Vũ Thất

Bảo Bình 1

Vì sao Việt cộng thần phục Trung cộng?

Bối cảnh vì sao VN thần phục TQ

NDM

Sau khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của đảng trên nước Việt Nam.

Nhưng lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường Sa năm 1988? Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối cùng bảo vệ thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”.

Từ đó, Việt Cộng bắt đầu theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm chiến lược.nvl

Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh được. Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông Ðức, được chứng kiến cảnh giễu võ giương oai của “Cộng Hoà Dân Chủ Ðức” với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức. Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo cuốn hồi ký Hồi Ức và Suy Nghĩ của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy”.

 Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!

Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!

 “Trước tình hình ấy”, Trần Quang Cơ viết, trong nội bộ Ðảng Cộng Sản ViệtNam “nổi lên một ý kiến… phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. Xin nhấn mạnh những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức. Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”. Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó, Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã chống nên không được mời sang Tàu.

Trước đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế, mà các chính sách xã hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm 1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu xoá bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất”. Ngày 5 tháng 6 năm 1990, để xin hoà trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội”; vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội”. Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ thuật lại nguyên văn như sau:

 “Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội… Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc… Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin…”. Lúc đó Nguyễn Văn Linh đóng vai người lãnh đạo cao nhất nước mà nhún mình nói, “các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!”

Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!

 thanhdo

Hội nghị thành đô năm 1990.

 

Ba ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể:

“Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc…” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công. Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ, “Mỹ muốn cơ hội này xoá bỏ cộng sản. Nó đang xoá ở Ðông Âu… Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc”.

 Qua những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không “nhất trí!”

Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu. Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60 phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin” cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết:

“Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là ‘người tốt, sáng suốt, có tài’; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh…”.

 Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. Mặc dù không ai biết chủ nghĩa đó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an trị và hệ thống doanh nghiệp nhà nước!

 Ðiều tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ, và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể: “Hiểm độc nhất là Trung Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy” (đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hoà Liên Bang Ðức gặp Bộ Ngoại Giao ta, cho biết là ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa Từ Ðôn Tín và tôi (Trần Quang Cơ) và đưa ra kết luận: ‘Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa…’”

 Một tháng sau cuộc họp ở Thành Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam”. Trần Quang Cơ thuật lại: “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị… ‘Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội…’” mà giới lãnh đạo cao cấp của ViệtNam đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ này vẫn cắn răng chịu đựng!

 Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy, thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội! Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tàu năn nỉ tái lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam,Cuba, Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo!

Có phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?

Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.

Vậy tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến khẩu hiệu “Tiến lên chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?

Vì khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.

 nct

Nguyễn Cơ Thạch đang bắt tay Đại sứ William Sullivan. Người thứ hai từ trái sang là Lê Đức Thọ.

 Chỉ khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt Nam mới thực sự độc lập!

 nguon: Hao Nguyen

2. Kịch bản kiện Trung Quốc

Lữ Giang
Khi Trung Quốc chuẩn bị đưa giàn khoan HD-918 vào Biển Đông, trong vùng đặc khu kinh tế của Việt Nam, nhà cầm quyền CSVN biết trước rằng nhân cơ hội này sẽ có hai chiến dịch được phát động để làm cho tình hình chính trị trong nước xáo trộn và có thể đưa tới biến loạn, đó là chiến dịch hô hào biểu tình chống Trung Quốc và chiến dịch đòi khởi kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế. Để đối phó với hai chiến dịch này, nhà cầm quyền đã cho soạn sẵn những kịch bản để vô hiệu hóa. Đây cũng chỉ là trò tháu cáy trong khi đánh bài xì phé.
Trong bài “Qua một cuộc chiến có bài bản” phổ biến hôm 22.5.2014, chúng tôi đã đề cập đến kịch bản biểu tình bạo động chống Trung Quốc”, được trình diễn khá xuất sắc trong các ngày 12, 13 và 14.5.2014 để tạo lý do ban hành quyết định cấm biểu tình và vô hiệu hóa các thành phần bị coi là nguy hiểm. Các đài phát thanh Việt ngữ quốc tế nổi tiếng như BBC, RFA và RFI đểu bị cho vô cơ. Hôm nay chúng tôi sẽ bàn đến kịch bản kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế” với mục tiêu vô hiệu hóa chiến dịch đòi hỏi phải đương đầu trực diện với Trung Quốc.
Chúng tôi gọi là “kịch bản” bởi vì nó chỉ được trình diễn để vô hiệu hóa những sự kích động gây rối loạn theo kiểu Ai Cập hay Thái Lan trước đây, chứ không phải là một giải pháp có thể giúp ngăn chận “chiến lược bắp cải” mà Trung Quốc đang thực hiện để từng bước lấn chiếm toàn Biển Đông và Biển Hoa Đông. Chiến lược này vượt lên trên mọi luật lệ quốc tế và mọi quyền lực, kể cả thẩm quyền của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ nói qua nếu kiện Trung Quốc sẽ gặp những khó khăn nào và trước những khó khăn, liệu Việt Nam có tách ra xa Trung Quốc và đứng gần Mỹ hơn không? Vấn đề chiến lược bắp cải” mà người Mỹ dịch là “cabbage strategy”, hay rõ hơn, cabbage encirclement strategy (chiến lược bao vây bắp cải) sẽ được nói trong một bài khác. Đây là một vấn đề rất quan trọng, nều không nắm vững, khó biết được Trung Quốc đang làm gì trên Biển Đông.
KỊCH BẢN KIỆN TRUNG QUỐC
Hôm 22.5.2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói với hãng thông tấn Reuters rằng chính phủ Việt Nam đang cân nhắc “nhiều biện pháp phòng vệ” đối với Trung Quốc, bao gồm các hành động pháp lý. Ngay sau đó, phát ngôn viên của Tòa Bạch Ốc Patrick Ventrell tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ việc Việt Nam xử dụng biện pháp pháp lý với Trung Quốc để giải quyết căng thẳng sau khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng biển Việt Nam.
Để yểm trợ cho lời tuyên bố của Thủ Tướng Dũng, các báo trong nước, nhất là hai tờ Người Lao Động và Tuổi Trẻ, đã mở chiến dịch tuyên truyền rằng chính quyền đang chuẩn bị đưa Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế. Cũng trong ngày 22.5.2014, dưới đầu đề “Kiện Trung Quốc: Chính phủ kiên quyết, toàn dân ủng hộ!”, báo Người Lao Động nhắc lại lời của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Việt Nam không đánh đổi chủ quyền lấy thứ hòa bình, hữu nghị lệ thuộc; Việt Nam xem xét kiện Trung Quốc… Báo này cho rằng bản tin của hãng Reuter nói trên “đang tạo ra sự ủng hộ mãnh mẽ của dư luận trong và ngoài nước”.
Báo Tuổi Trẻ ngày 25.5.2014, đăng bài “Phải kiện Trung Quốc của Tiến Sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban biên giới Chính phủ. Ông đã tóm lược nội dung đơn kiện và thủ tục kiện Trung Quốc của Philippines và kêu gọi: “Tranh thủ sự giúp đỡ của các luật sư người nước ngoài, để cùng xúc tiến hoàn thiện quá trình kiện Trung Quốc ra các cơ quan tài phán quốc tế theo đúng thủ tục và nội dung mà Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 đã quy định.”
Trên báo Tuổi Trẻ ngày 26.5.2014, Tiến Sĩ Nguyễn Vân Nam cho rằng kiện Trung Quốc “chúng ta sẽ đập nát sự tự tin của họ”. Ông nói Trung Quốc có thể bất chấp phán quyết của tòa, cậy thế nước lớn, cứ làm theo ý chí của mình. Nhưng theo ông, chính đơn kiện của Việt Nam “sẽ đập nát sự tự tin của họ, buộc họ phải bị động thay đổi chiến lược. Đây chỉ là một lối “cường điệu”.
Ở hải ngoại, ngày 26.6.2014, TS Lê Trung Tĩnh, được nói là thành viên Nhóm Nghiên cứu Biển Đông tại Pháp, cho biết “Thư yêu cầu lãnh đạo Việt Nam đưa Trung Quốc ra tòa” đề ngày 14.5.2014 do ông soạn thảo đã thu được gần 4.000 chữ ký, và đã được gửi đến các nhà lãnh đạo Việt Nam. Hai đài phát thanh ở Mỹ và Pháp là RFA và RFI đã yểm trợ cho yêu cầu này.
Báo Đời Sống Pháp Luât cho biết trong phiên họp ngày 29.5.2014, Thủ Tướng chỉ đạo 3 giải pháp bảo vệ chủ quyền đó là trên nội địa, trên mặt trận ngoại giao và đấu tranh pháp lý. Sau đó, ông Nguyễn Văn Nên, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ nói với báo chí: “Chúng ta chuẩn bị hồ sơ pháp lý về biển Đông từ lâu rồi. Nhưng lúc nào thực hiện nó, và thực hiện thế nào phải rất cận trọng. Lãnh đạo ta đang cân nhắc, tính toán, chọn thời điểm, thực sự cần thiết mới tính tới giải pháp này.
Nhìn chung, cả Mỹ lẫn người Việt đấu tranh đang đẩy cây cho CSVN đứng vào thế đối đầu với Trung Quốc, nhưng CSVN là một con cáo già, rất khó đẩy vào bẩy.
KIỆN SẼ THẮNG HAY THUA?
Theo nguyên tắc, tòa xử theo hiện trạng hồ sơ. Hiện nay hồ sơ chưa có, làm sao có thể nói ai thắng ai thua được? Nhưng có một số vấn đề căn bản sau đây cần được lưu ý.
1.- Định chế “Res nullius” (vật vô chủ) trong luật cổ La Mã không còn xài được.
Luật La Mã được ban hành vào thế kỷ thứ 6 có quy định rằng, đối với các đảo nổi lên trên biển, tiếng Latin gọi làInsula in mara nata, nguyên tắc Res nullius fit primi occupantis” được áp dụng, tức quyền sở hữu thuộc về người chiếm trước.
Từ năm 1974 đến nay, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đã dùng định chế này để xác định chủ quyền của mình trên Hoàng Sa và Trường Sa. Đa số các chuyên gia Biển Đông tự xưng” của người Việt hải ngoại đã bám rất chặc định chế này, đưa ra nhiều tài liệu chứng minh Việt Nam đã chiếm Hoàng Sa và Trường Sa trước, nên hai quần đảo này thuộc về Việt Nam.
Nhưng định chế này đã bị hủy bỏ từ lâu vì nó đưa tới các cuộc tranh luận không thể giải quyết được. Một thí dụ cụ thế: Việt Nam tuyên bố đã chiếm Hoàng Sa từ thời vua Tự Đức (1848 – 1883). Nhưng trong cuộc hội thảo tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington trong hai ngày 20 và 21.6.2011, ông Tô Hảo đại diện của Trung Quốc đã đưa ra một thùng tài liệu chứng minh Trung Quốc đã làm chủ Biển Đông từ 2000 năm về trước, như vậy Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc.
Ông vừa nói xong thì ông Termsak Chalermpalanupap, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thư ký ASEAN đã lên chận họng liền: “Tôi không cho rằng Công Ước Của Liên Hợp Quốc Về Luật Biển (UNCLOS) công nhận lịch sử là cơ sở để tuyên bố chủ quyền”. Còn bà Bà Caitlyn L. Antrim, Phó Đại Diện Hoa Kỳ trong Hội Đồng LHQ về Luật Biển đã bồu tiếp: Nếu Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền với các đảo từ 500 năm trước, nhưng sau đó lại bỏ trống thì tuyên bố chủ quyền trở nên rất yếu. Ông ta câm họng.
Chúng tôi mong rằng các chuyên gia Biển Đông tự xưng ở hải ngoại cũng như trong nước đừng đem “sử liệu” ra đọc lãm nhảm như nhiều năm qua nữa mà phải nghiên cứu quốc tế công pháp để biết rõ muốn chứng minh chủ quyền về các đảo trên biển cần phải có những yếu tố nào và đi tìm các tài liệu cần có để hỗ trợ cho các yếu tố đó.
2.- Tài liệu cần có để  chứng minh chủ quyền
Phải công nhận rằng Việt Nam đã quan tâm nhiều đến việc chứng minh chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hà Nội đã cho nhiều chuyên viên đi Mỹ và đi Pháp học và nghiên cứu về quốc tế công pháp, nhất là về luật biển, nên họ đã có đủ chuyên viên để phụ trách công việc này. Việt Nam cũng đã mời một số chuyên gia Pháp và Mỹ làm cố vấn về vấn đề biên giới trên bộ cũng như trên biển. Các tài liệu liên quan đến biên giới trên bộ và trên biển được lưu trữ trong văn khố Pháp đều đã được sao chép lại. Các hiệp ước quốc tế, án lệ quốc tế, tục lệ và học lý về chủ quyền trên biển cũng đã được thu thập và nghiên cứu.
Đọc các bài viết trên website ngiencuubiendong.vn ở trong nước, chúng ta thấy các chuyên gia của Việt Nam không còn xử dụng định chế “Res nullius” (vật vô chủ) trong luật La Mã ngày xưa nữa mà xử dụng định ước Berlin 1885, các án lệ quốc tế giải quyết các vụ tranh chấp về các đảo trên biển như các vụ tranh tụng về đảo Palmas, đảo Groenland, đảo Minquier và Ecrehous, v.v. Các tục lệ quốc tế và các học lý mới về chủ quyền các đảo trên biển cũng đã được sưu tập khá đầy đủ.
Điều đáng buồn là các chuyên gia Biển Đông tự xưng” ở hải ngoại vẫn còn bám chặt định chế “Res nullius” mỗi khi nói về Biển Đông. Họ gần như không biết gì đến định ước Berlin và các án lệ quan trọng đã nêu ra trên. Họ tưởng tòa án quốc tế cũng gióng như các cuộc hội thảo trong cộng đồng người Việt, muốn nói gì thì nói.
CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG: MỘT VẤN NẠN
Nói thì Hà Nội buồn, nhưng các tài liệu cho thấy năm 1958, để có tài nguyên đủ đánh chiếm miền Nam, Hà Nội đã phải bán Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Do đó, năm 1974, khi Hoa Kỳ vừa rút khỏi miền Nam, Trung Quốc đã vội đem quân chiếm Hoàng Sa để xiết nợ. Chúng tôi đã viết hai bài “Trở lại chuyện bán đất” (15.7.2011) và“Công hàm Phạm Văn Đồng” (2.8.2011) để nói về vấn đề này.
Trong hai bài nói trên, chúng tôi đã bàn về giá trị pháp lý của Công Hàm ngày 14.9.1958. Lúc đầu chúng tôi cho rằng công hàm này không có giá trị pháp lý vì lúc đó hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về miền Nam, và lời tuyên bố của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng không hề được quốc hội phê chuẩn. Nhưng sau khi nghiên cứu lại các nguyên tắc của quốc tế công pháp, chúng tôi nhận thấy Trung Quốc có thể coi công hàm đó như một lời hứa bán, và dựa vào học thuyết promissory estoppel (sự ràng buộc của lời hứa) trong Common Law của hệ thống Anh – Mỹ hay nguyên tắc Promesse de vente vaut vente (hứa bán có giá trị như bán) trong Roman Law, để coi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường đã được chuyển nhượng cho họ một cách hợp pháp.
Sự tiên đoán đó không sai. Hôm 20.5.2015, ông Lưu Hồng Dương, đại biện lâm thời Sứ quán Trung Quốc ở Indonesia đã viết một bài đăng trên báo Indonesia Jakarta Post xác định rằng Tây Sa (Hoàng Sa) và Trường Sa là“lãnh thổ vốn vẫn thuộc về Trung Quốc”. Ông cáo buộc “Việt Nam rõ ràng vi phạm nguyên tắc “estoppel” khi thay đổi và từ chối công nhận Tây Sa là của Trung Quốc”. Do đó, nếu kiện Trung Quốc, ngoài việc chứng minh về các yêu tố chiếm hữu công khai, hòa bình và liên tục, Việt Nam còn phải đối phó với Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 nữa.
Từ những sự kiện trên, chúng tôi tin rằng kịch bản kiện Trung Quốc sẽ ngừng ở đây. Không thể cãi chày cãi cối hay dùng nón cối để đối phó được. Phải đi tìm các các định chế, các nguyên tắc và các án lệ trong quốc tế công pháp mới có thể nói chuyện được.
VIỆT NAM SẼ QUAY VỀ PHÍA MỸ?
Một câu hỏi được đặt ra: Trước những khó khăn với Trung Quốc và những ve vãn của Mỹ, liệu rồi Đảng CSVN có tách xa Trung Quốc và liên kết với Mỹ không? Câu trả lời là KHÔNG.
Trong cuốn Asia’s Cauldron – The South China Sea and the End of a Stable Pacific (Chảo dầu tại Châu Á – Biển Đông và sự kết thúc của một Thái Bình Dương ổn định) mới xuất bản đầu năm 2014, Robert D. Kaplan, người đã từng tham gia vào Hội Đồng Chính Sách Quốc Phòng của Tòa Bạch Ốc, đã phân tích khá tường tận về cái gọi là “Định mệnh Việt Nam”. Ông viết:
Thực tế là, không có quốc gia nào bị đe dọa bởi sự lớn mạnh của Trung Quốc bằng Việt Nam. Hãy nhìn việc Việt Nam tiếp cận ASEAN. Dĩ nhiên là Việt Nam muốn ASEAN mạnh hơn, để làm đối trọng với Trung Quốc, họ đã thực tế, họ nói với tôi như vậy…
Ông Nguyễn Tâm Chiến, một cựu Thứ trưởng Ngoại giao của Việt Nam, đã nói với ông rằng nước xa không cứu được lửa gần”nên Việt Nam phải nhẫn nhục chấp nhận việc tàn phá môi trường do Trung Quốc khai thác quặng bauxit tại vùng Tây Nguyên… Còn ông Ngô Quang Xuân, Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam đã nhắc lại sự kiện Nixon bán miền Nam cho Trung Quốc năm 1972 và thất vọng nói: “Điều đó có thể lặp lại.
Dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, kể cả kiện Trung Quốc, chiến lược bắp cải của Trung Quốc cũng sẽ được tiếp tục tiến hành. Không chỉ Việt Nam, mà các nước trong Biển Đông và Biển Hoa Đông đều phải đối phó. Trung Quốc sẽ không tấn công Việt Nam mà giữ Việt Nam như một “tiền đồn” của Trung Quốc. Hoa Kỳ đang đứng ở đâu?
Ngày 29.5.2014
Lữ Giang

nguồn: Lu Giang

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: