Vũ Thất

Bảo Bình 1

Cảm nghĩ ngày 30 tháng 4


Tháng Tư Đen, Nghĩ Về Lòng Biết Ơn

Chu Thập

Tối thứ Hai 31 tháng 3 vừa qua, Đài Truyền Hình SBS có chiếu một phóng sự ngắn về việc một số người tị nạn Việt Nam từ Melbourne đã bày tỏ lòng biết ơn với một vị thuyền trưởng Hòa Lan mà họ gọi là vị cứu tinh của mình.


Với tựa đề “Món Quà Của Lòng Biết Ơn” (Gift of gratitude), bài phóng sự kể lại rằng dạo tháng 2 năm 1982, một chiếc tàu chở hàng của Hòa Lan đã vớt được một nhóm thuyền nhân Việt Nam. Những thuyền nhân này đã lênh đênh trên biển trong nhiều ngày do tàu chết máy và lương thực cũng như nước dự trữ đã cạn. Alisha Fernando là thuyền nhân trẻ nhứt trên chiếc tàu vượt biên. Cô bé chỉ mới được hai tuổi.
Cô nói với phóng viên của Đài SBS rằng nếu không được tàu Hòa Lan vớt, có lẽ tất cả các thuyền nhân đều sẽ chết chìm dưới biển.
Đêm đó, Thuyền Trưởng Willem Christ của chiếc tàu Hòa Lan và thủy thủ đoàn của ông đã vớt được 168 người, trong đó có Alisha, cha mẹ và chú của cô. Họ được đưa vào trại tị nạn Pulau Bidong, Mã Lai và sau đó được định cư tại Úc Đại Lợi.


Vừa đặt chân đến quê hương mới, mẹ cô Alisha đã tìm cách liên lạc với Thuyền Trưởng Christ. Và ngày nay, 30 năm sau, bà và người con gái của bà đã lên đường đến Amsterdam để gặp gỡ với người mà lúc nào họ cũng gọi là vị cứu tinh của mình. Cô Alisha nói: “Thật là một món quà kỳ diệu khi cuối cùng tôi đã có được cơ hội gặp lại người đã cứu sống tôi. Ông là người đã giúp tôi và cha mẹ tôi có được cuộc sống như ngày hôm nay. (Nếu không) biết đâu tôi lại chẳng là một người ăn xin trên đường phố ở Việt Nam hoặc là một con số trong những thống kê về chiến tranh”.


Sự may mắn mà cô Alisha, gia đình cô và những thuyền nhân được viên thuyền trưởng Hòa Lan cứu sống, cũng chính là sự may mắn mà tôi và hàng triệu người Việt Nam khác đã có được trong cuộc vượt thoát khỏi thiên đường Cộng Sản sau năm 1975. Chúng tôi quả là những người Việt Nam may mắn. Bởi lẽ, như cô Alisha đã nói, nếu không thoát khỏi Việt Nam thì ngày nay chúng tôi sẽ như thế nào. Ăn xin trên đường phố quả là một điều tủi nhục. Nhưng chúng ta sẽ nghĩ gì về nỗi tủi nhục của những cô gái Việt Nam bị bán đi làm vợ cho tứ phương thiên hạ, từ Trung Quốc, Đại Hàn, Đài Loan… đến cả Phi Châu. Bên cạnh nỗi tủi nhục riêng tư ấy, còn có nỗi tủi nhục “quốc thể” khi những bộ mặt biểu tượng của đất nước là các cô chiêu đãi viên hàng không xinh đẹp lại bị bắt quả tang “ăn cắp” tại Nhựt Bổn. Nhục hơn nữa khi tại Thái Lan, Đài Loan, Đại Hàn, Nhựt Bổn, người ta phải viết những câu bằng ngôn ngữ của đất nước tôi để giải thích về tính phạm pháp của hành vi ăn cắp trong các siêu thị. Dường như ở Á Châu, chỉ có một thành phần trộm cắp cần được cảnh cáo và đề cao cảnh giác là người Việt Nam. Và có lẽ cũng chỉ có một thành phần tham ăn cần được hướng dẫn để không ăn uống một cách phí phạm.

Tôi nghĩ rằng người ta có quyền quơ đũa cả nắm khi nói về người Việt Nam, bất luận là người Việt Nam mang quốc tịch của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hay người Việt Nam đang là công dân của những quốc gia tự do, dân chủ và văn minh. Không cần phải mang thông hành xã hội chủ nghĩa Việt Nam để đi đâu cũng bị “soi xét” như Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đã từng phàn nàn. Nhiều lần ở các phi trường, tôi đã bị các nhân viên Hải Quan gọi riêng ra để “làm việc”, vì là người Việt Nam, tôi biết mình bị tình nghi có mang theo ma túy hay đồ quốc cấm nào đó. Tôi không trách người ta có thái độ kỳ thị chủng tộc đối với mình, bởi vì cứ nghe nói đến chuyện “trồng cỏ” ở đâu đó tại Úc Đại Lợi, tại Anh Quốc hay Gia Nã Đại… thì những cái tên “Đinh Lê Lý Trần Nguyễn”… quen thuộc của dân tộc tôi lại hiện ra trước tiên.
Nghĩ đến những thiếu nữ Việt Nam bị bán làm vợ cho tứ phương thiên hạ, tôi vừa cảm thấy nhục nhã vừa thương cảm. Họ chỉ là nạn nhân của một chế độ bất nhân và vô cảm. Nghĩ đến những cô chiêu đãi viên hàng không “ăn cắp” hàng từ nước ngoài mang về nước bán, tôi cũng chỉ biết thương cảm. Họ cũng chỉ là nạn nhân của một chế độ không chỉ cướp lấy quyền sống của con người, mà cũng cướp luôn những giá trị nhân bản tốt đẹp nhứt của dân tộc tôi. Nghĩ đến tất cả những người Việt Nam không có được một sự lựa chọn nào khác hơn là phải làm thân phận của “cột đèn” bị chôn chặt trong thiên đường cộng sản, tôi chỉ thấy uất hận và buồn chán: Cả một dân tộc phải bị đọa đày trong ngục tù cộng sản!


Giả như không thoát khỏi xã hội Cộng Sản, biết đâu tôi chẳng có được vinh dự được làm một nhà bất đồng chính kiến đang ngồi tù rục xương, mà chỉ là một tên đầu trộm đuôi cướp hoặc một gã chán đời suốt ngày la cà trong các quán rượu hoặc cà phê vỉa hè để mà than thân trách phận.


Mỗi dạo Tháng Tư Đen trở về, bên cạnh vô số những phiền muộn của một người ly hương, tôi lại thấy mình là một người may mắn. May mắn được hít thở không khí tự do. May mắn có được một cuộc sống xứng với phẩm giá con người. Nhưng may mắn nhứt là được quyền sống như một người lương thiện. Và theo tôi, một trong những nét nổi bật nhứt trong cung cách của một người lương thiện, chính là được nhắc nhở để luôn biết bày tỏ lòng biết ơn. Xã hội tôi đang sống chưa phải là một xã hội hoàn hảo. Tệ nạn xã hội vẫn còn đầy dẫy. Nhưng ít ra, hàng ngày tôi vẫn còn nghe được hai tiếng “cám ơn” trên đầu môi của hầu hết mọi người tôi gặp gỡ. Họ không ngừng nhắc nhở tôi rằng sống là đi vào quan hệ tương thuộc với người khác và sống cho thực sự ra người là phải biết mình mang ơn mọi người cách này hay cách khác.


Tôi không cho là phóng đại hoặc tổng quát hóa một cách quá chủ quan khi bảo rằng hai tiếng “cám ơn” đã trở thành quý hiếm trong xã hội Việt Nam hiện nay. Bất cứ ai một lần về thăm quê hương cũng đều nhận ra điều đó. Hai tiếng ấy đã hầu như trở thành một phản xạ tự nhiên của người Việt (chớ không phải Việt Kiều như thường bị gọi) đang là công dân tại các nước nơi họ đã định cư. Nói theo kiểu nói của tác giả Nguyễn Khắp Nơi, “Người Việt tôi là thế đấy”. Từ ngàn xưa, người Việt tôi đã biết trọng lễ nghĩa, xem lòng biết ơn như cốt lõi của nhân cách con người. Nhưng đối với người Việt trong nước hiện nay, nếu hai tiếng cám ơn có trở thành quý hiếm là bởi nó đã bị xóa bỏ khỏi tự điển của người Cộng Sản và lòng biết ơn dường như cũng đã trở thành một thứ xa xí của chủ nghĩa tư bản cần phải tẩy trừ.


Những người Cộng Sản lúc nào cũng vỗ ngực tự xưng là vô thần. Thật ra, trước khi là vô thần, họ đã là đồ “vô ơn”. Tôi không cần phải nhắc lại chuyện những người cộng sản đã mang không biết bao nhiêu “ân nhân”, những người đã từng bao che họ ra đấu tố trong thời Cải Cách Ruộng Đất hoặc ép buộc cha mẹ, vợ chồng con cái bôi mặt nhau để mà sỉ vả nhau. Tôi cũng không cần phải nhắc lại chuyện những người cộng sản đã quay lưng lại với chính những người mà họ gọi là “mẹ chiến sĩ”, những người đã từng nhịn ăn nhịn mặc, bảo vệ họ ngay trong “đất địch” để họ có chiến thắng hôm nay. Chỉ cần đọc khẩu hiệu: “Yêu tổ quốc là yêu Xã Hội Chủ Nghĩa” là tôi đã thấy ngay bộ mặt vô ơn của họ. Phải yêu xã hội chủ nghĩa mới yêu tổ quốc, nói như thế là chối bỏ công ơn dựng nước giữ nước của các bậc tiền nhân của dân tộc. Họ có biết mặt mũi của xã hội chủ nghĩa như thế nào đâu mà yêu với thương. Thế chẳng lẽ những tiền nhân, vì không biết và không yêu Xã Hội Chủ Nghĩa, nên họ là người “phản quốc”? Thật là đồ “vô ơn” khi bảo rằng các bậc tiền nhân của dân tộc không yêu tổ quốc.


Một khẩu hiệu khác cũng nói lên bộ mặt vô ơn của người Cộng Sản. Tưởng nhớ các bậc anh hùng liệt sĩ, những người đã hy sinh cho tổ quốc, người Cộng Sản không “ghi ơn” hay “nhớ ơn” như dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, mà chỉ có “ghi công”. “Công” thì được ghi, nhưng “ơn” thì không cần phải nhớ. Tôi không phải mất giờ để mà vạch lá tìm sâu về thái độ vô ơn của người Cộng Sản. Một dân tộc vốn trọng lễ nghĩa, lấy lòng biết ơn làm nền móng của tòa nhà nhân cách, nay lại trở nên “xa lạ” với lòng biết ơn. Ai đã làm cho dân tộc tôi nên nỗi này?


Chuyện cô Alisha cùng mẹ lên đường đi Hòa Lan để bày tỏ lòng biết ơn với vị ân nhân của mình, như Đài Truyền Hình SBS trình chiếu, không phải là một “biến cố” trong cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản. Các cơ quan truyền thông Việt ngữ ở hải ngoại đã ghi lại không biết bao nhiêu cuộc “hành trình” của lòng biết ơn ấy nơi người Việt tị nạn. Họ không chỉ hít thở không khí tự do. Họ không chỉ có đủ mọi quyền làm người. Để sống xứng với phẩm giá con người và sống cho ra người, lúc nào họ cũng được nhắc nhở để tỏ lòng biết ơn.


Mỗi dạo Tháng Tư Đen trở về, tôi không chỉ thấy dấy lên trong tâm tư nỗi buồn và lòng thương cảm khi nghĩ đến cả dân tộc đang bị đọa đày trong ngục tù cộng sản và không có điều kiện để phát huy những giá trị nhân bản cao quý của dân tộc, tôi cũng được mời gọi để không ngừng tri ơn tất cả những ai đã góp phần cho tôi có được cuộc sống như ngày hôm nay. Trước hết là những người đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi vượt thoát khỏi thiên đường cộng sản. Kế đó là viên thuyền trưởng, các thủy thủ và nhân viên trên chiếc tàu khoan dầu trong vùng biển Nam Dương đã cứu vớt chúng tôi và đưa về trại tị nạn. Rồi sau đó, làm sao quên được đất nước tạm dung, nơi tôi thực sự nếm trải được thế nào là tự do và tình người. Nhưng dĩ nhiên, tôi không biết bao giờ mình mới trả ơn cho hết đối với đất nước đã được tôi chọn làm quê hương thứ hai.

Thật ra đất nước này sẽ chẳng là gì nếu không có những con người tôi đang sống với hay gặp gỡ mỗi ngày. Cách này hay cách khác, tất cả đều là ân nhân của tôi. Và mỗi một ngày qua đi đều thêm một ân tình tôi phải trả với người khác. Người Việt chúng ta thường nói: “Hữu sự vái tứ phương, vô sự đồng hương không mất”. Con người dễ vô ơn. Tôi nhận thấy theo thói thường, người ta chỉ muốn nhận chớ không muốn cho đi. Nếu nhận được một ân huệ nào của người khác thì dễ quên đối với vị ân nhân, còn khi mình làm ơn thì lại nhớ rất dai và muốn người ta phải thể hiện lòng biết ơn đó. Tôi vẫn nhớ giai thoại về kịch tác gia nổi tiếng người Anh, ông George Bernard Shaw (1856-1950). Ngày nọ, ông đi dạo qua những tiệm bán sách cũ. Tình cờ ông thấy có một tuyển tập những vở kịch của ông. Tuyển tập này đã từng được đề tặng cho một người bạn. Ở trang đầu của tuyển tập, ông có đề tặng: “Mến tặng bạn hiền. Thân mến. George Bernard Shaw”. Ông liền mua lại tuyển tập đó và ghi lại lời đề tặng mới: “Lại mến tặng bạn hiền. Thân mến. George Bernard Shaw”.
Cứ tưởng tượng một ngày nào đó, có ai cũng nhắc nhở tôi như thế về lòng vô ơn của tôi, chắc chắn đó phải là ngày buồn nhứt trong đời tôi.


Tháng Tư là tháng để tôi nhớ mãi bản sắc tị nạn Cộng Sản của mình. Tôi có mặt trên quê hương mới này bởi vì tôi là một người “chống Cộng”. Nhưng với tôi, tháng Tư cũng nhắc nhở tôi phải không ngừng cố gắng để sống cho ra người hơn và một trong những đức tính mà bao lâu còn sống tôi còn phải trau dồi là lòng biết ơn. Tôi sẽ thôi là người “chống Cộng” nếu tôi trở thành người vô ơn.

 

Chu Thập

Nhìn lại lần nữa hậu quả của ngày 30-4-1975

Hồng Trung, gửi RFA từ VN

30-4-1975 ghi dấu ngày chấm dứt cuộc nội chiến vũ trang, huynh đệ tương tàn của hai miền Nam – Bắc sau hơn 20 năm chia cắt bởi hiệp định Giơ-Ne-Vơ 1954. Nhưng thời điểm này cũng là một trang lịch sử tang thương đau buồn và mất mát chung cho cả dân tộc Việt Nam.

Triệu người vui, triệu kẻ buồn

Khi ông Lê Duẩn đã nói: “Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc.” thì rõ ràng danh nghĩa phát động chiến tranh giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước chỉ là phụ, mà mục đích chính là để thỏa vọng quốc tế hóa CS thế giới của Liên Xô, Trung Cộng. Hậu quả là dân tộc đã phải trả giá cho cuộc chiến tranh bằng xương máu của hơn 3 triệu sinh linh và sự tàn phá của bom đạn trên đất mẹ.

 Như lời của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt nói về ngày 30-4-75: “là ngày có triệu người vui, triệu kẻ buồn”. Bên Cộng sản Miền Bắc vui vì thắng cuộc, thống lĩnh sự cai trị và được thu lợi những khối tài sản vật chất từ nền văn minh tư bản của chế độ VNCH. Bên Quốc gia ở Miền Nam buồn vì thua cuộc, phải chịu chính sách hà khắc của chế độ mới dưới các mỹ từ “cải tạo, chính sách kinh tế mới, cải tạo công thương nghiệp, quốc hữu hóa. ..” khiến bao nhiêu người không chịu nổi phải tìm đường vượt biên, liều mình trên biển, bỏ xứ ra đi bằng sự đánh đổi mạng sống với tỷ lệ sinh tồn rất thấp.

Ba mươi chín năm trôi qua, cứ mỗi tháng tư về là báo chí truyền thông lề phải trong nước được chỉ đạo ca ngợi tiếp tục sự tài tình của Đảng CS trong chiến dịch HCM giải phóng miền Nam song trong thực tế, chữ “giải phóng” đó có quá nhiều mâu thuẫn và cay đắng.

 Xin trích lời thơ của anh Trần Trung Đạo viết tặng em gái tù nhân chính trị Đỗ Thị Minh Hạnh:

“Bom đạn đã thôi rơi nhưng tiếng khóc vẫn không ngừng,

Câu hát hòa bình nhưng nước mắt vẫn cứ rưng rưng.”

Chiến tranh vũ trang đã chấm dứt nhưng hòa bình vẫn chưa thực sự trọn vẹn. Vẫn còn đó một mặt trận tranh đấu giằng co quyết liệt từng ngày của những con người đi đòi công lý, nhân quyền, tự do dân chủ. Vẫn còn đó trên khắp ba miền Trung – Nam- Bắc phong trào đấu tranh của những người nông dân biểu tình, khiếu kiện tập thể đòi đất. Và vẫn còn đó những làn sóng bất mãn của giáo dân, tín hữu, đạo hữu của các hội đoàn tôn giáo đòi quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng. Nhà nước CSVN đã dùng vũ lực để trấn áp và qui kết bỏ tù rất nhiều người trong thời gian qua: bằng chứng sống động của sự bất ổn chính trị đương thời. Nhưng công cụ bạo lực của bất cứ nhà cầm quyền nào cũng chỉ là biện pháp trấn áp, đè nén người dân tạm thời chứ không phải là giải pháp chính trị ưu việt để tháo gỡ các bế tắc to lớn của một đất nước.

 Ba mươi chín năm là khoảng thời gian dài đủ để Việt Nam có thể tái thiết, khôi phục đất nước, phát triển phồn vinh ngang hàng với các nước Nam Hàn, Thái Lan, Đài Loan, Singapore sau chiến tranh. Nhưng dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, đất nước vẫn trong tình trạng chậm tiến, suy thoái kinh tế mặc dù đã vắt cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nhà nước cũng đã thâm lạm, lãng phí vô số viện trợ nhân đạo, kinh tế của nước ngoài, chưa kể mấy trăm tỷ đô la kiều hối từ cộng đồng người Việt ở ngoài nước gửi về nước trong bốn thập niên qua.

Sự tham nhũng, lãng phí trong đầu tư công vẫn tung hoành gây nhức nhối cho toàn xã hội, làm nóng trên diễn đàn Quốc hội và căn bệnh ấy như trở thành thứ bệnh nan y bất trị. Hậu quả là sự nghèo khó cùng với món nợ quốc gia khổng lồ mà “dân chịu” như lời chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu. Theo ước tính của các chuyên gia, nợ công của Việt Nam đang ở mức trên 80,070 tỷ USD; bình quân nợ công theo đầu người là 886,36 USD (gần 20 triệu VND/người. Vẫn còn bỏ ngõ một nền công nghiệp hóa dang dở, đang trên đà phá sản. Việt Nam phải nhập siêu các trang thiết bị, nguyên vật liệu trong công nghệ lắp ráp ô tô và trong ngành xây dựng từ các nhà thầu nước ngoài nên tỉ lệ nội địa hóa rất thấp; trong khi đó Cam-Pu-Chia đã qua mặt Việt Nam trong ngành sản xuất ô tô và cho ra đời dòng sản phẩm AngKor EV 2014 khiến các tiến sĩ giấy của VN phải ngượng ngùng

Dậm chân tại chỗ?

Cùng lúc đó, đến hôm nay nền giáo dục vẫn phải còn loay hoay trong nhu cầu cải cách hầu như toàn bộ với số tiền 34.000 tỷ đồng khiến mọi người dân nghe phải giật mình. Việt Nam có con số hơn 24 ngàn tiến sĩ (đông bậc nhất thế giới) nhưng lại là nước nghèo đội sổ trên thế giới. Những phát minh khoa học, những tác phẩm văn học lớn cũng rất ít có trên đăng ký bản quyền trong nước và quốc tế. Chất lượng đào tạo Đại học kém nên hầu hết các sinh viên thất nghiệp hay làm việc trái ngành chuyên môn. Đáng ưu tư nhất là ngành y tế, với vô số đề tài sôi nổi trên mặt báo, truyền thông trong suốt thời gian qua, đặc biệt là trong tháng tư này. Nạn dịch sởi đã lan tràn trên khắp cả nước cướp đi 118 sinh mạng trẻ em và gây quá tải trong các bệnh viện nhi trung ương ở Sàigòn, Hà Nội cũng chỉ vì một thứ văc-xin. Vì muốn giấu nhẹm những yếu kém, tắc trách trong ngành y tế mà bà bộ trưởng Tiến không dám công bố dịch và ngăn cấm các phóng viên nhà báo vào bệnh viện tác nghiệp.

 Song song với những vấn nạn xã hội quốc nội là ngoài biên ải là sự hiểm họa đe dọa xâm lăng của Trung Quốc. Biển đảo, lãnh hải đang nguy cơ mất dần vào tay của “người bạn láng giềng 4 tốt –16 chữ vàng” bởi sự dung túng yếu hèn của đảng cầm quyền. Những dự án lớn trong ngành khai thác xây dựng là những nhịp cầu để đưa người và hàng hóa Trung Quốc vào sâu trong lãnh thổ VN một cách hợp pháp. Từ Cà Mau, Tây Nguyên, Miền Trung (Vũng Áng), Đà Nẳng đến Quảng Ninh đi đâu cũng gặp người Tàu cùng với những khu phố mang bảng hiệu chữ Tàu như một điềm báo nguy cơ cho cả dân tộc.

 Lịch sử dựng nước và giữ nước là khoảng dài thời gian trước và sau công nguyên gần 4 ngàn năm, chứa đựng biết bao nhiêu công lao của các bậc tiền nhân anh hùng qua các triều đại của Việt Nam. Triều đại này suy vong, buộc phải nhường chỗ cho triều đại khác thay thế để nối tiếp sứ mạng bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Ngày 30-4-1795 chỉ là một cái mốc lịch sử. Đảng CS cũng chỉ được xem như là một triều đại trong nhiều triều đại trước đây. Đảng CSVN không phải là tổ quốc VN. Vì vậy, không thể bắt buộc QĐND, CAND và ND phải trung thành với đảng CSVN. Công hay tội chỉ có lịch sử mới có quyền phán xét, và chắc chắn sẽ được phán xét công bằng trong một thời gian không xa.

Đảng CS VN cần dừng lại ngay hành động tung hô quá khứ để tự tôn vinh chính mình, và hãy nhìn vào thực trạng hiện tại của đất nước. Đảng CSVN có khả năng gây chiến tranh để chiến thắng miền Nam nhưng đã không chứng tỏ được khả năng xây dựng nên hòa bình trong lòng dân tộc, và ổn định, phát triển đất nước trong suốt bốn thập niên qua. Hãy nhìn kỹ những vấn nạn của đất nước để trả lại quyền lãnh đạo cho dân tộc.

 Viết từ Gia Lai (VN) ngày 26-4-2014

Hồng Trung

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: