Vũ Thất

Bảo Bình 1

Cú sốc Galaxy Note 7 & Kinh tế Việt Nam tụt hậu

Cú sốc Galaxy Note 7 của Samsung không thể làm kinh tế Việt Nam “chao đảo”
 
VietTimes — Sau khi Samsung dừng bán, đổi Galaxy Note 7 trên toàn cầu, tiến hành chiến dịch thu hồi sản phẩm này, có ý kiến cho rằng sự cố của Samsung có thể khiến kinh tế Việt Nam chao đảo, khi kim ngạch xuất khẩu của hãng hiện chiếm tới 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Nhật Đông
Theo Bộ Công Thương, trong gần 3 tuần, 19/8 - 7/9/2016, số lượng điện thoại Galaxy Note 7 đã bán ra lên tới 12.633 chiếc.Theo Bộ Công Thương, trong gần 3 tuần, 19/8 – 7/9/2016, số lượng điện thoại Galaxy Note 7 đã bán ra lên tới 12.633 chiếc.
 
Cơn ác mộng mang tên “Galaxy Note 7”
Sáng 11/10, hãng Samsung Electronics Co. đã có văn bản đề nghị các đối tác trên toàn cầu ngừng bán, đổi điện thoại thông minh thế hệ mới Galaxy Note 7 và khuyến cáo khách hàng ngừng ngay việc sử dụng dòng máy này do những lo ngại về độ an toàn.
Galaxy Note 7 chính thức lên kệ vào ngày 19/8 với giá 18,99 triệu đồng. Đây là chiếc di động dòng Note đầu tiên của Samsung sở hữu màn hình cong 2 cạnh, tính năng chống nước chuẩn IP-68 (ngâm nước ở độ sâu 1,5m trong 30 phút) và cổng USB-C.
Thời điểm phát đi đề nghị này là chỉ hơn 1 tháng sau khi nhà sản xuất điện thoại thông minh lớn nhất thế giới công bố quyết định thu hồi 2,5 triệu chiếc Note 7 tại 10 thị trường trọng điểm trên toàn cầu sau các sự cố cháy nổ pin lithium-ion của điện thoại trong lúc sạc.
Việc thu hồi sản phẩm với quy mô chưa từng có và cũng chưa từng có tiền lệ này được đánh giá là một tổn thất nặng nề với Samsung – Tập đoàn điện tử vốn luôn tự hào về công nghệ và chất lượng sản phẩm.
Thông báo ngày 11/10 là văn bản thừa nhận chính thức đầu tiên của Samsung về những nguy cơ mất an toàn vẫn đang tiềm ẩn trong dòng sản phẩm Note 7. Thông báo được đưa ra một ngày sau khi Samsung thừa nhận dừng sản xuất dòng điện thoại này.
Thông báo của Samsung nêu rõ: “Vì sự an toàn của khách hàng luôn là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi, Samsung sẽ yêu cầu mọi nhà cung cấp và các đối tác bán lẻ trên toàn cầu dừng việc bán và đổi điện thoại Galaxy Note 7 trong khi việc điều tra được tiến hành”.
“Đại bản doanh” lo kim ngạch xuất khẩu sụt giảm
Samsung hiện có 9 nhà máy sản xuất và đầu tư vào nhiều nước, song Việt Nam là đại bản doanh sản xuất smartphone của Samsung trên toàn cầu. Vì vậy, giới chuyên gia kinh tế luôn giữ nhận định, nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng nhiều từ mỗi biến động của Samsung. Do đó, việc Note 7 dừng sản xuất chắc chắn sẽ tác động tới nền kinh tế nói chung và kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nói riêng.

Trong năm 2015, Samsung đã nộp khoảng 2.000 tỷ đồng tiền thuế và doanh nghiệp FDI này sẽ hết thời hạn
ưu đãi thuế vào năm 2018.
 
Tại buổi công bố báo cáo Kinh tế vĩ mô quý III/2016 do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) tổ chức, ông Trương Đình Tuyển – nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại cho rằng, động lực quan trọng giúp nền kinh tế phục hồi trong quý III và quý IV nằm ở mặt hàng điện thoại di động của Samsung bởi nhóm hàng điện thoại, linh kiện điện tử của Samsung chiếm tỷ lệ lớn, lên tới 20% trong kim ngạch xuất khẩu.
Tuy nhiên, ông cũng đánh giá, hiện Samsung đang gặp khó khăn với sự cố dòng điện thoại Galaxy Note 7, việc thu hồi dòng sản phẩm này trên phạm vi toàn cầu chắc chắn sẽ khiến xuất khẩu điện thoại của Samsung sẽ chững lại và ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam nói chung.
Không đồng tình với nhận định này, đại diện Samsung Việt Nam cho biết, sản phẩm Galaxy Note 7 chỉ chiếm một phần nhỏ trong cơ cấu sản xuất tại 2 nhà máy Samsung Việt Nam. Ngoài Galaxy Note 7, hãng còn sản xuất nhiều sản phẩm điện thoại khác như S7, S7 Edge, Galaxy A, Galaxy J… và Table.
Đồng thời, với khoảng 100.000 nhân viên ở Việt Nam, hiện Samsung không có kế hoạch cắt giảm nhân viên trong năm 2016. Samsung Việt Nam khẳng định họ vẫn duy trì mục tiêu xuất khẩu của năm nay dù công ty mẹ ngừng sản xuất dòng điện thoại chủ chốt của hãng là Galaxy Note 7 sau những sự cố về pin.
“Sự cố Galaxy Note 7 sẽ không tác động nhiều đến kim ngạch xuất khẩu của năm 2016 và tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2016 này dự kiến sẽ tăng hơn so với năm 2015” – Samsung Việt Nam cho biết.
 
Đồng tình với tuyên bố này, Giáo sư Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng cho rằng, tác động của việc dừng sản xuất Note 7 có thể không quá lớn. Ông dẫn ra nhiều lý do, nhưng chủ yếu là thời điểm xảy ra sự việc thu hồi  do Galaxy Note 7 vào cuối năm, dòng sản phẩm này lại thuộc phân khúc cao cấp và chỉ là một trong số rất nhiều dòng sản phẩm của Samsung Việt Nam đang sản xuất và xuất khẩu.
Được biết, giá trị gia tăng mà Samsung mang lại cho kinh tế Việt Nam thông qua việc sản xuất và xuất khẩu tăng đều qua các năm: Năm 2014 là 9,35 tỷ USD, năm 2015 là 15,46 tỷ USD, dự kiến năm 2016 là 17,47 tỷ USD.
Đến nay, Samsung đã đầu tư khoảng gần 15 tỷ USD vào Việt Nam với 2 dự án lớn nhất  là Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên (SEVT) rộng 170ha ở Phổ Yên, Thái Nguyên và Khu tổ hợp là Samsung Electronics Việt Nam (SEV) với diện tích 110ha ở Yên Phong, Bắc Ninh. Hai nhà máy này đều sản xuất và lắp ráp điện thoại di động, máy tính bảng và linh kiện điện thoại để xuất khẩu cho hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Riêng sản phẩm từ 2 nhà máy này đã cung cấp tới 35% lượng điện thoại của Samsung trên toàn cầu.
Gần đây, Samsung còn đầu tư hơn 3 tỷ USD vào Samsung Display (Bắc Ninh); 300 triệu USD vào Trung tâm R&D chuyên nghiên cứu sáng tạo các sản phẩm mới của tập đoàn. Trong năm 2016 này, nhà máy ở TPHCM và Samsung Display sẽ tiếp tục đi vào hoạt động, sản lượng cung cấp ra toàn cầu dự kiến rất lớn.
Việt Nam có nguy cơ tụt hậu xa hơn
• Trung Quốc và Cộng đồng Kinh tế ASEAN là hai nhân tố phải xem xét thật kỹ
 
(SGGPO).- Sáng 12-10, Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2016 với chủ đề “Thách thức tái cơ cấu và triển vọng” đã diễn ra tại Hà Nội. PGS.TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đã trình bày báo cáo đề dẫn tại Diễn đàn.

Toàn cảnh Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2016

Báo cáo đề dẫn của ông Trần Đình Thiên nhấn mạnh, nhiệm vụ tái cơ cấu nảy sinh từ việc chúng ta duy trì quá lâu một mô hình tăng trưởng kém hiệu quả, thực chất là duy trì một hệ thống phân bổ nguồn lực sai lệch – tập trung nguồn lực cho những ngành khai thác tài nguyên, gia công lắp ráp, những ngành thâm dụng lao động kỹ năng thấp và tiền lương thấp, sử dụng nhiều vốn thay vì các ngành định hướng công nghệ và giá trị gia tăng cao.
 
Trong mô hình đó vận hành hệ thống phân bổ nguồn lực nặng nguyên lý “xin – cho”, dành ưu tiên cho khu vực doanh nghiệp nhà nước; nỗ lực thu hút đầu tư nước ngoài trực tiếp “đẳng cấp” thấp thay vì bằng cách nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh và năng lực nội lực.
 
“Kết cục là sau 30 năm đổi mới, nước ta mới chỉ thoát khỏi nhóm nước thu nhập thấp và gia nhập vào nhóm nước thu nhập trung bình thấp. “Tụt hậu và tụt hậu xa hơn” đã chuyển từ nguy cơ lớn nhất thành hiện thực ngày càng rõ. Hội nhập quốc tế – với sự kiện đánh dấu là Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 – trở thành phép thử, đủ hiệu nghiệm để đẩy nền kinh tế đó lâm vào tình trạng khủng hoảng chỉ sau vài năm. Những nỗ lực vật lộn để đạt được các thành tích ngắn hạn – luôn ở mức “quyết liệt” – đã che lấp tầm nhìn dài hạn”, ông Thiên bình luận.
 
Với kinh nghiệm thành công của Đổi mới, khi công cuộc Tái cơ cấu được khởi động, cả xã hội đều lạc quan tin rằng chỉ cần 2-3 năm là sẽ cơ bản giải quyết “3 tuyến đột phá” – nợ xấu ngân hàng, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (trọng tâm là cổ phần hóa) và thay đổi cơ chế đầu tư công. Nhưng thực tế tái cơ cấu tiến triển rất chậm, thành quả đạt được khá hạn chế, còn xa mới đạt mục tiêu và kỳ vọng.
 
Cơ chế đầu tư công thực chất vẫn chưa thay đổi, vẫn lấy “xin – cho” làm trụ, trong khi khó khăn ngân sách trở nên trầm trọng hơn và nợ công tăng nhanh. Hệ thống ngân hàng đã “trụ” được qua cơn sóng gió, song “cục máu đông” – nợ xấu hầu như vẫn còn nguyên, thậm chí khối lượng nợ xấu còn tăng lên.
 
Hệ thống ngân hàng đang thanh lọc, loại bỏ những bộ phận yếu kém, hư hỏng, song đang rất yếu, đang vận hành trên một nền tảng rất thiếu vững chắc. Còn hệ thống doanh nghiệp nhìn chung là yếu, đặc biệt là lực lượng doanh nghiệp nội địa, cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân – thấp về đẳng cấp, yếu về thực lực và sức cạnh tranh.
 
Vẫn theo ông Trần Đình Thiên, đến nay, Chính phủ đã cổ phần hóa được không ít DNNN, song có thể chỉ khoảng 10%-15% tổng số vốn của các DNNN được cổ phần hóa. “Đó thực sự là một tỷ lệ quá ít ỏi để thay đổi hệ thống quản trị doanh nghiệp”, ông Thiên nhận xét. 
 
Nhiều ý kiến tại Diễn đàn đã chỉ ra một yếu tố đặc biệt quan trọng, có tác động rất mạnh đến tư duy và định hướng tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn tới là triển vọng nền kinh tế Trung Quốc. Vấn đề đặt ra cho Việt Nam là làm sao để giảm thiểu tác động gây “sốc” từ cú “hạ cánh” của nền kinh tế Trung Quốc  và nhanh chóng thoát khỏi sự lệ thuộc cơ cấu vào nền kinh tế Trung Quốc.
 
Việc Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đi vào vận hành cũng tác động rất mạnh đến cơ cấu kinh tế của Việt Nam. Mục tiêu lớn nhất của AEC là hình thành “một thị trường và một cơ sở sản xuất thống nhất”, nhưng công cụ thực hiện vẫn chủ yếu dựa trên nguyên lý sức mạnh cạnh tranh của các nền kinh tế thành viên, của các tập đoàn doanh nghiệp. Trong cuộc đua tranh sắp xếp chiến lược này, Việt Nam đang bị kém thế trên nhiều phương diện.
 
Thêm vào đó, dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và cuộc tranh chấp nước sông Mekong, điều kiện sản xuất và sinh sống cơ bản của Việt Nam đang thay đổi rất mạnh mẽ và sâu sắc, nhất là ở vùng ven biển, vùng Tây Nam bộ và Tây Nguyên. Đây cũng là yếu tố quy định chiến lược phát triển quốc gia trong giai đoạn tới.
 
ANH PHƯƠNG

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: