Vũ Thất

Bảo Bình 1

TRẠCH GẦM: Nhật ký tháng 4 (2)

 

Sử Thi Người Lính Trẻ

Đỗ Tiến Đức

Vào dịp 30 tháng 4, 2007 tòa soạn Thời Luận có nhận được một bài thơ của anh, do người bạn của anh và cũng là bạn của tôi, gửi tới. Điều khiến tôi chú ý đầu tiên khi nhận được bài thơ này là tên tác giả của nó. Nhiều câu hỏi xuất hiện trong đầu tôi như tại sao ông hay anh thi sĩ này không chọn cho mình một bút hiệu dễ thương như các ông bà thi sĩ trong cộng đồng ? Mà Trạch Gầm là gì ? Đó có phải là tên nơi chôn nhau cắt rốn của tác giả không ? Hay Trạch Gầm giản dị chỉ là…ông Trạch gầm thét bằng thơ ?

Đó là bài thơ tám chữ. Đọc bằng mắt mới được vài câu thôi là tôi đã cảm thấy cái hồn thơ của anh, cái hơi thơ của anh nó thấm ngay vào trái tim tôi. Thế là tôi đọc bằng miệng. Giọng tôi mỗi lúc một to hơn và mỗi lúc lại có thêm cả sự diễn tả khiến tôi như một tài tử đang tham gia một vở kịch thơ vậy. Tôi ngẩn ngơ tự hỏi tôi câu hỏi ban nãy trong khi tôi đọa lại bài thơ thêm lần nữa : Anh thi sĩ này làm thơ từ bao giờ mà sao mình chưa nghe tên anh ta và cũng chưa đọc thơ của anh ta ?

Sau đó ít ngày, tôi nhận được thêm vài ba bài thơ của Trạch Gầm. Càng đọc thơ anh càng thêm mến mộ khiến tôi đi tìm anh. Chúng tôi gặp nhau trong buổi kỷ niệm của anh em tù cải tạo. Trạch Gầm có nụ cười bẽn lẽn như con gái. Nhưng Trạch Gầm lại là người cựu tù duy nhất mặc đồ lính, đội chiếc mũ lính. Bộ quân phục của anh bạc màu, cũ kỹ chứ không phải đồ của lính kiểng mỗi năm chỉ mặc vào ngày kỷ niệm quân lực. Trạch Gầm không đeo lon nên tôi không biết anh cấp bậc gì. Tôi không hỏi vì thấy chi tiết đó không cần thiết vào lúc này. Sau đó ban tổ chức mời anh lên sân khấu trình bầy thơ của anh. Dáng điệu của anh là một sự trục trặc giữa những nét ngang tàng, kiêu hùng của người lính tiền phương nhưng lại lúng túng vụng về của một học sinh trung học. Thành ra tôi nhớ hôm đó anh vừa đọc vừa ê a ngâm thơ, trong lúc hội trường lại qúa ồn ào nên tôi không có một cảm xúc nào như khi một mình ngồi đọc thơ của anh.
Ít ngày sau, Trạch Gầm gởi cho tôi tập bản thảo chưa có tựa gồm hàng trăm bài thơ của anh. Vẫn là những câu thơ của một người lính lưu lạc nơi đất khách nhớ về quê hương đất nước, nhớ bạn thời hoa niên và nhất là nhớ chiến trường xưa. Cái nhớ da diết này vừa bi thảm phẫn hận vừa hào khí ngất trời mà nhiều người đã so sánh như con hổ bị nhốt trong sở thú nhớ rừng hoang. Tất nhiên là sự so sánh ấy chỉ đúng một phần thôi, bởi vì người lính trong con người thơ Trạch Gầm, không chỉ mong thoát cũi xổ lồng để tung hoành mà trong ông, hay nói đúng hơn là trong thơ của ông, luôn luôn thấy nói tới một sứ mạng chưa hoàn thành, nghĩa là trách nhiệm bảo quốc an dân của người lính Trạch Gầm còn dang dở.

Việt nam đã trải qua cuộc chiến dài nửa thế kỷ. Khói lửa của bom đạn đã đưa nhiều nhiều chiến sĩ của chúng ta vào trang sử vàng của dân tộc thì đồng thời cũng đưa nhiều chiến sĩ của chúng ta bước vào văn học sử. Cho nên trong nhiều thâp kỷ nay, chúng ta đã đọc nhiều thơ văn mà tác giả đồng thời là người lính. Nhưng lạ thay, những người lính trong thời chiến mà tử thần theo gót quân thù đang rình rập theo từng bước chân ta di chuyển, thế mà ít có người lính làm thơ hay viết văn chiến đấu. Thơ hay văn chống cộng, đề cao tự do dân chủ lại càng hiếm hơn nữa so với số lượng thơ tình mà đề tài thường hoặc là tả tình tả cảnh anh chiến trường em nơi hậu tuyến, hoặc là anh đã hy sinh để em ngày mai đi nhận xác anh, rất là bi thảm, mà tác dụng có thể đã làm nản lòng người lính không ít. Tôi còn nhớ trong cuốn phim Người Tình Không Chân Dung, còn dựng lên bên trong trại lính một cái gọi là “U hồn cốc” để những người lính than khóc bạn bè vừa chết trận. Chẳng những thế, nhà làm phim còn cho một quân nhân vác một cái quan tài trên vai, ngất ngưởng đi trong men rượu và trong thương tiếc… Rồi thì khi ở trong trại tù cải tạo, tôi ngồi cùng những sĩ quan cấp úy, nghe quản giáo chửi mắng là “lính ngụy” là bọn man rợ vì đã từng ăn gan ăn tim “chiến sĩ cách mạng”. Tên quản giáo dẫn chứng “lính ngụy” man rợ vì có những đơn vị mang tên là “Trâu điên”, “Cọp ba đầu rằn”… Hắn ta rủa tiếp : Có phải tôi nói đúng không nào ? Chính các anh đặt tên là trâu là cọp chứ không phải cách mạng xuyên tác đâu đấy nhé. Mới đây này, một tên trong bọn lính ngụy chạy thoát ra nước ngoài, nó làm bài hát, có câu “ta giờ như con thú hoang lạc đàn… Đấy. Đấy. Thú hoang đấy.
Đó là vài ba trong cả trăm ngàn lý do để cắt nghĩa tại sao ta thua vào tháng Tư năm 1975.


Ngày mất nước không tin mình thua cuộc
Tuổi mới hăm đã lững thững vô tù
Vai nhẹ tếch quải vài dòng nước mắt
O Huế nào đã khuấy đọng lu bu…

Người lính Trạch Gầm vô tù cải tạo mà vẫn không thể tin miền Nam đã sụp đổ. Khi cả đại khối quân đội Việt Nam cộng hòa kiêu hùng đã tan như bọt sóng thì người lính trẻ này không còn nơi nào để tới, không còn ai để tâm sự ngoài khu nghĩa trang là nơi yên nghỉ của một số bạn bè và thi thầm :


Mày đã hơn tao vì mày đã chết
Hưởng chút lễ nghi hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không…

Cũng như thân phận những quân cán chính khác, ở tù ra, Trạch Gầm phải đưa ra đình đi lên rừng sinh sống trong cảnh gọi là khu kinh tế mới.
Ít lâu sau, anh được sang Mỹ định cư trong chương trình HO. Anh đi mà lòng không muốn rời bỏ quê hương bởi vì nước Việt Nam của anh là thịt da, là hơi thở của anh. Thế nhưng vì vận nước, anh đành phải mang các con ra đi với dự tính rằng nơi đất tự do kia, anh tự nguyện làm phân xanh cho đàn con hút nhựa sống mà vươn lên đơm hoa kết trái hầu có ngay thay thế anh trở về trả món nợ mà anh còn thiếu với quê hương :


Thôi, ngày mai cha con mình sẽ
Vẫy tay chào tạm biệt quê hương
Mình ra đi mà mình vẫn nhớ thương
Ngày khôn lớn con về trang trải nhé.

Trạch Gầm viết khá nhiều bài về cuộc sống và tâm tình của anh trên miền đất tạm dung, tuy gọi là quê hương mới, hay quê hương thứ hai, nhưng với anh thì vẫn chỉ là ăn nhờ ở đậu. Anh nhó về những ngày tháng ở quê nhà mà nhớ sâu đậm đến quặn lòng thắt ruột chính là đời lính với những thằng bạn lính, với chiến trường khét mùi thuốc súng và tanh mùi tử khí.



Nhớ bọn mày, nhớ bắt khùng nỗi nhớ
Lạc lõng tựa chừng viên đạn mồ côi.

Người lính Trạch Gầm phẫn uất la hét :
Thèm quá mất, một góc trời đất mẹ
Đêm giao thừa quanh quẩn chuyện đao binh
Chuyền hơi ấm mỗi bình đông rượu đế
“Ráng lên em”
mai mốt đón thanh bình…

Trạch Gầm có một bài thơ tựa đề là “Cùng với tháng Tư”, diễn tả tâm trạng người lính lưu lạc ở xứ người vào mỗi dịp Tháng Tư, là thời điểm người lính có lệnh buông súng đầu hàng rồi xếp hàng vô tù, ngồi cúi mặt để mặc kẻ thắng trận huyênh hoang chửi lên đầu.


Tháng Tư nào ta không soi mòn nỗi nhớ
Nỗi nhớ mênh mang
rải khắp chiến trường
Ta nghe quanh ta đọng từng hơi thở
Thằng mất thằng còn
cùng cảnh gió sương…

Nỗi nhớ quê hương, nhớ chiến trường, nhớ bạn trong quân ngũ khiến người lính Trạch Gầm viết lên bi phẫn, nửa tỉnh nửa say nửa quên nửa nhớ:


Ta về ôm lấy giang san
Lên Tăng Nhơn Phú lật trang sử buồn
Một mình hô nghỉ hô nghiêm
Một mình ta ta lại tìm ra ta…

Sau khi đọc xong tập bản thảo, tôi đã thúc giục Trạch Gầm cố sửa chữa những lỗi chính tả rồi xuất bản để nhiều người được đọc. Theo tôi biết thì tậm trạng của Trạch Gầm cũng là tâm trạng chung của những người lính trẻ có mặt nơi hải ngoại và ở ngay trong nước. Họ bị đẩy ra chiến trường từ lúc họ chưa được võ trang đầy đủ sự hiểu biết về ý nghĩa của cuộc chiến, về bạn và thù và tại sao phải đánh đuổi cộng sản. Do đó có những người lính tuy chiến đấu dũng cảm chỉ bởi bắn chậm thì chết. Và có những người lính làm thơ chống lại ngay khẩu súng mình cầm trên tay.

Tập thơ của Trạch Gầm có thể nói là một cuốn sử thi viết về người lính Việt Nam cộng hòa, viết bằng máu khi chiến đấu và viết bằng nước mắt khi phải buông súng. Tôi rất cảm thương người lính Trạch Gầm vì tôi hiểu rằng anh không làm thơ để đi vào lịch sử văn học mà làm thơ chỉ để giãi bầy những tâm sự u uất, phẫn hận và đã trở thành thuốc nổ đang ngày đêm đốt phá tim gan anh. Những dòng thơ của anh là những giòng nước mắt cần được trào ra ướt mặt để con người anh không bị dìm xuống trong lòng biển chất chứa một dĩ vãng bi thảm của đất nước.

Đỗ Tiến Đức (Lời Bạt trong thi phẩm Vụn Vặt)
Dưới đây là lời nhận định, giới thiệu của Phan Bá Thụy Dương và Lê Tâm Anh về tập thơ Vụn Vặt của Trạch Gầm phát hành vào đầu tháng 10/2007:
Trạch Gầm qua Thi Tập Vụn Vặt: nỗi hoài nhớ và những tiếng thở dài âm u của một cựu tù chính trị về chiến địa cũ, bằng hữu xưa.
Phan Bá Thụy Dương

Cuối tháng 8 Trạch Gầm trao cho tôi tập bản thảo Vụn Vặt gồm 105 bài thơ và cho biết dự định sẽ xuất bản. Anh nhờ tôi viết mươi dòng nhận định để làm “reference” cho bìa sau tập thơ đầu tay của anh.

Sau khi đọc xong, tôi đã kêu gọi 2 anh bạn thân sáng nào cũng la cà với tôi tại “Topless/Bottomless” là Thiết Trượng nguyên chủ bút tờ Dân và Vương Trùng Dương chủ nhiệm tờ Cali Weekly phụ giúp người bạn thơ vui tính, đôn hậu này trong việc thực hiện tranh bìa, edit những lỗi chính tả nhỏ, rồi nhờ anh Du Miên của Thư viện Việt Nam, quản nhiệm tuần san Thời Báo layout dùm trước khi giao cho nhà in. “Thơ Trạch Gầm tiềm tàng phong vị, tâm tư của một kẻ phiêu bạt, lưu lạc giang hồ. Mỗi bài thơ, mỗi dòng thơ của anh đều thể hiện những hình ảnh, kỷ niệm của quá khứ về bằng hữu, về những địa danh đã từng ghi dấu chân anh trong hơn 10 năm phục vụ dưới cờ với thân phận, nhiệm vụ của một người lính quân báo.

Anh đã xử dụng ngôn ngữ đơn giản để sáng tạo nên những vần thơ nhẹ nhàng, trong sáng, đầy chân tình bằng một thi pháp vững vàng, điêu luyện.
Trạch Gầm làm thơ và gia nhập làng báo Sàigòn rất sớm. Anh là một trong những người làm thơ rất nhanh mà tôi quen biết như cụ Hà Thượng Nhân và các anh Bùi Giáng, Tường Linh, Trần Tuấn Kiệt… Làm thơ đối với anh như là một nhu cầu tự thân để trang trải, giải trừ những giao động, ám ảnh của tâm hồn và Vụn Vặt là sự kết hợp của những ý niệm đó.”

Phan Bá Thụy Dương


Ðọc Thơ “Vụn Vặt” của Trạch Gầm!

Lê Tam Anh
Làm gì thì làm chứ cứ ngày chúa nhật đầu tháng thì tôi lại có thói quen đến cùng mọi người đứng nghiêm chào những kỷ niệm, chào quá khứ đã đi qua! [tại tượng đài Việt Mỹ Wesrminster – CA] Trong đám người thường xuyên ấy, có một người rất lạ. Anh ta âm thầm đứng ở đâu đó trong công viên, rất nghiêm chỉnh chào quốc kỳ, chào người lính đang im lìm trên bệ, rồi âm thầm ra về, ít tiếp xúc với mọi người và cũng rất ít nói! Tò mò vì một người kỳ lạ, tôi bèn theo chân quyết khám phá xem kẻ này thuộc thành phần nào có vẻ kỳ bí như thế. Hóa ra anh chàng là một người tù cùng trại với tôi ở Vĩnh Phú!. Nguyễn Ðức Trạch, lấy hiệu là Trạch Gầm, là con trưởng trong một gia đình văn học nổi tiếng ở Miền Nam. Các anh chị em trong gia đình nầy đều được thừa hưởng gia tài văn học của cha mẹ, nên không ai trong họ không có tài sáng tác, hoặc văn, hoặc thơ, phóng sự, làm nghề báo… Trạch Gầm nằm trong dạng một anh chàng thi sĩ gàn, làm thơ rất hay, một câu nói chửi thề hết mấy khúc… Thơ của anh sáng tác ra chỉ để đọc và cho bạn bè nghe trong những lần ngồi chuyện vãn với nhau ở chốn riêng tư. Anh thường đọc những bài thơ sáng tác trong những hoàn cảnh éo le và bi thương nhất của chính anh và của chính quê hương…
Trạch Gầm vốn là một kẻ giang hồ, một chiến binh thầm lặng như cái bóng trong cuộc chiến tranh, có mặt ở tất cả những nơi nguy hiểm nhất và cũng có mặt trong những nơi ăn chơi nhất. Một Sĩ quan Trinh Sát gan dạ đầy quyền biến và nghị lực. Có thể nói tất cả những mặt trận nổi tiếng vùng Tây Ninh, Lộc Ninh hay các Vùng III vùng IV, trong thời gian từ ngày anh ra trường khóa 21 Thủ Ðức, anh đều có mặt, là chứng nhân, là lính hoạt động thám kích, ban đêm bò vào lòng địch, ban ngày ăn chơi xả láng ở phố phường… Những bài thơ từ anh có khí khái của kẻ giang hồ, có hơi men của tình bạn thủy chung, của những trăn trở da diết cho định mệnh của chính mình và của đất nước. Chúng tôi khuyến khích anh xuất bản tập thơ là một khó khăn vì anh không muốn trưng bày như những thi sĩ. Anh tâm sự với bạn bè rằng thơ của anh chỉ để đọc lúc tàn cuộc vui. Mà nghĩ cho cùng khi tập thơ “ Vụn Vặt” được in ra, nó đã nói lên được tất cả con người của anh…Nhà văn Ðổ Tiến Ðức mới quen Trạch Gầm, đọc thơ Trạch Gầm, cảm thơ như thế nào mà khi viết “Lời Bạt” đã để hết tâm tình và cảm xúc của mình vào bài viêt đến độ tôi đọc lên cảm động lạ thường. Hèn gì người xưa thường nói, thường ca tụng về sự đồng cảm, đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu của kẻ sĩ. Lời Bạt mở đầu cho tập thơ là một bài ca, một nhạc khúc, quyện lấy những giọt thơ đầy xúc động. Ðổ Tiến Ðức đã không quá cường điệu khi viết rằng thơ của Trạch Gầm là tập “Sử Thi”…Với 230 bài thơ, trong đó có bón bài được phổ nhạc, người bạn tôi đã dẫn dắt chúng ta từ khi bước vào cuộc đời, quì xuống đứng lên ở KBC 4100, ra biên giới, chứng kiến bạn bè nằm xuống, chứng kiến kẻ địch bên bờ chủ nghĩa với gương mặt đời. Có thể nói thơ Trạch Gầm là một điêu luyện thì cũng không ngoa vì anh đã dùng ngôn từ bình dị đễ diễn tả một cuộc chiến cũng không kém phần “du côn” đầy dẫy hố hầm, bãi mìn của vô lý và bạc ác! Hãy đọc “Vụn Vặt” vì những lời thơ vụn vặt nầy sẽ làm cho tình cảm của chúng ta sống lại những gì mà trước kia đã đánh mất. Ðại ca Phan Bá Thụy Dương đã viết những giòng rất ngắn nhưng đầy đủ để diễn tả Trạch Gầm sau bìa tập thơ, thật cô đọng và hoàn toàn chuẫn xác về thi sĩ giang hồ nầy… Có thể bút hiệu Trạch Gầm mang ý nghĩa một con rắn âm thầm dưới dòng sông nỗi giận phải gầm thét. Từ lúc nó gầm thét, nó hóa thân thành một con rồng của thời đại đầy bảo tố đã qua.
right align image
Góc thơ Trạch Gầm

Ngác Ngơ

Xin người khép kín ngác ngơ
Để ta khỏi lọt xuống bờ viễn vông
Lỡ tin rằng có hơn không
Ta lông bông tưởng long nhong tuyệt vời
Nào hay ở giữa cuộc đời
Có người chết điếng vì người ngác ngơ

Lối Xưa Quãng Trị

Nỗi điêu tàn bỗng xót xa
Qua cơn đau cũng chỉ là đau thương
Quạnh hiu ngự giữa chiến trường
Chạnh lòng gió cát mưa sương não nùng

Huế

Người cho ta nỗi reo mừng
Ta cho ta nỗi bâng khuâng rối bời
Vì ta người bỏ cuộc vui
Chôn chân giữa chốn ngậm ngùi cổ xưa

Nha Trang

Cũng trời cũng nước say mơ
Sao trên vai mộng phủ bờ rêu xanh
Ta mang không trọn ân tình
Khiến người chạy trốn vòng quanh dổi hờn

Sài Gòn

Cầm người giữa chốn cô đơn
Ta lang thang khắp đoạn buồn thế gian
Bụm tay vốc nắm tro tàn
Gặp người cười giữa cung đàn hư vô…

Trở lại Bình Long

Cũng nơi đây… ta ngồi chơi với hắn
Vỗ tay cười kể chuyện bắn chiến xa
Hạ pháo thấp nòng bắn bay pháo tháp
Như ciné thật đã còn hơn là…
Cũng nơi đây… ta ngồi chơi với hắn
Kể chuyện hai thằng đệ lục trường xưa
Chưa đủ tuổi rủ nhau xem phim cấm
Giờ đâu lưng hứng pháo địch như mưa
Cũng nơi đây hắn ta cùng nhận lịnh
Diệt tổ đề lô nằm cạnh bên sườn
Hai thằng cắn răng bò qua bao xác
Xác bạn xác thù trộn lẩn đau thương
Cũng nơi đây… ta cứu người con gái
Gởi trực thăng di tản về Bình Dương
Trực thăng nổ khi vừa rời mặt đất
Ta điếng hồn như vừa nuốt phải xương
Cũng nơi đây… ta bắn thằng việt cộng
Một viên M79 vào hông
Bởi quá gần đạn không kịp nổ
Ta lại phải nuôi nó mấy tháng ròng
Cũng nơi đây… ta bò ra ao rau muống
Quơ đại ít về nấu bát canh tươi
Rau dính tóc tai bay mùi thum thủm
Ngập dưới ao… có mấy chục xác người
Cũng nơi đây… ta đắp mồ cho bạn
Vừa quay lưng xác bạn lại bật tung
Mổi thước đất cài trăm ngàn mãnh đạn
Ta, sống nhăn, hóa kiếp… gọi anh hùng
Ta trở về đây… xin hôn mặt đất
Tắm bao máu hồng của bạn bè ta

right align image
Cạn Chén Bâng Quơ
Uống cạn ly đầy, rót đầy ly cạn
Câu nói nầy tao quen quá là quen
Mười năm lính, tao uống hoài không cạn
Tình nghĩa bạn bè … tình nghĩa anh em
Thằng Anh tao, việt cộng đem xử bắn
Tháng ngày tù… đạp trại… bỏ ra đi
Tao vẫn nhớ, lệnh xung phong lạnh ngắt
Chicken die… mầy còn đợi cái gì
Tao có thằng Em… một tháng sau cưới vợ
Nghe hành quân vội vã quảy hành trang
Mình làm sớm để rồi còn nghỉ sớm
Nó chết đi, đóng cửa một thiên đàng
Ngày Bàu Lồng, tao vào đồn thăm bạn
Xách trên tay một cane đế Hốc Môn
Uống một ít… nó chừa cho ngày tết
Tết chưa qua, nó tan biến theo đồn
Tao còn có… có trăm điều để nhớ
Mổi một điều cạn một chén thương đau
Mầy cứ trải poncho rồi ngồi xuống
Thay thằng chết rồi…cạn chén cùng tao…
Giờ mất nước- Buồn ra sao- Chưa đã ?
Vui sướng gì… mà cứ cạn bâng quơ…

Nói Với Bạn Bè

Tao bây giờ đã thành người tha phương

Đất Mỹ tự do… mà vẫn thấy buồn
Mười mấy năm tù khổ thì có khổ
Nhưng bạn bè cùng một nỗi nhớ thương
Tao bây giờ đã bắt đầu bơ vơ
Đường phố thênh thang không đợi không chờ
Một cái bắt tay cùng lời hờ hững
Mầy hả mầy… tìm ra job hay chưa ?
Cắt chỉ một giờ – một hai đồng bạc
Đôi tay đau ngơ ngác nhớ chiến trường
May được ngày xưa trải thời huấn nhục
Để bây giờ quen với chuyện thê lương
Tao bây giờ tìm tao trong quanh quẩn
Một quán cà-phê dăm đứa bạn đời
Vẫn còn đó niềm đau ngày Quốc Hận
Để thấy lòng còn xa xót khôn nguôi
Nhớ bạn bè nhớ không tròn nỗi nhớ
Ngày Bình Long – Rạch Bắp đến Cây Trường
Thằng banh xác biết đâu ngày mất nước
Thằng quặt què chồng thêm nỗi tai ương
Tao bây giờ không tiền mua rượu uống
Mà vẫn say… say ngút với nỗi buồn
Nhìn thiên hạ tranh nhau quyền yêu nước
Mấy chục năm ròng – Nước vẫn tang thương

right align image
Lời Trước Nghĩa Trang

Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến
Được cái hơn mầy nhìn thấy đau thương
Đành làm người ngu đổ thừa vận nước
Uổng cả tháng ngày gối đá nằm sương
Mầy đã hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lể nghi hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không
Mầy có tin không quê hương đã mất
Giữa lúc bọn tao nguyên vẹn hình hài
Đâu thuở quân trường đâu thời huấn nhục
Để nhận lấy ngày khốn nạn hôm nay
Một lũ đàn anh tan hàng cuốn gói
Bỏ mặc bọn tao đứng khóc dưới cờ
Món nợ tang bồng bao giờ trả nổi
Mất cả Sơn Hà cứ tưởng như mơ
Giờ chẳng dám nhìn ngay vào mắt Mẹ
Cũng chẳng đủ lời tâm sự cùng Cha
Đành đến thăm mầy những thằng đã chết
Ngày… Quê Hương còn lắm nỗi thiết tha.

Vụn vặt

Một thoáng theo mây ta về ký ức
Gỏ cửa Trường Sơn ta hát giữa rừng
Hôn dấu giày sô vạt đời chinh chiến
Thương nhớ bạn bè súng đạn đâu lưng
Một thoáng theo mây ta về sông cũ
Qua nhịp cầu Ghềnh …nao nức gót chân
Hơi thở Đồng Nai mặn mà quyến rủ
Xin trả lại Người món nợ trầm luân
Một thoáng theo mây rơi dài nước mắt
Khóc nỗi bạn bè… lưu lạc bốn phương
Thằng mất thằng còn – Nổi trôi vận nước
Giọt ngắn giọt dài ướt đẩm quê hương
Một thoáng theo mây ta về Thủ Đức
Đứng giữa Quân trường hô nghỉ hô nghiêm
Xin học lại bài… Tám tuần huấn nhục
Để trả cho đời những phút bình yên
Một thoáng theo mây ngủ trên thành phố
Thành phố Saigòn của tuổi thơ ta
Nơi ta đã quen… quen từng viên đá
Mòn cả sân trường… mòn cả lời ca
Một thoáng theo mây ta về cội nguồn
Quì gối cúi đầu trước mặt Hùng Vương
Một lũ con cha mang dòng Bách Việt
Hoài bão lưng chừng đánh mất quê hương

Rạch Giá tìm đâu

Kể em nghe…… Anh vừa thăm Rạch Giá
Em lại cuời buồn như thuở xa xưa
Thời chinh chiến anh hẹn lần hẹn lựa
Em quen rồi… Anh về thăm trong mơ
Anh đã gặp toàn bà con Rạch Giá
Nơi một công viên… cuối nẽo lưu vong
Lang thang mõi … khô đôi tròng con mắt
Thiếu nụ cười em buồn điếng cả lòng
Thằng lính trận cứ rày đây mai đó
Thân phận chập chờn bày đặt yêu đương
Quanh quẩn cũng là… rừng xanh đất đỏ
Em góp thiệt thòi từng đoạn gío sương
Anh ở vùng ba quen em vùng bốn
Có chi là lạ lắm có phải không
Cô nữ sinh viên gật đầu quen lính
Mới chao ôi là quá quắc bận lòng
Em rủ anh về thăm quê cho biết
Anh bảo nhìn em… là biết cả rồi
Quê em đep chứa chan tình tha thiết
Như bình minh hôn sóng mặn giữa khơi
Anh tệ quá trời – Xuôi tay mất nước
Đời tha phương Rạch Giá biết tìm đâu…

right align image
Lựu Đạn

Hình như Ta gặp người nơi tiền kiếp
Trên cầu đoạn trường ta … té gãy chân
Bởi nụ cười người, chao ôi hết biết…
Ta tương tư và… từ bỏ cõi trần
Mười tám năm sau trở thành hảo hán
Ta nhịn ăn bước qua cửa luân hồi
Ta chạy tìm người mịt mờ trời đất
Trời đất loạn ly khói lửa tơi bời
Biết người khôn… ta lao vào Thủ Đức
Gái khôn tìm chồng, tìm kiếm đâu xa
Hỏa châu lững lờ rũ người thao thức
Có khốc liệt nào ta chẳng bước qua
Rãnh được phút nào… ta ra phố chợ
Say ngất ngư vẫn nhớ nụ cười người
Ta cố tình quên, quên trong nỗi nhớ
Gặp được người ta tơi tả tả tơi
Người ngồi xuống uống cùng ta vài chén
Có được kiếp nầy sẽ có kiếp sau
Có thằng lính nào lại không lỗi hẹn
Người đừng quê… và khỏi phải cầu nhầu
Nụ cười người ta mang vào chiến trận
Địch bắn tùm lum, chẳng trúng nụ cười

Quanh Thân

Em dang tay duổi sầu bay
Ta lên dốc mỏi ngữa tay hứng sầu
Phố chiều cúi mặt ôm nhau
Rừng chiều nhốt gió xôn xao gió rừng
Em cho phố nổi bâng khuâng
Ta cho rừng nổi thăng trầm thiết tha
Khép vòng tay đủ xót xa
Mở vòng tay đủ chan hòa tình thương
Dìu em vào giữa phiên buồn
Rong chơi phân nửa dặm buồn thế gian
Hồn nhiên thao thức võ vàng
Thú đau thương đấy ngỡ ngàng sao em
Em còn bao nỗi hồn nhiên
Cho ta mượn đốt ưu phiền quanh thân
Một mai trở lại phong trần
Sẽ vì em dựng mùa xuân cho đời

Đâu thuở trăng soi

Còn gì nữa đâu phải không Lộc Ninh
Còn gì nữa đâu phải không cuộc tình
Ta có năm năm quen màu đất đỏ
Ta có năm năm tay mộng lênh đênh
Đất đỏ bây giờ hồng thêm máu pha
Cuộc tình bây giờ đong đầy xót xa
Ta nhớ thương từng chiều hôm phố chợ
Ta nhớ thương từng ngày tháng trôi qua
Nơi vườn cao su vàng trong mùa Xuân
Nơi mắt ai kia lệ đổ bao lần
Tay tiễn đưa đã mòn khung ly biệt
Theo dấu mây – ai thương kiếp phong trần
Người bỏ Lộc Ninh người về Bình Long
Súng đạn quạnh hiu thù hận chất chồng
Đâu thuở trăng soi cho người xõa tóc
Tìm sao trời mà thề ước thủy chung
Súng đạn một chiều tàn phai đơn côi
Ta ngửa nghiêng đi trong lối ngậm ngùi
Nơi cuối rừng hoang mưa về ca hát
Chìm trong mưa bao nuối tiếc sụt sùi…..

Một ngày của ta

* Một ngày của ta dưới tuổi hai mươi
Ta lang thang đi trên khắp nụ cười
Ta dắt tương lai vào vùng mơ ước
Ta cùng thật thà dạo phố rong chơi
Bạn bè của ta… ngàn trang sách vở
Bạn bè của ta thành phố Sài Gòn
Ta được nhìn em… nhìn em mắc cở
Để mỗi một ngày rạng rỡ cô đơn
* Một ngày của ta trên tuổi hai mươi
Quê hương của ta khói lửa ngập trời
Cơm áo nhà binh ta vào cuộc chiến
Tìm lấy tự do bằng chính mạng người
Ta quen Bình Long, ta quen Quảng Trị
Vuốt mặt bạn bè chết giữa gió sương
Ta gánh trên vai bao tình chiến hữu
Không có tình nào lại dễ thương hơn
* Một ngày của ta ở tuổi ba mươi
Ta mất Quê Hương … ta mất hết rồi
Bạn bè của ta có thằng tự sát
Bạn bè của ta có đứa ra khơi
Ta quảy thân tù từ Nam ra Bắc
Long Giao, Văn Bàn, Vĩnh Phú, Lào Cai
Ta gặp Quê Hương lưng tròng nước mắt
Thương xót cho ta thương xót mọi người
* Một ngày của ta trên tuổi bốn mươi
Thành phố ta quen biến thành chợ trời
Cái tách, cái ly, cái quần, cái áo
Giải phóng ra đường đổi bát cơm tươi
Ta đạp cyclo ngày vài chục chuyến
Cố dặn tâm hồn … đừng nhé chớ điên
Gắng sống nghe chưa… tìm đường vượt biển
Để… cùng bạn bè lấy lại tình thương
* Một ngày của ta ở tuổi năm mươi
Trời đất tha phương ru ta ngậm ngùi
Ta nhìn ra ta… ôi loài vô dụng
Hoài bão trùm chăn, khóc suốt đêm dài…

Tao viết bài thơ Gởi mầy nỗi nhớ

Đoạn đường mầy đi là tao lại đến

Mỗi một địa danh …đánh tới đánh lui
Mỗi một địa danh vài thằng bạn chết
Cho Quê Hương bớt di nỗi ngậm ngùi
Gốc cây bằng lăng giúp mầy tránh đạn
Đến lúc tao vào đã rụi thành tro
Lúc mầy đến vượt bao con suối cạn
Lúc tao vào nước ngập đến balô
Miền Nam mình chỉ hai mùa mưa nắng
Tao với mầy thì chẳng nắng chẳng mưa
Chỉ biết đổi giày khi giày mòn gót
Lội tróc rừng chỉ mỗi một ước mơ
Năm được mấy lần đụng đầu giữa phố
Ha hả cười rồi chưởi mẹ vài câu
Mầy còn sống- Ừ tao cũng còn sống
Nốc cạn nhớ thương… nốc cạn dãi dầu
Thằng vào Long Nguyên thằng qua Thị Tính
Thằng xuống Chánh Lưu thằng tạt Phó Bình
Rừng thức giữa đêm hít toàn thuốc súng
Cây cối gục đầu chào đón bình minh
Giờ… thì sao… hai thằng chung con phố
Con phố tha phương- lặng lẽ- u sầu
Tao viết bài thơ gợi mầy nỗi nhớ
Đã hòa bình mà…đất nước vẫn thương đau

Nỗi buồn mất trí

Trong nổi buồn mất trí

Ta thấy mình ngu si
Cúi lượm lời than thở
Tháng ngày vừa biệt ly
Bạn bè bao đứa trốn
Chia đôi bờ dại dương
Ta một mình ở lại
Gặm đã đời đau thương
Quê hương vừa cúi mặt
Ta quên mình là ai
Chồng lên vai tủi nhục
Bao dặm trường chông gai
Nhớ ra ta là Lính
Từng hát bài tự do
Bài ca vừa tắt thở
Như than hồng hoá tro
Tựa lưng con phố mởi
Đếm thầm bao cô đơn
Ta có trăm ngàn tội
Đánh mất rồi quê hương ….! ! !


Đêm Giao Thừa của Lính


left align image
Xuân Tiền Đồn
Một

Tại Cầu Cần Lê Bình Long
Bày ra mày … Một vài chai rượu đế
Giữa núi rừng còn hưong vị nào hơn
Đón Giao thừa cạn những ngày chinh chiến
Mai hoà bình rồi mỗi đứa một phương
Chừa vài chén cho những thằng nằm xuống
Gọi nó về cùng ngồi uống cho vui
Chừng nào rảnh nhớ về thăm bọn nó
Giặc Cộng còn, mình còn lắm nguợc xuôi ….

Hai

Tại Bolsa tha phương

Tao đã có bao đêm giao thừa xa xứ
Được tự do suy nghĩ cũng đã đời
Nhớ bọn mầy nhớ bắt khùng nỗi nhớ
Lạc lỏng tựa chừng viên đạn mồ côi
—-Thèm quá mất một góc trời đất mẹ
Đêm giao thừa quanh quẩn chuyện đao binh
Chuyền hơi ấm mỗi bình đong rượu đế
*Ráng lên em * mai mốt sẽ thanh bình
Đón thanh bình như bọn mình thảm quá
Mất đất trời mờ mịt cả quê hương
Chừng nào nhỉ được một ngày hối hả….
vắt mồ hôi lau mặt lại chiến trường ? ….
Trạch Gầm
nguồn: quehuongngaymai.com

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: