Vũ Thất

Bảo Bình 1

Cái nhìn lạc quan về Đất nước trong năm 2015 (Phần II)

Cái nhìn lạc quan về Đất nước trong năm 2015 (Phần II)

   Lê Quế Lâm
 Năm 2015 đánh dấu 40 năm biến cố 30/4/1975. Từ ngày đó, hai miền đất nước sống dưới gông cùm Cộng sản, và có nhiều dấu hiệu cho thấy đất nước đang dần dần bị Hán hóa. Vì thế, chuyển đổi chế độ từ độc tài cộng sản sang dân chủ tự do là khát vọng nóng bỏng của toàn dân. Ước mơ này sớm muộn gì cũng sẽ xảy ra, vì đó là xu thế phát triển tất yếu của xã hội…Nhưng đồng bào đã mòn mõi trông chờ quá lâu rồi, nên có vẻ bi quan. Tôi tin tưởng năm 2015, thời điểm đã chín muồi để ước mơ trở thành sự thật. Tôi xin được chia sẻ cái nhìn lạc quan về Đất nước với bằng hữu và bạn đọc, coi như lời Chúc Mừng Năm Mới Lạc quan và Hy vọng. Đất nước chuyển mình, Hoa Tự Do nổ rộ trên quê hương thân yêu.
Nửa thế kỷ trước tôi nhập ngũ, được Quân đội giao nhiệm vụ làm công tác khai thác và nghiên cứu tài liệu về cuộc chiến VN. Tôi đeo đuổi công việc này suốt cuộc đời với sự say mê cuồng nhiệt. Năm 1993, tôi xuất bản quyển Việt Nam-Thắng và Bại. Theo tôi, cái thắng của CS năm 1975 không quang minh chính đại, có thể nói CS “bị thắng” hay “được thắng” và sẽ đón nhận những hệ quả khôn lường.
Sở dĩ tôi có ý nghĩ trên vì trong cuộc chiến VN, người lính Mỹ không được phép thắng, tức nhiên CSVN sẽ “được” thắng. Hơn một tháng sau khi nhậm chức, ngày 24/2/1981, TT Ronald Reagan đến Ngũ Giác Đài trao gắn Huân chương Danh dự của Quốc hội –huy chương cao quý nhất của HK cho Thượng sĩ Roy P. Penavidez, là một trong hơn 3,5 triệu chiến binh Mỹ đã chiến đấu ở VN. TT Reagan bắt đầu bài phát biểu tuyên dương Thượng sĩ Roy “Cách đây không lâu, các chiến binh Mỹ, đáp lời kêu gọi của đất nước đã chiến đấu dũng cảm như bất cứ những con dân nước Mỹ trong lịch sử chúng ta. Họ chiến đấu và trở về không chiến thắng, không phải vì họ bị đánh bại, mà vì họ không được phép thắng” (They came home without a victory not because they’d been defeated, but because they’d been denied permission to win).
Từ trước đến nay, nhiều người luôn nghĩ rằng Mỹ chiến đấu ở VN là để đánh bại CS Bắc Việt, bảo vệ sự tồn tại của Miền Nam tự do… Nhưng Mỹ không chủ trương chiến thắng cuộc chiến để bảo vệ VNCH, nên lên án Mỹ phản bội đồng minh mà không ai để ý đến tuyên bố của TBT Lê Duẫn: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, Trung Quốc”. Để bành trướng ảnh hưởng của mình nên LS, TQ tận lực giúp CSVN . Còn Bắc Việt dùng bạo lực của nền chuyên chính vô sản đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc lao vào cuộc chiến xâm lược Miền Nam như những con thiêu thân. Vì thế dù có sức mạnh, HK cũng không thể chiến thắng cuộc chiến này bằng quân sự. Tháng 3/1965, HK đưa quân chiến đấu vào Miền Nam VN, họ nói rõ: HK không chủ trương tiêu diệt miền Bắc, mà chỉ áp lực Hà Nội. ngồi vào bàn đàm phán để vãn hồi hòa bình ở VN, HK sẽ rút quân.
Sau khi BV chịu tham dự cuộc thương thuyết ở Paris hồi tháng 5/1968, HK chấm dứt việc oanh tạc miền Bắc. Sau đó từng bước rút quân khỏi miền Nam. Hai tháng sau khi hiệp định hòa bình Paris 1973 ra đời, không còn một người lính chiến đấu nào của Mỹ còn ở lại VN. Gần 6 vạn binh sĩ tử thương, trên 300 ngàn bị thương tật, HK đã mang lại hòa bình cho VN. Một nền hòa bình trong danh dự, không làm mất uy tín bất cứ một cường quốc nào, một phe phái nào. Trái lại, còn mang lại lợi ích không những cho ba bên ở VN mà còn vì  lợi ích cho cả LS, TQ và Mỹ. HĐ Paris 1973 được một hội nghị quốc tế về VN có mặt đầy đủ 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo An và ông Tổng thư ký LHQ, tán thành.
CSVN chủ trương “đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô và Trung Quốc” để tăng cường, bành trướng phe xã hội chủ nghĩa. Còn HK can dự vào cuộc chiến VN, không phải để tiêu diệt CSVN, mà để tái lập hòa bình ở VN, tôn trọng quyền dân tộc tự quyết và các quyền tự do dân chủ của nhân dân VN, tôn trọng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước VN. Để thực hiện mục tiêu này, HK tìm cách phân hóa mối quan hệ Nga Hoa; đào sâu sự xung đột giữa hai cường quốc CS này; tranh thủ Bắc Kinh hợp tác với Mỹ để kết thúc chiến tranh VN. Hai bên thỏa thuận, sau khi chiến tranh chấm dứt, HK rút lui khỏi Đông Nam Á, ba nước Đông Dương không thuộc ảnh hưởng bất cứ cường lực nào. Miền Nam VN, Cam Bốt và Lào trung lập.
Ngày 21/4/1975 TT Nguyễn Văn Thiệu từ chức và xuất ngoại. Sau đó TT Trần Văn Hương được sự đồng ý của Lưỡng viện Quốc hội trao quyền cho cựu Đại tướng Dương Văn Minh. Chính phủ DVM bao gồm những thành phần yêu chuộng hòa bình, thuộc Lực lượng thứ ba chủ trương trung lập MN và hòa hợp hòa giải dân tộc theo tinh thần HĐ Paris 1973… Nhưng CS Bắc Việt bắt ông DVM phải đầu hàng. Hai bên MNVN chỉ còn một bên là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam VN tức Mặt trận Giải phóng Miền Nam mà Cương lĩnh của Mặt trận này cũng chủ trương MN trung lập. Sau đó, MTGPMN và Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMN cũng bị giải tán. Cưỡng chiếm xong MN, Hà Nội đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Việt Nam, đưa cả nước vào quỹ đạo Liên Sô. Đây là hành động mù quáng, ngông cuồng của một đảng giành quyền độc tôn lãnh đạo đất nước, luôn tự nhận làm nghĩa vụ dân tộc. Nhiều triệu đồng bào đã chết để đất nước thống nhất, Đảng CSVN lại hy sinh quyền lợi đất nước, tình nghĩa dân tộc để phục vụ Liên Sô. Hành động phản dân hại nước này đã bị TQ trừng phạt và còn bị lên án là phường vong ân bội nghĩa.
Đầu tháng 9/1978, Lê Duẩn đến Moscow cùng Breznhev ký Hiệp ước Hữu nghị & Hợp tác Sô Việt. Dựa vào Liên Sô, ba tháng sau, vào Mùa Giáng sinh 1978 Hà Nội đưa quân sang Phnom Penh lật đổ chế độ Pol Pot thân Bắc Kinh. Vì hành động này, Bắc Kinh bình thường hóa bang giao với Mỹ (1/1/1979). Ngay sau đó Đặng Tiểu Bình viếng thăm HK, ông hô hào Mỹ, Nhật, Tây Âu hợp tác với Trung Quốc thành lập một liên minh chống bá quyền mà LS là tên “đại bá quyền” còn CSVN là tên “tiểu bá quyền khu vực”. Ngày 17/2/1979, Đặng huy động 60 vạn quân tấn công VN “dạy cho một bài học” Cuộc chiến Đông Dương lại tái diễn, lần này không phải giữa thực dân đế quốc với phe xã hội chủ nghĩa, mà là giữa các nước CS: Việt Nam, Trung Quốc và Campuchia. Cuộc chiến kéo dài 10 năm và khi chấm dứt, cũng là lúc khối XHCN ở Đông Âu và Liên Bang Sô Viết tan rã. Mất chỗ dựa, CSVN phải quay về thần phục Bắc Kinh, thà chịu mất nước chớ không để mất đảng, để tiếp tục xây dựng xã hội chủ nghĩa, thế giới đại đồng, không còn ranh giới quốc gia nữa.
Thắng để tiếp nhận cái Bại có nguy cơ làm mất nước, tất sẽ đưa chế độ CS đến chỗ cáo chung, mở đầu một chương sử mới huy hoàng của dân tộc. Nay thời cơ đã đến, trong thời đại tin học tân tiến, những sự thật lịch sử lần lượt được phơi bày, giúp người dân cũng như những người lãnh đạo mạnh dạn dấn thân làm cuộc cách mạng vì thế trận quốc tế đang diễn ra rất thuận lợi cho đất nước chuyển mình.
Trong 40 năm qua, có những biến cố đột biến không ai ngờ đã xảy ra, làm thay đổi lịch sử: Năm 1975 HK bỏ rơi VNCH khiến Miền Nam tự do rơi vào tay CS. Sau đó LHQ thành lập Phủ Cao ủy Tị nạn cứu giúp cả triệu đồng bào ta lánh nạn CS định cư ở hải ngoại, đa số sống ở các nước văn minh tân tiến nhất thế giới. Rồi LS và khối CS Đông Âu sụp đổ. Rồi đây, còn có những biến động đột ngột nữa sẽ xảy ra làm đảo lộn cả cuộc diện thế giới có ảnh hưởng tốt đến đất nước.
Tháng 4 năm 2014 trôi qua, loạt bài viết về ngày 30/4/1975 của tôi cũng chấm dứt, Ngay sau đó, biến động lớn đã xảy ra khi TQ đưa giàn khoan dầu vào thềm lục địa VN gần đảo Hoàng Sa. Ngày 11/5/2014, trong diễn văn đọc trước hội nghị thượng đỉnh lần thứ 24 của khối ASEAN ở thủ đô Miến Điện, TT Nguyễn Tấn Dũng đã thông báo “Từ ngày 1/5/2014 Trung Quốc đã ngang nhiên đưa giàn khoan nước sâu cùng hơn 80 tàu vũ trang, tàu quân sự và máy bay hộ tống đi vào vùng biển Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan vào, hạ đặt tại địa điểm nằm sâu trong Thềm lục địa và vùng Đặc quyền Kinh tế của một nước trong ASEAN, là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng Luật pháp Quốc tế…Hành động cực kỳ nguy hiểm này đã và đang đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông.Trước tình trạng nghiêm trọng này, VN đề nghị ASEAN, chúng ta tăng cường đoàn kết, thống nhất …đồng thời yêu cầu TQ tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước LHQ về Luật biển 1982, đặc biệt phải tôn trọng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các quốc gia ven biển…”
Trước yêu cầu khẩn thiết của CSVN, song Thông cáo chung kết thúc hội nghị cũng như diễn văn khai mạc và bế mạc của Chủ tịch hội nghị là TT Thein Sein của Miến cũng không nói gì đến vấn đề giàn khoan cũng như hành động gây hấn của TQ. Không có nước ASEAN nào ủng hộ VN, họ coi sự tranh chấp giữa VN và TQ là chuyện nội bộ của họ, nên không can thiệp để hai bên giải quyết với nhau. Báo NY Times nhận xét VN đã thất bại trong việc vận động bạn bè ủng hộ trong cuộc đối đầu với TQ. Phản ứng của HK cũng không khác gì thái độ của ASEAN dù NT John Kerry đã nhận xét hành động của TQ có tính khiêu khích.
Trước phản ứng của thủ tướng VN và các cuộc biểu tình chống TQ diễn ra nhiều nơi, ngày 15/5/2014 trong chương trình phát thanh tiếng Việt của đài Tiếng Nói Nhân dân Trung Hoa nghe được trên mạng lưới internet toàn cầu, có đề cập đến bản thông báo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về sự kiện này đăng trên tờ Thời Báo Hoàn Cầu của TQ. Nội dung cho biết TQ “đồng ý Hoàng Sa, Trường Sa và bờ biển thuộc VN”, nhưng đã  “thuộc về chủ quyền của TQ mà CSVN do TT Phạm Văn Đồng đã ký kết vào năm 1958”. Và TQ “có đầy đủ những bằng chứng để đem ra LHQ và buộc CSVN phải rút hết những tầu chiến của họ và để cho tầu Hải Dương 981 được trực tiếp làm nhiệm vụ thăm dò và khai thác dầu khí”. Bản tin còn nói rằng “Không hiểu vì lý do gì những người lãnh đạo trong Bộ chính trị đảng CSVN không công bố cho toàn dân biết là đã ký và công nhận quần đảo HS, TS và bờ biển VN thuộc về TQ…Các người đã thiếu nợ TQ trên 870 tỷ về chiến tranh Điện Biên Phủ và chiến tranh chống Mỹ. Thì bây giờ các người đã nhượng đảo và biển cho Cộng hòa Nhân dân TH thì không có lý nào các người không công bố cho tất cả mọi người dân biết để họ tiếp tục chống TQ”.(hết trích dẫn)
Ngày 22/5/2014, TT Nguyễn Tấn Dũng đến Manila (Phi Luật Tân) tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) khu vực Đông Á, một lần nữa ông lên tiếng công kích TQ về vụ giàn khoan HD 981. Ông kêu gọi ASEAN và các nước khác tiếp tục ủng hộ VN bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Trước đó, ông tuyên bố với báo chí “VN không đánh đổi chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viễn vông, lệ thuộc”. Ông Dũng cũng tham khảo với TT Benigno Aquino III của Phi về việc kiện TQ, nhưng “VN cân nhắc nhiều giải pháp khác nhau, kể cả giải pháp pháp lý theo luật quôc tế”.
Về phía TQ, họ đã gởi công hàm đến LHQ tố cáo VN gây hấn và đưa ra một số bằng chứng cho thấy VN nhìn nhận chủ quyền của TQ ở Hoàng Sa và Trường Sa. Trong các bằng chứng có lời tuyên bố của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm năm 1956, bản đồ, sách giáo khoa Địa lý lớp 9 và Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. Ngày 18/6/2014 Dương Khiết Trì viên chức cao cấp Quốc vụ viện TQ phụ trách đối ngoại đến Hà Nội thảo luận việc tranh chấp vùng biển, phía VN cũng chưa đưa ra tuyên bố chính thức nào để bác bỏ các lập luận của TQ. Hà Nội cũng chưa khởi kiện TQ trước Tòa án Quốc tế như Phi Luật Tân. Có lẽ vì thế, trong thời gian ở Hà Nội, tiếp xúc với các giới lãnh đạo CSVN, thái độ của họ Dương rất trịch thượng, y yêu cầu VN không được quốc tế hoá cuộc xung đột, phải chấm dứt hoạt động của các tàu quanh vùng giàn khoa HD 981 để cho TQ tiếp tục tìm kiếm dầu khí. Và “vì đại cục”, VN hãy cùng TQ “hành động theo một hướng”. Bản tin BBC ngày 20/6/2014 tiết lộ Tờ Hoàn cầu Thời báo bản tiếng Hoa đăng tải một bài xã luận trong đó gọi chuyến thăm của ông Dương ở Hà Nội là để thông qua việc đối thoại, TQ “thúc giục đứa con hoang đàng hãy trở về nhà”.
Trong biến động giàn khoan HD 981, TT Nguyễn Tấn Dũng có những tuyên bố chống TQ khá mạnh mẽ, trong khi Quốc hội không dám họp công khai về sự kiện này. Còn Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thì im hơi lặng tiếng, các cơ quan thông tấn quốc tế tiết lộ ông nhiều lần xin gặp Tập Cận Bình nhưng bị khước từ. TQ vẫn khăng khăng không đáp ứng đòi hỏi của Hà Nội: yêu cầu TQ rút giàn khoan và tàu ra khỏi vùng biển của VN. Cục diện đó kéo dài đến giữa tháng 7/2014 thì có chuyển biến lớn.
 
Ngày 9/7/2014 tại Bắc Kinh, TQ và HK gặp nhau tại diễn đàn Đối thoại Chiến lược và Kinh tế (US-China Strategic and Economic Dialogue gọi tắt S&ED) lần thứ 6. Trong bài phát biểu khai mạc, Chủ tịch TQ Tập Cận Bình cho rằng sự đối đầu giữa TQ và HK sẽ là một thảm họa, cả hai bên cần phải tôn trọng lẫn nhau và đối xử bình đẳng. Ông Tập nêu rõ “cả hai cần tăng cường hợp tác chống khủng bố và thúc đẩy việc đàm phán về hiệp định đầu tư song phương sớm hoàn tất”. Đại diện Mỹ tham dự Đối thoại là NT John Kerry tuyên bố “HK không tìm cách kiềm hãm TQ”. Ông nhấn mạnh “Mỹ hoan nghênh một nước TQ hòa bình, ổn định, thịnh vượng, đóng góp cho sự ổn định và phát triển trong khu vực cũng như thể hiện tinh thần trách nhiệm trong các vấn đề quốc tế”. Trong khi đó tại Washington, ngày 9/7 TT Obama khẳng định “Mỹ cam kết xây dựng mối quan hệ kiểu mới với TQ”. Ông nêu rõ: “Mỹ hoan nghênh một nước Trung Hoa hòa bình, ổn định và thịnh vượng”. Điều này đã được Obama thỏa thuận với ông Tập trong cuộc họp ở California hồi tháng 6/2013. Hai bên cam kết xây dựng “mối quan hệ kiểu mới’ giữa 2 nước, theo đó không xung đột và đối đầu, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi.
Trong lúc cuộc Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Mỹ Trung diễn ra ở TQ, thì tại Mỹ, ngày 10/7/2014 Thượng Viện HK với 100% phiếu thuận thông qua Nghị quyết “S.Res.412” lên án việc TQ sử dụng các hành vi khiêu khích và gây hấn để thay đổi hiện trạng, gây mất ổn định trong khu vực Châu Á/Thái Bình Dương. Nghị quyết yêu cầu Bắc Kinh rút giàn khoan Hải Dương 891 ra khỏi vị trí hiện tại, bảo đảm nguyên trạng như trước thời điểm tháng 5/2014. TQ đã đáp ứng ngay đòi hỏi này. Sáng thứ tư 16/7, Hong Lei – Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ thông báo giàn khoan dầu ngoài khơi mang tên HYSY 981 của Công ty dầu khí Quốc gia TQ  đang di chuyển khỏi vùng biển tranh chấp với VN tại đảo Hoàng Sa. Theo kế hoạch giàn khoan này hoạt động ở đây đến ngày 15/8/2014 mới rút đi
Tuần lễ trước, Tập Cận Bình đã xác định với Ngoại trưởng John Kerry là lập trường của TQ trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông với VN hiện nay là đúng và sẽ không từ bỏ, tuy nhiên TQ không muốn đối đầu với Mỹ. Như vậy, việc rút giàn khoan chứng tỏ TQ không muốn đối đầu với Mỹ ở Biển Đông, tạo sự ổn định trong khu vực để hai nước cùng hợp tác và phát triển. Ngoài mục tiêu trên, động lực chính khiến TQ phải nhượng bộ, là hiểm họa khủng bố Hồi giáo đang đe dọa TQ ở hướng Tây (Tân Cương) buộc TQ phải tạo ra không khí hòa dịu ở Biển Đông.
Ngày 29/6/2014, Abu Bahr al-Baghdadi -lãnh tụ Nhà nước Hồi giáo Iraq (Islamic State of Iraq gọi tắc là IS) tuyên bố thành lập Vương quốc Hồi giáo (Caliphate) mà ông ta là vua (Caliph). Kế hoạch hành động của Vua Hồi giáo và nhóm IS đặt trọng tâm vào việc báo thù cho “quyền lợi của người Hồi Giáo bị cướp đoạt ở 20 nước trên thế giới”, trong đó đứng đầu danh sách là TQ, kế tiếp là Ấn Độ. Ông ta lên án TQ thi hành chính sách cấm đạo và đàn áp người Hồi giáo ở Tân Cương và kêu gọi tất cả những người Hồi giáo ở đại lục cùng đứng lên lật đổ chế độ phi nhân này.
Có lẽ vì đe dọa của IS, giữa tháng 9/2014 Tập Cận Bình đến Ấn Độ thúc đẩy mối quan hệ thương mại Ấn Trung. Hai nước đang có sự tranh chấp chủ quyền trên cao nguyên Ladakh trong dãy Hi Mã Lạp Sơn phía Tây Ấn Độ. Nơi đây từng xảy ra chiến tranh hồi năm 1962. Hai nước đã tổ chức 17 vòng đàm phán về biên giới từ năm 1990 đến nay, nhưng không đạt tiến triển nào đáng kể. Vì thế Thủ tướng Ấn Narendra Modi đặt điều kiện với họ Tập “Cần có hòa bình trong quan hệ của chúng ta ở biên giới. Nếu điều đó diễn ra, chúng ta có thể nhận ra tiềm năng thực sự trong mối quan hệ này”. Đáp lại họ Tập đồng ý với thủ tướng Ấn về việc hợp tác để giải quyết tranh chấp và Trung Quốc sẽ đi theo con đường phát triển hòa bình. TQ cam kết sẽ đầu tư 20 tỷ mỹ kim trong vòng 5 năm tới tại Ấn Độ.
Hiện nay IS đang chiến đấu ở Iraq, Syria và họ không dại gì tiếp tục hoạt động ở đây để bị không quân Mỹ tiêu diệt. Họ sẽ thực hiện chủ trương của IS và vua Hồi giáo,, chuyển hướng về Tân Cương và khu vực Trung và Nam Á bao gồm ba nước giáp giới với Nga trong Liên bang Sô Viết cũ là Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan. Mông Cổ, Afghanistan và bang Jammu, Kashmir của Ấn. Dân cư khu vực này đa số theo đạo Hồi, có nguồn tài nguyên phong phú về dầu và khí đốt. Riêng Tân Cương có nguồn trữ lượng than đá lớn nhất thế giới. Nơi đây còn là hành lang vận chuyển năng lượng và là nguồn tài nguyên cung cấp cho nhu cầu công nghiệp hóa ở TQ.
Tân Cương nằm ở vị trí địa lý có vai trò chiến lược quan trong ở lục địa Âu-Á, giúp Nga và Trung Quốc mở đường tiến ra Ấn Độ Dương. Vì thế TQ thường tố cáo Mỹ ủng hộ các phần tử ly khai Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ đòi ly khai Tân Cương ra khỏi TQ. Tháng 6/2014 chính quyền Obama đã phóng thích 5 phiến quân quan trọng của Taliban chỉ để giải cứu Trung sĩ Bowe Bergdahl. Phải chăng Mỹ thả hỗ về rừng để khũng bố Hồi giáo khuấy động khu vực Trung Nam Á?  Lực lượng IS chuyển hướng về khu vực này có lợi cho Mỹ, sẽ giúp ổn định tình hình ở Iraq, Afghanistan và Trung Đông…Nhưng sẽ là bất lợi trong tương lai đối với TQ, Nga và cả Ấn Độ nữa.
Vì hiểm họa IS đang hiện ra trước mắt, Tập Cận Bình sẽ không còn coi Biển Đông là “quyền lợi cốt lõi” của mình nữa. Đây còn là quyền lợi chiến lược của Mỹ, Ấn, Nga, Nhật, Úc và nhiều nước khác nữa, nên cần hợp tác vớ các quốc gia này xây dựng khu vực Á châu/TBD ổn định, hòa bình và thịnh vượng. Ngoài hiểm họa khủng bộ Hồi giáo, thế giới còn đang đối đầu với dịch bịnh hiểm nghèo Ebola. Dịch bịnh này cũng tai hại không kém thiên tai và địch họa do chiến tranh gây ra. Nhất là TQ với dân số đông nhất thế giới, sẽ chết chóc nhiều và tốn kém lớn lao.
Nhân kỷ niệm lần thứ 25 bức tường Bá Linh sụp đổ (10/11/1989) cựu lãnh tụ LS Gorbachev nói rằng dịch bịnh Ebola và phiến quân IS là những nguy hiểm mà thế giới đang trực diện có thể giúp các nước thù nghịch đến gần nhau hơn. Điều nhận xét của người từng được giải Nobel hòa bình nhờ công lao cải cách dân chủ làm sụp đổ chủ nghĩa CS một cách êm thắm, đã thể hiện rõ tại các hội nghị thượng đỉnh APEC ở Bắc Kinh, thượng đỉnh ASEAN và Đông Á ở Miến và G20 ở Úc hồi gữa tháng 11 vừa qua. Nguyên thủ các cường quốc gặp nhau trong không khí hòa dịu, đều tỏ thiện chí hợp tác cùng nhau giải quyết những tai họa lớn.
(Còn tiếp đoạn chót Phần III)         
Lê Quế Lâm
nguồn: diendannguoidanvietnam.com
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: