Vũ Thất

Bảo Bình 1

Cuốn theo chiều gió

Xem phim Cuốn theo chiều gió:

Chờ hết quảng cáo. Hit “Tắt đèn” 

http://phim3s.net/phim-le/cuon-theo-chieu-gio_1397/xem-phim/

Cuốn Theo Chiều Gió và kỷ niệm 150 năm nội chiến Mỹ


Lan Phương
Trong tuần lễ từ 12 tháng Tư, nước Mỹ đã bắt đầu những tiết mục kỷ niệm ngày nội chiến bùng nổ 150 năm trước đây. Cũng vào dịp này cuốn sách và cuốn phim “Gone with The Wind” (Cuốn Theo Chiều Gió) với bối cảnh là cuộc nội chiến đã được những người ái mộ, những “Windies” nhắc nhở đến nhiều, nhất là tại Atlanta và vùng phụ cận, nơi có viện bảo tàng Gone With the Wind.
Trước rạng đông ngày thứ Ba 12 tháng Tư năm nay, tiếng đại bác nổ rầm trời tại thành Sumter, thuộc hải khẩu Charleston, bang South Carolina, diễn lại cảnh nội chiến bùng nổ cách nay 150 năm.
Đó là một giờ khắc sâu xa nhất của định mệnh trong lịch sử nước Mỹ, và theo nhiều phương diện, đó cũng là giờ phút mà nước Mỹ hiện đại đã hình thành.
Trong suốt nhiều thập niên qua, một số đông dân Mỹ hằng năm vẫn đến đây để chứng kiến việc diễn lại giờ phút lịch sử đó.
00:00
07:27
Cuốn Theo Chiều Gió và kỷ niệm 150 năm nội chiến Mỹ                                                Trang Văn Học Nghệ Thuật Thế Giới
Đúng vào 4 giờ 30 phút sáng ngày 12 tháng Tư năm 1861, đại úy George S. James chỉ huy tiểu đoàn pháo binh của quân miền nam hạ lệnh nã đại bác tấn công vào đồn binh của quân miền bắc đóng trong thành.
Trong lúc giờ khắc lịch sử này được diễn lại, ở gần đó một ban kèn đồng tấu bản “When Jesus Wept” (Khi Chúa Ki Tô nhỏ lệ).
Cuộc nội chiến để lại những cảm nghĩ khác nhau trong lòng người dân và những lý giải khác nhau cho những nhà sử học.
Nguyên nhân chính xác của cuộc nội chiến hiện còn trong vòng tranh cãi, một số chuyên gia cho rằng cuộc chiến xoay quanh quyền của các tiểu bang được tách khỏi liên bang. Nhưng những người khác cho rằng 11 tiểu bang miền nam đòi ly khai vì muốn bảo vệ chế độ nô lệ mà Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln thời đó muốn bãi bỏ.
Ngày đó kinh tế miền nam nặng về nông nghiệp. Nô lệ là lực lượng lao động quan yếu để làm việc trên những đồn điền rộng lớn trồng bông vải và những hoa màu khác, cũng như để giúp việc nhà.
Cuộc nội chiến kéo dài 4 năm với chừng 600 ngàn người tử vong.
Tướng bại trận miền nam Robert E. Lee đã đầu hàng quân đội miền bắc tại Appomattox, bang Virginia và được phe thắng trận đối xử với tất cả cung cách hết sức kính trọng.
Người ta vẫn thường nhớ đến những câu chuyện được thuật lại trong sử sách về quyết định khó khăn của tướng Robert E. Lee khi ông từ chối lời mời giữ quyền chỉ huy trong quân đội miền bắc để chọn phục vụ cho miền nam vì quê quán ông ở Virginia, một bang miền nam, cùng những câu chuyện về đức khiêm tốn của ông trước những chiến tích lừng lẫy cũng như những thất bại mà ông trải qua. Sau khi quân đội miền nam thất trận, ông nói với các hàng binh dưới quyền ông rằng: “Hãy từ bỏ lòng hận thù và để thế hệ con cháu của quí vị nhớ rằng họ đều là đồng bào, là công dân của nước Mỹ.”
Những gì mà vị tướng lãnh này đạt được nhưng lại ít được người Mỹ biết đến là những thành quả trong những năm sau khi cuộc chiến đã tàn. Ông nhận chức Viện trưởng một viện đại học nghèo đang bên bờ vực khánh tận, đại học Washington ở Lexington, bang Virginia. Ở chức vụ này, ông không nhấn mạnh đến những môn học từ chương, cổ điển nữa, mà chú trọng nhiều đến việc giảng dạy cho sinh viên những kỹ năng thực tiễn để có thể giúp tái thiết miền nam.
Chương trình đầu tiên của nước Mỹ giảng dạy về ngành báo chí được đem áp dụng ở đại học này là một thí dụ điển hình. Các lớp dạy về kinh doanh, khoa học và nông nghiệp là những thí dụ kế tiếp. Được đặt tên là “Washington and Lee University,” giờ đây trường đại học tư và nhỏ này phát triển thật tốt đẹp.
Cũng liên quan đến cuộc nội chiến nam bắc kéo dài từ năm 1861 đến năm 1865, 75 năm sau, nhà văn miền nam Margaret Mitchell đã cho ra đời cuốn “Gone with the Wind” (Cuốn Theo Chiều Gió). Đây là một tiểu thuyết lồng trong bối cảnh trước, trong và sau cuộc nội chiến với mối tình ảo tưởng và vô vọng của nhân vật chính Scarlett O’Hara, một cô gái đẹp tuyệt, con nhà trưởng giả miền nam trước khi chiến tranh bùng nổ và một hôn nhân đổ vỡ với người chồng, khi cô nhận thức được thực tế là cô yêu chồng, Rhett Butler, vào lúc mà Rhett Butler không còn kiên nhẫn để chịu đựng cuộc hôn nhân trong đó người vợ ôm một ảo tưởng về một người đàn ông khác. Rhett Butler là một thương nhân miền nam từng trải, giàu có, lanh lợi nhưng bị người miền nam khinh thường vì đã “vượt rào” làm ăn với miền bắc. Điểm chính mà tác giả muốn nêu bật là ý chí sắt đá của con người thắng vượt mọi nghịch cảnh để vươn lên từ những lầm lỡ và hoang tàn đổ nát. Cuốn tiểu thuyết của Margaret Mitchell ra đời năm 1936 và tức khắc chinh phục được độc giả không những tại nước Mỹ mà còn khắp thế giới. Vào năm 1946, tức là 10 năm sau, cuốn tiểu thuyết này đã bán được gần 4 triệu ấn bản, đến năm 1965 số bán lên đến 10 triệu chỉ nội ở nước Mỹ không thôi. Gone with the Wind còn được dịch ra 25 ngôn ngữ ở 29 quốc gia.
Không những thế, 3 năm sau khi được xuất bản, Gone with the Wind đã được quay thành phim, gần như đây là cuốn phim màu technicolor đầu tiên của điện ảnh Hoa Kỳ, và chiếm được 10 giải Oscar, làm say mê khán giả khắp năm châu với hai diễn viên gạo cội Clark Gable và Vivien Leigh. Cuốn phim được chiếu ra mắt tại thành phố Atlanta, bang Georgia, quê hương của Margaret Mitchell và cũng là thành phố lớn của miền nam từng bị thiêu rụi trong cuộc nội chiến.
Cho đến nay, du khách đến viếng Atlanta thường ghé xem viện bảo tàng Gone with the Wind tại Marietta, cách Atlanta chừng 25 kilomét, trưng bày những tài liệu, vật dụng liên quan đến cuốn phim Gone with the Wind.
Sự thành công của cuốn tiểu thuyết cũng như cuốn phim là một niềm hãnh diện cho người dân miền nam, nhất là cư dân tại Atlanta. Cho tới nay vẫn còn một số khá đông người say mê cuốn tiểu thuyết và cuốn phim, họ thích những trang phục, cách bài trí của miền nam thời đó được thể hiện trong cuốn phim, rồi họ lập ra những hội để gặp gỡ nhau, để khoác lên người chiếc áo mà nhân vật Scarlett đã mặc trong phim, diễn lại một số cảnh trong phim, trần thiết nhà cửa theo như căn nhà của đồn điền miền nam trong phim; người ái mộ như thế được gọi là “Windy”. Những chi tiết mới nào về cuốn tiểu thuyết hay cuốn phim được tiết lộ đều được họ quí như vàng. Trong những dịp hội họp của các “Windies”, người ta thấy những diễn viên từng có mặt trong cuốn phim Gone with the Wind xuất hiện để tham gia và ký tặng. Hầu hết các diễn viên chính trong phim đã qua đời, những người xuất hiện là những vai phụ còn rất nhỏ khi đóng phim. Cô bé 4 tuổi, diễn viên Cammie King Conlon, thủ vai con gái nhỏ của Rhett Butler và Scarlett O’Hara, cũng đã qua đời năm ngoái, thọ 76 tuổi.
Hiện nay chỉ còn một diễn viên quan trọng trong phim còn sống là Olivia de Havilland, từng đóng vai người vợ hiền Melanie của Ashley, mối tình vô vọng của Scarlett O’Hara. Người ta không thấy bà xuất hiện tại những buổi hội họp của các “Windies” vì hiện bà sống ở Paris và năm nay đã 94 tuổi.
VOA

Cuốn Theo Chiều Gió – Gone With The Wind

Cuốn Theo Chiều Gió (Nguyên văn: Gone With The Wind), xuất bản lần đầu năm 1936, là tiểu thuyết tình cảm của Margaret Mitchell, người đã dành giải Pulitzer với tác phẩm này năm 1937. Câu chuyện được đặt bối cảnh tại Georgia và Atlanta, miền Nam Hoa Kỳ trong suốt thời kỳ nội chiến và thời tái thiết. Tác phẩm xoay quanh Scarlett O’Hara, một cô gái miền Nam đầy sức mạnh, phải tìm mọi cách để sống sót qua chiến tranh và vượt lên cuộc sống khó khăn trong thời hậu chiến. Tiểu thuyết đã được chuyển thể thành phim cùng tên vào năm 1937.
 
Ban đầu, Margaret Mitchell có ý định đặt nhan đề cho cuốn tiểu thuyết là “Ngày Mai Là Một Ngày Khác” (Tomorrow is Another Day), lấy từ câu kết thúc tác phẩm. Các nhan đề từng được xem xét bao gồm: Bugles Sang True, Not in Our Stars, và Tote the Weary Load. Cuối cùng, Margaret Mitchell chọn Gone With The Wind từ bài thơ Non Sum Qualis Eram Bonae sub Regno Cynarae của Ernest Dowson. Nguyên văn:
 
I have forgot much, Cynara! Gone with the wind,
Flung roses, roses riotously with the throng,
Dancing, to put thy pale, lost lilies out of mind…
 
Scarlett O’Hara sử dụng cụm từ nhan đề khi cô tự vấn bản thân mình liệu nhà cô ở “Tara” có còn đứng vững hay đã bị “cuốn theo chiều gió quét qua Georgia”. Theo cách hiểu chung, “Cuốn theo chiều gió” là một lối nói ẩn dụ cho sự ra đi của một cuộc sống đã từng tồn tại ở miền Nam trước Nội chiến. Khi được dùng trong bài thơ của Dowson về “Cynara”, cụm từ “cuốn theo chiều gió” ám chỉ sự mất mát về tình cảm chứ không mang ý nghĩa giống như nhan đề tiểu thuyết.

Nghe đọc truyện

Phần 1
01. Cuốn Theo Chiều Gió                                     05. Cuốn Theo Chiều Gió
02. Cuốn Theo Chiều Gió                                     06. Cuốn Theo Chiều Gió
03. Cuốn Theo Chiều Gió                                     07. Cuốn Theo Chiều Gió
04. Cuốn Theo Chiều Gió                                     08. Cuốn Theo Chiều Gió
Phần 2
09. Cuốn Theo Chiều Gió                                     14. Cuốn Theo Chiều Gió
10. Cuốn Theo Chiều Gió                                     15. Cuốn Theo Chiều Gió
11. Cuốn Theo Chiều Gió                                     16. Cuốn Theo Chiều Gió
12. Cuốn Theo Chiều Gió                                     17. Cuốn Theo Chiều Gió
13. Cuốn Theo Chiều Gió                                     18. Cuốn Theo Chiều Gió
Phần 3
19. Cuốn Theo Chiều Gió                                     26. Cuốn Theo Chiều Gió
20. Cuốn Theo Chiều Gió                                    27. Cuốn Theo Chiều Gió
21. Cuốn Theo Chiều Gió                                     28. Cuốn Theo Chiều Gió
22. Cuốn Theo Chiều Gió                                     29. Cuốn Theo Chiều Gió
23. Cuốn Theo Chiều Gió                                    30. Cuốn Theo Chiều Gió
24. Cuốn Theo Chiều Gió                                    31. Cuốn Theo Chiều Gió
25. Cuốn Theo Chiều Gió                                    32. Cuốn Theo Chiều Gió
33. Cuốn Theo Chiều Gió
Phần 4
34. Cuốn Theo Chiều Gió                                     51. Cuốn Theo Chiều Gió 
35. Cuốn Theo Chiều Gió                                     52. Cuốn Theo Chiều Gió
36. Cuốn Theo Chiều Gió                                     53. Cuốn Theo Chiều Gió
37. Cuốn Theo Chiều Gió                                     54. Cuốn Theo Chiều Gió
38. Cuốn Theo Chiều Gió                                     55. Cuốn Theo Chiều Gió
39. Cuốn Theo Chiều Gió                                     56. Cuốn Theo Chiều Gió
40. Cuốn Theo Chiều Gió                                     57. Cuốn Theo Chiều Gió
41. Cuốn Theo Chiều Gió                                     58. Cuốn Theo Chiều Gió
42. Cuốn Theo Chiều Gió                                     59. Cuốn Theo Chiều Gió
43. Cuốn Theo Chiều Gió                                     60. Cuốn Theo Chiều Gió
44. Cuốn Theo Chiều Gió                                     61. Cuốn Theo Chiều Gió
45. Cuốn Theo Chiều Gió                                     62. Cuốn Theo Chiều Gió
46. Cuốn Theo Chiều Gió                                     63. Cuốn Theo Chiều Gió
47. Cuốn Theo Chiều Gió                                     64. Cuốn Theo Chiều Gió
48. Cuốn Theo Chiều Gió                                     65. Cuốn Theo Chiều Gió
49. Cuốn Theo Chiều Gió                                     66. Cuốn Theo Chiều Gió
50. Cuốn Theo Chiều Gió                                     67. Cuốn Theo Chiều Gió
68. Cuốn Theo Chiều Gió

Margaret Mitchell
Những bài về tiểu thuyết Gone With The Wind

Alan Phan – Cuốn Theo Chiều Gió

 
(Cuộc đời không có nhiệm vụ cho chúng ta những gì mình mong đợi. Chúng ta nhận những gì đưa đẩy đến và cảm tạ là nó không tệ hại hơn hiện nay – “Life’s under no obligation to give us what we expect. We take what we get and are thankful it’s no worse than it is. Margaret Mitchell – Gone with the Wind.)
 
Trong những buổi giảng thuyết cho các sinh viên Trung Quốc về văn hóa và con người Mỹ, tôi thường khuyên họ hãy đọc quyển sách (hay ít nhất là coi cuốn phim) “Gone With The Wind”. Dù xã hội Mỹ đã thay đổi rất nhiều với lượng di dân nhập cư từ tứ xứ cùng các quan hệ chủng tộc, nhưng những người Mỹ trắng từ văn minh Âu Châu vẫn chiếm 67% dân số và truyền thống Cơ Đốc Giáo vẫn là dấu ấn hàng đầu, không những tại những vùng bảo thủ miền Trung, mà vẫn tồn tại mạnh mẽ tại các vùng cấp tiến như California và New York.


Sự điêu tàn của miền Nam sau cuộc nội chiến Bắc-Nam và những cố gắng hàn gắn vết thương từ bên thắng cuộc cho thấy một sự tôn trọng luật pháp công lý; bao quanh bởi tình yêu tổ quốc sâu đậm từ hai phía và lòng tự hào năng động của con người Mỹ về khả năng, ý chí và tầm nhìn. Sự trổi dậy của con phượng hoàng Mỹ sau những khủng hoảng là đặc thù lớn nhất của siêu cường này.
 
Những khuôn mặt biểu tượng cho văn hóa Mỹ, cho đến ngày nay, đã được Margaret Mitchell tô đậm trong các nhân vật của cuốn sách. Dĩ nhiên, hai nhân vật chánh, Scarlett O Hara và Rhett Butler, đã quay cuồng trong thời chiến và thời bình, thật “sống” thật “động” để phần lớn dân Mỹ thời đó và một số lớn thời nay, tìm thấy bóng dáng mình qua câu chuyện cũng như nhân cách của cặp tình nhân này.
 
Điệu vũ trong chiến tranh
 
Tóm lược câu chuyện xẩy ra vào thời nội chiến Mỹ (1861), Rhett Butler là một kẻ cơ hội. Anh ta không lên đường theo tiếng gọi của non sông như các bạn trẻ quanh mình, dù đã là một sĩ quan kinh nghiệm của quân đội miền Nam. Anh chỉ thích đi buôn và trục lợi qua những phi vụ vũ khí hay nhu yếu phẩm. Như mọi các cô gái trẻ tràn đầy lý tưởng , Scarlett ghét anh chàng có vẻ như “ích kỷ và đểu cáng” này.
 
Scarlett:  Are you tryin’ to tell me you don’t believe in the cause?  (Anh muốn nói với em rằng anh không tin vào chính nghĩa?”)
 
Rhett: I believe in Rhett Butler, he’s the only cause I know. (Anh tin vào Rhett Butler, hắn là chính nghĩa duy nhất anh biết)
 
Tuy nhiên, đến khi miền Nam sắp thua trận và đợi chờ một kết quả thảm thương, Rhett lại nhập ngũ để chiến đấu.
 
Scarlett: Rhett, how could you do this to me, and why should you go now that, after it’s all over and I need you, why? Why? (tại sao anh làm vậy bây giờ vì kết cục đã gần kề và trong khi em cấn anh vô cùng, tại sao?)
 
Rhett: Why? Maybe it’s because I’ve always had a weakness for lost causes, once they’re really lost. Or maybe, maybe I’m ashamed of myself. Who knows? (Có lẽ tại vì anh luôn luôn có một điểm yếu cho những chính nghĩa đã mất, nhất là khi chúng thực sự mất. Hay có lẽ tại anh xấu hổ? Ai mà biết được?)
Xây dựng lại cho thanh bình nội tại
 
Sau cùng, chiến tranh kết thúc. Rhett được thả về quê và anh lại làm ăn với nhóm thắng cuộc để kiếm tiền. Khá nhiều tiền; dù luôn bị đám đông chung quanh dè bỉu như bọn carpetbaggers (liếm gót giầy của kẻ thắng). Anh kết hôn với Scarlett vì yêu nàng tha thiết và đem lại một đời sống vương giả cho 2 mẹ con. Trong khi đó, Scarlett vẫn yêu thầm trộm nhớ người hùng nghèo khó Ashley dù Ashley bây giờ chỉ là một cựu sĩ quan bất đắc chí của phe thua cuộc. Rhett đau khổ nhưng lấy tình yêu cho con gái làm cứu cánh.
 
Cho đến khi cô con gái chết trong một tai nạn, thế giới của Rhett lại bị đổ vỡ và chàng xách vali ra khỏi cuộc đời của Scarlett.
 
Rhett:  Do you know what I’m talking about? (Em biết anh muốn nói gì không?)
 
Scarlett: No! I only know that I love you. (Không, em chỉ biết rằng em yêu anh)
 
Rhett: That’s your misfortune. (Đó là bất hạnh của em)
….
Scarlett: Oh, Rhett!  Rhett, Rhett! 
 
Scarlett:  Rhett… if you go, where shall I go, what shall I do? (Nếu anh bỏ đi, em sẽ đi đâu, em sẽ làm gì?)
 
Rhett:  Frankly, my dear, I don’t give a damn. (Thực sự, người yêu ơi, anh đếch quan tâm)
 
Song song trong câu chuyện là cuộc đời thăng trầm của Scarlett. Sinh ra trong một gia đình phong lưu, chiến tranh đã khiến nàng trở thành một thiếu nữ rồi thiếu phụ nghèo đói, tìm đủ mọi thủ đoạn qua sắc đẹp để mưu sinh. Cho đến khi chiến tranh chấm dứt và nàng lấy Rhett vì tiền.
 
Scarlett cũng giống như trăm ngàn thiếu nữ Việt mà tôi đã gặp khắp nơi. Cái thân hình yểu điệu, nhỏ nhắn. sợ sệt…chỉ để che dấu một ý chí sinh tồn mạnh mẽ và quyết liệt. Scarlett luôn tự bảo trong tâm thức là phải vươn lên bằng mọi giá để tìm cho mình chỗ đứng dưới ánh mặt trời. Sau cùng, nàng mới nhận ra là mình yêu anh chồng Rhett ngang tàng thực tế của mình; chứ không thể yêu một “ảo tưởng” là Ashley, yếu đuối, thua cuộc.
 
Nhưng Rhett lại bỏ đi? Nàng đau đớn,
 
“I’ll think of it tomorrow, at Tara. I can stand it then. Tomorrow, I’ll think of some way to get him back. After all, tomorrow is another day.” (Tôi sẽ về Tara ngày mai rồi suy nghĩ lại. Tôi sẽ ổn hơn. Ngày mai, tôi sẽ nghĩ cách để anh quay về. Dù sao, ngày mai cũng là một ngày mới)
 
Văn hóa Mỹ và Việt Nam
 
Không riêng tôi, mà thế hệ Mỹ lớn lên qua văn chương phổ thông, đều thấy chút dáng dấp của mình đâu đó trong Rhett Butler. Những hình tượng sau này của xã hội Mỹ như John Wayne, Clint Eastwood, Ronald Reagan…đều phảng phất chút hương vị “cao bồi” của người đàn ông tuy ích kỷ, dấu kín, nhưng ngang tàng và sẵn sàng hy sinh cho đại nghĩa, dù thua lỗ. Đó là lý do tại sao Reagan, Kennedy… được phần lớn dân Mỹ yêu mến; nhưng không bao giờ Carter hay Obama.
 
Trong những buổi giao thời, tôi hay suy nghĩ về câu chuyện của Rhett và Scarlett. Có lẽ cũng là câu chuyện của triệu người Việt Nam trong cuộc biển dâu gần 40 năm qua. Có điều kết cuộc của chúng ta hơi khác. Những nàng Scarlett của Việt Nam vẫn ôm lấy “ảo tưởng” Ashley mà quên đi cái “hiện thực” Rhett. Có đủ ý chí và can đảm, nhưng vẫn thiếu kiến thức và nhận xét. Cái “ngày mai” mà Scarlett tin tưởng vào, cái tương lai mà nàng tin là phải thay đổi để tốt đẹp hơn, lại là cái “quá khứ” mà dân Việt vẫn khư khư ôm lấy sau 40 năm hận thù.
 
Cho đến giờ này, khi ngồi chém gió với các bạn trẻ hay già ở Việt Nam, tôi nghe thường trực những câu chuyện về lịch sử. Ngân sách có hạn hẹp, chúng ta vẫn hoan hỉ bỏ ra cà triệu đô la để làm phim về “lịch sử”. Chưa nói đến những phim truyện phát sóng hàng giờ hàng ngày trên các kênh TV về những đại thắng 40, 50, 60 năm về trước (Dù một số người không nhỏ, như bà vợ của đại đồng chí Lê Duẫn hay tác giả cuốn Đèn Cù, đang có nhiều phản biện về cái gọi là lịch sử này)
 
Bao giờ thì các bạn trẻ của tôi hăng say về những đề tài như công nghệ in 3D, hệ thống quản lý robotic hay chuyện biến đổi DNA sequence? Nếu tiếp tục với đà này, chỉ 20 năm nữa thôi, giới trẻ toàn cầu sẽ không hiểu nổi ngôn ngữ của người Việt và sẽ cho rằng chúng ta đến từ “ngoài hành tinh”. Bao giờ thì một người 30, 40 tuổi…mới ngưng đòi mẹ kể chuyện cổ tích thần thoại trước khi ngủ?
 
Trong phim cũng như trong lịch sử, thủ đô miền Nam là Atlanta bị thiêu hủy hoàn toàn. Chỉ 6 năm sau, Atlanta lại hồi sinh, đẹp rực rỡ như những tàng hoa magnolia trong mùa xuân. Saigon không cháy rụi, nhưng cái tàn tạ của Saigon còn đau đớn hơn. Như một hoa khôi ngày nào của Gia Long, Trưng Vương bây giờ đang lọm khọm gánh nước trong tuổi già ở một khu ổ chuột hôi thối. Có lẽ Rhett sẽ không bao giờ quay lại và Scarlett cũng phải bỏ đi?
 
Tôi đang sửa soạn về Mỹ để định cư một thời gian dài. Tôi chợt nhớ câu nói của Rhett,
 
I’m through with everything here. I want peace. I want to see if somewhere there isn’t something left in life of charm and grace. Do you know what I’m talking about? ( Anh chấm dứt với mọi thứ ở đây. Anh cần thanh bình. Anh muốn coi nếu có một nơi nào đó còn chút gì yêu kiều và thanh cao cho cuộc sống. Em hiểu anh đang nói gì không?)
Alan Phan

nguồn: www.gocnhinalan.com

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: