Vũ Thất

Bảo Bình 1

Lại hòa giải hòa hợp

Lại hòa giải hòa hợp:

VT: Bài “Chúng ta cần hòa giải dân tộc như thế nào?được đăng trên website nguyentandung.org, ghi rõ chức danh: Nguyễn  Tấn Dũng , Thủ tướng nước CHXHCNVN. LOGO đề: Làm gì đề thống nhất được lòng dân? Bài không đề tên người viết, được hiểu như của NTD ?

Dù vẫn ngoan cố với nguyên nhân cuộc chiến là “chống Mỹ xăm lược” chớ không phải ở bản chất “ta đánh là đánh cho Liên Xô Trung Quốc”, bài viết nói lên ước muốn hòa giải của chính quyền với phe ta cùng với phương cách đề nghị…
VT sẽ chuyển các phê phán từ phe ta. Bài đầu tiên của Luật sư Lê Đức Minh ngay sau bài này…
 
1. Chúng ta cần hòa giải dân tộc như thế nào?
Cuộc chiến tranh đã đi qua gần 40 năm, Tổ quốc, giang sơn đã liền một dải. Nhưng vẫn còn một bộ phận người Việt Nam vẫn còn ngăn cách về tình cảm, suy nghĩ … thậm chí vẫn còn lưu giữ hận thù …  người Việt vẫn chưa thể thực hiện được việc hòa hợp và hòa giải dân tộc, điều mà nhiều dân tộc đã làm rất tốt công việc này mặc dù đất nước họ cũng đã có thời kỳ chiến tranh và chia rẽ. Đó là nỗi đau lớn của Dân tộc Việt Nam.

Khi tiếng súng tắt trên chiến trường, lòng người lại ngổn ngang trận mạc. Máu ngừng đổ nhưng hòa hợp vẫn chưa tới. Hòa giải dân tộc được đề ra để người Việt Nam trong một nước có thể đến gần nhau, hiểu về nhau và tìm về một sự tồn tại mới cùng nhau.

Hòa hợp dân tộc: Không thể chờ nước chảy đá mòn.
Trong ảnh: Kiều bào dự hội nghị người Việt trên toàn thế giới, Hà Nội 2009. Ảnh: Lê Anh Dũng

Đứng trước một thời kỳ mới, hội nhập và phát triển với kỳ vọng sẽ có sự thay đổi lớn về tư duy, cải cách thể chế thì vấn đề hòa hợp, hòa giải càng cần thiết phải đặt ra để đưa đất nước Việt Nam đi lên.

Sự cần thiết của việc hòa hợp hòa giải

Trong giai đoạn hiện nay, cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng khốc liệt, khi an ninh, chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc đang bị đe dọa, … Việc thống nhất lòng người, tạo thành một khối sức mạnh thống nhất để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, đưa đất nước và dân tộc Việt lớn mạnh lại càng trở nên cấp thiết.

Khi đã sống trong một xã hội pháp quyền, dân chủ tiến bộ thì chúng ta phải bỏ qua hận thù, khép lại quá khứ, cùng nhau xây dựng đất nước. Mọi người phải biết tôn trọng nhau, tìm ra điểm chung để đoàn kết. Và đặc biệt người Việt cũng cần phải học cách thức sống chung với những khác biệt.

Tại Mỹ trong cộng đồng người Việt có người treo ảnh Chủ tịch Hồ chí Minh và cờ đỏ sao vàng hay tại Việt Nam người dân tưởng niệm các tướng lãnh, binh sĩ Việt Nam Cộng hòa đã ngã xuống ở Hoàng Sa để giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc cũng cần phải được tôn trọng.

Ngay cả trong chiến tranh, người Việt Nam vẫn luôn một lòng

Vấn đề nhạy cảm đó là sự khác biệt về quan điểm chính trị rất dễ gây ra xung đột và bất ổn nếu một dân tộc không biết cách đưa ra nhưng nguyên tắc, phương thức hòa bình để giải quyết các khác biệt đó.

Một minh chứng cho điều này là Thái Lan và gần đây nhất là Ukraina mặc dù họ đều là những quốc gia tam quyền phân lập, đa nguyên đa đảng nhưng do các bên đều không có phương thức xử lý khác biệt một cách hòa bình nên các xung đột diễn ra thường với thời gian dài, liên tiếp và đầy bạo lực gây bất ổn xã hội, cản trở sự phát triển đất nước.

Nhưng ở Việt Nam, cuộc chiến gần 40 năm về trước về bản chất là chiến tranh chống Mỹ xâm lược và sau này bị biến thành cái mà một bộ phận người Việt gọi là “nội chiến” do chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, hay còn gọi là “thay màu da trên xác chết”. Được lồng vào đó là sự khác biệt về tư tưởng, đường lối chính trị cùng với sự hậu thuẫn, lôi kéo của các cường quốc là Nga, Trung Quốc và Mỹ.

Hiện nay, cùng với thời gian nhận thức của người dân Việt Nam đã có nhiều thay đổi tuy nhiên cũng vẫn còn những yếu tố có thể gây nên những bất ổn, nếu người này vẫn nhìn nhận người kia như những đối tượng thù địch cần bị loại bỏ.

Cần cùng tập trung vào giải quyết những vấn đề chung của đất nước: Dân tộc Việt Nam tuy hình thành từ rất lâu đời nhưng do nhiều lý do cả từ quá khứ, lẫn hiện tại mà vẫn được cho là một đất nước chậm phát triển.

Những mối lo đến từ bên ngoài về vấn đề chủ quyền, lãnh thổ vẫn đang hiện hữu. Do vậy, rất cần có sự nỗ lực đoàn kết của người Việt trong việc cùng hướng tới xây dựng một quốc gia giàu mạnh, tốc độ phát triển nhanh cũng như đối phó với những thách thức từ các quốc gia láng giềng.

Thực hiện việc hòa hợp và hòa giải phải xuất phát từ thay đổi cách nhìn nhận về nhau.

Quan hệ Việt – Mỹ đã có nhiều thay đổi sâu sắc. Nhiều cựu chiến binh Mỹ thời gian qua đã trở lại chiến trường xưa, những người từng là kẻ thù hai bên chiến tuyến đã ngồi lại được cùng nhau, cùng nhau bàn tới tương lai theo tinh thần gác lại quá khứ.

Nhưng người Việt với nhau ở hai trận tuyến năm xưa vẫn chưa dễ đồng thuận và đồng tình khi nhìn lại một thời chia cắt và hố sâu ngăn cách vẫn còn bị khơi lại lúc này lúc khác, do thiên kiến, do hẹp hòi và cả do một cái gì đó như là bản tính giống nòi. Một thái độ tỉnh táo, khách quan và nhân ái là cần thiết được nhắc lại lúc này, được nhấn mạnh hôm nay, để dân tộc sớm thoát được những ám ảnh chiến tranh làm thành trở ngại ngăn cản con đường đi tới.

Kiều bào là một phần máu thịt của dân tộc Việt Nam

Quan điểm

Một bộ phận người Việt đang có một số quan điểm sau về người Cộng Sản như sau:

Quan điểm thứ nhất, cho rằng người Cộng sản Việt Nam không bao giờ thay đổi:

Nếu chúng ta lùi thời gian về trước năm 1986 thì cả Việt Nam và Bắc Hàn đều khá giống nhau về mô hình quản lý đất nước lẫn ý thức hệ. Việt Nam được cho là nghèo nàn và thua kém hơn Bắc Hàn vào thời điểm đó. Nhưng cũng chính vì sự thay đổi của người Cộng Sản Việt Nam mà cho tới nay Việt Nam hơn Bắc Hàn về mọi mặt cả mức độ dân chủ, mức sống người dân, sự hội nhập với thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế….

Nước được cho là bảo thủ, khép kín hơn Việt Nam rất nhiều là Miến Điện thì lãnh đạo của họ hiện tại cũng đã công bố công khai và đang tiến hành triển khai một cách có lộ trình về cải cách thể chế chính trị.

Tại Việt Nam, với những thay đổi gần đây trong xã hội cũng như từ các phát biểu của lãnh đạo hiện tại về cải cách thể chế, xây dựng nhà nước pháp quyền và mở rộng dân chủ thì tin răng sẽ có một tiến trình cải cách mạnh mẽ trong thời gian tới.

Quan điểm thứ hai, cho rằng tất cả người cộng sản Việt Nam đều xấu, cần lên án và loại bỏ.

Nếu chúng ta nhìn lại những sự thay đổi về thể chế chính trị của nhiều nước Đông Âu, Nga và Mông Cổ thì nhân tố chính cho sự thay đổi lại đến từ chính những đấu tranh giữa những người cộng sản cấp tiến mong muốn thay đổi với những người cộng sản bảo thủ.

Do vậy, không phải riêng người Cộng sản, trong bất cử đảng phái nào cũng đều có những nhóm người có quan điểm khác nhau, thậm chí đấu tranh với nhau.

Tại Việt Nam cũng vậy, những phản biện có tác động tích cực tới sự những thay đổi, cải cách tại Việt Nam thường đến từ những người đã và đang là những người cộng sản. Bởi chính họ chứ không ai khác mới là những người hiểu rõ người cộng sản và họ biết các thức tác động sao cho hiệu quả nhất.

Việc lên án tất cả những người cộng sản dễ dẫn tới nhiều người cộng sản muốn thay đổi, cải cách nhưng lại lo sợ là đối tượng bị trả thù nếu Việt Nam có sự thay đổi về thể chế chính trị. Nên đó cũng là yếu tố cản trở sự cải cách.

Chính quyền Việt Nam

Trong công tác đối ngoại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những thành công nhất định khi hòa giải được với tất cả những nước đã từng là thù địch như Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Pháp…, phá vỡ thế bị cô lập để hội nhập với thế giới. Phương thức ngoại giao chủ yếu được dùng là đối thoại và đàm phán, tránh tối đa xung đột và tận dụng sự ủng hộ quốc tế trong các tranh chấp lãnh thổ.

Thế nhưng trong đối nội lại tỏ ra khá thận trọng khi ứng xử với sự khác biệt về quan điểm chính trị hoặc chống đối cực đoan. Hạn chế sử dụng biện pháp mạnh để đối phó với đối lập nhằm tránh các hoạt động đấu tranh, đối kháng.

Do vậy, phương pháp đàm phán và đối thoại là cách tốt nhất để giải quyết sự khác biệt để tìm ra giải pháp tốt nhất cho đất nước và người dân.

Mặc dù đã có sự thay đổi cởi mở hơn về cách ứng xử với những người từng là lính Việt Nam Cộng Hòa ví như thời gian gần đây báo chí đã có những bài ca ngợi những người lính VNCH trong trận Hải chiến Hoàng Sa, không ngăn cản người dân tưởng niệm lãnh đạo VNCH như Ngô Đình Diệm…. Tuy nhiên, trong các sách báo và tài liệu chính thống thì vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể khi mô tả về cuộc chiến tranh.

Những quan điểm và hành xử như trên đều cần phải có những điều chỉnh thì mới tạo được sự hòa hợp và hòa giải thực sự của dân tộc. Sự thay đổi của người này cũng phụ thuộc vào hành xử của người kia. Nếu người này luôn mong muốn loại bỏ, tiêu diệt đối phương thì sẽ dẫn tới những hành động phản ứng tương tự từ phía người kia.

Do vậy, mục đích cao nhất của sự đấu tranh là tác động để mọi người thay đổi cùng hướng tới những thỏa thuận, mục tiêu chung có lợi cho sự phát triển đất nước mà chấp nhận khép lại quá khứ.

Kiều bào xúc động đón Tết quê hương

Công việc hòa hợp và hòa giải phải được thực hiện chủ động chứ không chỉ hy vọng, trông chờ vào sự tự thay đổi. Khi còn mâu thuẫn với nhau thì tốt nhất công việc hòa giải thực hiện bởi một trung gian, đứng giữa có thể tin tưởng.

Điều đó có nghĩa là tại Việt Nam nên hình thành một tổ chức độc lập thực hiện công tác hòa hợp và hòa giải dân tộc.

Tổ chức hòa giải

Tổ chức này nên do những người có uy tín trong xã hội đứng ra kêu gọi thành lập. Thành phần tham gia là những người tâm huyết với công tác hòa hợp hòa giải dân tộc.

Mục đích hoạt động chỉ tập trung vào công tác hòa giải dân tộc và đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Các hoạt động cụ thể trước mắt có thể bao gồm:

– Vận động hạn chế dùng các tài liệu, sách báo và đưa ra các chứng cứ lịch sử để cáo buộc, lên án nhau. Nên viết về lịch sử đã qua một cách khách quan, tránh gây thù địch. Điều mà nhiều nước họ đã làm tốt.

– Tạo điều kiện cùng phối hợp những hoạt động chung như tưởng niệm các chiến sỹ đã bảo vệ biển đảo tổ quốc, ủng hộ nạn nhân các vụ thiên tai, lũ lụt trong nước, các hoạt động chung để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.

– Thiết lập các cuộc gặp mặt, đối thoại để giải quyết những bất đồng, khác biệt.

– Đề cao tinh thần dân tộc, nhấn mạnh đến những điểm chung: cùng dòng máu, cùng dân tộc, cùng đất mẹ,….

Riêng với vấn đề hòa hợp dân tộc, cơ chế nào cũng phải chứa đựng điều cốt lõi là sự bao dung, tha thứ.

Thế giới hòa giải ra sao?

Năm 1990, Tổng thống Mỹ George Bush đã xin lỗi 120 ngàn người Mỹ gốc Nhật bị giam cầm trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Cũng năm đó, Mikhail Gorbachev bày tỏ sự ân hận sâu sắc trước việc Stalin giết chết 15 ngàn viên chức người Ba Lan tại Katyn Forest vào năm 1940. Đức giáo hoàng John Paul đệ nhị xin lỗi về việc Giáo hội Công giáo đã thất bại trong việc cứu giúp người Do Thái khỏi thảm hoạ Holocaust. Nữ hoàng Elizabeth II của Anh công khai xin lỗi việc nước Anh tàn sát người Maori ở Tân Tây Lan trước đây.

Thủ tướng Đức Willy Brandt có cử chỉ hòa giải nổi tiếng ở Ba Lan năm 1970

Thủ tướng Anh Tony Blair xin lỗi về trách nhiệm của Anh trong nạn đói ở Ireland vào thế kỷ 19. Năm 1998, Tổng thống Bill Clinton xin lỗi người châu Phi về vai trò của Mỹ trong việc buôn bán nô lệ thế kỷ trước. Năm 1993, Thủ tướng Nhật Morihiro Hosokawa bày tỏ sự ân hận và xin lỗi về những tội ác mà nước Nhật đã gây nên thời Chiến tranh thế giới thứ 2. Năm 1995, Thủ tướng Nhật Tomiichi Murayama lại xin lỗi lần nữa. Năm 1998, trong dịp gặp gỡ với Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae Jung, Thủ tướng Nhật Keizo Obuchi lại xin lỗi lần nữa, nhắm chủ yếu vào những nạn nhân người Hàn Quốc.

Năm 2009, Thủ tướng Úc Kevin Rudd đã chính thức xin lỗi người thổ dân tại Úc về những chính sách sai lầm của người da trắng trong quá khứ. Chỉ tiếc rằng chưa thấy lãnh đạo cao nhất của Pháp, Mỹ, Nhật và Trung Quốc xin lỗi Việt Nam khi đã gây ra bao nỗi đau cho dân tộc Việt Nam trong quá khứ.

Những lời xin lỗi công khai và chính thức như thế chứng tỏ sự thành tâm và thiện chí nhằm hàn gắn những rạn nứt trong xã hội và giữa các quốc gia để mọi người có thể thanh thản xếp chuyện quá khứ lại để hướng tới tương lai, một tương lai hoà thuận và hợp tác.

Hòa hợp và hòa giải dân tộc cần thái độ tỉnh táo và nhân ái

Hòa hợp và hòa giải dân tộc cần thái độ tỉnh táo và nhân ái

Ngày 27-1-1973, Hiệp định về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết tại Paris, thủ đô Cộng hòa Pháp, giữa bốn bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời…

Năm 2014 có nhiều dấu ấn quan trọng, Trung Quốc và Đài Loan lần đầu tiên có cuộc gặp ở cấp cao nhất bàn về vấn đề hòa hợp dân tộc. Bắc Hàn lần đầu tiên đưa ra những đề nghị với Nam Hàn việc hòa giải giữa hai quốc gia.

Dân tộc của chúng ta đã hy sinh quá nhiều, quá lớn. Chúng ta phải biết cách để không bị cuốn vào vòng xoáy của chiến tranh, phải giữ vững hòa bình, an ninh, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không để xảy ra những gì tổn thương lớn lao cho dân tộc nữa. Không ai có thể thấm hơn chính chúng ta về những bài học lịch sử. Với câu chuyện hòa hợp dân tộc, thời gian đã dài quá đủ để chúng ta thấm thía. Liệu người Việt Nam đã có thể khởi động một tiến trình hòa hợp vào hòa giải dân tộc đột phá trong năm nay?

Góp ý của độc giả NL:

Nếu một lãnh tụ làm sai với một quốc gia nào thì họ đại diện cho quốc gia mình để chân thành xin lỗi. Còn nếu một lãnh tụ hay cả một tập thể lãnh đạo làm gì sai với dân tộc mình thì sao không xin lỗi? Thay vì viết một bài dài, ông thủ tướng chỉ cần vắn tắt nói mấy câu:
Thay mặt bộ chính trị, thay mặt 3 triệu đảng viên, tôi xin chân thành xin lỗi đồng bào Việt Nam về: việc đồng ý cho Tàu thôn tính Hoàng Sa năm 74, vụ thảm sát Mậu Thân năm 68, vụ cải cách ruộng đất, vụ nhân văn giai phẩm, vụ tù cải tạo, việc lấy tiền xua người ra biển, việc phá hoại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, vụ cướp nhà cữa tài sản người miền Nam sau 75 và tất cả những vụ bỏ tù những tù nhân lương tâm, vụ ăn cướp đất Chùa, Nhà Thờ, Tu Viện và tất cả những vụ tham nhũng bán tài sản quốc gia làm giàu cá nhân….”
Nói được như thế thì may ra người dân Việt Nam sẽ bớt đi thù hận và tin tưởng ở tương lai về hoà hợp dân tộc…
Muốn hòa hợp dân tộc thì trước tiên là phải giải thể đảng cộng sản, cho trưng cầu dân ý, viết lại hiến pháp và thiết lập một chế độ tự do, dân chủ…

2. NGUYỄN TẤN DŨNG VÀ GIẤC MƠ PUTIN

Ls Lê Đức Minh

 Sau khi thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đọc bài diễn văn đầu năm mới, tôi đã có viết một bài phân tích sự khác lạ về hình thức cũng như nội dung của bài diễn văn, so sánh với những bài diễn văn cùng loại từ trước đến nay của các lãnh tụ cộng sản Việt Nam.

Tôi đã lưu ý một điểm rằng trong bài diễn văn của ông Dũng, ông ta không hề nhắc đến những kẻ thù của chế độ đang ngày đêm âm mưu tự diễn biến, để lật đổ chế độ cộng sản. Thay vào đó bài diễn văn đã nhấn mạnh đến vấn đề thay đổi thể chế, thực hiện dân chủ và phân định cũng như giới hạn quyền lực của hành pháp, tư pháp và lập pháp.

Nhiều nhà bình luận trong cũng như ngoài nước đã tỏ ra dè dặt khi nêu lên niềm hy vọng về những cải cách dân chủ tại Việt Nam, mà ông Dũng đã đề cập đến trong bài diễn văn của ông ta.

Tôi cũng đã nêu lên vấn đề liệu những gì ông Dũng nêu ra trong bài diễn văn của ông có phải là ý kiến tập thể của bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam hay không. Nếu đúng như thế thì chính đảng cộng sản Việt Nam đang lên kế hoạch để tự diễn biến.

Bẵng đi một thời gian không thấy động tĩnh gì từ khi ông Dũng đọc bài diễn văn, nhiều người đã thất vọng. Vừa qua nhà báo Bùi Tín đã viết một bài báo “Ba quả lừa đầu năm” cáo buộc ông Dũng cho đồng bào trong lẫn ngoài nước tiếp tục ăn bánh vẽ tự do dân chủ.

Tuy nhiên ngày 5/3 vừa qua, tôi đọc được một bài viết lạ, đăng trên website của ông Dũng. Bài này mang tựa đề “Việt Nam có cần một nguyên thủ quốc gia như Putin?” Đọc bài này tôi chợt nhận ra một điều rằng sự rạn nứt trong đảng cộng sản Việt Nam đã lên đến đỉnh điểm, và ông Dũng đã công khai nêu lên tham vọng cá nhân của ông ta.

Bài viết mở đầu bằng một phát súng bắn trực diện vào cơ chế chính trị của chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay với một đoạn văn như sau: “Vì sao từ một nước yếu kém, tan rã, nước Nga trở nên hùng mạnh như ngày hôm nay?… và vì sao từ một quốc gia nghèo đói, chỉ cần khoảng 30 năm, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore đã trở thành những quốc gia hưng thịnh hàng đầu thế giới, còn Việt Nam thì chưa? Câu trả lời ở ngay trong chính cơ chế của chúng ta”.

Tiếp đó bài viết nhấn mạnh rằng: “Nhìn lại những gì mà Putin đã và đang làm cho nước Nga có thể thấy rằng, không có Putin thì không có nước Nga hùng mạnh và thịnh vượng như ngày hôm nay. Và nước Nga rất cần một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và quyết đoán như Putin”.

Sau khi khen rằng Putin thông minh, quyết đoán và biết nắm lấy thời cơ để khôi phục vị trí cường quốc của Nga, bài viết cũng nêu lên những chính sách thành công của các lãnh tụ quốc gia khác như thủ tướng Ikeda Hayato của Nhật, tổng thống Park Chung Hee của Nam Hàn, và Lý Quang Diệu của Singapore. Những nguyên thủ quốc gia nói trên, trong một thời gian khoảng 3 thập kỷ đã biến Nhật bản, Hàn Quốc và Singapore trở nên những quốc gia giàu mạnh.

Chúng ta đều biết rằng, về nguyên tắc các lãnh tụ đảng cộng sản, đặc biệt là các thành viên của bộ chính trị không bao giờ nói hai lời, ngoài trừ trường hợp có sự chia rẽ nghiêm trọng và chuẩn bị cho các vụ đấu đá thanh trừng nội bộ.

Thời gian qua ở trong nước đồng bào không còn lạ gì sự rạn nứt giữa bộ ba quyền lực tại Việt Nam là Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang. Trong đó người ta tin rằng Trọng và Sang về một phe còn Nguyễn Tấn Dũng là một phe. Cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa bộ ba này đã diễn ra từ lâu từ ngấm ngầm nay đang trở thành công khai và bước vào một giai đoạn quyết liệt.

Bài viết phân tích rằng quyền lực tại Việt Nam nằm trong tay bốn nhân vật chủ chốt đó là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch nước Nguyễn Tấn Sang, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Đi xa hơn bài viết còn khẳng định rằng sự phân chia quyền lực của bốn nhân vật này lại mâu thuẫn với chế độ tam quyền phân lập! Từ khi nào những bài viết chính thức của đảng và chính phủ phê phán cơ chế tập trung dân chủ của đảng cộng sản là trái với cơ chế tam quyền phân lập?

Tuy nhiên, cũng theo bài viết, thì quyền lực được trao vào trong tay những nhân vật nói trên đã tạo ra một cơ chế chồng chéo, nhiều khi mâu thuẫn lẫn nhau, khiến cho việc điều hành quốc gia gặp trở ngại nghiêm trọng. Ví dụ trong khi tổng bí thư chính là bí thư quân ủy trung ương, có nghĩa là người lãnh đạo cao nhất của quân đội, thì chức vụ tổng tham mưu trưởng tối cao của quân đội lại nằm trong tay của chủ thịch nước. Thêm vào đó thủ tướng đứng đầu chính phủ muốn ban hành chính sách , hay quốc hội đứng đầu lập pháp muốn sửa đổi hiến pháp lại phải đều chờ nghị quyết của đảng.

Một bài viết đăng trên website chính thức của thủ tướng chính phủ chắc chắn không phải là một bài viết vô tội vạ của một anh gà mờ chính trị nào đó. Dựa trên nội dung của bài viết tấn công vào cơ chế tập trung dân chủ hiện nay của đảng cộng sản Việt Nam, có thể nói rằng ít nhất bài viết nói trên cũng thể hiện quan điểm của cá nhân ông thủ tướng.

Về cơ chế tập trung dân chủ vốn được xem như là xương sống trong hệ thống tổ chức của đảng cộng sản, bài viết cay đắng nhận định rằng: “Cũng vì thế mà nhiều người thấy rằng cơ chế tập trung dân chủ chậm đổi mới, thậm chí vẫn còn là cơ chế tập trung quan liêu, không theo kịp các yêu cầu của đời sống, làm cản bước tiến của xã hội. Tập thể quyết định, khi xảy ra tiêu cực thì tập thể phải chịu trách nhiệm, lỗi chung, thành ra chẳng ai chịu trách nhiệm cả”. Điều này chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử của đảng cộng sản Việt Nam. Trước đây bất kỳ ai phê phán cơ chế tập trung dân chủ của đảng thì chắc chắn chọn con đường chung thân trong trại cải tạo.

Nếu đây là ý kiến cá nhân của ông Dũng thì chúng ta có thể thấy ông Dũng đã không còn đủ kiên nhẫn để chờ đợi nữa. Bài viết than phiền rằng: “chữ “nhẫn” đã trở thành một trong những slogan hàng đầu cho mọi ứng xử của người Việt Nam”, và “Những người lãnh đạo có tài và có tâm muốn đóng góp cho đất nước thì không thể tự quyết vì quyền lực thuộc về tập thể. Khi cá nhân đưa ra một vấn đề, phải bàn lên bàn xuống, hỏi ý kiến người này người kia, chín người mười ý dẫn đến lâu ra quyết định đánh mất nhiều cơ hội và thời cơ cho đất nước”.

Cuối cùng bài viết kết luận rằng: “Việt Nam cần một nguyên thủ như Putin để đưa đất nước đi lên”, một nguyên thủ có: “đủ toàn quyền để làm và chịu trách nhiệm như Putin, Ikeda Hayato, Lý Quang Diệu…hay ít ra được như Tập Cận Bình”.

 

Đến đây thì chắc có lẽ không ai còn mù mờ gì về tham vọng của ông thủ tướng Việt Nam (nếu bài viết quả thực là ý kiến của ông Dũng). Ông Dũng cho rằng Việt Nam cần một nguyên thủ như Putin, chứ cỡ như Tập Cận Bình là quá tệ, tệ còn hơn Ikeda Hayato và cả Lý Quang Diệu nữa. Dĩ nhiên ông Dũng tin rằng trong số bốn nhân vật quyền lực tại Việt Nam không ai có đủ tư cách để trở thành một Putin như ông. Và tất cả quyền lực chính trị và quân sự tại Việt Nam phải được thu tóm về trong tay một cá nhân duy nhất như tổng thống Putin của nước Nga.

Tôi không tin rằng cơ chế chính trị tại nước Nga là một hình mẫu của chế độ tam quyền phân lập để Việt Nam có thể đi theo. Có lẽ đã đến lúc Việt Nam cần phải tự mình tìm ra một mô hình chính trị dân chủ phù hợp với văn hóa, nguyện vọng và nhận thức của chính người Việt Nam.

Tôi cũng tin rằng nước Nga và Việt Nam có những quan tâm rất khác nhau do đó Việt Nam không cần một vị nguyên thủ như Putin. Trong khi Putin cố gắng để nước Nga khỏi tan rã thành từng mảnh nhỏ, xây dựng lại hình ảnh nước Nga như một cường quốc của thế giới, thì mối quan tâm chính của Việt Nam là thể chế chính trị, là dân chủ và nhân quyền và hòa giải dân tộc.

Putin tỏ ra không quan tâm đến vấn đề tự do và dân chủ, nhân quyền của người dân Nga. Hơn ai hết Putin cho rằng chủ nghĩa quốc gia phải được đặt trên tất cả những giá trị tinh thần khác như tự do, dân chủ và nhân quyền. Nước Nga vẫn là một quốc gia kém phát triển về dân chủ, tự do của người dân vẫn còn rất hạn chế và Putin, trong con mắt của thế giới, vẫn là một nhà độc tài. Có thể những gì Putin đang làm đã vuốt ve lòng tự ái dân tộc của nhiều người Nga, nhưng người dân Nga đã đánh đổi tự do, dân chủ để có những phút giây tự hào dân tộc đó.

Nước Nga so sánh với các nước phương Tây khác vẫn là một nước nghèo và trên lĩnh vực này Putin đã không làm được gì nhiều để nâng cao mức sống của người dân Nga so với mức sống của các quốc gia châu Âu khác. Riêng về khả năng làm kinh tế, Việt Nam chẳng có gì để học hỏi Putin.

Cái mà người Việt Nam chúng ta cần phải cảnh giác là đừng bao giờ hy sinh một chế độ độc tài này để đổi lấy một chế độ độc tài khác. Đừng bao giờ phải đổi một chế độ độc tài đảng trị để lấy một chế độ độc tài cá nhân trị. Đừng quên rằng nước Nga hiện tại dưới quyền cai trị của Vladimir Putin vẫn tiếp tục bị coi là một nhà nước cảnh sát và mafia, nơi các thế lực đen vẫn tiếp tục hoành hoành đe dọa đến an sinh của đại đa số người Nga.

Rõ ràng rằng Nga và Việt Nam có những mối quan tâm rất khác nhau và chúng ta không cần có một nguyên thủ như Vladimir Putin.

Tài liệu tham khảo

Việt Nam có cần một nguyên thủ quốc gia như Putin?, Nguyễn Tấn Dũng Website, 5/3/14

Bùi Tín, Ba Quả Lừa Đầu Năm, VOA Tiếng Việt

Anna Politkovskaya, Putin’s Russia, 2004

nguồn:http://vietluan.com.au

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: