sur terre) thật rồi thì còn tiếc nuối gì để phải thốt lên câu anh chờ em một cách kỳ quặc, nếu không nói lẩm cẩm như vậy? Rồi ta sẽ không thấy nhau nữa trên đời: không trên đời này, thì còn ở đâu khác, ngoài cõi âm?
     Một chi tiết cần nhắc tới –một lỗi văn phạm “quả tang”, rành rành– trong câu 2: L’automne est morte  [tôi nhấn mạnh]: Automne là giống đực (masculin), nhưng động từ est morte lại chia ở giống cái (féminin). Một cách cố tình, dĩ nhiên. Phải chăng thi sĩ muốn nhân cách hóa mùa thu và đồng hóa với người yêu, và như vậy, trong bài thơ, mùa thu đã chết (tức người yêu đã chết) mới có giá trị đặc biệt đến nỗi phải nhớ đến cùng với cọng thạch thảo? Tại sao không, vì trong một bài khác, “Signe”, ông cũng đặt Automne (A hoa) ở giống cái cùng với tĩnh từ éternelle, để dùng –chỉ hai lần trong suốt tập Alcools– như ẩn dụ cho nàng: Mon Automne éternelle ô ma saison mentale (Mùa Thu vĩnh cửu của tôi ôi mùa trí tưởng của tôi). Tương tự như Gérard de Nerval, trước ông, trong bài “El Desdichado” (Kẻ bất hạnh) tuyệt hay cũng đã gọi người tình khuất xa là étoile (vì sao): Ma seule étoile est morte, -et mon luth constellé / Porte le soleil noir de la Mélancolie (Vì sao duy nhất của tôi đã chết, và cây đàn tỳ bà lấp lánh của tôi / Mang mặt trời đen của nỗi Muộn Phiền)10.
2.
     Bài “L’adieu” đầy thơ đầy mộng, ít phổ thông này của Apollinaire đã được nhà soạn ca khúc Phạm Duy dịch ra, từ lâu, thành “Mùa thu chết” rất nổi tiếng trước đây, được nhiều người ưa chuộng:
          Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
          Em nhớ cho: Mùa Thu đã chết rồi!
          Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
          Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
          Mùa Thu đã chết, đã chết rồi
          Em nhớ cho, em nhớ cho
                        Đôi chúng ta
          Sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa
          Trên cõi đời này, trên cõi đời này
          Từ nay mãi mãi không thấy nhau
          Từ nay mãi mãi không thấy nhau
          Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
          Em nhớ cho: Mùa Thu đã chết rồi
          Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
          Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em
          Vẫn chờ em, vẫn chờ em
          Vẫn chờ… đợi em11 [tôi nhấn mạnh]
Theo thiển ý, nhạc rên siết, nghe thảm não. Nội dung nghèo nàn, hóa ra tầm thường. Lời ca xúc động thái quá, cho nên thành giả tạo (văn chương gọi là pathos), so với niềm đau nghẹn ngào, chơi vơi mộng ảo, làm tan nát cõi lòng, từ mỗi câu, mỗi chữ của “L’adieu”. Nhưng rõ ràng Phạm Duy đã dịch từ bài thơ, dù đôi chỗ ông phóng bút “quá tay”, thêm thắt hoặc bỏ đi vài chữ  –mà có lẽ ông không thấy tầm quan trọng– cho hợp với dòng nhạc và nhận thức riêng. Ông không phóng tác, lấy ý, hoặc gợi hứng theo, như chính ông và nhiều người vẫn nghĩ12. Điều này có thể được khẳng định dựa trên lý do: nếu không biết bài thơ, và nếu không bị đánh lừa, quyến rũ bởi giai điệu, người ta không chắc đã hiểu bài ca muốn nói gì với cụm thạch thảo, với mùa thu đã chết rồi, với hương thời gian tự nhiên gộp lại với nhau một cách vô cớ (gratuit) như thế. Thực vậy, nội dung “Mùa thu chết” không có gì khác với “L’adieu”. Cũng bấy nhiêu ý tình, bấy nhiêu từ ngữ, bấy nhiêu hình ảnh, bấy nhiêu sầu biệt ly. Ngoại trừ bài thơ ngắn, bề ngoài tưởng dễ, này đã chưa được hiểu đúng mức, hoặc chuyển ngữ một cách cẩn trọng. Ngoại trừ, trong bài ca, chữ ta, đối với em, trịch thượng, theo truyền thống “nam phiệt” (macho) của các thi nhạc sĩ Việt Nam –truyền thống cần xét lại dưới ánh sáng phân tâm học13 .
     Không ai bắt một nhạc sĩ, bị gò bó bởi cung bậc, phải dịch đúng bản chính. Càng không bắt phải hiểu một bài thơ như người khác, hoặc chính mình, hiểu (miễn sao có lập luận vững chắc), vì nếu ai cũng bình giảng một kiểu, thì còn gì độc đáo, hấp dẫn? Nhất là trong thơ của Apollinaire –khác với, chẳng hạn, của Victor Hugo “chân phương” hơn– người ta không thấy đâu biên giới giữa thực và hư, sống và chết, lý trí và con tim; tất cả xóa nhòa theo cảm xúc của thi nhân và của riêng từng người đọc, như ở bài “L’adieu” này14. Tuy nhiên, đã gọi là dịch, dù ít dù nhiều, dù thoáng dù sát, thì tối thiểu những nét căn bản của nguyên văn phải được tôn trọng, nếu không, bài thơ sẽ biến dạng, giảm giá trị. Ví dụ hai câu đầu của “Mùa thu chết”:
          Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
          Em nhớ cho: Mùa Thu đã chết rồi!
 
tuy được dịch –không phỏng theo– từ:
          J’ai  cueilli ce brin de bruyère
          L’automne est morte souviens-t’en
          (Anh đã hái cọng thạch thảo này
          Mùa thu đã chết em hãy nhớ)
vẫn có những điểm dị biệt quan trọng: thì quá khứ (passé composé) của động từ ai cueilli (đã hái), và chỉ thị tĩnh từ (adjectif démonstratif) ce (có thể hiểu là này hoặc đó hoặc cả hai, tùy theo cách diễn giải) biến mất trong Phạm Duy, để được thay bằng ngắt đi trống không và bất định quán từ (article indéfini) một (một cụm khác với cụm này lắm).
     Bài thơ mở ra trên một kỷ niệm  –điều, rất tiếc, không thấy có trong lời ca. Thử dựng nên một phân cảnh (scénario): thi sĩ nói chuyện với người khuất mặt, chỉ cho nàng cọng thạch thảo (này, hiện tại) chàng mới hái cầm trong tay –như cọng thạch thảo (đó, quá khứ) mà trước kia chàng đã hái, một lần nào, với nàng trong ngày cuối thu–  để nhắc nhở nàng cả hai sự việc cùng được hàm chứa trong đại danh từ en (= điều đó): hái cọng thạch thảo và mùa thu đã chết đều thuộc về quá khứ và liên quan mật thiết với nhau (brin de bruyère đi liền với l’automne est morte, và souviens-t’en đứng sau cùng, trong khi Phạm Duy cho em nhớ cho chen vào giữa, ngăn đôi hai vế cụm thạch thảomùa Thu đã chết rồi). Như vậy, brin de bruyère –cọng thạch thảo, có vai trò thiết yếu trong bài thơ– làm sống dậy cả một dĩ vãng, như chiếc bánh madeleine chấm vào tách trà tỏa thơm đã khởi động trí nhớ của Marcel Proust trong hành trình đi tìm thời gian đã mất15. Thiết yếu đến nỗi, ở câu 4, brin de bruyère được lặp lại bởi nàng, lần này với odeur du temps cùng tượng trưng cho kỷ niệm như l’automne est morte ở câu 2, và đã hiện diện, ta biết, ngay trong các bản in đầu tiên.
     Tách rời hai sự việc trên, như nhạc sĩ đã làm, người ta không thể hiểu tại sao khi ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo thì phải em nhớ cho: mùa thu đã chết rồi. Phạm Duy chỉ chú trọng đến L’automne est morte, mà quên ce brin de bruyère, nên đã dành trọn ba câu tiếp cho mùa thu đã chết rồi (ba lần) và van nài (ca sĩ hát nấc lên thảm thiết đoạn này) em nhớ cho (ba lần). Chữ cho bày tỏ sự thiết tha năn nỉ (tại sao phải năn nỉ đến thế nhỉ?), trong khi souviens-t’en –có cùng “rime masculine”16 với t’attends, ở câu 5, đọc nghe vang vọng lời yêu thương ray rứt hay tiếng thổn thức gợi sầu khôn nguôi. Mà mùa thu đã chết rồi (tức đông sang, theo diễn nghĩa khách quan), nếu bị tách khỏi mạch thơ thì có gì để phải nhớ đến một cách cường điệu, lộ liễu như vậy? Hay Phạm Duy cũng muốn bắt chước Apollinaire, xem trong mùa thu chết hình ảnh –bỗng nhiên trở thành quá thảm sầu dưới mắt nhạc sĩ– của một người tình đã mất?
     Thêm nữa, về từ vựng (vocabulaire), cũng không đúng lắm. Cueillingắt hoặc hái. Nhưng ngắt không thể dùng cho cụm. Rồi tại sao ngắt đi? Chữ đi ở đây mang nghĩa xấu (péjoratif), tiêu cực: ngắt để vứt đi cho rồi, biểu lộ sự bực dọc, khó chịu, miễn cưỡng17. Rồi làm sao brin lại biến thành cụm (cọng hay cụm đều hợp với nốt nhạc kia mà)? Rồi ngắt cả một cụm để làm chi? Hình thù hoa thạch thảo đâu cho phép dùng cụm, mà chỉ cành hoặc cọng thôi18. Trong câu thơ, không phải ngẫu nhiên mà brin, tức cọng (như brin d’herbe, brin de paille, cọng cỏ, cọng rơm), được dùng: cọng ở đây là ẩn dụ cho sự đơn lẻ, như hoàn cảnh của thi sĩ và người yêu xa cách, mong manh như kỷ niệm và cuộc tình giữa hai người ngay từ trong quá khứ (ai cueilli). Lại nữa, theo phép điệp vận (allitération), trong brin de bruyère, phụ âm b + r (vừa môi, b, vừa lưỡi, r, kết hợp), hai lần nói đến, gợi nên lời buồn vời vợi, thì thầm, như tiếng lá hoa xào xạc, thích hợp với với không khí nghĩa trang và nỗi lòng thi sĩ. Đó chưa kể âm mũi (nasale) –in trong brin, cũng như iens và –en trong souviens-t’en của câu kế, nghe đượm nước mắt19. Làm sao chuyển được các âm sắc ấy, hoặc tương tự, vào bài hát Việt mới là tài, thay vì bắt ca đi ca lại những câu rỗng ý, vô vị theo đòi hỏi của âm giai. Người ta tin Phạm Duy dư khả năng làm việc đó –điều ông chứng tỏ qua những ca khúc khác, bài “Nếu một mai em sẽ qua đời”, chẳng hạn, cũng phổ thơ và cùng nội dung chia ly–  nếu ông chịu khó nghiên cứu bài thơ kỹ hơn, dù để dịch, “mượn”, hoặc chỉ phóng tác, lấy hứng.
     Ta nghe tiếp bài hát:
                Đôi chúng ta
          Sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa
          Trên cõi đời này, trên cõi đời này
          Từ nay mãi mãi không thấy nhau
          Từ nay mãi mãi không thấy nhau
 
Bốn câu ca dài, thừa thãi, để chỉ dịch quanh một câu thơ nhẹ nhàng, súc tích:
          Nous ne nous verrons plus sur terre
          (Ta sẽ không thấy nhau nữa trên đời)
Chỉ một câu thơ cũng đủ làm vỡ nát trái tim rồi, cần gì phải hát vòng vo? (Nous) verrons là thì tương lai (temps futur) của se voir, và se voir không có nghĩa nhìn nhau (phải là “se regarder”), mà thấy nhau. Ngay trong Việt ngữ, nhìn cũng đã khác lắm với thấy. Phạm Duy, dĩ nhiên, không thể nào không biết điều sơ đẳng ấy. Chẳng qua, tôi đoán, ông phân vân không biết nên hiểu câu thơ và ý của thi sĩ –mặc dù đã quá rõ với nous ne nous verrons plus– theo hướng nào trước sur terre là nhóm chữ mà ông nghĩ có thể áp dụng cho cả hai trường hợp: vĩnh biệt nhau trên cõi đời này vì bỏ nhau (sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa), hay cách ngăn bởi cái chết (mãi mãi không thấy nhau). Cho nên ông dịch se voir ra hai động từ (nhìnthấy) cho “chắc ăn” chăng? Có thể lắm!  Bởi đã chẳng còn nhìn nhau nữa thì hậu quả hiển nhiên là mãi mãi không thấy nhau, có gì lạ mà phải nói ra đến hai lần? Rồi tại sao đặt thêm cái mốc từ nay cho thời gian vĩnh biệt mà Apollinaire cố tình bỏ lửng, lãng đãng như khói sương?
          Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
          Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em
 
để dịch, gần nguyên văn:
          Odeur du temps brin de bruyère
          Et souviens-toi que je t’attends
          (Mùi thời gian cọng thạch thảo
          Và anh hãy nhớ rằng em chờ anh)
Hai câu đáp của nàng, dĩ nhiên do chàng tưởng tượng, được nối kết bởi chữ et (và). Odeur có nghĩa là mùi. Nếu là hương thì đã có chữ parfum. Hương thời gian, như ta biết, chỉ là sáo ngữ trong thi ca Việt  Nam  –bắt buộc thời gian luôn luôn phải thơm, không hiểu tại sao và để làm gì20. Trong câu thơ, odeur du temps (mùi thời gian) có một ý nghĩa đặc biệt: thời gian của Apollinaire bao trùm quá khứ –nhất là quá khứ– tức kỷ niệm (với hai động từ ai cueilliest morte), tương lai (verrons), và hiện tại (attends). Một đời, như trong Proust. Hay một cuộc tình, ở đây. Nghĩa là (quá) dài lâu. Mùi, vì vậy, trung tính, khách quan, thơm hay không là do cảm nhận của người trong cuộc. Mùi thời gian trong bài thơ, đó là cô đơn, cách xa, buồn đau, là kỷ niệm hiện về cùng với cọng thạch thảo mùa thu chết trong nghĩa trang vắng lạnh, là lãng quên và chờ đợi mỏi mòn. Mùi thời gian, như vậy, không cay đắng, hư mốc thì thôi, làm sao ngát hương cho được? Cho nên, khi nhắc đến mùi thời giancọng thạch thảo, nàng phải bảo chàng rằng em chờ anh đây. Chờ anh đến thăm em tại nghĩa trang này, hay về cùng em nơi chín suối.
     Một điểm cần nói thêm. Cũng như trường hợp động từ se voir, Phạm Duy muốn được “chắc ăn” với chữ odeur vì có lẽ, một lần nữa, không rõ dụng ý của thi sĩ, nhưng vẫn muốn trung thành với nội dung bài thơ: ông dịch odeur ra hai chữ, hương cho thời gian, nhưng mùi cho thạch thảo, thế nào cũng trúng một (giá ông đổi lại: mùi cho thời gian, hương cho thạch thảo, sẽ hay và đúng biết mấy!).  Quả vậy, về mặt cấu trúc và văn phạm, trong câu thơ “suôn đuột” thiếu chấm, phết trên, chữ odeur có thể (có thể thôi) hợp với cả temps lẫn brin de bruyère (viết đầy đủ: odeur du temps et du brin de bruyère). Nhưng dựa trên mạch thơ, người ta lại nghĩ khác: cọng thạch thảo được nhắc, lần này cùng với thời gian, như một kỷ niệm, một ám ảnh, tự nó đã là yếu tố quan trọng, độc lập, không cần hương hay mùi kèm theo. Bởi thế odeur có lẽ chỉ thuộc về temps mà thôi, như chỗ đứng căn bản và hợp lý mà văn phạm dành cho.
     Về câu ca chót. Chữ vẫn (trong ta vẫn chờ em) dư, được nhạc sĩ chế ra, và bắt ca đi ca lại, vì vậy làm hỏng ý thơ và rắc rối thêm nội dung bài hát vốn đã khó hiểu rồi. Nàng nói je t’attends, em chờ anh (muốn dùng vẫn thì có encore hay toujours) mà không nhốt sự chờ đợi vào khung thời gian nhỏ hẹp nào. Je t’attends của Apollinaire là câu nói cho một hiện tại vĩnh cửu, rộng đầy, luôn luôn mới, vượt trên quá khứ, vị lai. Một thiên thu. Mênh mông như niềm đau và nỗi mong chờ.
 
3.
     Trên tạp chí Thế Giới Ngày Nay năm 2003, nhà văn Nguyễn Văn Chức viết một bài về cả “L’adieu” và “Mùa Thu Chết”21. Tuy chỉ bình luận qua, nhân về một đề tài khác, ông cũng nêu hai “cái sai” vừa nhỏ vừa lớn của Phạm Duy. Nhỏ, câu 1 của “L’adieu”: “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo”. Nguyễn Văn Chức phân tích, chính xác, động từ ngắt đi và danh từ cụm  –mà ông nói nhạc sĩ đã dịch sai. Nhưng ông cũng không đúng khi thay chữ cụm bằng chữ nhánh. Vì hiển nhiên, nhánh (hay cành) phải là branche, không thể brin, trong bài thơ này và mọi trường hợp.
     Và đây là “cái sai lớn của Phạm Duy”, câu 3, về động từ se voir, được ông nhạc sĩ dịch ra nhìn nhauthấy nhau  –mà theo Nguyễn Văn Chức đều không đúng. Ông Chức viết: “Tiếng Pháp ‘se voir’ không có nghĩa là nhìn thấy nhau hoặc trông thấy nhau, mà có nghĩa là ‘se rencontrer’ (gặp nhau), hoặc ‘se fréquenter’ (lui tới nhau, đi lại với nhau). Gặp nhau, lui tới nhau, trong bài L’Adieu còn có nghĩa là âu yếm nhau, ái ân với nhau” [sic], t.43. Thật vậy sao? Động từ se voir “không có nghĩa là trông thấy nhau” ư? Tự điển, tài liệu nào vậy? Dĩ nhiên, se voir còn có thể hiểu là “se rencontrer”, hoặc “se fréquenter”, như ông nói, nhưng còn tùy theo câu văn, mạch thơ, trạng huống. Trong trường hợp “L’adieu”, ông đã đi quá xa, quá trớn, hơn cả Phạm Duy. Vì rằng, nếu giữa khung cảnh biệt ly não nùng hay trong nghĩa trang lạnh lẽo câu thơ nous ne nous verrons plus sur terre còn có nghĩa “chúng ta sẽ không còn âu yếm nhau, ái ân với nhau”, theo ông hiểu, thì chàng –nhân vật của bài thơ– quả là có bệnh, hoặc bị ám ảnh bởi Mê Hồn Ca của Đinh Hùng:
          Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
          Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?22
     Điều này chứng tỏ Nguyễn Văn Chức hiểu bài thơ theo hướng khác, nghĩa là một trong những cuộc chia tay rất bình thường, và tầm thường, của những người chán nhau, không như Phạm Duy, dầu sao, còn ngập ngừng trước sur terre, như vừa phân tích, với kiểu dịch ”nước đôi” ở trên.
     Thực thế, ta hãy nghe nhà văn Nguyễn Văn Chức giới thiệu “L’adieu”: “Theo sách vở và truyền tụng, Apollinaire viết bài thơ nói trên để vĩnh biệt người yêu (nàng Marie Laurencin), kèm theo nhánh thạch thảo như kỷ niệm ngàn đời.” (t.43). Đúng là nàng Marie Laurencin bị oan Thị Kính! Vì theo tiểu sử (chứ không “truyền tụng”) rải rác tên những người Apollinaire yêu, thường là đơn phương, và “sách vở” của những nhà nghiên cứu, thi sĩ của chúng ta chỉ gặp Marie Laurencin, qua trung gian của nhà danh họa Picasso, người bạn chung, vào năm 1907, và bị nàng bỏ rơi năm năm sau (và dĩ nhiên làm gì có chuyện vĩnh biệt “kèm theo nhánh thạch thảo như kỷ niệm ngàn đời”), mà bài thơ “L’adieu” thì, như ta biết, đã được đăng năm 1903, thời gian ông si mê, theo đuổi các hình bóng khác, đầu tiên là Marie Dubois ở Stavelot (Bỉ)23.
     Nhưng thiết nghĩ cũng không cần nêu tên tuổi nàng nào. Quả thế, “L’adieu” bây giờ không thuộc về riêng ai nữa, đã vượt không gian và thời gian để trở thành muôn thuở, dành cho những đôi lứa còn bất hạnh, héo hon bên trời lận đận, mà vẫn mãi yêu nhau. Và chờ nhau qua cõi chết.
                                                                       CHÚ THÍCH

 

 
(1) Theo Viên Linh, chủ nhiệm nguyệt san Khởi Hành, thì trước 1975, đã có bản dịch bài “L’adieu” của Bùi Giáng, và câu: “Mùa thu đã chết, em nhớ cho” là của Bùi Giáng (Khởi Hành, số 111-112, tháng 1-2, 2006, t. 22. Bài viết này cũng đã được đăng trong Khởi Hành số 111-112). Câu này đã bị Phạm Duy “mượn” nhưng không nêu tên dịch giả Bùi Giáng.
(2) Trong Une saison en enfer  (Một mùa dưới địa ngục), 1873. Bài thơ của Rimbaud gồm những ý nghĩ rời về cuộc đời, quan niệm thi ca…, mở đầu bằng câu: L’automne déjà!  (Mùa thu rồi đấy!) . Trong bài “Zone” của Apollinaire, người ta còn đọc: Adieu Adieu / Soleil cou coupé. Bài “L’adieu” trích ra từ tập Alcools, Gallimard, 1944, với tựa đề được viết chính xác như thế, chứ không phải “l’Adieu” hoặc “L’Adieu” theo một số người.
(3) Sinh viên Mỹ các lớp Văn chương Pháp và đa số độc giả Việt Nam, kể cả nhạc sĩ Phạm Duy của “Mùa thu chết” và nhà văn Nguyễn Văn Chức của bài “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo…”, Thế Giới Ngày Nay, số 178, tháng 3&4, 2003, đều cho hai câu 4-5 của “L’adieu” là do nhân vật nam nói và dịch theo ý hướng đó. Ví dụ, Nguyễn Văn Chức đã dịch câu cuối: Và em hãy nhớ anh đang chờ em (bài đã dẫn -bđd- t. 43). Ngoài ra, trong tập san Cỏ Thơm (Tam cá nguyệt san Văn học, Nghệ thuật Biên khảo, chủ nhiệm Lưu Nguyễn Đạt, Fairfax, VA, số 6, 1997, t.162), dịch giả Hồng Bào đã “chuyển ngữ” bài thơ của Apollinaire như sau: Anh vừa hái nhánh hoa sim / Mùa thu đã chết im lìm từ lâu / Ta không còn được thấy nhau / Sống chung trên cõi địa cầu ấm êm / Thời gian còn ngát hoa sim / Biết chăng anh vẫn chờ em mỏi mòn.
(4) Trong Alcools thấy xuất hiện tất cả các chủ đề của vũ trụ thơ Apollinaire: hình ảnh sống động của cuộc đời được chụp hoặc gợi nhớ bằng kỷ niệm, trạng thái tâm hồn, bốn mùa, đàn bà, tình yêu-độc-tố, tiên nữ và ngư nhân, ám ảnh bởi thời gian như nước trôi qua cầu, v.v… Có tám bài về sông Rhin (Đức), Rhénanes, rất đặc sắc: Le mai le joli mai en barque sur le Rhin (Mai) (Tháng năm tháng năm xinh đẹp đi thuyền trên sông Rhin). Alcools lấy nguồn cảm hứng và kết thành từ mối tình tuyệt vọng, dai dẳng, đau khổ thi sĩ dành cho Annie Playden, cô giáo người Anh: Et ma vie pour tes yeux lentement s’empoisonne (Les Colchiques) (Và cuộc đời tôi cho đôi mắt em từ từ bị tẩm độc).
(5) Sống vào thời kỳ tàn lụn của thi ca Tượng trưng, và trước phong trào Siêu thực đang mở ra, Apollinaire hiểu được giá trị của tiếng thơ vọng lên từ tiềm thức, thi điệu tự nhiên, lời thơ tự động (écriture automatique), những phối hợp tâm lý ngẫu hứng  –tất cả làm nền cho thơ Siêu thực mà ông tích cực hỗ trợ. Tuy nhiên, so với các thi sĩ siêu thực chân chính, Apollinaire còn rất dễ hiểu, và nhũng bài thơ hay nhất của ông, theo thiển ý, vẫn là những bài mang hơi hướng cổ điển, tượng trưng, kể cả trữ tình. “L’adieu” là một ví dụ, cùng với “Le pont Mirabeau” và nhiều bài khác. Còn Nguyễn Văn Chức, cũng trên bài báo đã dẫn, viết rằng Apollinaire đã “đưa nền thi ca Pháp từ trường phái biểu tượng (symbolisme) đến trường phái siêu thực (surréalisme)”, t. 43. Sự thực, văn học sử và cuộc đời ngắn ngủi của Apollinaire (ông chết, lúc mới 38 tuổi, bởi dịch cúm Tây Ban Nha, năm 1918, đã giết hàng triệu người ở Âu Châu) phủ nhận vai trò của thi sĩ trong việc dẫn dắt hai “trường phái” (école?  chữ này không đúng lắm cho Siêu thực và Tượng trưng  –chỉ là “phong trào”, mouvement); về công lao Apollinaire, như Nguyễn Văn Chức hàm ý, nếu có đối với phong trào Siêu thực mới phôi thai, cũng như của Rimbaud hay Gérard de Nerval trước ông, không quan trọng như vậy, so với thủ lãnh Breton. Quả thế, Apollinaire, Rimbaud hay Nerval, ít nhiều chỉ là những người tiên phong (cf Jeanine Moulin, Guillaume Apollinaire, Droz, 1952).
(6)    A: bruyère      B: souviens-t’en      A: terre    A: bruyère      B: t’attends
Một số thi sĩ trước Apollinaire, hoặc đồng thời, đã sử dụng lối thơ này, ví dụ Baudelaire, Verlaine, Laforgue, v.v… Trích một bài của Baudelaire:
            Que m’importe que tu sois sage?          A
            Sois belle! Et sois triste! Les pleurs      B
            Ajoutent un charme au visage              A
            Comme le fleuve au paysage;               A
            L’orage rajeunit les fleurs.                   B
                                         (Madrigal triste)
Do đó Breton, trong Manifeste (Tuyên ngôn) về phong trào Siêu thực trách cứ Apollinaire đã không dám “hy sinh những phương tiện văn chương tầm thưòng” (“… sacrifié de médiocres moyens  littéraires”), ám chỉ các loại thơ có qui luật, và (Apollinaire) chỉ được “có mỗi cái chữ, đã vậy vẫn không hoàn hảo, của siêu thực” (“… possédé… que la lettre, encore imparfaite, du surréalisme”)  (Roger Lefèvre, Alcools, Larousse, 1965, t. 21).
(7) Nguyên văn bài “L’adieu” đăng trong Le festin d’Ésope:
            “J’ai cueilli ce brin de bruyère.
            Mets-le sur ton coeur plus longtemps
            Nous ne nous verrons plus sur terre”.
 
            “J’ai mis sur mon coeur la bruyère
            Et souviens-toi que je t’attends”.
(trích theo Oeuvres poétiques d’Apollinaire, La Pléiade, t. 1054)
     Về lai lịch bài thơ, có rất nhiều tài liệu. Bài viết này dựa trên các sách tiêu biểu như:
Oeuvres poétiques d’Apollinaire do André Billy viết tựa, Marcel Adéma và Michel Décaudin tuyển chọn, ghi chú, La Pléiade, Editions Gallimard, 1965, Notes, t. 1054.
Le dossier d’Alcools của Michel Décaudin, Librairie Minard, Paris, 1965, t. 139.
La poésie partout của Anna Boschetti, Collection Liber, Seuil, 2001, t. 63.
Guillaume Apollinaire  –  Alcools của Marie-Jeanne Durry, 3 quyển, SEDES, Paris, 1964, t. 119, 154, 172-174 (q.2), 70-71, 74 (q.3).
Alcools, dịch bởi Anne Hyde Greet, U. of California Press, Berkeley and Los Angeles, 1965, Notes t. 88-89.
(8) Trong Les Contemplations (1856). Hai câu cuối của bài thơ như sau:
            Et quand j’arriverai, je mettrai sur ta tombe
            Un bouquet de houx vert et de bruyère en fleur
            (Và khi đến nơi, cha sẽ đặt trên mộ con
            Một bó ô-rô xanh và thạch thảo nở hoa)
Vì sự hiện diện của bruyère và khung cảnh nghĩa trang trong cả hai bài thơ, người ta thắc mắc không biết thi sĩ của chúng ta có chịu ảnh hưởng của Hugo trong bài “Demain, dès l’aube…” rất cảm động này không. Hoặc chỉ là một trùng hợp ngẫu nhiên. Bruyère (heath, hay heather trong tiếng Anh) là một loại cây có hoa tím hoặc hồng, thơm, thích sống ở đất “siliceux” (đá cứng, bởi vậy mới gọi là thạch thảo?) tạo nên vùng “lande” (Thanh Nghị dịch là “truông”) hoang dại, rất đặc biệt ở Pháp. Trong thơ Pháp, đến bây giờ, ngoài “L’adieu”, người ta chỉ gặp chữ bruyère hai lần nữa, với bài trên của Hugo, và một bài khác không mấy quan trọng của Apollinaire. Tại Việt Nam, Phạm Duy có lẽ là người đầu tiên nói đến thạch thảo, trừ phi giả thuyết của Viên Linh về bản dịch của Bùi Giáng được chứng minh là đúng (xem Chú Thích 1). Trong Văn Nghệ Tiền Phong, số 410, 16-28/2/1993, t. 62-66, có một truyện ngắn của Thảo Như  –mà nội dung người ta đoán phóng tác theo ngoại quốc hoặc lấy hứng từ “Mùa thu chết”–  tựa là “Chùm hoa thạch thảo”, với bối cảnh Alaska, trong đó thạch thảo được tác giả xem như một loài hoa mọc trên núi , “dù cành khô cứng mà hoa vẫn tươi” (?) (t. 80).

 

(9) Xem bài “Les variations de personne dans Alcools” của Brian Gill trong Études autour d’Alcools xb bởi Anne de Fabry và Marie-France Hilga, Summa Publications, INC, Birmingham, Alabama, 1985, t. 55-56. Theo tiểu sử, không có nhân tình nào của thi sĩ bị chết, chỉ chê hoặc bỏ ông thôi. Cho nên, ở đây, không thể kết hợp đời với thơ.
(10) Ngoài hai trường hợp trên, automne đều là “masculin”, dĩ nhiên. Đàng khác, trong Apollinaire, không chỉ mùa thu chết, mà mùa đông cũng chết nữa. Ví dụ trong bài “La chanson du mal-aimé”: L’hiver est mort tout enneigé… (Mùa đông đã chết phủ đầy tuyết…)  Bài thơ của Nerval trích từ tập Les Chimères (Ảo vọng), 1853.
(11) Trích theo tài liệu của Phạm Duy trên “internet”, t.155-156, và Ngàn Lời Ca, PDC xb, Quận Cam, 1987, t.199. Ông ghi: “Mùa thu chết, theo thơ Guillaume Apollinaire, Saigon 1970”, và giải  thích: “Tôi mượn bài thơ tình đầy chết chóc của thi sĩ Pháp Guillaume Apollinaire để soạn ca khúc…”, và: “Bài thơ này đã từng ám ảnh tôi từ hồi thập niên 50 khi tôi còn là sinh viên học nhạc tại Pháp. Được phổ nhạc thành một ca khúc Việt Nam, mang ngữ thuật nhạc trẻ, vào năm 1970 này, bài khúc Mùa Thu Chết nối lại truyền thống soạn nhạc mùa Thu của các nhạc sĩ lãng mạn trước đây, lần này thì ở một xúc cảm cao độ nhất. Vì nó khóc một cuộc tình có thật.” Có bốn điều cần đặt ra: -a) Phạm Duy không lần nào nêu tên bài thơ Pháp; tại sao?  -b) Ông gọi bài thơ của Apollinaire là “bài thơ tình đầy chết chóc”: đầy chết chóc là một hàm súc tổng quát, thực tế xấu xí, và là nhóm chữ thiếu trang nhã, không xứng với bài thơ hay bài hát; điều này chứng tỏ ông không thấy hết vẻ đẹp lãng mạn tiềm ẩn, nỗi đau câm nín chan chứa trong bài thơ.  -c) Ông nói bài thơ đã ám ảnh ông từ lâu; vậy mà ông vẫn không biết lai lịch của nó (để đến nỗi hiểu sai), nhất là khi còn ở Pháp có nhiều tài liệu, sách vở, cơ hội. -d) Ông không bao giờ nhận đã dịch bài thơ, mà chỉ nói mượn, theo, phổ nhạc… Có lẽ ông “mượn” bản dịch của Bùi Giáng thật, như Viên Linh tiết lộ, chăng?
(12) Phạm Duy đặt lời Việt, hoặc phóng tác, cho nhiều bài ca ngoại quốc hay bản nhạc cổ điển. Riêng bài “Mùa thu chết”, tôi vẫn tin chắc là đã được ông, hoặc một người nào, ví dụ Bùi Giáng, dịch từ “L’adieu”, trái với ý kiến của đa số, trong đó có Nguyễn Văn Chức, trên bài báo đã dẫn, không xác quyết là dịch hay là phỏng theo ý: “Lời ca, Phạm Duy lấy từ L’Adieu [sic] của Apollinaire”, t. 43.
(13) Truyền thống “macho” này có thể là một đề tài hấp dẫn cho phân tâm học. Một số các thi nhạc sĩ Việt Nam cũ, mới, không hiểu tại sao, trong sáng tác, cứ xưng ta và gọi em khi nói với các người đẹp. Mặc cảm tự tôn, hay một lối “trả thù” vô thức?  Hay chữ ta dùng để vô ngã hóa “cái tôi đáng ghét”?
(14) Thơ của Victor Hugo nói riêng, và các thi sĩ lãng mạn Pháp, và Baudelaire, dễ hiểu, một phần vì sử dụng “alexandrin” là câu thơ dài 12 âm, có thể diễn đạt trọn vẹn ý tình, trong khi câu thơ “octosyllabe”, 8 âm, của Apollinaire lại ngắn, tỉnh lược (elliptique), súc tích, bắt độc giả phải vận  dụng trí óc, suy luận, cảm xúc bén nhạy mới có thể thưởng thức, hiểu hết ý. Giống như, bên ta, thơ lục bát so với thơ Đường luật. Bài thơ “Demain, dès l’aube…” là một bằng chứng: tình cảm bộc lộ rõ ràng, lời thơ giản dị, hình ảnh đơn sơ.
(15) Marcel Proust, “Du côté de chez Swann”, thiên đầu của A la recherche du temps perdu (1913-1927)
(16) Thi pháp Pháp, từ thế kỷ XVII, bắt “rime féminine” (vần cái) và “rime masculine” (vần đực) xen kẽ nhau. “Rime féminine” là vần kết thúc bằng –e câm, bruyèreterre, còn “rime masculine” kết thúc bằng âm phải phát ra, souviens-t’ent’attends, đan vào nhau cốt tạo nhạc điệu cho câu thơ.
(17) Trong bài báo đã dẫn, Nguyễn Văn Chức cũng nêu cái sai ấy của Phạm Duy: “Ngắt đi, tức là hái rồi liệng đi, không giữ gìn quý trọng.” (t. 43)
(18) Cụm là một khối gồm những cây nhỏ cùng một gốc, chụm lại với nhau, chẳng hạn, cụm hoa, cụm rau thơm. Thạch thảo, trái lại, mọc riêng lẻ, tỏa ra thành nhánh, cành.
(19) Nhạc tính trong “L’adieu” được dẫn giải, dĩ nhiên, theo tiêu chuẩn ngữ học Pháp, không thể áp dụng cho âm Việt. Ví dụ tỵ âm (nasale, âm mũi) Pháp –in, –en  có thể được thay bằng –nh, –m,ng trong Việt ngữ (nhớ nhung, nhạt nhòa, mẹ, v.v…)  Xuân Diệu có câu: Trăng nhớ Tầm Dương nhạc nhớ người nghe như có lệ đẫm. Trong Kiều, ta đọc: Tóc mây một món dao vàng chia đôi  -câu thơ với âm m chỉ sự trìu mến, dịu dàng, mà Đoàn Phú Tứ lấy đem vào “Màu thời gian”.
(20) Cho đến bây giờ, chưa thấy có bài thơ Việt Nam nào có mùi thời gian, mà chỉ hương thời gian, màu thời gian. Ví dụ tiêu biểu nhất là bài “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ (tựa đề làm nghĩ đến Couleur du temps, 1949, di cảo, vở kịch thơ ba hồi của Apollinaire) với câu: Hương thời gian thanh thanh. Theo nội dung bài thơ này, có phải tình yêu trái ngang, mà thủy chung, giữa quân vương và Tần phi đã làm cho thời gian đợi chờ trở nên thanh thanh, đẹp, thơm nồng chăng?  Có thể lắm. Nhưng còn thời gian chiến chinh, chẳng hạn, thời gian góa bụa, tang tóc, v.v…, thời gian chia lìa, lãng quên như trong “L’adieu”, cũng ngát hương được sao? Thời gian của Proust, trái lại, không có mùi, không có hương, được biến hóa vào các địa danh và kỷ niệm, và đánh dấu bởi sự xung đột giữa vĩnh cửu và hạn hữu, giữa tình yêu tuyệt diệu và phản bội ê chề, giữa khung trời hoa bướm và thế giới già nua, cằn cỗi…
(21) Trên bài báo đã dẫn, Thế Giới Ngày Nay (TGNN), số 178, tháng 3&4, 2003, Nguyễn Văn Chức cho rằng Phạm Duy đã hiểu sai “L’adieu”. Về bài thơ này, ông nói “thuộc nó đã gần nửa thế kỷ” (t.43), giống như Phạm Duy (“từ hồi thập niên 50”, xem chú thích 11). Trong một bài báo mới nhất về Phạm Duy, chủ yếu đả kích lập trường chính trị của ông này, cũng trên TGNN, số 189, tháng 5-8, 2005, t.14-16, Nguyễn Văn Chức lại nhắc đến bài “L’adieu”: “(…) Phạm Duy đã hiểu sai thơ Apollinaire. Phạm Duy không đủ trình độ để hiểu thơ Apollinaire”. Theo tôi, Phạm Duy, cũng như nhiều người, kể cả chính Nguyễn Văn Chức, có thể đã không nắm hết ý bài thơ  –là chuyện thường thôi. Nhưng bảo rằng ông ta không đủ trình độ để hiểu thì có lẽ là một nhận xét quá đáng.
(22) Trong bài “Gửi người dưới mộ”, trích theo Thơ tình chọn lọc, do Nguyễn Hoài Thương sưu tầm và tuyển chọn, Khai Trí, USA, 1993, t.135
(23)  Theo quyển Guillaume Apollinaire, xb bởi Bibliothèque historique de la Ville de Paris, 1991, do Michel Décaudin trình bày, và Yves Bonnefoy đề tựa, trong mục Repères biographiques, t.23, thì những “hình bóng” đó là: Marie Dubois ở Stavelot (1899), Linda Molina de Silva, em một người bạn ở Paris (1900-1902), và Annie Playden, gặp tại Đức, nguồn cảm hứng vô tận cho Apollinaire (1901-1902). Còn Marie Laurencin (t. 85), được thi sĩ dành cho ba bài: “Cors de chasse”, “Marie”, và bài “Le pont Mirabeau” bất hủ. ■
nguồn; Email PhamTinAnNinh


Advertisements

One response to “HOA THẠCH THẢO & MÙA THU CHẾT

  1. Pingback: Ai thương tôi trong quãng đời còn lại? | Thanh Bình (Katherine)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: