Vũ Thất

Bảo Bình 1

VIỆT NAM NGÀY NAY (kỳ 94)

1. Kinh tế CSVN tới lúc ‘đào củ mài’ để ăn

HÀ NỘI 24-11 (NV) – Đó là cảnh báo của ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư của chế độ Hà Nội, tại một buổi thảo luận nội bộ của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu.

 

Ông Bùi Quang Vinh – Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư của nhà cầm quyền CSVN. (Hình: Dân Trí)

Phát biểu của ông Vinh, người vừa ở tư cách thành viên chính phủ, vừa là thành viên trong Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu, hôm 24 tháng 11, đã được ghi lại và đưa lên Internet, cho thấy kinh tế Việt Nam hết sức bi đát.

Mâu thuẫn giữa một bên cho rằng phải cải tổ thể chế chính trị để tồn tại với bên còn lại, muốn giữ nguyên đang càng lúc càng gay gắt. Sự giằng co giữa hai khuynh hướng đã đẩy kinh tế – xã hội Việt Nam tới đường cùng và rất khó có lối thoát.

Trong bài phát biểu vừa kể, ông Vinh cảnh báo các đồng liêu về khả năng đầu tư cho phát triển của năm 2014. Giới lãnh đạo đảng, quốc hội, chính phủ đã “nhất trí chi cho đầu tư phát triển là 163 ngàn tỷ”. Viên Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư của nhà cầm quyền CSVN nhận định, con số này tuy quá thấp so với nhu cầu đầu tư để phát triển, nhưng Hà Nội vẫn sẽ không kiếm đủ tiền để chi. Trong 163 ngàn tỷ dự trù sẽ chi, có 30 ngàn tỷ hy vọng sẽ thu từ đất nhưng thị trường bất động sản vẫn đóng băng, thành ra dự thu như thế là ảo tưởng.

Ông Vinh nhấn mạnh “đất nước này vỡ nợ là do xây dựng cơ bản tràn lan”. Đám cầm đầu hệ thống cầm quyền các địa phương mạnh tay phê duyệt các dự án hạ tầng, khuyến dụ các doanh nghiệp bỏ vốn, mượn vốn để thực hiện những dự án đó Nhưng cuối cùng thì nhà cầm quyền trung ương không có khả năng hoàn trả. Hàng loạt doanh nghiệp là chủ đầu tư, hàng loạt ngân hàng cho vay rơi vào tình trạng phá sản, nhà cầm quyền vừa không thu được thuế, vừa “giật gấu vá vai” để trả nợ.

Thực trạng vừa kể cũng là lý do khiến chi cho đầu tư phát triển giảm chưa từng thấy trong lịch sử, nhiều công trình dở dang, trong khi không đầu tư cho phát triển thì không thể phát triển và chế độ Hà Nội đang loanh quanh trong vòng luẩn quẩn do chính mình tạo ra.

Cho dù giới lãnh đạo đảng, quốc hội, nhà cầm quyền trung ương CSVN “nhất trí” với mức phát triển cho năm 2014 là 5.8% GDP – thấp chưa từng có trong lịch sử nhưng ông Vinh cả quyết là vẫn không thể nào đạt được.

Viên bộ trưởng này bảo rằng, bộ của ông ta đã tính toán là muốn đạt mức đó thì “tổng vốn đầu tư toàn xã hội phải đạt từ 30% trở lên, chi cho đầu tư phát triển tối thiểu phải là 234 ngàn tỷ”. Tuy nhiên ngân sách đang trong tình trạng thất thu chưa từng thấy trong lịch sử nên không thể có tiền chi tới mức đã tính toán.

Việc cắt giảm chi cho đầu tư phát triển xuống còn 163 ngàn tỉ chắc chắn sẽ khiến mức tăng trưởng kinh tế cho năm 2014 xuống còn 5% GDP. Ông Vinh nói thêm là ông ta đã cảnh báo với Thủ tướng nhưng ông Nguyễn Tấn Dũng không dám can gián vì Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã “quyết định như thế”

Nỗ lực hồi phục kinh tế không chỉ bị giới lãnh đạo Đảng phá mà còn bị Quốc hội của chế độ cản trở. Ông Vinh kể rằng để tạo nguồn thu cho ngân sách, có tiền đầu tư cho phát triển, ông đề nghị phát hành trái phiếu để khỏi phải in thêm tiền, không gây ra lạm phát trực tiếp. Đây là một hình thức chính phủ đứng ra vay trực tiếp. Khi kế hoạch này chuyển sang cho Quốc hội, nó trở thành trái phiếu do doanh nghiệp phát hành, chính phủ chỉ bảo lãnh nên cả trong lẫn ngoài Việt Nam không ai thèm mua.

Viên Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư của nhà cầm quyền Hà Nội chỉ trích gay gắt cái gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trong khi Hội đồng Lý luận Trung ương vẫn đang loay hoay tìm cách định nghĩa cho khái niệm chẳng giống ai và mô hình chưa biết sẽ như thế nào thì “định hướng xã hội chủ nghĩa” tạo ra vô số hệ quả tai hại, khó có khả năng cứu vãn.

Trong khi các xí nghiệp luyện thép trong nước không có nguyên liệu phải nhập cảng thì xe chở quặng sắt nội địa ùn ùn chạy qua biên giới bán cho Trung quốc. Chúng là các công ty “sân sau” của đám quan chức chóp bu chế độ CSVN.(Ảnh SGTT).

Ông Vinh tâm tình rằng, ông đã nhấn mạnh là Việt Nam phải đổi mới thật sự, không như thế là lụn bại. Ông ta đã có báo cáo chi tiết về kế hoạch đổi mới trình chính phủ nhưng kế hoạch này bị gọt dũa dần dần, ra Quốc hội “chỉ còn một tí!”.

Ông Vinh cảnh báo, nguồn thu chính của Việt Nam trong những năm vừa qua là khai thác tài nguyên đem đi bán. “Năm năm nữa, dầu hết sẽ không còn gì để thu. Khoáng sản thô cũng đã bị đào bới mang bán hết rồi”. Tài nguyên lớn nhất của Việt Nam là con người nhưng không biết sử dụng, có muốn cũng không thể sử dụng. Theo ông Vinh, bộ máy công quyền không thể tuyển mộ người giỏi mà kẻ dốt thì không thể đề ra chính sách tốt.

Ông ta lên án yếu tố tập thể, thủ tiêu vai trò cá nhân và: “Phải thay đổi thể chế để quyền đi đôi với trách nhiệm. Không làm được thì từ chức, không từ chức thì gạch tên”, không thể để “tốt xấu lẫn lộn” như hiện nay, “thành tích chẳng biết của ai mà sai cũng chẳng có ai chịu trách nhiệm”.

Ông Vinh cảnh báo: “Nếu không đổi mới chúng ta sẽ chết. Chúng ta sẽ chỉ còn từ củ mài trở xuống để ăn thôi”. (G.Đ.)

nguồn: Người Việt

2. Cái gọi là kinh tế Việt Nam

T.S. Alan Phan

Mỗi tuần tôi đều nhận vài email hỏi sao bác không viết bài về kinh tế Việt Nam? Nhiều lý do; nhưng các trợ lý của tôi lại lưu ý là các bài viết về kinh tế của tôi thực ra cũng không nhiều người đọc. Những bài của khách khá nổi danh như anh Phạm Đỗ Chí, Phạm Chí Dũng… đăng trên GNA cũng cùng chung số phận hẩm hiu. Có lẽ các email là từ những dư luận viên hướng dẫn chúng tôi ra khỏi các bài về lịch sử và văn hoá xã hội thường liên quan chút đỉnh đến chính trị gây khó chịu cho các quan lãnh đạo?
Dù thế nào, cách đây 2 năm, tôi đã cảm nhận là hệ thống kinh tế của Việt Nam đã biến thái thành một sân chơi hoàn toàn do các chính trị gia điều khiển theo mục tiêu chính trị của họ. Mặc cho những lời nói bày tỏ quyết tâm này chương trình nọ trong kế hoạch 5 năm, 10 năm, 50 năm… không một kinh tế gia nào sống tại Việt Nam thực sự tin vào những chiêu PR hay các khẩu hiệu này. Sau 80 năm, chỉ còn những thế hệ trẻ vừa tập tễnh ra đời là còn chút hy vọng.
Kinh tế Việt Nam đã trở thành một nơi chốn mà mọi thành phần có quyền có lợi tranh dành xâu xé, mang những miếng mồi ngon nhất về cho gia đình và phe nhóm mình. Một chế độ tư bản hoang dã, với nhiều cách phá luật, để kiếm tiền nhiều nhất và nhanh nhất. 5% dân số đang kềm kẹp và thuyết phục đa số còn lại nhận những mẩu cơm vụn, canh thừa… để an phận (sinh ra đã đòi …làm chủ?).
Vả lại, điều này cũng không gì xa lạ. Cách đây 150 năm, Mỹ đã xây dụng nền kinh tế vĩ đại của mình trên những thủ thuật tương tự, dù kín đáo hơn. Gần đây, Hàn Quốc, Đài Loan, Indonesia, Phi Luật Tân… đều có những trải nghiệm đau thương của tư bản hoang dã. Họ may mắn là nền kinh tế toàn cầu lúc đó chưa liên thông rộng rãi nên họ thoát khỏi vũng bùn mà không có nhiều cạnh tranh. Hiện nay, Việt Nam sẽ vất vả hơn nhiều và chu kỳ trì trệ chắc chắn sẽ kéo dài thành thập kỷ, nếu không canh tân theo môi trường mới.
Đó cũng là lý do chính khiến tôi không nói chuyện về kinh tế Việt Nam nữa. Chúng ta không có chính sách hay kế hoạch kinh tế nghiêm túc để thi hành. Chúng ta có một cơ chế hành chính đã bén rễ sâu từ 80 năm qua, và những nhóm đặc quyền sẽ không cho ai đụng tới. Mặc cho mọi kêu gào về tái cấu trúc hay đổi mới, những người biết chuyện đều quay lưng cười đểu. Chúng ta có một kỹ năng ngoại giao rất giỏi, nên chúng ta ca bài con cá rất phù hợp với những gì người Mỹ, người Nhật, người Hàn… hay người Tàu, người Nga muốn nghe (cũng không nên tự hào lắm về việc này, họ chỉ gật đầu khi quyền lợi của họ được tôn trọng). Chúng ta tuyên huấn dậy dỗ bọn dân đen, nhưng phần lớn thời gian và đầu óc chúng ta còn loay hoay với đơn đặt hàng của mẹ đĩ, của xếp lớn, của đối tác, của con cháu…
Tuy nhiên, với các bạn BCA muốn phân tích sâu rộng hơn về nền kinh tế này, tôi xin nhắc các bạn về vài điều căn bản:
1. Số liệu thống kê
Hơn 3 thập kỷ nay, phân tích định lượng (quantitative analysis) của kinh tế vĩ mô càng ngày càng chiếm ưu thế tuyệt đối so với định tính (qualitative). Các số liệu thống kê và dữ kiện chính xác là yếu tố đầu tiên và cuối cùng. Điều này cũng không tránh được những “xoa bóp” cố tình của chính trị gia để trục lợi cho chánh sách và quyền lực. Tuy nhiên, trong một thể chế minh bạch với sự soi mói của ngàn góc nhìn từ chuyên gia đến báo giới, mọi lạm dụng đều bị giới hạn.
Trong những quốc gia mà quyền tự do ngôn luận bị kiểm soát chặt chẽ, mọi sử dụng số liệu là một trò hài kịch cỡm. Trừ khi vì miếng cơm manh áo, khi các chuyên gia khoác cho dự đoán và phân tích của mình cái áo khoa học dựa trên các số liệu sản xuất từ bệnh thành tích, họ đã tự lừa dối bản thân và bao nhiêu người dân khác?
2. Quán tính (inertia) là một lực đẩy bền bỉ
Ngược với thái độ tô hồng vô trách nhiệm ở trên là những đánh giá vô cùng tiêu cực của nhiều chuyên gia khi họ nhận ra những hiểm nguy và rủi ro lớn của bất cứ nền kinh tế nào. Danh từ “vỡ trận”, “sụp đổ”, suy thoái “trăm năm”… được sử dụng bừa bãi. Một thí dụ điển hình là xứ Zimbabwe của ông Mugabe. Mặc cho lạm phát cả trăm ngàn phần trăm mỗi năm, dân tình phải bỏ chạy khỏi xứ hàng loạt, cuộc khủng hoảng làm thế giới há hốc miệng cũng chấm dứt sau 6 năm. Đến nay, dù không khá gì hơn các nước láng giềng, Zimbabwe và ông Mugabe (đắc cử từ 1980) vẫn tồn tại và nhe răng cười rất tươi trước các ống kính phóng viên (hay ngủ say sưa trong một cuộc họp thượng đỉnh các quốc gia Phi mấy ngày trước).
Những thí dụ về các quốc gia khác như Bắc Triều Tiên, Hy Lạp, Argentina… tràn đầy trong lịch sử kinh tế thế giới.
3. Mọi nền kinh tế đều có những mảng tối sáng khác nhau và luôn thay đổi
Không một nền kinh tế nào giống nhau. Ngoài kích cỡ, đặc thù cạnh tranh, cơ hội và rủi ro, các nền kinh tế quốc gia lại còn luôn biến dạng theo tình thế hay theo lãnh tụ. Phi Luật Tân đang trì trệ vì các Tổng Thống từ Ramos đến Arroyo đã để quán tính và các phe nhóm lợi ích lôi cuốn. Đến 2010, khi vị Tổng Thống trẻ Aquino nắm quyền, ông đã quyết tâm theo đuổi một chính sách cải cách và hiện đại, tạo nhiều thành quả ngoạn mục trong mấy năm vừa qua.
Quay lại với Việt Nam, trong khi các doanh nghiệp tư nhân vất vưởng vì nhiều thế yếu cạnh tranh, lồng trong một nền kinh tế vĩ mô giáo điều và nặng nề, khu vực FDI hiện đang phát triển tốt với những đặc lợi ban phát vô cùng béo bở. Các nhà đầu tư FDI rất nhạy bén với cơ hội và thêm vào đó, thị trường tương lai của 90 triệu dân số trẻ trung luôn tạo hấp dẫn. Sản lượng xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI sẽ là đầu tàu chính cho những phát triển sắp đến.
4. Ba gánh nặng ngàn cân
Tuy nhiên con rồng kinh tế Việt Nam sẽ không cất cánh được, ngay cả khi gia nhập TPP (dự trù vào cuối 2014); vì trọng lực nặng nề của 3 yếu tố: doanh nghiệp nhà nước, nợ xấu ngân hàng và ngân sách chánh phủ. Ngày nào mà toàn dân còn phải khiêng đỡ các hành lý này, thì ngày đó kinh tế Việt Nam chỉ nên bàn về mô hình “sống sót” (survival).
Khi các nhà lãnh đạo chính trị và kinh tế vẫn kiên định về định hướng lạ lùng và ngược đời của Việt Nam, thì hệ quả là ngay cả 120 năm sau, chúng ta cũng không bắt kịp Singapore. Các thế hệ trẻ sau này sẽ tiếp tục đi đào vàng giữa sa mạc hay biển cả.
Nhưng trên hết, tôi vẫn muốn chia sẻ một nguyên lý mà tôi hay lập đi lập lại: kinh tế cá nhân vẫn quan trọng hơn vĩ mô. Một doanh nghiệp đầy đủ kỹ năng và có một kế hoạch chi tiết bài bản về mô hình kinh doanh, cùng một quyết tâm và kiên nhẫn cao độ, vẫn sẽ tìm cho mình một chỗ đứng xứng đáng dưới ánh mặt trời.
A.P.

Nguồn: gocnhinalan.com

 

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: