Vũ Thất

Bảo Bình 1

40 năm 30/4

1. Bốn mươi năm Sài Gòn thất thủ:
chứng kiến chiến tranh Việt Nam kết thúc
 Lê Tùng Châu dịch
Lời Tòa soạn The Guardian: 30 Tháng Tư năm 1975 là ngày đánh dấu sự thất bại tan tành trong quân sử Mỹ khi quân Bắc Việt tiến vào thủ đô Sài Gòn. 40 năm sau ngày thực hiện những báo cáo về cơn chính biến cho tờ The Guardian, giờ đây Martin Woollacott suy ngẫm sự kiện đã mang lại tầm ảnh hưởng lớn cho cả hai quốc gia về sau này.

bài của Martin Woollacott trên báo The Guardian, Tuesday 21 April 2015

Lời người dịch:
 Là một ký giả người Anh chứng kiến ngày cuối cùng của Sài Gòn 40 năm trước, Martin Woollacott đã cho chúng ta một cái nhìn khách quan về cuộc chiến Việt Nam và nguyên do cuộc chiến ấy đi đến cái kết cục thua thiệt cho phe quốc gia ở miền Nam, chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)
Một ít dấu ngoặc […] và vài hình ảnh trong bài là do người dịch
Martin Woollacott (phải) 2006

Ngày tiếp theo sau khi Bắc Việt lấy được Sài Gòn, người ta đã nghe thấy từ lúc tinh mơ bài hát mừng chiến thắng. Trong đêm các “kỹ sư” của đội quân chiến thắng đã dựng loa phóng thanh lên và từ khoảng 5 giờ sáng phát không ngừng điệu nhạc giải phóng khô khốc. Đó là ngày 30 tháng 4 năm 1975 (1), khi ánh dương quang rực chiếu phố phường gần như trống rỗng của Sài Gòn mà cũng thời khắc đó thường lệ trước kia đã bắt đầu xe cộ rộn rịp và đường phố huyên náo dần lên. Nhưng nay hầu như chẳng ai biết phải làm gì- đi làm hay không, chợ búa, cây xăng còn bày bán không, hay có khi một cuộc đọ súng khác sẽ vẫn có thể bùng nổ ra nữa. 
Tất nhiên, đâu chỉ nếp sinh hoạt quen thuộc thuờng ngày của Sài Gòn nay đã bị phá vỡ hoàn toàn mà vai trò lâu đời của thủ đô phi cộng sản của Việt Nam đã biến mất qua chỉ một đêm, những người lính đã biến mất, và nhiều tướng lãnh, các chính trị gia và công chức lúc đó đang bồng bềnh những trên sàn tàu chiến ở Biển Nam Trung Hoa, được Hải quân Mỹ kéo chăn đắp quanh vai.

Xe tăng T-54 của Việt cộng bị QLVNCH bắn hạ trên đường Trương Minh Giảng – April 1975, đằng xa, phía sau là gác chuông cao của Nhà thờ Ba Chuông
 

Qua bao năm tháng tương tranh, chiến cuộc chẳng mấy khi dính tới Sài Gòn, trừ một ít trường hợp ngoại lệ như thỉnh thoảng có vài cuộc pháo kích bằng hỏa tiễn, một số vụ đánh bom nhà hàng, hay vụ xâm nhập nhỏ gây sửng sốt vào thành phố – thậm chí vào ngay khuôn viên Tòa Đại sứ Hoa Kỳ – trong trận tấn công vào dịp Tết 1968.
Trong cơn khiếp hãi qua đi Saigon cảm thấy như đã thoát khỏi điều tồi tệ nhất. Thực tế với điệu nhạc giải phóng vang vọng đường phố, một lần nữa Sài Gòn đã thoát dẫu ít người biết rằng Bắc Việt đã chuẩn bị sẵn sàng bắn nát thành phố với pháo binh hạng nặng và chiến đấu theo cách vốn dĩ của họ -theo từng khối- nếu gặp phải hàng phòng thủ và sức đối kháng mạnh hơn. 
Nếu Tổng Thống cuối cùng của Nam Việt Nam, Tướng Dương Văn Minh, không ban lệnh cho quân đội hạ vũ khí, Sài Gòn có thể lâm vào tình trạng rất xấu thực sự. Người Việt đã nói tếu rằng cộng sản lấy Sài Gòn “mà không phạm tới một cái bóng đèn” hay nói sái đi: “Thương vong nặng nề cho cả đôi bên, nhưng giao tranh vừa đến thành phố thì dừng”. 
Ở trung tâm, có nhiều khả năng lo lắng tình trạng vô luật pháp và nạn cướp bóc. Stewart Dalby của tờ Financial Times và tôi đang đi bộ dọc đường Tự Do, một trong những con phố chính của Sài Gòn, thì một người đàn ông trông vẻ hắc ám mặc áo bỏ ngoài quần đứng chắn lối chúng tôi. Anh ta đưa tay vào dây thắt lưng để lộ ra một khẩu súng, và liền đó thản nhiên nhấc chiếc máy ảnh đắt tiền ra khỏi cổ Dalby. Sự cố như thế đã đủ để thuyết phục mọi người rằng thà những người cộng sản nắm quyền kiểm soát hoàn toàn càng sớm bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
Vào cái ngày đầu của triều đại mới này, chẳng còn bóng dáng một người Mỹ nào ở cái Sứ quán trông như pháo đài trên đại lộ Thống Nhất nữa, có chăng là những tàn tích vụn vỡ của cuộc di tản hỗn loạn ngày hôm trước và kế đó là cướp bóc. Chẳng còn ai trong tòa đô chính với lối kiến trúc trang trí tinh vi, chẳng còn vị nghị sĩ nào trong nhà hát lớn thời Pháp để lại mà Quốc Hội từng dùng làm trụ sở nghị sự. Và Tổng Thống cũng chẳng còn trong dinh. Nguyễn Văn Thiệu đã bỏ nước ra đi. Người kế vị ông đã giữ quyền được một tuần trước khi bàn giao lại cho Minh. Minh nói với các sĩ quan Bắc Việt đầu tiên bước vào dinh rằng ông đã sẵn sàng để bàn giao quyền lực. Họ trả lời: “Ông chẳng có cái gì trong tay để mà bàn giao” và rồi bắt ông đi. Ông ta [Minh] đã làm Tổng Thống được chỉ có hai ngày.

 
Mẩu tin của Martin Woollacott trên báo The Guardian, April 30, 1975
 
Quả là quyền lực mà Minh nắm giữ thực ra chỉ là một ảo tượng, nhưng Sài Gòn đã sống với ảo tượng đó cả tuần. Trong thảo cầm viên, nơi mà cư dân của thành phố thường đưa con trẻ đến dạo chơi cuối tuần, bạn có thể nghe thấy hàng tá tin đồn theo nhiều cách khác nhau: “Pháp đang trở lại với hai sư đoàn,” một người nói. “Mỹ sẽ sớm thả bom thôi” một người khác nói. “Đang tiến đến một chính phủ liên minh,” người khác nữa…nói. Khi cái kết cục đang đến gần thì tâm lý phổ biến nhất dường như là “Chúng ta đều là người Việt Nam cả thôi”, như một ngụ ý lưng chừng giữa hy vọng và cam chịu. Đó là một ý nghĩ an ủi xoa dịu đối với nhiều người không có chức vị, hoặc không có những liên hệ mật thiết với chính quyền [cũ] hay với Hoa Kỳ. Họ sợ bị trả thù hay, ít nhất, sẽ bị điểm mặt bêu tên bởi đã tận tụy trung thành với chính quyền lúc trước. 
Với một số khác như chúng tôi chẳng hạn, chẳng có lý gì phải lo như vậy, những lo âu vốn bắt nhịp với những xung động điên đảo của thời thế đó. “Nỗi sợ Việt Cộng đã làm Sài Gòn mất hết vẻ thông thái vốn có”, một phóng viên đã viết thế. Nhiều người tìm cách ra đi, và vào những thời khắc cuối cùng, nhiều người đã ra đi trên những chuyến không vận đầu tiên bằng máy bay trực thăng – đó là những thành viên sớm sủa nhất của cộng đồng đông đảo gần một triệu người Việt đã rời khỏi đất nước sau năm 1975.
Các sĩ quan Mỹ điều khiển việc di tản đã rất khổ tâm khi lựa chọn. Để không làm yếu đi tình trạng mà họ đã bỏ mặc lại cho Nam Việt Nam tự vệ lấy, họ buộc phải lọc lựa những người nào được đi vào những chuyến đầu, đồng thời cũng phải xác quyết lời hứa chắc với những người còn ở lại, “nếu việc đó đến” (ngụ ý Nam Việt Nam có thể vẫn còn tồn tại dưới một dạng chính thức khác), mọi người sẽ được đưa đi hết vào phút cuối cùng. Đây là một lời hứa mà họ đã không giữ được. “Tiếng hét hoảng loạn của người di tản trên sóng vô tuyến CIA vào ngày cuối cùng giờ đây vẫn còn lay động lương tâm tôi,” Frank Snepp, một nhân viên của Chi Nhánh CIA tại Sài Gòn, đã viết kể lại vài năm sau đó 
(2)
Trước phút cuối một ngày, từ một chỗ ngồi thuận lợi dưới mái vòm của Caravelle, một trong hai khách sạn sang trọng của thành phố, tôi và các phóng viên khác chứng kiến cảnh hàng người ngày càng dài thêm, đang chờ đợi trong tuyệt vọng tại một điểm rước đi trên nóc của một tòa nhà gần đó. Như môt vở bi kịch câm không lời, trong vòng quay đập nhòe đi của cánh quạt máy bay, chúng tôi chợt dần hiểu rõ ra rằng không thể nào có được nhiều máy bay trực thăng Mỹ hơn nữa. Tại Tòa Đại Sứ Mỹ, sự tuyệt vọng như thể chết lặng đi. Đám đông khóc lóc bao vây nơi này, cầu xin cho nhập cảnh, trong lúc thủy quân lục chiến cố kéo vào một người có trọng quyền – một khuôn mặt trắng bệch cầu cứu – và đẩy ra khỏi những người không được chọn.
Ngày hôm sau, đoàn xe tăng tiến vào trước, chiếc nào chiếc nấy nòng súng chĩa dài ra như cái mũi của Pinocchio, hướng đến trung tâm của thành phố và dinh Tổng Thống. Chiến tranh thì có cái gì là quy củ và có một số chiếc bị lạc đường. Chúng tôi đã nhìn thấy một chiếc tăng quay đầu lui lại, bánh xích của nó rít lên ghê tai, sau đó tiến vào một bệnh viện Việt Pháp cũ, một nơi khó có vẻ gì là một mục tiêu quân sự được. Nhưng rồi đoàn tăng cũng tập hợp đủ tại các cổng dinh và sau đó băng qua cổng, chiếc di đầu mang theo một James Fenton vừa có vẻ hân hoan vừa bồn chồn, ông ta là một thi sĩ cũng là một ký giả, người có thể được xem như là thông tín viên cuối cùng của tờ Washington Post còn ở lại Sài Gòn. Khi đoàn quân mới tiến vào thì những người lính cũ tản mác đi dần, có khi họ phất tay với vẻ thất vọng cay đắng lần chót. Chúng tôi thấy có một đơn vị binh lính cố tình bắn ra tất cả các trái hỏa châu tín hiệu theo đội hình các màu xanh lá cây, đỏ, trắng, rồi lại xanh lá cây trước khi giải tán.
Những người lính mới, mà người ta đã sớm nhận ra cách gọi họ bằng chữ “bo doi” (“người lính đi bộ”), mặc một thứ đồng phục màu xanh lá cây trơn hơi mềm và đội mũ giống như mũ bảo hiểm cũ. Họ trông có vẻ nhẹ nhõm: chiến tranh đã kết thúc, họ đã không chết, và đã góp một phần làm nên chiến thắng vĩ đại. Vài ngày sau có một cuộc diễu binh để rồi sau đó nhiều người trong số họ rời bỏ Sài Gòn. Những người ở lại có vẻ lễ độ nhã nhặn và gần như có cái gì đó ngập ngừng do dự. Họ cho rằng hễ cứ người ngoại quốc da trắng thì là người Nga. Một số có vẻ như được mở mắt trước sự thịnh vượng của Sài Gòn, họ bị cuốn hút bởi đồng hồ -vốn chỉ các cấp tá quân đội Bắc Việt mới có được- và thích nhất là các đồng hồ có hiển thị ngày tháng. Họ gọi chúng là những “đồng hồ có cửa sổ”. Nếu đi đôi, họ nắm tay nhau với một ánh nhìn tò mò cảm xúc. Nhưng họ cũng đã chứng tỏ đã được huấn luyện kỹ. Khi một vài tay súng còn kháng cự bắn vào một đơn vị quân đội Bắc Việt gần công viên giữa dinh Tổng Thống và nhà thờ gạch đỏ của Sài Gòn [nhà thờ Đức Bà], các phóng viên đã nhìn thấy một sự sắp xếp lại đội ngũ gần như tức thì. Những người lính một phút trước đó còn cười nói, hút thuốc… liền nằm sấp xuống vừa thận trọng bắn lại vừa tổ chức đội ngũ tiến gần đến những kẻ tấn công. Điều đó nhắc ta nhớ tới một thời chiến tranh du kích đảm nhiệm phần lớn và đó cũng là lực lượng chủ lực lực dài ngày. Bắc Việt đổ vào Sài Gòn mọi thứ mà một quân đội hiện đại muốn có. Họ có dồi dào lượng xe bọc thép và pháo binh – tất cả mọi thứ ngoại trừ không lực. Trong khi đó Nam Việt Nam đã hầu như đã chẳng để lại tí không lực nào.
Việt Nam là một đấu trường quân sự, chính trị và đạo đức trong nhiều năm qua. Cuộc chiến đã choán quá nhiều trong tâm khảm của mọi người đến nỗi đôi khi ta có thể nói tất cả những gì không đúng với thế giới thì lại thành đúng ở đây. Vì vậy, nhiều điều quan trọng sẽ phải được phân định ở nơi này: bên nào sẽ ưu thắng trong mối tương tranh quốc tế giữa cộng sản và không cộng sản; liệu các quốc gia phương Tây có tiếp tục thống trị các nước cựu thuộc địa; liệu các nước nhỏ có thể trỗi dậy thành nước mạnh; liệu du kích chiến có đánh bại quân đội hiện đại. Và cũng vậy, liệu một phong trào quần chúng – phong trào phản chiến ở ngay trong lòng của chính quốc gia gây chiến- có thể xoay chuyển các chính sách của một cường quốc hay không? Những câu hỏi đơn giản khái quát đó nay vẫn khó giải đáp dù chúng cũng đã từng được đặt ra vào ngày Sài Gòn sụp đổ.
Thực tế rõ ràng là cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam là một sai lầm và tội lỗi – bởi vì nó đã đảm trách một cách hời hợt, theo đuổi một cách hung hăng và rồi bỏ rơi một cách phản bội phũ phàng – Đó là những nét hiện rõ của cuộc chiến này.

Chuyện miền Nam Việt Nam sụp đổ đã vấy tiếng là một biên niên sử của một thất bại được báo trước. Richard Nixon và Henry Kissinger biết cuộc chiến đã hết đường nên đồng tình rút quân theo Hiệp định Hòa bình Paris năm 1973. Họ biết điều đó có nghĩa là miền Bắc sẽ giành chiến thắng, nhưng họ muốn thế, theo như lời của Kissinger: một “khoảng lặng vừa đủ” (nguyên văn: “decent interval” 
(2)) độn vào giữa đủ cho họ rút lui rồi miền Nam Việt Nam mới thua trận. Dù có vẻ đôi lúc họ nuôi ý tưởng rằng nếu được giúp đỡ Nam Việt Nam có lẽ vẫn đứng vững được, nhưng thực ra điều đó có nghĩa là họ mong Nam Việt Nam vẫn chiến đấu tiếp sau khi không còn binh lính Mỹ bên cạnh để nước Mỹ sẽ không đến nỗi quá tệ trong con mắt của quốc tế. Mưu đồ đen tối này trộn lẫn vào tương lai chính trị đang trôi tuột của Nixon, cùng với sự mở rộng chiến tranh của Nixon sang Campuchia đã làm dấy lên làn sóng phản đối rộng rãi, rồi cú sốc giá dầu năm 1973 đã gây thiệt hại, rồi cái giá phải trả quá lớn cho chiến tranh [Việt Nam] đã như chạm vào chỗ hiểm trong tình thế lạm phát tăng cao…tuy nhiên tất cả những điều này cũng không tác động mạnh cho bằng vụ bê bối Watergate bắt đầu hé lộ ra. Quốc hội như bừng tỉnh và nổi loạn bắt đầu xét nét mọi thứ đặc biệt là về chiến tranh, đã đơn phương áp đặt những cắt giảm liên tiếp những khoản viện trợ quân sự cho Sài Gòn như đã hứa.
Như một sự an bài không hiểu nổi, về phía Nam Việt Nam, cấp số đạn dược, lượng các phi vụ và các phụ tùng cũng như quân trang quân dụng cứ bị cắt giảm từng tháng. Vào cuối tháng Tám năm 1974, Thiếu Tướng John E Murray người có trọng trách giữ nguồn cung cấp cần thiết cho quân đội Nam Việt Nam duy trì chiến đấu, đã viết thẳng ra rằng “nếu không còn nguồn hỗ trợ đích thực, QLVNCH (Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) sẽ thua, nếu không tuần tới, tháng tới, thì sẽ là vào năm tới”. Trong khi vấn đề kỹ thuật, quân sự với cuộc chiến này khá đơn giản. Nam Việt Nam là một đất nước với đặc điểm thiên nhiên dài và hẹp, do đó lúc nào cũng bị đối phương tấn công từ mạn sườn. Do buộc phải tự vệ ở mọi nơi mọi điểm, nên họ không thể chống đỡ mà không ứng biến linh hoạt nếu không có hỏa lực được cung cấp bởi viện trợ Mỹ. Nhưng bầu sữa viện trợ mà nay đã bị tắt.
Tổng Thống Thiệu, người vốn đã chẳng được mấy hậu thuẫn, trong tình hình này thậm chí còn ít được ủng hộ hơn. Kinh tế miền Nam cứ sa sút dần, trong khi ông lại bị mất đi sự hỗ trợ thậm chí của các thế lực Công giáo mà là bình thường luôn hậu thuẫn ông, còn phía Phật giáo ngày càng lánh xa ra hơn, đó là những người ôn hòa và Trung Lập trong cái gọi là “lực lượng thứ ba”. 
Nhưng nếu Nam Việt đang ở trong một tình trạng bấp bênh, thì Bắc Việt cũng có những âu lo sâu xa của riêng họ. Dù đảng và chính phủ [miền Bắc] lúc nào cũng đóng một vai diễn sặc mùi tuyên truyền rằng họ tin chắc chiến thắng sẽ đến và thống nhất được đất nước, nhưng trong thâm tâm họ lại không chắc như vậy. Họ cũng gặp vấn đề về nguồn viện trợ phụ tùng, vũ khí và quân nhu khi Nga và Trung Quốc cũng đã cắt giảm nguồn cung cấp sau Hiệp định Hòa bình Paris. Và, giống hệt như Nam Việt Nam, họ rất lo về độ tin cậy và động cơ của các đồng minh của họ. Như George J Veith đã viết trong một cuốn sách lịch sử quân sự của ông về những năm cuối cùng của cuộc chiến -“Tháng Tư Đen”, rằng Hà Nội đã cảm thấy rằng họ chỉ có “một cơ hội quá mong manh để giành chiến thắng”.
Một kế hoạch [của miền Bắc] đã hình thành cho một chiến-dịch-hai-năm dự trù sẽ mang lại chiến thắng vào năm 1976. Tuy nhiên, những cuộc triệt thoái bỏ trống trận địa ở Tây Nguyên [của miền Nam] đã quá thuận lợi khiến họ đã dẹp bỏ ý định ban đầu, vào năm 1975. Mọi việc đã đi đến kết thúc trong vòng có hai tháng. Chiến thuật sai lầm của ông Thiệu (3) và thuộc cấp đã gây ra bao điều tồi tệ, nhưng miền Nam bại trận quá sớm chủ yếu vẫn do thiếu nguồn dự trữ và bị cắt giảm hỏa lực. 
Rồi quân Bắc Việt tiến gần về Sài Gòn. Ở Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và những nơi khác nữa đã xảy ra những cảnh hoảng loạn và rối loạn khủng khiếp, dù nhiều trường hợp bất tuân thượng lệnh và đào ngũ, nhưng vẫn có nhiều đội quân còn chiến đấu dũng cảm và nhiều gương anh hùng, vị quốc vong thân. Nhưng Nam Việt Nam, hoặc là một “con thực thể bù nhìn”, hay một quốc gia thực sự, hoặc là bất cứ điều gì đi nữa, đã biến mất trong làn khói tan của chiến trận. Cả thế giới vô cùng kinh ngạc.
Các phóng viên báo chí quyết định ở lại Sài Gòn là chủ yếu là người Pháp và Nhật Bản, cộng với một vài người Anh và ước chừng một hoặc hai người Mỹ giả vờ làm người Canada. Dù không chắc gì không gặp nguy hiểm, nhưng trong vai trò nhà báo chúng tôi mới tường trình cuộc chiến được dễ dàng hơn. Chúng tôi dễ được ưu tiên chở đi khắp nơi bằng máy bay Mỹ và máy bay trực thăng, được lo chỗ ăn, chỗ ở và được lính Mỹ cũng như (ở mức độ thấp hơn) binh sĩ Nam Việt Nam bảo vệ. Bạn có thể tới mép rìa của cuộc chiến ở phía bắc, gần một nơi có tên mỉa mai là “Khu Phi Quân Sự” rồi trở lại Sài Gòn tắm mát dưới vòi sen và uống trà vào buổi chiều…
Bây giờ đột nhiên chúng tôi thấy mình trong một tình trạng lửng lơ. Nguyên một hệ thống hỗ trợ sống còn cho chúng tôi với những phi công, những người bảo trợ, các nhân viên phân tích tin người Mỹ, Tùy viên quân sự Đại sứ quán Úc bỗng biến đâu mất. Nhiều mối liên hệ người Việt đã bỏ đi hoặc ẩn mặt. Các luật sư của chúng tôi, người trợ lý, tài xế và người thông dịch cũng thế (trong số đó cũng có một số người hóa ra lại là đặc công cộng sản thì họ vẫn còn đó, nhưng lúc bấy giờ họ lộ diện ra ngay, nghĩ cũng phải thôi)
Bắc Việt cũng có một ít nhân viên nói thạo tiếng Anh –và Pháp- lắm lúc thật cần nhưng rất hiếm. Có một tình thế cần thiết như vậy, ngay sau khi thành phố thất thủ, đó là lúc một đơn vị làm phim của quân đội Bắc Việt xông vào văn phòng của CBS và yêu cầu thực hiện cho họ một cảnh quay trận đánh cuối cùng tại Cầu Tân Cảng ngay bên ngoài thành phố. Họ vã mồ hôi và giận dữ, dường như họ đã đến cây cầu quá muộn để có được những thước phim riêng cho họ, vì vậy họ muốn thu đoạt hết những gì đoàn làm phim truyền hình Mỹ đã quay. Tôi đã chứng kiến cuộc đối đầu đó và xung phong bước ra gặp một đại tá Bắc Việt ôn hòa hơn mà chúng tôi đã có gặp trước rồi. Ông ta làm dịu tình hình và ra lệnh cho đồng bào ông bỏ đi. Trưởng văn phòng nhẹ nhõm và mời ông uống chút gì. Ông nhã nhặn từ chối một cách duyên dáng và nói thêm, với nụ cười gượng: “Để sau nhé, chúng ta sẽ còn nhiều thời gian vui vẻ”. Có lẽ chẳng ngạc nhiên gì là chúng tôi chẳng còn gặp ông ta để mà vui vẻ, và vội cuốn đi bỏ lại đó các vật dụng chả đáng gì.
Giờ đây cũng chẳng thể nộp các báo cáo vì bưu điện đã đóng cửa và tất cả các đường điện thoại, điện tín đã không còn. Khi nào được chúng tôi sẽ gửi hàng loạt bản sao tường trình về những ngày cuối cùng mà hiện lúc này không thể gởi được. Sau đó, chúng tôi chẳng biết làm gì nữa? Chẳng còn được làm những gì trước đây vốn là việc thường lệ như viết lách chỉ trích chính sách của Mỹ và chính phủ Nam Việt Nam và quân đội. Tất cả đã hết, và những lời chỉ trích của chúng tôi giờ chẳng còn quan trọng như đó đã từng. Một số người trong chúng tôi lại có cách làm việc điền thế vào thói quen nghề nghiệp lạ lùng là tìm đến những nơi chốn, những tòa nhà một thời từng giữ vai trò quan trọng và viết bài “Hồi đó và Bây giờ”. 
Một nhóm chúng tôi lái xe dọc theo Quốc Lộ 13 hướng về An Lộc, một thị trấn ở phía bắc Sài Gòn từng bị bao vây trong cuộc tổng tấn công năm 1972. Khi chạy xe xuống một bên làn đường quê, trước mắt chúng tôi bày ra một cảnh tượng lạ lùng trông như toàn bộ sản phẩm của một công ty sản xuất giày trận bỗng nằm gọn hết trên mặt đường nhựa, như thể chủ của chúng đã bất ngờ thăng hết lên trời vậy. Quân phục Việt Nam vương vãi trên bờ mương mỗi bên đường. Ở những nơi khác cũng có những cảnh tượng tương tự. Nghe nói là do quân đội Bắc Việt đã ra lệnh cho các đơn vị đầu hàng cởi bỏ ra.
Những gì nhìn thấy qua chuyến đi thực địa này quả là mỉa mai lộ liễu. An Lộc đã từng là một chiến thắng của Nam Việt Nam, đã chiến đấu kiên cường với các binh chủng nhảy dù và thiết giáp, và giải quyết trận địa với không lực Mỹ: hầu hết các phi vụ B-52 của Mỹ ở Đông Nam Á đã được gọi đến để dập tắt những kẻ tấn công Bắc Việt. Trong một nghĩa nào đó, chúng tôi đã so đọ với quá khứ, bởi vì những gì bày ra ở hiện tại quả là không hiểu nổi. 
Chúng tôi gọi một thức uống có nước đá ở một quán gần một trại lính bỏ trống và tìm kiếm xem văn phòng cố vấn Mỹ ở đâu, nhưng không tìm thấy và đành chuẩn bị lên đường, băng qua các dãy nhà nơi vùng quê rậm rạp về lại Sài Gòn. 
Trên đường đi An Lộc, chúng tôi có đi ngang qua Đại sứ quán Anh, và tôi nhận thấy một đội lính canh gác đã hạ lá quốc kỳ Anh xuống và dùng nó làm một tấm bạt để che nắng. Nghẹn ngào – và ngạc nhiên – một cơn giận dữ đột ngột thôi thúc, tôi bước ra khỏi xe, sải bước qua họ, và nhấn mạnh rằng họ nên trả nó trở lại vào cột cờ. Giả như tôi là người Nga hoặc Đông Đức và tưởng tượng tôi có tí quyền, ít nhất tôi cũng gấp lại nó lại.
“Cái gì vậy?” Tôi chợt tự hỏi. Những người lính đã không có ý xúc phạm. Nói cho cùng, nó chỉ là một mảnh vải. Nhưng sự thật là tất cả chúng ta, trong một mức độ nào đó hay vì một cái gì khác đi nữa, vẫn còn đọng lại trong tâm khảm cuộc chiến vừa qua và vẫn còn thấm nhuần một ý thức về quyền tối thượng ở phương Tây nên sự kiện này đã biểu hiện trái ngược tinh thần đó và gây cảm xúc quá mạnh. Quả là như vậy, mặc dù một vài trong chúng tôi đã từng ủng hộ mạnh mẽ chiến tranh. Trước khi Saigon thất thủ, Philip Caputo, một nhà báo Mỹ -người đã từng là một sĩ quan thủy quân lục chiến tại Việt Nam và đã viết một cuốn sách tuyệt vời về những trải nghiệm của mình- đã mạnh miệng tự hỏi liệu những gì đang xảy ra có na ná như việc đoàn quân lê dương rút ra khỏi vòng ngoài của đế chế La Mã hay không. Liệu thế lực phương Tây chúng ta trải khắp thế giới, mà Mỹ là một hiện thân cuối cùng, có phải sắp kết thúc? Một cái gì đó đã bị hạ bệ và cái khác – không phải thuộc về “chúng ta” – sẽ điền thế? Phác họa ra 2 hình ảnh song song như thế thì sáo mòn khiên cưỡng – một thứ tự huyễn lãng mạn có vẻ khó chịu khi ngoái nhìn lại quá khứ. Người Việt, Bắc và Nam, đang trong khoảnh khắc lịch sử đặc biệt của họ, còn chúng tôi thì ngồi vòng ngoài và trưng dẫn Edward Gibbon (4)

Dĩ nhiên chúng tôi cũng vẫn cố tường thuật những gì đang diễn ra ở Việt Nam mới sang trang. Có điều gì đó ở ngay trước mắt chúng tôi, ngay nơi khách sạn mà chúng tôi đang ở, như là các viên chức nhiều ngành khác nhau được triệu tập đến trong một cuộc họp về “cải tạo”. Hoc Tap, đúng nó đã được gọi thế, rốt cuộc, đã lý đến tất cả mọi người. Cựu sĩ quan được gọi vào lớp này tới lớp khác. Ít nhất có một thời gian đã có một chính phủ miền Nam khác nữa thì phải? Vậy vai trò của chính phủ cách mạng lâm thời đó nay thế nào, vốn chỉ hiện hữu như là 1 công cụ tuyên truyền trong thời chiến? Chẳng chóng thì chầy tất cả đều sẽ có câu trả lời, nhưng thời giờ của chúng tôi quá ít ỏi trong khi chính quyền mới làm việc gì cũng chẳng rõ ràng do đó chúng tôi chỉ có khái niệm lờ mờ về những gì đang xảy ra. 
Một thoáng cảm thấy rằng chúng tôi – hay đúng hơn là các nước chúng tôi đại diện – đã bị hạ thấp dù vẫn nhìn nhận rằng đó là một cách trả đũa xứng đáng. Cảm giác đó càng rõ thêm bởi thực tế chúng tôi là những nhà báo chứ đâu phải tù binh hay gián điệp.
Chúng tôi chẳng thể tự mình quyết định gì dù muốn đi hay ở lại Việt Nam. “Họ” sẽ quyết định hết. Chúng tôi phục họ cũng như tính kỷ luật của họ – về những gì chúng tôi nghĩ là thuần khiết cách mạng nơi họ – nhưng thái độ cứng nhắc của họ đã làm chúng tôi cảm nhận ngược lại. Ở đây không hề có một sự gì gọi là hòa giải dân tộc ngay cả một thỏa hiệp nhỏ đi nữa. Nhà báo người Ý Tiziano Terzani đã đặt cảm nghĩ đó trang trọng trong cuốn sách của ông: “Giai Phong!” (Liberation!): Ông thấy cả “một sự ngưỡng mộ lớn lao và một nỗi sợ hãi không diễn tả được” rằng phe cách mạng đã tiến sát đến “ngưỡng của vô nhân đạo“.
Có lúc chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm như thể bị tẩy chay. Hầu như cả nhóm vài phóng viên Anh ẩn náu cả ngày trong một căn biệt thự rộng rãi thuộc một ngân hàng Anh. Vị đại diện còn ở lại của ngân hàng, một công dân Ấn Độ, vui vẻ cho chúng tôi mượn ở tạm bởi vì ông nghĩ sự hiện diện của chúng tôi sẽ ngăn nó khỏi bị chiếm dụng. Ở đó có một con chó tốt giống, vóc to lớn, nó tỏ vẻ hớn hở khi gặp mọi người, như loài chó này vốn vậy. Một buổi tối nọ, một nhân viên tuần tra Bắc Việt đến, hỏi lịch sự mấy câu lý do tại sao chúng tôi hiện diện nơi đây, nhưng lại nhìn chằm chằm con chó. “Con này mà làm thịt ăn thì ngon lắm đây”, cuối cùng một trong số họ đã buông một câu như vậy vừa lấy tay xoa xoa lên bụng. Sau khi họ bỏ đi, chúng tôi tức tối nói với nhau: “Lũ con hoang này muốn ăn thịt con chó của bọn mình”. Chẳng bao lâu sau, những người Anh chúng tôi cùng với hơn 100 nhà báo vốn đã ở lại từ trước, đã bị lịch sự đưa vào một máy bay chở khách Antonov của Nga để tống ra khỏi đất nước Việt Nam bay sang Vientiane, Lào. Trước khi đi, chúng tôi đã cố sắp xếp để bảo vệ con chó “của chúng tôi”, dù trong lòng chẳng mấy tin điều gì tốt đẹp nơi họ.
Trở về Washington, Gloria Emerson của tờ New York Times, có lẽ là người chống chiến tranh nhiệt tình nhất trong số những phóng viên người Mỹ, đã viết ra những mừng vui phấn khởi quá đáng, đốt xì gà và tự chúc mừng đối với chiến dịch Mayaguez tại Nhà Trắng, và còn cường điệu rằng những gì nó mang lại đã làm tăng uy tín của chính phủ. Mayaguez vốn là một tàu chở hàng của Mỹ mà thủy thủ đoàn đã được Khmer Đỏ thả tự do đi khỏi Campuchia vài ngày sau khi Sài Gòn thất thủ. Mỹ đã gửi thủy quân lục chiến đến để giải cứu thủy thủ đoàn, nhưng hóa ra hầu như chẳng ai gặp phải bất kỳ nguy hiểm nào hết. Thế rồi thật là lố bịch, sau đó chẳng hiểu sao chiến dịch ấy lại được thổi phồng lên như một trưng dẫn đối nghịch để biện minh cho sự nhục nhã 30 tháng Tư tại Việt Nam và sự sụp đổ của Pnomh Penh trước đó. Thực ra đó là một công vụ ngớ ngẩn và thất bại trong đó người Mỹ đã tổn thất rất nhiều nhân mạng khi tấn công quân Khmer Đỏ – họ đã lường trước tình hình – và thực tế họ đã chuẩn bị để bảo toàn lãnh thổ chống lại các quan thầy mới từ Nam Việt Nam. Thiếu tin tức tình báo, lãng phí hỏa lực và phạm sai lầm chết người, thiết tưởng đã quá đủ để nói rằng cuộc chiến vừa kết thúc kia là cả một Sai Lầm.
Vụ Mayaguez là một chỉ dấu trước hết cho thấy rằng có thể lấy nước Mỹ ra khỏi Việt Nam, nhưng không thể lấy Việt Nam ra khỏi Hoa Kỳ. Trong những thập kỷ tiếp đó, Mỹ không hề ngừng chiến tranh mà vẫn tiếp tục, theo nghĩa dễ thấy nhất, bằng cách cấm vận hiểm nghèo một Việt-Nam-mới về kinh tế và chính trị. Chính sách đó về sau càng thêm cực kỳ quái gở bằng cách hậu thuẫn hữu hiệu cho tàn dư chế độ Khmer Đỏ tiếp tục chống lại chính quyền bù nhìn thân Việt Nam ở Pnomh Penh. Hiện nay 2 nước [Việt Nam và Cambodia] giảo hảo rất tốt như Hồ Chí Minh đã hy vọng thế vào năm 1945, khi Hồ khẩn nài Mỹ giúp dành độc lập từ tay Pháp mà Mỹ đã không đếm xỉa gì tới. 
Nhưng nếu cuối cùng Mỹ có ngưng trừng phạt chính Việt Nam đi nữa thì chiến tranh vẫn diễn ra theo những cách khác. Kể từ đó [chiến tranh Việt nam] tất cả những gì Mỹ đã làm ở những nơi khác trên thế giới đều bị liên đới đến một áp lực bức bách phải nỗ lực tái khẳng định sức mạnh quân sự của chính họ. Đó là nỗi sợ về một Việt Nam khác, một sa lầy khác, một thất bại khác. Vì là một bức bách cho nên họ không ngừng tìm kiếm những nơi khác, sao cho một cái gì đó giống như Việt Nam để được ra tay một lần nữa, nhưng lần này thì phải xuôi thuận và chiến thắng. Mỹ nhiều lần đã mưu cầu một chiến thắng bù như thế, gần đây nhất là ở Afghanistan và Iraq. Việt Nam cũng giống như bóng ma của Hamlet, cứ lảng vảng ám ảnh. Trên bình diện cốt yếu nhất, chiến tranh luôn đồng hành với Mỹ, vì chiến tranh như thể là một phép thử cho người Mỹ thấy thế nào là nước Mỹ.
Các sĩ quan hiện dịch trẻ (5) từng phụng sự ở Việt Nam trở về đã quyết tâm tạo nên một đội quân mới. Nó phải là một lực lượng chuyên nghiệp, tình nguyện, và do đó ít chịu áp lực của công chúng về thương vong. Nó phải thủ đắc công nghệ thay cho “boots on the ground” (6). Còn nếu đã có “boots on the ground” rồi, quân đội mới còn cần được trang bị thêm kỹ năng chống du kích chiến vốn đã bị thiếu hồi chiến tranh Việt Nam. Cuối cùng, nó sẽ không tham chiến mà không được bảo đảm rằng sẽ không bị hạn chế quyền tận dụng hết các nguồn lực – những hạn chế đó, theo quan điểm của nhiều người lính, đã biển lận kết cục chiến thắng của quân Mỹ ở Việt Nam. Nhưng tất cả cũng chỉ là vô vọng. Quần chúng Mỹ đã chứng minh là họ hầu như nhạy cảm với những cái chết dù là của quân tình nguyện hay với lính quân dịch. Công nghệ mới đã sanh ra nhiều vấn đề mà nó phải tháo gỡ. Chiến lược chống du kích chiến vẫn tỏ ra không hiệu quả. Và việc sử dụng vũ lực cần được bảo đảm sẽ không bị hạn chế thì hoàn toàn không thể được, bởi chính phủ không có quyền đó.
Có ít nhất ba cuộc chiến tranh Việt Nam khác đã đua nhau thu hút sự chú ý của người Mỹ, và đua nhau lấp đầy các kệ sách vốn đã nặng về chủ đề các mối tương tranh. 
Thứ nhất, Mỹ có tất cả trừ chiến thắng, cuối cùng đành vứt bỏ chiến thắng trong tầm tay vì thiếu quyết đoán, vì bị các phương tiện truyền thông tự do phản đối và vì sự xuẩn ngốc của Quốc Hội. 
Thứ nhì, nó đã giành chiến thắng, bởi nó nhắm tới cả Trung Quốc và Nga để ngăn ngừa một hiệu ứng domino xô đổ các nước Đông Nam Á khác ngã vào vòng cộng sản và chiến thắng đó đã đạt được thực sự. 
Thứ ba, sứ mệnh [tham chiến tại Việt Nam] đã được thực thi trong hăm hở nhưng hiểu biết không hoàn bị, tưởng rằng thiết lập một Việt Nam có một vị thế tương đương như Nam Hàn sẽ là tương đối dễ dàng, nhưng rồi sau đó lại chuệch choạng để mất kiểm soát. 

Vậy cuộc chiến nào đã thực sự xảy ra? Cuộc chiến “trung thành với chúng ta vẫn còn”, lời Tổng Thống George HW Bush phát biểu năm 1988, nhưng “rõ ràng là đã đến điểm dừng bởi những đạo luật hạn định. Bài học cuối cùng là chẳng có quốc gia nào dù hùng mạnh đến mấy mà không bị ký ức của nhân loại soi xét”
Nếu có một lời nhắc nhở mộc mạc như thế nào là chiến tranh một ngày kia đã chạm đến gần hết các mái gia đình người Mỹ thì đó là Buffy. Buffy là những con voi làm bằng gốm cao khoảng hai feet rưỡi, có đỉnh bằng phẳng mà bạn có thể đặt một ly nước hoặc một chậu kiểng nhỏ trên đó. Nó có mặt trên khắp nước Mỹ như một chứng tích thầm lặng rằng đã có một thế hệ nam thanh niên đã ra đi mãi mãi khi tham chiến ở Việt Nam. Được làm tại Việt Nam với số lượng lớn và được chở về ở mức vài ngàn một ngày vào lúc cao điểm của cuộc tương tranh. Hugh Mulligan của hãng AP (Associated Press) đã viết [về Buffy] vào năm 1983: “Chúng được đặt nghiêm trang một cách khôi hài trên hành lang của West Point” (7) và “sát dọc với các hồ bơi sân sau của vùng ngoại ô hẻo lánh”. Chúng có giá chừng vài đô la một cái và thêm ít nữa để giao tới tận nhà luôn nhờ vào sự trợ cấp của Bưu điện Quân đội Mỹ.
Tên của nó, xuất phát từ những chữ viết tắt của “Bloody Useless Fucking Elephant”, do một sĩ quan hậu cần đã phải khó khăn khi tìm chỗ cho chúng trong khi những chỗ trong khoang tải hàng hóa bằng phi cơ của ông vốn đã eo hẹp nay lại bị các món quà lưu niệm gở cuồng này ngốn hết.
Hầu hết các Buffy có màu sắc lòe loẹt. Nguyên thủy, chúng được sản xuất tại một nơi có tên gọi là Lái Thiêu, ở mạn bắc Sài Gòn, là một quần thể những vùng dất nhỏ thơ mộng có nhiều đền chùa nghệ thuật được biểu hiện nhiều với 2 màu xanh dương và xanh lá cây dịu nhẹ. Hiện nay, như Linh Anh Moreau – con gái của Ron Moreau, một phóng viên xuất sắc của tờ Newsweek ở Việt Nam – đã viết trong một blogpost 2012 rằng Lái Thiêu thời cũ là đã hết rồi: “Hầu hết các nghệ nhân người Việt gốc Hoa cũ nay đã chết hoặc đã bỏ trốn khỏi xứ, và bí mật nghề nghiệp của nghệ thuật đó cũng đi theo họ. Những trai trẻ mới học nghề, thì hầu hết đã được gọi vào quân đội miền Nam Việt Nam, hoặc gia nhập quân Việt Cộng, hoặc bị cưỡng bức hoặc tự ý chọn”. Vì vậy, câu chuyện của các “Buffies”, ngay ở cái nhìn thoáng qua ban đầu từ một khía cạnh nhẹ nhất đi nữa, trong thực tế, cũng đã là một câu chuyện khơi dẫn sự thất bại và tổn hại rồi.

Còn cái nhìn của Gloria Emerson thì không hề nhẹ. “Mỗi mùa đông đi bộ trên đường phố của các thành phố khác nhau của Mỹ,” bà viết trong cuốn sách của mình về cuộc chiến, về bên thắng và bên thua, “Tôi đã từng nhìn vào những người đàn ông trẻ tuổi trong áo khoác quân đội loại tồn kho, một số có các miếng vá mang dòng chữ mà tôi đã biết quá rõ: the Americal, Screaming Eagle, Tropic Lightning… Có một lúc lâu tôi không chịu nổi những cái áo jacket đó vì luôn luôn thấy một mối nghi trong lòng: phải chăng các áo này đã được cởi ra khỏi các xác chết của lính Mỹ ở Việt Nam, tân trang lại, rồi ép hồ cho cứng và bán ra như là những hàng tồn kho?”

Tội lỗi của những người đã tham gia cuộc chiến tranh nay được kết hợp với tội lỗi của những người ở nhà. Trong một đoạn xưng tội nổi tiếng, James Fallows đã viết ông và các bạn học Harvard đã giả vờ bệnh tật như thế nào để trốn quân dịch. Khi những nam sinh Harvard rời phòng thi, họ nhìn thấy “các chàng trai đến từ Chelsea, tóc đen, dày, những người vô sản da trắng của Boston … Họ lần lượt đi qua các luồng kiểm tra như thể đàn gia súc bị lựa ra để giết thịt … Trong khi có lẽ bốn trong năm trong số bạn bè của tôi từ Harvard đã được hoãn dịch, thì ngược lại, các chàng trai Chelsea thì không. Chúng tôi trở về Cambridge chiều hôm đó … Buổi nói chuyện quả là có nâng cao tinh thần, nhưng lúc ấy có một cái gì đó hiện rõ ra rất thực mà không ai trong số chúng tôi muốn đề cập đến. Giờ thì chúng tôi đã biết ai còn ai mất”.
Đi dạo trong thảo cầm viên một lần nữa ngay trước khi Sài Gòn thất thủ, Peter Kann của tờ Wall Street Journal và tôi đã được một cậu bé khoảng 13 bắt chuyện, cậu ta rút từ trong túi ra một vật lạ. Đó là một mô hình nhỏ của một máy bay trực thăng quân sự Mỹ được làm từ những thứ vật liệu phế thải – như một miếng thùng trong suốt dùng đựng bút bi, những mảnh của vỏ lon bia và những thứ khác đại loại như vậy. Trong chiếc túi kia còn có nhiều thứ khác. Cậu đã rất khéo léo khi giải thích, bằng một thứ tiếng Anh khá đúng, cậu đã làm chúng như thế nào, và đã thành công khi chúng tôi đã mua hai món. Đặc biệt đối với tờ Wall Street Journal, đây là một ví dụ điển hình về tài kinh doanh buôn bán – một thứ tài năng không hề được nước Việt Nam mới đồng tình.
Tôi thấy mắt mình cay cay khi cảm động nhìn cậu bé xếp gọn những tờ bạc, và tôi biết Kann cũng như tôi. Chúng tôi chẳng có lý do gì để nghĩ một tương lai không sáng lạn sẽ đến với cậu bé, nhưng tôi nhớ ngay lúc đó trong tâm mình đã nghĩ Việt Nam đã phải chịu đựng một cuộc chiến tranh quá khủng khiếp, cho nên một hành trình khốn khó cho đất nước này đang chờ đón phía trước là không sao tránh khỏi- nói một cách khác, tất cả do Mỹ gây ra. Những tang thương mất mát đã qua như báo biểu rằng sắp tới sẽ còn nhiều nữa khi giờ khắc cáo chung của Sài Gòn bắt đầu điểm.

Saigon April 28, 2015
Lê Tùng Châu dịch


Chú Thích: Toàn bài, Martin Woollacott không có 1 chú thích nào. Các chú thích dưới đây bởi người dịch.
1- Có lẽ Martin Woollacott viết nhầm, phải là ngày 1/5/1975 mới đúng.
 
Hình trên: Frank Snepp (phải) và Hồi Ký “Decent Interval”
2- “Decent Interval” cũng là tên của thiên Hồi Ký của Frank Snepp (xuất bản 1977) kể về những ngày cuối cùng của Saigon năm 1975. Frank Snepp là nhân viên CIA chi nhánh Saigon và là Trưởng bộ phận phân tích tin của Tòa đại Sứ Mỹ tại Saigon, người ở lại cùng với Đại Sứ Martin cho đến chuyến chót trong chiến dịch cầu không vận bằng trực thăng có tên là Operation Frequent Wind (thực hiện không gián đoạn từ khoảng trưa ngày 29/4/1975 -ngay trên nóc Tòa Đại Sứ Mỹ ở Saigon- cho đến gần 9 giờ sáng ngày 30/4/1975) để đưa người di tản thoát khỏi Saigon trước khi thất thủ)
3- Xin xem: 
– Vì Sao Tôi Bỏ Quân Ðoàn I? – Tường trình của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng 

4- Edward Gibbon là một sử gia người Anh với công trình quan trọng nhất: The History of the Decline and Fall of the Roman Empire (“Lịch sử suy tàn và sụp đổ của đế chế La Mã”) đã được xuất bản 6 lần trong khoảng 1776 đến 1788.
5- Sĩ quan hiện dịch: thường là những sĩ quan được đào tạo từ một trường võ bị quốc gia (ở Việt Nam: Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ở Mỹ: Trường Võ Bị Quốc Gia West Point) là nơi đào tạo quân nhân chọn đời binh nghiệp vĩnh viễn dù trong thời bình hay thời chiến. Đối lại với “hiện dịch” là “trừ bị” (ở Việt nam có Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức) tức những quân nhân có thể giã từ binh nghiệp trong thời bình để trở về đời sống dân sự (civil)
6- Thuật ngữ “boots on the ground” là từ một quá trình quân sự phong phú. Chắc hẳn nó đã có từ thời sĩ quan người Anh Robert Grainger Ker Thompson trở về trước, đó là một chiến lược gia về du kích chiến của Anh trong nỗ lực chống lại quân Giải phóng Dân tộc Mã Lai thời “Malayan Emergency” 1948-1960 [tức thời chiến tranh du kích kéo dài từ 1948-1960 ở Malaya giữa thực dân Anh và lực lượng Giải phóng Dân tộc Malaya (MNLA – quân du kích của đảng Cộng sản Malaya)]. Thuật ngữ này (“boots on the ground”) cũng liên quan đến Hoa Kỳ nhất là Tướng William Westmoreland (1914 – 2005, tướng 4 sao, Tư lệnh MACV – lực lượng quân sự Mỹ tại Việt Nam- từ 1964 – 1968) khi Mỹ tham chiến tại Việt Nam, đặc biệt với việc gia tăng lực lượng hùng hậu vào 1965-1968. 

7- Trường Võ Bị Quốc Gia Hoa Kỳ 
 
2. Những Đồng Minh Của Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Miền Nam Việt Nam
Huỳnh Kim Quang
Đọc “A Gift of Barbed Wire” (Tặng Vật Cuộn Dây Thép Gai) Của Robert S. McKelvey
 
Năm nay 2015, đánh dấu 40 năm (1975-2015) ngày Bắc Việt xâm chiếm Miền Nam. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến Việt Nam dù đã kết thúc trên chiến trường bom đạn nhưng những hệ lụy đau thương của nó còn kéo dài cho đến nay!
Trong số những hệ lụy trở thành vết hằn khó xóa trên thân phận nghiệt ngã của người dân Miền Nam là chiến dịch sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 của Cộng Sản đẩy hơn một triệu trí thức, văn nghệ sĩ và quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vào các trại tù khổ sai mà Cộng Sản gọi một cách mị dân là “trại học tập cải tạo.” Trong những trại tù khổ sai đó, nhiều người đã bị thủ tiêu bí mật, bị xử tử công khai, bị buộc phải làm việc cật lực trong điều kiện đói khát, đau bịnh, không thuốc men, không chăm sóc, bị đối xử bất công và tàn bạo không tình người. Nhiều người đã phải ngồi tù lâu hơn 20 năm. Sau khi được thả ra, hầu hết đều mang thân tật bệnh, suy nhược, quản thúc, theo dõi, thất nghiệp, nghèo đói, và xem như bị đẩy ra ngoài lề xã hội. Trong khi đó, hàng triệu thân nhân, gồm cha mẹ, vợ con của những người tù chính trị này đã phải sống trong hoàn cảnh vô cùng đau khổ bên ngoài trại tù để tranh đấu cho sự sống còn của bản thân và gia đình trong sự bức bách của chính quyền Cộng Sản và sự kỳ thị của xã hội.
Bức tranh toàn cảnh về thân phận bi đát của những người tù chính trị Việt Nam Cộng Hòa dưới chế độ Cộng Sản sau năm 1975 tại Miền Nam đã được nhiều người Việt, gồm những nạn nhân mà cũng là chứng nhân, viết lên trong nhiều thập niên qua. Nhưng số lượng sách bằng tiếng Anh do người Mỹ viết về biến cố này thì vẫn còn quá ít ỏi. Đặc biệt là loại tài liệu nghiên cứu đến nơi đến chốn, chẳng hạn, đến gặp trực tiếp, phỏng vấn và nghe chính các nạn nhân cựu tù chính trị VNCH kể lại đầy đủ chi tiết, do người Mỹ viết bằng tiếng Anh thì lại càng hiếm hơn.
Trong số tài liệu hiếm quý đó có tác phẩm “A Gift of Barbed Wire – America’s Allies Abandoned in South Vietnam” [Tặng Vật Cuộn Dây Thép Gai: Những Đồng Minh Của Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Miền Nam Việt Nam] của tác giả Robert S. McKelvey. Sách do Nhà Xuất Bản University of Washington Press ấn hành tại Seattle của Hoa Kỳ và London của Anh Quốc lần đầu vào năm 2002. Sách in bìa cứng, dày trên 260 trang.
Tựa đề tiếng Anh của cuốn sách là dịch từ câu thơ trong bài “Tặng Vật Tỏ Tình” của nhà thơ Trần Dạ Từ sáng tác vào năm 1964 tại Việt Nam:
“Tặng cho em cuộn dây thép gai
Thứ dây leo của thời đại mới.”
(I give you a gift of barbed wire,
Some creeping vine of this new age.)
Ngoài Lời Nói Đầu, Giới Thiệu và Kết Luận, tác phẩm “A Gift of Barbed Wire” của Robert S. McKelvey gồm 2 phần chính: Phần I gồm 4 truyện nói về bản thân của những cựu tù chính trị VNCH; Phần II gồm 10 truyện nói về bản thân những cựu tù chính trị và cha mẹ, vợ con của họ.
Tác giả Robert S. Mckelvey là Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ phục vụ tại Việt Nam từ năm 1969 tới 1970 trong nhiệm vụ sĩ quan Dân Vụ hoạt động tại phía tây bắc thành phố Đà Nẵng, theo ông cho biết trong Lời Nói Đầu của cuốn sách. Ông hiện là giáo sư về môn tâm phân học trẻ em và thanh thiếu niên tại Đại Học Oregon Health and Science University ở Portland. Ông là tác giả của các tác phẩm “The Dust of Life: America’s Children Abandoned in Vietnam” [Bụi Đời: Những Đứa Trẻ Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Việt Nam], và “A Gift of Barbed Wire: America’s Allies Abandoned in South Vietnam” [Tặng Vật Cuộn Dây Thép Gai: Những Đồng Minh Của Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Miền Nam Việt Nam].
Mắt Thấy Tai Nghe
Để viết cuốn sách này, tác giả Robert S. McKelvey đã thực hiện nhiều chuyến đi đến Việt Nam trong thập niên 1980s tiếp xúc trực tiếp và phỏng vấn cũng như chính mắt chứng kiến cuộc sống vất vả khổ cực trăm bề của các cựu tù chính trị VNCH và thân nhân ngay trên mảnh đất quê hương của họ. Trong Lời Nói Đầu của tác phẩm “A Gift of Barbed Wire,” tác giả đã kể sơ về thân thế và sự nghiệp của ông cùng với mối quan hệ của ông với đất nước và người dân Việt.
 “Giữa năm 1969 và 1970 tôi phục vụ tại Việt Nam trong nhiệm vụ một đại úy Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Tôi được phân công làm sĩ quan Dân Vụ, chịu trách nhiệm với “việc chiến thắng trái tim và tâm thức” của người Việt Nam trong khu vực hoạt động của chúng tôi ở phía tây bắc của thành phố Đà Nẵng thuộc miền trung Việt Nam. Công việc này đưa tôi vào việc tiếp xúc hàng ngày với thường dân Việt Nam, hầu hết là nông dân, và đã cung cấp cho tôi quan điểm khác về cuộc chiến hơn là trong trường hợp tôi ở trong trung đội bộ binh, một khẩu đội pháo binh, hay một đơn vị không quân. Trong một ý nghĩa nào đó, tôi hành xử chức năng như một binh sĩ tình nguyện Thủy Quân Lục Chiến hơn là một người lính bộ binh, làm cho tôi dễ hiểu và cảm thông với sự đau khổ của những người Việt Nam bị mắc kẹt giữa các lực lượng đánh nhau.
Sau khi rời Việt Nam vào tháng 5 năm 1970 tôi trở về nhà để bắt đầu nghề nghiệp mới của một bác sĩ. Tôi học xong trường y khoa năm 1974 và hoàn tất việc huấn luyện làm một bác sĩ tâm thần và bác sĩ nhi đồng vào năm 1979. Trong những năm bận rộn đó tôi ít suy nghĩ về các kinh nghiệm thời chiến tranh của tôi. Rồi trong thập niên 1980s nhiều cuốn sách, phim ảnh, và thảo luận nhằm khảo sát vai trò của Mỹ trong Chiến Tranh Việt Nam đã đánh thức sự thích thú của tôi, và làm cho tôi nhớ lại, Việt Nam. Tôi bắt đầu tìm kiếm cách trở lại Việt Nam và làm việc với người Việt Nam, lần này như là một bác sĩ tâm thần. Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, tại Trung Tâm Chuyển Tiếp Tị Nạn Phi Luật Tân, và tại Hoa Kỳ, tôi nghiên cứu về đời sống của những người Mỹ Á Châu gốc Việt, từ những đứa trẻ sinh ra trong thời chiến tranh tới những người đàn ông Mỹ và phụ nữ Việt Nam.(2) Sau đó tôi nới rộng mục tiêu của mình để bao gồm những trẻ em Việt Nam tại Úc, Hoa Kỳ, và Hà Nội, thủ đô của Việt Nam.”
Cũng trong Lời Nói Đầu của “A Gift of Barbed Wire,” Robert S. McKelvey kể lại về các chuyến đi Việt Nam để sưu tập tài liệu và gặp gỡ phỏng vấn các cựu tù chính trị VNCH và ấn tượng đầu tiên khi chứng kiến tình cảnh bi thương của những cựu tù chính trị.
“Vào năm 1990, thời gian đầu tiên tôi trở lại thăm Việt Nam kể từ lúc phục vụ trong quân đội ở đó, tôi đã mua 2 bức tranh sơn mài.(3) Chúng miêu tả một cách trừu tượng những người đàn bà thanh lịch với mái tóc đen dài phủ xuống chiếc áo dài có hoa màu tím và xanh lá cây, y phục Việt Nam truyền thống. Người bán hàng nói với tôi rằng họa sĩ vẽ bức tranh đó sống gần đây. Tôi quyết định đến thăm ông ấy. Sau khi đi tìm một hay hai giờ đồng hồ qua các đường phố đông đúc và dơ dáy của Thành Phố Hồ Chí Minh, cuối cùng tôi đã tìm ra căn chung cư nhỏ hai tầng vừa là chỗ ở vừa là phòng vẽ tranh của ông ấy. Vợ ông ấy mở cửa và, sau khi xác minh rằng tôi đến đó để xem và có thể mua một vài bức tranh của chồng bà, đã mời tôi vào nhà.
 
Bà ấy đóng vai trò như là người quản trị phòng trưng bày tranh và dẫn tôi đi xem một vòng, giải thích cách những bức tranh được vẽ và miêu tả một số chủ đề của tranh ảnh. Tôi ngưỡng mộ tác phẩm của chồng bà bao nhiêu, nhiều bức tranh mà sau đó tôi đã mua, thì tôi càng bị quyến rũ bởi cặp mắt sâu và đẹp của bà ấy bấy nhiêu. Với tôi cặp mắt ấy có vẻ được đong đầy với nỗi buồn đau vô hạn. Khi hỏi về bối cảnh hội họa của chồng bà, tôi biết được rằng ông ấy đã từng phục vụ là một sĩ quan Lục Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau chiến thắng năm 1975 của Cộng Sản, chính quyền mới đã bắt bỏ tù ông. Khi tôi hỏi tại sao, bà cho biết rằng đây đã là số phận của nhiều người từng làm việc cho chính quyền cũ. Bà cũng nói vắn tắt về cuộc đời của bà trong thời gian năm năm vắng chồng, mô tả tình cảnh nghèo khổ và bị xã hội cô lập mà bà đã phải chịu đựng và sự chiến đấu sau đó của họ để xây dựng lại cuộc sống sau khi ông được ra tù. Lắng nghe bà kể chuyện tôi bắt đầu hiểu đôi chút về nỗi buồn trong đôi mắt của bà.
 
Đây là kinh nghiệm đầu tiên của tôi với cựu tù chính trị Việt Nam và gia đình của họ. Tôi đã từng không biết rằng sau khi Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, hơn một triệu người là cựu đồng minh Nam Việt Nam của chúng ta, trong số hai mươi triệu dân, đã bị đẩy vào các trại học tập cải tạo.(4) Ở đó họ bị bắt buộc đào hào và kênh dẫn nước, trồng trọt, và xây nhà làm đường. Họ được nuôi bằng những khẩu phần chết đói – hai chén cơm, một ít muối, và một chút xíu canh cải mỗi ngày. Vào ban đêm, sau một ngày làm việc cực nhọc, họ bị lên lớp về những lỗi lầm của chính quyền cũ và người Mỹ, về các lý thuyết Mác-Lê, và về những vinh quang của chế độ Cộng Sản mới, được mô tả bởi những cai tù như là “chính quyền tốt nhất thế giới.” Họ cũng bị đòi hỏi phải thú tội về những tội ác quá khứ của họ như là một phần của quá trình học tập cải tạo để lấy cớ là sẽ “chuyển” họ thành “người mới.”(5) Điều đó đã không được tiết lộ với họ cho đến về sau mà những thú tội này tạo thành cơ bản cho những buộc tội thêm nữa để chống lại họ và ngay cả bỏ tù họ lâu hơn.
Cuối cùng được thả từ những trại học tập cải tạo sau khi đã bị bỏ tù từ một tới hơn hai mươi năm, các cựu tù nhân trở về nhà như những người đàn ông chỉ còn da bọc xương. Họ kiệt sức, bệnh tật, và chán ngán sâu sắc chính quyền mới và những ý định thực sự của nó. Có rất ít người, như nhà họa sĩ mà tôi đã gặp, tìm ra được công việc làm đúng với nghề nghiệp mà họ đã từng được đào tạo. Tuy nhiên, hầu hết đã phải sinh sống bằng bất cứ công việc gì mà họ có thể tìm ra, một thứ giai cấp thấp bị khinh khi của những người đàn ông có học thức cao và thông minh với không còn triển vọng cho một tương lai phát đạt tại Việt Nam với chính họ hay với con cháu của họ.
Tôi đã gặp một trong nhiều cựu tù chính trị kém may mắn trong thời gian chuyến thăm Việt Nam sau này. Ông ấy đã từng là một thiếu tá trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng vào lúc tôi gặp ông năm 1993 thì ông là một người đạp xích lô tại Thành Phố Hồ Chí Minh. Công việc của ông là đạp xích lô chở những du khách Tây Phương từ các khách sạn sang trọng quanh khu vực thương mại trung tâm qua những chuyến mua sắm hay tham quan. Trong thời gian thực hiện cuốn phim Pháp Indochine (Đông Dương) ông đã là một phu xích lô cho nữ tài tử điện ảnh Catherine Deneuve. Nếu được hỏi, ông sẽ đưa ra một tờ giấy copy được ép nylon của hình bìa tạp chí Paris Match mà ông đã được chụp trong lúc chở nữ tài tử Deneuve trên chiếc xe xích lô của ông. Ông ấy cùng tuổi tôi, và mỗi ngày khi tôi quan sát cái tướng gầy gò mà phải ráng gân cốt để đẩy chiếc xe nặng chở những du khách Mỹ và Pháp to con qua các con đường đông nghẹt người của thành phố, tôi suy nghĩ về những khác biệt trong số phận của chúng ta.
Trong những năm sau khi họ được thả từ các trại học tập cải tạo hầu hết cựu tù nhân đều quyết định rời Việt Nam. Một số đã vượt biên như thuyền nhân hay đi đường bộ xuyên qua Cam Bốt và Thái Lan, trong khi những người khác thì rời khỏi nước theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (ODP)(6). Đến được Hoa Kỳ thì họ lại đối diện thử thách, đặc biệt khó khăn với người già, về việc thích ứng với một quốc gia với các truyền thống văn hóa khác nhau quá lớn. Họ thường không nói được tiếng Anh nhiều và cũng hay bị kỳ thị chủng tộc, định kiến, và kỳ thị trong việc làm. Không như các cựu chiến binh Việt Nam của chúng ta, có ít người Mỹ biết hay quan tâm đến những câu chuyện của họ.
 
Chẳng có cuốn phim nào nói về cuộc đời họ. Những cuốn sách mà họ đã viết về các kinh nghiệm của họ thì không nằm trong các danh sách bán chạy nhất.(7) Không có phim Miss Saigon để giúp chúng ta hiều sự đau khổ của họ. Ngay cả tài liệu khoa học cũng chỉ viết vài trang trình bày về các vấn đề của họ(8). Tôi tự hỏi, bằng cách nào họ và những người vợ của họ có thể chịu đựng nhiều thập niên đau khổ kéo dài và lập đi lập lại như thế? Sự đau khổ đó ảnh hưởng đến phát triển nhân cách, sức khỏe tâm thần và triển vọng cuộc sống của họ ra sao? Cái gì còn lại của hy vọng và ước mơ thời trai trẻ của họ? Đây là một số nghi vấn mà tôi tìm kiếm câu trả lời trong tác phẩm này.
Khi tôi bắt đầu tìm hiểu về những cựu tù chính trị của Việt Nam tôi đã biết trước rằng tôi sẽ gặp những người tuyệt vọng và đau khổ đang đau buồn đối với quá khứ và phẫn uất vì tất cả những gì họ đã mất mát. Sau nhiều giờ gặp họ, lắng nghe những trải nghiệm của họ, và rồi suy ngẫm và viết về họ tôi đã, với sự ngạc nhiên của mình, phát giác điều gì đó khác hẳn. Trong khi một vài người trong số mà tôi biết là đau khổ, không có vẻ gì tuyệt vọng, và hầu hết tất cả đều cho thấy khả năng hồi phục rất lớn trên gương mặt của những người dường như bị chấn thương nặng nề.” (Robert S. McKelvey, A Gift of Barbed Wire, University of Washington Press,  Seattle and London, 2002, Lời Nói Đầu, trang XI, XII, XIII, XIV)
Đó chỉ là sơ lược về tình cảnh sống của vài cựu tù chính trị VNCH trong số rất nhiều người mà tác giả Robert S. McKelvey đã gặp trong những chuyến đi Việt Nam để chuẩn bị cho cuốn sách này. Phần nội dung dày hơn 260 trang sau đó của cuốn sách mới là những câu chuyện về người thật và việc thật của các cựu tù chính trị VNCH từ lúc gia nhập Quân Lực VNCH chiến đấu bên cạnh đồng minh Mỹ để bảo vệ tự do, dân chủ, cho đến khi Miền Nam sụp đổ, rồi vào tù Cộng Sản sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ra tù, sống lây lất khổ sở, sau cùng đi Mỹ và đối diện những va chạm khắc nghiệt của cuộc sống mới.
Robert S. McKelvey nêu ra 7 trường hợp tiêu biểu cho hàng trăm ngàn cựu tù chính trị VNCH để kể chuyện về họ và thân nhân của họ trong tác phẩm “A Gift of Barbed Wire” gồm, cuộc đời của một bác sĩ, một kỹ sư, một thợ hớt tóc, một gián điệp, một phi công, một thầy giáo, và một chính trị gia. Vì tôn trọng một vài trường hợp mà trong đó người được McKelvey phỏng vấn không muốn nêu danh tánh thực và cũng để giữ sự an toàn cho những người còn lại trong nước, đặc biệt tình hình an ninh khắc nghiệt của người dân tại Việt Nam vào thập niên 1980s, tác giả đã chọn cách không nêu danh tánh thật của tất cả cựu tù chính trị VNCH được kể trong sách này.
Ngày 30 Tháng 4 và Lời Hứa Cuội Của Cộng Sản
 
Người dân miền Nam, đặc biệt những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, những người còn ở lại Việt Nam và chứng kiến sự kiện miền Nam bị Cộng Sản chiếm, có cảm nghĩ như thế nào trong ngày 30 tháng 4 năm 1975? McKelvey thuật lại lời kể của một cựu phi công Không Quân VNCH tên là Trà kể rằng, “Đó là một ngày kinh hoàng. Chúng tôi mất mọi thứ. Chúng tôi không biết phải làm gì. Một số đơn vị đã chiến đấu đến cùng; những đơn vị khác không tuân lệnh tổng thống Nam Việt Nam [Dương Văn Minh để đầu hàng]. Tôi không biết hàng xóm của tôi là Cộng Sản hay không và không biết họ sẽ làm gì, vì vậy tôi quyết định ở lại với một người bạn ít ngày trước khi về nhà chỉ để thấy điều gì đã xảy ra. Tôi nói với vợ tôi là nơi nào tôi nên ở để vợ tôi không lo ngại. Đêm 30 rất là yên lặng — thật đáng sợ.” Đêm trước thì có nhiều hỏa tiễn và tiếng nổ, nhưng cái đêm đó thì không có hỏa tiễn. Im lặng đáng sợ bởi vì chúng tôi không biết cái gì xảy ra. Sau hai ngày vợ tôi khuyến khích tôi về nhà. Không có gì xảy ra. Tôi không biết làm gì. Tôi không hiểu phải giúp gia đình tôi bằng cách nào.” (Sách đã dẫn, trang 112).
 
Bi kịch làm thay đổi cả cuộc đời của các quân cán chính VNCH trong các trại tù lao động khổ sai kéo dài hàng chục năm bắt đầu với lời hứa gian dối của chế độ Cộng Sản về thời gian đi học tập cải tạo từ 3 ngày đến 30 ngày. McKelvey thuật lại lời kể của cựu phi công VNCH Thọ như sau:
“Có thông báo [trên đài phát thanh và những cái loa chát chúa] rằng tất cả quân nhân của chế độ cũ đểu phải đi học tập cải tạo. Bạn đựợc cho biết đến văn phòng chính quyền hay trường học và viết lý lịch của bạn, một loại sơ yếu lý lịch. Rồi bạn về nhà và chờ. Sau một tháng có thông báo khác bảo bạn trình diện đi học tập cải tạo. Các sĩ quan, hạ sĩ quan, và những cấp bậc thấp hơn thì được cho biết việc học tập cải tạo của họ sẽ kéo dài 3 ngày và họ có thể về nhà mỗi đêm. Các sĩ quan cấp bậc cao hơn, cấp tá tới tướng, và viên chức chính quyền cao hơn được cho biết việc học tập cải tạo của họ kéo dài lâu hơn và họ phải trình diện tại trường trung học hay đại học gần đó với đầy đủ lương thực và quần áo cho 30 ngày.” (Sđd., trang 112, 113.)
Nhưng rồi hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH đã phải ngồi tù lao động khổ sai tới cả chục năm, có người ở tù tới 21 năm, như trường hợp nhà tình báo Sang đã bị bắt ở tù học tập cải tạo từ tháng 3 năm 1975 cho đến năm 1996 mới được thả (Sđd., trang 71).
Những Năm Tháng Trong Tù
 
Ở tù là một khổ nạn, nhưng ngồi tù Cộng Sản thì lại càng là cực hình khốn khổ không thể tả! Những năm sau 1975 cho đến giữa thập niên 1980s, Việt Nam là một đất nước nghèo đói, lạc hậu và khép kín với thế giới bên ngoài. Vì vậy, chế độ Cộng Sản đã cai trị dân bằng luật rừng, đặc biệt là chế độ đối với các tù chính trị. Các cựu tù chính trị VNCH phải tự xây cất nhà tù để giam cầm chính họ, tự canh tác hoa màu đủ thứ và sung túc nhưng lại bị buộc sống chết đói, và gánh chịu bao nhiêu tàn ác, dã man của chế độ tù Cộng Sản.
Nói về việc ăn uống trong tù McKelvey thuật lời kể của cựu phi công VNCH Thọ như sau: “Trong thời gian năm đầu tại miền Nam chúng tôi ăn cơm độn bo bo. Đó không phải là bo bo bình thường, mà chỉ là loại thô cũ. Chúng tôi cố nấu cho mềm, nhưng nó không ngon chút nào. Qua năm thứ hai tại miền Bắc chúng tôi ăn cơm độn với bắp. Năm thứ ba chúng tôi có sắn khô và đôi khi ăn cơm vào những lễ lớn như Tết. Năm 1978 và 1979 là tệ nhất. Thiếu thực phẩm trên cả nước và nhiều người chết. Vì thiếu thực phẩm họ bắt đầu để gia đình đến thăm nuôi chúng tôi tại các trại tù để họ có thể bổ sung khẩu phần ăn của chúng tôi. Các thân nhân đã mang cho tù gạo, lương khô, và thuốc men.” (Sđd., trang 117)
 
Ở trong tù, các cựu tù chính trị VNCH không những làm việc cực nhọc, ăn uống thiếu thốn khổ sở mà còn bị đánh đập, hành hạ, và thậm chí giết chết. McKelvey ghi lại lời của cựu phi công Thọ như sau: “Họ nhốt tù trong “chuồng cọp” [một hộp thiết nhỏ giống như cái thùng chở hàng hóa], để nó ra giữa trời dưới ánh nắng mặt trời, và chỉ cho tù một chút thức ăn – 2 ca nước và một tô sắn 2 lần một ngày. Hay họ còng tù vào tường ở cổ tay và mắt cá. Thật là không thoải mái chút nào!” (Sđd., trang 116)
 
Cựu phi công Thọ còn chứng kiến 2 lần Cộng Sản giết tù chính trị VNCH. McKelvey thuật lại lời Thọ như sau: “Hai lần. Lần thứ nhất là lúc ở trong Nam tại Biên Hòa. Một ông cố trốn trại ban đêm nhưng bị bắt. Ngày hôm sau họ đã xử tội ông. Họ buộc chúng tôi phải nghe phiên xử qua tiếng loa bự. Một giờ sau chấm dứt họ bắn chết ông ấy. Lần thứ hai lúc đã ra Bắc. Ba hay bốn người trốn trại. Sau vài ngày họ bị bắt lại và bị mang trở về trại. Họ đánh một trong những người đó tới chết. Những  người khác thì bị đưa đi trại khác.” (Sđd., trang 116)
 
McKelvey thuật lại lời của cựu tù chính trị là nhà chính trị VNCH tên Hung (tác giả không đánh dấu) kể rằng, “Tôi hỏi có người nào chết trong tù không. “Nhiều! Đói khát và làm việc nặng nhọc làm cho nhiều người bị bệnh. Rất dễ chết. Không phải là tình trạng tinh thần hay cá tính của người tù. Chỉ là không có đủ để ăn và không có thuốc men.” (Sđd., trang 187)
 
Cựu tù chính trị VNCH là nhà chính trị Hung còn kể chuyện Cộng Sản cực kỳ hung ác hơn nữa với tù chính trị VNCH. Mckelvey thuật lại lời kể của Hung rằng, “Lúc đó chúng tôi ở trại không xa biên giới Cam Bốt. Đó là thời gian Chiến Tranh Việt-Miên. Việt Cộng đặt mìn Claymore [mìn chống cá nhân] chung quanh trại tù. Chúng tôi nghĩ là họ bảo vệ chúng tôi, nhưng họ nhắm mục tiêu mìn Claymore vào chúng tôi! Họ cho biết rằng nếu Cam Bốt tấn công, họ sẽ giết chúng tôi trước bởi vì chúng tôi cũng là kẻ thù của họ.” (Sđd., trang 208, 209)
 
Sự bức bách và tàn ác của chế độ tù Cộng Sản đã khiến cho người tù chính trị VNCH có lúc không thể im lặng chịu đựng và đứng lên chống lại. McKelvey thuật lại lời kể của một cựu tình báo VNCH là cựu tù chính trị tên Sang về tình trạng nghiêm trọng tại trại tù Hàm Tân vào những năm từ 1976 đến 1980, như sau: “Một ngày kia chúng tôi đi ra ngoài lao động trong một nhóm 40 người tù với một cai tù và 2 người lính. 12 người chúng tôi khống chế cai tù và lấy vũ khí của họ. Chúng tôi có 2 khẩu súng M-16 và một khẩu K-54. Chúng tôi vào rừng đế đến mật khu của những nhóm chống chính quyền đã xây dựng căn cứ cho chúng tôi. Cộng Sản phái 2 trung đoàn lính tới và công an tủa ra 2 tỉnh, Thuận Hải và Đồng Nai, để tìm chúng tôi. Sau 6 ngày tôi bị bắt đầu tiên. 4 ngày sau 9 người khác bị bắt và 2 người bị bắn chết.” (Sđd., trang 85)
 
Hoàn Cảnh Vợ Con Người Tù Chính Trị VNCH
 
Các quân cán chính VNCH bị Cộng Sản bắt đi tù học tập cải tạo tất nhiên là chịu rất nhiều thống khổ và đau thương trong những nhà tù nhỏ, nhưng vợ con và thân nhân của họ ở bên ngoài cũng không khác gì một nhà tù lớn với vô vàn gian nan, khổ cực và tủi nhục. Họ vừa phải gánh vác trách nhiệm thế cha và làm mẹ nuôi dạy con cái và buôn bán tảo tần, vừa phải đối mặt với những áp bức của chế độ Cộng Sản và sự kỳ thị của xã hội.
Tác giả Robert S. Mckelvey đã trực tiếp phỏng vấn và ghi lại nhiều trường hợp rất thương tâm của những người vợ con của cựu tù chính trị VNCH. McKelvey thuật lại lời của người vợ của một chính trị gia tên Hung là bà Tho (tác giả cũng không bỏ dấu) kể tình cảnh gia đình sau khi chồng bị bắt đi học tập cải tạo như sau:
“Sau khi ông nhà tôi đi tù tôi phải chăm sóc 7 đứa con của chúng tôi và tiệm chụp hình. Cửa tiệm làm ăn không khá. Chồng tôi là người chính yếu gánh vác việc ấy trước đây, và sau khi ông ấy đi không ai trong chúng tôi biết làm sao để tiếp tục điều hành. Người ta cũng sợ không dám ủng hộ cửa tiệm bởi vì chồng tôi là người đi tù học tập cải tạo. Ngay cả những thân nhân của chúng tôi và người bạn thân nhất của chồng tôi cũng tránh xa. Nó giống như là chúng tôi mắc bịnh nguy hiểm, một thứ bệnh lây nhiễm, và người ta sợ chúng có thể lây lan họ. Họ không muốn dính dáng tới và vướng vào phiền phức với chính quyền.” (Sđd., trang 196)
 
Những người vợ con cựu tù chính trị VNCH còn phải bị bắt học tập cải tạo tại địa phương. Bà Tho kể với McKelvey rằng, “Mỗi tháng tất cả những bà vợ của những người đàn ông bị tù học tập cải tạo bị đòi hỏi phải đến họp. Mục đích là để cải tạo chúng tôi tại nhà. Họ bảo chúng tôi không được buôn bán và tận dụng lợi thế của người dân. Thực tế họ muốn chúng tôi ở nhà và làm ruộng.”(Sđd., trang 197)
 
Những người vợ cựu tù chính trị VNCH khóc hết nước mắt hàng đêm vì hoàn cảnh bế tắc và vì Cộng Sản áp bức người quá đáng.  Bà Tho kể với McKelvey rằng, “Mỗi đêm tôi đợi mấy đứa con đi ngủ và không thể nghe được, thì tôi khóc bởi vì chúng tôi không có đủ tiền cho tôi đi thăm nuôi chồng tôi. Một ngày sau khi chồng tôi đi tù những người từ chính quyền đến và liệt kê mọi thứ chúng tôi có. Họ lấy một số đồ đạc như máy truyền hình và quần áo của thằng con trai đi lính của chúng tôi. Họ nói rằng đó là “tài sản của nhân dân.” Khi chồng tôi là người chủ gia đình đi rồi, tôi đã bán những gì chúng tôi có để nuôi gia đình. Tôi bán nồi và chảo trước nhà. Ngay cả vậy mà cũng không có gì nhiều để ăn. Thịt và cá thì hiếm khi có. Chúng tôi trộn cà chua với cơm chỉ để làm đầy bao tử.” (Sđd., trang 197)
 
Điều cực kỳ bất công mà Cộng Sản đã làm với những gia đình cựu tù chính trị VNCH là không cho con cái họ đi học. McKelvey thuật lại lời bà Tho kể rằng, “Thực tế con cái không được phép đi học bởi vì địa vị của cha chúng nó trong chính quyền cũ. Chẳng hạn, con gái của tôi học rất giỏi ở trung học. Sau khi tốt nghiệp cháu muốn vào đại học. Ở đó có danh sách ưu tiên để quyết định ai được nhận. Nếu gia đình bạn là Cộng Sản, bạn đứng đầu danh sách. Nếu họ làm việc cho chính quyền cũ, thì bạn đứng đội sổ. Bởi vì cha và anh của cháu đều đi tù học tập cải tạo, nên cháu đã không được nhận.” (Sđd., trang 198)
 
Ra Tù, Về Nhà, Đi Vượt Biên
 
Ra khỏi những nhà tù nhỏ là các trại tù học tập cải tạo, các cựu tù chính trị VNCH tường có thể bước qua được khúc quanh nghiệt ngã này để bắt đầu làm lại cuộc đời. Nhưng, không, họ chỉ mới bước chân vào cái nhà tù lớn của xã hội Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản với vô số khổ sở và trớ trêu khác đang chờ chực.
Đúng vậy, như lời kể của một cựu kỹ sư và thầy giáo thời VNCH đi tù học tập cải tạo về mà McKelvey thuật lại như sau: “Ngày đầu về nhà tôi lo sợ về an ninh. Tôi phải đem giấy chứng nhận ra tù học tập cải tạo đến văn phòng an ninh phường, văn phòng hành chánh phường, và ty an ninh tỉnh để ký xác nhận. Trong tháng đầu sau khi tôi về nhà tôi cũng phải có mặt ở những buổi họp trong xóm mỗi đêm. Chúng giống y chang những buổi họp trong trại tù. Tôi phải đứng dậy và thú tội trước 15, 20 người láng giềng của tôi đang có mặt trong buổi họp. Mỗi lần như thế tôi đều phải bắt đầu bằng câu, “Tôi biết ơn Cộng Sản.” Sau một tháng như vậy tôi mới nhận được giấy nói rằng tôi đã trở lại làm công dân Việt Nam. Rất là quan trọng để tờ giấy đó được ký chứng nhận bởi công an địa phương. Nếu bạn phạm trọng tội, thì họ sẽ lấy lại [giấy tờ và quyền công dân của bạn].” (Sđd., trang 47)
 
Một cựu tù chính trị VNCH khác là cựu đại tá và chỉ huy Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn tên Bích kể cho McKelvey nghe ngày từ trại tù trở về nhà như sau: “Hơi là lạ. Ban đầu, mấy đứa con không nhận ra tôi bởi vì tôi rất ốm. Tôi đi lại khó khăn bởi vì vấn đề dinh dưỡng. Tôi rất yếu. Tất cả trừ đứa con trai út của tôi đều đã đi thăm nuôi tôi ở ngoài Bắc với vợ tôi. Trải qua 2 năm đầu chúng tôi không được phép nhận thư từ gia đình, và qua 3 năm đầu chúng tôi không được thăm nuôi. Sau đó họ có thể thăm nuôi mỗi 6 tháng, nhưng vợ tôi không có tiền để đi thăm nuôi tôi đều như thế. Bà chỉ đi thăm tôi mỗi năm 1 lần hay 2 năm một lần.” (Sđd., trang 65)
 
Còn cựu tù chính trị VNCH là nhà tình báo Sang thì kể như sau, theo McKelvey, “Khi tôi trở về nhà một số người sợ tôi và không muốn liên hệ với tôi. Những người khác thì thông cảm, nhưng tôi không muốn họ gặp rắc rối vì tôi gần gũi với họ, do đó tôi sống rất cô độc. Sau khi trở về nhà nhiều cựu tù chính trị sống cô độc. Nhiều bà vợ bỏ họ trong lúc họ còn trong tù. Nhiều người khác về nhà bị rối loạn thần kinh mà một thời gian ngắn sau đó họ đã ly dị. Hầu hết họ đều không có việc làm. Những nào người ở tù nhiều năm có con lớn lên và khó hiểu biết chúng. Những đứa con độc lập, và không có sự gần gũi giữa chúng và người cha đi tù. Khi những cựu tù ly di với các bà vợ thì những đứa con cảm thấy vô vọng.” (Sđd., trang 95)
 
Giáp mặt với cuộc sống khó khăn mọi mặt ở nhà như thế, nhiều cựu tù chính trị VNCH đã tìm đường vượt biên.
Nhà tình báo Sang kể tiếp cho McKelvey nghe, “Hầu hết mọi người tù trong các trại tù cải tạo đều hy vọng trở thành những người tị nạn tại một quốc gia khác.” (Sđd., trang 95)
 
Cựu tù chính trị VNCH nguyên là phi công tên Tra (tác giả không bỏ dấu) kể về chuyện vượt biên của ông cho McKelvey nghe rằng, “Tôi cố vượt biên bằng thuyền nhiều lần, nhưng đều bị gạt, họ bỏ tôi ở lại. Lần cuối cùng tôi cố vượt biên với mấy người bạn và tôi mua thuyền. Kế hoạch là chúng tôi phải neo thuyền ngoài khơi. Chúng tôi đi ra thuyền đó bằng ghe nhỏ. Nhưng người lái ghe nhỏ của tôi đã bị lạc, và tôi không bao giờ thực hiện được việc đó. 2 người bạn khác của tôi thì đã thành công lái tàu tới Mã Lai Á.” (Sđd., trang 120)
 
Qua Mỹ Và Những Khó Khăn Của Cuộc Sống Mới
 
Ra khỏi Việt Nam đối với các cựu tù chính trị VNCH là một nhu cầu để được sống tự dọ và hạnh phúc, nhất là qua Mỹ. Nhưng trước khi tới Mỹ, không một cựu tù chính trị VNCH nào hình dung ra được những hoàn cảnh thế nào mà họ sẽ phải đối diện mỗi ngày. Vì thế, qua Mỹ là một trong những bước ngoặc lớn trong cuộc đời của một cựu tù chính trị VNCH.
Chúng ta hãy nghe lại lời kể của cựu phi công Tra về những khó khăn nào mà ông gặp phải khi qua Mỹ, “Chúng tôi có nhiều khó khan. Đôi khi tôi nghĩ chúng tôi không tạo nên nó. Sau khi chúng tôi gặp lại nhau vài năm thì bà [vợ] nói với tôi, “Anh biết đó, chúng ta vẫn còn đang thích nghi. Vẫn còn khoảng cách giữa chúng ta.l” Tại Việt Nam, là người chồng, tôi chăm sóc mọi thứ. Ở đây tôi không có gì, không việc làm và không tiền bạc. Bà ấy cho tôi mọi thứ. Tôi cảm thấy bị coi thường. Bà ấy nói rằng, “Hãy ở nhà và nghỉ ngơi.” Tôi nói, “Không, tôi muốn đi làm ngay nếu được.” Vì thế bà đi và bảo với người quản trị của hãng xưởng nơi bà ấy làm việc. Ông ấy cho tôi một việc làm lắp ráp điện tử vào năm 1991, và từ đó tôi làm việc ở đó tới nay.” (Sđd., trang 121)
 
Trường hợp của bà Oanh là vợ của cựu phi công Tra là một điển hình của những người vợ cựu tù chính trị VNCH đã đến Mỹ trước và phải đấu tranh sinh tồn rất khổ cực để vừa nuôi con vừa nuôi chồng trong một đất nước hoàn toàn xa lại. Bà Oanh kể với McKelvey như sau:
“Tôi không biết mặt mũi của tôi ra sao trong thời gian đó. Tôi rất bận rộn đến nỗi không có thì giờ để soi gương. Điều duy nhất mà tôi nghĩ về là kiếm tiền. Tôi có việc làm trong khâu dây chuyền lắp ráp. Tôi chỉ kiếm được 3.25 đô la một giờ, và vì vậy tôi tới sở xã hội để xin giúp đỡ. Người phụ nữ ở đó cũng là một người Việt. Bà ấy rất khinh khỉnh. Bà nói rằng, “Bạn kiếm được 3.25 đô la một giờ, vậy mà bạn vẫn còn đi xin giúp đỡ hà? Tiền nhà của cô chắc là quá cao. Tại sao bạn không dời tới [một chương trình trợ cấp nhà ở rõ rang mà nơi đó có nhiều người tị nạn Việt Nam mới tới ở]? Tôi rất giận. Tôi không biết phải nói gì. Tôi chỉ khóc và bỏ đi.” (Sđd., trang 127)
 
Còn một khó khăn khác mà nhiều cựu tù chính trị VNCH khi qua Mỹ gặp phải đó là sự cách biệt giữa cha mẹ và con cái lớn lên bên này đã trở thành xung đột khó giải kết trong gia đình. Tác giả Robert S. McKelvey nêu ra trường hợp con cái trong gia đình của cựu phi công là cựu tù chính trị VNCH qua lời kể của người con gái tên Phuong (tác giả không đánh dầu), như sau:
“Tôi nhớ căng thẳng giữa ba tôi và người em gái của tôi. Lúc đó em gái út của tôi và tôi ở nhà và 2 đứa em gái khác ở đại học. Tôi không nhớ căng thẳng nhiều tới mức nào giữa ba tôi và tôi, nhưng ba tôi bị bực mình với em gái út của tôi bởi vì nó quá bướng bỉnh. Họ không hạp nhau. Ba tôi thì rất truyền thống và đối xử với con cái theo cách ở Việt Nam. Em gái út tôi là con gái Mỹ. Nó nói những gì nó suy nghĩ và hành động độc lập. Ông còn nhớ sự kiện ba mẹ tôi kể cho ông nghe về việc em gái tôi lái xe lui ra quá nhanh? Ba tôi nói rằng, “Tôi rất giận đứa con gái đó.” Tại Việt Nam bạn không thể hành động như vậy, ngay dù bạn đang giận dữ. Bây giờ em gái tôi cho rằng, “Ba không thích em – Em là đồ rác.” (Sđd., trang 139)
 
Kết Luận
 
Ông Quyet (tác giả không đánh dấu) là một học giả có bằng thạc sĩ tại Hoa Kỳ và dạy tiếng Anh tại Học Viện Quân Sự Quốc Gia Việt Nam (VNCH) trước năm 1975. Sau năm 1975 Quyet đi tù học tập cải tạo. Quyet đã trình bày bằng văn bản ba điều vớiMcKelvey về quan điểm của ông đối với chế độ Cộng Sản Việt Nam. Trong đó ông chỉ trích chính sách tàn ác của Cộng Sản đối với dân quân miền Nam và cho rằng chính quyền CSVN còn nợ người dân miền Nam lời xin lỗi.
Điều thứ ba của văn bản của Quyet viết rằng, “Thứ ba, các anh [Cộng Sản] lớn tiếng kêu gọi mọi người “tha thứ và quên đi.” Hãy để tôi nói rõ rằng chúng tôi đã không, và đang không, mắc nợ các anh bất cứ điều gì [đối với những gì chúng tôi đã làm]. Hầu hết chúng tôi chiến đấu dũng cảm đơn giản là để tự bảo vệ. Không có gì sai với điều đó cả. Khi chiến tranh chấm dứt quá khứ nên để lại sau. Chúng tôi có thể đã là bạn bè của các anh và cùng nhau làm việc với các anh để xây dựng đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta, nhưng các anh đã chọn ôm giữ ác cảm chống lại chúng tôi và đối xử với chúng tôi tồi tệ hơn với thú vật. Các anh mới chính là người nợ chúng tôi một lời xin lỗi [cho điều đó] và đặc biệt đối với việc [các anh] làm ô nhiễm nơi an nghỉ thiêng liêng của những chiến sĩ đã nằm xuống của chúng tôi.” (Sđd., trang 168)
Trong phần kết luận cuốn sách, tác giả Robert S. McKelvey rút ra 5 nhận định từ những kinh nghiệm và bài học của chiến tranh Việt Nam, của các cựu tù chính trị VNCH mà người Mỹ và chính quyền Mỹ cần đặc biệt quan tâm.
– Một, nạn nhân của chiến tranh là những con người nhạy cảm, tế nhị và dễ bị tổn thương nên, người Mỹ cần đối xử công bằng với các đồng minh của mình.
– Hai, sự đau khổ của các nạn nhân chiến tranh không chấm dứt sau khi ký hiệp định hòa bình và rút quân [Mỹ] về nước. Do vậy, việc điều trị vết thương chiến tranh cần thời gian dài sau đó.
– Ba, Hoa Kỳ cần cẩn thận cách can thiệp trên thế giới, mà cụ thể là cần lắng nghe nguyện vọng của các đồng minh.
– Bốn, Hoa Kỳ cần có trách nhiệm với các đồng minh hay quốc gia mà mình can thiệp bằng chiến tranh.
– Và năm, người Mỹ cần nhận thức rõ là họ chiến tranh vì cái gì. Nên nhớ, chuyện mở cuộc chiến tranh không giống như chuyện trong phim, vì nó sẽ để lại nhiều đau khổ cho vô số người trong nhiều thập niên sau đó.
 
Dù cuốn “A Gift of Barbed Wire” đã được xuất bản cách nay 13 năm, nhưng những điều mà tác phẩm này nói đến vẫn còn là các bài học giá trị mà các chính quyền tại Việt Nam và Hoa Kỳ cần phải học lại kỹ lưỡng để tránh gây đau thương cho cả một dân tộc. Đối với người Việt trong và ngoài nước, tác phẩm này chắc chắn là một kho tàng ký ức sâu đậm của một thời lịch sử không thể quên. Khi có dịp gợi lại thì thấy rằng nó vẫn còn nguyên ở đó.
Xin cám ơn tác giả Robert S. McKelvey.
Chú thích:
 (2) R. S. McKelvey, The Dust of Life: America’s Children Abandoned in Vietnam [Bụi Đời: Những Đứa Trẻ Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Việt Nam] (University of Washington Press, Seattle, 1999).
(3) Tranh sơn mài là hình thức hội họa truyền thống Việt Nam được đưa tới Việt Nam từ Trung Quốc vào thế kỷ thứ 15. Sơn mài màu cứng được dung cho gỗ mềm, được đánh bóng cho thật là láng như đồ sứ, và rồi được trang trí hay sơn với những sơn mài màu sắc khác nhau (P. Huard và M. Durand, Viet Nam: Civilization and Culture [Việt Nam: Văn Minh và Văn Hóa], tái bản lần thứ 2 [École Francaise d’Extréme Orient, Hà Nội, 1994], trang 204-7).
(4) N. L. Jamieson, Understanding Vietnam [Hiểu Việt Nam] (University of California Press, Berkeley và Los Angeles, 1993), trang 363.
(5) Sách đã dẫn trên, trang 364.
(6) Chương Trình ODP là sự thỏa thuận song phương đạt được và tháng 7 năm 1979 giữa chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam cho phép sự nhập cư của người Việt vào Hoa Kỳ hợp pháp và an toàn.
(7) Chẳng hạn, xin xem, T. T. Vu, Lost Years: My 1,632 Days in Vietnamese Reeducation Camps [Những Năm Mất Mát: 1,632 Ngày Của Tôi Trong Các Trại Học Tập Cải Tạo Của Việt Nam] (Institute of East Asian Studies, University of California, Berkeley, 1988); T. V. Doan và D. Chanoff, The Vietnamese Gulag [Trại Tù Chính Trị Việt Nam] (Simon and Schuster, New York, 1986).
(8) Thí Dụ, xin xem, M. C. Smith-Fawzi, E. Murphy, T. Pham, L. Lin, C. Poole, và R. F. Mollice, “The Validity of Screening for Post-Traumatic Stress Disorder and Major Depression among Vietnamese Former Political Prisioners” [Giá Trị Của Việc Kiểm Tra Đối Với Chứng Bất An Và Trầm Cảm Nặng Do Căng Thẳng Bởi Hậu Chấn Thương Trong Số Những Cựu Tù Chính Trị Việt Nam], Acta Psychiatrica Scandinavica (1997: 96): trang 87-93; R. F. Mollica, K. McInnes, T. Pham, M. C. Smith-Fawzi, E. Murphy, và L. Lin, “The Dose-Effect Relationships between Torture and Psychiatric Symptons in Vietnamese Ex-Political Detainees and a Comparison Group” [Các Mối Quan Hệ Hiệu Quả Liều Lượng Giữa Tra Tấn và Các Triệu Chứng Tâm Thần Trong Các Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam và Một Nhóm So Sánh], Journal of Nervous and Mental Disorder (1998: 186): trang 543-53.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: