Vũ Thất

Bảo Bình 1

45 Năm Giỗ Trận Hoàng Sa

45 Năm Giỗ Trận Hoàng Sa tại San Diego

19/1/1974-19/1/2019

Đúng ngày 19/1/2019, một buổi lễ đơn giản nhưng không kém phần trang nghiêm của anh em Hải Quân San Diego phối hợp với Cộng Đồng VN San Diego đã diễn ra tại Torrey Pines Beach, San Diego để tưởng niệm 74 chiến sĩ Hải Quân QLVNCH đã tử trận trong trận hải chiến giữ nước tại quần đảo Hoàng Sa 45 năm về trước.

Anh em Hội Hải Quân Hàng Hải San Diego theo truyền thống tổ chức Giỗ Trận Hoàng Sa ngoài biển từ ngày thành lập hội, mặc dù khó khăn trong việc di chuyển và tổ chức, năm nay buổi lễ đã được tổ chức tại Torrey Pines Beach, một bãi biển hùng vĩ với những đợt sóng to cuồn cuộn theo ngọn thủy triều.

Một bàn thờ đơn giản gồm một lư hương, bát nhang, danh sách tử sĩ và một vòng hoa, lá cờ vàng huy hoàng tung bay ngạo nghễ trong cảnh trời biển bao la, niềm kiêu hãnh của những chiến sĩ đã từng phục vụ dưới cờ.

Các anh chị em Hải Quân đã hướng ra Thái Bình Dương chào kính và thắp nhang tưởng niệm các bạn bè vị quốc vong thân và cầu nguyện cho đất nước sớm được dân chủ tự do và thoát ách kềm kẹp của kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Những cánh hải âu bay trên những ngọn sóng bạc đầu tưởng như như lòng thành của đồng đội và đồng bào được các tử sĩ Hoàng Sa chiếu cố.

Bản Tiếng Sóng Vân Đồn ca ngợi chiến công hiển hách của tiền nhân chống hàng vạn quân Mông Cổ được anh em Hải Quân hát vang hòa cùng tiếng sóng gầm dào dạt đã kết thúc buổi tưởng niệm thiêng liêng.

Năm nay một số phần tử xấu xa tại Hải Ngoại, cánh tay nối dài của cộng sản Hà Nội ra sức đánh phá, hạ thấp giá trị của trận đánh Hoàng Sa bằng những luận điệu ngốc nghếch, dẫn chứng sai lạc hòng lấp liếm tội ác của Hà Nội đã đem 64 chiến sĩ Công binh và hải quân làm bia tập bắn cho Hải Quân Trung Cộng mà không dám bắn trả một phát súng nào do lệnh cấm không được bắn vào các đồng chí anh em từ Bộ Chính Trị. Những phần tử động chạm đến danh dự Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung và Hải Quân VNCH nói riêng đều bị cộng đồng hải ngoại tẩy chay và chui vào bóng tối của tủi nhục.

Mặc dầu vậy, đồng bào trong nước từ Hà Nội đến Sài Gòn vẫn hiên ngang tổ chức tưởng niệm Trận Hoàng Sa để ghi ơn các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ Quốc. Các Hội Hải Quân và Cựu Chiến Binh QLVNCH trên toàn thế giới đồng loạt tổ chức 45 Năm Giỗ Trận Hoàng Sa vô cùng trọng thể. Dầu sao mặc lòng, chính nghĩa của quân dân VNCH trong việc nhận diện kẻ thù và đứng lên đánh trả, dù sức yếu thế cô, lại còn bị anh em miền Bắc hung hiểm hùa theo giặc tiếp tay cho Trung Cộng phá hoại miền Nam. Dù mất đảo, nhưng Hoàng Sa mãi mãi trong tim dân Việt, ngọn lửa chủ quyền không bao giờ tắt, trong tương lai quần đảo Hoàng Sa sẽ vĩnh viễn thuộc về mảnh giang sơn gấm vóc của Việt tộc này. Một buổi lễ cầu siêu cho các tử sĩ Hoàng Sa sẽ được tổ chức vào lúc 11:00AM ngày Chủ Nhật 20/1/2019 tại Hội Đền Hùng San Diego 4120 30th St, Ste 104 San Diego, CA 92104 – (619) 282-3771.

 

 

 

 TCH

nguồn: http://hoangsaparacels.blogspot.com

Về cái lý sự ‘không thích chế độ này thì ra nước ngoài mà sống’

Về cái lý sự ‘không thích chế độ này thì ra nước ngoài mà sống’

Mạc Văn Trang

Ta thường bắt gặp trên mạng xã hội và cả trong đời sống, một số người lý sự rằng, “Anh phê phán, không thích chế độ này, thì ra nước ngoài mà sống”; “Chị muốn tự do, dân chủ, thì sang Tây mà sống”! Có lẽ chính quyền cũng đồng lõa và khuyến khích những người có thái độ như vậy, nên cái lý sự này ngày càng lan rộng, nhất là khi chính quyền đã trục xuất ra nước ngoài, một số tù nhân đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền… Xin có mấy ý kiến như sau.

1. Nếu chế độ XHCN tốt đẹp, “dân chủ gấp vạn/triệu lần” xã hội tư bản, thì sau năm 1975 đã không có hàng triệu người Việt phải đau khổ, bỏ nhà cửa, tài sản, mạo hiểm cả mạng sống của mình, quyết ra đi. “Đến cái cột điện mà biết đi thì nó cũng di tản”! Đồng bào mình phải bỏ quê hương, đất nước ra đi là nỗi đau đớn tột cùng. Chỉ có những kẻ vô lương tâm mới dửng dưng, vô cảm, nói người dân “… ra nước ngoài mà sống”!

2. Đất nước hòa bình, thống nhất, phát triển hơn 40 năm rồi, nay người Việt vẫn tìm đường ra đi: Bao nhiêu cô gái xếp hàng cho người ta chọn làm vợ dân xứ Đài Loan, Hàn Quốc…; bao nhiêu người “chạy” để được đi xuất khẩu lao động, sang nước người ta làm những việc mà dân sở tại không ai muốn làm; bao nhiêu người hết hạn lao động trốn chui, trốn lủi để lưu vong xứ người; bao nhiêu người tốn kém mấy trăm triệu cho các đường dây, để được sang châu Âu, tìm cách bám trụ, rồi đưa gia đình sang; vừa mới rồi 152 người đi du lịch Đài Loan trốn ở lại; 30 du học sinh Việt Nam bỏ học và trốn ở Hàn Quốc… Rồi bao nhiêu quan chức, đại gia gửi con du học ở các nước tư bản, mua nhà bên đó, chuẩn bị tổ ấm cho tương lai…?

Nếu bây giờ Việt Nam được miễn thị thực vào các nước, không biết bao nhiêu người sẽ bỏ nước ra đi? Hiện trạng nói trên là thực tế đau buồn, đối với những người có lòng yêu nước, thương dân, biết tự trọng dân tộc. Một chính quyền chân chính phải thấy hổ thẹn khi dân bỏ nước mà đi. Phải nghĩ xem, tại sao lại như vậy?

3. Nhưng không vì thế mà cho phép ai đó có quyền nói với một công dân rằng, “Anh muốn tự do, dân chủ thì ra nước ngoài mà sống”! Nếu người ta sống nhờ trong nhà anh, thì anh có quyền nói vậy. Nhưng đây là Tổ quốc, là Đất nước của mọi người dân Việt Nam. Các Vua chúa ngày xưa cũng luôn nói, đất nước là của muôn dân trăm họ. Quyền được sống, được chết trên đất nước mình là điều thiêng liêng, đối với mỗi công dân. Một chính quyền chân chính phải luôn luôn bảo vệ quyền đó của công dân và tự hào khi người dân gắn bó với quê hương. Ta thật tự hào, khi Trần Bình Trọng đanh thép tuyên bố “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm Vương đất Bắc”! Ta thật cảm động khi Trần Huỳnh Duy Thức quyết tuyệt thực, phản đối bị trục xuất ra nước ngoài và dõng dạc nói: “Tôi không ra nước ngoài. Tôi ở lại để phục vụ đất nước”. Mà đấu tranh đòi tự do, dân chủ thì có gì sai? Chính Cụ Hồ đã viết: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”! Người ta đấu tranh, đòi hỏi tự do, dân chủ đâu phải cho cá nhân mình, mà vì muốn những quyền đã ghi trong Hiến pháp và những cam kết quốc tế, phải được thực thi cho mọi công dân Việt Nam.

Những người chỉ biết “còn Đảng, còn mình” cũng nên nhớ rằng, đất nước Việt Nam hình chữ S, từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau hôm nay, là bao nhiêu mồ hôi, xương máu ngàn đời của Tổ tiên các dân tộc Việt Nam đã khai phá, tôn tạo, bảo vệ, mới có được giang sơn này, để lại cho muôn đời con cháu. Những người cộng sản từ 1945 đến nay, có khai phá, mở rộng bờ cõi thêm được tấc đất nào không? Không những thế, việc cắm mốc biên giới phía Bắc với Trung cộng, bị thua thiệt, mất bao nhiêu đất cũng chưa được công khai cho dân biết; rồi mất đảo Gạc Ma vào tay Trung cộng 1988; thêm nữa, do quản lý yếu kém, “rừng vàng, biển bạc” tổ tiên để lại, giờ tan hoang, xơ xác…

Điều tệ hại nhất là, những người cộng sản đã không khai phá mở rộng thêm đất nước, mà lại ra Luật “đất đai là sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý”, để tha hồ cưỡng chế, thu hồi đất, gây nên bao thảm cảnh. Vì vậy, cần thực tâm suy nghĩ, nên biết điều, đừng cậy quyền, cậy thế, đuổi người này, trục xuất người kia ra khỏi Tổ quốc thiêng liêng của toàn thể các dân tộc Việt Nam, của mọi người dân sống trên đất nước này.

16/1/2019

Mạc Văn Trang

nguồn: danchimviet.info

Tận cùng của sự tàn nhẫn

Tận cùng của sự tàn nhẫn

Khi vụ vườn rau Lộc Hưng bị cưỡng chế và phá tan hoang, tui liền viết về anh bạn tui, người lớn lên ở vùng đất ấy với ngụ ý chứng minh rằng khu này đã tồn tại từ 1954 chứ không phải là xóm liều với toàn thành phần bất hảo chiếm đất mở quán thịt chó từ năm 1988 như nhà nước và báo chí đã thông tin. Cho đến giờ này đã có nhiều bài viết về Lộc Hưng. Đã có hai ba luồng dư luận khác nhau dù giấy tờ chứng minh nguồn gốc đã được trưng ra, toàn chứng hợp pháp. Đúng sai cũng đã dễ dàng nhìn thấy.

Hôm nay, tui không nói về luật pháp nữa mà tui muốn nói đến sự tàn nhẫn tận cùng của con người. Đối với người Việt, giỗ Tết là thời điểm quan trọng nhất của một năm. Kẻ ly hương không sum họp được với ngày Tết là kẻ bất hạnh. Người ở nhà không đốt được nén nhang trên bàn thờ tổ tiên trong ba ngày Tết là kẻ bất hiếu. Đọc truyện của ông Nam Cao, ông Ngô Tất Tố trong hoàn cảnh nghèo đến tận đáy, người ta cũng cố cho có một nén nhang, miếng bánh trên bàn thờ. Thế mà thời nay, thời độc lập tự do hạnh phúc, thời của thiên đường, thời chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc người ta nỡ lòng nào đem xe ủi phá nát 112 căn nhà. Đập đổ 112 cái bàn thờ, xua hàng ngàn con người không còn nơi nương tựa, lâm vào cảnh màn trời chiếu đất trong khi Tết đã chạm ngõ.

Ngày trước có bài hát Xuân này con không về, nghe đã não nuột. Bây giờ Xuân này con không nhà nghe cay đắng hơn nhiều. Tết này ở Lộc Hưng sẽ có nhiều người sẽ không biết đốt đèn vào đâu, cắm cây nhang vào đâu để rước ông bà, để đón xuân mới. Sẽ không còn nồi bánh chưng đỏ lửa ven hè để đón xuân sang. Lộc Hưng chẳng còn tiếng cười, chỉ còn giọt nước mắt. Trẻ con không còn được khoe áo mới, được chúc Tết ông bà bởi căn nhà ấm êm bây giờ chỉ còn là đống gạch vụn. Sự tàn nhẫn đã đi đến tận cùng. Dự án xây trường học có phải làm ngay đâu, sao phải đập nhà dân, phá hỏng cái ngày thiêng liêng nhất của dân trong thời gian này? Căm thù dân đến thế sao? Tàn ác với dân đến độ đó sao? Trả thù dân bằng cách dân không còn nhà ăn Tết là hành động vô đạo lý. Làm người lại là người đang nắm trong tay quyền lực mà hành động bất chấp đạo lý làm người, phi nhân tính thì còn tệ hơn con vật. Người cộng sản thời 1945 có lý tưởng dân tộc, người cộng sản bây giờ lý tưởng là chức vụ, là quyền lợi là tài sản thu lượm được. Do vậy, việc gì mang lại lợi ích cho họ, họ sẽ bất chấp tất cả, lương tâm, phẩm giá, đạo lý, lòng nhân đạo…trở thành những trò cười với họ.

 
Inline image

Có dư luận cho rằng vùng đất này dung dưỡng mấy người tham gia chống nhà nước. Họ là những người lên tiếng trước bất công, kêu gọi dân chủ, chống mưu toan xâm lược Việt Nam của Trung quốc, chống Formosa ô nhiễm, đầu độc biển cả Việt Nam. Họ bị bắt bớ, tra khảo tù đày, khi ra tù, công an cô lập họ, không thuê được nhà ở bất cứ đâu vì công an đến làm khó dễ với chủ nhà. Họ đến với Lộc Hưng, cộng đồng giáo dân giúp họ thuê nhà, bênh vực họ và họ dễ thở hơn khi được đùm bọc của cộng đồng, điều này khiến cho chính quyền khó chịu, xem đó là cái gai cần phải nhổ.

Hơn nữa, ở Lộc Hưng lại có căn nhà tình thương của dòng Chúa Cứu Thế xây lên để làm chỗ trú cho những người thương phế binh Việt Nam Cộng Hoà. Họ là những người cụt chân, cụt tay, mù mắt không còn thân thích, chẳng còn nơi nương tựa. Các cha cho về đây để có chỗ trú thân. 43 năm chiến tranh đã đi qua, xét cho cùng họ cũng chỉ là nạn nhân của một cuộc chiến tranh và bây giờ họ cũng chẳng còn bao ngày ở thế gian này nữa. Thế nhưng, trong mắt của những cán bộ chế độ mới, họ vẫn là kẻ thù không chấp nhận được, không thể sống chung. Những lần từ thiện, khám bệnh, tặng quà cho những người này đều bị đánh phá từ trong trứng nước. Do vậy, khi cưỡng chế Lộc Hưng, ngôi nhà tình thương này là ngôi nhà bị xe ủi dỡ bỏ đầu tiên, những người thương phế binh này là nhóm người bị bắt về phường đầu tiên.

 https://youtu.be/X3CHrBp9hnI

 

Tại sao chiến tranh đi qua đã gần nửa thế kỷ, chính quyền đã được củng cố từ đơn vị xã phường cho đến trung ương, quân đội trong tay, luật pháp trong tay, sức mạnh trong tay, chuyên chính vô sản có đầy đủ cả mà sao vẫn còn sợ chi mấy anh thương phế binh què cụt, tàn phế, sao không xem họ vẫn là đồng bào ruột thịt của mình, những con người bất hạnh bởi chiến tranh. Cứ mãi phân biệt họ, cứ mãi xua đuổi họ khi họ đã ở tận cùng dưới đáy của xã hội. Làm như thế là quá bất nhân, chỉ là lối cư xử của loài quỷ. Là tận cùng của sự tàn nhẫn.

Trong chiến tranh, ở hai chiến tuyến đối nghịch, người ta còn đình chiến để hưởng Tết. Thế mà trong hoà bình, giữa một thành phố rực rỡ cờ hoa, người ta đành lòng đánh cắp cái Tết của người dân, khiến cho người dân đón Tết trên đống hoang tàn. Họ có là người không khi nhìn thấy nước mắt của cụ gìa, tiếng gào của con trẻ, ánh mắt lạc thần của bà mẹ mấy chục năm gắn bó với luống rau, cọng cỏ. Đêm giao thừa này, nhà nước rồi cũng sẽ bắn pháo hoa, ánh sáng của pháo hoa cũng sẽ soi sáng một mảnh đất bị phá nát thành đống đổ nát, sẽ chiếu rõ hơn những khuôn mặt bi thương và ánh mắt chưa khô nước mắt của người dân Lộc Hưng.

Tui vẫn không lý giải được tại sao chính quyền cứ sợ mãi thế lực phản động như trẻ con sợ ma. Thế lực ấy mơ hồ và như ảo ảnh và thế là những thương phế binh tàn phế này chính là thế lực phản động nguy hiểm cần phải đề phòng và tiêu diệt. Người dân phản biện lại những vấn đề bức bách của xã hội là những kẻ phạm pháp. Dân càng ngày càng mất lòng tin và tầng lớp lãnh đạo cũng sẽ chẳng còn tin vào những điều mình nói và những việc mình làm. Họ nói để đối phó, để nguỵ biện chứ tui nghĩ thật ra họ cũng biết rõ họ đang nói và làm đúng hay sai rồi. Nhưng vì cái ghế ngồi, để chế độ này còn tồn tại, còn được vinh thân phì gia họ tiếp tục mặc kệ nhân dân, đạp đổ đạo lý.

Do Duy Ngoc

nguồn: chantroimoimedia.com

Inline image Quỳ trên đống tro tàn

 

Vườn rau Lộc Hưng: Sự tàn nhẫn không còn giới hạn

Ba ngày sau khi Luật An Ninh Mạng có hiệu lực, chính quyền Quận Tân Bình tung quân tiến chiếm Vườn rau Lộc Hưng và kết quả như mong muốn của những vị chỉ huy cao cấp nhất của thành phố: quân ta hoàn toàn chiến thắng và những kẻ sống nhờ vào mảnh đất này đã thành dân oan, biến mất khỏi nơi mà họ “tạm chiếm” từ năm 1954, khi đoàn quân di cư ồ ạt tiến vào Sài gòn cùng với những linh mục chủ chăn của họ.

Vườn rau Lộc Hưng không phải bây giờ mới bị chính quyền dòm ngó mà từ nhiều năm về trước nó đã thành cái gai phải nhổ trong mọi cuộc bàn thảo về đất đai tại UBND thành phố. Năm 2010, tôi nhận được tin nhắn của người dân Lộc Hưng nói về sự lo sợ bị cướp đất của họ, cảm nhận được vấn đề này tôi đã phỏng vấn nhiều người tại Vườn rau lúc ấy chưa ai để ý tới, mọi sự sau đó im ắng và người dân lại tiếp tục sinh sống trên phần đất được chính phủ VNCH cấp phát cho họ khi di cư vào Nam.

Thế nhưng nếu hỏi giấy tờ được chính phủ cấp phát ấy bây giờ ở đâu thì không ai có, kể cả những người sinh sống lâu đời nhất tại đây. Hỏi ra mới biết họ theo dòng người di cư và riêng Vườn rau Lộc Hưng thì giống như nhiều họ đạo khắp miền Nam khác, họ theo vị linh mục chủ chăn sống nương tựa vào nhau kể từ ngày di cư vào Nam tới giờ.

Chính quyền UBND Tân Bình đòi hỏi người dân trưng ra giấy tờ hợp pháp nhà đất và vịn vào cớ này để đuổi họ ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Từ sau năm 75 tới nay con số người về đây tăng lên nhưng nhìn chung họ là những con chiên ghẻ của xã hội. Đó là những thương phế binh VNCH, tàn tật và nghèo nàn đến mức họ chỉ có một nghề duy nhất là bán vé số để kiếm sống qua ngày. Đó là những người từ quê lên thành bán dạo, lấy Vườn rau làm nơi tá túc về đêm sau một ngày vất vả mưu sinh. Đó là những em sinh viên nghèo từ quê lên thành phố ăn học, thuê phòng trọ ở Vườn rau để được giá rẻ mặc dù đường tới trường có thể xa hơn nhiều lần.

Cư dân Vườn rau Lộc Hưng nhìn chung là đùm túm, nương tựa nhau mà sống cho tới ngày 4 tháng 1 năm 2019 thì họ bị tấn công một cách tàn nhẫn. Bằng xe xúc, bằng các loại máy đục bê tông, bằng cảnh sát cơ động, dân phòng cùng nhiều hội nhóm khác của chính quyền UBND quận Tân Bình. Sau hai lần càn quét, mọi căn nhà đều bị phá hủy, mọi vật dụng của đồng bào thi nhau …biến mất, và mọi hy vọng nhen nhúm trước ngày Tết Nguyên đán sụp đổ theo bước chân rầm rập của đoàn quân chiến thắng.

122 gia đình bây giờ trở thành tứ cố vô thân, tiếp sau hai đợt tấn công ngày 4/1 và 8/1 theo dòng người dài ngoằng của Tiên Lãng, Dương Nội, Cồn Dầu, Đồng Tâm, Long An, và bây giờ là Thủ Thiêm, Vườn rau Lộc Hưng. Bên cạnh tang tóc của họ là những mâm tiệc chúc mừng sự thành công của lực lượng cưỡng chế. Có một viên chức cho rằng cưỡng chế Vườn rau Lộc Hưng là việc làm đúng đắn vì lấy đất nơi này không phải cho doanh nghiệp hay bất cứ một mục đích kinh doanh nào khác mà vì tương lai của học sinh trong quận. Đây là dự án xây dựng cụm 3 trường học công lập đạt chuẩn quốc gia”, gồm Trường Trung học cơ sở, Tiểu Học, Mầm Non và khu công viên cây xanh. Vì dùng cho tiện ích của người dân nên không cần bồi thường giải tỏa hay cung cấp nơi định cư mới.

Vườn rau Lộc Hưng rõ ràng là bị… kỳ thị vì nó là khu đất của người dân Công giáo. Mà dân Công giáo thì thường dựa vào nhà thờ và nhà thờ là nơi chính quyền các cấp đều cho là … nhạy cảm. Những thông tin về Vườn Rau sẽ bị dẹp bỏ đã được người dân biết trước nhưng họ không có cách nào chống lại bởi sức mạnh của người cầm quyền hôm nay không coi người dân là thành phần mà từ đó họ sống và làm việc. Với cái nhìn hằn học và đầy định kiến, người cầm quyền khó mà nghĩ cho suôn sẻ về sự lộng hành của họ sẽ dẫn đất nước về đâu khi mà lòng dân không còn ta thán nữa mà đổi thành căm thù trước các hành vi bạo ngược của cái được gọi là chính quyền. Căn nhà họ bị đập xuống đẩy mọi thành viên của gia đình không nơi nương tựa có phải là hình ảnh của bọn cướp đất ngày xưa hay không? Có thể là không, vì lịch sử Việt Nam trong cả hai thời kỳ Pháp và Mỹ chưa thấy ghi nhận việc cả làng bị đập nhà tan nát và buộc người dân phải mình trần thân trụi ra khỏi căn nhà yêu thương gắn bó của họ với lý do xây trường học.

Có lẽ chính quyền vững tin vào Luật An Ninh Mạng sẽ ngăn cản thông tin trên mạng xã hội nên ba ngày sau khi luật chính thức áp dụng họ mới lao vào trận địa, nhưng họ không ngờ rằng những người hiền nhất trên mạng trước đây cũng lên tiếng một cách mạnh mẽ nhất huống hồ những người từng nổi tiếng phản biện và chống đối. Một tính toán ngu muội vì tin tưởng tuyệt đối vào chiếc dùi cui họ đang đeo bên hông cùng đám lâu la theo đóm ăn tàn của một chính quyền nay đã vĩnh viễn không còn người dân công chính nào tin tưởng nữa.

Bất kể sự câm lặng của báo chí, mạng xã hội tung lên tin tức hàng giờ. Những bức ảnh làm ngấn lệ con người không thể ngăn đừng chảy, những đống gạch vụn tan nát trong lòng người Việt Nam, những đôi chân giả nằm lăn lốc cùng với gạch vụn mà không biết giờ đây chủ nhân của chúng đang về đâu?

122 gia đình bị vùi dập không thương tiếc vì tương lai con em chúng ta ư?

Trường học nào dạy học sinh giỏi căn cứ trên nước mắt dưới cái nền nhà mà học sinh ê a hàng ngày? Trường học nào nổi tiếng cho bằng sự nổi tiếng đập nhà dân, khiến hàng trăm em bơ vơ không còn nơi để nương tựa? Trường học nào tồn tại nổi trong cái khung văn hóa căm thù và chống đối? Trường học nào dạy con em chúng ta bài học một thời của Chị Dậu tốt bằng nơi mà nó được dựng lên bằng tiếng kêu khóc của những Chị Dậu ngày nay?

Đảng Cộng sản Việt Nam hình thành từ bất công xã hội của một thời nay đã chính thức bước chân vào sự tàn nhẫn, hà khắc mà lịch sử chưa bao giờ trải qua trước đó cho thấy một thời kỳ mới đang thay da đổi thịt, và sự thay da đổi thịt nào mà không đau đớn và nhiều lúc cả sỉ nhục nữa?

Mặc Lâm (VOA)


Xôn xao việc vợ Bộ trưởng Công thương VN được đón tại chân máy bay

Xôn xao việc vợ Bộ trưởng Công thương VN được đón tại chân máy bay

Không chỉ mạng xã hội mà dường như báo ‘lề phải’ của Việt Nam cũng đang sôi sục với việc ông Trần Tuấn Anh cho ‘quân’ đón vợ tận chân máy bay.

Việc bà Thủy Hương, phu nhân của Bộ trưởng Công thương Việt Nam Trần Tuấn Anh được xe biển xanh cùng một đoàn ‘tùy tùng’ đón tiếp long trọng tại chân cầu thang máy bay ở sân bay Nội Bài hôm 4/1 làm dư luận trong nước sôi sục.

Sự kiện này được cho là bắt đầu rò rỉ từ một vài post trên Facebook của một số Đại biểu Quốc hội và Ủy viên Trung ương có mặt trên cùng chuyến bay.

Theo đó, bà Thủy Hương, một cựu người mẫu, được một đoàn người đi xe biển xanh đến đón tận chân máy bay khiến mọi thành viên trên máy bay lúc đó đều phải đứng nép sang hai bên để nhường đường.

Ngay sau đó, đại diện Cảng vụ Hàng không miền Bắc cho hay trên truyền thông Việt Nam rằng họ nhận được công văn của Bộ Công thương về việc đi đón tiễn ông Tuấn Anh đi công tác ở Sài Gòn từ 3-4/1.

Lập tức, nhiều tờ báo đăng bài phân tích lịch trình của ông Trần Tuấn Anh từ 3-4/1, xem kỳ thực có phải ông có khả năng có mặt trên chuyến bay đó hay không.

Tờ Kiến Thức Trẻ chỉ ra rằng theo lịch làm việc đăng trên website Bộ Công thương, ông Tuấn Anh ở Hà Nội từ 3-4/1 để thực hiện một loạt hoạt động đã định chứ không bay đi đâu cả.

Tờ Giáo dục Việt Nam trong bài “Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nên nói một lần cho ra lẽ” hôm 6/1 đặt ra năm câu hỏi đề nghị ông Tuấn Anh làm rõ “để tránh những suy diễn không cần thiết làm giảm uy tín lãnh đạo bộ”.

Tờ này cũng nhắc lại “Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên” mà ông Nguyễn Phú Trọng ký ban hành cuối năm 2018. Trong đó có quy định Đảng viên Cộng sản phản tránh “Để vợ (chồng), bố, mẹ, con, anh chị em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để vụ lợi, sống xa hoa, phô trương, lãng phí…”.

Tờ Nông nghiệp Việt Nam thì đặt câu hỏi với vợ ông Tuấn Anh “thưa bà, nhanh vài phút thì được gì?” và cho rằng bà Hương cũng giống như bao nhiêu công dân của Việt Nam, chỉ là vợ một công chức nhà nước, không được quyền đặc cách gì.

“Bà có thể vận trang phục hàng hiệu, phụ trang đắt tiền, nhưng hành vi leo lên chiếc xe biển số xanh, có người mở cửa đón tại chân cầu thang máy bay, không hề làm bà sang lên, không giúp bà nhận được ánh mắt trọng vọng từ những người đi cùng chuyến bay… ” bài trên Nông nghiệp Việt Nam viết.

‘Học hỏi được nhiều từ người cha’

Chưa thấy có phản ứng từ bộ Công thương hay từ cá nhân bộ trưởng Trần Tuấn Anh về việc này.

Tuy nhiên, trong một bài phỏng vấn trên tờ Thanh Niên dịp đầu năm 2019, ông Trần Tuấn Anh đề cập đến vấn đề “đạo đức” và nhắc lại tấm gương từ người cha, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương.

“Nguyên tắc của cha tôi rất đơn giản, đó là trách nhiệm với người dân, với pháp luật, đất nước. Cao hơn nữa là đạo đức.”

“Từ khi cha tôi nghỉ hưu và tôi làm bộ trưởng, ông cũng chia sẻ nhiều hơn và cởi mở rất nhiều với tôi. Cha tôi có nguyên tắc mà tôi học được, đó là trong suốt 2 nhiệm kỳ làm phó thủ tướng và sau đó là 2 nhiệm kỳ chủ tịch nước, ông không bao giờ để cho những mối quan hệ gia đình có cơ hội tác động vào phạm vi công việc và thẩm quyền của ông,” ông Tuấn Anh cho hay.

Riêng về vấn đề ưu tiên cán bộ được đi lại, đón tiếp tại khu vực cách ly ở sân bay, chính ông Tuấn Anh hồi năm 2017 đã có những phản ứng quyết liệt với người tiền nhiệm.

Theo website của bộ Công thương, cựu Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng thời điểm đó đã đề nghị Bộ “tạo điều kiện, hỗ trợ làm thủ tục vào khu vực cách ly sân bay Nội Bài để tiễn người thân đi công tác nước ngoài”. Sau khi nhận được phản ánh từ báo chí về vấn đề này, ông Trần Tuấn Anh đã yêu cầu kiểm tra và xử lý các cá nhân liên quan.

Mạng xã hội nói gì?

Nhà báo Hoàng Hải Vân viết trên Facebook cá nhân rằng “Nếu cao tay thì Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nên từ chức”.

“Có thể Bộ trưởng không yêu cầu cơ quan ông làm việc này, nhưng chí ít là ông cũng có lỗi khi để chuyện nịnh bợ mình diễn ra trắng trợn ngay sau khi Thủ tướng phê duyệt một đề án trong đó có việc “cấm nịnh bợ” trong cơ quan nhà nước. Mà chuyện nịnh bợ nói trên ở Bộ Công thương không phải là “ton hót” khơi khơi mà là sự lừa dối cơ quan an ninh để sử dụng phương tiện công phục vụ cho công cuộc nịnh bợ, tức là nịnh bợ bất chấp pháp luật. Dù cái lỗi này của Bộ trưởng không đến mức phải xin từ chức, nhưng nếu Bộ trưởng không xin từ chức thì vết nhơ kia vô cùng khó rửa.”

Nhà báo Nguyễn Như Phong thì “mong bộ trưởng Trần Tuấn Anh là tấm gương sáng về thực hiện văn hóa từ chức” và cho rằng với việc này cho thấy “hói hợm hĩnh, lộng quyền của một ông Bộ trưởng”.

“Việc đã sai, Bộ lại có công văn dối trá, định lừa cả thiên hạ… Và việc này, không thể nói Bộ trưởng ” không biết, do cấp dưới làm”.

“Với những gì đã xảy ra, thiết nghĩ, ông Trần Tuấn Anh không còn tư cách gì để làm một Bí thư, bởi chính ông sổ toẹt vào tiêu chuẩn tối thiểu của một Đảng viên… Vậy liệu ông có còn đủ can đảm để lên bục, rao giảng về đạo đức cách mạng, về ” Học và làm theo tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh” nữa hay không?”

“Cũng qua việc này, thiết nghĩ cơ quan kiểm tra của Đảng phải vào cuộc, và cần phải có phải có hình thức kỷ luật xứng đáng đối với Bộ trưởng Trần Tuấn Anh; kỷ luật tất cả đám cán bộ liên quan đến việc này…”

Nhà báo Trương Duy Nhất nhân việc này, nhìn lại hiện tượng quan chức Việt Nam đưa con cái vào chính trường, gọi là “Thái tử đảng”.

“Một chính khách thế, không chặn ngăn lúc này, lỡ nay mai thành Thủ tướng, Tổng Bí thư, hoặc Chủ tịch nước như bố Tuấn Anh trước đây đã từng (giả dụ thế), thì vợ con y sẽ thế nào?”

“Nhìn ở mặt khác, đây là hậu quả một nhiệm kỳ đám con quan, “Thái tử đảng” được cài nhét chen chặt chính trường. Sau đó, lại một bộ máy văn phòng sinh ra để ‘hầu hạ’ vợ con những người này.”

“Chúng được cài nhét, xếp đặt không phải từ qui hoạch hay tài cán gì, mà từ chính sự quyết tâm của bố mẹ chúng. Đường quan dựa lưng bố, đã biến chúng thành những đám quan con coi việc nước như việc của cha chúng nó, biến bộ máy công thành một đám lâu la làm ô sin hầu hạ vợ con chúng. Một thế hệ Cộng sản mới, có thể có học hơn cha chú chúng, nhưng đầy hư hỏng ngay từ khi bắt đầu thò chân vào chính trường,” ông Duy Nhất viết.

Nguồn: BBC

Stop Trần Tuấn Anh!

Trương Duy Nhất

Tôi từng nhiều phen chứng kiến, những chiếc xe 80B xịch ngay chân cầu thang máy bay đón một thằng… cò đất. Tiền hô hậu ủng đón những đứa “thái tử đảng” từ khi chúng là đứa trẻ con du học trở về, chưa thành Bộ trưởng như giờ.

Nhiều bận thấy những thằng trọc phú giàu lên nhờ đất, bưng cả mâm mỳ Quảng vào phòng chờ hầu Nguyễn Tấn Dũng bất chấp máy rà soát của hệ thống an ninh như bưng vào bếp nhà nó vậy.

Mọi nguyên tắc an ninh, áp với ai, không phải với chúng.

Những thằng cò đất, thậm chí vợ con chúng còn thế, huống chi chuyện phu nhân Bộ trưởng Trần Tuấn Anh ầm ĩ hai ngày qua.

Vì thế, chuyện kiên quyết dẹp bỏ biển 80B với các doanh nghiệp bình phong hoặc thân hữu, tôi cho là quyết tâm đáng cổ vũ của chính phủ.

Nhưng như thế chưa đủ. Còn một loại khác cũng nên stop ngay: Không thể để một bộ máy văn phòng tiền hô hậu ủng quanh năm rồng rắn đi hầu hạ vợ con những thằng Bộ trưởng chướng tai gai mắt thế.

Không phải không còn người biết liêm sỉ, nhưng loại mới phu nhân Bộ trưởng đã như thể ăn đái trên đầu quốc dân, không phải ít.

Tôi không cho Bộ trưởng Tuấn Anh vô can trong chuyện này. Anh phải thế nào thì vợ anh mới thế chứ.

Xin lỗi, hay bất kỳ một hình thức kiểm điểm gì đấy trong lúc này là không đủ. Phải cách chức. Vâng, tôi nghĩ một quyết định cách chức Bộ trưởng Trần Tuấn Anh là nên và ngay tức thời.

Vợ đã vậy. Lại bê con ra làm lá chắn, bắt con “đổ bệnh” để biện minh thì quả là một nhân cách không gì vô liêm sỉ bằng.

Tôi kính, phục khi nghe nhiều vị dám hi sinh cái ghế của mình để bảo vệ vợ con. Và khinh miệt những chính khách vô sỉ đến mức bê cả bệnh tình và tính mạng con ra làm tấm khiên đỡ, khi lâm trận.

Đàn ông thế, hèn!

Chính khách thế, vứt!

Một chính khách thế, không chặn ngăn lúc này, lỡ nay mai thành Thủ tướng, Tổng Bí thư, hoặc Chủ tịch nước như bố Tuấn Anh trước đây đã từng (giả dụ thế), thì vợ con y sẽ thế nào? Để họ ỉa đái trên đầu quốc dân sao?

Nhìn ở mặt khác, đây là hậu quả của một nhiệm kỳ đám con quan, “thái tử đảng” được cài nhét chen chặt chính trường. Chúng được cài nhét, xếp đặt không phải từ qui hoạch hay tài cán gì, mà từ chính sự quyết tâm của bố mẹ chúng. Đường quan dựa lưng bố, đã biến chúng thành những đám quan con coi việc nước như việc của cha chúng nó, biến bộ máy công thành một đám lâu la làm ô sin hầu hạ vợ con chúng. Một thế hệ Cộng sản mới, có thể có học hơn cha chú chúng, nhưng đầy hư hỏng ngay từ khi bắt đầu thò chân vào chính trường.

nguồn: truongduynhat.org

chuồng người

Chung người

Lâm Chương

Chỉ còn vài ngày nữa là thu hoạch xong vụ mùa. Tôi được miễn đi lao động, vì cái chân đau. Hôm qua lúc chuyển lúa vào bồ, tôi vô ý vấp ngã nơi bậc thềm nhà kho. Mặc dù đã được nắn bóp, sửa trặc, nhưng khớp xương mắc cá chân vẫn sưng đỏ, đau nhức.

Khi các đội đã xuất trại, tôi chống cây gậy ra cửa, đứng nhìn lên sân trại. Giữa sân có đặt ba cái thùng phuy, dùng chứa phân người. Sau một đêm bài tiết của anh em trong trại, phân được xúc từng gánh đem đổ vào thùng. Hàng ngày, người của đội rau xanh sẽ chuyển ba cái thùng này bằng xe cải tiến đến vườn rau. Ðổ phân xuống hố, lấp phủ lên một lớp đất. Ủ phân. Một thời gian sau, phân từ màu vàng như đất sét nhão, biến thành màu xám như bùn, đã tới lúc có thể dùng được, xúc lên làm phân bón rất tốt. Phân được chế biến kiểu này gọi là phân Bắc. Mới đầu, anh em đội rau xanh rất tởm phân Bắc, nhưng thời gian lâu dài, tiếp xúc mãi thành quen, thấy cũng không có gì đáng gớm ghiếc, và khám phá ra cái công dụng tuyệt vời của nó. Chỉ cần rau muống nếm một chút phân Bắc, rau trở nên xanh tốt, tăng trưởng rất nhanh.

Từ trong đội cải tạo hình sự, có hai tên cầm que đi đến thùng phuy. Nó bươi móc thứ gì trong đó. Một trong hai tên này, tôi quen. Hồi mới quen, tôi hỏi nó:

-Mày tên gì?

-Ný!
-Tên ngộ quá! Họ gì?

Nê !

-Cái gì? Làm gì có họ Nê?

-Có chứ! Rất nhiều!Tên họ của cháu: Nê văn Ný

Tôi chợt hiểu, bật cười:

-Mày nói ngọng. Tên họ của mày là Lê văn Lý.

-Người miền Nam của các chú thường nói thế. Ở đây chúng cháu gọi Nê Văn Ný!

Từ đó trở đi, tôi cũng gọi nó là thằng Ný.

Thấy nó bươi móc trong thùng phuy, tôi kêu lớn:

 -Ný! Mày làm cái gì đó?

 Nó quay lại nhìn tôi, rồi bỏ cái que, đi lại gặp tôi.

-Hôm nay sao chú được nghỉ?

-Tao bị bong gân chân. Còn mày?

-Cháu chờ để trưa gánh đồ ăn thông tầm cho đội!

-Mày tìm gì trong thùng phân?

-Nhà bếp vừa đổ rác trong ấy. Cháu kiếm chút rau cải vụn.Ăn uống dơ bẩn, có ngày bỏ mạng con ơi!

-Cháu mang về rửa sạch, cho vào ca cống, đun sôi, vi trùng nào chả chết!

Tôi nhìn thân hình gầy gò, cái mặt hốc hác của nó, và nghĩ đến mình. Tôi có khác nó gì đâu. Cùng một hoàn cảnh khốn khó, người ta không cần tỏ lòng trắc ẩn cho nhau.

Ðứng tần ngần một lúc, nó hỏi:

-Chú có thuốc nào, cho cháu xin một bi!

-Vô đây!

Tôi dẫn nó vào lán, ngắt trong cái bọc nhỏ, cho nó một bi thuốc lào. Rít xong hơi thuốc, nó nói:

-Hôm nay, đội cháu có mấy thằng được chỉ định nên khung, mổ nợn cho cán bộ bồi dưỡng. Cháu không được đi. Tiếc thật!

-Mổ lợn đâu có gì thích mà mày tiếc?

-Thích chứ! Ðược xơi thịt!

-Cán bộ cho ăn hả?

-Không. Làm gì có người tốt thế!

-Vậy ăn bằng cách nào?

-Khi được chỉ định đi mổ nợn, thằng nào cũng phải măc hai nớp quần. Nớp trong được bó sát vào bìu dái như cái quần xì của người miền Nam. Ðến núc xẻ thịt thì xén vài cục, nén dấu vào quần, dưới bìu dái. Trước khi về, cán bộ bắt đứng xếp hàng, mò xét khắp ngườii, nhưng không mò dưới bìu dái. Thế nà thoát!

-Tụi mày tài thật!

– Cách này dùng mãi, bị phát giác. Chúng nó bắt cởi đồ, chỉ còn độc cái quần trong, thò tay sờ vào quần, sờ nắn trong háng, nhột bỏ mẹ. Bắt gặp có dấu thịt, chúng nó dần cho nát đòn và cùm vào nhà kỷ nuật.

 -Khó khăn, nguy hiểm như vậy, tụi mày không sợ?
-Trong khó khăn nẩy sinh sáng tạo. Chúng cháu nghĩ ra được cách giấu thịt, chỉ có trời biết.

Nó ngừng lại, chỉ tay vào túi tôi:

-Chú cho cháu thêm bi thuốc!

-Mày có tài thật, đang kể chuyện tới hồi gây cấn là ngừng lại, đòi thứ này, thứ nọ.

Dù cằn nhằn nhưng tôi vẫn ngắt cho nó bi thuốc lào thứ hai. Nó cẩn thận cho bi thuốc vào nõ điếu, châm mồi lửa, rít một hơi dài…Tôi giục:

-Kể tiếp đi. Cái mánh lới giấu thịt của mày!
-Thằng nào được chỉ định đi mổ lợn, khi trở về đội cũng phải nạp cho thằng đội trưởng hai cục thịt bằng ngón chân cái.Không có, nó thụi vào bụng cho thổ huyết!
-Tao không muốn nghe chuyện thằng đội trưởng của tụi mày. Hãy kể phương pháp dấu thịt mà mày cho rằng sáng tạo.
-Vâng! Phương pháp này không cần phải chuẩn bị đồ nghề gì cả. Lúc xẻo thịt, nếu cán bộ không để ý, cứ xén từng cục, cho vào mồm xơi tươi!

Ăn thịt sống hả?

-Vâng! Xơi thịt sống thì đã có sao?

-Tụi mày ăn uống như người tiền sử!
-Người tiền sử nà người xứ nào mà ăn uống như chúng cháu?
-Chẳng phải xứ nào cả! Ðó là tổ tiên của chúng ta nhiều triệu năm về trước. Khi chưa tìm ra lửa, loài người phải ăn thịt sống.

-Ðấy! Họ vẫn khoþe mạnh, sinh tồn đến ngày nay. Cọp beo cũng thế!

-Hãy nói vấn đề lấy thịt. Tụi mày ăn tại chỗ, nhưng làm sao lấy về cho thằng đội trưởng?

-Chúng cháu xén sẳn vài cục, khi có nệnh về nà cho vào mồm nuốt ngay. Bọn cán bộ dù có con mắt thánh cũng không bắt gặp. Xét xong, chúng cháu vội về đội, móc họng, nôn ra niền, nạp đủ số cho thằng đội trưởng.

-Rồi thằng đội trưởng ăn bằng cách nào?

-Hắn rửa cục thịt sạch chất nhớt, cho vào ca cống, đun lên nà có được bữa ăn ngon.

Nói xong, thằng Ný đứng dậy:

-Cháu phải về gánh cơm cho đội thông tầm. Cái chân chú đau, không nên đi đứng nhiều.

Nó quay lưng, ra khỏi lán.

Nhìn đôi vai gầy guộc của nó rút lại như đôi vai cuþa người bệnh ho lao, tôi gọi: -Ný! Mày trở lại lấy vài bi thuốc laòo, đêm nay hút cho đỡ lạnh!

Vào những ngày cuối năm, trời bỗng dưng trở lạnh. Mưa phùn lất phất trên những vòm cây. Ðồi nương ẩm đục. Ngày hai mưới chín tháng Chạp, được phép trại trưởng, các đội khỏi phaþi xuất trại lao động bên ngoài. Thay vào đó, anh em được giao công tác dọn dẹp và làm vệ sinh trong trại, chuẩn bị đón Tết.

Tôi đang ngồi nhổ cỏ dọc theo những chân tường ngăn chia các đội. Thăng Ný đi ra. Hôm nay nó mặc bộ đồ lành lặn, sạch, mặt hiện niềm vui. Tôi nói:

-Chưa Tết mà ngó mày, tao đã thấy mùa xuân!

Nó báo tin: – Cháu được mẹ từ Vĩnh Yên nên thăm. Bộ đồ này cháu mượn của thằng bạn, để mẹ cháu không nhìn thấy cháu rách. Cháu đang chờ cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi.
– Mày ngon rồi! Vừa có đồ ăn của trại, vừa được mẹ tiếp tế thêm. Tết này mày huy hoàng!

-Vâng! Huy hoàng thật! Cháu không ngờ may mắn đến thế!
Khoảng hai giờ chiều, cán bộ dẫn thằng Ný về trại, tay ôm bụng, mặt nhăn nhó, tái nhợt. Ngờ nó bị trúng gió, tôi theo nó vào lán. Nó năm vật lên sạp, lăn lộn, kêu đau bụng và lạnh. Tôi hỏi mượn mấy thằng bạn của nó ve dầu nóng để cạo gió.

Thằng đội trưởng hình sự đứng nhìn một lúc, nói:

-Chả phải trúng gió đâu! Nó bị bội thực đấy! Móc họng nôn ra là khỏi ngay!

Nhiều thằng khác lao nhao:

Nôn ?đi! Nôn đi!

Thằng Ný trườn về bìa sạp, rướn cổ, thò đầu ra ngoài, cho ngón tay vào miệng. Có thăng la lớn:

-Hãy khoan!

Và nó chạy ra ngoài, đem vô một cái thau bằng nhựa, bưng thau kề sát miệng thằng Ný:

-Hãy nôn vào đây!

Thằng Ný móc họng, ụa mữa. Ðồ ăn lẫn nhớt dãi tuôn trào xuống thau. Thằng bưng thau bóc lên những miếng thịt còn dính lòng thòng nhớt dãi, đưa lên miệng ăn. Một thằng khác đang đói cũng ăn.

Có thằng nhăn mặt: – Gớm quá!

Thằng bưng thau nói:

-Gớm gì? Từ bụng kia sang bụng nọ mà thôi!

Sáng mồng một Tết, mọi người quy tụ ra sân trại coi anh em văn nghệ trình diễn. Có đàn và trống xập xình vui tai. Tôi gặp thằng Ný đang lóng ngóng coi hát. Tôi hỏi:
-Mày khỏe hẳn chưa?

-Hôm sau nà khỏe ngay!

-Mẹ mày thăm nuôi, sao tao thấy mày đi vào tay không?
-Nhà cháu nghèo, không có tiền sắm sửa. Thăm nuôi là thăm cho có nệ thế thôi! Mẹ cháu chỉ mang cho cháu một con gà nuộc, và một cân xôi.

-Sao không đem vô trại, để dành ăn từ từ?

-Nếu đem vô trại, mấy thằng đầu gấu, chúng nó giành giựt cả. Thế cháu mới xơi hết tại chỗ!

Tôi trợn mắt:

-Mày ăn hết một lần hết con gà và cân xôi?

-Vâng! Không còn cách nào khác! Lúc thì dư thừa phải nôn ra, bây giờ thì đói.

Nhìn thằng Ný, tôi thấy nó đang tàn tạ, khô héo dần. Nó không có mùa Xuân.

Hãm địa

Tôi ở đây núi rừng Việt Bắc
đời hãm vây trong nỗi khốn cùng
vách núi ngăn tư bề chớn chở
rừng âm u sương muối đại ngàn.

Những bạn tôi ngồi như cổ thụ
già trăm năm trước tuổi không ngờ
manh áo vá che mùa gió chướng
mặt hao gầy râu tóc xác xơ.

Nay rướm máu sức người cùng tận
buổi chiều về không đủ miếng ăn
nỗi cơ cực gặm mòn sự sống
cây khẳng khiu ngày tháng khô dần.

Mùa đông đến mưa phùn gió bấc
suốt mùa đông không thấy mặt trời
đêm lán trại chìm trong nỗi chết
tiếng cú kêu trù ẻo rợn người.

Thời mạt vận quỷ thần quay mặt
nghiến chặc răng kình với tai ương
người bỏ cuộc đi về với đất
chiếu bó thây nằm lại rẫy nương.

Hồn oan khuất la đà ngọn cỏ
mộ không bia lạnh ngắt chân đồi
mùa mưa lũ đất trôi nước cuốn
xoá nhoà đi dấu tích một thời.

Chốn hãm địa rừng hoang nước độc
trời sa mù ẩm đục quanh năm
mặt đất ướt xông mùi lá mục
nước suối khe mầm bệnh sốt rừng.

Trên ngàn xanh mồ hôi đổ xuống
phá rừng già đốt rẫy khai hoang
người với đất chung niềm đau nhức
đất lặng thinh phơi bãi tro tàn.

Những bạn tôi cây đời thiếu nước
cố ngoi lên thân xác mỏi mòn
bao nghiệt ngã xé lòng đau rách
ngọn tre già lã xuống tang thương.

 
Lâm Chương
Nguồn: luanhoan.net

 

Chúc mừng Giáng Sinh & Năm Mới

Thân chúc quý độc giả hưởng mùa Giáng Sinh vui vẻ & Năm mới an khang hạnh phúc.

                                                                                               

Cuối Năm, Một Đời, Một Người…

Cuối Năm, Một Đời, Một Người…

Phan

Thường là sau bữa tiệc cuối năm trong hãng, tôi với vài người bạn làm chung kéo nhau ra tiệm cánh gà Wing Stop ở gần hãng vì chúng tôi chỉ cần chỗ uống bia không quá ồn ào là được. Nhiều khi cũng không còn chuyện gì để nói cho nhau nghe vì có chuyện gì thì đã nói với nhau suốt năm qua rồi. Nhưng dường như ai cũng hiểu là ngồi lại với nhau một chút, uống cốc bia tiễn biệt năm cũ đi, đón năm mới về, chào mừng người mới đến, tưởng nhớ người đã đi… Trong ai cũng dường như cảm nhận được chúng ta đã quá ít khi ngồi lại với nhau dù gặp nhau mỗi ngày; nhưng sự gặp gỡ, trao đổi trong công việc chỉ là cách sinh nhai. Sau đó là sự hối hả chia tay sau ngày làm vì ai cũng còn việc gia đình đang chờ đợi ở nhà…

Trong năm sắp qua, chỉ còn lại ít ngày cuối năm, anh em ngồi nhắc nhớ người anh là lính cũ, tính tình vui vẻ, rộng lượng, chịu chơi hết biết! Thế mà chỉ một cái cuối tuần không gặp, sáng thứ hai chị nhà đánh thức anh dậy để đi làm thì anh không bao giờ dậy nữa! Người anh gãy súng tháng ba ngoài miền trung đã gởi lại thân xác nơi quê người sau hơn bốn mươi năm phiêu bạt chỉ mong được một hôm nào đó uống tới bến với anh em để ngâm thơ, rồi cũng không được toại nguyện. Cứ nhớ tới anh là tôi mường tượng ra một anh lính trẻ con nhà người bắc di cư nhưng yêu xứ Huế như người tình vì anh hay ngâm thơ về Huế, “qua cầu Tràng tiền rồi mới tới cầu Gia hội/ em đi đâu vội… anh kệ mụ nội em luôn!”; “Núi Ngự không cây chim đậu dưới đất/ sông Hương không khách O lạnh không O…?”

Sao những người vui vẻ lại hay vắn số để đời dài thở than như người hay than thở lại thường sống lâu. Năm nay anh em ngồi lại với nhau đã vắng anh rồi. Chúng tôi chỉ ngồi chừng một tiếng đồng hồ thì tranh nhau trả tiền mấy cốc bia đã hết nửa tiếng mới định vị được chỗ ngồi cho mọi người, không tranh cãi chuyện giành nhau trả tiền nữa. Từ đó tới lúc chia tay ra về nghỉ lễ cuối năm dường như những người nhớ rõ mặt nhau đều im lặng với cảm thức chia tay năm cũ để đón năm mới về.

Cảm tạ ơn trên đã cho bạn bè giúp đỡ nhau trong năm qua, hy vọng sẽ tiếp tục giúp đỡ nhau trong năm tới… nhưng tất cả không lời, chỉ có tiếng cụng ly nhè nhẹ, những hớp bia sau khi cụng ly rất khiêm nhường, không uống ừng ực như những bữa tiệc thịt nướng vào mùa hè. Mọi người uống ít, uống chậm như uống thời khắc cuối cùng của một năm sắp ra đi mà lòng ơn nghĩa với đời cả năm qua vẫn chưa làm được gì để đáp lại ân tình…

Tôi thường trở về nhà và ngồi yên lặng hơn cả những ngày thường trong năm. Những ngày đi làm về tới nhà là ngồi đọc ngấu nghiến đủ thứ chuyện trên đời thì hôm cuối cùng làm việc rồi ăn tiệc và về nghỉ lễ cuối năm, tôi thường ngồi nhớ lại những chuyện trong năm khi một năm nữa lại sắp qua.

Thường tôi nhớ đến những người lớn tuổi trong hãng và những bữa tiệc về hưu của họ. Nơi tôi làm không kể chức sắc hay chỉ là công nhân bình thường thì cũng như nhau. Mọi người đang làm việc sẽ ngưng tay để tụ họp về phòng ăn. Thường thì ổ bánh thật lớn dành cho người về hưu đã được cắt sẵn ra nhiều dĩa nhỏ sau khi chụp hình lưu niệm. Rồi thì mỗi người ăn miếng bánh chia tay, nói lời tạm biệt với người từ ngày mai sẽ không phải đi làm nữa.

Nhưng năm qua, tôi có gặp lại người đã về hưu từ mấy năm trước. Tay bắt mặt mừng giữa chợ vì thường đâu gặp lại những người đã về hưu, hơn nữa bà chị là người Việt nên tình nghĩa đậm đà hơn sự xã giao đơn thuần với đồng nghiệp thuộc những dân tộc khác. Chị tôi đã về hưu năm bảy mươi tuổi, và đã ba năm rồi mới gặp lại chị hôm trước Giáng sinh.

Những lời thăm hỏi không phải nghĩ suy nhiều cũng nói ra được trong đời sống văn minh, nhưng những gì lắng đọng lại không dễ tiêu hoá…

“Chị đã ráng hết sức mới chịu về hưu năm bảy mươi tuổi, nên chỉ hơn năm sau là chị phải vô Viện dưỡng lão rồi em, khi không còn trông cháu nổi nữa, nấu ăn thì quên muối quên đường hay cho muối hai lần, đến quên tắt bếp thì con chị không cho chị nấu nữa; đến sinh hoạt hàng ngày cũng không còn có thể tự xoay xở, mà con gái chị thì vừa làm việc bận rộn, vừa phải chăm sóc hai đứa cháu ngoại của chị. Nó còn đâu thời giờ để quan tâm đến chị, chị không có chọn lựa khác…”

“Nhưng chị sống ở Viện dưỡng lão có thoải mái không?”

“Không tệ. Một mình chị một phòng sạch sẽ, tiện nghi đơn giản nhưng đủ xài, các phương tiện giải trí cũng nhiều, thức ăn tương đối ngon miệng, phục vụ chu đáo, cảnh quan cũng khá…”

“Được như chị nói thì tiền già, tiền hưu của chị có đủ trang trải không?”

“Không đủ em ơi! Con cái phụ hợ thì chị không muốn vì con cái trưởng thành thì còn con dâu, con rể nữa! Nhưng chị chuyển đổi đến Viện dưỡng lão rẻ tiền hơn cho phù hợp thì sống không nổi, đổ bệnh tưởng chết…”

“Vậy chị tính sao?”

“Chị còn nhà riêng của chị. Hồi ông xã chị mất có nói, bà ráng giữ lấy căn nhà để bán đi khi bà phải vô Viện dưỡng lão vì tiền hưu, tiền già không đủ trang trải đâu! Nên chị mới bán căn nhà để đắp đỗi tới đâu hay tới đó! Chị cũng mừng được con cái thông cảm. Các con chị nói: Tài sản của mẹ thì mẹ sử dụng, không cần lo cho tụi con. Nên số tiền bán nhà chị định chia cho con cháu, nhưng hoàn cảnh chị bây giờ phải giữ lấy để độ thân…”

“Thôi vậy cũng ổn cho chị về tài chánh. Nhưng mấy năm nay chị mạnh khoẻ chứ hả?”

“Trời độ, chị không bệnh vặt, chỉ lú lẫn đi nhiều. Lú lẫn thì đã có người lo cho mình từ chuyện ăn tới đi ngủ, chỉ buồn lúc tỉnh táo thôi em…”

“Rồi ai thì cũng vậy ở xứ này. Chị hơi đâu buồn cho tổn hại sức khoẻ. Sống ngày nào vui ngày nấy đi. Chị thích ăn gì cứ ăn, thích đi chơi đâu cứ đi… Hơi đâu buồn!”

“Nói vậy thì đúng, nhưng làm được mới khó! Đã bao nhiêu năm sống trong nhà không thiếu thứ gì, dù không có thứ gì giá trị nhưng mỗi thứ đều có kỷ niệm. Mọi ngăn kéo đều đầy ắp đồ dùng còn chưa xài tới, quần áo bốn mùa không nhớ hết. Chị lại hay mua rồi cất giấu nhiều thứ linh tinh mà hồi còn trẻ nhỏ ham thích nhưng không có tiền mua như cái kẹp tóc đẹp, cái nơ màu hồng, mấy hòn đá cuội vớ vẩn… Đặc biệt là sách của ông xã chị, cả một phòng sách.

Phần chị còn nguyên bộ dao, bộ nồi chưa xài mà vợ chồng chị tha từ bên Đức về Mỹ vì chị mê đồ nhà bếp của Đức. Chỉ tiếc là để dành mà không nấu được một bữa ăn cho ông xã chị để trả ơn ổng bưng bê cực khổ khi chuyển máy bay bên Anh, phải nhận hành lý lại… Hôm bán nhà, chị bệnh luôn vì nhìn nồi niêu xoong chảo, tôm khô mắm muối, đủ loại gia vị xài dở dang mà thương ông xã chị đi làm miết tới chết, chị cũng đi làm miết, không có thời giờ nấu cho ổng ăn. Bây giờ bỏ hết! Tới hình ảnh gia đình trên tường, trên tủ lạnh cũng bỏ luôn, chị phát rầu mà sinh bệnh…”

“Em chưa nghĩ đến những điều chị vừa kể. Nhưng em thấy đến sinh mạng mình rồi cũng phải giã từ, nên đã từ lâu em chỉ nhận quà tặng là những gì ăn được, uống được, để không phải cất giữ cho vấn vương. Con em mua cho em áo lạnh, đôi giày… em đều nói đem trả. Mua cho em chai rượu vang ngon, miếng cheese ngon thì em cảm ơn. Chị đừng nặng lòng với kỷ vật nữa vì chúng ta đến tay trắng nên khi về cũng tay không! Chị hiểu ý em mà?”

“Đàn ông mau quên chứ đàn bà đâu dễ đâu em. Viện dưỡng lão chỉ có một gian phòng, một cái tủ, một cái bàn, một giường ngủ, một ghế sô pha, một tủ lạnh, một tivi… không có chỗ để lưu giữ kỷ vật thì tiền già, tiền hưu mình đã không đủ trả hằng tháng rồi! Thật ra chị cũng cảm nhận được tất cả là dư thừa, nồi niêu sẽ không dùng đến nữa, kỷ vật cũng không giữ được hoài vì căn nguyên chúng không thuộc về mình. Đời người cuối cùng chị mới hiểu chẳng qua là nhìn một cái, chơi một chút, xài một lát rồi thôi! Tất cả thuộc về thế giới này để mọi sinh mệnh lướt qua một lần cho biết rồi thôi. Ngai vàng không chôn theo hoàng đế dù ông ấy chinh chiến, sống chết mới có được. Tỷ phú muốn cho hết gia tài trước khi chết vì hiểu ra tiền của trên thế gian cũng không phải của mình… Ai cũng chẳng qua là nhìn một cái, chơi một chút, dùng một lát, sinh không mang theo, chết không mang đi. Chị hiểu được tích đức làm việc thiện lưu lại phúc đức cho con cháu là điều quan trọng nhất thì cả đời người lại chú tâm, gắng sức tích lũy của cải…”

“Thì ra mấy năm nay không phải thức dậy theo cái đồng hồ báo thức nên chị đọc sách nhiều ha. Lú lẫn khi tuổi già kể ra là điều tốt đó chị vì già rồi mà nhớ nhiều quá chỉ khổ cho mình.”

“Hiểu biết là một chuyện, nhưng từ cây kim sợi chỉ cũng phải nai lưng đi làm mới có tiền mua. Rồi bỗng nhiên bỏ hết, không dễ đâu em! Bao nhiêu đồ đạc của chị hôm bán nhà, chị thật lòng muốn đem hiến tặng, nhưng lại không nỡ. Phải tính sao đã trở thành vấn đề khó khăn, con cháu lại chẳng dùng được bao nhiêu. Chị tưởng tượng, lúc con cháu mình tiếp nhận những bảo bối mà chị đã khổ tâm tích lũy thì sao: Quần áo chăn nệm toàn bộ đều vứt đi, hơn chục cuốn album quý báu bị đốt bỏ, sách bị coi như đồ thừa đem bán rẻ hay cho đi, đồ cất giữ không có hứng thú sẽ bị dọn sạch, đồ gỗ qúy trong nhà không dùng đến cũng sẽ bán rẻ cho ai cần… Giống như phần cuối Hồng Lâu Mộng mà chị thấm thiá… Chỉ còn lại trắng xóa một mảnh, thật sạch sẽ!

Nên hôm chị đứng nhìn đống quần áo như núi, chỉ lấy vài bộ thích mặc, đồ dùng nhà bếp chị chỉ sờ qua nồi niêu chén bát lần cuối. Sách chọn lấy vài cuốn chưa đọc, ấm trà của ông xã chị nhiều lắm, nhưng chị lấy một cái thôi để uống trà khi nhớ tới ông ấy chứ chị đâu uống trà thường. Chị mang theo giấy tờ cần thiết là đủ rồi! Chị đi từ biệt mấy người hàng xóm. Nhìn lại ngôi nhà mà vợ chồng chị đã đổ mồ hôi sôi nước mắt để có được, nhưng nó thuộc về không phải của mình nên trả lại cuộc đời. Không tiếc nữa đâu em, thậm chí cảm ơn cuộc đời đã cho mượn ngôi nhà để trú thân mà đi làm, nuôi con…

Cuối cùng chị cũng hiểu được người ta chỉ có thể ngủ một giường, ở một gian phòng, dù nhiều hơn nữa cũng chỉ để nhìn chơi. Thì ra sống ở trên đời không cần quá nhiều, đừng quá coi trọng của cải vì tất cả đều phải trả lại cho cuộc đời này! Nên chị đọc nhiều sách, khi có thể thì về nhà chơi với con cháu trước lúc mình đi xa…

Như lần này chị về nhà con chơi, chị còn đi chợ một mình được nè! Nhưng chị về chơi trước lễ cuối năm để gia đình nó có thể đi chơi xa vào dịp lễ mà không kẹt bà ngoại đi theo thì theo không nổi mà ở nhà thì cản trở tụi nó cũng phải ở nhà với bà ngoại. Chị thấy vui khi nhớ lại hồi còn trẻ, vợ chồng đi làm miết, chỉ mong nghỉ lễ để đưa mấy đứa con nhỏ đi chơi xa. Chị không muốn mình cản trở mấy đứa cháu ngoại vì bà ngoại mà không được đi tắm biển trong mùa đông ở những xứ nóng; con cái chị còn trẻ thì vợ chồng cũng đáng được thụ hưởng chút riêng tư hơn là cứ phải chăm sóc cho cha mẹ già…”

“Được như chị thì hay quá! Chị nuôi con lúc nhỏ, nhưng khi con chị lớn khôn thì chị lại cho con sự thông cảm còn qúy hơn tuổi nhỏ đủ đầy…

Chúc chị mùa lễ này thật bình an trong tâm tưởng. Em rất vui được gặp lại chị. Cảm ơn chị đã cho quà em trong mùa lễ là chia sẻ những tâm tư tình cảm của chị khi chị đã về hưu. Em sẽ nhớ lời chị hôm nay, cuộc đời chẳng qua chỉ để nhìn một cái, chơi một chút, dùng một lát… rồi trả lại hết cho thế gian này.

Em chào chị. Chúc chị mùa lễ bình an và mong gặp lại chị…”

“…”

Dáng chị tôi liu xiu khuất dần vào bãi đậu xe. Gió cuối năm liu xiu, chứ chị còn bước đi vững lắm sau khi đi qua cuộc đời chỉ để nhìn một cái, chơi một chút, dùng một lát… rồi trả lại thế gian này.

Giáng sinh 2018

Phan

Đoạt giải Chung kết Tác giả Tác phẩm 2018 của Việt Báo.

nguồn: vietbao.com

Tại sao người CSVN cấp cao không thấy họ lố lăng?

Tại sao người CSVN cấp cao không thấy họ lố lăng?

Nguyễn Ngọc Già

Những hình ảnh lố lăng của người CSVN cấp cao trong nhiều sự kiện quốc tế và quốc nội đầy dẫy khắp MXH, nhưng … nó vẫn tiếp diễn và không có dấu hiệu cho thấy họ ngừng lại để suy ngẫm.

Tại sao đến nông nỗi đó?

Hình minh họa. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (giữa hàng trên) phát biểu tại lễ bế mạc Đại hội đảng 12 ở Hà Nội hôm 28/1/2016 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (giữa hàng trên) phát biểu tại lễ bế mạc Đại hội đảng 12 ở Hà Nội hôm 28/1/2016

Những hình ảnh lố lăng của người CSVN cấp cao trong nhiều sự kiện quốc tế và quốc nội đầy dẫy khắp MXH, nhưng … nó vẫn tiếp diễn và không có dấu hiệu cho thấy họ ngừng lại để suy ngẫm.

Tại sao đến nông nỗi đó?

Có lẽ, quý độc giả biết nhiều về truyện cổ tích Andersen, trong đó có câu chuyện “Bộ quần áo mới của Hoàng Đế” – truyện cổ tích này, chế giễu vị vua vốn luôn thích những lời nịnh bợ.

Ông vua này dường như không thể nào sống nổi, nếu một ngày không được nghe những lời “mật ngọt” êm ả rót vào tai. Cả cuộc đời ông vua, luôn được những lời ton hót, tâng bốc vây quanh và bịt kín như cánh rừng già âm u mà “ánh sáng sự thật” không tài nào rọi tới nổi !

Câu chuyện thú vị vô cùng, bởi tác giả không để độc giả dừng lại ở sự kệch cỡm, thói rởm đời, chất khoe mẽ và tính hãnh hão về trí tuệ uyên bác, cũng như sự thông thái luôn ngập tràn trong tâm trí của tầng lớp cận thần, vương giả vây quanh “đức vua” mà Andersen đã làm cho những thói hư tật xấu đó lan ra khắp muôn nẻo trong chúng dân!

Tác giả H.C Andersen đã “khuếch tán” thói đạo đức giả như “hạt mầm man trá” được ấp ủ dẫn đến sinh sôi rồi lan rộng và thấm sâu vào ngay cả tầng lớp bình dân nhất trong xã hội.

Thói đạo đức giả đi cùng việc chối bỏ sự thật nhằm để tồn tại, để an toàn, để mưu cầu lợi danh và để… mỗi người buộc phải “giống như tất cả” nếu không muốn trở thành một kẻ bị xã hội bỏ rơi và đào thải.

Người dân xứ ấy bằng lòng, hài lòng và thỏa lòng với lối sống như vậy!

Người đi qua tượng Hans Christian Andersen ở trung tâm Copenhagen, Đan Mạch hôm 22/3/2005
Tượng Hans Christian Andersen ở trung tâm Copenhagen, Đan Mạch.

Cho đến một ngày, điều đó dẫn đến tai họa thảm khốc cho “vì vua anh minh” nọ – Ông vua ở truồng trước muôn người mà không hề hay biết! Ngay cả chúng dân cũng ngỡ mình thông thái – tựa như những thức giả uyên bác mới đủ trình độ để nhìn thấy bộ đồ “có một không hai” trên cõi đời! Ngoại trừ một câu bé chỉ thẳng sự thật rằng:

– “Nhìn kìa, đức vua trần truồng!”

Mãi cho đến lúc đó – không vội hơn, không muộn hơn – toàn bộ thần dân xứ đó như sực tỉnh khỏi ‘cơn mê giả dối” mà họ vốn “ngủ vùi” trong nhiều năm.

Andersen viết tiếp:

“Đám đông im bặt. Sau đó, bắt đầu có những tiếng xầm xì nhỏ to:

– Hoàng thượng không mặc gì hết! Có một thằng bé nói như vậy!

“Hoàng thượng không mặc gì hết! Hoàng thượng không mặc gì hết!…”, lời bàn tán mỗi lúc một lớn.

Hoàng đế chợt rùng mình, choáng váng vì ngài thấy hình như họ nói đúng. Nhưng ngài nghĩ: “Ta phải tiến hành cho xong nghi thức của buổi lễ đã”. Vì vậy, nhà vua tiếp tục rảo bước, khuôn mặt thậm chí càng cố lộ vẻ tự hào. Đám tùy tùng theo sau không biểu lộ một chút cảm xúc, tay vẫn nâng đuôi chiếc áo choàng tưởng tượng”. (Hết truyện).

“Sự thật không còn chỗ để tồn tại dù là một khoảng không gian nhỏ hẹp nhất trong xã hội dẫy đầy sự man trá, độc ác và bạo ngược.”

Ngẫm từ câu chuyện trên, quý độc giả sẽ thấy người CSVN không khác với “vị vua ở truồng”, bởi :

– Sự thật không còn chỗ để tồn tại dù là một khoảng không gian nhỏ hẹp nhất trong xã hội dẫy đầy sự man trá, độc ác và bạo ngược.

– Xã hội đã biến thành một đám đông hỗn độn về tri thức & bát nháo về nhân cách – Sự khốn cùng đó gây ra bởi… nỗi “hân hoan khôn tả” được coi là “tự hào dân tộc” (!)

Vâng! Từ già đến trẻ; từ nam đến nữ; từ bậc “trí giả” cho đến người bình dân v.v… Ngập tràn!

Dường như “đám đông đủ mọi thể loại” đó, không còn biết gì khác ngoài “hương vị ngất ngây” của “men say chiến thắng” lên đến tột đỉnh của… vinh quang – Một loại “vinh quang” chỉ tồn tại trong chốc lát rồi… vội vã tan biến như bọt xà phòng trương phình! Chỉ vậy thôi!

Suy tận cùng, xã hội rữa nát về nhân cách và tan hoang về vật chất như hiện nay cũng do “Sự Thật Đã Rời Bỏ Người Việt Nam”!

Nếu như vị vua trong truyện cổ Andersen không thích nịnh bợ? Mọi người dân xứ đó, có ham hố trở thành “nịnh thần-dân”? Nếu như người CSVN cấp cao không thích tâng bốc?…

…Biết đâu Việt Nam – quê mình – đã… “không khó đỡ” như bây giờ…

Nguyễn Ngọc Già

nguồn: RFA.org

Tình Nghĩa Vợ-Chồng của những cựu tù “cải tạo”

Tình Nghĩa Vợ-Chồng của những cựu tù “cải tạo”

  Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Mùa Hè năm nay, chúng tôi đã sang Hoa Kỳ tham dự Ngày Hội Ngộ Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng vào ngày 15/07/2018, tại Nam Cali.

Riêng tôi, không bao giờ quên những hình ảnh, từ những giây phút đầu cho tới cuối của Ngày Hội Ngộ.

Tôi nhớ những lời phát biểu của Anh Phan Thanh Thắng, Trưởng Ban Tổ Chức, có một đoạn ngắn: “Chúng ta hội tụ về đây, để tạ ơn nhau, để tạ ơn những người Mẹ, người Vợ, người thân, đã lặn lội ngàn dặm đến trại tù thăm chúng tôi…”

Quả đúng như thế, không có gì cao quý bằng những tình nghĩa Phu-Thê, tình Mẫu-Phụ Tử, tình Huynh Đệ, đã chứng minh cho những tấm lòng cao quý ấy, mà tôi đã từng viết: Trại tù “cải tạo” của Việt cộng, là nơi thử nghiệm về Chất Người.

Tôi đã chứng kiến, ở những nơi ấy, đã cho con người hiểu được những tấm lòng cao quý, sắt son, thủy chung, của những người vợ của những người cựu tù “cải tạo”.

Những năm dài trong nhà tù “cải tạo” tôi đã được người Mẹ già lặn lội trèo non, vượt đèo, lội suối, vào tận rừng sâu để thăm con. Có một lần, vào dịp Tết, Mẹ tôi, vì nghĩ đến tôi không có gì ăn trong ba ngày Tết, và cứ tưởng sẽ được gặp tôi, nên đã lên trại thăm tôi vào ngày mồng Một Tết. Nhưng “quy định” của trại tù là phải đến mồng Bốn Tết mới được “thăm nuôi”. Bởi, ba ngày Tết, không có “công an vũ trang dẫn giải” đi ra nhà thăm nuôi.

Vì thế, Mẹ của tôi phải nằm ngủ không có màn chiếu giữa cái lạnh thấu xương của mùa Đông tại “nhà thăm nuôi” chờ ba ngày sau mới được gặp tôi!

Chính những năm tháng ấy, tôi thấu hiểu được những nỗi đau buồn của các vị cựu tù “cải tạo”, khi họ không được thân nhân thăm viếng, nhất là những người có vợ con. Và nhất là trong những dịp Tết Nguyên Đán, mỗi ngày, khi nghe cái loa phóng thanh gọi tên những người được ở nhà, không đi ra đồng, vì có người thân “thăm nuôi”. Tôi hiểu được các vị ấy đau buồn đến mức độ nào, khi biền biệt, không hề thấy bóng dáng của vợ con!  Họ đau buồn, không phải chỉ vì những món quà, mà họ hết sức đau buồn, vì những năm tháng mỏi mòn, khi biền biệt, không hề thấy bóng dáng của vợ con!

Tôi nhớ đến Chị Bạch Nhạn, vợ của Bác sĩ Phùng Văn Hạnh, và Chị Kim Quy, vợ của Thiếu tá Nguyễn Văn Chước. Hai Chị đã tìm cách đưa con cái đi vượt biển, thoát đến bến bờ Tự-do trước, nhưng hai chị thì ở lại để tiếp tục “thăm nuôi” chồng trong tù.

Riêng Chị Kim Quy, có nhiều người bà con của anh chị nói “Bà cứ đi, rồi gửi tiền cho chúng tôi thăm ổng cho”; nhưng chị Kim Quy nói:

“Không có ai thăm chồng tôi bằng tui được, nên tui không đi, mà phải ở lại để thăm chồng tui cho tới ngày ổng về”.

Quả Trời cao không phụ lòng người, nên sau khi ra tù, Thiếu tá Nguyễn Văn Chước và Bác sĩ Phùng Văn, Hạnh đã cùng vợ con sum họp nơi hải ngoại.

Ngày Hội Ngộ Cựu Tù Nhân Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng. Khi bước vào của Phòng Hội, tôi nhìn thấy một người có dáng cao, tay cầm chiếc gậy, đội chiếc mũ thấp, không thấy rõ khuôn mặt, mà tôi chưa kịp nhận ra, cho đến khi Ông lên tiếng:

“Anh là Nguyễn Văn Chước đây”.

Tôi bàng hoàng, vì không ngờ đó là Anh Nguyễn Văn Chước, vì tôi nhớ hình ảnh của anh ngày xưa, dù ở trong nhà tù “cải tạo”, nhưng nhờ có Chị Kim Quy, một người vợ tận tụy thăm anh, nên trông anh khỏe mạnh.

Tôi đứng im, nước mắt tôi trào tuôn, tôi vội vàng nói với anh:

– Em xin lỗi anh, vì em chưa kịp nhận ra anh. Ngày xưa ở trong tù, mỗi ngày đều gặp anh khi đi cấy, gặt… ngoài đồng.

Anh Nguyễn Văn Chước nói:

“Anh đã 92 tuổi rồi em”

Còn nhiều những kỷ niệm trong ngày Hội Ngộ này, tôi sẽ viết lại qua những bài khác.

Nhưng riêng có một hình ảnh, mà suốt đời tôi không thể quên. Đó là, một buổi chiều tối, chúng tôi đến nhà của anh Lê Địch Hữu, để hội ngộ quý anh cựu tù “cải tạo” như Nghĩa Huynh Lê Quang, anh Nguyễn Uyên, anh Phạm Thái…

Khi chúng tôi ngồi vào bàn uống nước, trước khi cùng đi ăn với nhau trước ngày Hội Ngộ, thì Nghĩa Huynh của tôi, Thiếu tá Lê Quang đã cầm tay tôi và kéo tôi đi quanh nhà của anh Lê Địch Hữu. Tôi hỏi anh, đi đâu vậy?

Thiếu tá Lê Quang nói:

– Thì cứ đi vào đây, rồi sẽ biết.

Tôi đi theo Anh Lê Quang và anh Lê Địch Hữu, cho đến khi vào một căn phòng. Anh Lê Quang nói:

– Em hãy nhìn đi!

Trước mặt tôi là Chị Lê Địch Hữu. Chị nằm đó, thân thể đã gầy yếu, không thể đi lại. Nước mắt tôi rơi rơi, vì không được cho biết trước.

Anh Lê Địch Hữu nói:

– Đã tám năm rồi đó, bả bị tai biến, hàng ngày tôi vừa đi làm, vừa chăm sóc cho bả. Nhưng những năm tháng dài tôi ở tù “cải tạo”, thì chính vợ tôi là người đã lặn lội, lên tận núi rừng để thăm nuôi tôi trong tù. Bây giờ, tôi lo cho bả, cũng có là bao.

Tôi cầm đôi tay của chị Lê Địch Hữu. Đôi tay gầy yếu, lạnh ngắt. Tôi đỡ chị ngồi dậy một lát. Chị nói chuyện được, nhưng yếu ớt. Tôi được biết, chị không thể tự lo cho mình, nên hàng ngày anh Lê Địch Hữu phải tắm rửa, giúp cho chị ăn, uống… Nghĩa là anh lo cho chị như một đứa trẻ…

Sau đó, chúng tôi cùng nhau đi ăn. Không biết các vị trong bữa ăn, có người không vào phòng chị Lễ Địch Hữu, có ai nghĩ đến chị. Còn tôi, tôi cứ nhớ hình ảnh của chị Lê Địch Hữu, một người vợ của cựu tù “cải tạo” đang nằm héo hắt trên chiếc giường, đã làm tim tôi thắt lại. Ngày xưa khi còn mạnh khỏe, chị đã băng rừng lội suối, mang xách những “món quà thăm nuôi” là những thứ cần thiết ở trong tù, như mắm ruốc, cá khô, đường, bột ngọt… để nuôi sinh mạng của chồng, mà trên tất cả là mòn quà Tinh Thần là cao quý nhất, để người tù “cải tạo” có thể vơi bớt những đau đớn khi bị hành hạ, đọa đày, lao động khổ sai…

Sau ngày Hội Ngộ Cựu tù Nhân Chính Trị Quảng Nam-Đà Nẵng, tôi định viết lại những hình ảnh này, nhưng chưa viết, thì vào tháng 11/2018, trong dịp sang Anh quốc, để tham dự Lễ Tưởng Niệm 55 năm Tổng Thống Ngô Đình Diệm Vị Quốc Vong Thân, được Anh Nguyễn Đức Chung đưa đến nhà của Anh Nguyễn Văn Loan; cũng một cựu tù “cải tạo”.

Lần này, tôi lại cũng lại gặp một người vợ của cựu tù: Vợ của anh Nguyễn Văn Loan. Chị Nguyễn Văn Loan cũng đã từng làm tất cả những gì như chị Lê Địch Hữu đã làm, khi anh Nguyễn Văn Loan ở trong nhà tù của Việt cộng.

Nhưng giờ đây, chị Nguyễn Văn Loan cũng đã bị bệnh thận, ung thư máu nhiều năm qua. Tôi cầm đôi tay của chị, nhìn thấy nhiều vết sưng, bầm, vì “lọc máu”.

Thường xuyên, ba ngày trong tuần, anh Nguyễn Văn Loan đều đưa chị đi lọc máu. Anh Nguyễn văn Loan nói:

“Tôi thấy rất có phúc mới cưới được bả là vợ của tôi. Dù bây giờ, tôi có lo cho bả như một đứa trẻ, thì cũng như bả lo cho tôi ngày xưa khi bị tù vậy”.

Dẫu bị bệnh nan y, nhưng chị Nguyễn Văn Loan đã được chồng và con cái tận tụy lo cho thật chu đáo. Người con trai lớn của anh chị đã đặt mua cho chị một chiếc giường y khoa đặc biệt, để chị có thể tự điều chỉnh các thế nằm, ngồi theo ý muốn.

Qua hai cảnh ngộ của anh chị Lê Địch Hữu tại Mỹ, và anh chị Nguyễn Văn Loan tại Anh quốc. Tôi vô cùng cảm phục những hy sinh của những người vợ của các cựu tù “cải tạo”.

Nhân mùa Giáng Sinh 2018 này, tôi luôn cầu xin Trời Cao sẽ đổ xuống gia đình của anh chị Lê Địch Hữu và anh Nguyễn Văn Loan thật nhiều ân sủng, để hai Chị bớt đi những đau đớn về thế xác và cả tinh thần.

Ngàn đời sau, hậu thế sẽ không quên một trang sử đầy đau thương và nước mắt, mà những cựu tù “cải tạo”, và  của những vợ của cựu tù, đã hy sinh, gian truân, cay đắng muôn phần… đã lặn lội ngàn dặm thăm chồng ở chốn rừng sâu, núi thẳm dưới chế độ của đảng Cộng sản Việt Nam. Trang sử ấy sẽ không phai mờ, sẽ là những tấm gương Tiết Liệt, cho lớp hậu sinh nên ghi lòng, tạc dạ.

Xin kính mời quý độc giả đọc lại bài này, để thấy thêm một tấm gương Tiết Hạnh Khả Phong:

Những dòng nước mắt trong những cảnh ngộ tang thương của các gia đình cựu tù “cải tạo”!

11/12/2018

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

nguồn: hon-viet.uk

Nỗi Bất Hạnh Đời Tôi !

Đôi lời vào truyện:

Tôi tên Nguyễn Bá Quang, là một sĩ quan QLVNCH cấp bậc Đại Úy thuộc đơn vị 101 P2/Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Ở tù CSVN tại trại tù Tiên Lãnh, Quảng Nam, Đà Nẵng suốt hơn 12 năm. Qua Mỹ với diện HO.5 năm 1991. Hiện cư ngụ tại Reda, Califonia.

Trong thời gian tôi ở tù chưa được thả, gia đình vợ con tôi vượt biển tìm tự do tại Cà Mau tỉnh Minh Hải. Trong chuyến vượt biển hãi hùng ngày 22-2-1985 vợ và sáu người con trai của tôi đã bỏ xác trên biển cả vì bọn hải tặc làm đắm thuyền. Ngoài ra còn có cả nhạc phụ của tôi và các em vợ cùng các cháu đã chết một cách tức tưởi trên chuyến tàu đau thương ấy. Chỉ còn sống sót người con gái yêu thương của tôi tên Thùy Nhiên và dì ruột của cháu là Phạm Thị Sa.

Năm 1975 mất nước, con gái tôi mới có tám tuổi. Khi CS Bắc Việt chiếm miền Nam chúng dọa nạt, đấy ải gia đình của các sĩ quan QLVNCH đi cải tạo tại các trại lao động khổ sai. Vợ con tôi phải đi kinh tế mới tại Cà Mau, Minh Hải, việc học hành khó khăn, cháu chỉ học tới lớp bảy rồi phải bỏ lỡ dở đi buôn cá tại vùng ven sông thuộc Cà Mau để kiếm tiền nuôi gia đình và các em trai còn nhỏ tiếp tục đi học, vì thế nên cháu chỉ có thể thuật lại Nỗi bất hạnh của đời tôi một cách trung thực.

 Là ba của cháu, tôi cũng chỉ sửa những lỗi văn phạm, chính tả. Qua sự thúc bách của tôi, cháu mới có thể thuật lại câu chuyện thương tâm, vì mỗi lần nhớ lại những cảnh đau thương tang tóc của gia đình thì cháu đâm thẫn thờ, ngơ ngẩn hết mấy ngày, và lòng tôi cũng quặn đau vô vàn. Hiện cháu đã lập gia đình và sống với chồng con tại Úc. Sau đây là câu chuyện của con gái tôi, nỗi bất hạnh của cháu, cũng là nỗi bất hạnh của tôi.

Nguyễn Bá Quang

Nỗi Bất Hạnh Đời Tôi !

Thùy Nhiên

Sau bao tháng ngày mẹ và các anh chuẩn bị ghe thuyền, từng can dầu, tom góp từng gói lương khô như gạo sấy, thuốc men v….v…một cách bí mật. Ông ngoại, gia đình bà dì ruột, gia đình của cha Liêm, từng tốp, từng tốp len lỏi trong đêm tối lần lượt đến điểm tập trung tai bãi Đá Bạc Cà Mau thuộc tỉnh Minh Hải.

   Tất cả chúng tôi yên lặng lên thuyền, gồm có 22 người đã có mặt đầy đủ. Tiếng nổ dòn của máy lướt sóng ra khơi, mọi người chúng tôi nín thở hồi hộp.

    Qua mấy giờ lầm lũi chạy trong đêm, trời đã sáng, ánh nắng chan hòa, chúng tôi đã rời khỏi hải phận Việt Nam, mọi người thở ra nhẹ nhỏm, vui mừng, bồi hồi xúc động vì đã thoát qua được chặng đường  đầy nguy hiểm và bất trắc nhất, vì nếu chẳng may mà bị VC bắt lại, thì bị tù tội, tịch thu tài sản, tất cả đều mất sạch. Niềm vui thoát được khỏi bọn công an VC đang miên man trong đầu óc mọi người, bỗng nhìn đằng xa có chiếc tàu lớn hiện ra, tim tôi đánh thình thịch, tàu của ai đây? Của CS hay của thế giới tự do? Càng lại gần thì càng hồi hộp, một thoáng chán nản và sợ sệt hiện rõ trên nét mặt mọi người khi nhìn rõ màu cờ máu Liên Xô, Thuyền của chúng tôi cố ý lái chệch hướng chiếc tàu lớn, cứ thế tiến thẳng, đã qua thêm một sự nguy hiểm, và cũng vì thế thuyền đã chệch hướng đi như ban đầu đã định trước của mình. Chạy thêm vài giờ nữa thì đằng trước hiện lên một chiếc thuyền đánh cá treo cờ VC (cờ đỏ sao vàng), bên hông tàu thấy hai chữ Kiên Giang, giây phút trọng đại, mọi người như nín thở, từ thuyền bên kia phát loa yêu cầu thuyền chúng tôi ngừng lại để cho họ kiểm soát.

    Không thể để bị bắt, rồi phải ngồi tù, tài sản bị mất sạch, nên thuyền chúng tôi quyết định mở hết tốc lực. Một loạt đạn AK nổ dòn bắn về phía chúng tôi, tài công lúc đó là anh Hai Liêm của tôi bị thương ở cánh tay, Mẹ bị thương ở bả vai, ông Ngoại bị thương nhẹ ở đầu. Thuyền bắt buộc phải ngừng lại. Tất cả bàng hoàng chờ đợi những gì xấu nhất sắp xảy ra. Thuyền Kiên Giang là thuyền đánh cá nhưng có cán bộ VC, công an mang theo súng, bọn chúng bước qua thuyền chúng tôi lục soát từng người một kể cả những em bé 3, 4 tuổi, tịch thu một số vàng và tiền bạc (đô la) mà mọi người mang theo, chúng lấy một máy lớn của thuyền chúng tôi và dọa sẽ đưa trở lại vào bờ giao cho công an địa phương xử lý. Ông ngoại tôi là người lớn tuổi nhất trong thuyền, ôm vết thương còn chảy máu trên đầu loang xuống mặt, cố gắng năn nỉ giải thích: Các anh cho chúng tôi đi, nếu đưa chúng tôi trở lại bờ Việt Nam thì các anh chẳng có lợi gì cả, chúng tôi bị tù tội, tiền, vàng của các anh vừa tịch thu thì cũng phải giao nạp cho công an thôi. Sau đó bọn họ cho chúng tôi đi, và chỉ hướng cho tàu chạy.

   Còn lại một máy nhỏ, thuyền tiếp tục chạy một cách nặng nhọc, chậm chạp lướt sóng tiến về vùng biển Thái Lan. Chạy được một giờ đồng hồ nữa thấy có một chiếc thuyền giống thuyền đánh cá xuất hiện, khi chiếc thuyền này tiến lại gần không thấy treo cờ nước nào cả, nhưng dấu hiệu trên mạn thuyền được bôi lem, chạy với tốc độ nhanh rồi quay đầu chận ngang thuyền chúng tôi. Đã trải qua nhiều hiểm nguy, lần này tôi hồi hộp và lo sợ, tất cả như nín thở, những đứa nhỏ cũng biết được những gì quan trọng sắp xảy ra nên chúng ngồi thu mình vào thành ghe im re trông thật tội nghiệp. Tất cả không một tiếng động.

    Tiếng nói ở thuyền bên kia là một tiếng lạ không ai hiểu gì, lúc đó cha Liêm là người biết tiếng Anh nói xin họ giúp đỡ. Toán người kia như không nghe biết, với cử chỉ hung hăng dữ tợn, cặp vào thuyền chúng tôi la hét lục soát từng người một. Một lần nữa vơ vét sạch những gì tàu Kiên Giang VC vơ vét còn sót lại. Thấy kết quả lục soát chúng chẳng được là bao, chúng đi tìm từng bộ mặt một, nhất là nhìn chằm chằm vào những người đàn bà con gái. Mẹ tôi còn trẻ đẹp nhưng vừa bị thương mất máu co ro, mặt mày tái mét nên chúng bỏ qua không để ý tới. Chúng đến gần tôi và chị H, bạn gái của anh Hai, chúng liền nắm áo chúng tôi kéo qua thuyền chúng nó.

    Trước cảnh dã man này mấy anh tôi không kềm hãm được nên đã có phản ứng binh vực em mình (tôi lúc đó mới được 18 tuổi, cô kia xấp xỉ tuổi tôi hoặc lớn hơn một tuổi ) nên đã la ó phản đối. Mẹ tôi cúi lậy xin chúng tha. Ông ngoại, cha Liêm năn nỉ nài nỉ chúng chẳng nghe. Chúng đẩy chúng tôi qua thuyền chúng. Phẫn uất trước hành động tàn bạo này, mấy anh tôi đánh trả lại chúng. Chúng rút súng lục ra uy hiếp và chế ngự mấy anh. Lúc đó chúng lôi chúng tôi xuống nhốt dưới hầm tàu tối đen. Từ đó không hay biết chi nữa những việc xảy ra bên ngoài.

   Sau khi bắt chúng tôi, chúng nổ máy cho tàu chạy, sau đó quay trở lại đâm vào thuyền chúng tôi làm vỡ thuyền, thuyền chìm, chuyện xảy ra tôi sẽ kể tiếp phần sau khi tôi gặp lại người dì ruột tại trại SongLa.

    Ngồi trong hầm tàu tối đen mà lòng tan nát, tôi chấn tĩnh mình bằng lời cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria, hiện ra trước mặt tôi là hình ảnh của mẹ, các anh, em tôi và ba tôi. Mẹ, các anh em tôi giờ đây trên biển cả mênh mông đã trôi dạt về đâu rồi? Đã được tàu của thế giới tự do vớt chưa? Ba tôi trong trại tù CS tại trại Tiên Lãnh, Quảng Nam Đà Nẵng, ba là sĩ quan QLVNCH ở tù 10 năm rồi tương lai sẽ ra sao đây. Tôi nhớ hết những người thân thương, đầu óc tôi rối bời như có trăm ngàn mũi kim nhọn đâm vào quả tim bé nhỏ của tôi tan nát. Chưa bao giờ tôi nghĩ đến hoặc tưởng tượng ra hoàn cảnh mà tôi phải gánh chịu như hôm nay. Nước mắt tràn đầy ra má mà chẳng hay biết gì, nước mắt đã làm dịu cơn khủng hoảng của tôi. Một niềm hy vọng loé lên trong đầu, chắc mẹ và các anh em của mình còn sống sẽ được tàu vớt, sẽ vượt qua nguy hiểm để đến bến bờ tự do và mình sẽ được gặp lại.

    Ở trên tàu của bọn cướp được vài hôm, chúng chuyển tôi qua tầu đánh cá thứ hai, còn chị H. thì ở lại trên tầu của chúng nói tiếng Thái với nhau tôi không hiểu một tí gì cả chỉ biết cảm nhận theo linh tính của mình, thấy tàu này chuyên lo đánh cá, chắc là họ vừa đánh cá vừa làm hải tặc ăn cướp chăng? Một tuần sau chúng lại chuyển tôi qua tàu khác, cứ thế lênh đênh trên biển cả qua ngày thứ 51, ngày này chúng chuyển qua một tàu khác nữa, người trên tàu có vẻ hung tợn dữ dằn hơn những chiếc tàu trước đây.

    Vào khoảng nửa đêm một tên đàn ông vào kéo tôi dậy, nhìn cặp mắt nó, thấy dễ sợ như muốn ăn tươi nuốt sống tôi. Người tôi run bần bật, miệng thầm đọc kinh xin ơn trên phù hộ cứu giúp. Chúng nó sờ mó và bắt cởi hết quần áo, chúng nói gì với nhau tôi không hiểu, chỉ biết kẹp hai chân cứng lại, hai tay ôm chặt lấy ngực, và nhìn vào vết thẹo nổi đỏ trên cánh tay tôi. Lúc nhỏ khoảng hai tuổi bị tai nạn phỏng dầu làm đường đến 50% khi chữa lành vẫn còn vết thẹo luôn ửng đỏ. Không biết ai xui khiến cho tôi cứ nhìn vào vết thẹo ấy và kêu la thảm thiết. Bọn chúng nói với nhau những điều gì, tôi cảm nhận như chúng e ngại về vết thẹo của tôi là bị bệnh phong cùi gì chăng? Sau khi bàn bạc chúng đã xô tôi xuống biển không cho một vật gì có thể trôi nổi trên mặt biển.

    Nước lạnh làm tỉnh hẳn người, tôi đã thoát qua những bàn tay con quỷ dữ, cố gắng với hai chân để người mình nổi lên trên mặt nước (ở Cà Mau tôi sống bên sông nên bơi lội cũng khá giỏi. Trên biển giữa đêm đen, có gì ghê rợn bằng. Tôi cố sức mình chống chọi với bao ý nghĩ bi thương, bản năng sinh tồn lại đến với tôi mãnh liệt, tôi kêu xin mẹ Maria bổn mạng hãy cứu giúp tôi. Một lần nữa hình ảnh của mẹ, anh, em và Ba tôi ở trại cải tạo lại hiện ra như khuyến khích tôi hãy ra sức cố gắng chống chọi với tử thần để ráng sống may đâu có người cứu vớt. Vì thế mà đã qua được năm tiếng đồng hồ dưới biển lạnh.

    Trời đã hừng đông, một tia hy vọng đến với tôi, nhưng người càng ngày càng bị lạnh cóng, sắp sửa không chịu đựng nổi nữa rồi, thì may thay, nghe có tiếng động cơ của thuyền chạy đến. Tôi cố giơ tay lên nhưng thân hoàn toàn cóng cứng, rất may trên thuyền họ nhìn thấy, dừng thuyền lại và vớt tôi lên. Nguyện xin đây là một chiếc thuyền làm ăn lương thiện để tôi còn được sống an bình. Thật quả như lòng mong ước, tôi được những người này săn sóc tận tình, cho quần áo để mặc, cho ăn uống đàng hoàng và dùng máy vô tuyến gọi police (cảnh sát ) Thái cho tàu ra đón tôi vào bờ và đưa đến trại Song La và đến trại Sikiew.

    Hằng ngày ở trại, cô đơn lạc lõng, thân gái dặm trường, hằng đêm nguyện cầu cho lòng vơi đi ít niềm đau. Mong chờ mẹ, anh em sẽ đến với mình, nhưng càng ngày càng thấy bặt tăm vô âm tín, lòng buồn rười rượi. Mỗi khi có người mới nhập trại tôi thường đến để cầu mong gặp người thân. Hôm nay bất thần tôi thấy dì Sa, em của mẹ thất thểu bước vào trại, dì cháu gặp lại nhau, nước mắt tuôn trào như mưa, và Dì đã kể lại những gì xảy ra kế tiếp khi tôi bị hải tặc bắt qua tàu của chúng.

    Sau khi bọn hải tặc bắt con và H qua tàu của chúng. Vì không chịu nổi những uất ức các anh con đã phản ứng mãnh liệt đánh lại chúng nó. Nhưng chúng có súng, nên các anh con đành thúc thủ. Chúng lồng lộn lên lục soát nát bét trên tàu, bắt mọi người cởi bỏ hết quần áo chỉ cho mặc một quần lót mỏng, lấy hết những gì còn lại trên tàu, rồi rú máy cho tàu chạy.

    Mọi người chưa kịp hoàn hồn thì thấy tàu hải tặc quay đầu trở lại, và chạy rất nhanh đâm thẳng vào hông thuyền của mình đánh rầm, thuyền vỡ làm đôi, một số người văng xuống biển. Đồ vật nặng chìm xuống nước, những vật nhẹ nổi lềnh bềnh. Trong lúc hỗn loạn, mỗi người đều bơi lội, vớ lấy can đựng dầu, đụng nước làm phao. Các anh con, Chương, Long bơi vớt những tấm ván để kết làm bè, kèm lên phần thuyền còn lại nổi trên mặt nước. Phần bè và thuyền nổi cho mẹ, dì, con của dì và Đạt, Hoài, hai em con. Ông ngoại và anh Liêm đã ra đi trong lúc thuyền bị đánh chìm vì cả hai đều bị thương.

    Trời bắt đầu sập tối, nỗi kinh hoàng xâm chiếm lòng người. Màn đêm đem đến sự sợ hãi cho mọi người trong cảnh thập tử nhất sinh, lạnh đói và khát, nhưng vẫn cố gắng bu lấy bên nhau, cùng nhau sống chết. Thấy các em con vì đói khát và lạnh, quá tội nghiệp nên Chương liều bơi, lặn xuống lòng thuyền may ra tìm được nước uống hoặc thức ăn. Nhưng đã lâu không thấy Chương trở lại, mẹ và Dì kêu gào thật lâu chẳng có tiếng trả lời. Hễ người nào chịu không nổi buông tay ra là đi vĩnh viễn. Thấy những người thân lần lượt ra đi, lòng mẹ và dì tan nát nhưng biết làm sao đây hỡi trời, chỉ biết đọc kinh cầu nguyện Chúa, Mẹ cứu giúp, hộ phù. Phía bên kia có Linh mục Hồ Quang Liêm và người em Hồ Quang Lập cùng mấy người bà con của cha trong đêm đó cũng ra đi.

    Ngày thứ hai kể từ ngày đắm thuyền chỉ còn có dì, mẹ và mấy đứa nhỏ vì được ngồi trên bè, nên chống được sự lạnh cóng. Mẹ con bị thương máu ra nhiều, không ăn, không uống nên người mệt lả đi, hơi thở yếu dần, dì gọi mẹ không trả lời nổi, mẹ tức tưởi ra đi. Đạt, Hoài hai em của con ôm mẹ khóc thảm thiết, dì đứt cả ruột gan. Các cháu cứ muốn giữ mẹ lại bên cạnh không xa rời, dì khuyên nhiều lần các cháu mới chịu để mẹ con xuống lòng đại dương. Còn lại con Châu, con Xuân của dì mềm người vì đói khát lặng lẽ ra đi. Dì như người mất hồn, không còn biết gì nữa, đặt con mình xuống nước cho dòng nước trôi xuôi, đau đớn vô cùng.

    Ngày thứ ba chỉ còn lại Dì, Em Đạt của con, mệt quá gục trên tấm ván, bỗng nó ngồi nhổm dậy nói: Để con lấy nước cho dì, con thấy có dòng suối trong xanh, nước ngọt lắm dì ơi nó định bước xuống nước để đi. Dì cầm tay nó kéo lại: Con ơi không có đâu, đó chỉ là ảo ảnh mà thôi, con ngồi xuống đây đọc kinh với với dì xin ngài ban phước. Sau khi kinh nguyện, yên tĩnh được một lúc, nó lại kêu lên khát nước quá dì ơi con chịu hết nổi rồi. Dì nói trong vô thức hay con uống đại một hớp nước biển xem có chống chọi được không? Sau khi uống một miếng nước vào bụng, tức thì cháu ôm bụng rên la khủng khiếp, nước bọt trào ra nơi miệng, nước bọt giống như bọt xà phòng trào ra, trào ra, cháu lịm người dần và nằm bất động, người cuối cùng ở bên cạnh dì cũng ra đi.

    Còn lại một mình đang nằm chờ chết dưới ánh nắng như thiêu như đốt bỗng thấy có đám mây đen kéo đến trời đột nhiên dịu xuống, một vài giọt mưa rơi trên mặt dì, dì liếm từng giọt nước, nhưng người dì đã kiệt sức không còn hay biết gì nữa cả. Khi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trên thuyền đánh cá của người Thái Lan. Theo tàu họ trên biển, 15 ngày sau thì được đưa vào trại Batani, qua trại SongLa và dì gặp con tại đây.

    Ôi ! Những biến cố đó trong đời  làm tôi điên dại, sống dưới ánh nắng mặt trời mà như trong hang âm u. Tôi đã mất mẹ, mất anh, mất em, mất ông ngoại, cậu, cháu và những người thân yêu, 18 người đã chết tức tưởi, bỏ mình trên biển cả … Đó là tất cả NỖI BẤT HẠNH CỦA ĐỜI TÔI.

    Mẹ ơi! Sao mẹ nỡ xa lìa con, xa lìa ba, ba đã chịu bao nhiêu điều cay đắng tủi nhục trong ngục tù Cộng Sản. Các anh ơi! Các em ơi! Tất cả đã xa lìa tôi, vĩnh viễn ly biệt tôi một cách tức tưởi: Khổ đau tột đỉnh, hận thành non cao, Biển xa sóng lớn dạt dào, nhớ anh, em, mẹ có ngày nào nguôi.

Thùy Nhiên, viết từ Úc Châu

    * Viết để kính dâng linh hồn mẹ Phạm Thị Khanh, Ông ngoại Phạm Văn Đình, Cậu Phạm Văn Tiếng, các Anh: Nguyễn Bá Liêm, Nguyễn Bá Chương, Nguyễn Bá Long, các em, Nguyễn Bá Phú, Nguyễn Bá Đạt, Nguyễn Bá Hoài, Chú nguyễn Văn Dậu, các em con dì Nguyễn thị Minh Châu, Nguyễn thị Minh Xuân, Nguyễn Minh Toàn và Linh mục Hồ Quang Liêm, chú Hồ Quang Lập và các anh bà con với cha Liêm mà tôi không nhớ tên.

   * Viết cho Ba là Nguyễn Bá Quang. Ba và con cùng chịu NỖI BẤT HẠNH trên cuộc đời này.

nguồn: maybienvh.wordpress.com