Vũ Thất

Bảo Bình 1

Vài câu chuyện cuối tuần

1. Hai câu chuyện, một bất ngờ:

                           Nhân vật:
– O’Hare là tên phi trường quốc tế ở Chicago !
– Al Capone, 1 tên gangster khét tiếng một thời ở Mỹ.
– Easy Eddie là luật sư của Al Capone.
Chuyện thứ nhất:
 
Trung tá O’Hare                                                   
Một hôm toàn thể phi đoàn của ông được giao phó thi hành một phi vụ quan trọng. Sau khi cất cánh và gia nhập đội hình bay, liếc nhìn bảng phi cụ, ông nhận ra có chuyện không ổn, hoặc là đồng hồ báo xăng bị hư hoặc là ai đó không bơm đẩy xăng cho ông. Với tình trạng này, ông không đủ xăng để hoàn thành nhiệm vụ và trở về tầu được. Trung tá O’Hare báo với Phi ĐoànTrưởng và được lệnh phải quay về. Ông miễn cưỡng rời khỏi đội hình của phi đoàn và quay trở lại hàng không mẫu hạm.
 
Trên đường về tầu, bỗng nhiên, trung tá O’Hare thấy một cảnh tượng làm ông dựng tóc gáy: dưới thấp xa xa trước mặt ông là nguyên một phi đoàn oanh tạc cơ của Nhật đang trên đường tiến về hải đội Hoa kỳ. Phi đoàn khu trục của Hoa Kỳ đã bay đi thi hành nhìệm vụ và hải đội không còn ai bảo vệ cả. Dù có gọi, phi đoàn khu trục cũng không thể trở về kịp để cứu và cũng không còn thời gian để báo với hải đội những nguy hiểm sắp đến. Việc duy nhất còn có thể làm là bằng bất cứ giá nào cũng phải xua đuổi phá tan và chuyển hướng đội oanh tạc cơ Nhật.
 
Không còn nghĩ đến an nguy cho mình, trung tá O’Hare lao thẳng vào đội hình đoàn oanh tạc cơ Nhật, với bốn nòng súng 50 ly gắn trên cánh đỏ rực, ông tấn công tới tấp bắn hết chiếc này đến chiếc khác. Đến khi hết đạn, ông vẫn tiếp tục tấn công, liều lĩnh đâm thẳng vào các phi cơ Nhật, cố gắng cắt đuôi chiếc này, hay cắt cánh chiếc kia mong cho họ không điều khiển và bay được. Trong đáy cùng tuyệt vọng, ông làm bất cứ gì có thể làm để các oanh tạc cơ Nhật không đến được hải đội Hoa kỳ.
 
Cuối cùng, đoàn phi cơ Nhật bối rối và chuyển hướng. Thở ra nhẹ nhõm, trung tá O’hare lê lết chiếc máy bay tả tơi của mình về lại hàng không mẫu hạm. Ông báo lại sự việc, chiếc máy quay phim gắn trên phi cơ là bằng chứng hùng hồn nhất. Nỗ lực trong tuyệt vọng để bảo vệ hải đội Hoa kỳ, ông đã hạ 5 chiếc oanh tạc cơ Nhật.
 
Đó là ngày 20 tháng 2 năm 1942. Trung tá O’Hare là phi công Hải Quân đầu tiên trong quân chủng được trao tặng Huân Chương Danh dự của Quốc Hội Liên Bang Hoa kỳ.
 
Năm 1943, trung tá O’Hare tử trận trong một cuộc không chiến lúc ông 29 tuổi. Để không ai có thể quên được người anh hùng này, phi trường của thành phố Chicago , quê hương ông, đã được đặt tên là phi trường O’Hare. Dịp nào đó nếu dừng chân tại phi trường O’Hare, xin hãy đi thăm khu kỷ niệm O’Hare, nhìn tận mắt Huân Chương Danh Dự đã gắn lên ngực áo của ông. Khu lưu niệm này nằm giữa Terminal 1 và Terminal 2.
Chuyện thứ hai
Luật sư Easy Eddie
Hơn mười lăm năm trước đó, tại thành phố Chicago có một người mang biệt danh là Easy Eddie. Trong thời gian này, Trùm tội ác Al Capone hầu như làm chủ thành phố. Capone nổi tiếng không do các hành động anh hùng mà vì các việc làm bóc lột, tàn nhẫn và hung ác. Thành phố Chicago , qua Capone, tràn ngập những nơi bán rượu lậu, các động mãi dâm và các vụ giết người không gớm tay.
 
Easy Eddie là luật sư của Al Capone. Chắc chắn Eddie rất giỏi. Việc rành rẽ và biết lợi dụng các kẽ hở pháp luật của Eddie đã giúp Capole nhởn nhơ ngoài vòng tù tội. Để tỏ lòng biết ơn, Capole trả công Eddie rất hậu. Không chỉ về tiền bạc mà còn chu cấp về tài sản nữa. Chẳng hạn như gia đình Eddie sống trong một lâu đài lớn, kín cổng cao tường và thừa mứa các tiện nghi của lúc đó với kẻ hầu người hạ ngay trong nhà. Lâu đài này lớn đến độ chiếm nguyên một đoạn đường của thành phố Chicago . Dĩ nhiên với cuộc sống giầu có quyền thế của kẻ đương thời, làm sao Eddie có thể nhận và hiểu được những khốn cùng của xã hội chung quanh.
 
Như mọi người, Eddie có một nhược điểm. Có một con trai và Eddie thương con vô cùng. Cậu bé có đủ thứ ở trên cõi đời, toàn những loại thượng hảo hạng: quần áo, xe cộ ngay cả trường học nồi tiếng vì giá cả tiền bạc không thành vấn đề, không gì có thể ngăn cản được. Mặc dù liên hệ chặt chẽ và chìm ngập trong tội ác, Eddie cũng đã có những cố gắng dậy con thế nào là phải và trái.
 
Vâng, Eddie đã cố dậy cậu con trai vượt lên từ cuộc sống nhớp nhúa của chính mình, ước mong con sẽlà người tốt.. Cho dù giầu có và quyền thế xiết bao nhưng vẫn có hai thứ Eddie không thể cho con được, hai thứ mà chính Eddie đã chót bán cho Capone: làm gương và để lại cho con niềm danh dự.
 
Qua nhiều đêm trằn trọc thao thức, Eddie quyết định việc để lại danh dự cho con cần thiết, quan trọng và có ý nghĩa hơn là cho con cuộc sống giầu có với những đồng tiền từ máu và nước mắt của người khác. Phải thay đổi hoàn toàn những việc làm lầm lỡ trước kia, phải báo với chính quyền những sự thật vế Al Capone. Eddie cố gắng rửa sạch những nhơ nhớp trên cái tên của mình, ngõ hầu cho con biết thế nào là trung thực và ngay thẳng.
 
Để hoàn tất mọi chuyện, Eddie phải ra trước toà làm nhân chứng chống lại ông Trùm, biết rằng giá phải trả sẽ không nhỏ. Hơn tất cả mọi chuyện trên đời, Eddie muốn phục hồi tên tuổi mình, hy vọng sẽ để lại cho con tấm gưong và niềm danh dự.
 
Eddie ra trước toà làm nhân chứng, Trùm Al Capone vào tù. Vài tháng sau, Eddie gục ngã trong cơn mưa đạn trên một con đường lẻ loi ở Chicago. Eddie đã để lại cho con trai một món quà lớn nhất trên thế gian này, mua bằng giá cao nhất là sinh mạng của chính mình.
 
 Hai câu chuyện này có liên quan gì với nhau? 
Trung tá phi công Hải Quân Butch O’Hare là con trai của Easy Eddie. 
 

 2. Nữ tướng 4 sao Mỹ đầu tiên chỉ huy không quân Thái Bình Dương

Hành trình trở thành nữ tướng 4 sao uy quyền nhất lịch sử Mỹ
Ảnh chụp nữ tướng không quân Mỹ Lori Robinson năm 2013. Ảnh: Wikipedia

Thượng viện Mỹ gần đây xác nhận bà Lori Robinson là nữ tướng không quân Mỹ đầu tiên sẽ chỉ huy toàn lực lượng không quân của nước này ở vùng Thái Bình Dương.

Nữ tướng không quân Lori Robinson - Ảnh: Flickr

Nữ tướng không quân Lori Robinson – Ảnh: Flickr

Trong tháng 10 này, bà Robinson sẽ đảm nhận trách nhiệm tại khu vực địa lý liên quan đến Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ Dương cùng toàn bộ khu vực phía bắc và phía nam Thái Bình Dương với khoảng 36 quốc gia, nơi có 3,5 tỉ người đang sinh sống, chiếm hơn 52% bầu khí quyển của thế giới.
Quan trọng hơn, khu vực này cũng là nơi đóng quân của một số quân đội lớn nhất thế giới, ít nhất là 8 đối tác an ninh vốn có quan hệ chặt chẽ với Mỹ, nơi giữ vai trò cân bằng về ngoại giao và quốc phòng với lợi ích của Mỹ.
Tướng Robinson sẽ trở thành người phụ nữ cấp cao nhất trong lịch sử quân sự của Mỹ tại khu vực này, chịu trách nhiệm chỉ huy chiến đấu. 
Sơ yếu lý lịch của nữ tướng quân chỉ huy không lực Thái Bình Dương nhìn chung khá ấn tượng. Bà được đào tạo như một chỉ huy các cuộc chiến trên không, tốt nghiệp và được hướng dẫn tại Trường không quân Fighter Weapons và đã trải qua vị trí chỉ huy ở nhiều cấp độ.
 Lori Robinson (phải) khi còn là thiếu tướng (ba sao) không quân năm 2013 - Ảnh: acc.af.mil
 Lori Robinson (phải) khi còn là thiếu tướng (ba sao) không quân năm 2013 – Ảnh: acc.af.mil
Sự kiện này đúng là đáng mừng, nhưng không có nghĩa là giới nữ từ nay đã đươc gỡ bỏ hoàn toàn các rào cản trên con đường phát triển sự nghiệp quân sự. Bởi đơn giản, khi các quy tắc được phá vỡ cũng không có nghĩa bạn sẽ dễ dàng vượt qua nó. 
 
Phụ nữ chiếm gần 15% lực lượng vũ trang Mỹ, khoảng 150 người đã thiệt mạng trong các cuộc chiến tranh kể từ sự kiện 11.9, với sự đóng góp vô giá trong suốt thời gian trên chiến trường. 
 
Cùng với đô đốc hải quân Michelle Howard và tướng quân Janet Wolfenbarger, tướng Robinson đã gia nhập “biệt đội nữ bốn sao”, tức những người phụ nữ cấp cao nhất trong quân đội Mỹ, đứng ở vị trí chỉ huy chiến đấu. 
 
Tuy nhiên, tỉ lệ nữ giới giữ cấp tướng chiếm chưa đầy 8% tổng số tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang nước này. Họ còn phải phấn đấu để đi một quãng đường rất xa nữa mới đạt được những thành tựu như các đồng nghiệp nam cùng cấp. 
Và không có gì đảm bảo họ sẽ làm được, ngay cả trong tương lai. 
Thứ nhất, họ chính là đại diện cho thế hệ đầu tiên của nữ giới đạt được vị trí cao khi phục vụ trong quân ngũ. Mọi hoạt động của họ chắc chắn sẽ bị để ý từng chút và tất nhiên, có người ủng hộ thì cũng có người không ủng hộ.  
 
Tỉ lệ nữ giới giữ cấp tướng chiếm chưa đầy 8% tổng số tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang Mỹ. Họ còn phải phấn đấu để đi một quãng đường rất xa nữa mới đạt được thành tựu như đồng nghiệp nam cùng cấp. 
 
Điều này đòi hỏi một sự thay đổi nhận thức đối với nữ giới trong các bộ phận của quân đội Mỹ. Các chỉ huy nam cấp cao thường tránh việc thuê phụ nữ trẻ làm việc nhiều giờ hoặc đi công tác xa do nhận thức vẫn không thay đổi. Họ còn lo ngại khả năng xuất hiện những lời cáo buộc thiên vị trong lực lượng.
 
Vào tháng 7.2014, hội đồng chỉ huy không quân Mỹ ra đề nghị “không có nữ” ở vị trí chuẩn tướng không quân (một sao). Chi phí dịch vụ tổng thể cho nữ chỉ huy cấp cao gần gấp đôi so với nam giới. 
Càng ở cấp cao, tỉ lệ có mặt của nữ giới càng ít dần. Theo thống kê năm 2013, nữ giới chiếm 23% trong lực lượng không quân, nhưng lên đến cấp trung úy chỉ còn 12% và cấp đại tá là hơn 7% (ba sao).
 
Sự đánh giá thấp khả năng của phụ nữ từ xưa đã dẫn đến nhận thức ngày hôm nay. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây, tập trung vào các lực lượng không quân, đã xác định những trở ngại về cơ cấu nếu duy trì nữ nhân viên. 
 
Nghĩa vụ quân sự vẫn được xác định trên mô hình năm 1950 với người vợ đảm nhiệm vai trò quán xuyến việc nhà và người chồng ra xông pha trận mạc.
 
Phụ nữ trong quân đội phải đối mặt với gánh nặng không cân xứng về công việc gia đình và nuôi dạy con cái, ngược lại với các đồng nghiệp nam. Điều này làm cản trở con đường thăng tiến sự nghiệp của họ, khiến họ không thể cạnh tranh công bằng với các đồng nghiệp nam ở mọi phương diện. 
 
Vì thế, nhiều phụ nữ đã tự nguyện rời quân ngũ để trở về với việc quán xuyến gia đình. 
 
Các nhà lãnh đạo quân sự cấp cao đã nhận tình trạng này và đang tiến hành các bước khắc phục, như cung cấp một kỳ nghỉ phép cho cả nam lẫn nữ quân nhân để họ về thăm gia đình, tăng sự linh hoạt trong vấn đề sử dụng nhân tài. 
 
Bước khắc phục được tiến hành đồng thời là thúc đẩy những phụ nữ xứng đáng trở thành nhà lãnh đạo hàng đầu.
 
Và như thế, nữ tướng quân chỉ huy quân lực Thái Bình Dương vừa được phê chuẩn cùng “biệt đội nữ bốn sao” sẽ không chỉ truyền cảm hứng cho những phụ nữ khác đạt được thành công trong quân đội, mà còn là sự kỳ vọng làm thay đổi nhận thức, quan điểm và các chỉ tiêu trong quân đội Mỹ.
Theo Song Anh
Một thế giới/National Interest

3. Đi Tìm Cõi Ngàn Trùng 

Nguyễn Hữu Chi , TS Tâm Lý
 
Đời này ai dại ai khôn ?
Sống mặc áo rách , chết chôn áo lành … ( Ca Dao )
Được tin ông bạn già bất thình lình « ra đi » , tôi vội mang vòng hoa đến chào từ biệt . Ông bạn tôi mặc bộ đồ rất đẹp , bình thản nằm đó . Tôi mừng thầm cho ông bạn đã « ra đi » một cách nhẹ nhàng trong lúc đang ngủ ngon lành . Sau đó , trên đường lái xe về nhà , tôi suy tư về khoảng thời gian còn lại trong đời tôi . Dù sao năm nay tôi đã trên bẩy chục tuổi đầu rồi . Theo thống kê ở Canada , người đàn ông trung bình có thể sống tới năm 76 tuổi mới được phép « ngao du vùng tiên cảnh » . Có nghĩa là tôi còn có thể sống được chừng 5 năm nữa . Vì thế , tôi nghĩ rằng đã đến lúc tôi phải phác hoạ ngay một « chương trình ngũ niên » cho tôi , kẻo lúc « ra đi » lại tiếc rẻ khôn nguôi . 
Cũng may hiện nay tôi vẫn còn khoẻ mạnh , tiền hưu trí cũng đủ để « phè phỡn với đời » . Vấn đề quan trọng bây giờ là phải « phè phỡn » làm sao cho « phải đạo » ? Chuyện « ong bướm » ư ? Mục này tôi không còn khả năng để « đụng » tới . Những người đến tuổi sắp « ra đi » như tôi không nên quá tham lam . Chúng ta hãy để đám con cháu có dịp « thi thố tài năng » , không nên tranh dành với thế hệ trẻ . Biết nhường nhịn như vậy mới được người đời kính nể . 
Đối với tôi , ăn uống cũng không còn là một mục khoái lạc đáng để ý tới . Có mấy cái răng hàm thì rụng gần hết , huyết quản thì bị mỡ bám đầy , máu thì ngọt như mật ong . Theo tôi nghĩ , ông Trời cho mỗi người một số lượng đồ ăn nhất định để sinh sống trong suốt cả cuộc đời của mình . Người nào dùng hết « khẩu phần » của mình là phải « ra đi » . Ông Trời đâu có cho phép chúng ta kéo dài cuộc sống để « ăn ké » vào khẩu phần của người khác . Nói tóm lại , « ăn nhiều , ăn nhanh , ăn mạnh , vét cho sạch nồi cơm » , không phải là bí quyết trường sinh . Các bác sĩ ở các nước Âu Mỹ cũng đã nhận ra điều này , nên đã luôn luôn khuyên già trẻ cũng như nhớn bé phải ăn uống chừng mực . Hơn nữa , chúng ta cũng đã từng được nghe các cụ nhắc nhủ nhiều lần : « Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn » , hoặc « tham thì cực thân , Phật đã bảo thầm thì chớ có tham [ ăn ] » . 

Thế là tôi đã mất hai trong bốn mục khoái lạc mà người đời gọi là « tứ khoái » . Sau cùng , tôi chỉ còn thấy có hai thú vui hợp với túi tiền và sức lực của tôi : đó là đọc sách , và đi du lịch . Tôi thấy , đi ngao du những nơi danh lam thắng cảnh là thuận tiện nhất : ban ngày thì đi thăm viếng đó đây , tối về khách sạn ngồi đọc sách . Đối với người có tuổi như tôi , thời giờ rất là cấp bách , làm « công đôi ba việc » như vậy mới « tranh thủ được thời gian » . Thế là hai vợ chồng tôi bàn nhau đi ngao du vùng nắng ấm để trốn mùa lạnh ở Canada . Ôi , mùa Đông ở xứ « tình nồng » này , sao mà lạnh thế ! Càng về già , tôi càng cảm thấy lạnh , lạnh từ ngoài vào tới tận đáy lòng con người . 

Tối hôm đó , tôi chui vào mền nằm nghĩ đến ngày mai tới Miami sưởi nắng … Đang say sưa mơ màng thì vợ tôi đánh thức : 
– Dậy đi anh . Đến giờ ra phi trường rồi , máy bay không đợi anh đâu . Em đã chọn cho anh một bộ quần áo rất đẹp để mặc đi đường . 

Bỗng nhiên tôi nhớ đến ông bạn già của tôi đã được Nhà Đòn mặc cho một bộ quần áo rất đẹp trước khi lên xe « ra đi » . Tôi nhìn vợ tôi xếp quần áo của tôi vào va-li , tôi vội hỏi :
– Ủa , em không đi cùng với anh hay sao ? 
– Em còn bận công việc nên đành phải ở lại . Anh đã đến tuổi có quyền được đi ngao du , nay đây mai đó . Anh cứ đi chơi thanh thản là em mừng rồi . 

Cuối cùng tôi đành phải lên xe taxi ra phi trường một mình . Tôi quay đầu nhìn lại mái nhà thân yêu của tôi cho đến khi nó mờ dần sau màn tuyết trắng , mầu trắng tang tóc làm tôi khẽ rùng mình . Phải chăng kẻ “ra đi” thường nghĩ tới kẻ “ở lại”? 

Quả thiệt máy bay không đợi tôi . Tôi vừa ngồi xuống ghế thì máy bay bắt đầu cất cánh . Lòng tôi buồn rời rợi vì tôi đang bay về vùng nắng ấm trong khi họ hàng thân yêu tôi còn phải ở lại vật lột với băng tuyết từ Bắc Cực ù ù thổi về . Khi máy bay hạ cách xuống phi trường Miami , xe của hãng du lịch đã chờ sẵn để đưa tôi về khách sạn RIP ( « Resort of International Peace » , mà tôi tạm dịch là « Lưu Xá Hoà Bình Thế Giới » ) . Mới nhìn thoáng qua tôi đã nhận thấy phong cảnh thành phố này quả có đẹp , đúng như những bích chương quảng cáo du lịch đã trình bày . Hai bên đường là những cây cao vời vợi , cành lá um tùm . Xung quanh khách sạn của tôi là những biệt thự xinh xắn nằm sau những hàng rào hoa đủ mầu đủ loại . 

Ngồi uống trà trong vườn của khách sạn , tôi thoải mái nghe chim hót líu lo và nhìn mấy con bướm bay tung tăng trong nắm ấm . Một lát sau , người hướng dẫn du lịch mời tôi lên xe đi xem phong cảnh thành phố . Đó là một chiếc xe buýt chở chừng 50 du khách đủ loại người . Đa số là người có tuổi như tôi , nhưng cũng có vài người rất trẻ . Ngoài một số người Mỹ ra , tôi còn nhận thấy vài người ngoại quốc mặc quần áo cổ truyền của nước họ . Ông tài xế cho biết là xe sẽ dừng nhiều nơi nổi tiếng trong thành phố , du khách có thể xuống bất cứ chỗ nào để tham quan , một giờ sau đó xe sẽ trở lại đón để đưa đi thăm viếng nơi khác , hoặc chở về khách sạn RIP .

Xe đi vòng vòng trong thành phố và vùng ngoại . Xe ngừng nhiều nơi nổi tiếng của vùng này : có những khu biệt thự sang trọng lộng lẫy , có những bãi cát vàng óng ả chạy dài xuống biển xanh mầu ngọc thạch , có những trung tâm thương mại xầm uất , v . v … Mỗi khi xe ngừng lại , thì có vài du khách tíu tít xuống xe . Khi xe tới Tropical Garden ( Vườn Bách Thảo Nhiệt Đới ) , tôi bèn xuống xe vì muốn sống lại trong khung cảnh xanh tươi của đất nước tôi khi xưa . Tôi sung sướng khi thấy lại những cây đa cổ thụ cao ngất từng mây , những cành hoa phượng vĩ rực rỡ dưới nắng chan hoà , những con chuồn chuồn vui đùa giữa những cụm bông sen trên mặt hồ phẳng lặng … 

Tôi đang thẩn thơ hưởng khung cảnh tĩnh mịch gần như thoát tục , thì bỗng nhiên nghe có tiếng người gọi tên tôi . Quay lại thì thấy anh Tùng , người bạn chí thân của tôi từ ngày học đệ thất . Đả hơn bốn chục năm rồi bây giờ mới lại gặp nhau . Chúng tôi bắt tay nhau thiệt lâu , mừng mừng tủi tủi . Chúng tôi dạo chơi dưới bóng mấy cây liễu già bên hồ , kể lại cho nhau nghe những kỷ niệm vui buồn khi xưa . Sau khi học hết bậc trung học , anh Tùng đi động viên , nay đây mai đó , theo tiếng súng của thời cuộc ở nơi tiền tuyến . Còn tôi được may mắn được đi ngoại quốc du học . Tuy vậy , chúng tôi vẫn liên lạc mật thiết với nhau bằng thư từ . Lá thư cuối cùng của anh tôi nhận được hồi cuối năm 1967 . Trong thư anh cho tôi biết là anh đang hành quân ở Quảng Trị , và trong vài tuần nữa anh được nghỉ phép để về Cần Thơ ăn tết và nhân tiện cưới vợ luôn một thể . Thế rồi trận Mậu Thân bất thình lình xẩy ra . Từ đó tôi không nhận được tin tức gì về anh . Tôi cho rằng anh đã bị tử trận . Bây giờ lại gặp được anh , tôi mừng muốn khóc . Trong khi đi bách bộ trong vườn , chúng tôi nói chuyện huyên thuyên , không để ý đến thời gian . Đến lúc xe buýt tới , chúng tôi đành phải chia tay nhau . Tôi lên xe ra đi . Anh ở lại vì anh muốn tiếp tục cuộc du ngoạn trong vườn mà anh ví « như vườn Tao Đàn ngày xửa ngày xưa , nơi mà chúng mình thường tới chơi trong những giờ trốn học » . Bắt tay anh , tôi hẹn với anh ngày tái ngộ . Anh cười vui vẻ , rồi thốt ra một câu triết lý bâng quơ : 
– Vũ trụ này thực ra bé nhỏ lắm , chúng mình đi loanh quanh , luẩn quẩn , mãi rồi sẽ có ngày cũng lại gặp nhau . 
Đến lúc lên xe chạy ra ngoài phố , tôi mới sực nhớ là đã quên hỏi địa chỉ của anh . Tuổi già lẩm cẩm , hay quên . Thiệt là vô tích sự ! 

Xe chạy vào khu ăn chơi buôn bán nổi tiếng trong vùng . Tôi tò mò xuống xe đi xem cảnh « ngựa xe như nước , áo quần như nêm » . Đường phố đông nghịt những người . Họ đi ngắm nhau , hoặc ngắm những hàng hoá đắt tiền bầy trong tủ kính . Tôi mỉm cười nhìn một bà Mỹ to béo đang chăm chú nhìn một bộ áo dạ hội mỏng dính với bảng giá « Special Sale : 299 , 95 dollars » . Tôi cảm thấy tội nghiệp cho cái « cái cối xay » đang bị thôi miên bởi cái áo « hớ hênh » , vừa hở lưng đằng sau , vừa hở rún đằng trước . Đã thích ăn cho mập xù , lại còn thích mặc quần áo khiêu gợi ! Đang ngẫm nghĩ về cái ham muốn quá đáng của con người , thì tôi đã bước tới trước cửa một tiệm kim hoàn . Tôi đứng ngắm những vòng ngọc đủ mầu , những dây chuyền vàng chạm trổ tinh vi , những chuỗi hạt trai sáng rực dưới ánh đèn trong tủ kính . Bỗng nhiên có tiếng ồn ào trong tiệm , rồi có bóng một thanh niên chạy vọt ra ngoài , đằng sau là những tiếng hô hoán ầm ĩ . Hai tiếng súng nổ liên tiếp làm tôi giật mình quay lại . Tôi thấy một cô cảnh sát cầm súng thản nhiên đứng nhìn người thanh niên đang nằm quằn quại trên vũng máu , tay còn nắm chiếc đồng hồ vàng nạm kim cương . Khách bộ hành tò mò nhìn cảnh chết chóc như đang xem chương trình Miami Vice trên ti-vi . May sao vừa lúc đó thì xe buýt của hotel tới , tôi vội chạy lên xe , để trốn cảnh si mê và tàn bạo . 

Xe ngừng bánh nhiều nơi cho du khách xuống du ngoạn . Nhưng tôi vẫn ngồi yên trên xe vì tôi thấy mất hết cảm hứng đi ngắm cảnh phồn hoa giả tạo . Cuối cùng xe cũng về tới khách sạn RIP khi thành phố bắt đầu lên đèn . Tôi mệt mỏi xuống xe và rất ngạc nhiên khi thấy bố mẹ tôi mừng rỡ chạy ra đón tôi , và ôm tôi vào trong lòng . Mẹ tôi vỗ về tôi , rồi nhẹ nhàng trách tôi : 
– Con mải đi chơi ở đâu mà mãi bây giờ mới về , làm bố mẹ mong chờ . 

Tôi cảm thấy hối hận vô cùng , tôi gục đầu vào vai mẹ tôi khóc nức nở như ngày tôi còn bé … 

Bỗng nhiên tôi nghe văng vẳng có tiếng gọi tôi : 
– Dậy đi anh . Anh nằm mơ cái gì mà khóc lóc thảm thê vậy ? 

Tôi chợt bừng tỉnh , nước mắt hãy còn rỏ xuống gối . Sau đó , tôi nghĩ nhiều lắm . Tôi nghĩ đến ông bạn già của tôi mặc bộ quần áo rất đẹp đang nằm trong nhà quàn . Tôi nghĩ đến chuyến du ngoạn mà tôi đã thực hiện được trong giấc mơ . Tôi nghĩ đến giờ phút kỳ lạ cho phép tôi gặp lại những thân nhân của tôi đã bỏ tôi « ra đi » lâu lắm rồi . Tôi nghĩ đến cái sống và cái chết . Sau khi tôi « ra đi » , tôi sẽ đi về đâu ? Là « người trần mắt thịt » , làm sao tôi biết được . Chỉ những « chuyên gia » nghiên cứu về linh hồn hay duyên kiếp mới « biết rõ ràng » những chuyện gì « chắc chắn » sẽ xẩy ra khi chúng ta sang « bên kia thế giới » . Những vị này thường cho chúng ta biết rằng : sau khi chết đi , con người sẽ khốn khổ lắm nếu không biết thành kính thờ phụng Chúa hoặc ra chùa tụng kinh giải oan . Có người lại nghĩ rằng sau khi chết đi , con người sẽ trở thành cát bụi , chứ không đi đâu hết . Trái lại , giấc mơ kỳ lạ mà tôi đã trình bày ở trên làm cho tôi nghĩ rằng cuộc sống cũng như sự chết không khác gì một cuộc ngao du . Linh hồn chúng ta có thể là một hành khách trên một chuyến xe buýt du ngoạn . Xe buýt tới thì ta phải lên xe « ra đi » . Làm sao mà biết được xe sẽ ngừng ở nơi nào . Khi xe tới trạm , ta phải xuống . Trạm xe bus có thể là một khu « Vườn Nhiệt Đới » , có thể là một trung tâm thương mại phồn thịnh giả tạo đầy si mê và tội lỗi , có thể là một khu tối tăm , nghèo nàn , có thể là một ổ trộm cướp đầy xì ke , ma tuý … 
Nếu cho sự chết là một du ngoạn , tại sao chúng ta không sửa soạn cuộc « ra đi » của chúng ta cho chu đáo . Khi chúng ta vượt biên , chúng ta sửa soạn rất kỹ càng . Nhưng khi chúng ta đến tuổi phải « ra đi » , chúng ta lại không tính toán như người vượt biên , dù rằng chúng ta vẫn còn đủ tỉnh táo để sửa soạn cuộc «ngao du » của chúng ta . Chúng ta không chịu sửa soạn trước khi « ra đi » vì chúng ta sợ chết , nên chúng ta không dám nghĩ đến cái chết cho đến khi chúng ta thở hơi cuối cùng . Thế là chúng ta « đẩy » trách nhiệm đó cho những người thân thiết có nhiệm vụ cáng đáng thân xác của chúng ta . Trong lúc « tang gia bối rối » , người nào càng thân thiết với chúng ta bao nhiêu , thì lại càng bối rối bấy nhiêu . Khi bối rối như vậy , làm sao họ có thể tính toán một cách hợp lý được . Kết quả là người thương yêu của chúng ta sẽ bị các Nhà Đòn lợi dụng triệt để .
Chuyện này rất dễ hiểu : vì thương tiếc « người ra đi » , nên những người thân thích tưởng rằng càng tiêu nhiều tiền cho chuyện ma chay bao nhiêu , thì « người ra đi » càng sung sướng bấy nhiêu . Thiệt là nhầm to . Những bài kinh giải thoát , những sớ cầu siêu không hoá giải được những tội lỗi của con người . Một cuộc mai táng huy hoàng không làm cho « người ra đi » được « mát mặt » thêm một chút nào . Tuy vậy , những người thân thích luôn luôn muốn có một đám tang thiệt là linh đình và tốn kém để tỏ lòng thương tiếc của mình đối với « người ra đi » . Trong trường hợp này » , người ra đi » chỉ còn biết thở dài ( sau khi thở hắt ra ) . Rồi người đến viếng cũng muốn mua một vòng hoa thiệt to , thiệt đắt tiền để tỏ tình bạn hữu với « người ra đi » và nhất là để chứng minh cho bà con lối xóm biết rằng mình là « người đàng hoàng , có thuỷ , có chung » . Thấy cảnh này » , người ra đi » cũng lại thở dài , chỉ muốn thốt ra câu từ biệt : « Này bạn ơi , đã quá trễ rồi . Sẽ có ngày tái ngộ » , và «tức cảnh » làm bài thơ như sau : 

Khi một thằng nằm xuống
Lại có thằng luống cuống đứng lên
Vái lạy thằng nằm xuống
Hy vọng khi mình nằm xuống
Lại có thằng khác luống cuống đứng lên . 
Vái lạy thằng nằm xuống
Điều mà chúng ta biết chắc là đa số những người sắp « ra đi » đều lo lắng thiết tha cho « người ở lại » , và nghĩ rằng mình còn có thì giờ thu xếp mọi việc trước khi « ra đi » . Tiếc thay , khi xe buýt bất thình lình tới đón đi «ngao du » , chúng ta vội vàng lên xe nên không giúp gì cho những « người ở lại » . Trong khi đó, “người ở lại” đau đớn muôn phần . Khi bố mẹ tôi lần lượt qua đời , một mình tôi « ở lại » , tôi lịm người đi vì thương tiếc . Rồi khi tôi loáng thoáng được tin anh bạn chí thân của tôi bị tử thương , tôi buồn ngẩn ngơ , tội nghiệp cho số phận long đong của người trai thời loạn . Tôi bối rối vì tôi cảm thấy hối hận vì tôi cho rằng mình đã cư xử không đầy đủ tình nghĩa đối với « người ra đi » , không có dịp tổ chức một đám táng trọng thể đưa người quá cố sang «Bên Kia Thế Giới » . Ngoài ra , trong thâm tâm , tôi cảm thấy lo sợ vì không biết những thân nhân của tôi sẽ đi về đâu : có được « về với Chúa không » ? có thoát khỏi « vòng nghiệp chướng » hay không ? Đó là những phản ứng tự nhiên của những « người ở lại » . Vì thế , chúng ta thường thấy những vụ ma chay linh đình để «người ở lại » có dịp « trả nghĩa » đối với « người ra đi » ( thà « trả nghĩa » trễ hạn , còn hơn là bị mang tiếng «bạc tình , bạc nghĩa » ) . Chúng ta lại còn thấy trong những cuộc cúng lễ nguy nga , mọi người thiết tha cầu xin Trời hay Phật giúp « người ra đi » được lên Thiên Đàng hay vào Cõi Niết Bàn . Mọi tín đồ đều « biết chắc chắn » rằng một linh hồn đầy tội lỗi khó có thể siêu thoát được nếu thân nhân không thành khẩn cầu xin Đấng Tối Cao nhủ lòng khoan hồng đại lượng với « người ra đi » ! Phải chăng vì chúng ta nghĩ rằng cái quá khứ của «người ra đi » thiếu đạo đức , nên chúng ta mới phải làm lễ cầu siêu cho « người ra đi » như vậy ? Thiệt là tội nghiệp cho người « ra đi » : Đã « nằm xuống » rồi mà còn bị người đời gán cho cái tội « thiếu đạo đức » .

Nói cho cùng , « người ở lại » đáng thương hơn « người ra đi » . Trong khi « người ra đi » thản nhiên nằm đó , thì « người ở lại » không những bị xúc động tinh thần mà còn phải xả thân cáng đáng công việc tiễn đưa «người ra đi » . Vì thế , tôi không thắc mắc về việc tôi sẽ « ra đi » , nhưng tôi nghĩ rất nhiều , và lo lắng rất nhiều cho « người ở lại » . Tôi muốn « người ở lại » khỏi phải quàng lên vai một gánh quá nặng nề về tinh thần cũng như vật chất khi tôi « nằm xuống » . Có lẽ ít người nghĩ như tôi và làm như tôi , vì đến lúc gần ngày tận số , mỗi người nghĩ một kiểu , và người nào cũng cố gắng làm những việc mà mình cho rằng thoả đáng nhất . Do đó , tôi không dám khuyên ai . Những điều tôi trình bày sau đây chỉ là một thí dụ không điển hình , một lối nhìn đời «không giống ai » . 
Trước hết , tôi không muốn những bạn bè thân thuộc tôi quá u sầu về chuyến « ngao du » của tôi . Do đó , tôi đã trình bày cho mọi người biết rằng khi « chuyến xe buýt » tới , tôi sẽ thản nhiên « ra đi » như tất cả mọi người khác đã từng « ra đi » . Tôi sẽ « đi » về đâu ? Có lẽ tôi sẽ về với bố mẹ tôi . Có lẽ tôi sẽ ngao du vùng tiên cảnh cùng với bạn bè tôi . Dù sao đi chăng nữa , tôi không cần biết tôi sẽ « đi » đâu , vì có biết hay không biết thì tôi và những người thân thuộc của tôi cũng chẳng làm được gì cả . 

Sau đó , việc tôi phải làm trước khi « ra đi » là sửa sang lặt vặt trong nhà , vì vợ tôi không phải là một người khéo tay biết sửa chữa nhà cửa . Ngoài ra , những gì của tôi mà tôi thấy không cần dùng cho bản thân tôi hoặc cho « người ở lại » , tôi mang đi cho người khác , hoặc đổ vào thùng rác . Khi tôi quẳng đi gần hai ngàn quyển sách của tôi , tôi cảm thấy nhẹ nhõm trong người . Trái lại , vợ tôi rất xúc động , và hỏi tôi : 
– Những cuốn sách này là kỷ niệm gần 40 năm dạy học , tại sao anh vất đi ? 
– Anh không cần nữa . 
– Thì cứ để đấy , đôi khi anh muốn đọc lại thì sao ? 
– Đọc đi , đọc lại làm gì ? Người ta lại tưởng rằng anh dốt , học mãi mà chưa thuộc bài . 

Sau khi dọn dẹp nhà cửa , tôi bắt đầu nghĩ đến phí tổn chôn cất . Tôi thấy ở Ottawa mấy gia đình mà tôi quen biết đã chi phí trên 15 ngàn dollars cho mỗi vụ ma chay . Tôi tính nhẩm trong đầu thì thấy rằng chỉ trong vài chục năm nữa , cộng đồng người Việt ở Ottawa ( hơn 4 ngàn nhân mạng ) sẽ phải chi cho Nhà Đòn và nghĩa địa một tổng số vào khoảng 60 triệu dollars ( không kể tiền chi cho các vị tu sĩ cúng lễ , cùng tiền bạn bè bỏ ra mua hoa phúng viếng ) . Như vậy , phí tổn ma chay cho nửa triệu người Việt đang sinh sống ở Bắc Mỹ sẽ lên tới gần 8 tỷ dollars – bằng tiền viện trợ mà những nước tư bản kiêm tài phiệt đã cấp cho « Đảng ta » trong một khoảng thời gian kéo dài hơn bốn năm trời . Thiệt là oai hùng ! Thiệt là vĩ đại ! 

Để biết rõ chi tiết của vấn đề , tôi bèn mời một đại diện Nhà Đòn quen biết ở Ottawa tới bàn chuyện ma chay cho tôi . Ông «tiếp thị» ( salesman ) quần áo chỉnh tề , mặt trang nghiêm và đầy kính cẩn , ăn nói nhẹ nhàng và từ tốn trong khi trình bày giá cả cho tôi nghe . Tập tài liệu về giá biểu in rất đẹp như tờ thực đơn của một tiệm ăn sang trọng ở Paris ( năm sao ) . Điều quan trọng mà mọi người nên biết là « người mua » không được kỳ kèo về giá cả , vì Nhà Đòn làm ăn đàng hoàng « trước sau như một » , không khác gì « Bác và Đảng » đã đối xử với dân ta hơn nửa thế kỷ nay . 
****
Tôi đọc kỹ tờ giá biểu , rồi tham khảo với các bạn bè , tôi thấy rõ phí tổn nặng nề mà « người ở lại » phải chi cho Nhà Đòn ở Canada ( có lẽ cũng tương tự như ở bên Mỹ ) . Để có một thí dụ cụ thể , tôi xin liệt kê sau đây các « món hàng » căn bản mà Nhà đòn Tubman đã trình cho tôi :
( 1 ) Dịch Vụ Chuyên Môn ( Professional Services ) 
• $900 – dịch vụ do các chuyên viên Nhà Đòn cung cấp ( professional and support staff services ) ; 
• $250 – giấy tờ lên quan đến vấn đề khai tử ( documentation ) ; 
• $125 – dịch vụ ở nghĩa địa hoặc công việc trao lọ đựng tro cho thân nhân ( gravesides service or delivery of urn as arranged ) . 

( 2 ) Dịch Vụ Chăm Lo « Người Ra đi » ( Prrofessional Care of Deceased ) 
 
• $200 – tắm rửa và làm vệ sinh cho « người ra đi » ( sanitary care of deceased ) ; 
• $570 – ướp xác và trang điểm « người ra đi » ( embalming and cosmetology of deceased ) . 

( 3 ) Phòng Ốc Và Dụng Cụ
 
• $400 – xử dụng Nhà Đòn ( basic use of funeral home ) ; 
• $990 – xử dụng phòng thăm viếng , phòng làm lễ và những dụng cụ ( visitation room , chepel , and/or service equipment ) ; 
• $225 – xử dụng phòng sửa soạn và gìn giữ xác « người ra đi » ( use of facilities for preparation of deceased and/or shelter of remains ) . 

( 4 ) Xe Cộ Và Vận Chuyển ( Automotiles and Transportation ) 
 
• $295 – chuyển xác về Nhà Đòn ( transfer from place of death & radius 40 km ) ; 
• $200 – xe cộ cần dùng cho các nhân viên Nhà Đòn ( vehicles required for administrative tasks , clergy , funeral director ) ; 
• $270 – xe chở quan tài ra nghĩa địa ( funeral coach ) ; 
• $125 – xe limousine chở thân nhân .
Chi phí căn bản cho Nhà Đòn là $5,604 ( gồm cả thuế ) 

( 5 ) Chi Phí Cho Thành Phố
 
• $75 – khám nghiệm tử thi . 
• $52 – thuế vệ sinh cho thành phố . 

( 6 ) Phí Tổn Mai Táng
 
• $3700 ( trung bình ) – Tiền mua quan tài tuỳ theo loại sang hay hèn , đúng theo giai cấp : từ thứ rẻ nhất là vải quấn xác ( $890 ) cho tới quan tài rẻ tiền bằng gỗ ván ép ( 1695$ ) , tới loại quan tài vừa đẹp vừa bền dành cho các nhà giầu thích xài sang ( $11000 ) ; 
• $5500 – Tiền mua chỗ « An Nghỉ Ngàn Thu » ( RIP – Rest In Peace ) tại nghĩa địa : miếng đất to hơn cái giường… 
• $1000 – Tiền dựng mộ bia tuỳ theo túi tiền của mỗi người ( từ $1000 cho tới $5000 , hoặc nhiều hơn nữa ) .
Chi phí mai táng trung bình khoảng chừng $13000
Tôi đọc tờ giá biểu thấy nhân dân ta bị Nhà Đòn và Nhà Nước làm tiền một cách rất là quy củ . Không những thế , ông « tiếp thị » lại còn khuyến khích tôi « mua » nhiều món « hàng » khác vừa đắt tiền , vừa … vô dụng . Tôi bèn chặn lại với một câu hỏi rất ư là « rẻ tiền » : 
– Mai táng kiểu nào rẻ tiền nhất ? 

Hắn ngỡ ngang vì đang « rao hàng » thì bị cụt hứng . Nhưng ngay sau đó , hắn mỉm cười , rồi nhìn tôi một cách rất ư là đại lượng :
– Ông thích chơi trò rẻ tiền thì ông nên chọn con đường hoả táng , vì ông sẽ không mất tiền chi phí chôn cất và mua đất ở nghĩa địa . 
– Ngoài tiền hoả táng ra , còn có mục chi phí nào khác nữa không . 
– Có chứ . Thân xác của ông sẽ được tắm rửa , thoa son đánh phấn , và được đặt trong một cỗ quan tài thiệt đẹp . Chúng tôi sẻ tổ chức linh đình cho ông . Ai trông thấy nằm đó cũng phải thèm cái địa vị của ông . 
– Nếu tôi thích đi con đường hoả táng , thì tôi đâu có cần mua quan tài làm gì cho tốn tiền ? 

Lần này hắn nhìn tôi một cách khinh thường ra mặt , và nói với một giọng mỉa mai :
– Ông cũng cần phải được trang điểm và nằm trong một cỗ quan tài đàng hoàng khi bạn bè thân thuộc đến thăm viếng ông lần cuối cùng . Trưng bày thân xác ra như vậy mới là người đàng hoàng chứ ! Tuy nhiên , nếu ông thích bủn xỉn , thì cũng không sao . Chúng tôi cũng có thể chiều ông được . Đáng lẽ ông mua một cỗ quan tài rẻ tiền , ông có thể thuê một cỗ quan tài sang nhất hạng . Cỗ này đáng giá 11000$ . Những người giầu sang mua loại này , rồi mang đi chôn hay đốt cùng với cái xác của họ . Nhưng nếu ông mướn cỗ quan tài này , để nằm vài ba bữa , lấy le với bà con lối xóm , thì ông chỉ phải trả tiền thuê là 2850$ . Thiệt là rẻ mạt ! Làm sao mà người đời biết được rằng ông là người hà tiện , đến lúc « nằm xuống » mà còn không dám bỏ tiền ra mua một cỗ quan tài để nằm cho thoải mái . 
– Nhưng tôi không muốn « trình làng nước » cái thân thể xám ngắt của tôi cho mọi người chiêm ngưỡng thì sao ? 

Hắn thở dài đến sượt một cái như một thầy giáo làng nhìn thằng học trò bướng bỉnh lại còn có tật cù nhầy : 
– Làm như vậy cũng bớt được vài ngàn : tiền son phấn , tiền thuê quan tài , tiền thuê Nhà Đòn … Mà ông cũng không cần phải chi cho các vị tu sĩ đến tụng kinh gõ mõ tùm lum trong Nhà Đòn của chúng tôi làm gì . Thế là ông đỡ thêm được vài ba trăm nữa . Đối với hạng người « rẻ tiền » như ông , đỡ được trăm nào hay trăm đó , có phải không ? 

Thằng cha « tiếp thị » cho tôi là người bủn xỉn nên có vẻ bực mình lắm . Hắn chỉ muốn thu được nhiều tiền cho chủ Nhà Đòn để được ăn nhiều tiền hoa hồng do gia đình « người ra đi » cung phụng . Vì thế , mỗi lần tôi bớt được món chi phí nào là hắn có vẻ đau đớn như đang bị bà nha sĩ nhổ một cái răng hàm bự trong mồm . Cuối cùng , tôi chọn một chương trình hoả táng hợp với ý tôi . Tổng số tiền tôi phải chi ra là $2,709 cho những mục như sau :
• tiền giấy tờ ( khám nghiệm xác chết , giấy khai tử … ) ; 
• tiền xe đưa xác tôi từ nhà xác đến Nhà Đòn ; 
• tiền hòm bằng giấy cứng ( $50 ) đựng xác chết để mang đi hoả táng ; 
• tiền đưa hòm xác tới lò đốt ( không có vụ bầy biện thân xác ra cho mọi người « dòm ngó » ) ; 
• tiền đốt xác ; 
• tiền hộp đựng tro để trao cho vợ tôi mang đi thả xuống biển ( tôi mua loại rẻ tiền nhất nên chỉ tốn có $20 ; còn loại sang và đẹp thì lên tới $500 ) ; 
• tiền thuế trả cho thành phố , tiểu bang , và liên bang . 

Người « tiếp thị » đại diện Nhà Đòn Tubman và tôi cùng ký vào tờ khế ước ( bốn bản ) . Sau đó , tôi hân hoan trao cho hắn tấm ngân phiếu $2,709 . Tôi phải trả tiền trước . Đối với tôi , điều này rất thuận tiện , vì sau này giá cả có gia tăng thì Nhà Đòn ráng mà chịu , chứ những « người ở lại » không còn phải lo lắng điều gì cho « người ra đi » . 

Khi vợ tôi đi làm về , tôi hý hửng đưa cho cô nàng xem tờ khế ước . Thế là cô nàng khóc bù lu bù loa , rồi hỏi tôi một câu mà tôi cho là lãng nhách :
– Trong cả cuộc đời của anh , anh chỉ thích chơi sang . Tại sao đến cuối cuộc đời , anh lại định chết một cách rẻ tiền như vậy ? 
– Em hỏi một câu thiệt là lãng nhách ! Thế nào là chết rẻ tiền ? Chết sang thì đi đến đâu ? Mang tiền ra cúng Nhà Đòn và Nhà Nước làm gì ? Chúng nó làm gì có quyền cấp visa cho anh vào Thiền Đàng , hay vào Vùng Cực Lạc . Việc gì mình phải « đút lót » chúng nó ? Dù sao anh cũng « save » hơn $12,000 , chứ đâu có phải là ít . 
– Em không cần món tiền đó đâu ! 
– Nếu em không cần số tiền đó , thì em mang nó đi giúp người nghèo , có sao đâu? … Như vậy , anh là người «chết sang» hay là người «chết rẻ tiền» ?
Thấy tôi lý luận như vậy, cô nàng vừa lau nước mắt vừa cười đùa :
– Thôi , anh muốn chết kiểu nào cũng được . Cái đó tuỳ anh . Nếu anh « ra đi » trước em , em sẽ chúc anh theo kiểu Tàu : « Thượng Lộ Bình An » và xin anh « Bảo Trọng » . 
– Vậy , trước khi « ra đi » , anh sẽ chào em theo kiểu Mỹ : « Hẹn Ngày Tái Ngộ » – « See You Later » .
Nguyễn Hữu Chi
nguồn: thuvienhoasen.org
 

Mời thưởng thức sắc màu mùa Thu Michigan:

 
image
Preview by Yahoo

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: