Vũ Thất

Bảo Bình 1

Đôi bạn chân tình

Anh xin đưa em đến cuối cuộc đời ” 


Anh xin đưa em đi đến cuối cuộc đời 1 

Khi được gả về nhà anh, chị mười sáu, anh lên năm tuổi. Anh là con độc đinh, cha mẹ quý hơn vàng, chỉ tiếc anh quá nhiều bệnh tật.

1. Sung túc

Ông nội ở ngoài buôn bán nhỏ, gom được tí tiền. Bà nội tin Phật, một lòng thành kính, một lần bà nội xin được một quẻ xăm giữa miếu ngụt khói hương, nói phải cưới một cô vợ hơn tuổi cho thằng cháu đích tôn thì nó mới qua được vận hạn. Bà nội đương nhiên tin vào lời Phật dạy chúng sinh nơi khói hương vòng quanh chuông chùa ngân nga, bởi thế ông bà nội bàn tính, đưa lễ hậu, kháo tin quanh vùng tìm mối nhân duyên cho anh.

2. Cảnh nghèo

Nhà chị năm miệng ăn, trông vào mấy sào ruộng bạc màu, chỉ đủ miếng cháo, mùa đông, cha chị vì muốn kiếm thêm ít đồng ra đồng vào, theo người ta lên núi đập đá, tiền chưa kiếm được, nhưng bị đá vỡ dập lưng, tiêu hết cả gia sản, bán sạch cả lương thực, bệnh không khỏi. Hằng ngày cha chị chỉ có thể nằm trên giường, muốn chết mà chẳng chết cho. Hai đứa em trai còn chưa đủ tuổi lớn. Nỗi khổ sở của gia đình, nỗi ai oán của mẹ, làm những năm thời con gái của chị mang một gánh nặng tâm tư. Vì thế bà mối đến, réo rắt: “Gả cô nhà đi, tiền thì để dưỡng bệnh cho cha,còn đỡ đần được tiền tiêu trong nhà”. Mẹ chị lắc đầu, nào có ai muốn đẩy đứa con gái thơ dại của mình vào lò lửa? Nhưng chị xin: “Mẹ, cho con đi nhé, chỗ tiền ấy có lẽ chữa khỏi cho cha!”. Tiếng kèn đón dâu thổi váng đầu ngõ trước ngôi nhà nhỏ của chị. Bố chị nằm trên giường tự đấm ngực mình; Con gái phải đem đổi tuổi thanh xuân, chấp nhận lấy một người chả xứng với mình chỉ vì cứu tôi và cứu gia đình này thôi ư! Mẹ chị chảy nước mắt, tự tay mình cài lên tóc con gái cây trâm gài. Chị mặc áo đỏ đi giày thêu cúi lạy cha mẹ, tự buông tấm khăn đỏ che đầu mình, nước mắt lúc đó mới chảy ra, trộn phấn má hồng. Từ đó, số phận cuộc đời chị và hôn nhân giao cả về tay một đứa con nít vô tri.

3. Cười xót xa

Bà mẹ chồng trẻ tuổi không phải là người khắt khe khó tính, bố chồng ở xa cũng chẳng cần chị tam khấu cửu bái, lạy chào dạ vâng. Anh vâng lời mẹ gọi chị là chị gái.Hằng ngày, chị ngoài việc giúp mẹ chồng chăm ruộng rau và làm xong việc nhà, thì cắt thuốc cho chồng, sắc thuốc, may áo cho chồng, giặt giũ, cho chồng chơi, cho chồng ngủ, có lúc, anh ho suốt đêm, sốt cao, chị thức cả đêmchườm khăn hạ sốt, cho anh uống nước, uống thuốc. Trong tim chị, chị coi anh như một đứa em trai. Hàng xóm láng giềng gặp chị, chị thường cúi đầu lặng lẽ, không nói, vội vã đi qua. Không biết là ứng với quẻ xăm của Phật, hay nhờ chính sức mình mà anh vượt qua được bệnh tật, dưới sự chăm chút của chị, anh lần lượt chiến thắng mọi cơn bệnh tật lớn nhỏ: Ho gà, viêm màng não, lở loét v.v… Dần dà, những tình cảm anh dành cho chị vượt quá tình cảm dành cho mẹ mình. Giữa những kẽ hở lúc bận rộn, hoặc khi anh đã ngủ say, chị thường khóc nước mắt nóng rồi thờ thẫn tự hỏi mình: “Đây là hôn nhân của mình ư, đây là chồng của mình ư?”. Đến tuổi đi học, chị may cho anh một chiếc túi xách, dắt tay anh đến lớp. Những đứa trẻ trong và ngoài thôn thường vây lấy chị hát to: “Cô con dâu, cô con dâu, làm cái gì? Tắt đèn, thổi nến, lên giường… “Chị không biết trong lòng mình là nỗi đau hay nỗi buồn, cúi gằm xuống, mặt đỏ lên rồi trắng bệch, trắng rồi đỏ. Một buổi tối, anh nằm trong chăn nói: “Chị ơi, em yêu chị!”. Chị lại là vợ. Vợ lại là chị. Chị nhìn gương mặt ngây thơ non nớt của anh, im lặng. Lần đầu tiên chị cười đau khổ.

4. An ủi nhỏ nhoi

Cha anh ở ngoài buôn bán nhiễm phải thói cờ bạc, chỉ vài ngày mà thua sạch bách bao gia sản tích cóp khổ sở lâu nay. Sau khi bố mẹ chồng chửi bới cãi vã ầm trời, bố chồng chị dứt áo bỏ nhà ra đi, từ đó không ai gặp lại ông nữa, nghe người ta nói khi đó ông bị lính bắt đi làm phu. Lúc đó trên người mẹ chồng chị còn vài thứ trang sức, cầm đi đổi lấy vài đồng tiền. Mẹ chồng và chị bàn nhau mua lấy ba mẫu đất. Không thể mượn người làm nữa rồi, mẹ chồng con dâu xoay ra xắn ống quần lên lội ruộng, ngày còn ở nhà chị từ nhỏ đã giúp cha mẹ làm ruộng, khổ sở gì chị cũng đã nếm trải qua. Chỉ khổ cho bà mẹ chồng chị xưa nay chưa từng phải trồng lúa bao giờ. Một nhà vốn giàu có bỗng chốc hóa bần cùng, đàn ông bỏ đi không tăm tích, bà mẹ chồng vừa đau vừa hận, lại thêm việc làm ruộng nặng nhọc, làm bà kiệt quệ, ốm rồi không dậy nổi. Trước lúc lâm chung, bà kéo tay chị, gần như van vỉ nói: “Nó hãy còn nhỏ dại, xin cô chăm sóc nó, nếu cô muốn ra đi, xin hãy đợi lúc nó trưởng thành”. Chị nắm chặt tay anh. Từ đó, số mệnh của anh lại bị chị dắt đi. Chị là người phụ nữ trọng tình nghĩa, chưa từng hứa gì, nhưng chị vẫn cùng anh như cũ. Từ đó về sau, ngay cả chính chị cũng không nhận ra mình rốt cuộc là vợ, là chị hay là mẹ của anh? Chị quần quật không ngày không đêm, làm việc để anh tiếp tục đi học. Cuộc sống của họ trôi qua khổ nhọc nhưng bình lặng giữa tình chị em sâu nặng, tình yêu bao la như tình mẫu tử bền chặt. Khi anh tốt nghiệp trung học thi đỗ vào một trường Đại học Sư phạm, chị thay anh thu xếp hành lý, lại một lần nữa đưa anh tới trường. Chị nhìn cậu con trai trẻ măng vừa qua tuổi dậy thì, do chính tay mình nuôi lớn từ nhỏ đến giờ, chị chỉ dặn anh hãy cố mà học hành, ngoài ra chị không nói thêm điều gì nữa. Nhưng anh vẫn nói: “Chị, chờ tôi quay về nhé!”. Tim chị đập nhẹ một nhịp, nhưng mặt vẫn bình thường, có điều khóe miệng ẩn một nụ cười hân hoan rất nhẹ mà người khác khó nhìn thấy. Khóe cười ấy không phải vì câu nói của anh, mà vì những gì chị bỏ ra, đã được đáp đền lần đầu.

5. Kiếp này

Chị vẫn làm ruộng như trước, nhịn ăn nhịn mặc dành tiền gửi đi. Hai năm đầu, nghỉ hè và nghỉ Tết anh đều về quê giúp chị làm việc. Nhưng năm thứ ba đại học, anh viết thư về nói: Chị đừng gửi tiền nữa. Và kỳ nghỉ tôi cũng không về nữa đâu. Tôi muốn ra ngoài kiếm việc làm thêm, đỡ gánh nặng cho chị. Lúc đó chị đã 29 tuổi. Ở quê, người như chị đã là mẹ của mấy đứa con. Người trong làng đều bảo, chị nuôi anh lớn khôn, lại còn cho anh thoát ly đi học, thế coi như là đã quá tốt với anh rồi, chị già hơn anh mười một tuổi, thôi đừng chờ chồng nữa. Bây giờ anh đã đi xa, ở ngoài thế giới bao nhiêu xanh đỏ tím vàng, biết chồng mình có về nữa hay là không về nữa! Chị cũng không biết trong lòng mình là đang thủ tiết, giữ đạo phu thê: Dù sao thì mười mấy năm trước chị cũng là một cô dâu gả cưới đàng hoàng về nhà anh; hay là mình đang vì câu nói trước ngày anh lên đường đi xa: “Chị, chờ tôi quay về nhé!”; hay là chị đang lo âu như người mẹ không yên tâm về đứa con nhỏ của mình đang ở xa; chị cứ chờ. Chị cứ giữ sự yên tĩnh và ít lời như mấy chục năm nay đã từng. Cuối cùng cũng đã đến lúc anh tốt nghiệp. Anh quay về. Anh đã là một người đàn ông trưởng thành có phong cách và khí chất, dáng dấp một người đàn ông nho nhã hiểu biết. Còn chị, dãi nắng dầm sương, gương mặt nhọc nhằn lao khổ đã sớm bay hết những nét đẹp thời trẻ, là một người đàn bà nhà quê đích thực. Trong lòng chị chỉ còn coi anh là một đứa em trai thân yêu. Chị không dám ngờ anh đã nói với chị: “Chị, tôi đã trưởng thành, giờ chúng ta có thể thành thân!”. Chị nhìn anh, như đang nằm mơ, chị sợ mình đang nghe nhầm. Anh cũng là một người đàn ông trọng tình trọng nghĩa như chị? Chị cười, tự đáy lòng dâng lên miệng cười rạng rỡ, cũng để rơi xuống những giọt nước mắt đẹp đẽ nhất đời người.

6. Xin lỗi

Anh ở lại thị trấn dạy học, chị ở nhà làm ruộng. Họ có với nhau một con trai, một con gái.Sau này, anh đến khu mỏ dầu dạy học, lên chức hiệu trưởng một trường Trung học nhờ vào bằng cấp và kinh nghiệm dạy học của mình. Vì hộ khẩu, con cái vẫn để ở nhà cho chị nuôi nấng.Sau khi nhập được hộ khẩu, anh về quê đưa vợ con lên trường. Các giáo viên trong trường đến giúp hiệu trưởng dọn nhà. Có một giáo viên bộc tuệch chạy ra nói: “Hiệu trưởng, sao anh đón mẹ và em trai lên ở mà không đón cả chị nhà và các cháu luôn?”. Một sự im lặng bao trùm, mọi người đều ngoái đầu nhìn chị. Lúc ấy, mặt chị sượng trân trân, không biết nên nói gì, chị cười méo mó, nhìn anh biết lỗi. Anh ngoái đầu nhìn chị, nói với tất cả mọi người với giọng chắc nịch: “Chị các chú đây. Có cô ấy mới có tôi ngày hôm nay, thậm chí cả tính mạng tôi”. Chị nghe anh nói, mắt chị dâng lên toàn là nước mắt.

7. Năm tháng như bài ca, tình yêu như ngọn lửa

Bây giờ chị đã bảy mươi hai, vì làm việc nặng nhọc quá nhiều, sức khoẻ kém, bệnh phong thấp làm chị đi tập tễnh. Anh sáu mươi mốt, đã về hưu từ lâu. Hai năm nay họ dọn về khu nhà này ở, nếu hôm nào trời không mưa gió, hoặc ngày quá lạnh, đều có thể gặp bóng dáng họ ở khu sân chơi, bồn hoa; chị nắm gậy chống, anh đỡ một bên, đi chậm chạp từng bước một về phía trước, như đang dìu một đứa trẻ tập đi, chăm sóc như thế, ân cần như thế. Những người biết chuyện của họ đều nhìn theo, cảm động bởi mối tình sâu nặng và bền chặt của anh và chị, mang nghĩa đủ tình đầy đi dọc một kiếp người. Anh nói: “Cô ấy mang cho tôi sinh mệnh, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành nửa cuối đời tôi chăm sóc cô ấy”. Anh dắt tay chị, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười, đẹp như nét mây chiều êm ái nơi chân trời mùa hạ.

HTVn

Nuôi Con Nhơn Tình

1
Nắng sớm hiền từ soi cảnh vật bằng một màu vàng lợt. Ngoài đường lác đác vài người xách rỗ đi chợ trễ. Bên kia, dọc theo lộ, nhiều gia đình đã bắt đầu vác đội mấy thúng lúa ra trải trên lề rồi thong thả lấy chưn bang mỏng cho vừa đủ khoảng đường mình chiếm cứ. Bụi cám quện lên xuyên qua khe sáng thành hằng triệu triệu hột nhỏ lơ lửng trong không gian.
Nhơn ngồi ngó ra chút nắng ngoài sân quán. Anh mỉm cười lướt mắt theo dõi lằn ánh sáng liếm từ từ vô phía trước thềm. Mới đây còn cách cây gòn giửa sân cả thước Tây bây giờ qua khỏi đã mấy gang tay. Anh nói với mình: Nắng càng đi nhiều là thời gian bữa nay mình đã tiêu dùng nhiều. Anh nghĩ tới số ngày mỗi người dự trữ, số ngày còn lại của đời anh. Nó đang tiêu tan từ từ, giống như mấy tay chơi từ thành phố về nói rằng trữ lượng thời gian đời của từng người như cục nước đá, không xài cũng hết mà xài thì như đem ra dang nắng, càng hết mau! Sớm mơi nào trữ lượng đời của mình cũng tiêu bớt cho những cái ngó bâng quơ chưa chắc đã đem lại chút nào vui buồn của người tiêu thụ nhưng mà sẽ thấy thiếu thiếu khi không xài cách đó.
Như mọi bữa, những khuôn mặt quen thuộc bao năm tháng qua, những tiếng cười hay câu châm chọc đã thuộc lòng, nghe câu trước biết câu sau. Tuy nhạt phèo nhàm chán nhưng thân thiết, như là đặc trưng của đời sống ở xóm cùng nầy. Nhơn rót thêm nước trà đã trở thành lạnh lẽo vô ly dầu ly chưa cạn. Ở đây nước trà khỏi tính tiền, uống một cái “xây chừng” hay “bạc xỉu”, kêu thêm cái “tẩy” nữa thì có thể thản nhiên châm thêm miễn phí hai ba bình trà nóng cho qua thời gian ngồi chờ thời. Chị chủ không nói gì mà còn mời thêm. Tiếng chị ta đon đả với bàn kế bên: “Mấy anh cứ ngồi chơi đi đã. Còn sớm mà, ngồi cho vui quán. Chật chội gì!.…”. Thỉnh thoảng chị ngó Nhơn hỏi như săn sóc: “Thầy giáo Kỳ Nhơn bộ mất sổ gạo sao mặt mày cú xụ, không đáng ngàn bạc vậy? Đã là Kỳ Nhơn thì không được buồn à nhe!”
Nhơn cười nửa mép không trả lời.
Chị chỉ hỏi cho có, châm chọc người nầy người nọ để tạo không khí thân thiện đánh tan sự lặng lẽ hay tẻ nhạt của quán nhỏ ven đường, nên không cần có câu trả lời. Khách đà biết ý, chẳng ai bận lòng lên tiếng khi được hỏi.
Có tiếng chưởi thề lớn họng của Tư Nổ xéo xéo bên kia đường, một tay quơ quơ phân bua với khán giả vô hình, một tay túm cái quần xà lỏn màu cháo lòng, rộng thinh chỗ hạ bộ:
“Đ.M, chạy trên thóc của người ta làm văng tùm lum. Bộ chạy tránh chút xíu thì chết sao chớ. Mấy thằng cà chớn nầy chạy xe thấy phát ghét!
Nhơn sửa lại thế ngồi, nhấp môi một ngụm nước nhỏ híu thấm giọng:
“Tư Nổ lúc nào cũng ngang tàng, đường xe chạy, chiếm cứ để phơi thóc lại còn câu mâu thiên hạ qua đường. Mà có ai nghe, chỉ người ở đây nghe thôi!”
Tiếng ai đó binh bổ:
“Thì nhờ chút nắng vậy mà, Xe chạy nên tránh thóc lúa của người ta. ”
“Nếu ai cũng phơi lúa trong sân mình thì đâu có chuyện. Đường để xe chạy đâu phải đường để phơi lúa. Coi đó, suốt con đường nầy chỗ nào cũng thóc lúa, xe cộ qua lại khó khăn, chạy văng lúa thì mất lòng nhau.”
Khách khứa ngó nhau dọ ý về câu nói của Nhơn, anh tiếp:
“Con nít đi bộ càng khó hơn, leo lên lề đường thì lởm chởm đá hay cỏ ướt, đi bọc ra xa lề thì nguy hiểm. Thấy tụi học trò lóng nhóng quyết định của bước đi nhiều khi lòng bất nhẫn.”
Thằng Năm con bà bánh xèo không nói thêm nhưng vẫn ấm ức, nói nhỏ gì đó với ba bạn thanh niên ngồi cùng bàn. Bà chủ quán nói cho vừa lòng nó:
“Bởi vậy chả mới có biệt danh là Kỳ Nhơn. Kỳ Nhơn nói hay làm gì cũng khác người ta. Tháng trước thiên hạ ai cũng mang ky nầy thùng kia hốt đá trải đường đem về lấp mấy lổ trủng sàn bếp hay sân trước sân sau thì Kỳ Nhơn bắt thằng cháu đem đổ đá lại chỗ cũ. Cái đó mới lạ hơn thiên hạ dưới đời nầy, nhưng lạ mà thấy cũng phải phải. Ít ra thằng cháu chả cũng học được điều tốt nho nhỏ.”
Chị đốt nhang xá xá rồi vừa nhón chưn gắn vô lư nhang trên trang thờ vừa nheo mắt với Nhơn.
“Ủa! Chị Ba đi đâu mà bận quần áo chỉnh tề, đầu tóc trơn tru coi mướt quá vậy?”
Người đàn bà gần đứng tuổi hơi bẻn lẻn:
“Đi đâu đâu nà! Ghé đằng Quan Âm Phật Đài thắp Phật cây nhang, sẵn đó cúng ảnh chén cơm. Mình lo làm ăn bỏ chồng hương tàn khói lạnh cũng tội.”
Thằng Năm nói với bạn nhưng lớn tiếng:
“Kỳ Nhơn mới dám khen đàn bà của thiên hạ là mướt, chứ tui thì cho kẹo cũng không dám!”
Nhơn nghe rõ hết nhưng làm bộ không nghe. Tuổi trẻ bây giờ buồn vui thất thường, nói qua nói lại, không biết sanh giặc lúc nào.
Chủ quán dặn đứa con gái coi chừng quán, dợm chưn bước ra cửa nhưng bỗng quay lại chỗ Nhơn ngồi:
“Ờ mà thầy Nhơn có nghe vợ hụt của thầy gởi thơ về nói gì hay không? Nghe họ nói con Cảnh than là ở Hàn quốc cực khổ hơn ở đây nhiều. Phải ra vườn làm công chuyện tối ngày. Trời bên đó lại lạnh hơn đây. Chồng thì cộc cằn, la hét, mắng chửi. Thấy bộ dạng hùm hổ xí xô xí xào thì biết là bị chửi, nhưng đâu có hiểu nó nói con mẹ gì đâu. Hàng xóm thì kỳ thị nhún trề, cần một tiếng chào, cần được một cái cười thân thiện cũng không có. Má nó đọc thơ của con mà rớt nước mắt.”
Chị ta nói một lèo dài rồi hỏi khó:
“Còn chồng hụt của nó nghe vậy thì sao?”
Nhơn đưa tay gảy ót.
Nghe tiếng chồng hụt mình không buồn mà vui vui vì nhớ đến những lúc đi phà qua Sóc Trăng coi phim ở rạp Nguyễn Văn Kiểng, canh tới gần hết giờ phà chạy mới trở về. Hai đứa đi xe đạp quá xa, mệt thở hụt hơi nhưng mà vui hết biết. Nói làm chi những lúc trốn học đi dạo Đường Giữa hay vô Hồ Nước Ngọt tự tình. Trời ạ, mấy chục năm rồi nhớ lại cũng còn rạo rực lòng. Giờ đây quá khứ như bốc hơi, người xưa mất dạng phương trời. Nghe chuyện bi thương của vợ hụt thì cũng ứa nước mắt trong tim, nhưng biết sao bây giờ! Đời là bốn biển nước mắt mà.
Anh trả lời xa xôi:
“Đất nước mình khổ, mạnh ai nấy tìm cách nhảy khỏi xuồng chìm. Hi vọng! Ai nấy đều hi vọng sống sót nhưng kẻ may người rủi…”
Chị Lành cố gắng làm cho giọng nói mình vui:
“Nhưng tôi coi bộ thiên hạ đỏ đời thì hiếm, đen vận thì lia chia à nhe. Mà lạ! Khổ quá sao con Cảnh không bỏ về đây phức, ở bển làm chi cho thêm khổ thân?”
Nhơn nghĩ nhưng không trả lời thành tiếng. Không ai qua đó mà trốn về được vì nhà chồng họ cất giấu hết giấy tờ. Tiếng tăm không rành. Đường xá không biết. Tiền bạc không ngơ. Đã vậy mà mấy ông quan chức của mình ở bển còn hù dọa nầy nọ. Làm sao mà về được? Bỏ xác xứ người trước sau thôi nếu gặp bên chồng không thương hay ác độc.
Ly nước lại được đưa lên môi như để che nỗi buồn. Một chút cặn trà bình bồng ngụp lặn trên sóng gợn lăn tăn. Anh liên tưởng tới nỗi tuyệt vọng của người tình bên xứ người miên viễn. Cái xứ lạnh lẽo thuần chủng kia mắt trắng đối với những con dâu ở chưn trời nào tới cũng là chuyện đương nhiên.
Thân gái tha phương mang ước mộng viễn vong về đổi đời. Niềm tin ấu trĩ như bao nhiêu triệu người ngã xuống vô ích gần nữa thế kỷ về một đất nước xanh đỏ gì gì đó nhìn bằng kính vạn hoa phóng đại. Ba tôi với cái chết trong nghèo nàn bịnh hoạn lúc cuối đời là một thí dụ.
Vách bên kia có đứa con gái hát đưa em, giọng buồn não nuột:
Má ơi đừng gã con xa. Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu….
 
Không hẹn mà cả Nhơn và chị chủ quán đều ngó vô mắt nhau. Người đàn bà le lưỡi, rút hai vai lên cần cổ.
Lại cũng tiếng thằng Năm con bà bánh xèo:
“Thì con Cảnh đi má nó thế con Quê vô rồi. Hoa thơm hưởi mùi thơm cả cụm. Tài thiệt!”
Cầm ly nước, xách bình trà đầy, Nhơn đứng dậy xâm xâm đi về phía bàn của bọn thằng Năm. Người trong quán chờ đợi một trận gây gổ nhưng Nhơn đưa ly lên không gian làm cử chỉ mời cả nhóm:
“Xin cám ơn lời nhận xét của Năm Xứa, anh nhấn mạnh trên tỉnh từ Xứa. Huê có vẽ tội nghiệp tôi, muốn bắt đền giùm chị nó nhưng là 3, 4 năm trước cà. Còn bây giờ có thể là… ai ở nhà nấy… Lâu rồi cô ta không tới xóm nầy, mà tôi cũng ít thời giờ lên xóm trển. Từ khi cổ sanh con….”
Anh uống cạn ly, rót thêm một ly nửa nói là uống giao hữu thế cho cả bàn với lý do thanh niên không thích uống trà sáng sớm, rồi tiếp:
“Mình cũng chẳng tài cán gì, lại thêm sợ lỗi đạo, ngày nào Huê còn nhỏ theo tò tò anh Hai, anh Hai, bây giờ…. Cho nên mình mọi chuyện đều giới hạn dầu Dì Bảy má của Cảnh và Huê không nói gì.”
Nói xong Nhơn đưa tay lên trán chào thân thiện rồi chậm rãi đi trở về bàn mình, nhích cái ghế sang qua chỗ khác chút xíu, tránh nắng.
Có tiếng kèn trống đám ma từ xa lắm vọng lại nho nhỏ, len lỏi trong không gian yên tỉnh. Hình như là phía đó, phía nhà thằng Hai Trọng Xã Đội Trưởng. Vậy là nó chết rồi à? Mới phát bịnh có một tháng thôi mà.
Con nhỏ con chủ quán lên tiếng nhắc mẹ:
“Má đi chùa, về ghé đi đám ma chú Hai Trọng nha!”
Nhơn hóng mỏ coi có gì thêm không. Chẳng thấy ai nói gì. Bà mẹ cũng không trả lời con gái, chỉ buông tiếng thở dài ứ hự không biết tiếc thương cho người chết hay một chút xẩu mình vì mất công đi đám ma. Buồn tình Nhơn ngâm nga nho nhỏ:
Công danh phong lý chúc,
Sự nghiệp thảo đầu sương.
Con nhỏ chắc không hiểu nghĩa nhưng nghe âm thanh trầm bổng chỏ miệng ra khen hay. Ngữa cổ uống hết ly nước đầy, Nhơn ngâm tiếp chuyển qua thể khác:
Thậm tích công danh tàng thủy táng,
Khả lân sự nghiệp toại hôi phi.
 
“Đâu Kỳ Nhơn mầy già chữ cắt nghĩa coi mầy ngâm nga cái giống gì.” Bác Ba Sự, râu tóc bạc thếch mà coi còn sõi sau khi dựng xe trước cửa quán, chưa kịp bước vô đã lớn tiếng yêu cầu, Nhơn tằng hắng lấy giọng:
“Có gì đâu bác Ba. Đó là câu cảm thán của người xưa trước cái chết. Chết đi là mọi thứ đều biến mất ráo trọi. Tất cả những gì tranh giành trước đây về tiền bạc, quyền lợi, công danh chẳng khác nào như là đuốc giơ trước gió, tắt ngúm, như là sương phơi ngọn cỏ, tiêu tan. Mất hết. Triệt buộc. Người chết có muốn đem theo cũng không tay nào mà nắm mà cầm.”
“Hay! Hay! Tới luôn bác tài!”
“Thần Chết kêu rồi thì những gì mình tranh giành để chất chứa đầy kho, đầy nhà trước đây đâu đem theo được đâu nà! Bỏ lại hết, chẳng khác gì của chìm xuống nước sâu hay bay theo tro bụi…”
Không khí yên lặng một thời gian, bác Ba Sự kề tai Nhơn nói nhỏ:
“Tao thấy con Quê ẳm đứa nhỏ dang nắng đi từ xóm dưới lên. Hỏi nó cần đi Honda ôm không tao cho có giang, nó nói cám ơn mà mắt đỏ hoe, mặt buồn hiu như bánh bao chiều. Đâu bây ra trước đường đón nó coi!”
Hình như tất cả các cặp mắt đều đồ dồn vô Nhơn, thiên hạ tinh ý thiệt, từ xa xa có người đàn bà còn rất trẻ ẳm con xăm xăm tới quán.
“Tô Ánh Nguyêt giao con kìa!”
Cũng lại tiếng con bà bánh xèo. Hình như cái nghề nầy nó vận vô con cái khiến cho chúng nó ồn ào hay sao chớ?
Huê ngồi xụp xuống dưới chưn Nhơn nói nhỏ:
“Xin gởi nó cho anh, giúp em chăm lo nó, mai em lên Sàigòn cho người ta… coi mắt, phải đi xa làm ăn. Ở đây đi làm tôm dưới An Thạnh Nam ngày có ngày không nên chẳng được bao nhiêu. Nghèo lại mang con đeo con thẹo, ăn bám má, bả nhiếc móc tối ngày chịu đời không thấu.”
Nhơn ngó làn tóc rẽ của Huê: Trắng đẹp, ngày xưa mình ước ao biết là bao nhiêu lần được đưa tay vuốt lên đó, Muốn đưa tay kéo Huê lên nhưng thấy không tiện, nên chỉ đưa mắt nhìn lên cái ghế trống kế bên.
Huê nói:
“Em ngồi như vầy được rồi. Không dám ngang hàng với anh. Em có lỗi với anh nhiều.”
Cả hai đứa tôi đều biết con bé không phải con tôi, tôi cũng chẳng có trách nhiệm chút xíu nào trong việc thêm tay chưn của bé, tôi quyết định không nói gì trong buổi gặp mặt hôm nay. Hãy để cho Huê nói hết. Tôi nắm bàn tay nhỏ nhít của bé rồi ngó vô mắt của má nó.
Huê nói ngay:
Nó tên Thương Thương, biết là nó ra đời sẽ thiếu tình thương nên đặt tên như vậy may ra!
Tên dễ thương của bé thì tôi biết rồi. Biết sớm hơn người khác. Đâu hồi lúc bé mới ăn đầy tháng lận. Tới bây giờ bé gần bốn tuổi mới thấy mặt. Ngồi trên cao tôi ngó xuống con Huê ngồi dưới chưn mình, tôi hất hàm kêu nó ngồi lên ghế lần nữa. Con nhỏ lắc đầu như mắc cở khiến tôi nhớ hồi hai đứa dắt nhau vô vườn ở xóm Rạch Đôi, xóm An Phú, Xóm An Thạnh 2, An Thạnh 3 hay xóm Cù Lao Nai. Bất cứ đâu cũng vậy chỉ có hai đứa trong màu xanh của cây trái xum xuê, nhiều lần mặt nó ửng hồng, mắt chớp chớp, tôi nắm tay nó biểu nhắm mắt lại, nhưng ngay lúc đó mười lần như một, tôi chợt nhớ tới con Cảnh, hai chị em có gương mặt giống in hệt nhau khiến tôi sững sờ…và tôi thở hắt ra, dẫn nó đi về.
Tôi lâu nay gần như bỏ thuốc, thấy bối rối kêu Bác Ba Sự xin điếu thuốc vấn của ông ta. Con Huê đánh trống lãng nói về chuyện đám ma thằng Hai Trọng, đại ý rằng đáng kiếp người đã khiến cho chúng tôi thành dang dở. Tôi đoán biết chuyện tồi tàn nầy cả mấy năm nay khi bị Huê lạnh nhạt một cách vô lý, sau cái lần nó đi Honda quên đội nón bảo hiểm bị bắt, ỷ quen mặt, cự cải gì đó, họ đưa lên xã và nhốt nó qua đêm…. Con người hơn nhau ở chỗ biết tránh cám dỗ để khỏi làm bậy bạ hay lo phục vụ bao tử, tuân theo lòng tham lam hoặc để thân xác dẫn dắc mình rồi tới đâu tới, tính sau.
Dầu sao mọi chuyện đã dĩ lỡ, với thời gian mấy năm vết thương không lành nhiều, chỉ mới kéo da non thôi giở lại chắc chắn là đau nhức.
Tôi chớp mắt, nựng má Thương Thương, gật nhẹ đầu.
Bác Hai Sự giải quyết bối rối cho tôi khi nói với những người bu quanh:
“Thôi, không có gì mà coi, thầy Nhơn kể từ bây giờ có con, phải lo cho nó học hành. Chừng nào má nó làm ăn khá trở về thì hẵn tính ….”
Thương Thương bỗng đưa tay đòi tôi ẳm, con bé giống thằng Hai Trọng hịch khuôn nhưng tôi thấy thương vô cùng, một sinh linh bé bỏng! Tôi cám ơn Trời đã hướng đời mình qua ngã làm thầy giáo dầu là thầy giáo trường làng ở vùng xa để mình khỏi góp phần làm cho đất nước hao mòn dưới sức nặng tàn nhẫn của ích kỷ mà sống bằng lương tâm công bằng. Nhớ những lần dẫn học trò đi thăm mấy địa danh lịch sử trong cù lao như chùa Đông Tây, chùa Hiệp Châu, lăng Ông Nam Hải, Quan Âm Phật Đài…tôi thích nhứt được dẫn các em qua bến phà tới đền thờ Nguyễn Trung Trực để cho các em tự nhận xét rằng có sự không công bằng khi so sánh đền thờ nhỏ bé lụp xụp thờ người anh hùng của dân tộc với đền thờ lớn hết biết của một nhân vật đương đại ở ngay kế cạnh bên.
Tôi hun lên má con bé, đôi mắt nó còn long lanh ngấn nước tức tưởi mới khóc khi nảy vì đi trời nắng mệt.
Thằng Hai Nổ nảy giờ trốn biệt bây giờ lớn họng như thuở nào:
“Tới luôn! Hun luôn má … má nó cái chụt biểu diển cho bà con coi chơi nè!…..”
* * *
Đã hai năm từ ngày con Huê giao bé Thương Thương, chiều chiều Kỳ Nhơn dắt con ra hóng mát trước mặt quán của chị Ba Lành, nhìn mặt trời xuống từ từ, tới khi sụp tối mới trở về. Hôm nay là ngày đưa Ông Táo về Trời, hình như số nhà sửa soạn đón Tết ở xóm An Thạnh 3 nầy cũng nhiều. Những chậu bông cúc vàng được bày biện trước thềm, những thứ lĩnh kỉnh giửa đường giửa xá được mỗi nhà dọn dẹp gọn gàng. Không khí Tết lãng đãng trong không khí, trong lòng người ở xóm cù lao xa xôi.
Đang ngó xa xa từ hai phía như mỗi ngày, bỗng nhìên Thương Thương kéo chéo áo tía nó nói liếng thoắng:
“Tía ơi, thấy cười ghê, ai gặp tía rước con sau đó thế nào cũng hỏi tía con hay là ông ngoại. Con nói tía ruột thì họ làm thinh.”
“Tía ơi, thấy cười ghê, có một bạn con nói sao tía bạn già còn hơn ông ngoại của mình, chắc mẹ của bạn cũng già như bà ngoại mình. Con nói Mẹ của mình đẹp lắm, nhưng mẹ mình phải đi làm việc xa.”
Kỳ Nhơn vuốt tóc Thương Thương. Nó trả lời thông minh lắm. Đáng lẽ nó phải nói thêm: “Bởi vậy tía mình mới có biệt danh là Kỳ Nhơn.”
Bỗng nhiên Thương Thương nắm tay tía nó dặt dặt:
“Tía coi cô bận áo bông kia có phải là mẹ con không?”
Tiếng nó reo lên như nhiều lần mừng hụt đã qua:
“Như là mẹ con tía ơi!”
Kỳ Nhơn hướng mắt về phía bến phà Rạch Tráng xa xôi rồi ngó xuống Thương Thương với vẻ tội nghiệp con nhỏ.
Trời chiều giáp Tết sụp tối thiệt mau. Quán chị Ba Lành đã lên đèn từ lâu. Gió từ cửa Tranh Đề bắt đầu thổi về mang theo khí lạnh trong mùi mằn mặn tạo cho lòng Nhơn nỗi xót xa riêng. Gió lạnh nhưng cái mùi đặc biệt của con sông Cồn Cọc bao nhiêu năm nay thấm vào người anh như tình tự quê hương quyện trong không khí khiến anh thấy thân thiết với ngoại cảnh chung quanh không thể nào tả nỗi.
Nguyễn Văn Sâm (CA, Oct, 2014)

Ghi chú: Bốn câu chữ Nho trong bài được trích từ bổn tuồng hát bội chữ Nôm Đường Chinh Tây, hồi 23, trang 51a/b, hiện lưu trữ tại Trường Viễn Đông Bác Cổ, EFEO Paris, tuồng nầy trước giờ chưa từng được giới thiệu với học giới.(NVS)

nguồn: Hao Nguyen

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: