Vũ Thất

Bảo Bình 1

Người phương Tây đến với đạo Phật

Người phương Tây đến với đạo Phật

Cao Huy Thuần

Tây phương đã ngay ngáy lo sợ từ thế kỷ thứ nhất đến nay (đã 20 thế kỷ) về ngày phán xét cuối cùng của Thượng Đế, thì Phật giáo nói: không có ai phán xét ta cả, chỉ có con người phán xét con người thôi

Con người Tây phương đang đặt vấn đề của đạo Phật đáp ứng với nhu cầu của thời đại mới như thế nào. Tây phương đang chối từ Thượng Đế, thì đạo Phật giải thích không có Thượng Đế. Tây phương phải nhờ Darwin để cắt nghĩa rằng vũ trụ không phải do một Đấng nào sáng tạo ra cả trong bảy ngày thì đạo Phật đã nói cách đây hơn 2500 năm rằng thời gian là vô thủy vô chung, vũ trụ là vô cùng vô tận.

Tây phương đã ngay ngáy lo sợ từ thế kỷ thứ nhất đến nay (đã 20 thế kỷ) về ngày phán xét cuối cùng của Thượng Đế, thì Phật giáo nói: không có ai phán xét ta cả, chỉ có con người phán xét con người thôi.

Tây phương trăn trở về những vấn đề siêu hình thì Phật giao kể chuyện mũi tên: khi anh bị mũi tên độc bắn vào thân thì anh phải rút nó ra ngay hay anh cứ tiếp tục “ca vọng cổ” hỏi mũi tên do ai bắn, lý lịch thế nào, hộ khẩu ở đâu. Rút mũi tên ra: đó là nhu cầu giải phóng con người ở Tây phương, và họ thấy nơi Phật giáo một đáp số hợp với lý tính, đặt nặng trên kinh nghiệm, trên thực hành, và kiểm chứng được bằng kết quả bản thân, ở ngay đời này, chứ không phải đợi đến khi lên thiên đường, xuống địa ngục.

Hợp với lý tính: người Tây phương ngưỡng mộ nét đặc biệt đó của Phật giáo: Phật giáo từ chối lòng tin nếu không đặt cơ sở trên trí tuệ.

Bởi vậy, trong Phật giáo không có tín điều. Tây phương ngưỡng mộ kinh Kâlâma khi Phật dạy: Đừng vội tin một điều gì dù điều đó được ghi trong kinh điển hay sách vở. Hãy quan sát, suy tư, thể nghiệm, thực chứng rồi mới tin. Tinh thần đó xuyên suốt kinh kệ Phật giáo. Người trí thức Tây phương thấy tinh thần đó hợp với tính khoa học, hợp với đầu óc phê phán. “Phật giáo là tôn giáo duy nhất thích ứng với khoa học hiện đại”, Einstein đã phát biểu như vậy.

Tại sao Phật giáo không tương khắc với khoa học? Tại vì Phật giáo không nói điều gì mà không có kiểm chứng. Phật giáo nói: sự vật là vô thường. Hãy nhìn chung quanh với mắt của mình, kinh nghiệm của mình: có cái gì là thường còn đâu? Cái thường còn duy nhất chỉ là khoảnh khắc này đây. Vậy thì tìm thiên đường ở đâu nếu không phải nơi chính cái khoảnh khắc này? Hạnh phúc nằm ngay nơi mỗi khoảnh khắc: đó là bài học hiện đại quý giá nhất mà Phật giáo đem đến cho người Tây phương.

Và hãy nhìn thêm nữa: mọi sự mọi vật đều tương quan lẫn nhau mà sinh ra và tương quan lẫn nhau mà biến đi. Màu hồng nơi đóa hoa kia có phải tự nó mà có không? Đâu phải! Nếu không có mặt trời thì nó đâu có hồng thắm như vậy? Nhưng mặt trời có phải là tác giả duy nhất của màu hồng kia không? Không! Vì nếu không có mưa thì làm sao hoa sống? Nhưng mưa có cũng là do mây, mây có cũng là do hơi nước. Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia cũng không.

Đó là luật vô ngã 
(= không thực thể: nghĩa là mọi sự vật tuy có mà không thực có) của Phật giáo, và cũng là luật tương quan tương sinh. Ai đọc sách của nhà vũ trụ vật lý học Trịnh Xuân Thuận đều có thể thấy những điểm hội tụ về luật này. Áp dụng được luật đó vào đời sống bản thân, đời sống gia đình, đời sống xã hội, cam đoan không cần tìm thiên đường ở đâu xa. Đó là chưa kể đến luật nhân quả mà ai cũng có thể dễ kiểm chứng.

Từ đó, người Tây phương đi đến một cái nhìn hiện đại hơn nữa vào bản chất của cuộc đời để hiểu chữ“khổ” trong Phật giáo. Họ chất vấn Thượng Đế: “Nếu Thượng Đế là toàn năng thì sinh ra làm chi các thiên tai:  động đất, triều cường, dịch này dịch nọ giết hại phút chốc hàng trăm ngàn người như vậy?

Nếu Ngài là nhân từ thì sao con người khổ thế, con người khổ thế thì Ngài ở đâu?” Phải chăng, người Tây phương hỏi, khổ nằm ngay trong bản chất của cuộc đời như muối nằm trong biển, mà sinh lão bệnh tử chỉ là những khía cạnh dễ thấy nhất? Vì thế, từ thế kỷ 19, Tây phương hiểu chữ “Niết-bàn” của Phật giáo đúng đắn hơn: Niết bàn là hết khổ, mà hết khổ là tự mình.

Bản thân tôi, mỗi khi tôi nghe ai cầu cho người chết được siêu thoát, tôi không khỏi nghĩ thầm, bởi vì “siêu” là vượt lên, “thoát” là không bị trói buộc, là tự do. Vượt lên trên tham-sân-sithì tự do, vậy thì nên cầu cho cả người sống được siêu thoát.

Tôi không dám đùa đâu, người Tây phương hiểu điều đó hơn ta, bởi vì họ hiểu tư tưởng nhân bản của chính họ: nhân bản có nghĩa là con người vượt lên trên chính con người, con người có đủ khả năng để vượt lên trên chính mình. Nhưng vượt lên như thế nào, cụ thể bằng cách nào? Đây là cái mới mà Phật giáo đem đến cho Tây phương và đem đến trong tinh thần khoa học. Trong lịch sử, Tây phương đã vượt quá ta hằng mấy thế kỷ nhờ khám phá thế giới bên ngoài. Nhưng đến một lúc họ bỗng giật mình thấy rằng khám phá thế giới bên ngoài không đủ để đem lại hạnh phúc như họ tưởng, bởi vì con người còn có đời sống ở bên trong.

Ngài Đạt Lai Lạt Ma nhắc họ: “Những vấn đề của chúng ta, dù đến từ bên ngoài, như chiến tranh, như bạo lực, như tội ác, hay đến từ bên trong dưới hình thức khổ đau về tâm lý hay tình cảm, đều sẽ không tìm ra giải pháp chừng nào chúng ta còn không hiểu chiều sâu nội tâm của ta”.
Đạt-lại Lạt-ma – Wikipedia  &  Matthieu Ricard

Đó là lúc mà ngài và các vị sư đắc đạo của Tây Tạng đến Âu Mỹ, mang theo một ánh sáng khoa học mới rọi soi vào nội tâm của con người, để làm một cuộc cách mạng thứ hai mà người Tây phương gọi là“Cách mạng ở bên trong”, bổ túc cho “Cách mạng ở bên ngoài” mà Tây phương đã từng làm, từng biết với khoa học. Chìa khóa của hạnh phúc không nằm ở đâu khác hơn là trong nội tâm mỗi cá nhân. Mà muốn nhìn thấy cái chìa khóa đó thì phải rọi soi vào bên trong bằng những kỹ thuật thiền học mà các nhà sư Tây Tạng đã thực chứng do chính kinh nghiệm của họ.

Trong lĩnh vực này, đừng hòng các lang băm đến làm ăn bịp bợm: khoa học Âu Mỹ đã đặt nền móng vững chắc cho cuộc thám hiểm vào não bộ của con người. Các nhà sư Tậy Tạng đã đem chính bản thân để các máy móc tối tân trong các đại học danh tiếng nhất của Mỹ đo lường ảnh hưởng của thiền trên não bộ. Họ không phải chỉ đem lời nói, họ đem thực hành, họ đem kỹ thuật, phương pháp cụ thể để các nhà khoa học quan sát, phán xét tính hiệu nghiệm của thiền, góp phần lớn vào sự phát triển của ngành sinh học thần kinh.

Tôi xin thú thực: bản thân tôi có tính đa nghi, khi đọc lịch sử đức Phật, tôi không hiểu làm sao Phật có thể ngồi thiền được dưới bóng cây bồ đề trong suốt 49 ngày. Bây giờ thì tôi hiểu: mỗi người chúng ta đều có một sức dự trữ tiềm tàng mà ta không ngờ, bởi vì chưa bao giờ sử dụng. Tôi sẽ trở lui lại điểm này – cuộc hành trình của ta: tìm ta để chữa bệnh cho chính ta và chữa bệnh cho thời đại.

Bây giờ, tiếp tục vấn đề nhân bản và khoa học, có phải sức quyến rũ của Phật giáo chỉ nằm ở tính khoa học của Phật giáo mà thôi hay không? Tôi không nói đến chiều sâu của triết lý Phật giáo ở đây, cũng không nói đến tính minh triết mà Tây phương đang tìm lại. Tôi chỉ hạn chế trong một vấn đề nữa thôi: đạo đức.

Đạo đức học ở Tây phương trước đây là những răn cấm, những mệnh lệnh. Người Tây phương hiện đại có cảm tưởng như có ngón tay chỉ vào trán và ra lệnh: mày không được thế này, mày không được thế kia, mày làm là phạm tội. Phạm tội với ai? Tại sao như thế là phạm tội? Tại sao tội đó phải nhờ một người khác giải tội?

Đạo đức đó, con người hiện đại phản tỉnh, vì họ cảm thấy như vậy là hãy còn vị thành niên. Đạo đức của Phật giáo trái hẳn, bắt nguồn từ con người. Không ai ra lệnh, không ai răn cấm. Phật giáo nói: tham thì khổ, sân thì khổ, si thì khổ. Từ thì vui, bi thì vui, hỷ thì vui, xả thì vui. Từ bi hỷ xả, cứ thực hành sẽ thấy vui.

Tham sân si, cứ mắc vào sẽ thấy khổ. Đừng giết hại, đừng nói dối, đừng trộm cắp, đừng tà dâm, đừng say rượu: đó là năm điều tôi tự nguyện với tôi, làm được đến đâu chính tôi nhẹ nhàng đến đó. Đạo đức của Phật giáo là thực nghiệm, nhắm mục đích làm cho con người tốt hơn đã đành, nhưng cốt nhất là làm nội tâm thanh thản, bởi vì thanh thản chính là hạnh phúc thực sự.

Hơn thế nữa, đạo đức Phật giáo còn thức tỉnh con người hiện đại ở Tây phương ở chỗ nới rộng lòng từ bi và ý thức liên đới ra khắp chung quanh, không những giữa người với người, mà còn giữa người với thú vật, với thiên nhiên.

Dưới ảnh hưởng của tư tưởng “””  Cách mạng bên ngoài”,  Tây phương đã cổ vũ, huy động từ thế kỷ XVII mọi cố gắng để chinh phục, cai trị thiên nhiên. Chiến công đó, nhân loại cám ơn. Xẻ sông, lấp núi: cái gì con người cũng làm được, thiên nhiên đã ít nhiều bị chinh phục. Nhưng thiên nhiên cũng đã bị khai thác, bóc lột đến kiệt quệ, rừng trọc đầu, mưa hóa chất, nước nhiễm độc, chúng ta biết rõ hơn ai hết. Và rốt cục, con người ăn trong miếng ăn nhiễm chất độc do chính con người tạo ra.

Đạo đức đối với thiên nhiên trở thành trách nhiệm của chính con người. Các tôn giáo khác nói: không được giết người. Phật giao nói: tôi nguyện không sát sinh, nghĩa là không giết sự sống, và sự sống đó, thú vật đều có, cây cối thiên nhiên đều có, vũ trụ, khí quyển, trái đất đều có, tất cả đều liên đới với con người, phải yêu thương nhau như một thì mới sống còn với nhau.

Tôi vừa động đến một vấn đề hiện đại có tính tiêu cực: vấn đề môi trường. Bởi vì hiện đại không phải cái gì cũng hay. Hiện đại cũng có lắm tiêu cực. Hiện đại cũng đang gặp khủng hoảng. Bởi vậy, sau khi tán thưởng hiện đại và giải thích Phật giáo như thế nào, tôi bắt qua điểm thứ ba, trình bày những khủng hoảng của hiện đại.

Trích trong bài viết HÃY BAY VỚI HAI CÁNH VÀO HIỆN ĐẠI – Tản văn Chuyện Trò – Gs.Cao Huy Thuần

————————————–

Con đường từ một nhà  khoa học tài ba trở thành một Tỳ kheo thông tuệ

Matthieu Ricard 

Matthieu Ricard

Matthieu Ricard sinh ngày 15/2/1946 tại Aix-les-Bains (Savoie, Pháp), là con trai của ông Jean-François Revel – một triết gia Pháp nổi tiếng, và bà Yahne Le Toumelin – một nữ họa sĩ theo trường phái trừu tượng đã đi theo tiếng gọi của Phật giáo từ năm 1968. Sinh trưởng trong một môi trường như vậy, Matthieu Ricard đã sớm hình thành những tư tưởng triết học và Phật giáo và mang trong mình niềm đam mê và khát khao được tìm hiểu về cuộc sống tu hành chốn thiền môn.

Bởi vậy, sau khi theo đuổi ngành Sinh học phân tử học tại trường đại học, làm việc tại Viện Pasteur và hoàn thành luận án tiến sĩ Sinh học của Đại học Sorbonne vào năm 1972, chàng trai Matthieu Ricard khi ấy mới 26 tuổi đã thông báo với cha mẹ, các thầy giáo và bạn bè về quyết định sẽ từ bỏ sự nghiệp khảo cứu khoa học, bỏ học bổng sang Hoa Kỳ nghiên cứu thêm về Sinh vật học, bỏ cả tương lai của một nhà khoa học có hạng phía trước để xuống tóc đi tu, làm một tỳ kheo học đạo tại vùng đất Tây Tạng.

Đây quả là một tin quá bất ngờ khiến tất cả mọi người đều vô cùng ngạc nhiên, nhất là đối với cha mẹ của Matthieu Ricard – những người đã đặt biết bao kỳ vọng vào cậu con trai tài giỏi của mình.

Để giải thích về quyết định được cho là khó hiểu này, Matthieu Ricard đã có một cuộc nói chuyện thú vị với cha mình, giữa một nhà tu hành Phật giáo và một triết gia, trong đó có đoạn: “Con đã theo đuổi khoa học là vì con thích khảo cứu. Nhưng rồi con thấy khảo cứu khoa học có hay đến mấy cũng không giải quyết được vấn đề căn bản của con người. Con đã thấy làm khảo cứu là miên man đi sâu vào mọi chi tiết, mà riêng con, con thấy không thể làm mãi như thế được.

Trong khi đó, con lại để ý đến đời sống tâm linh. Mới đầu, không có gì là rõ rệt. Khi 15 tuổi, con đã tìm đọc vài cuốn sách về tôn giáo, về Thiên Chúa giáo, Ấn độ giáo, Hồi giáo, nhưng kỳ thay, không đọc Phật giáo. Hồi đó, sách về Phật giáo, khảo cứu hay dịch thuật rất ít, được viết dưới nhãn quan của người Tây phương hiểu sai Phật giáo là một triết học hư vô (nihilism) không màng đến trần thế…

Nhưng thực ra con để tâm vào đạo Phật là vào năm 1966, khi đó con 20 tuổi, còn ở đại học, sắp vào Viện Pasteur. Con được xem một bộ phim của một người bạn là Arnaud Desjardins về những vị Lạt Ma Tây Tạng đã phải di cư sang Bhutan khi Trung Cộng tiến chiếm xứ này. Cũng khoảng thời gian đó, con được nói chuyện với một người bạn khác – tiến sĩ Frederick Leboyer – mới ở Darjeeling (Ấn Độ) về, kể lại có gặp mấy vị Lạt Ma đó.

Chính những hình ảnh của Arnaud, của Frederick và chuyện họ kể lại đã gặp các vị Lạt Ma đó đã giúp con có quyết định phải sang Hy Mã Lạp Sơn. Vì con có cảm tưởng con đã thấy ở các vị Lạt Ma đó hình ảnh của chính những điều họ dạy dỗ, khuyên răn mọi người. Con không hiểu rõ tại sao, chỉ thấy họ đúng là những bậc hoàn hảo, những nhà hiền triết mà bấy giờ ở Tây phương rất khó tìm thấy.

Muốn gặp các ngài Socrates hay Plato hay ngồi dưới chân thánh Francis d’Assisi thì làm sao được? Nhưng sẵn đây chính các ngài là hiện thân của những bậc thánh hiền. Con tự nhủ, nếu có ai đạt được đến sự toàn thiện, toàn hảo thì phải là các vị này”.

Vậy là, Matthieu Ricard đã thực hiện chuyến đi đầu tiên của mình tới Ấn Độ vào năm 1967, khi ấy  ông tròn 21 tuổi. Trong chuyến đi định mệnh, ông đã có cơ duyên gặp gỡ với một vị  đại sư Lạt Ma tên là Kangyur Rinpoché đầy lòng nhân ái và từ bi. Matthieu Ricard được thầy chỉ dạy về tâm linh, nhưng chưa bao giờ  học một lớp học liên tục về Phật giáo nào cả.

Ricard kể lại với cha mình: “Thầy con nói rằng: “Phật giáo có rất nhiều điều hay để học, nhưng điều quan trọng là chớ bao giờ chuyên chú quá vào sách vở lý thuyết mà quên mất thực hành, bởi thực hành mới là trọng tâm của tu tập đạo pháp”. Học với thầy, con tự khám phá ra điều căn bản của quan hệ thầy/ trò là tâm mình phải hoà đồng được với tâm của thầy. Có  thế mới học được phép quán tưởng để đi đến sự hiểu biết giác ngộ”…

Về đến Paris thì mệt nhoài nhưng con thấy chuyến đi đó là một mặc khải đã chi phối ý nghĩa và hướng đi của đời con, mà con không biết nói ra thế nào. Sau khi ở Ấn  Độ về, học năm đầu tại Viện Pasteur con mới thấy rõ phải gặp lại thầy con là một điều quan trọng nhường nào. Lúc nào, con cũng nghĩ đến điều  ấy”.

Vì thế  mà, đến năm 1972, Matthieu Ricard quyết tâm từ bỏ cuộc sống hiện đại và sự nghiệp đầy hứa hẹn của một nhà khoa học để lên đường sang Tây Tạng, tập trung vào việc thực hành Phật giáo. Ông sống ở dãy Himalaya, học tập với vị đại sư Kangyur Rinpoché và một số bậc thầy vĩ đại khác trong giới Phật giáo. Năm 1979, Ricard chính thức trở thành tu sĩ, là người học trò gần gũi và thân thiết nhất của đại sư Dilgo Khyentse Rinpoché.

Năm 1980, cũng nhờ có đại sư Khyentse Riponché, ông đã có cơ hội lần đầu tiên được gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma mà sau này ông đã trở thành phiên dịch viên tiếng Pháp cho ngài bắt đầu từ năm 1989. Sau khi người thầy Khyentse Rinponché qua đời vào năm 1991, kể từ đó, Ricard đã dành mọi tâm huyết và hoạt động của mình để thực hiện tư tưởng đã được thầy truyền dạy.

Bàn về  những bí quyết của hạnh phúc

Matthieu Ricard đã sống trên rặng núi Himalaya từ hơn gần bốn chục năm nay bên những vị thầy tâm linh lớn. Ông ở tại tự viện Shéchèn (Nepal), cống hiến cuộc  đời cho tu hành, bảo tồn nền văn hóa Tây Tạng và cho những dự án nhân đạo ở Tây Tạng.

Ngoài thời gian thu tập và phiên dịch tiếng Pháp cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, ông còn có nhiều hoạt động khác trong vai trò của một nhà nhiếp ảnh, dịch giả và đã xuất bản những tác phẩm bàn về triết lý cuộc sống của nhà Phật cũng như mối tương quan giữa Phật giáo và khoa học.

Tiêu biểu trong số các tác phẩm của ông là cuốn “Tu sĩ và triết gia” ghi lại cuộc trò chuyện giữa ông và cha ông (là triết gia) được dịch ra 21 thứ tiếng, cuốn “Vô tận trong lòng bàn tay” với đồng tác giả là giáo sư Trịnh Xuân Thuận – một nhà vật lý thiên văn học nổi tiếng người Việt mang quốc tịch Mỹ, cuốn “Biện luận về hạnh phúc”, “Thành tuyết”, “Nghệ thuật thiền định” và “Hạnh phúc: Hướng dẫn phát triển kĩ năng quan trọng nhất trong cuộc sống”. Ngoài ra, Ricard còn là dịch giả của rất nhiều sách Phật giáo Tây Tạng.

Bàn về chân hạnh phúc, Matthieu Ricard đã bày tỏ quan điểm của mình như sau: Thực ra, “hạnh phúc” là một khái niệm mơ hồ và người ta thường bị lẫn lộn giữa hạnh phúc đích thực và những cảm giác thích thú. Khi thích thú, chúng ta nhảy lên, làm động tác này, động tác nọ, rồi chúng ta ngã xuống, mệt nhoài và chán nản. Sự thích thú thì tùy thuộc vào hoàn cảnh. Nó bị điều kiện hoá. Nếu ăn một ly kem thì tuyệt, hai ly thì cũng được, nhưng ăn đến ly thứ ba thì bạn sẽ muốn nôn ra. Sự thích thú là thế đấy.

Còn hạnh phúc, đó là nhận thức bẩm sinh của chúng ta. Chúng ta đi trên tuyết, đi dưới bầu trời đầy sao và cảm thấy rất thích thú, không có một xung đột nội tâm nào cả. Khi bạn có một cử chỉ thân thương với một đứa bé, không có ràng buộc gì cả, không đòi hỏi khen hay thưởng gì cả, bạn sẽ cảm thấy được tình yêu thương thuần tuý.

Rồi dần dần, bạn bắt đầu phân biệt các trạng thái khác nhau của tâm mình, gồm những trạng thái mang lại an vui và những trạng thái mang lại phiền não cho mình và  cho người khác. Bạn tự hỏi không biết mình có  thể loại bỏ trạng thái gây phiền não để nuôi dưỡng trạng thái an vui hay không. Vấn đề ở chỗ là: Những cảm xúc gây phiền não đó có phải là một phần thực chất của tâm bạn hay không?

Thông thường, khi ta có một cảm xúc như tức giận chẳng hạn, chúng ta hoàn toàn gắn mình với cảm xúc đó: ta là  nỗi tức giận. Rồi chúng ta tiếp tục thoát khỏi mình và đi đến mục tiêu của nỗi tức giận, chính là kẻ đã làm ta nổi giận. Cứ thế, chúng ta bực dọc vì nỗi giận. Bất cứ khi nào ta nhìn thấy hoặc nhớ đến người đó, cơn giận lại nổi lên, không bao giờ chấm dứt.

Tuy nhiên, thay vì nhìn vào mục tiêu của cơn giận, bạn có thể tách cái tâm của mình ra khỏi cơn giận. Bạn có thể nhìn cơn giận như nhìn một ngọn lửa hay một ngọn núi lửa. Bạn nhìn vào nó, quan sát nó như một hiện tượng. Nếu bạn làm như vậy, bạn có thể tách rời nó ra khỏi nguồn nhiên liệu của nó, tức là mục tiêu của cơn giận. Rồi từ từ, cơn giận sẽ tan đi, giống như người ta thường nói là sương mai tan đi khi mặt trời lên. Ta không đè nén cơn giận vào một nơi nào đó như một quả  bom hẹn giờ. Ta lờ nó đi, không để cho nó nổ. Ta giải quyết nó theo cách làm cho nó bị vô hiệu hóa.

Có một hình ảnh rất hay trong giáo lý nhà Phật. Tâm của chúng ta giống như bề mặt của tấm gương soi. Tính chất của tấm gương là phản chiếu tất cả mọi hình ảnh: những nét mặt giận dữ hoặc tươi cười hay những nét mặt buồn bã, trầm tư. Nhưng những hình ảnh này không thâm nhập vào trong tấm gương. Chúng không phải là một phần của tấm gương. Nếu chúng là một phần của tấm gương, chúng sẽ ngăn cản những hình ảnh khác.

Nét mặt giận dữ sẽ vẫn nằm lại trong gương và nét mặt tươi cười sẽ không bao giờ hiện lên được. Tương tự như vậy, có một sự tỉnh giác thuần khiết, từ đó mọi ý niệm khởi phát. Nếu quả đúng như vậy thì những cảm xúc gây đau khổ được gắn kết với những nguyên nhân và những điều kiện.

Bằng cách luyện tâm, sử dụng đúng thuốc trị, thay thế sự căm ghét bằng lòng yêu thương, thay lòng tham lam bằng tự do nội tâm, bạn có thể thay đổi được cảnh quan của tâm hồn. Đấy là thiền. Thiền là một từ rất xa lạ, nhưng thật sự, thiền chỉ có nghĩa là làm quen với một cách hiện hữu, nuôi dưỡng những phẩm chất nội tâm của mình.

Tác giả: Mai Châu (tổng hợp)/Theo Phunutoday

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: