Vũ Thất

Bảo Bình 1

Một thời cái nồi ngồi trên cái cốc

Một thời cái Nồi ngồi trên cái Cốc.

BE022141

Ngày 30.4.1975 trong  Dinh Độc Lập

Chuyện Năm Xưa Nay Vẫn Còn Y Nguyên. Cái Nồi ngồi trên cái Cốc. Ngày nay nếu quý bạn thử hỏi một người Việt nào đó về cái nhóm chữ kể trên thì có thể người ấy sẽ lắc đầu, trả lời là không biết ý nghĩa nó chỉ cái gì ? Ngoại trừ những người đã từng sống trong khung cảnh của thời điểm: Cái Nồi Ngồi Trên Cái Cốc. Những ngày sau 30.4.1975 tại miền Nam VNCH.  Ngay khi CS vừa chiếm được thủ đô Saigon, người dân miền Nam đã thấy bộ đội CS kéo nhau (từ nơi đóng quân) đi rảo thành từng nhóm trên các dãy phố để xem phố xá miền Nam và đây cũng là dịp để người dân Saigon tiếp xúc với họ, người miền Bắc XHCN .
Những cuộc tiếp xúc ấy, dù chớp nhoáng, ngắn ngủi nhưng đủ để cho người dân Saigon có những nhận xét về tình hình miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là:

– Người dân miền Bắc sống trong một xã hội lạc hậu vì có rất nhiều bộ đội hoàn toàn ngạc nhiên khi trông thấy các tiện nghi rất bình thường tại miền Nam như quẹt gaz, máy casesstte , máy hát dĩa , đồ chơi điện tử… Có bộ đội không hề biết Hoa Kỳ đã đưa được người (Niel Amstrong ngày 20.7.1969) lên được mặt Trăng. Kiến thức về thế giới sử, về lịch sử VN và nhất là về miền Nam VNCH của những bộ đội khác biệt hẳn với hiểu biết của người dân Saigon.

– Vai trò của Hoa Kỳ trong Đệ Nhị Thế Chiến đã được bộ đội diễn giải là tàn ác, diệt chủng khi thả bom nguyên tử (tháng 8.1945) xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki.

Trong những lần tiếp xúc đầu tiên, người Saigon rất ngạc nhiên khi thấy chỉ là anh lính mà một bộ đội có thể nói (thao thao bất tuyệt) về các đề tài chính trị nhưng chỉ ít lâu sau; Người dân Saigon khám phá ra là nếu trò chuyện với bất kỳ bộ đội nào, cũng đều được nghe họ nói cùng một kiểu y như vậy (hùng hồn dù chỉ một chiều). Chính thời gian nầy, những câu chuyện máy bay Mig nấp trên mây phục kich máy bay Mỹ hoặc bom hạt nhân mà Mỹ thả xuống 2 thành phố bên nước Nhật là do Liên Xô cho mượn… đã được các bộ đội kể ra cho nghe.

Phần các bộ đội, khi tiếp xúc với người dân của thủ đô miền Nam VNCH. Họ đã thấy đây một xã hội văn minh, người dân có cuộc sống sung túc gấp bội so với xã hội miền Bắc XHCN mà (trước đó không lâu) các cán bộ chính trị trong đơn vị họ vẫn quả quyết là người dân ở miền Nam VNCH phải sống trong cảnh nghèo đói cực kỳ. Đám chính trị viên quả quyết với họ rằng đế quốc Mỹ đã thu gom mang hết các tài nguyên, của cải ở miền Nam nên người dân không có cái gì để ăn thậm chí có quần áo không có và phải mặc áo quần làm bằng nylon… Đó cũng là một trong các lý do mà đảng và bạo quyền CS Hà Nội tuyên truyền để biện minh việc kéo quân vào xâm lăng miền Nam VNCH (nói là giải phóng người dân khỏi sự kềm kẹp). Chính vì kinh tế miền Nam vượt trội hẳn hơn miền Bắc nên khi dạo phố, bộ đội đều tròn xoe (và trầm trồ trong lòng) là miền Nam giàu có cực kỳ nhưng ngoài mặt thì họ đều một bài bản leo lẻo là xã hội miền Nam chỉ phồn vinh giả tạo.

canngo

Cũng một lò CS với nhau nhưng đám VC tập kết trở về miền Nam trong giai đoạn nầy lại có thái độ khác. Đa số im lặng không đả động gì về miền Bắc nhưng cũng có người lại nói thẳng (dù rất ít) là: Ngoài đó có cái mẹ gì! Trộm cắp thấy sợ luôn. Xe đạp phải có bảng số riêng, quần áo giặt phơi ngoài dây phải coi chừng không thì mất. Ai có cái đài (radio) đi đâu cũng phải mang kè kè bên người, sơ ý một phút là mất ngay.

Dạo phố chung với nhau từng nhóm để rồi bộ đội thấy mọi thứ trên đường phố như các cao ốc, xe gắn máy hai bánh, quần áo phục sức của người dân, hàng hóa bày bán trong các cửa hiệu có đèn đuốc sáng choang. Các tiện nghi mà người Saigon đang dùng trong nhà (ở miền Bắc XHCN chưa hề có) như TV, máy hát, tủ lạnh (lần đầu tiên trong đời họ mới được thấy, được biết) đều lạ lẫm, văn minh và cực kỳ hiện đại (chữ dùng của bộ đội). Rồi sau khi tiếp xúc với người dân và xã hội miền Nam lúc đó, có bộ đội đã bừng tỉnh (vì biết bản thân mình đã bị đảng và bạo quyền CS Hà Nội lừa bịp bao nhiêu lâu nay) nên họ đã thổ lộ (chỉ trong chỗ riêng tư kýn đáo với các thân nhân thôi) về nỗi buồn nỗi đau vì đã là nạn nhân của chế đô. CS (tương tư. Dương Thu Dương ngồi bệt xuống vệ đường Saigon mà khóc khi biết được sự thật).

Tuy vậy, một chuyện vui trong thời điểm đó là người dân Sài Gòn đều biết là bộ đội CS rất thèm thuồng có được một cuộc sống như người dân miền Nam nhưng ngoài mặt, họ vẫn cố làm vẻ tỉnh bơ thậm chí có bộ đội còn nói xạo nói nổ là ở miền Bắc XHCN những thứ kể trên nhà nào mà chẳng có hoặc chạy chúng đầy đường (kể cả TV và tủ lạnh). Kem lạnh (Ice Cream) thì có bộ đội còn cả gan bảo là ở ngoài Bắc, dân ăn không hết còn phơi khô để dành.

bamuoi

Không biết thái độ nói lấy được nói cái gì miền Bắc cũng có và phẩm chất còn tốt hơn thứ ở miền Nam VNCH đang dùng là tự ái địa phương hoặc sĩ diện của người sống khác chế độ hay đây là một chỉ thị (từ cấp trên) bắt buộc các bộ đội CS khi tiếp xúc với người miền Nam VNCH phải nói láo, nói thánh tướng như vậy? Họ đã bị đảng, nhà nước CS nhồi sọ. Thêm một điều nữa là với những bộ đội đóng quân trong các thành phố miền Nam VNCH nầy, khi về phép hoặc phục viên (giải ngũ) thì đã bị chính trị viên đơn vị hội thảo (nhồi sọ, buộc phải kể lại (cho thân nhân ở hậu phương miền Bắc nghe) là miền Nam VNCH vô cùng lạc hậu và đói nghèo (không có cái gì để ăn). Chính vì vậy mà có rất nhiều người dân miền Bắc đã mắc lừa thêm một lần nữa khi họ cố hết sức để mang vào miền Nam ít kg gạo, thuốc chữa bệnh và quần áo (cũ rách của họ) để tiếp tế ngay cho các thân nhân di cư từ năm 1954 đang sống tại Saigon.

Đây là trường hợp dở khóc dở cười (chở củi về rừng) của các thân nhân người viết bài nầy khi họ vào thăm gia đình ngay sau khi thiết lộ (đường sắt Thống Nhất) xuyên Việt vừa khai thông. Ngay học gia? Nguyễn Hiến Lê, một người luôn có tình cảm với phe CS nhưng chỉ một thời gian ngắn sau ngày 30.4.1975 đã viết như sau (trong hồi ký):” Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30.4.75, vô Saigon, loá mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh”. Có thể như vậy thật vì sự dối trá bắt đầu từ cấp lãnh đạo rồi xuống dần các cấp thừa hành và sau cùng là người dân lãnh đủ.

Ngay trong khu phố của người viết bài nầy có một tiệm Kem. Một bộ đội ghé vào, được nếm món Kem lạnh quá ngon nên khi quay về chỗ đóng quân (trại lính, căn cứ của chế độ cũ), bộ đội nầy đã kéo thêm vài đồng đội khác trở lại tiệm và gọi người chủ mang ra cả mấy khay đầy Kem để cả bọn ăn cho sướng miệng. Để rồi, những ngày kế đó, các bộ đội nầy tìm gặp chủ tiệm Kem để buộc tội định đầu độc họ vì; Sau khi ăn Kem về tới doanh trại, cả bọn đã bi. Tào Tháo đuổi liên tục.

Nhiều người vẫn kể về câu chuyện tiêu biểu cho hình ảnh lạc hậu của bộ đội là chuyện về cái Nồi ngồi trên cái Cốc.

Chúng ta hãy hình dung ra một hình ảnh một tay bộ đội (bên vai đeo lủng lẳng một máy radio) làm ra vẻ bình thản bước vào một tiệm cà phê đông người. Tay nầy kéo ghế ngồi tại bàn, mở radio ra nghe nhưng kýn đáo quan sát các thức uống khách đang dùng trong tiệm mà (với y ta) có một món là lạ ở trên bàn của những người khách ngồi gần. Chủ tiệm thấy khách là bộ đội, vội bước đến hỏi:

– Anh bộ đội dùng thứ gì đây? (có nghĩa là ông quyền muốn uống thứ gì chủ bán trong tiệm).

Tay bộ đội nầy rụt rè chỉ ngón trỏ vào món (mà  y không biết tên gọi ) đó, nói:

– Cho tớ (bộ đội thường xưng hô cậu tớ  trong giao tiếp) uống cái món đấy đấy. .

– Món gì?  Chủ tiệm ngạc nhiên, hỏi lại ỵ .

– Cái món… như là cái Nồi ngồi trên cái Cốc đó. Tay bộ đội trả lời.

Nhìn theo ngón tay của bộ đội chỉ, chủ tiệm và những người khách ngồi gần bên nghe được phải nín cười (cười công khai lúc đó thì coi chừng mắc vạ chẳng chơi).

02cafe_vietnamien

Cái Nồi ngồi trên cái Cốc

Thì ra cái Nồi ngồi trên cái Cốc trong lời nói của bộ đội là ly cà phê Phin. Cái nồi là cái lọc cà phê bằng Nhôm đặt nằm trên trên một cái ly thủy tinh. Món cà phê Phin nầy du nhập vào nước Việt (cả ba miền Nam.Trung.Bắc) từ thời Tây thực dân chứ đâu có phải là thức nước uống mới lạ gì. Vậy mà các bộ đội miền Bắc khi đó lại không biết đến nó. Quá sức lạc hậu! Có người bào chữa cho là món cà phê Phin có thể là một thức uống xa xỉ trong một xã hội nghèo đói như xã hội CS miền Bắc khi đó. Có thể trong các hàng quán thông thường (cửa hàng giải khát quốc doanh) không có nên bộ đội mới không biết đến hình thù nó ra sao. Giờ bắt gặp, thấy lạ nên mới hỏi.

Trong thực tế, hầu như ở bất cứ quốc gia nào cũng đều có những thứ hàng thuộc loại xa xỉ, mắc tiền mà người dân nghèo nơi đó không dám dùng (vì không dư giả tiền bạc) nhưng họ vẫn biết có sự hiện hữu của chúng trên đời nầy. Còn như không biết đến chúng (như món cà phê Phin nhan nhản ở các nước) thì chỉ do người dân bị chính quyền nơi đó bịt mắt không muốn cho biết mà thôi. Chuyện cái Nồi ngồi trên cái Cốc tưởng như là một chuyện đùa (kiểu chuyện khó tin nhưng có thật) đã được truyền miệng như một câu chuyện cười dân gian kể từ đó.

Nhưng, chỉ vài năm sau, nhiều cán bô. CS khác (sau khi đã sống trong miền Nam rồi) đã cãi cối cãi chầy với người viết bài nầy là làm gì mà có chuyện bộ đội như Mán Về Thành được. Các cán bộ nầy cho là một quân đội từng đánh thắng hai tên Đế quốc sừng sỏ của thế giới là Pháp và Mỹ thì nhất định quân đội đó không thể nào…Cả Quỷnh như vậy được. Tất cả chỉ là luận điệu tuyên truyền của bọn địch thôi (nhằm làm
giảm hình ảnh hào hùng, thanh nhã của bộ đội) và có nhiều người trẻ bây giờ cũng tin là vậy. Nhưng những hồi ức của các cán binh kể lại (trong trang báo QDND) ở dưới đây cho chúng ta thấy các chuyện tương tự cái Nồi ngồi trên cái Cốc đã từng xẩy ra.

… xin trích… “Tôi ra gọi một chiếc xe lam. Cậu y tá tên Thành, người Thái Bình ở trung đoàn bộ được điều đi giúp tôi lấy giấy in báo. Khi ra đường thấy chiếc xích lô máy chở nước đá cây đang lóng lánh bảy sắc cầu vồng trong nắng tháng Năm Saigon, vì dân quê đi bộ đội là vào rừng, lần đầu tiên đến thành phố nên Thành không biết đó là thứ gì, Thành níu vai tôi la toáng lên:

“Anh Khôi ơi! Kim cương! Kim cương nhiều chưa kìa!”. Tôi nín cười, mắng: “Im đi, họ cười cho đấy, đó là nước đá, họ làm đông nước thành đá!”. … Ngay buổi sáng 1.5.1975 đi chợ mua chục con cá lóc. Anh về đếm mãi vẫn cứ 12 con, bèn lật đật ra chợ tìm cho được bà bán cá trả lại hai con vì “tội người ta”, “buôn bán kiểu này thì lời cái gì”. Khi anh tìm được bà bán cá, bà cười toáng lên: “Chú giải phóng ơi, “một chục” ở đây là 12 chứ không phải mười nghen!”. Anh về kho nấu bữa tối, còn hai con cá để lại ngày mai , anh cho vào chỗ bồn cầu vì thấy ở đó có nước! Sáng mai anh đi bắt cá để nấu cháo thì cá không còn nữa. Anh đi báo cáo thủ trưởng, tưởng có người làm mồi nhậu ban đêm. Đến nơi ai cũng ôm bụng cười vì cá thì mất, mà cầu thì tắc, phải nhờ ông thợ hàng xóm sang thông hộ”. … hết trích.

Thói đời, người nghèo thì ghét kẻ giàu có và người dốt không ưa người khôn ngoan. Người vô học, hành xử khác người có giáo dục và người lạc hậu thì xa lạ với các cử chỉ văn hóa. Buổi trưa ngày 30.4.1975, các chính khách trong nội các của Tổng Thống VNCH Dương Văn Minh đã ngỏ ý mời các sĩ quan CS trong lữ đoàn xe tăng 203 (đơn vị chiếm được dinh độc lập) dùng bữa tiệc mà họ đã dọn sẵn để khoản đãi đại diện phía bên kia (phe CS) khi vào dinh nhận bàn giao chính quyền. Bữa tiệc được kể là có món Súp Cua nấu măng Tây, rượu Champagne … nhưng thái độ niềm nở của chính quyền miền Nam VNCH khi đó đã bị các sĩ quan CS nầy từ khước. Thay vào đó, các sĩ quan CS nầy đã buộc các chính khách trong nội các của Tổng Thống Dương Văn Minh phải ăn một bữa cơm trận mạc (chỉ có lương khô hoặc cơm với thịt lợn kho đóng hộp, hàng viện trợ của Trung Cộng). Thái độ của các sĩ quan CS nầy tương tự như cách hành xử của một cán bộ CS cao cấp khác khi y nhận bàn giao chính quyền từ tay viên đại tá tỉnh trưởng tỉnh Bạc Liêu. Viên đại tá VNCH tỉnh trưởng nầy sau khi bàn giao chính quyền xong, đã mời tay cán bô. CS đại diện dùng một bữa ăn tại một nhà hàng trong thị xã. Bữa ăn vừa chấm dứt thì chính tay cán bô. CS đại diện đó đã ra lệnh cho thuộc hạ còng tay viên đại tá VNCH nầy và giải ông ta vào thẳng trại giam.

Không cho người dân biết đến các thông tin ở các nơi khác, nước khác thì đó là bức màn sắt, bức màn che hay bưng bít thông tin rồi. Trong một xã hội mà người dân bị chính quyền bưng bít các thông tin thì xã hội đó chỉ là một xã hội nghèo đói, lạc hậu (sợ người dân biết về các xã hội khác văn minh, giàu có hơn xã hội mình). Tệ hại hơn, đảng và bạo quyền CS miền Bắc lại còn buộc người dân phải nói láo về xã hội
họ đang sống. Người dân mở miệng nói ra những điều lếu láo và biết người nghe mình biết đó là dối trá nhưng vẫn tỉnh bơ. Đó chính là tình cảnh của các bộ đội CS miền Bắc trong thời điểm đoàn quân họ vừa chiếm được miền Nam VNCH.

Bề ngoài ca tụng hết lời về cảnh sống ngoài miền Bắc nhưng thực tế thì lại khác. Những tháng kế tiếp sau ngày 30.4.1975 nầy, rất nhiều bộ đội khi quay về miền Bắc để đi phép hay giải ngũ (mà họ gọi là phục viên) thì người nào người nấy cũng cố mà mua sắm ít hàng hóa của miền Nam để làm quà cho mình và thân nhân. Người có tiền thì mua TV, Radio, Đồng Hồ đeo tay…Người ít tiền thì mua quần áo, đồ chơi… Hầu hết bộ đội có gia đình đều mua một Búp Bê bằng nhựa (có thể chớp mắt mở mắt) để làm quà cho con cháu mình. Có bộ đội thì chiếm đoạt hẳn đồ đạc còn lại (coi là chiến lợi phẩm) trong những căn nhà mà chủ đã di tản ra ngoại quốc khi họ đóng quân nơi đó.

Chính vì sống trong một xã hội lạc hậu nên có quá nhiều câu chuyện (mà ta tưởng là chuyện đùa, tiếu lâm tân thời như các mẩu chuyện kể trên) về anh bộ đội cu. Hồ sau khi được tiếp xúc với xã hội miền Nam VNCH. Xã hội miền Nam VNCH khi đó nếu là phồn vinh giả tạo (theo biện giải của các tay đầu lĩnh Hà Nội) nhưng cho dù có giả tạo thì người dân cũng vẫn còn có phồn vinh trong khi miền Bắc XHCN thì rõ ràng là có nghèo đói thật.

Thân nhân của người viết bài nầy là một bộ đội miền Bắc trong thời điểm 30.4.1975 khi đó. Khuôn mặt đầy vẻ ngạc nhiên và buồn bã, người bà con nầy thổ lộ tâm tình cho biết: Từ những chiến dịch ở Tây Nguyên (các tỉnh miền Trung VNCH), không hiểu tại sao mỗi khi bộ đội CS kéo quân đến bất kỳ nơi nào thì người dân miền Nam ở nơi đó đều tìm cách bỏ của chạy lấy người về phía quân Nguỵ? Rồi khi bộ đội CS vào được đô thành Saigon thì người bà con nầy mới biết miền Nam VNCH quá sức phồn vinh, bỏ xa lơ xa lắc miền Bắc XHCN. Nhiều người dân miền Bắc khi có công việc vào miền Nam, nếu dừng chân ở một
khu phố nào đó trong Saigon (trong các năm sau 1975) thì họ tưởng như đang đứng trong một thành phố nào đó ở nước ngoài.

Thực sự trong lòng người dân miền Nam VNCH khi đó, không ai cười về những hành động những cử chỉ kiểu Mán Về Thành, Cả Quỷnh hay Không Biết Tại Sao…của các bộ đội miền Bắc nầy. Vì người dân miền Nam VNCH biết bộ đội (cũng như toàn thể dân chúng miền Bắc XHCN) đều là nạn nhân của thói bưng bít tin tức của lũ cầm quyền trong xã hội CS. Đám đầu lãnh CS Hà Nội không muốn người dân biết về một cái gì đó (như sự sung túc về kinh tế, sự dân chủ.tự do về chính trị của miền Nam VNCH) thì làm sao người dân miền Bắc biết được. Kể cả những thứ rất bình thường tại các nước (và tại miền Nam VNCH trước đây) như chuyện cái Phin lọc cà phê trong bài viết nầy.

Chiến tranh hai miền Nam.Bắc VN đã lùi xa 34 năm rồi. Giờ đây, chắc chắn không còn ai trong nước Việt vào một tiệm cà phê lại buột miệng gọi món: Cái Nồi ngồi trên cái Cốc nữa (ngoại trừ họ đùa giỡn với nhau) nhưng ý nghĩa câu chuyện cái Nồi ngồi trên cái Cốc vẫn còn trong tư duy của đảng CSVN vì; Những điều thật bình thường ở các quốc gia khác hiện nay mà đảng CS vẫn muốn người dân trong nước Việt không được biết đến đó là các thứ quyền của người dân như: Cư trú, Lập hội, Ngôn luận, Ứng cử thậm chí Bãi miễn chính quyền nữa… Những món hàng Dân Quyền nầy vẫn xa lạ với người dân Việt trong nước mà nguyên do là các tay đầu lãnh CS Hà Nội muốn duy trì như vậy.

Tự do cư trú, quyền lập hội lập đảng mới, tự do ngôn luận, quyền ứng cử, quyền bãi miễn chính phủ… Nhiều thứ quyền mà người dân chưa hề thấy (kể từ khi đảng CS cai trị nước Việt tới nay), dù là trong Hiến Pháp CS đã ghi rõ rành rành. Duy trì một xã hội nghèo đói, lạc hậu là để người dân vì đói vì nghèo nên chỉ biết tìm cái ăn cái mặc còn tâm trí đâu mà tìm hiểu những quyền con người được hưởng để chống lại bọn cầm quyền. Hầu như xã hội CS nào cũng đều một cách thức điều hành đất nước y một kiểu như vậy.

Nhân ngày 30.4 kể lại câu chuyện cái Phin cà phê nầy, tác giả không có ý viết để dè bỉu để chê cười cái ngây ngô của bộ đội miền Bắc trong những ngày năm xưa đó mà chỉ muốn nhắc nhở với những người còn tin vào chế đô. CSVN. Chính chế độ nầy đã đang và sẽ là rào cản mọi tiến bộ của đất nước nếu vẫn còn tiếp tục cai trị. Đám đầu lãnh CS Hà Nội hiện giờ vẫn cứ cố sức mô tả là người dân Việt trong nước có đầy đủ các thứ dân Quyền (theo kiểu ở ngoài miền Bắc chạy đầy đường nhưng thực sự là không hề có) giống y cách gọi cái Nồi ngồi trên cái Cốc năm xưa trong các câu chuyện kể về các bộ đội CS. Ai (người nước ngoài) mà nói dân ở VN hiện không có các thứ quyền nầy thì đều nhận được câu trả lời của đảng và chính quyền CS Hà Nội là người đó xuyên tạc tình hình (xã hội.chính trị) tại VN.

Viết để nhớ lại ngày 30.4.1975
Phạm Thắng Vũ
April 14, 2009

nguồn: http://chauxuannguyen.org/

Nâng chén, cụng li, 

chạm cốc và đụng lon

Nguyễn Dư

 Nước ta còn thiếu nhiều cái nhưng chắc chắn không thiếu karaoke, tiệm cà phê, quán nhậu. Chỗ này cười nói, chỗ kia hò hét. Ăn uống món gì, chất lượng ra sao hạ hồi phân giải. Trước mắt, cứ dzô xem động tiên, động tiền, động cỡn ra sao…

Đồ uống và cách uống của ta đã trải qua nhiều thăng trầm, trồi sụt. Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi (Phạm Duy).

Thời xa xưa, các cụ hãnh diện bảo nhau nam vô tửu như kì vô phong. Bọn đàn ông chúng mình không có rượu trông vô duyên như cờ không được gió phất. Những lúc trời đất nổi cơn gió bụi, ngồi trong nhà rung đùi chén tạc chén thù, chén chú chén anh, phong lưu ra phết. Rượu vào, hứng ra. Ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ (Cao Bá Quát).

Rồi đến thời làm trai biết đánh tổ tôm, uống chè Chính Thái, xem nôm Thuý Kiều.

Nhưng rượu vẫn là thú tiêu khiển chính của văn nhân mặc khách.

Trời say trời cũng đỏ gay,

Đất say đất cũng lăn quay ai cười (Tản Đà).

Ngày nay ngoài rượu, chè (trà), bạn bè còn mời nhau uống cà phê (café), uống bia (bière).

Cụng li , chạm cốc tưng bừng. Mắt mờ, tay run… Dzô ! Dzô ! Quên hết mọi chuyện. Quên lời vợ con đay nghiến. Quên luôn cả cách kiếm đồng tiền lem nhem, lẩn khuất.

Uống nước nhớ nguồn.

Uống cà phê, uống rượu, uống bia thì nhớ cái gì ? Đề nghị nhớ mấy cái chén, bát, li, cốc, tách đựng đồ uống. Trước khi nhớ, xin tìm hiểu thêm mấy cái lỉnh kỉnh này một chút.

Nhân lúc trà dư tửu hậu, tội gì không đem mấy cái bát, chén, li, cốc, tách ra bàn cho sướng miệng !

Cái bát, cái chén

– Mấy khi khách đến chơi nhà

Lấy than quạt nước chén trà người xơi (Dân ca Quan họ)

– Tay tiên chuốc chén rượu đào

Đổ đi thì tiếc uống vào thì say (Dân ca Quan họ)

– Mừng ông dâng rượu ngon một bát

Thế cũng là đàn hát lọ chi (Nguyễn Khuyến)

Bát có rất sớm. Tàu và ta đều có bát.

Tên bát có nguồn gốc từ tiếng Phạn bát đa la nghĩa là cái bát ăn của nhà sư (Thiều Chửu).

– Bát cơm xơ nhờ ơn xã tắc

Gian lều có đội đức Đường Ngu (Nguyễn Trãi)

– Một bầu, một bát, vững sơn tăng,

Thế sự ngoài tai, biếng nói năng (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Ta dùng bát để ăn cơm. Bát lớn dùng đựng canh.

Cái chén chữ Hán là trản. Chữ Hán phân biệt 2 loại trản :

– Trản (bộ Mãnh) là chén nhỏ bằng sành, sứ hay đất nung.

– Trản (bộ Ngọc) là chén bằng ngọc.

Thông thường thì chén nhỏ hơn bátChén dùng để uống trà, uống rượu. Nhưng cũng có nơi quen gọi cái bát ăn cơm là cái chén. Có người dùng bát uống rượu thay chén.

Cái chén được văn thơ dùng rất nhiều. Thơ nôm của Nguyễn Trãi có 9 bài có chén rượu. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có 9 bài có cái chén. Truyện Kiều của Nguyễn Du đếm được 24 cái chén. Đủ loại chén dùng theo nghĩa đen, nghĩa văn chương bóng bảy (1).

Cái bát, cái chén do chữ Phạn, chữ Hán mà ra và đã được người Việt quen dùng từ lâu đời.

Sang thế kỉ XX, cái chén vẫn còn chiếm địa vị quan trọng trong văn học. Vũ Đình Long sáng tác vở kịch Chén thuốc độc (1921). Nguyễn Tuân viết Chén trà trong sương sớm (1940) v.v. Nhưng cái chén bắt đầu bị cái li, cái cốccạnh tranh.

Từ cuối thế kỉ XIX, xã hội Việt Nam được làm quen với một số đồ dùng bằng thuỷ tinh như chai, lọ, bóng đèn (thông phong), lọ mực của học trò v.v. của thực dân Pháp.

Mọi người bảo nhau phải trông mặt đặt tên cho mấy sản phẩm ” chất lượng cao ” bằng thuỷ tinh mới lạ kia.

Cái li

– Chiều nay nàng đến trong ly rượu

Tôi uống vơi vơi hết cả nàng (Đỗ Huy Nhiệm, Say)

– Ngày Xuân nâng chén ta chúc nơi nơi

Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi

Nhấc cao ly này

Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do… (Phạm Đình Chương, Ly rượu mừng)

Phạm Đình Chương vừa nâng chén vừa nhấc li.

Đại Nam quốc âm tự vị (1895) của Huỳnh Tịnh Của định nghĩa:

– Li (chữ Hán, bộ Ngọc) : loài chai đá trong suốt, loại thuỷ tinh.

– Lưu li, Pha li (hay pha lê) có nghĩa giống chữ Li. Một li rượu là một chén rượu.

Huỳnh Tịnh Của đã giới thiệu cái li với mọi người. Li là một loại chén đặc biệt, làm bằng   thuỷ tinh.

Cái li đã đến từ chữ Hán lưu li hay pha li.

Tranh dân gian Oger (1909) có tấm Tiện bóng đèn pha li. Pha li của dân gian có nghĩa là thuỷ tinh.

Tiện bóng đèn pha li

Cái li phải là li thuỷ tinh. Chén sành, chén sứ hay chén đất nung, lớn hay nhỏ đều không phải là li. Cái li giấy, li nhựa của ngày nay đều là… li giả.

Từ thời Tự Đức trở về trước dân ta chưa dùng đồ uống trà, uống rượu làm bằng thuỷ tinh. Vì vậy mà thơ văn cổ của ta chỉ có cái bát, cái chén chứ không có cái li, cái cốc.

– Có chắc không hay lại nói bậy? Nhất Thanh dẫn chứng thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm có cái li đây nè ! Ông không biết câu ” Trong li rượu thọ ánh xuân tươi ” của bài Ngụ hứng quán Trung Tân sao ? (2)

– Xin lỗi, tôi chỉ biết… cái cốc của bài Ngụ hứng quán Trung Tân thôi. Câu thơ Trản lạc xâm hoa sắccủa Nguyễn Bỉnh Khiêm được Ngô Lập Chi dịch thành Chén, cốc, ánh sắc hồng (3).

Quán Trung Tân thời Nguyễn Bỉnh Khiêm chắc chắn không có cái li hay cái cốc.

Nhất Thanh và Ngô Lập Chi đã tặng li, cốc cho Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đúng ra thì phải dịch chữ trản sang tiếng Việt làcái chén.

(Gần thành phố Huế có núi Ngọc Trản (Chén ngọc), được dân gian gọi là Hòn Chén).

Câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm nên dịch là Trong chén rượu thọ ánh xuân tươi (Nhất Thanh) hay Chén (rỡ) ánh sắc hồng (Ngô Lập Chi).

Cái cốc

Cốc là tên gọi cái chén thuỷ tinh của miền Bắc.

Năm 1943 Thạch Lam viết Hà Nội băm sáu phố phường. Trong bài Hàng nước cô Dần có đoạn :

” Nhưng hàng cô Dần có một chút đặc biệt hơn: cô không bán nước vối hay nước chè tươi (…). Cô bán nước chè uống với đường (…).

Ai uống nước đường thì đã có cốc thuỷ tinh, một xu một cốc. Cô múc vào cốc một thìa đường, – tuy đường đắt mà xem ra cô cũng múc nới tay lắm -, nghiêng bình chè rót đầy cốc, và đưa lên cho khách với cái nhìn của đôi mắt nhỏ, lanh lẹn, hai con ngươi đen bóng loáng, như hai con mắt của một con vật non nào.

Ăn cơm, uống rượu xong mà được một cốc nước chè đường rất nóng thì ai chả thích… ” (4).

– Thoáng hiện em về trong đáy cốc

Nói cười như chuyện một đêm mơ (Quang Dũng, Đôi bờ)

– Cốc rượu hồng, hi vọng sáng rung rinh,

Mùi son phấn khác gì hương trinh bạch ? (Đinh Hùng, Hương trinh bạch)

Miền Nam không dùng cốc. Nhưng gốc gác của cốc lại là… miền Nam.

Tự vị Huỳnh Tịnh Của có cốc rượu (chén rượu). Nhưng Từ điển Génibrel (1898) không có cái cốc. Điều này cho thấy cuối thế kỉ XIX, cốc chưa được dùng rộng rãi trong dân chúng.

Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức định nghĩa:

– Cốc : đồ dùng để uống rượu, thường làm bằng thuỷ tinh. Có nơi gọi là ly.

– Li : cốc thuỷ tinh.

Tự điển Việt Nam (1971) của Ban tu thư Khai Trí cũng định nghĩa :

– Cốc : đồ dùng để uống rượu, uống nước.

– Ly : cốc thuỷ tinh.

Li (hay ly), cốc giống nhau. Cả hai đều là đồ dùng để uống nước, uống rượu, làm bằng thuỷ tinh. Tại sao đã có li rồi còn rắc rối có thêm cốc?

Tên cốc từ đâu ra ? Xin tạm đưa ra hai cách giải thích.

1- Tự vị Huỳnh Tịnh Của có cái cúp (tiếng mới), nghĩa là cái chén cócán.

Có thể cái cúp (coupe) của Pháp bị nói trại thành cái cốc.

2- Trở lại thời thực dân Pháp mới chiếm đóng nước ta…

Đạo Thiên Chúa được người Việt gọi là đạo Cơ Đốc.

Tự điển Khai Trí và Từ điển Đào Duy Anh cho biết Cơ Đốclà phiên âm của chữ Christ ( Đức chúa cứu thế). Christđược Tự điển Gustave Hue (1937) phiên âm là Cơ lợi tư đốc. Cơ lợi tư đốc nói gọn lại Cơ Đốc

Mặt khác, cristal của tiếng Pháp được ta gọi là thuỷ tinh, pha li.

Có thể suy đoán rằng cái chén thánh bằng cristal dùng trong các buổi lễ của nhà thờ đã được giáo dân phiên âm theo cách nói của người Việt.

– Cristal có âm đầu crist, phát âm giống Christ.

– Christ được phiên âm và rút gọn thành Cơ Đốc. Có thể crist cũng đã được các giáo dân phiên âm thành cơ đốc. Cáichén thánh bằng thuỷ tinh được gọi là cái cơ đốc.

– Cơ đốc được rút gọn thành cốc. (Cơ + Đốc = C + ốc = Cốc).

Cristal (thuỷ tinh) trở thành cốcCái chén bằng thuỷ tinh được gọi là cái cốc.

Tranh dân gian Oger có cái Đèn cốc.

Đèn cốc

Đèn cốc nhìn thấy cả bên trong lòng đèn. Đèn cốc là đèn làm bằng thuỷ tinh.

Cốcli đều có nghĩa là thuỷ tinh. Cái chén thuỷ tinh được trong Nam gọi là cái li, ngoài Bắc gọi là cái cốc.

Đồ thuỷ tinh được dân ta ưa chuộng, được khuyến khích sản xuất :

Việc kỹ nghệ, việc bán buôn,
Nơi lò hấp bát, nơi khuôn đúc đồng,
Chè tơ lụa gai tơ nhung vỏ,
Với đồ sơn vân mẫu pha lê.
Dao với quạt, tàn với xe,
Đủ mùi hải lục, họp nghề nông thương… (Bài ca Á-Tế-Á, 1905) (5).Khoảng năm 1950 Hà Nội có kem cốc. Có cốc nguyên tử làm bằng thuỷ tinh được tôi luyện đặc biệt, khi vỡ thì vỡ thành mảnh nhỏ không có cạnh sắc, mũi nhọn (verre pyrex, verre sécurit).Thực dân Pháp còn để lại cái tách (tasse) uống cà phê. Tách nhỏ hơn cốc, thường làm bằng sành, sứ. Tách khác chén ở chỗ có tay cầm.

Sau 1975, miền Nam được nếm mùi cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc. Thật ra chỉ là bình mới rượu cũ thôi. Cà phê phin(filtre) được đổi tên mới ngộ nghĩnh.

Cái nồi ngồi trên cái cốc. Cái nồi Việt Nam ngạo nghễ ngồi trên đầu cái cốc Tây. Ta đã thắng, đã đồng hoá được thực dân ! Cái thời ăn xó mó niêu đã qua, cái nồi đường đường bước lên địa vị ăn trên ngồi trốc.

Công dụng chính của licốc bây giờ là chứa bia. Sành điệu thì dùng licốc bằng thuỷ tinh. Lạc điệu thì li giấy, cốcnhựa. Say hay sai cũng chả đụng đến cái lông chân ai.

Nước ta bây giờ có rất nhiều thương hiệu bia. Chưa uống mà đã hoa cả mắt. Hà Nội, Hoàn Kiếm, Trúc Bạch, Halida (Hà Nội liên doanh với Đan Mạch), Huda (Huế-Đan Mạch), Sài Gòn đỏ, Sài Gòn xanh, 33, 333, BGI (Brasserie et Glacière de l’Indochine thời Pháp thuộc), Larue (ta quen gọi là bia con Cọp)… Nghe nói vài tỉnh khác cũng lăm le sản xuất bia. Đấy là chưa kể cả chục thứ bia ngoại. Bia ngoại chưa chắc đã… đã, nhưng chắc chắn là đắt hơn bia nội. Đúng đứt đuôi con nòng nọc rồi! Phải đắt… mới sang chứ!

Trăm hoa đua nở, trăm quán đua mở bia.

Từ sáng đến tối, từ tỉnh thành đến thị xã, ngày ngày tuổi trẻ cụng li, chạm cốc. Mấy ông già nâng chén. Đám ngưu ẩmđụng lon. Vui như làng vào đám.

Trăm năm bia đá còn đầy
Nghìn năm bia miệng phây phây, ai cười?

Nguyễn Dư

(Lyon, 4/2014)
(1)- Đào Duy Anh, Từ điển truyện Kiều, Khoa Học Xã Hội, 1989.
(2)- Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu, Đất lề quê thói, 1968, Đại Nam tái bản, tr. 146.
(3)- Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Văn Học, 1983, tr. 296.
(4)- Tuyển tập Thạch Lam, Văn Học, 1988, tr. 211.
(5)- Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX, Văn Học, 1976, tr. 688.

nguồn:  http://chimviet.free.fr/

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: