Vũ Thất

Bảo Bình 1

TRẠCH GẦM: Nhật ký tháng 4 (1)


Nhật ký tháng Tư

Hai mươi tháng Tư tiễn em đi Mỹ
Ta biết dễ dàng mất bé từ đây
Em lên máy bay, ta về đơn vị
Đất Biên Hòa buồn… chết điếng cỏ cây

Hai mốt tháng Tư ta vào Quân Đoàn
Ngồi nghe thuyết trình, nhận lệnh hành quân
Tay áo xăn cao một đời thám kích
“Kiến lửa bu đầy” nhột cả đôi chân

Hai hai tháng Tư… ta vào Đại An
Chứng kiến cảnh dân bỏ xóm bỏ làng
Dân chạy đến đâu… địch bò đến đó…
Đâu được như em chừ đã thênh thang

Hai ba tháng Tư… ta ngược Đồng Nai
Sương ôm mặt sông lau sậy thở dài
Địch xua quân tràn giữa đêm vắng lặng
Ta chỉnh pháo… và thây giặc chồng thây

Ta lạc mấy ngày trong lòng đất địch
Gọi đã khàn hơi chẳng thấy bạn bè
Thằng nào cũng đang giữ từng tấc đất
Đâu có thì giờ để cứu ta ra

Hai tám tháng Tư… ta ra lộ Một
Gặp ông tướng vùng thị sát thăm dân
Ông nói lung tung, ông thề sống chết
Ông nói xong rồi, ông bay biệt tăm

Hai chín tháng Tư… Biên Hòa xơ xác
Ta về Sài Gòn ngang qua nghĩa trang
Ta đứng nghiêm chào bạn ta đã chết
Như tự chào mình – nát cả tim gan.

Ba mươi tháng tư… ta ôm mặt khóc
Trên cầu Saigon cạnh phố Hùng Vương
Mười năm binh đao… mưòi ngày kết thúc
Ta còn nguyên mà…. mất cả quê hương !

 Trạch Gầm

 

Người lính làm thơ mang bút hiệu Trạch Gầm

 Đinh Lâm Thanh


Tôi yêu Trạch Gầm cả Thơ lẫn con Người. Những gì anh viết, chính là niềm đau của một người lính phải tức tưởi buông súng đầu hàng, chính là uất hận của một kẻ phải bỏ nước ra đi sau những năm tháng tù đày và cũng chính là nỗi xót xa đối với đồng đội đã một thời gắn bó với anh. Tôi yêu con người, vì anh thật xứng đáng một cấp chỉ huy, tuy sống dưới chế độ tự do nhưng không bao giờ anh quên những người bạn sống chết với nhau đã nằm xuống hay còn kẹt lại ở quê nhà. Đời binh nghiệp của anh thật khiêm nhượng với vài ba ‘mai vàng’ dừng lại trên vai, nhưng trong lồng ngực của anh, mãi mãi là một trái tim vĩ đại mà anh đã trân trọng dành cho đồng đội đã hy sinh cho màu cờ tổ quốc và những phế nhân còn sống sót dưới chế độ cộng sản.

Anh xứng đáng ngửng mặt lên khi nhìn lại những cấp chỉ huy lớn, những ‘vì sao’ đã rụng xuống ‘boong’ tàu của hạm đội Mỹ trước giờ mất nước ! Rồi 34 năm nay họ đã làm được gì cho đồng đội, thương binh, cô nhi quả phụ cũng như cho quê hương và dân tộc ? Và cứ mỗi năm, vẫn áo mũ chỉnh tề nhắc lại chiến công một thời vang bóng. Nhưng có mấy vị nhớ đến thuộc cấp của mình là những người đã hy sinh xương máu để đem lại những huy chương hiển hách trước ngực cũng như những ngôi sao lấp lánh trên cổ áo !

Nhắc đến Trạch Gầm là nói đến con người của tình cảm, luôn nặng tình với quê hương, ray rứt cho cuộc chiến và ấm ức vì đầu hàng…tất cả những trăn trở đó đều chất chứa trong thơ của anh. Đọc thơ Trạch Gầm độc giả nhận ra ngay trong con người anh là một khối tình gắn bó thiết tha với đồng đội, là ân sâu nghĩa nặng đối với bạn bè, là những người đã nằm xuống hay bị lãng quên dưới chế độ cộng sản.

Cách đây hai năm, tôi gặp Trạch Gầm trong một ngày nắng ấm tại quán café Tip-Top trên đường Westminster, Sàigòn nhỏ, Cali. Anh đọc cho nghe bài thơ ‘Lời Trước Nghĩa Trang’. Chưa dứt bốn câu đầu, anh đã bật khóc và làm tôi phải khóc theo trước ngạc nhiên của số thân hữu bạn bè. Thật khó tưởng tượng nổi, hai người đàn ông 65 và 71 tuổi đã khóc như một đứa trẻ khi nhắc đến những người bạn đã nằm xuống. Rồi hình ảnh Trạch Gầm với những giọt nước mắt bên tách càfé vẫn ngày đêm ám ảnh và gây xúc động mỗi khi tôi cầm cuốn Vụn Vặt trong tay.

Những lời thơ viết về tình đồng đội của anh đã kéo ký ức tôi trở lại quảng đời dĩ vãng mà trong thời Mậu Thân 1968, tôi đã sống trọn vẹn với những người lính thuộc trung đội tác chiến tại vùng rừng núi Quảng Đức. Những người bạn nầy đã ra đi nhưng họ vẫn sống mãi bên tôi và phù hộ cho tôi còn sót đến ngày hôm nay. Tôi xin mượn mấy câu thơ của Trạch Gầm để tưởng niệm những người lính đã nằm xuống :

Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến
Được cái hơn mầy nhìn thấy đau thương
Đành làm người ngu đổ thừa vận nước
Uổng cả tháng ngày gối đá nằm sương

(Lời trước nghĩa trang)

Cũng từ bài thơ nầy Trạch Gầm gởi đến với những người đã nằm xuống chân dung của anh trong những ngày tháng vô vị nơi quê người

Mầy đã hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lễ nghi hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không
(Lời trước nghĩa trang)

Kỷ niệm để đời với Trạch Gầm là tuyển tập Vụn Vặt, cuốn thơ vừa lấy từ nhà in chưa ráo mực, anh đã biếu tôi và từ ngày đó đến nay tôi vẫn chưa đọc xong. Mỗi lần cầm cuốn thơ lên vừa nghiền ngẫm vài giòng thì tôi bị cuốn vào tâm trạng của tác giả…đau buồn cho vận nước, xót xa vì cuộc chiến và tiếc thương những người bất hạnh, rồi nước mắt tôi cũng xóa mờ những giòng chữ. Đa số thi nhân thường mượn các đề tài tình yêu nam nữ để tìm nguồn cảm hứng sáng tác nhưng trên 100 bài thơ trong tuyển tập Vụn Vặt, Trạch Gầm đã dành gần như đa số bài để nói về những gắn bó về tình huynh đệ, tình cảm của người trai thời chiến và để tưởng niệm đến đồng đội đã ra đi…

Những ai đã sống chết với đồng đội, đã cùng băng rừng lội suối, ngày đêm truy lùng địch thì mới cảm thông được tình thương gắn bó với nhau. Cuộc đời người lính chiến không có gì quý hơn ngoài chiếc ba lô độc nhất trên người, tấm ‘pông-sô’ thay mái ấm gia đình và việc kết nghĩa anh em đồng đội như tình thân ruột thịt. Họ là những người trai thời chinh chiến, hiến dâng cuộc đời cho tổ quốc non sông, thương tật, sống chết không biết sẽ đến bất chợt bao giờ. Đối với họ trên đầu là tổ quốc, trước mặt là kẻ thù, hai bên là đồng đội và sau lưng là chiếc ‘băng-ca’ hay cổ quan tài đang chờ sẵn ! Hãy nghe Trạch Gầm viết về số mệnh :

Một thoáng theo mây rơi dài nước mắt
Khóc nỗi bạn bè…lưu lạc bốn phương
Thằng mất thằng còn – Nổi trôi vận nước
Giọt ngán giọt dài ướt đẫm quê hương
(Vụn Vặt)

Những ai đã qua đoạn đường gian khổ với những lúc hành quân, lội sông, bằng rừng, vượt núi trong rét mướt, trong đói khát, trong gian khổ, ngày đuổi giặc, chiếm mục tiêu, đêm ngủ ngồi ngay tại hố cá nhân để chờ địch thì mới thấm thía được những cảnh

‘Bi-đông’ nước bùn chia sẻ
Gói mì nhai vội chuyền tay
Chuyển nhau điếu thuốc cháy dở
Sống chết biết giờ nào hay
(Cho nhau, Thơ DinhLamThanh)

Để rồi từ đó những người con yêu quý khắp mọi nẻo đường đất nước đã trở thành anh em ruột thịt một nhà. ‘Pông-sô’cùng ngủ, cơm chung nón sắt, nước một bi-đông, miếng khô chia đôi thì việc đùm bọc sống chết với nhau vẫn là một cái gì thiêng liêng của những người khoác chiếc áo trận.

Em còn chia xẻ cùng anh
Nỗi xót xa tự ngọn ngành đau thương
Vẫy tay giã biệt chiến trường
Một ngày cũng đủ cô đơn suốt đời
(Hỏi)

Đối với bạn bè còn sống, Trach Gầm đã giải bày tâm sự về những năm tháng nơi đất khách quê người :

Mầy hỏi tao bây giờ sống ra sao
Cơm áo tha phương có phải nghẹn ngào
Gần mười năm tù còn in trong trí
Hay…cháy rồi giữa đất rộng trời cao
… Tao gởi về mầy một trang giấy trắng
Thật lao đao mầy cứ tự vẽ vời
Nơi tha phương trăm hội đoàn yêu nước
Tao ngu ngơ…không biết khóc hay cười
(Trả lời)

Rồi những đêm mưa vùng Cali, anh trăn trở như hổ nhớ rừng :

Mầy nhìn mưa mầy nhớ gì không hở ?
Tao nhìn mưa tao cứ mãi nhớ rừng
Rừng của quê hương những ngày khói lửa
Tao, bao năm dài cặm cụi hành quân
Mầy nhìn mưa…mầy nhớ gì không nhỉ
Tao nhìn mưa…Tao nhớ quá bạn bè.
(Từ cơn mưa dài)

Và cái ‘đau’ của anh vẫn vây quanh cuộc sống :

Tao bây giờ không tiềm mua rượu uống
Mà vẫn say…say ngút với nỗi buồn
Nhìn thiên hạ tranh nhau quyền yêu nước
Mấy chục năm ròng – Nước vẫn tang thương !
(Nói với bạn bè)
Mầy có tin không quê hương đã mất
Giữa lúc bọn tao nguyên vẹn hình hài
Đâu thuở quân trường đâu thời huấn nhục
Để nhận lấy ngày khốn nạn hôm nayMột lũ đàn anh tan hàng cuốn gói
Bỏ mặc bọn tao đứng khóc dưới cờ
Món nợ tang bồng bao giờ trả nổi
Mất cả sơn hà cứ tưởng như mơGiờ chẳng dám nhìn ngay vào mắt Mẹ
Cũng chẳng đủ lời tâm sự cùng Cha
Đành đến thăm mày những thằng đã chết
Ngày…quê hương còn lắm nỗi thiết tha
(Lời trước nghĩa trang)

Ít thấy anh đề cập đến tình yêu đôi lứa cũng như những mộng mơ tuổi trẻ, mà nếu có, anh cũng mượn những mối tình vụn vặt để nói về thân phận đau thương đất nước cũng như những mất mát thời chiến tranh :

Anh có mẹ gì đâu mà để tặng
Một món quà sinh nhật cho em
Gặp gỡ thôi…dăm ba lần thất hẹn
Còn nhớ ngày anh còn tỉnh…chưa điên
Là thằng lính cứ rày đây mai đó
Có nhớ thương, cũng đỏ mắt phố phường
Chiếc võng tòn teng ôm đời chinh chiến
Có em vật vờ đở bớt cô đơn
(Quà sinh nhật cho người yêu)

Viết về Trạch Gầm mà không nhắc đến những chữ Đ.M. trong thơ của anh thì thật thiếu sót. Một vài người cho rằng nghe không được êm tai qua hai bài thơ :

Đọc thơ mầy…
Đ. M, tao buồn muốn khóc
Tao chẳng còn là tao, tao chẳng nên người
Mấy chục năm rồi tao lạc lỏng chơi vơi
Dù trước đó
Tao có triệu anh em chung màu áo trận
Tàn cuộc chiến…
Hình hài tao nguyên vẹn
Mười năm tù xem tựa giấc chiêm bao
Tao còn tay còn chân. Còn nỗi tự hào
Chỉ tội cái…mang ước mơ lần lựa
Cứ chờ đọi Ai cho tao nhúm lửa
Nơi tha phương tao hốt toàn tro tàn
Tro bụi từ quá khứ vinh quang
Đến nỗi đầu óc tao ung què, tao chẳng hề hay biết
Đọc thơ mầy
Đ. M. tao buồn muốn chết
Nơi quê hương mầy hào khí ngút trời
Nơi tha phương…Tao cũng có lắm người
Yêu nước thật thà, thật thà yêu nước
Rắn không đầu, mạnh thằng nào nấy thét
Ngày cứ tàn, đất nước cứ tan thương
Hai chữ tự do sấp ngữa đoạn trường…
Tao ôm chặt lội qua ngày khốn đốn
Mầy cần súng mà tao không có súng
Nỗi nghẹn ngao nầy mới chết mẹ tao
Cám ơn mầy
…Ừ thì cũng dù sao
Nhờ mầy thét Trăm hồn sông núi thức
(Đến cùng Nguyễn Cung Thương)

Những ai đã sống đời quân ngũ, sống chết với đồng đội thì mới cảm nhận hai chữ Đ.M thoát ra từ miệng của người lính. Đối với người Miền Nam, hai chữ nầy không có nghĩa là một câu chưởi thô tục mà trong thân tình giữa bạn bè thường được xử dụng một cách thân thương. Tôi còn nhớ rõ câu nói của một đệ tử cũng như người bạn, người em theo sát tôi trong các cuộc hành quân. Một đêm trong rừng Quãng Đức, anh vén tấm ‘pông-sô’ chui vào hỏi tôi :
– Đ.M. ông thầy húp canh không ?”
Tôi hỏi lại :
– Đ.M. canh gì đó mầy ?”
– Thì Đ.M ! Canh nước mưa với bột ngọt chớ có gì nữa !”
‘Ca’ (ly bằng nhôm của lính) canh nóng thật ngon, chỉ có nước mưa pha với bột ngọt nhưng tôi thấy ấm bụng và cái mặn mà đang chạy vào tim phổi ruột gan, không biết vì bột ngọt hay chữ Đ.M. thân thương nằm trong chén canh của người lính !

Nhưng một trường hợp khác, Trạch Gầm lại xữ dụng hai chữ Đ.M, để chưởi cha bọn cộng
sản. Tôi biết anh không còn ngôn ngữ nào để diễn tả nỗi uất hận trong lòng, dù hai chữ Đ.M. nầy thật đúng nghĩa và hợp thời nhưng vẫn chưa lột hết ý nghĩa để chưởi bọn bán nước cướp của, hại dân hại nước, đem giang sơn bán cho Tàu cộng ! :

Đ.. má, cho tao chưởi mầy một tiếng
Đất của Ông Cha sao mầy cắt cho Tàu
Ngậm phải củ gì mà mầy cứng miệng
Đảng của mầy, chết mẹ… đảng tào lao
Chế độ mầy vài triệu tay cầm súng
Cầm súng làm gì… chẵng lẽ hiếp dân
Tao không tin lính lại hèn đến thế
Lại rụng rời … trước tai ách ngoại xâmMầy vỗ ngực. Anh hùng đầy trước ngỏ
Sao cứ luồn, cứ cúi, cứ van xin
Môi liền răng à thì ra vậy đó
Nó cạp mầy, mầy thin thít lặng thinhÔng Cha mình bốn ngàn năm dựng nước
Một ngàn năm đánh tan tác giặc Tàu
Thân phận mầy cũng là Lê là Nguyễn
Hà cớ gì…. mầy hèn đến thế saoChuyện mầy làm Toàn Dân đau như thiến
Mầy chết rồi, tao nghĩ chẵng đất chôn
Hãy tỉnh lại ôm linh hồn sông núi
Cứ đà nầy… chết tiệt còn sướng hơnĐàn gãy tai trâu…. xem chừng vô ích
Giờ mầy nghe tao chưởi còn hơn không.
(Cho tao chưởi mầy một tiếng)

Tôi tin rằng những độc giả nào đã đọc thơ Trạch Gầm cũng sẽ Yêu Trạch Gầm như tôi vậy.
Đinh Lâm Thanh
Paris, Tháng Tư Đen 2009

left align image

Có một người làm thơ đã cảm khái khi đọc xong tập thơ Trạch Gầm Thức dậy đi – cõi mộng ta

Cuộc binh lửa chợt vỡ òa nỗi riêng

Dấu giày trận đã trăm miền
Trăng cổ sử vẫn còn nghiêng tháng ngày
Tưởng thời súng khoác trên vai
Mịt mù khói lửa dặm dài bước chân
Mấy chục năm chuyện phù vân
Giở trang thơ chợt tần ngần nỗi xưa…

Thơ Trạch Gầm. Là quặng nguyên sinh cuộc sống hôi hổi hơi ấm nhân sinh. Thơ tha thiết bởi những nỗi niềm ấp ủ. Dù rằng, cuộc chiến đã qua mấy chục năm, nhưng trong ký ức, vẫn đầy ắp tâm sự. Trong ngôn ngữ, có hào sảng chiến sĩ. Trong vần điệu tràn dâng chất chứa tấm tình. Một người lính, sống lại thời binh lửa mình. Một người bạn, nhớ về đồng đội cũ, người còn kẻ mất, trong thơ đồng vọng nỗi nhớ thương. Thơ Trạch Gầm, thơ của thời chiến tranh đọc trong thời hậu chiến, như dong tay trở về thời đại cũ, năm tháng xưa. Thời gian đã qua, đã coi như mất biệt trong cuộc sống nhưng vẫn còn hiện hữu trong những người cảm khái giơ û từng trang thơ. Có chút lành lạnh của đất trời len vào trong vần điệu tưởng tượng đến những ngậm ngùi thiên cổ, những giấc mơ của một thời thanh xuân đã tàn phai. Thơ không nuối tiếc nhưng đầy tràn cơn bão nội tâm dằn vặt.
Là người tù sau ngày bại trận, tuy cam chịu số phận nhưng vẫn ngang tàng không đánh mất tư cách chính mình. Ở Hoàng Liên Sơn, vẫn ngất ngưởng tâm tư , vẫn thơ vút cao lên trên thân phận. Thơ như một xác định chỗ đứng:


Lội suối băng rừng bao ngày mài miệt

Có mỗi quê hương ta đánh mất rồi
Nghe lời nhọc nhằn ta buông tay súng
Đứng giữa quê Cha ta khóc đã đời
Bây giờ nơi đây đất trời mù mịt
Ta tròng vào ta trăm tội vô duyên
Ngươi lải nhải đi- giáo điều mù tịt
Ta vẫn là ta… nỗi nhớ triền miên
Ta “kể” tội ra ta cười muốn chết
Ngươi như thất thần có phải vậy không?
Đúng là ta mà , ta dân Thám Kích
Đã từng rượt ngươi mờ mịt núi sông
Ta chỉ buồn ta , ta là dân Việt
Hoàng Liên Sơn này đáng lẽ của ta
Ngươi nói trăm điều: một điều không biết
[SIZE=2]Ngươi là thá gì mà… cải tạo Ta?[/SIZE]

Những câu thơ, rồi những bài thơ, in đậm nét trong tôi những ấn tượng. Chia sẽ, có. Cảm xúc, có. Tôi hình tượng ra con đường mà thế hệ chúng tôi đã đi. Làm lính, làm người tù binh, làm người lưu lạc tha phương, chúng tôi hình như cùng nhau một mẫu số chung của dân tộc ,của đất nước. Có khi chúng tôi mượn thi ca để nói lên nỗi niềm của riêng mình nhưng là đồng vọng của số đông cùng cảnh ngộ. Thơ có khi là một cách thế để sống còn, để qua đi những cơn bão giông thời thế. Tô Thức ngày xưa trong Nam Hành Tiền Tập Tự đã từng ví von rằng ông chỉ viết khi có những điều chất chứa trong tim trong óc nếu không viết ra như một giải tỏa tâm linh thì không thể nào chịu nổi. Không biết tôi có nghĩ quá không khi cũng cho rằng thơ của Trạch Gầm , lời của Trạch Gầm. Thậm chí cả đến những tiếng chửi thề bộc trực trong diễn tả, cũng là kết quả của những điều tâm sự chất chứa trong tâm trong óc đến nỗi nếu không làm thơ viết ra thì cũng không thể chịu đựng nổi…
Nguyễn Mạnh Trinh
Việt Herald

left align image

Bai viết của cô giáo Khư Thị Ngọc Sang – vị thầy với cậu học trò – đã gặp nhau cách nay trên 50 năm và ghi lại vài hình ảnh khó quên của thưở xa xưa nói lên tinh thầy trò đáng nhớ. Tuy tuổi hạc đã cao nhưng cô giáo hiện ở Canada vẫn còn nhớ những hình ảnh xa xưa để ghi lại nhân dịp thi phẩm “Vụn Vặt” của cậu học trò chào đời – Cali Weekly

Học trình Đệ thất đến Đệ nhất, Nguyễn Đức Trạch học với tôi ba năm: Việt văn đệ lục, Sử đệ nhị, và Triết đệ nhất… Trạch không gầm gừ gì hết. Trạch trắng trẻo, mảnh khảnh, thư sinh, bình thường, tuổi mười lăm mười bảy, làm học trò mắt sáng môi tươi…

Một ngày của ta dưới tuổi hai mươi
Ta lang thang đi trên khắp nụ cười

Bạn bè của ta ngàn trang sách vở
Bạn bè của ta thành phố Sài gòn

Trạch vừa học vừa chơi:

Lúc trốn học leo rào vào sở thú
Thả bồng bền cùng trời đất vô tư

Hết giờ học vẫn la lết chung quanh khuôn viên trường:
Hãy sờ thử vào góc me nào đó
Tao thấy có dấu lưng mày in rõ
Tan trường rồi vẫn tựa mõi bâng quơ

Còn gì nữa quả thật là thiếu sót
Nếu mình quên bao hàng quán bên đường
Chú Xị, bà Năm, thằng Lư bánh cuốn
Tất cả là những ngày tháng thân thương

Trạch cũng mơ ước tương lai trong đó thắp thoáng bóng hình cô nữ sinh Trưng Vương kế cận:


Ta vốn là dân Võ Trường Toản
Nên cách trường Em một tấc đường
Ta lang thang bước hoài không tới

Qua hai cây cầu thì đến trường nữ Lê Văn Duyệt, Trạch giả đò viếng Lăng Ông:

Khói nhang đâu chỉ thấy bóng hồng thướt tha

Khiếu viết văn cũng sớm xuất hiện. Có lần luận văn được Cô cho 10 điểm, dù rằng cô nổi tiếng khe khắt:

Xin trả lại Cô bài văn miêu tả
Một lần về thăm quê ngoại miệt vườn

Có gì lạ đâu nếu ta biết Trạch là con Bà Tùng Long, tiểu thuyết gia nổi tiếng trên văn đàn miền Nam vào những thập niên 50, 60, 70… Thi tú tài 1 cũng ạch đụi một hai lần, Trạch nhắc lại lần vào hạch miệng Pháp văn, cứ chần chừ cho đến cuối không dám bước vô phòng thi, cô làm giám thi hành lang phải đẩy Trạch qua cửa. Trạch nhớ lần thi cá nguyệt Sử đệ nhị, Thống ngồi cùng một dãy bàn, mở sách trong học tủ cho Trạch chép, sau khi nộp bài cho Cô mới biết thằng Thống mở lầm trang !!

Tất cả những giai thoại trên để chứng tỏ Trạch tiêu biểu tự nhiên và bình thường của lớp ‘nhất quỷ, nhì ma,thứ ba học trò.’
Những giáo sư đã dạy Sử cho Trạch thật không uổng công, bởi những trang sử ấy đã un đúc tình yêu quê hương khiến Trạch cả đời hết đem sinh mệnh thì đến đem tấm lòng, hiến dâng cho đất nước.

Trạch đậu Tú Tài 2 rồi « vui chơi » cho đến khi vắng bóng bạn bè, lăn vào chiến cuộc như một số không ít bạn bè cùng lớp trong trường. Cũng từ đó thầy trò bặt tin nhau cho đến hơn 30 năm sau. Năm 1965 Trạch tình nguyện vào quân ngủ, đám bạn thân, thằng Khôi lý la lý lắc, cao lớn đẹp trai nhất nhì trường, giỡn hớt, ăn vụng trong giờ học hơn ai hết, thằng Quang mũ mỹ, hiền lành, cũng vào lính 3 năm trước rồi. Không khí chiến tranh sôi động khiến thanh niên dù còn trên ghế nhà trường cũng ngồi đứng không yên.


Em lội ngược dòng trọn năm dệ nhất
Giữa cảnh quê hương khói lửa tơi bời

Trước sau rồi cũng đến lúc quyết định, thôi thì đi sớm có lẽ còn chọn được binh chủng mình thích:

Một ngày của ta trên tuổi hai mươi
Quê hương của ta khói lửa ngập trời
Cơm áo nhà binh ta vào cuộc chiến
Tìm lấy tự do bằng chính mạng người

Trạch hăng hái lăn vào chinh chiến với động lực thúc đẩy mạnh mẽ: Chinh phục tự do và đem lại thanh bình cho xứ sở. Trạch nhắc lại nhiều lần hai danh từ mầu nhiệm nầy:


Nhớ ra ta là lính
Từng hát bài Tự Do
Trong gian khổ vẫn một lòng mơ ước
Mong Thanh Bình về thắp sáng tương lai

Để chinh phục thanh bình cho đất nước Trạch cắn răng chấp nhận mọi gian khổ, kể cả cái chết của những đồng đội trẻ tuổi và của chính mình

Hai mươi tháng bảy ta rời An Lộc
Bỏ lại sau lưng vô số bạn bè
Bao đứa ngủ yên trong lòng đất mẹ
Cho thanh bình ca khúc hát hoan ca

Mười năm chiến đấu Trạch tham dự vào đa số những trận đánh khốc liệt, đẫm máu: Lộc Ninh, Lai Khê, Xa Cát, Bù Đốp, Bung Cầu, Sóc Con Trăng, Kà Tum… những mùa hè lửa đỏ, những thực tại, những quyết định chớp nhoáng trong súng nổ đạn rơi, máu, mồ hôi, đau thương giữa bạn và thù đang lẫn lộn nhau:

Hai thằng cắn răng bò qua bao xác
Xác bạn, xác thù trộn lẫn đau thương

Cũng không quên nhân đạo khi xử sự với tù nhân và dân chúng nạn nhân chiến cuộc:

Cũng nơi đây ta cứu người con gái
Gởi trực thăng di tản về Bình Dương
Trực thăng nổ khi vừa rời mặt đất
Ta điếng hồn như vừa nuốt phải xương

Cũng nơi đây ta bắn thằng Việt Cộng
Một viên M79 vào hông
Bởi quá gần đạn không kịp nổ
Ta lại phải nuôi nó mấy tháng ròng

Trạch không rơi vào thơ ca chinh chiến cổ điển mà tình yêu trai gái, Em hậu phương, Anh tiền tuyến, mỏi mòn chờ đợi, trong viễn tượng hải hùng Anh về nạng gỗ cụt chân…
Tình yêu xuất hiện trong thơ Trạch như mây bay gió thoảng, đem lại chút mọng mơ, vài nụ cười hóm hỉnh

Anh có mẹ gì đâu để tặng
Một món quà sinh nhật cho Em
Gặp gỡ thôi…dăm ba lần thất hẹn
Dù kết cuộc
Mười mấy năm ròng cơm áo nhà binh
Đổi mạng sống lấy Thanh Bình…cũng không được

Trạch vẫn có quyền hãnh diện về hành trang của một người lính anh dũng.

Một đặc điểm nữa không thể xem nhẹ trong đoạn đời binh sĩ của Trạch, là tình yêu thương đồng đội, kẻ còn đang kề vai chiến đấu với mình cũng như người đã ngã gục. Trạch chia xẻ với chiến hữu từng ly rượu hiếm hoi, từng phần lương khô nuốt cầm hơi qua các trận đánh.


Mấy phần lương khô mấy phần gạo xấy
Chia cho đồng, để sống đến ngày mai
Chừa vài chén cho những thằng nằm xuống
Gọi nó về cùng ngồi uống cho vui

Trạch thân thương vuốt mắt từng chiến hữu vừa ngã gục

Ta quen Bình Long, ta quen Quảng Trị
Vuốt mắt bạn bè chết giữa gió sương

Cho đến ngày được lịnh buông súng, Trạch cũng không quên ghé vào nghĩa trang, chia xẻ niềm tủi nhục và uất hận với linh hồn đồng đội cũ:

Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến
Được cái hơn mầy nhìn thấy đau thương

Mầy đã hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lễ nghi, hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không
Đành đến thăm mầy những thằng đã chết

Thương mến, ân cần với đồng đội sống cũng như chết là điểm son trong tánh tình Trạch
Tháng tư 75 đen kết thúc bất ngờ cuộc chiến, niềm tức tưởi nghẹn ngào cho người lính một lòng vũng tin vào chính nghĩa mình theo đuổi trong 10 năm vào sinh ra tử:

Ba mươi tháng tư… ta ôm mặt khóc
Trên cầu Saigon cạnh phố Hùng Vương
Mười năm binh đao… mưòi ngày kết thúc
Ta còn nguyên mà…. mất cả quê hương !

Bản tính thận trọng và suy tư, Trạch không vội vàng đổ tội cho ai đã bất chợt trở bàn tay xóa bàn cờ chiến cuộc, Trạch nhỏ lệ nghiêng mình trước vong linh anh hùng của một số nhỏ đàn Anh chỉ huy đã tuẩn tiết


Giờ thì đau thương vây Anh vây tôi
Súng trên tay rớt xuống ngậm ngùi
Anh đã chết cho tròn tình non nước
Cho bạn bè… nuối tiếc mãi không nguôi

Với người bạn đồng minh quay lưng bất thình lình, Trạch vẫn nhã nhặn:


Cám ơn mầy cùng tao chia xẻ
Trận chiến nào cũng khốc liệt cam go
Có hỏi mầy cũng là điều vô lý
Chuyện bỏ đi mầy quyết định được sao
Tao với mầy cũng chỉ là thằng lính
Thằng lính nào chẳng chấp nhận thương đau

Giai đoạn 10 năm kế tiếp của một chiến sĩ Việt Nam sau tháng 4/75, nếu không tự sát hoặc thoát ra khơi, dĩ nhiên là ngồi tù cải tạo dài dài từ nam ra bắc:

Bạn bè của ta có thằng tự sát
Bạn bè của ta có đứa ra khơi
Ta quẩy thân tù từ Nam ra Bắc
Long Giao, Văn Bản, Vĩnh Phú, Lào Cai
Ta gặp Quê Hương lưng tròng nước mắt
Thương xót cho ta, thương xót mọi người

Đói khát hành hạ thân xác, tủi nhục vằn vật tâm hồn, trước kia Gầm Thét nơi chiến trận, bây giờ là lúc Gầm Gừ trong ngục tù, Trạch là con hổ nhớ rừng Gậm mọi căm hờn trong củi sắt:

Ngày vào tù lại tung hô mẹ kiếp
Thua thằng ngu mới tơi tả cả hồn
Không sợ khổ chỉ sợ đời châm biếm

Ra khỏi trại tù, trở về trên 40 tuổi, thành phố hoa lệ cũ đã trở thành chợ trời bát nháo:

Cái tách, cái ly, cái quần, cái áo
Giải phóng ra đường đổi bát cơm tươi

Trạch đạp xích lô, đi kinh tế mới như đa số quân, cán, chánh cũ, huấn nhục thêm 10 năm nữa:

Cố dặn tâm hồn … đừng nhé chớ điên
Gắng sống nghe chưa… tìm đường vượt biển
Để cùng bạn bè lấy lại tình thương
Giờ Tự Do, Thanh Bình đã thoát tầm tay thì còn động lực Tình Thương để bám sống

Ngày ra đi của một H.O., Trạch ôn lại cho con Lịch Sử cùng Địa Dư quê hương mình, với lời hứa hẹn:


Con đã nhớ rõ rồi
Thôi ngày mai cha con mình sẽ
Vẫy tay chào tạm biệt quê hương
Mình ra đi mà vẫn nhớ vẫn thương
Ngày khôn lớn Con về trang trải nhé..

Trạch vẫn nghĩ mình còn NỢ quê hương, và giao món NỢ truyền kiếp đó lại cho con.
Vào năm 2000, thầy trò nối được liên lạc, bản thân tôi cũng khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, trong 25 năm lưu vong. Vẫn một lòng ân cần với mọi người, Trạch sợ tôi buồn nên rào đón « Thầy luôn hoài vọng, hoc trò mình thi đỗ, làm quan, Em, trước sau chỉ là một người lính, và một người lính bại trận… ». Tôi đã rớt những giọt nước mắt hiếm hoi của tuổi già vì những lời ấy. Bây giờ thì luận gì về Thành Bại, Vinh Nhục.. chỉ có hân hoan gặp lại người học trò cũ sau 3, 4 chục năm dâu bể tang thương.

Đặt chân lên đất Mỹ, Trạch lại trãi nghiệm những nhọc nhằn về cơm áo, những phút bơ vơ. lạc lõng của một di dân bất đắc dĩ:


Tao bây giờ đã bắt đầu bơ vơ
Đường phố thênh thang không đợi không chờ
Một cái bắt tay cùng lời hờ hửng
Mầy hả mầy…. tìm ra job hay chưa?

Trạch có làm nhiều bài thơ về tâm trạng mình ở Mỹ, vẫn thấy đau đáu niềm uất hận mất quê hương, vẫn dằng dặt nhớ thương chiến hữu còn hay mất, vẫn le lói xa xa niềm hy vọng con sẽ thay mình trở về tiếp tục phục vụ quê hương.


Ngày ta đi…
Ta thật nhiều lý lẽ
Đâu vô tình, đâu bội bạc phải không ?
Quê hương còn hoài bảo chờ mong…
Những người trẻ như con trở về Quang Phục

Đọc mấy chục bài thơ giọng bi hùng, lời giản dị, ý rõ ràng, không có cảm tưởng đọc văn thơ mà nghe tâm sự nhớ thương, u uất của người bị bức tử rời quê hương ngàn đời yêu dấu. Thơ Trạch thật vô cùng truyền cảm.
Xếp tập thơ lại, tôi đau xót, bàng hoàng, không phải chỉ vì Trạch là một học sinh cũ mà tôi vẫn còn thương mến như vào những ngày Võ Trường Toản xa xưa…

Khư Thị Ngọc Sang

nguồn: quehuongngaymai.com

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: