Vũ Thất

Bảo Bình 1

Tình hình Biển Đông

Tàu Mỹ tuần tra không phải ‘ăn miếng trả miếng’ TQ
– Phóng viên VietNamNet trò chuyện với cố vấn chính sách về đại dương, Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Jonathan Odom.
Không đề cập về hoạt động của một tàu chiến cụ thể khi được đề nghị nêu mục đích tuần tra trên Biển Đông của tàu chiến Mỹ USS Fort Worth gần đây, ông Jonathan Odom nhấn mạnh rằng Mỹ luôn duy trì sự hiện diện liên tục tại Biển Đông, thường xuyên có các tàu đến “thực thi nhiệm vụ tại các khu vực phù hợp với luật pháp quốc tế”.
Biển Đông, Mỹ, TQ, cải tạo đảo, tự do hàng hải, quân đội, quốc phòng, công ước luật biển
 
“Chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện đó, có những lúc tăng lên do những nguyên nhân chúng tôi cho là cần thiết. Cũng có những lúc giảm đi nếu có yêu cầu tăng lên ở những khu vực khác. Nhưng việc tàu Mỹ hoạt động tại Biển Đông không có gì mới, các hoạt động này đã diễn ra nhiều thập kỷ nay” – ông Jonathan Odom khẳng định.
Cố vấn chính sách Bộ Quốc phòng Mỹ lý giải thêm “tiếp cận và hiện diện có quan hệ mật thiết. Duy trì việc tiếp cận là để duy trì sự hiện diện. Duy trì sự hiện diện, chúng tôi cũng duy trì khả năng tiếp cận khu vực này. Và cũng là để đảm bảo với các đồng minh và đối tác trong khu vực này về sự cam kết của Mỹ đối với an ninh của khu vực”.
Bảo vệ lợi ích tự do hàng hải
Tàu USS Fort Worth đã đến gần các đảo mà TQ đang cải tạo đến mức nào, và tại sao?
Tôi sẽ không nói về hoạt động của một tàu cụ thể, mà khẳng định các hoạt động của tàu đều tuân thủ luật pháp quốc tế. Các đảo này là nhân tạo, theo UNCLOS là không thể có vùng lãnh hải 12 hải lý, nên tàu Mỹ có thể thực hiện các hoạt động cần thiết tại vùng biển này. Hơn nữa, đây là vùng biển quốc tế mà các tàu đều có quyền đi qua.
Mỹ có thấy cần tăng cường hoạt động này để bắt kịp với tốc độ cải tạo đảo của TQ tại Biển Đông?
Đây không phải là chuyện “ăn miếng trả miếng”, mà là Mỹ làm rõ lợi ích của mình ở khu vực này, trong đó có việc đảm bảo tự do hàng hải. Do đó, nếu có một quốc gia gây cản trở tự do hàng hải bằng những hoạt động không phù hợp với Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982, chúng tôi phải tiến hành những biện pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích về tự do hàng hải của mình.
Các hoạt động này của Mỹ trên Biển Đông có phải là để kiểm tra và tính toán năng lực của hải quân TQ?
Chính phủ Mỹ không có trách nhiệm kiểm tra TQ. Chúng tôi hoan nghênh sự trỗi dậy hòa bình của TQ, và hiểu rằng khi một quốc gia phát triển về kinh tế sẽ có nhu cầu đầu tư mạnh hơn vào quốc phòng. Không ai thách thức năng lực của TQ trong việc tăng cường quy mô hay chuyên nghiệp hóa quân đội.
Thậm chí chúng tôi hoan nghênh quân đội TQ càng trở nên chuyên nghiệp càng tốt. Nhưng dù thế nào, chúng tôi vẫn khuyến khích các quốc gia hành động đúng với luật pháp và thông lệ quốc tế.
Không “đánh lẻ” quốc gia nào
Có ý kiến cho rằng việc Mỹ tăng cường các hoạt động bảo vệ lợi ích tự do hàng hải của mình ở Biển Đông có thể khiến TQ khó chịu?
Trước hết, mục tiêu bảo vệ lợi ích tự do hàng hải của Mỹ được thực hiện trên toàn cầu, chúng tôi phản ứng trước các tuyên bố chủ quyền trên biển của nhiều quốc gia nếu thấy không phù hợp với UNCLOS, không chỉ ở riêng châu Á – Thái Bình Dương.
Một nguyên tắc nữa là, Mỹ phản ứng trước các tuyên bố chủ quyền quá mức của bất cứ quốc gia nào, đồng minh, đối tác, đối thủ cạnh tranh hay kẻ thù tiềm năng. Chúng tôi không “đánh lẻ” quốc gia nào.
Mỹ muốn nhấn mạnh việc tuân thủ luật pháp quốc tế trên biển. Có những tuyên bố chủ quyền trên biển đã được các quốc gia đưa ra trước khi có UNCLOS 1982. Mỹ sẽ hỗ trợ các quốc gia này trong việc hoàn thiện pháp luật quốc gia của họ sao cho phù hợp với các quy định của UNCLOS, và nhiều quốc gia đã làm như vậy.
Nhưng khi có một quốc gia không xem xét điều chỉnh các tuyên bố chủ quyền trên biển của mình cho phù hợp với UNCLOS, chúng tôi trước hết sẽ phản ứng bằng các biện pháp ngoại giao. Sau đó là tiến hành các biện pháp đảm bảo tự do hàng hải trong các vùng biển phù hợp với quy định của UNCLOS.
Các biện pháp này đều được công khai, hàng năm trên trang web của Bộ Quốc phòng Mỹ đều công bố danh sách các quốc gia ven biển có những tuyên bố chủ quyền trên biển mà Mỹ đã phản ứng, cùng với các biện pháp mà chúng tôi đã sử dụng để thể hiện phản ứng của mình.
Ngoài UNCLOS, Mỹ cũng khuyến khích các quốc gia ven biển thể hiện các tuyên bố chủ quyền của mình phù hợp với các khuôn khổ luật pháp quốc tế khác, trong đó có Hiến chương LHQ, theo đó các quốc gia cần tìm cách giải quyết các tranh chấp chủ quyền thông qua các biện pháp hòa bình, thông qua đàm phán hoặc cơ quan trọng tài, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.
Theo ông, đâu là mối đe dọa lớn nhất đối với tình hình tại Biển Đông hiện nay?
Tôi sẽ không xếp hạng nhất nhì, nhưng muốn nhấn mạnh rằng tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng khi một hoặc nhiều quốc gia có sự hiểu nhầm, tính toán sai khiến một tình huống căng thẳng vượt tầm kiểm soát dẫn đến việc sử dụng vũ lực.
Các nước đều có lý do để đưa ra các tuyên bố chủ quyền của mình, và hẳn đều không muốn xung đột, nhưng trên thực địa, khó mà dự đoán các tình huống va chạm giữa các tàu. Vì thế, chúng tôi muốn các quốc gia cố gắng hết sức tránh những hiểu nhầm và tính toán sai, đồng thời tăng cường các thể chế để củng cố lòng tin trong khu vực.
Chung Hoàng (từ Washington DC)
nguồn: vietnamnet
Trung Quốc đã ép Nhật 
phải tuốt gươm khỏi vỏ

Sự trỗi dậy về quân sự và quốc phòng của Nhật Bản đã là điều không thể ngăn cản. Và Trung Quốc đang tỏ ra là người lo ngại nhất. Vì hơn ai hết, Trung Quốc hiểu rõ sức mạnh quân sự thực sự của Nhật Bản đáng sợ như thế nào.
Thế chiến hai kết thúc cách đây đã được 70 năm và đưa thế giới quay trở lại quỹ đạo hòa bình. Nhưng có một quốc gia duy nhất đến tận bây giờ vẫn phải gánh chịu những hệ quả từ cuộc đại chiến thế giới đó, là Nhật Bản. Nhật gần như là nước duy nhất trên thế giới không được phép thành lập quân đội và phát triển quốc phòng sau khi thế chiến hai kết thúc, trong khi hầu hết các nước bại trận khác kể cả Đức đều không phải gánh chịu sự ràng buộc này. 

Bề ngoài, lý do chính thức được đưa ra là cảm giác hối hận về những điều mà quân đội Nhật Bản đã gây ra trong thế chiến và sự khao khát hòa bình đủ để người Nhật sẽ không bao giờ tái vũ trang quân đội. Thậm chí, điều này còn được ghi vào Hiến pháp Nhật. Nhưng thực tế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nguyên do chủ yếu nhất là trình độ phát triển công nghệ quân sự của Nhật Bản đã ở mức quá cao và gây lo ngại cho thế giới phương Tây, trực tiếp nhất là Mỹ – quốc gia đã nếm thử sức mạnh của quân đội Nhật trong thế chiến.

Nhắc đến sức mạnh quân sự của Nhật Bản trong thế chiến hai, đến giờ nhiều nhà nghiên cứu vẫn coi đó là một huyền thoại mà sẽ rất lâu nữa mới có một quốc gia châu Á khác bì kịp. Nhật Bản là một nước châu Á canh tân theo mô hình phương Tây từ nửa sau thế kỷ 19, khi hầu hết các nước phương Tây khác đã công nghiệp hóa và đi xâm chiếm thuộc địa khắp thế giới. Nhưng chỉ chưa đầy 100 năm sau, Nhật Bản đã là một cường quốc hàng đầu trên thế giới, khiến hàng loạt cường quốc phương Tây phải kính nể. Đỉnh điểm cho sức mạnh tổng hợp của người Nhật là giai đoạn trước thế chiến hai, khi Nhật cùng với Mỹ và Anh là ba quốc gia có lực lượng hải quân mạnh nhất thế giới. 

Khi mà sang thế kỷ 21, người Trung Quốc mới có chiếc tàu sân bay đầu tiên của mình vốn cải tạo từ một đống phế liệu mua về và coi nó là biểu tượng cho sức mạnh quân sự quốc gia, thì cách đây 70 năm Nhật Bản đã tự sản xuất được những hạm tàu sân bay lừng danh. Sức mạnh hạm đội Nhật khi đó mạnh đến nỗi, đã có thời điểm Nhật ngang ngửa với Mỹ trong những trận chiến trên mặt biển. Và giờ đây, khi mà khoảng cách giữa hải quân Mỹ với phần còn lại của thế giới đã trở nên quá lớn, thì người ta cũng hình dung ra được phần nào sức mạnh khủng khiếp của hạm đội Nhật từ cách đây 70 năm.
Trung Quốc, hơn ai hết là người hiểu rõ sức mạnh quân sự của Nhật Bản đáng sợ như thế nào. Trước khi xâm lược Trung Quốc vào năm 1937, Nhật đã đánh bại Trung Quốc trong cuộc đọ sức giữa hạm đội Nhật và hạm đội nhà Thanh, chiến thắng đó đã đem lại cho Nhật đảo Đài Loan, bàn đạp để xâm lược Trung Quốc sau này. Sự chênh lệch về trình độ phát triển, đặc biệt là trình độ quân sự và quốc phòng, đã khiến cho Trung Quốc dù đã vượt qua Nhật về quy mô kinh tế nhưng vẫn bị đánh giá là dưới cơ so với hải quân Nhật khá nhiều. 
So với những cuộc tranh chấp lãnh hải ở biển Đông, thì cuộc tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với Nhật Bản của Trung Quốc vất vả hơn rất nhiều. Một hạm đội Nhật Bản bị giới hạn năng lực phát triển trong 70 năm qua vẫn được đánh giá là mạnh hơn hạm đội Trung Quốc, thì một khi Nhật Bản được nới dây và thoải mái phát triển công nghiệp quốc phòng, không ai có thể hình dung được khoảng cách khi đó giữa Nhật và Trung Quốc sẽ lớn như thế nào.
Sự lo ngại của Trung Quốc về một sự trỗi dậy về sức mạnh quân sự của Nhật Bản là có lý, khi mà chỉ vừa sau khi thỏa thuận liên minh mới giữa Mỹ và Nhật được thông qua, thì Nhật Bản đã ngay lập tức hành động. Trong động thái mới nhất, Nhật được xem là nước có ưu thế lớn nhất trong việc cung cấp tàu ngầm mới cho hải quân Australia so với hai đối thủ cạnh tranh khác là Đức và Pháp. Cuộc cạnh tranh cung cấp tàu ngầm cho hải quân Australia là thương vụ đầu tiên trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng của Nhật kể từ sau thế chiến hai, ngoại trừ những trao đổi công nghệ giữa Nhật với đồng minh là Mỹ. 
Việc lớp tàu ngầm Soryu của Nhật được đánh giá cao hơn lớp tàu ngầm Type-214 Diesel của Đức và Scorpene của Pháp đang cho thấy, người Nhật đã không hề bỏ phí thời gian trong 70 năm qua. Công nghiệp quốc phòng của Nhật vẫn phát triển rất mạnh, thậm chí còn trội hơn Đức trong lĩnh vực tàu ngầm – vốn là lĩnh vực sở trường của Đức từ thế chiến hai.
Hầu hết các nhà phân tích đều cho rằng, Nhật Bản một khi được cởi trói sẽ quay trở lại vị trí một trong những quốc gia có nền quốc phòng mạnh nhất thế giới. Với nền tảng vượt trội từ thế chiến hai, và được liên tục phát triển trong 70 năm với điển hình là lĩnh vực phát triển tàu ngầm, Nhật Bản sẽ nhanh chóng tạo được một trong những hạm đội mạnh nhất thế giới nếu muốn. Một khi giành được chiến thắng với hợp đồng cung cấp tàu ngầm cho hải quân Australia trị giá lên tới 50 tỷ USD, Nhật Bản sẽ trở thành một trong những nước cung cấp vũ khí và công nghệ quốc phòng lớn nhất trên thế giới. 
Điều này được biệt ý nghĩa khi Nhật đang được xem là một trong những nước đứng hàng đầu thế giới trong khá nhiều lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, từ việc chế tạo tàu ngầm, cho tới thiết lập những hạm tàu khu trục lớn và các tàu sân bay vốn rất nổi danh trong thế chiến hai. Khá nhiều quốc gia hiện đang rất quan tâm đến lĩnh vực công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản, như Anh, Pháp, Ấn Độ và Indonesia. Có nguồn cung cấp từ Nhật, các quốc gia trong khu vực và trên thế giới sẽ không phải phụ thuộc vào những nguồn cung cấp cố hữu như Mỹ, Nga hay Đức và Pháp. 
Sự phát đạt của công nghiệp quốc phòng sẽ không chỉ tạo điều kiện để Nhật Bản tái vũ trang lại quân đội, mà còn được xem là một bàn đạp hữu dụng để giúp quá trình cải tổ nền kinh tế Nhật của thủ tướng Shinzo Abe diễn ra hiệu quả hơn.

Nhàn Đàm (theo The Diplomat)
nguồn: một thế giới

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: