Vũ Thất

Bảo Bình 1

Category Archives: Thời Sự

Việt Nam 2017: Họa nhiều hơn phúc

Việt Nam 2017: Họa nhiều hơn phúc

Nguyễn Quang Dy

Năm 2017 sắp kết thúc. Vài tuần chỉ trong “chớp mắt”, thời gian nhanh tựa tên bay. Nhanh hay chậm chắc không phải do thời gian bị rút ngắn, mà do tâm thức con người. Tư duy truyền thống không thể theo kịp các sự kiện bất thường và hệ quả bất định. Có lẽ đã đến lúc điểm lại các sự kiện quan trọng trong một năm “họa nhiều hơn phúc”, để nhìn lại bức tranh toàn cảnh với nhiều gam màu hỗn độn, hy vọng nhìn thấy lối thoát cuối đường hầm.

  Bối cảnh chiến lược

Dù tính theo “năm nhuận” (thừa một tháng) hay tính theo năm tài khóa (thiếu hụt ngân sách trầm trọng), thì năm 2017 là một năm “họa nhiều hơn phúc”, theo nhiều nghĩa. Với thế giới, đó là năm thứ nhất của tổng thống Donald Trump. Hiện tượng Trumpism là bước ngoặt lớn đánh dấu cuộc khủng hoảng thể chế chính trị trầm trọng nhất của Mỹ (kể từ thời nội chiến), đồng thời báo hiệu quá trình đảo lộn trật tự thế giới (kể từ sau Đại chiến II).

Trong khi Brexitism và làn sóng tị nạn Hồi giáo làm Châu Âu giật mình hoảng loạn, khẩu hiệu “Nước Mỹ Trước” và “làm cho Mỹ vĩ đại trở lại” của Trump, hay “Giấc mộng Trung Hoa” và “Một vành đai Một con đường” của Tập Cận Bình, đang làm đảo lộn trật tự thế giới, gây bất an tại Châu Á và Biển Đông. Trong khi Duterte xoay trục sang Trung Quốc, làm ASEAN phân hóa,  thì Việt Nam bỗng nhiên trở thành đối tác chiến lược “trên thực tế” của Mỹ (thay Philippines) tuy Việt Nam chưa phải đồng minh hay đối tác chiến lược của Mỹ.

Trong khi Mỹ triệt thoái khỏi sân chơi toàn cầu hóa, bỏ rơi các cam kết truyền thống với đồng minh, để quay về với “chủ nghĩa biệt lập” và “chủ nghĩa dân tộc”, thì Trung Quốc tranh thủ cơ hội lấn sân trên toàn cầu, lôi kéo các đồng minh của Mỹ, thay thế vai trò lãnh đạo của Mỹ tại những khu vực có tầm quan trọng chiến lược (như Biển Đông). Trump làm cho uy tín của Mỹ sụt giảm nghiêm trọng. Theo một khảo sát của “Pew Research Center” (trong 6 tháng 2017), tỷ lệ ủng hộ Mỹ đã giảm 15 điểm (từ 64% xuống 49%). (Year One: Trump’s Foreign Affairs, Jonathan Freedland, New York Review of Books, November 16, 2017).

Một năm qua, thế giới đã thay đổi quá nhanh và quá nhiều, đảo lộn trật tự thế giới và các giá trị truyền thống, làm thật giả lẫn lộn. Bàn cờ chiến lược Mỹ-Trung-Việt càng phức tạp, khi các quân cờ chuyển động bất thường, nhất là tại Biển Đông và ASEAN. Trong khi đó, luật chơi cũng đang thay đổi, làm cho nhiều người trong cuộc bị động và bất ngờ, chưa rõ bàn cờ mới là loại cờ gì (cờ vua hay cờ vây). Trong bối cảnh đó, Việt Nam năm 2017 đã sa vào thế “mắc kẹt” về chiến lược, nên phải “đối phó một cách tạm bợ” (hedging in limbo).

 Bức tranh chính trị

Về chính trị, đó là năm thứ hai kể từ Đại hội 12 của Đảng CSVN (20-28/1/2016), cho đến Đại hội 19 của Đảng CSTQ (18-24/10/2017). Đó là hai sự kiện chính trị quan trọng bậc nhất tại hai nước láng giềng “môi hở răng lạnh”, ràng buộc bởi “mười sáu chữ vàng” (như cái vòng kim cô) nên “cùng chung vận mệnh” (lời Lưu Vân Sơn). Trong khi Đại hội 12 đầy kịch tính đã quyết định để ông Nguyễn Phú Trọng kéo dài thêm một nửa nhiệm kỳ tổng bí thư, đẩy mạnh chống tham nhũng và bắt đầu thời kỳ “Hậu Dũng”, thì Đại hội 19 đã khẳng định vị trí độc tôn của ông Tập Cận Bình (ngang với Mao), với “tư tưởng Tập Cận Bình” được ghi vào Điều lệ Đảng, và “CNXH với đặc sắc Trung Quốc” bước vào “kỷ nguyên mới”.

Tại Đại hội 12, trong khi phe đảng của ông Nguyễn Phú Trọng thắng thế thì phe chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng thất bại (phải về vườn làm “người tử tế”). Tuy Đại hội Đảng ủng hộ Việt Nam tham gia TPP (như một điểm sáng), hy vọng cứu cánh cho nền kinh tế (bằng ngoại lực) nhưng lại chưa ủng hộ đổi mới thể chế (bằng nội lực) như báo cáo “Việt Nam 2035”. Phát biểu của bộ trưởng Bùi Quang Vinh tại Đại hội 12 về yêu cầu đổi mới (vòng hai) như “tiếng kêu cuối cùng của con thiên nga” (swan song) trước khi hạ cánh.

Vì chủ trương cải cách nửa vời, vẫn duy trì “định hướng XHCN” và vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, nên “chính phủ kiến tạo” của ông Nguyễn Xuân Phúc vẫn tiếp tục dậm chân tại chỗ. Sau khi ông Trump quyết định rút khỏi TPP, Việt Nam mất cái phao cứu sinh, làm nguy cơ “sụp đổ tài khóa” (như ông Phúc cảnh báo) trở thành hiện hữu. Trong khi triển vọng TPP-11 (hay CPTPP) vẫn còn mù mịt, vì Canada dọa rút tại APEC Đà Nẵng, thì vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Berlin làm Đức nổi giận, triệt tiêu triển vọng về EVFTA. Cuối cùng, Việt Nam có thể rơi vào tình trạng “xôi hỏng bỏng không” vì “già néo đứt dây”.

Tranh giành quyền lực và đấu tranh phe phái vẫn tiếp diễn từ sau Đại hội 12, như những đợt sóng ngầm lên xuống bất thường, nhưng chỉ để “bắt mèo dọa hổ”, chứ chưa đụng đến mãnh hổ (tuy mất chức nhưng vẫn còn nanh vuốt). Chiến dịch chống tham nhũng tuy bắt chước Trung Quốc, nhưng vẫn nửa vời nên kém hiệu quả, cả về quy mô và mức độ quyết liệt. Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh (7/2017) đánh dấu một cao trào có vẻ quyết liệt, nhưng lại đặt lợi ích tranh giành quyền lực và đấu tranh phe phái (trước mắt) cao hơn lợi ích quốc gia (lâu dài). Làm mất lòng Đức là đối tác chiến lược quan trọng nhất Châu Âu, phản ánh tư duy đơn giản (du kích), với tầm nhìn thiển cận và lỗi thời (như thời chiến tranh lạnh).

Các sự kiện bất thường

Thứ nhất là vụ khủng hoảng con tin đầy kịch tính tại xã Đồng Tâm. Từ 15/4/2017, người dân Đồng Tâm đã bắt giữ 38 người (chủ yếu là cảnh sát cơ động) làm con tin để trao đổi lấy những người của họ bị chính quyền bắt cóc. Tuy cuộc khủng hoảng này đã được tháo ngòi kịp thời, tránh được xung đột đẫm máu, nhưng hệ quả của việc chiếm đoạt đất đai thô bạo và thất tín với dân vẫn kéo dài, làm mất lòng tin của dân đối với chính quyền.

Thứ hai là vụ khủng hoảng dầu khí Repsol. Từ giữa tháng 6/2017, lực lượng cảnh sát biển Việt Nam đối đầu với lực lượng “hải cảnh” quá mạnh của Trung Quốc tại bãi Tư Chính (Vanguard Bank), khi Trung Quốc đòi Việt Nam và Repsol (Tây Ban Nha) dừng khoan tại lô 136-03, thuộc chủ quyền của Việt Nam (bên rìa “đường chín đoạn”). Trước sức ép của Trung Quốc (đe dọa tấn công Trường Sa), Việt Nam đã phải yêu cầu Repsol dừng khoan lâu dài (24/7/2017) và chịu đền bù thiệt hại (ít nhất $27 triệu). Theo Bill Hayton (BBC), “Hà Nội đã đầu hàng vì Washington bỏ rơi Việt Nam, để mất Biển Đông vào tay Trung Quốc” (Bill Hayton, The Week Donald Trump Lost the South China Sea”, Foreign Policy, July 31, 2017).

Thứ ba là vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Sau khi phía Đức chính thức thông báo Trịnh Xuân Thanh đã bị phía Việt Nam bắt cóc tại Berlin (23/7/2017) để đưa về Việt Nam, quan hệ ngoại giao Việt-Đức đã bị khủng hoảng. Nếu Việt Nam không đáp ứng yêu cầu của Đức, không chỉ quan hệ Việt-Đức mà cả hiệp định thương mại tự do EVFTA cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngày 22/9/2017, Bộ ngoại giao Đức thông báo “tạm dừng quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam” và trục xuất thêm một nhà ngoại giao Việt Nam thứ hai.

Thứ tư là thiên tai và nhân họa nghiêm trọng từ Bắc vào Nam, vừa do biến đổi khí hậu (thiên tai) vừa do tàn phá rừng đầu nguồn, làm thủy điện tràn lan, phải xả lũ (nhân họa). Riêng cơn bão số 12 có tên “Damrey” (nghĩa là “con voi”) đổ bộ vào tỉnh Khánh Hòa (4/11/2017) đã làm 91 người chết, sụp đổ 1.500 ngôi nhà, đắm 1.300 tàu thuyền, thiệt hại lớn về người và của tại các tỉnh Nam Trung Bộ (theo VietnamNet, 9/11/2017). Trong khi đó, tai họa môi trường biển miền Trung do dự án Formosa gây ra, vẫn còn như một cơn ác mộng, không chỉ đe dọa hủy hoại môi trường biển, mà còn là hiểm họa lớn về an ninh quốc gia. Đó là một “quả bom nổ chậm” vẫn chưa được tháo ngòi, có thể gây ra đại họa bất cứ lúc nào.

Thứ năm là tổng thống Trump đến Việt Nam dự họp APEC (Đà Nẵng, 10/11/2017) và thăm chính thức (Hà Nội, 11-12/11/2017). Theo báo Diplomat, chuyến đi Châu Á của Trump có ba mục tiêu chính. Thứ nhất là răn đe và cô lập Bắc Triều Tiên, nhằm giảm thiểu đe dọa hạt nhân. Thứ hai là đặt nền tảng cho quan hệ thương mại song phương, nhằm giảm thiểu thâm hụt thương mại. Thứ ba là tuyên bố tầm nhìn mới về “khu vực Indo-Pacific tự do và mở cửa” (The Policy Significance of Trump’s Asia Tour, Roncevert Ganan Almond, Diplomat, November 18, 2017). Trong diễn văn đọc tại APEC, Trump đã đề cập đến tầm nhìn “Indo-Pacific” tới 11 lần. Nhưng trong Tuyên bố Chung (14 điểm) Trump chỉ đề cập đến Biển Đông ở gần cuối (điểm 13) và chỉ nhắc qua đến vấn đề nhân quyền. Nhưng “lạ nhất” là Trump đề nghị làm trung gian hòa giải tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. (Trump Is Causing Conflict by Playing Peacemaker, Bill Hayton, Foreign Policy, November 14, 2017).    

Câu chuyện Cá Voi Xanh

Tiếp theo vụ Repsol, vụ Trịnh Xuân Thanh làm bức tranh kinh tế và chính trị của Việt Nam càng ảm đạm. Nhưng một sự kiện khác còn nghiêm trọng hơn, là dự án khí Cá voi Xanh (tại lô 118) với hợp đồng ExxonMobil trị giá $10 tỷ, dự kiến công bố triển khai vào dịp họp cấp cao APEC, cũng đã bị hoãn lại. Liam Mallon (chủ tịch Exxon Mobil Development) đã thông báo trong một cuộc họp tại APEC (7/11/2017) là họ “cần hoãn quyết định cuối cùng về đầu tư đến năm 2019 để đạt được các thỏa thuận cụ thể” (“Will China Scuttle ExxonMobil’s South China Sea Gas Project With Vietnam?” Gary Sands, Diplomat, November 16, 2017).

Đó là dự án lớn có ý nghĩa chiến lược, cả về kinh tế lẫn chủ quyền quốc gia. Nếu dự án này hoạt động thì ngân sách sẽ có thêm $20 tỷ, và nguồn khí đốt cho bốn nhà máy điện mới tại Quảng Nam (dự kiến đi vào hoạt động năm 2023). Alexander Vuving cho rằng ExxonMobil hoãn triển khai là “để tìm kiếm điều kiện đầu tư tốt hơn chứ không phải đầu hàng Trung Quốc” (to seek better investment terms than a kowtow to Beijing). Vuving lập luận, “nếu họ không muốn chọc giận Trung Quốc làm ảnh hưởng tới APEC, thì chỉ cần hoãn một thời gian ngắn, chứ không phải đến tận 2019”. (If they did not want to anger China and disrupt APEC, they would postpone it for a while, but not until 2019). (Diplomat, November 16, 2017).

Tuy nhiên, theo Vuving, chính sách của Mỹ đối với Châu Á có thể “quá yếu để đối phó với Trung Quốc” (too weak to counter China). Người ta cho rằng chính sách đối ngoại của Trump dựa trên “Nước Mỹ Trước” sẽ “quá ích kỷ về kinh tế để đối phó với bá quyền của Trung Quốc đang tăng lên” (too economically self-interested to counter growing Chinese hegemony). Dù sao, dự án Cá voi Xanh của ExxonMobil cũng an toàn hơn dự án Repsol (Tây Ban Nha) và OVL (Ấn Độ) vì chỉ cách bờ biển 88km và nằm ngoài “đường chín đoạn”. Quy mô và giá trị kinh tế/chiến lược của nó lớn hơn và thế lực của ExxonMobil trên thế giới cũng lớn hơn, nhất là hiện nay Rex Tillerson (nguyên chủ tịch ExxonMobil) đang làm ngoại trưởng Mỹ. Tương lai của dự án này phụ thuộc vào chiến lược mới về “khu vực Indo-Pacific tự do và mở cửa”.  Trong khi tàu sân bay Mỹ sẽ đến Cam Ranh năm 2018, thì Cá voi Xanh lùi đến 2019. Trong bối cảnh đó, liệu Việt Nam và Ấn Độ có dám thách thức Trung Quốc (tại lô 118)?

Đúng lúc Việt Nam đang cần cả tàu sân bay (cái gậy) và Cá voi Xanh (củ cà rốt) để thoát hiểm, thì chiến lược “Indo-Pacific” còn đang là tầm nhìn và “giấc mơ”. Trong khi Việt Nam đang hy vọng có thể sớm khai thác dầu khí để bù đắp vào thiếu hụt ngân sách trầm trọng hiện nay, thì vụ khủng hoảng Repsol (và quyết định hoãn binh của Cá voi Xanh) làm hy vọng đó tắt ngấm. Hiện nay, bức tranh tài chính và ngân sách của Việt Nam rất nan giải, vì nguồn vay ODA ưu đãi (từ World Bank và các nhà tài trợ lớn khác) đã cạn kiệt, trong khi Việt Nam hàng năm phải thanh toán $10-12 tỷ nợ đến hạn, phải chi thường xuyên cho bộ máy hành chính quan liêu khổng lồ, đầu tư công kém hiệu quả nhưng thất thoát và tham nhũng tràn lan.   

Tầm nhìn mới hay “trở về tương lai”

Sau khi Shinzo Abe thắng cử, Nhật có thể đóng vai trò lớn hơn trong cấu trúc chiến lược mới tại Châu Á, trong khi Ấn Độ (chính phủ Modi) và Úc (chính phủ Turnbull) cũng mạnh dạnh hơn, sẵn sàng tham gia. Ý tưởng về liên minh chiến lược bốn bên gồm Mỹ, Nhật, Ấn, Úc có cơ hội  để hình thành (tuy là “bình mới rượu cũ”). Một lý do khiến các nước khu vực lo ngại, muốn thúc đẩy và tham gia sân chơi này, vì Trump bị ám ảnh bởi đe dọa hạt nhân Bắc Triều Tiên, và ảo tưởng vào sự hợp tác của Trung Quốc, có thể dẫn đến một thỏa thuận ngầm Trung-Mỹ (theo khuôn khổ “G2”), làm tăng thêm nguy cơ Trump sẽ nhân nhượng chứ không chống lại ý đồ bành trướng của Bắc Kinh, phương hại đến lợi ích an ninh của các nước Đông Á và ASEAN (trong đó có Việt Nam). Tại Tokyo, Abe đã cố thuyết phục Trump trở lại với TPP, nhưng Trump đã bác bỏ và chỉ muốn thương mại song phương với các nước trong khu vực (Indo-Pacific). Tuy nhiên các nước khu vực không hoan nghênh, vì lo ngại Mỹ vô hình trung (inadvertently) giúp Trung Quốc có cơ hội thực hiện ý đồ của họ (A post-American Asia looms larger on the horizon, Robert Manning, Nikkei Asian Review, November 17, 2017).

Khi Donald Trump đọc diễn văn tuyên bố tầm nhìn mới về khu vực Indo-Pacific tại APEC (Đà Nẵng, 10/11/2017), chắc Shinzo Abe mỉm cười vì đó là ý tưởng của mình về “Đối thoại Chiến lược Bốn bên” (QSD) nay được Trump lấy làm tầm nhìn của Mỹ. Dù muốn hay không, Nhật đang “trở về tương lai” (back to the future) để phục hồi liên minh chiến lược bốn bên cũ, nhưng với một tầm nhìn mới về khu vực Indo-Pacific. Người ta mong đợi Nhật có vai trò lớn hơn trong liên minh chiến lược gồm bốn nước có cùng lợi ích và tầm nhìn, cùng chia sẻ các giá trị dân chủ. Nhưng lúc này, chắc các nước đó cũng cần mềm mỏng, tránh khiêu khích làm Trung Quốc tức giận đối địch. Có lẽ vì vậy mà ông Abe đã tỏ ra mềm mỏng để hòa giải với ông Tập sau khi ông Trump tuyên bố tầm nhìn mới về Indo-Pacific tại Đà Nẵng.

Theo Alexander Vuving, cơ sở cho một khuôn khổ hợp tác chiến lược tại Châu Á phải bao gồm ba yếu tố thiết yếu (three critical factors). Thứ nhất là phải có một hiệp định tự do thương mại (như TPP); Thứ hai là phải dựa trên pháp luật (như phán quyết của PCR về Biển Đông); Thứ ba là phải có đối tác chiến lược (làm nòng cốt cho “Asia Pivot” hay “Indo-Pacific” concept). Trong bối cảnh TPP đã bị Trump bỏ rơi, và nhân tố bất ổn định của Trump là một chuyện đã rồi (có thể kéo dài thêm 3-4 năm nữa), thì chiến lược “tham dự và phòng ngừa” (engage and hedge) cần chuyển hóa thành “tái cân bằng và chia sẻ” (rebalance and share).

Alexander Vuving cho rằng, tuy vừa rồi Tập cố gắng lấy lòng Trump, nhưng quan hệ Trung-Mỹ về cơ bản không có gì thay đổi. Quan hệ đó sẽ được thử thách tại Manila khi Trump gặp lãnh đạo bốn nước đồng minh trong “bộ tứ liên minh chiến lược” (Quadrilateral strategic alliance) với tầm nhìn “khu vực Indo-Pacific tự do và mở cửa”.  Tuy Nhà Trắng vẫn có thể “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, nhưng người ta hy vọng chính quyền Trump sẽ có một chiến lược nhất quán hơn cho khu vực Indo-Pacific. Trong đó, việc lôi kéo Ấn Độ tham gia chặt chẽ hơn với các đối tác chiến lược chính tại Asia-Pacific (như Mỹ, Nhật, Úc) dựa trên các giá trị dân chủ, là thiết yếu để đối phó với tham vọng bành trướng của Trung Quốc. (Trump Lost Sight of His Promising Asia Vision, Hal Brands, Bloomberg, November 16, 2017).

Trong khi đó Ely Ratner tin rằng chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc sẽ cứng rắn hơn, do ba yếu tố. Thứ nhất, dù muộn nhưng chính quyền Trump đang bổ nhiệm nhân sự phụ trách Trung Quốc tại Hội đồng An ninh Quốc Gia, Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng. Thứ hai, chính sách về Trung Quốc đang hình thành, có hai tài liệu cơ bản đáng chú ý là “Chiến lược Quốc phòng” (National Defense Strategy) và “Chiến lược An ninh Quốc Gia” (National Security Strategy), đều coi Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh chiến lược số một” (first and formost strategic competitor).  Thứ ba, chính trị nội bộ đòi hỏi chính quyền Trump cứng rắn hơn với Trung Quốc. Nhiều nhân vật trong Quốc hội chỉ trích Trump là “hổ giấy”, không làm gì được Trung Quốc. Xu hướng chung muốn chống lại chứ không chấp nhận Trung Quốc bành trướng. (Trump’s coming hard line on China, Ely Ratner, Lowy, November 21, 2017).   

Biển Đông và hơn thế nữa

Từ giữa năm 2014 đến nay, Biển Đông đã biến thành một điểm nóng như “thùng thuốc súng”, có thể dẫn đến đối đầu và xung đột. Người ta xếp Biển Đông chỉ sau Bán đảo Triều Tiên (trên  cả Đài Loan). Nguy cơ chiến tranh Biển Đông không chỉ là dự báo, mà có thể trở trở thành hiện thực bất kỳ lúc nào (sau năm 2017).  Chỉ nửa tháng sau vụ khủng hoảng Epsol tại Bãi Tư Chính, Bộ Trưởng Quốc Phòng Ngô Xuân Lịch đã vội vã đi thăm Mỹ để hội đàm với Bộ Trưởng quốc phòng James Mattis, và nhận được lời hứa của phía Mỹ sẽ cho một tàu sân bay đến thăm Việt Nam, dự kiến cập cảng Cam Ranh năm 2018, như một cách răn đe.

Việc chính quyền Trump tăng cường tuần tra Biển Đông (FONOP) tiếp tục các hoạt động tương tự của chính quyền Obama theo cách “đi qua vô hại” (innocent passage) chỉ là động tác chiến thuật, có giá trị trấn an về tâm lý (như uống thuốc an thần), chứ không có giá trị chiến lược để răn đe thực sự. Tuy Trung Quốc phản đối (chiếu lệ) nhưng các hoạt động FONOP của Mỹ tại Biển Đông không đủ răn đe làm Trung Quốc phải cân nhắc lại tham vọng và ý đồ của họ. Việc Mỹ cho tàu sân bay đến Việt Nam cũng có thể như vậy. Sau đại hội đảng 19, với quyền lực mới được củng cố, Tập Cận Bình có thể mạnh tay hơn tại Biển Đông, tiếp tục quân sự hóa các cứ điểm họ chiếm đóng tại Hoàng Sa, Trường Sa (và bãi cạn Scarborough của Philippines), đe dọa các cứ điểm của Việt Nam tại Trường Sa (và có thể cả Cam Ranh), nhằm làm vô hiệu hóa các hoạt động FONOP và tập trận của Mỹ và đồng minh tại Biển Đông.

Việt Nam chưa bao giờ cô đơn đến thế trên trường quốc tế, mặc dù có hơn một chục “đối tác chiến lược”, với chủ trương “làm bạn với tất cả” và “thêm bạn bớt thù”.  Thật là một nghịch lý khó hiểu và tai hại (như lấy súng tự bắn vào chân mình) khi người Việt đã làm cho người Đức nổi giận qua vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, bất chấp chủ quyền quốc gia Đức và luật quốc tế. Hành động thô bạo đó, cũng như thái độ ứng xử vụng về và ngạo mạn sau đó, buộc Đức phải quyết định “tạm đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam”.

Tại sao người Việt lại ứng xử vụng dại như vậy, tuy biết Đức là đối tác chiến lược quan trọng nhất Châu Âu, có vai trò quyết định đối với EVFTA? Càng khó giải thích tại sao người Việt sợ người Trung Quốc nổi giận trừng phạt nên phải quỵ lụy trước họ về đủ mọi thứ, từ dự án bauxite Nhân Cơ và Tân Rai, đến dự án thép Formosa làm hủy hoại môi trường nghiêm trọng, cho đến dự án đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông, và gần đây phải nuốt nhục dừng khoan dầu khí tại bãi Tư Chính (lô 136-03), khi họ đe dọa tấn công Trường Sa. Tại sao người Việt mình lại coi thường người Đức, trong khi sợ người Trung Quốc đến như vậy?   

Thay lời kết

Người Đức cho rằng văn hóa ứng xử thiếu văn minh đó chỉ có thể thấy trong các bộ phim hành động thời chiến tranh lạnh. Người Việt không chỉ coi thường Đức mà còn coi thường cả Mỹ. Trước đây họ dám qua mặt Obama, nhưng nay lại sợ Trump. Phải chăng giữa Obama và Trump có sự khác biệt, không phải chỉ về phong cách cá nhân, mà còn về bản chất chính trị và chính sách. Dưới thời Obama, chắc người Việt cảm thấy “dễ chơi” nên coi thường, không tranh thủ cơ hội. Đến thời Trump, chắc người Việt cảm thấy “khó chơi” nên sợ (trừ vấn đề nhân quyền). Có lẽ đó là thói quen ứng xử “mềm nắn rắn buông” và “khôn nhà dại chợ”.

Thế giới đã thay đổi quá nhanh và quá nhiều. Nếu ta thay đổi quá chậm và quá ít (too little too late) thì cũng vô nghĩa và vô vọng. Nếu Việt Nam tiếp tục hành xử (cả đối nội và đối ngoại) bằng tư duy và hệ điều hành đã lỗi thời, thì sẽ bị lạc trong một thế giới mới bất an và bất định. Việt Nam đang bí cờ và bị động, vừa phải đối phó với Trung Quốc, vừa phải cầu cạnh Mỹ hỗ trợ, đành tiếp tục đu dây cho qua ngày (hedging in limbo). Chưa bao giờ khẩu hiệu “đổi mới hay là chết” lại cấp bách như bây giờ. Những gì đang diễn ra tại Venezuyela và Zimbabwe là một hồi chuông cảnh báo (về quy luật “cùng tắc biến”). Nếu Trung Ương 6 vẫn cố trì hoãn để giữ nguyên hiện trạng, thì Trung Ương 7 là cơ hội cuối cùng trước khi quá muộn, để Đại hội Giữa kỳ (2018) trở thành cơ hội và bước ngoặt cho Việt Nam đổi mới “vòng hai”.

Nguyễn Quang Dy

22-11-17

Tham khảo

1. The Week Donald Trump Lost the South China Sea, Foreign Policy, July 31, 2017.

2. Trump Is Causing Conflict by Playing Peacemaker, By Bill Hayton, Foreign Policy, November 14, 2017

3. Year One: Trump’s Foreign Affairs, Jonathan Freedland, New York Review of Books, November 16, 2017

4. Will China Scuttle ExxonMobil’s South China Sea Gas Project With Vietnam?” Gary Sands, Diplomat, November 16, 2017

5. Trump Lost Sight of His Promising Asia Vision, Hal Brands, Bloomberg, November 16, 2017

6. A post American Asia looms larger on the horizon, Robert Manning, Nikkei Asian Review,  November 17, 2017

7. The Policy Significance of Trump’s Asia Tour, Roncevert Ganan Almond, Diplomat, November 18, 2017.

8. Trump’s coming hard line on China, Ely Ratner, Lowy, November 21, 2017

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 22-11-17

Mời đọc thêm:
Advertisements

Việt Nam tại ngã ba đường: Thập diện Mai phục

Việt Nam tại ngã ba đường: Thập diện Mai phục

Nguyễn Quang Dy

Tuy không biết ai dịch tên bộ phim “Thập diện Mai phục” (2004) của Trương Nghệ Mưu thành “House of Flying Daggers”, nhưng cái tên phim đó có vẻ hợp với thực trạng Việt Nam lúc này. Đất nước tại ngã ba đường, có quá nhiều rủi ro nguy hiểm, không chỉ có thiên tai mà còn nhân họa, không chỉ có thù trong mà còn giặc ngoài, rất dễ bị bắc thuộc.

Tai họa đến hẹn lại lên

Như đến hẹn lại lên, mỗi năm khi đến mùa bão lụt, cả nước lại rộ lên bức xúc trước những tai họa kinh hoàng, gây tổn thất nặng nề về người và của. Nhưng khi mùa bão lụt qua đi, người ta lại chóng quên, để rồi đến năm sau tai họa lại ập đến lớn hơn. Trong khi các quan chức mải mê thu hồi vốn vì “tư duy nhiệm kỳ”, thì người dân vẫn quen sống tạm bợ (như thời chiến). Trong khi các tượng đài hàng ngàn tỷ tại Sơn La, Lai Châu làm cạn kiệt ngân sách, thì các biệt phủ trăm tỷ tại Yên Bái góp phần làm người dân càng thêm nghèo đói.

Tuy thiên tai vẫn xảy ra tại nhiều nước (do biến đổi khí hậu) nhưng nhân họa tại Việt Nam nổi cộm hơn (do lòng tham và ngu dốt). Người ta hồn nhiên tàn phá rừng đầu nguồn đến cạn kiệt, và đổ xô đầu tư vào quá nhiều dự án thủy điện, làm thay đổi môi trường. Đến mùa bão lụt, người ta lại hồn nhiên xả lũ “đúng quy trình” và để cho đê vỡ “theo kế hoạch”. Không chỉ phá rừng đầu nguồn, người ta còn hồn nhiên định chặt hết cây xanh tại Hà Nội.

Không phải ngẫu nhiên mà viện Gallup (năm 2012) đã xếp hạng Việt Nam là một trong những nước vô cảm nhất thế giới. Người Việt không những hồn nhiên đầu độc lẫn nhau bằng thực phẩm bẩn, mà còn vô tư hủy hoại môi trường sống của mình và đồng loại, như phá rừng, gây ngập lụt bằng thủy điện, gây ô nhiễm không khí và nguồn nước bằng nhiệt điện (như Vĩnh Tân) bằng khai thác bauxite (như Nhân Cơ), và siêu dự án thép (Formosa).

Tài nguyên và lòng tin cạn kiệt

Nước Việt Nam nổi tiếng về “rừng vàng biển bạc”, người Việt nổi tiếng thông minh, cần cù, giàu lòng yêu nước. Nhưng tại sao đất nước vẫn tụt hậu? Trong khi rừng vàng bị phá gần hết, biển bạc ô nhiễm nặng, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, ngân sách quốc gia gần trống rỗng, thu không đủ chi, phải tận thu ngân sách, thì lòng tin của người dân cũng cạn kiệt. Cả quan lẫn dân đổ xô “tìm đường cứu nước” bằng cách chạy ra nước ngoài.

Có những cái chết bất ngờ (đột tử) nhưng cũng có những cái chết từ từ (đẳng tử). Người dân chết do tai nạn giao thông (mỗi ngày trung bình 22 người), do lũ quét và sạt lở kinh hoàng (như tại Sơn La, Yên Bái, Hòa Bình), do xả lũ “đúng quy trình” (tại “khúc ruột miền Trung”), do hạn hán và ngập mặn (tại đồng bằng Nam Bộ), do bệnh tật hiểm nghèo (như ung thư), do dịch bệnh nguy hiểm (như sốt xuất huyết), do ngộ độc thực phẩm hay tai nạn y tế vì nhầm thuốc và thuốc giả (như vụ Pharma), do bạo lực đường phố, học đường, và ngay tại các lễ hội truyền thống. Từ lừa đảo, trộm chó, trộm bò, đến cướp ngân hàng, đang làm xã hội bất an. Rủi ro, nguy hiểm luôn rình rập người dân, mọi nơi, mọi lúc, như “Thập diện Mai phục”.

Tuy có nhiều nguyên nhân, nhưng thực trạng giáo dục khủng hoảng, văn hóa suy đồi, môi trường sống không an toàn, đang gây tâm lý bất an trong cộng đồng (cả dân lẫn quan). Chất lượng giáo dục thấp nên năm 2016 có 225.000 sinh viên có bằng cử nhân hay thạc sỹ bị thất nghiệp (theo Dân Trí, 2016). Do khủng hoảng giáo dục, nên các gia đình nghèo khó ở nông thôn cũng như các gia đình khá giả ở thành phố đều tìm mọi cách để chạy cho con vào “trường quốc tế” (như Vinschool) hay đi học nước ngoài (như chạy loạn).

Bức tranh vẫn ảm đạm  

Tuy chiến dịch chống tham nhũng ngày càng quyết liệt, nhưng có vẻ chững lại (tại TƯ 6), như có dấu hiệu thỏa thuận ngầm giữa các phe phái. Thế và lực của phe Tổng Bí thư tuy đã mạnh lên đáng kể, nhưng dường như vẫn chưa đủ sức áp đảo đối phương. Cuộc chiến giữa các phe phái tuy căng thẳng nhưng vẫn chưa đến hồi kết (phải chờ TƯ 7). Tuy sức ép đòi đổi mới thể chế chính trị ngày càng mạnh, nhưng hồ sơ nhân quyền ngày một xấu.

Theo các chuyên gia kinh tế, chỉ số kinh tế của Việt Nam (năm 2017) tuy có dấu hiệu cải thiện (tăng trưởng quý 4 sẽ là 7,12%), nhưng không bền vững (lạm phát quý 4 sẽ vượt mức 4%) và bức tranh tài chính vẫn ảm đạm. Tình hình thâm hụt ngân sách và nợ công vẫn nan giải, thu không đủ chi, dự trữ ngoại hối chỉ đủ trả nợ nước ngoài đến hạn. Tỷ lệ bội chi ngân sách khoảng 6% GDP, gấp đôi mức an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế (là 3%). Dư nợ Chính phủ (năm 2015) là $94,3 tỷ (chiếm 61% GDP), trong khi nợ nước ngoài là $39,6 tỷ.

Theo chuyên gia Vũ Quang Việt, nếu tính cả nợ mà các doanh nghiệp nhà nước đã vay thì tổng số nợ công của Việt Nam (năm 2016) khoảng $431 tỷ (chiếm 210% GDP). Trong khi đó, các chủ trương lớn của “chính phủ kiến tạo” như đổi mới thể chế và “nhất thể hóa” bộ máy cồng kềnh tốn kém, cũng như cổ phần hóa và chuyển đổi cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (bị thua lỗ), vẫn đang dậm chân tại chỗ và trì trệ như những khẩu hiệu suông. Nếu bán các doanh nghiệp hàng đầu, thì nguy cơ sẽ bị các doanh nghiệp Trung Quốc thôn tính.

Phải đổi mới vòng hai

Về đối ngoại, Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc về kinh tế và chính trị, nhưng quan hệ đối tác toàn diện với Mỹ lại bấp bênh (vì Trump thắng cử, bỏ rơi TPP). Quan hệ đối tác chiến lược với Đức lâm vào khủng hoảng (sau vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh). Quan hệ đối tác chiến lược với Nhật ngày càng quan trọng (nhưng chưa thật vững chắc). ASEAN càng bị phân hóa và suy yếu (do Trung Quốc thao túng), Việt Nam càng cô đơn.

Về an ninh quốc phòng, nguy cơ Việt Nam bị Trung Quốc bắt nạt, có thể mất nốt chủ quyền tại Biển Đông ngày càng lớn, sau khi Trung Quốc dọa tấn công các vị trí của Việt Nam tại Trường Sa, buộc Repsol (Tây Ban Nha) phải rút khỏi mỏ dầu “Cá Rồng Đỏ” (lô 136/03). Nếu Trung Quốc tiến thêm một bước nữa, buộc OVL (Ấn Độ) rút lui khỏi dự án thăm dò dầu khí (tại lô 128), và buộc ExxonMobil (Mỹ) không được hợp tác với Việt Nam để khai thác mỏ khí “Cá Voi Xanh” (lô 118), thì Biển Đông sẽ thành cái ao của Trung Quốc.

Đất nước bị các phe nhóm tranh giành quyền lực và lợi ích, “ăn không từ cái gì”, gây tụt hậu và chia rẽ ngày càng nghiêm trọng, làm dân chúng mất hết lòng tin, phải “bỏ phiếu bằng chân”. Nếu không đổi mới thể chế và dân chủ hóa thì người Việt không thể hòa giải, và Việt Nam dễ trở thành miếng mồi ngon cho bắc thuộc lần nữa. Người Việt đang đứng trước ngã ba lịch sử, với “thập diện mai phục”, nên phải tỉnh ngộ để đổi mới vòng hai.

NQD. 16/10/2017

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 16-10-17

Không phải củi nào cũng đưa vào lò

Chợ Quan Chức Của csVN

Có bà Châu Thị Thu Nga,
Hôm nay vừa bị đem ra trước toà.
Từng là đại biểu nước ta,
Can tội lường gạt đất, nhà, bán, buôn.
Trước toà bà cũng khai luôn:
“Cái chức đại biểu chẳng hơn kém gì.
Cũng là mua, bán khác chi,
Giá một triệu rưỡi, tiền thì Đô La.”
Toà rằng: “Không được khai ra,
Vì là bí mật quốc gia, đảng mình.”
Bởi vì nhìn khắp chung quanh,
Đâu cũng là chợ, họp hành bán buôn.
Nhà quan cho đến nhà trường,
Bán dâm, mua chức, chuyện thường đấy thôi.
Trong toà trên ghế cao ngồi,
Giá vài ngàn tỉ mới ngồi được đây.
Thế nên chuyện mua, bán này,
Không được nói đến ở đây, trước toà.
Nếu không lãnh đạo nước ta,
Phải lôi tất cả ra toà xử luôn.
Chuyện gì chứ chuyện bán, buôn,
Bán đất, bán đảo chuyện thường đảng ta.
Bán trẻ con, bán đàn bà,
Thiên đường buôn bán thật là công khai.
                       oOo
Dân Việt muốn có tương lai,
Phải loại cộng sản ra ngoài nước Nam.
Không cộng sản, nước bình an,
Thanh bình trở lại Việt Nam thái hoà.


Vương Khẩu Nghiệp
(dslamvien.com)

Không phải củi nào cũng đưa vào lò

Người quan sát
Trước tòa, bà Châu Thị Thu Nga không được khai ra những lãnh đạo nào đã nhận số tiền 1,5 triệu Mỹ kim để giúp bà trở thành Đại biểu Quốc hội. Ảnh: Tuổi Trẻ

Vietnam – Cali Today News – Để nói về công cuộc chống tham nhũng, ông Nguyễn Phú Trọng-Tổng Bí thư đảng CSVN đã từng phán: “Cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy”. Câu nói này hàm ý rằng, tất cả những cán bộ, đảng viên một khi đã vi phạm, dính líu đến tham nhũng, hối lộ đều bị xử và không hề có “vùng cấm” trong việc xử lý. Tuy nhiên, sự thật lại không như vậy. “Củi” đưa vào lò đều có sự chọn lựa kỹ càng, không phải “củi” nào cũng được ông Nguyễn Phú Trọng và phe nhóm đưa vào “lò”.Dẫn lại diễn tiến phiên tòa xét xử bà Châu Thị Thu Nga-Đại biểu Quốc hội CSVN khóa 14, người đã can tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với số tiền lên đến vài trăm tỷ đồng, diễn ra vào ngày 5/10 được báo Tuổi Trẻ cho biết, luật sư Hoàng Văn Hướng, người bào chữa cho bà Nga đã đặt câu hỏi liên quan đến số tiền 1,5 triệu Mỹ kim mà bà này trước đó đã khai dùng để đút lót để trở thành Đại biểu Quốc hội. Ông hỏi:“Có việc chạy ĐBQH (Đại biểu Quốc hội-người viết) không? Bà có thay đổi lời không? Bà trình bày lại cho hội đồng xét xử và mọi người cùng nghe”.Ngay khi vừa dứt lời thì chủ tọa phiên tòa ngay lập tức nhắc nhỡ luật sư là việc vừa nêu ra nằm trong một vụ án khác, không nằm trong phạm vi của phiên xử này.Khi nghe tòa nhắc nhỡ, bà Nga liền xin tòa cho được nói một câu, nhưng thật kỳ lạ và trùng hợp, âm thanh trong phòng dành cho phóng viên theo dõi phiên xử bị ngắt. Tất cả những phóng viên có mặt để theo dõi phiên tòa từ xa đều không nghe được bà Nga đã nói gì. Đến khi âm thanh có lại thì cũng là lúc mà chủ tọa phiên tòa nói sang vấn đề khác.Điều này cho thấy rằng, nguyện vọng của bà Nga trong việc mượn phiên tòa để khai ra những người đã nhận tiền đút lót của bà để trở thành Đại biểu Quốc hội đã không được tòa đáp ứng. Số tiền 1,5 triệu Mỹ kim mà bà Nga dùng để hối lộ dư luận vẫn không biết lọt vào tay ai. Điều đó cũng cho thấy phải có nhiều khuất tất, mà đằng sau đó là những lãnh đạo cấp cao đã nhận tiền của bà Nga để cho bà này trở thành Đại biểu Quốc hội, rồi từ đó, với uy tín của mình có được thực hiện việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản của hàng trăm người. Những lãnh đạo đã cầm tiền của bà Nga rất có thể thuộc phe cánh của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, vậy nên phiên tòa không cho phép bà Nga khai ra nhằm không để đối thủ của ông dùng nó phản pháo lại.Trước tòa, bà Châu Thị Thu Nga không được khai ra những lãnh đạo nào đã nhận số tiền 1,5 triệu Mỹ kim để giúp bà trở thành Đại biểu Quốc hội. Ảnh: Tuổi TrẻTrong một vụ án khác, dù đã nhiều tháng trôi qua kể từ ngày báo chí phanh phui khối tài sản khổng lồ của ông Phạm Sỹ Quý-Giám đốc Sở Tài nguyên-Môi trường tỉnh Yên Bái thì Thanh tra Chính phủ cùng với những ban ngành khác vẫn chưa công bố kết luận sai phạm của ông này. Cho dù trong rất nhiều lần báo chí đề nghị những cơ quan có trách nhiệm liên quan phải cung cấp thông tin cho họ. Đáp trả lại, những cơ quan này chỉ biết xin lỗi và khất hẹn lần sau.Khối tài sản khổng lồ cùng với việc thăng tiến bất hợp lý, không đúng quy trình là những sai phạm không chỉ riêng ông Phạm Sỹ Quý, mà nó còn dính líu đến bà Phạm Thị Thanh Trà-Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái, chị ruột ông Quý. Chưa hết, báo chí còn phanh phui ra cả những căn biệt thự như pháo đài của Giám đốc Công an tỉnh Yên Bái Thiếu tướng Đặng Trần Chiếu. Điều này có nghĩa là một loạt lãnh đạo cao cấp của tỉnh Yên Bái đều dính vào sai phạm. Vậy nhưng, dư luận vẫn không hiểu vì sao sự việc cho đến nay vẫn không được làm rõ.Ông Phạm Sỹ Quý dù sai phạm một loạt nhưng đến nay vẫn bình yên vô sự. Ảnh: Báo Đất ViệtTrong khi đó, tại Đà Nẵng, những vụ lình xình giữa Chủ tịch Huỳnh Đức Thơ và Bí thư Nguyễn Xuân Anh lại được báo chí đăng tải rầm rộ. Cùng với đó, ông Trần Quốc Vượng-Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương kiêm Thường trực Bộ Chính trị đảng CSVN rất nhiệt tình, nhanh chóng công bố ra những sai phạm. Và, trước ngày khai mạc Hội nghị Trung ương 6 của đảng CSVN, ông Trần Quốc Vượng đã ra quyết định kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với ông Huỳnh Đức Thơ và đề nghị Bộ Chính trị xử lý kỷ luật đối với ông Nguyễn Xuân Anh.Tìm hiểu kỹ thì hóa ra Nguyễn Xuân Anh không cùng phe cánh của Nguyễn Phú Trọng, nếu không muốn nói là đối lập. Vì ông này là thân tín của Chủ tịch nước Trần Đại Quang, người đang ngấp nghé chiếc ghế Tổng Bí thư một khi ông Nguyễn Phú Trọng về hưu.Ngược lại, Trần Quốc Vượng lại là Đại biểu Quốc hội thuộc đoàn đại biểu tỉnh Yên Bái. Do đó, bằng quyền lực của mình và nhận được sự hậu thuẫn của Nguyễn Phú Trọng những sai phạm xảy ra tại tỉnh Yên Bái vẫn không được Thanh tra Chính phủ công bố. Ủy ban Kiểm tra Trung ương dù rất nhiệt tình trong việc điều tra ở những nơi khác, chỉ riêng tại Yên Bái là không được mặn mà là nhằm bảo kê những lãnh đạo ở địa phương.Từ hai trường hợp bà Châu Thị Thu Nga muốn khai đã dùng 1,5 triệu Mỹ kim hối lộ cho ai để được trở thành Đại biểu Quốc hội, cho đến những sai phạm ở tỉnh Yên Bái không được công bố, Ủy ban Kiểm tra Trung ương không vào cuộc đã khẳng định rằng, công cuộc chống tham nhũng của ông Nguyễn Phú Trọng chỉ là nhằm thanh trừng băng đảng. Việc đưa củi vào lò, từ củi tươi cho đến củi khô đều có sự lựa chọn. Đó là những lãnh đạo, cán bộ thuộc phe đối thủ, những người không cùng băng nhóm để tranh giành quyền lực mà phía đằng sau đó là giành lại quyền lợi cho mình.

Nguoi Quan sat (baocalitoday.com)

Ai nói Việt Nam không có gì?

AI NÓI VN KHÔNG CÓ GÌ?

Có ông giám đốc người Nhật nói trước hàng chục quan khách VN trong một khách sạn 5 sao, như thế này:

“Người Việt Nam giỏi lắm, thông minh lắm, kiên cường lắm. Lúc ấy người Nhật thua trận trước người Mỹ, cả nước Nhật thấy sỉ nhục, còn người Việt Nam thì lại thắng nước Mỹ. Nhưng 20 năm qua đi, Nhật Bản có Toyota, có Honda, có Mitsubishi, Việt Nam có gì? Người Hàn Quốc chịu sỉ nhục trước người Nhật, họ có Huyndai, có Samsung, có LG, Việt Nam có gì?”

“Chời” ơi là “chời”! Ông giám đốc người Nhật này vậy là chưa biết rồi. Việt Nam có tượng “bác Hồ” đứng phơi râu khắp nơi từ nam chí bắc, và còn đang hồ hởi xây thêm; có tượng bà mẹ Việt Nam anh hùng lớn nhất đông nam á; có tô hủ tiếu to nhất, có cây bánh tét dài nhất; có lăng “bác Hồ” chứa cái xác mấy chục năm không thúi, hàng năm có “mấy triệu du khách” đến xem; có những lãnh đạo rất ngu rất điếm có “tầm nhìn xa” tới mọi túi trên túi dưới của nhân dân và không bao giờ biết nhục…..
Nhiều lắm, ông người Nhật không thấy là lỗi tại ông không chịu “mở mắt” ra. Ông đừng nói nữa, ông coi chừng đó, VC nổi giận, rút hết cu li VN về nước thì mấy cái hãng Toyota, Honda… con mẹ gì đó đóng cửa không biết ngày nào mới mở ra lại đó nha!
Há há….

(Fb Ngo Du Trung)

Bao Công xử án mất cắp đồ sân bay:

ef849-khc3b4ng2bthc3adch2bc491csvn2b-2bcc3b42bc3a1o2bvc3a0ng

 

Nhân ngày 2 tháng 9 cũng nói vài lời về tiêu chuẩn của chức Tổng Bí thư

Nhân ngày 2 tháng 9 cũng nói vài lời về tiêu chuẩn của chức Tổng Bí thư

Hà Sĩ Phu

1/ Một tiêu chuẩn thật nấp sau 7 tiêu chuẩn giả

Bàn về Tiêu chuẩn của 4 chức danh chủ chốt (Tứ trụ) của Đảng Cộng sản Việt Nam (tức Quy định 90-QĐ/TW) nhà báo Trần Minh Thảo nhận xét đó là “bộ máy cai trị do một người nắm giữ” và trong cái vỏ Mác-Lê thực chất là cái ruột Đại Hán!Đó là một nhận xét chính xác, nên xin được tiếp lời, mạn đàm quanh tiêu chuẩn và đặc điểm của ngôi vị quan trọng nhất này, ngôi vị Tổng Bí thư (TBT).Đọc 7 tiêu chuẩn thấy TBT phải là một con người tài đức vẹn toàn, nhìn xa trông rộng, ở đỉnh cao thời đại, một lòng vì nước vì dân…, nhưng xét trong thực tế đó chỉ là những tiêu chuẩn giả tạo. Thực tế khắp trong ĐCSVN hiện nay chẳng tìm đâu ra một con người như thế, và trớ trêu là giả thử có một người xấp xỉ đạt tiêu chuẩn tài đức cao như vậy thì chẳng những không thể trúng cử vào chức TBT, mà muốn làm một chức quèn như Tổ trưởng dân phố cũng chẳng được, vì một đảng viên tiến bộ như vậy sẽ bị đảng quy vào tội “tự diễn biến, tự chuyển hóa” hay biến thành lực lượng thù địch chống phá đảng. Ví dụ trước mắt như ông Lê Đình Kình ở Đồng Tâm kiên quyết đứng về phía người dân thì lập tức bị đảng cho người đánh gẫy đùi và bị An ninh Quốc phòng triệu tập lên “làm việc”!Nhưng, đằng sau 7 tiêu chuẩn giả vờ ấy có một tiêu chuẩn ngầm cho chức TBT, tuy không nói ra nhưng lại quan trọng nhất, và được tuân thủ nghiêm ngặt: TBT của ĐCSVN phải là một người thân Tàu!

Có thể có người không tin như vậy, thì dân chúng tôi dám thách thức đảng, thử bầu một người dám bộc lộ khí phách chống Tàu xâm lược, dám tập hợp quanh mình lực lượng toàn dân sẵn sàng chống Tàu xâm lược xem nào! Nguyện vọng khẩn thiết ấy của toàn dân chắc chắn đi ngược với phẩm chất thật của tất cả các TBT ĐCSVN, đúng như ông Trần Minh Thảo nhận xét: TBT và Tứ Trụ phải mang cái “ruột Đại Hán”. Nhưng trong những người thân Tàu (được Trung quốc duyệt) thì người nào thắng cử còn phụ thuộc tương quan phe nhóm và mẹo điều hành bầu cử như Đại hội XII cho thấy.Trong bài ”Lọc ngược tôi đã viết:“vì bị chất men Cộng sản dẫn dụ, tất cả các Tổng Bí thư ĐCSVN, từ HCM đến Nguyễn Phú Trong bây giờ, tất cả đều phá tan kế sách giữ nước của cha ông (phương châm Kính nhi viễn chi – HSP) trước họa xâm lăng phương Bắc. Dưới sự dẫn dắt của các đời Tổng Bí thư đã gần gũi và nhờ vả Trung Quốc đến mức gắn bó như môi với răng, như chui vào vòng tay của Tàu, trở thành con nợ của Tàu, để cho lão khổng lồ ôm lấy vai, choàng lấy cổ, thọc tay vào sườn… thì khi kẻ khổng lồ ấy ra tay làm sao mà chống đỡ? Chưa kể còn chủ động ôm lấy nó để nhờ nó làm chỗ tựa chống giông bão dân chủ. Tất cả các đời TBT đều là người thân Tàu quá mức (kể cả Lê Duẩn, mặc dù có tình huống chiến tranh biên giới 1979), không chú ý gì đến khoảng cách an toàn trước con ác thú truyền kiếp Đai Hán. Về chiến lược giữ nước trước Đại Hán thì tất cả sự tuyển chọn ra các TBT đều là “lọc ngược” , bầu ra người dẫn giặc Tàu vào nhà”. Như vậy thì đất nước và nhân dân có thể trông mong gì? Chẳng trông mong gì, chỉ xem cuộc bầu như ta xem hài kịch.

2/ Dở ông dở thằng

Dân ta thường dùng hai từ “ông” và “thằng” để chỉ hai loại người đáng trọng và đáng khinh. Chức vụ TBT đứng đầu hệ thống quyền lực thì chẳng những là “ông” mà còn phải là ông lớn chứ nhỉ? Chẳng thế mà Tổng Trọng vẫn lên giọng đạo mạo, đạo đức “dân chi phụ mẫu”, mà đặt ra 7 tiêu chuẩn cao siêu cho cái ghế của ông. Nhưng liệu ông có biết rằng trong xã hội hiện nay, những người đứng đắn, còn biết “ưu thời mẫn thế” ngồi trao đổi với nhau về hiện tình đất bước thì đều gọi ông là “thằng”, ví dụ (xin lỗi): “việc liều lĩnh bắt cóc thằng Trịnh Xuận Thanh chắc là thằng Trọng chứ ai, việc đầu hàng thằng Tàu nhục nhã ở bãi Tư Chính của mình chắc cũng do thằng Trọng chứ gì”, đại loại như thế…

Tình trạng dân chúng gọi các ông lớn đứng đầu quốc gia là “thằng” báo hiệu điều gì? Là tín hiệu ngầm cho một xã hội bất an, một chế độ suy đồi vì mất niềm tin! Tất nhiên công khai người ta vẫn gọi “đồng chí” là “ông” nhưng ngôn ngữ thầm sau lưng mới là ngôn ngữ có giá trị đo lường thực chất. Ngày xưa vua chúa phải đóng giả thường dân đi “vi hành” trong dân chúng chính là để nghe được tiếng nói thầm trong dân chúng.Vậy ở tình trạng “dở ông dở thằng” bây giờ thì thiết nghĩ quan phụ mẫu tối cao Tổng Trọng cũng chẳng nên lên giọng dạy dỗ cán bộ và dân chúng toàn những mẫu mực khuôn vàng thước ngọc nhiều quá làm gì, thật giả trắng đen dân biết cà!Đúng là Trời bày một trận nhố nhăng, Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông (HSP)

3/Thông minh hay lú lẫn, khôn ngoan hay đầu hàng, liêm khiết hay tham nhũng, đứng đắn hay ti tiện? Vị trí và đặc điểm Tổng Trọng thế nào trong dãy những người đứng đầu ĐCSVN từ trước đến nay?

Đó là những câu hỏi và cách đánh giá khác nhau trong dân chúng về đương kim TBT Nguyễn Phú Trọng. Thảo luận những đề tài này sẽ rất rôm rả, mà bài viết nhỏ này không thể đề cập thấu đáo. Chỉ xin nói sơ lược như sau:- Trong số những người đứng đầu ĐCSVN thì ông Trọng có vẻ có học hơn cả, là Tiến sĩ (mặc dù là TS Xây dựng đảng) nên con đường độc tài và theo Tàu có nhiều màu sắc “học thuật” hơn cả. Đủ thứ lý luận, phát ngôn rắc rối gây ấn tượng, nhưng vì bản chất bên trong có những mâu thuẫn không ổn nên không thể đem các mỹ từ che lấp. Ví dụ: Nói “phải nhốt quyền lực vào lồng” vì nếu để quyền lực vô hạn sẽ sinh lạm quyền nguy hiểm.

Nhưng ai sẽ nhốt quyền lực Tổng Bí thư vào lồng, lồng nào (ông có bị nhốt trong cái lồng Đại Hán không), để ông cứ tự do xếp đặt mọi nhân sự của Chính phủ và Quốc hội? Ông tự do nhốt các quyền lực khác vào lồng, tự tiện “nhóm lò” liệu có bị cái lò khác của nhân dân biến ông thành củi?…- Nhưng trong dãy các Tổng Bí thư và Chủ tịch ĐCSVN, ông Trọng và ông Hồ có vị trí riêng. Một ông gây mầm, đặt đường ray, một ông kết thúc, kết thúc thời gian trị vì của ĐCS một cách Cộng sản điển hình, về vĩ mô là thời kỳ tạm ổn định. Ông Trọng giữ vị trí cái bản lề trong giai đoạn cuối mà hai cặp xung đột “dân chủ hay độc tải” và “thoát Trung hay theo Tàu” đang đòi hỏi phải được giải quyết rõ ràng.Tôi đã nhiều lần nói rõ khái niệm NỘI XÂM. Nhân dân không được làm chủ đất nước thì nhân dân bị mất nước. “Nước vẫn còn đó nhưng dân không làm chủ thì đấy là mất nước!” (http://www.hasiphu.com/baivietmoi_16.html).

Mất nước vào tay người trong nước là bị Nội xâm, nền Chuyên Chính CS nắm quyền toàn diện và tuyệt đối, giữ “sổ đỏ” trên toàn lãnh thổ chữ S, dân không có quyền sở hữu trên chính mảnh đất của ông cha Việt Nam để lại. Vậy ngay từ khi ĐCS nắm quyền toàn trị là Việt Nam bị nạn Nội xâm, bị mất nước bởi một chế độ độc đảng độc tài. Thực tế là VN đã là nước độc lập trước khi CS cướp Chính quyền từ tay Chính phủ Trần Trọng Kim nên ngày 2 tháng 9 không thể là ngày Quốc khánh. Cuộc nội chiến Nam Bắc 1956-1975 không thể mang danh cuộc “Chống Mỷ cứu nước” được vì đoạn khởi đầu cũng như đoạn kết thúc chỉ có người Việt Nam với nhau.Một loạt những sự kiện chính trị đã được bạch hóa, ông Trọng làm TBT đúng vào lúc“chuyển giao lịch sử, chuyển giao nhận thức” như thế nên ông Trọng phải đương đầu với giai đoạn bản lề dù muốn hay không.Ông Trọng mặc dù lúc đầu được coi là một “nhân viên thư lại” hay một “ông giáo làng” nhưng thời cuộc đặt ông vào vị trí bản lề phải thay đổi, tốt hơn hoặc rất xấu hơn, mà xem chừng chính ông đã bị “nhốt vào lồng” không còn tự do lựa chọn?Vì ở vị trí lịch sử như vậy, ông Trọng muốn khéo léo, ngụy trang, đu dây cũng không được. Rất nhiều mặt trái đã bộc lộ quyết liệt, khiến cho một số đảng viên phải bỏ đảng vì lý do đại ý “ông Trọng, TBT đảng bây giờ không xứng đáng với cụ Hồ ngày xưa”.

Nhưng ông Trọng chỉ là kẻ hậu duệ, mặc dù rất tồi tệ, dù tâm địa tồi tệ, thì cũng là một anh lái tàu trên một đường ray đã được thiết kế đúng quy trình, quy trình biến “đoàn tàu” Việt Nam thành một “đoàn Tàu” từ lúc nào không biết.Vận mệnh đất nước chỉ còn nằm trong tay dân, nhưng tay nhân dân bị bọn Nội xâm khóa chặt. Thoát khóa cũng là vượt ngục, những người CS trước đây rất nhiều kinh nghiệm vượt ngục, nay nếu tỉnh ngộ, nhận rõ sai lầm quá khứ thì hãy cùng nhau, hiệp lực vượt khỏi cái “nhà ngục Cộng sản một cổ hai tròng do nội xâm và ngoại xâm kết hợp”, để thoát ra “vùng Tự do” với thế giới văn minh, chứ lại trở về với bác nọ bác kia của quá khứ thì chỉ là cái vòng luẩn quẩn, rất luẩn quẩn không có lối ra mà thôi.

2-9-2017

H.S.P.

Tác giả gửi BVN

Boléro – dấu hiệu suy tàn của chế độ CSVN

      Boléro – dấu hiệu suy tàn của chế độ CSVN

 

Phạm Tín An Ninh (Danlambao) – Có lẽ chưa bao giờ, kể cả thời VNCH, nhạc Bolero thịnh hành và được người trong nước mê mẩn như bây giờ, đặc biệt ở miền Bắc, nơi mà trước 1975 Bolero được dán cho cái nhãn “nhạc vàng” và không còn đất sống, một số người thích hát loại nhạc này đã bị tù đày 10-15 năm, để phải chết hay khốn khổ cả một đời, trường hợp Phan Thắng Toán (tức Toán Xồm) và Nguyễn Văn Lộc (Lộc Vàng) ở Hà Nội là những điển hình. Bây giờ Bolero như trận cuồng phong, phá tan mọi thành trì, chiếm ngự tất cả mọi nơi, từ thành phố đến nông thôn, từ các “tụ điểm”, sân khấu “hoành tráng”nhất, len lỏi đến tận các hang cùng ngõ hẻm, “vùng sâu vùng xa”, kể cả trong các đám ma, đam cưới; làm mê mẩn từ người già đến con trẻ, từ những ông quan lớn, đại gia đến dân dã, bần cùng. Ở đâu cũng nghe Bolero.

Người ta không còn đếm được các chương trình tìm giọng hát cho loại nhạc này: “Hát Cùng Bolero”, “Thần Tượng Boleo”, “Solo Cùng Bolero”, “Tình Bolero”, “Tình Bolero Hoan Ca”… Những cuộc thi hát nhạc Bolero thu hút hằng vài chục ngàn thí sinh, đủ mọi thành phần, cán bộ, sĩ quan, thầy cô giáo, các em bé 7, 8 tuổi, đến từ “mọi miền đất nước”. Từ những danh ca, “nghệ sĩ ưu tú”, “nghệ sĩ nhân dân” đến anh bán kẹo kéo dạo đều đua nhau hát và kiếm tiền bằng Nhạc Bolero. Và không cần biết cho phép hay không, họ hát đủ mọi đề tài: miền Nam thanh bình, tình yêu, tình lính, đời lính (VNCH), kể cả những bản nhạc chiêu hồi, như “đêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”, “miền Nam có nắng thanh bình có đồng lúa đẹp có tình quê hương, anh ơi mau sớm lên đường, bình minh còn đợi ruộng nương còn chờ…”v.v…

Trong cái khát khao Bolero ấy, thực chất chính là nỗi khát khao khung trời, con người, nếp sống, tình cảm, tấm lòng đối với quê hương đất nước của quân dân miền Nam thuở trước, và đặc biệt là tính nhân bản đã hoàn toàn thiếu vắng tại miền Bắc trên bảy mươi năm và tại miền Nam hơn bốn mươi năm dưới chế độ Cộng Sản. Khi một ca sĩ hát, họ thả hồn vào từng lời ca, cùng bâng khuâng với những hình ảnh, tình tự trong nhạc phẩm, họ có cảm giác đang được sống trong cùng không gian và thời gian mê đắm ấy. Người nghe thì hồn như bay bỗng đến chốn thiên thai nào đó, họ đắm chìm trong cảm xúc của một thời hạnh phúc, mà người miền Nam đã mất đi trong tiếc nuối, và người miền Bắc thì khát khao nhưng chưa bao giờ được sống. Và như thế, một thiên đường Miền Nam trước 1975 thực sự đã sống lại trong lòng mọi người, thiết tha và mãnh liệt.

Văn chương hay âm nhạc là những phạm trù phản ảnh trung thực nhất cho một xã hội. Bolero, một loại nhạc bình dân, dù được ai đó gán cho cái tên nhạc “sến”, đã làm đúng vai trò ấy, đã suốt một thời thăng hoa qua cuộc sống chan hòa yêu thương, nhân bản, và nhạc Bolero cũng chính là tiếng than ai oán, bi phẩn của người dân miền Nam thời ấy, khi mà cuộc chiến phi lý và bẩn thỉu nhất do bọn người CS rừng rú gây ra để phá hoại đất nước, giết chết bao thế hệ thanh niên của hai miền, và tạo cảnh huynh đệ tương tàn, làm hệ lụy lâu dài cho cả một dân tộc. Những thế hệ ở Việt Nam bây giờ có cảm xúc như thế nào khi nghe những bài Tám Điệp Khúc, Đêm Nguyện Cầu, Kẻ Ở Miền Xa, Hai Chuyến Tàu Đêm, Đường Xưa Lối Cũ, Sương Trắng Miền Quê Ngoại, Những Đóm Mắt Hỏa Châu…? Và trong tất cả những bài ca về lính mà họ đang say mê hát, họ có tìm được câu nào hô hào “sinh Nam tử Bắc” hay “thề phanh thây uống máu quân thù” như trong chính bài quốc ca CS?
Nhạc Bolero đã đè bẹp tất cả các loại nhạc “đỏ”, nhạc ăn cắp, bắt chước, lai căng của nhiều nhạc sĩ trong nước, viết theo lệnh đảng hay làm dáng, đua đòi “vươn ra biển lớn!” Ca sĩ thì “thặng dư giá trị” đủ hạng đủ cỡ, mà nhạc sĩ thì hiếm hoi như lá cuối mùa thu và cũng chẳng sáng tác được bao nhiêu ca khúc ra hồn, ngoài một vài bài của các nhạc sĩ Thanh Tùng, Bắc Sơn, Phú Quang, Trần Tiến, Phan Huỳnh Điểu, Vũ Hoàng (bài Phượng Hồng phổ từ thơ Đỗ Trung Quân)…

Những ca sĩ miền Nam chuyên hát nhạc “sến” đã hết thời ở hải ngoại cỡ Chế Linh, Giao Linh, Phương Dung, Thái Châu, Tuấn Vũ… về Việt Nam làm nhiều show đã cháy vé, được ca ngợi đón tiếp như những ông bà hoàng Bolero, mang về quê hương những làn gió mới! Nhiều người được trang trọng mời ngồi ghế “nóng” làm giám khảo cho các kỳ thi tuyển lựa ca sĩ Bolero!

Ngày 30.4.75, trên đường vào “tiếp thu” miền Nam, bà Dương Thu Hương ngồi khóc bên vệ đường khi nhìn thấy một miền Nam văn minh, hiền hòa, trù phú gấp vạn lần miền Bắc. Bà đã nhận ra cả một quá khứ bị lừa dối. Một số trí thức miền Nam, như chú cháu Đỗ Trung Hiếu, Đỗ Hữu Ưng (ở cùng quê và học trung học cùng trường Võ Tánh-Nha Trang với người viết) khi bỏ miền Nam vô bưng, lòng nô nức đi làm “cách mạng”, nhưng đến khi được chuyển ra miền Bắc mới giật mình biết đã “lạc đường” nhưng quá muộn, đành phải “nín thở qua sông”. Trước khi vô bưng, Đỗ Hữu Ưng từng theo học Khóa 11 Đốc Sự tại Viện QGHC thời VNCH. Sau 75, về “tiếp thu miền Nam” giữ chức chủ tịch của một huyện nào đó ở Sài Gòn, đã tìm gặp lại những đồng môn cũ, khuyến khích mọi người nên sớm tìm đường vượt biển, nhưng chẳng mấy ai dám tin! Ông chú gốc giáo sư thì làm đến chức ủy viên tôn giáo của thành ủy, nhưng bất mãn nên cùng đám Nguyễn Hộ, Trần Văn Trà lập ra Câu lạc bộ Kháng Chiến Cũ. Để phản ứng cho sự ăn năn hối hận của mình, hai chú cháu đã bị lột hết các chức tước, riêng ông chú phải nhận những bản án tù và đã chết dưới tay người đồng chí CS! Nhiều thanh niên miền Bắc, điển hình là Nguyễn Viết Dũng, đang là một sinh viên giỏi, từng đoạt giải “Đường Lên Đỉnh Olympia”, với một tương lai tươi sáng, nhưng đã dám công khai treo cao cờ vàng ba sọc đỏ trên nóc nhà, mặc quân phục và mang phù hiệu QLVNCH như là một hình thức tôn vinh, luyến tiếc một chính thể, một quân đội chính danh đã bị bức tử. Bị cầm tù ra, anh con khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Cộng” và rủ nhiều bạn bè tìm vào Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa thắp hương kính cẩn tưởng niệm những người lính miền Nam đã vị quốc vong thân. Những người mê hát, mê nghe nhạc Bolero, chắc hẳn ít nhiều đều mang trong lòng những hoài niệm, suy tư, cảm xúc như thế

Những nhạc sĩ miền Nam, đang còn sống như Lam Phương, Lê Dinh, Song Ngọc… hay đã mất ở hải ngoại như Trần Thiện Thanh, Trịnh Hưng, Hoàng Thi Thơ, Duy Khánh, Nhật Ngân, Anh Bằng, … hoặc chết ở quê nhà trong nghèo nàn khốn khó như Trúc Phương, Thanh Sơn,… khi sáng tác những bản nhạc Bolero chắc họ không ngờ đã tạo thành những vũ khí vô hình nhưng ghê gớm, làm mê mẩn hàng mấy chục triệu người sống trong chế độ Cộng sản, có sức xoi mòn và làm sụp đổ chế độ tàn ác man rợ này. Mặc dù bọn tà quyền vẫn đang sống thoi thóp, dựa vào bạo lực, và sự kết họp mong manh của đám đồng chí cùng băng đảng, để chia chác quyền lợi, tài sản cướp bóc của nhân dân và sẵn sàng “mỏi gối quì mòn sân Tàu phủ”, nhưng bên trong thực sự đã mục rữa, thối tha, chia bè kết nhóm để tranh giành, thanh toán lẫn nhau. Lòng dân sẽ thay đổi nhanh chóng khi Nhạc Bolero ngày càng xoáy sâu vào trí não và tâm hồn họ, cộng với một thực trạng xã hội rệu rã, xuống cấp ở tất cả mọi lãnh vực, tất yếu sẽ tạo thành một hệ quả khôn lường.

Cả một đất nước như đang bị ngón sóng thần Bolero tràn ngập, làm thay đổi não trạng và nỗi khao khát của con người, biết đâu sẽ dẫn đến việc sụp đổ cả thành trì của một chế độ từng lên án, tìm mọi cách để ngăn cấm, triệt tiêu nó. Thêm một chỉ dấu báo hiệu cho ngày tàn của CSVN.

4/9/2017

“Don’t Fly the Unfriendly Skies”

https://www.youtube.com/watch?v=9KBS3U9QcGw



United Airlines Employee Manual

__._,_.___
funny responses toUnited drama

United Airlines Customer Service Desk

funny responses toUnited drama

funny responses toUnited drama

United Airlines Safety Card

funny responses toUnited drama

United Airlines Employee of the Month


United funny response

Nhớ lại và Suy ngẫm từ mấy câu chuyện sau 30-4-1975

Nhớ lại và Suy ngẫm từ mấy câu chuyện sau 30-4-1975

Đào Công Tiến

Ngày 30-4-2017 đang đến gần, tiếp tục gợi nhớ và thôi thúc suy ngẫm về những sự kiện lớn – kết thúc chiến tranh Việt Nam kéo dài 30 năm (1945-1975) và bắt đầu một “giai đoạn mới” cho thời hậu chiến của miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung.

Mừng hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, chia sẻ khát vọng “xua kẻ thù đi mau”, “dập tắt chiến tranh đẫm máu”, “đập tan bao đau khổ và chia ly” của cố nhạc sĩ Hoàng Việt đã thành hiện thực[1].Tuy nhiên, còn nhiều khát vọng vẫn chưa thành.

“Giai đoạn mới” lẽ ra phải dành cho việc khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội trên tinh thần “khoan sức dân”, vì dân sinh dân chủ, nhưng điều đó không diễn ra được vì những sai lầm của việc áp đắt một mô hình được gọi là “XHCN Xô Viết” và cả “XHCN đặc sắc Trung Quốc” cùng tự nhận là của Chủ thuyết Mác-Lenin, đã từng bị phá sản và thậm chí đã sụp đổ sau đó ở Liên Xô và Đông Âu cùng hệ thống XHCN của nó.

Mô hình sai lầm đó đã kìm hãm đất nước trong suốt hơn 40 năm qua kể từ 30.4.1975, từ đỉnh cao kết thúc chiến tranh thắng lợi rơi xuống vũng bùn của sự trì trệ và lạc hậu so với những nước trong khu vực từng có cùng một xuất phát điểm về trình độ kinh tế và năng suất lao động như Việt Nam, nay muốn đuổi kịp họ phải mất từ 30 đến 50 năm [với một giả thiết ngớ ngẩn là họ dừng lại để đợi ta!]

Khát vọng từ dân – Khơi nguồn cho suy ngẫm

Môi trường hòa bình độc lập thống nhấ đất nước sau 30.4.1975 khơi dậy nhiều khát vọng trong cộng đồng các dân tộc Việt với niềm hy vọng thiết tha là có được cơ hội để mọi gia đình được đoàn tụ, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau, cùng cắm nén tâm hương, tưởng niệm dành cho nạn nhân chiến tranh với cả nhiều triệu người thân yêu của hàng triệu gia đình, đã đi với chiến tranh mãi không về. Ưu tiên hàng đầu vì thế mà cũng rất hiển nhiên là cùng chung sức chung lòng lo chữa lành các vết thương chiến tranh và giữ cho chúng không rỉ máu trở lại, lo xóa đói giảm nghèo, lo cho con trẻ được đến trường, người bệnh được chữa trị, người già cả, neo đơn được chăm sóc. Và, để xây dựng lại non sông, đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, rút ngắn khoảng cách tụt hậu để “cùng sánh vai với các nước trên thế giới”.

 “Giai đoạn mới” và những lựa chọn phải trả giá đắt

Đại hội Đảng IV (1976) và Đại hội Đảng V (1982) đều có nói đến “giai đoạn mới”, “khôi phục cải tạo và phát triển kinh tế, cải tạo và phát triển văn hóa”, được coi là nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách, vừa cơ bản của “giai đoạn mới” – giai đoạn bắt đầu của Cách mạng Việt Nam thời hậu chiến[2].

Tuy nhiên, với tâm lý chủ quan duy ý chí, thậm chí cả bệnh kiêu ngạo thường có ở “người thắng cuộc” cùng với bệnh giáo điều tiếp tục “trung thành vô hạn” – với CNXH theo chủ thuyết Mác – Lênin[3] vốn rất mù mờ về lý thuyết và trên thực tế đã và đang lún sâu vào khủng hoảng rồi phá sản và sụp đổ. Với nhận thức lệch lạc đó đã đưa đến những quyết sách sai lầm khiến cho dân tộc phải trả cái giá quá sức nghiệt ngã.

  1. Hệ thống phát ngôn của Đảng, bằng bộ máy thông tin tuyên truyền từ trung ương đến địa phương, đến cả loại hình “văn hóa loa phường”, vẫn tiếp tục một chiều, nặng về “thắng và thua”, “công lao, thành tích và tội lỗi”, “ta, bạn, thù và kích động hận thù”, và gần đây còn là “suy thoái tư tưởng chính trị, tự diễn biến, tự chuyển hóa” . . . Cứ thế mà duy trì sự khác biệt và phân biệt đối xử trong cộng đồng các dân tộc Việt và ngay cả trong nội bộ Đảng Cộng sản.

Chiến tranh đã dần lùi xa mà mức độ nặng nề của sự khác biệt và phân biệt đối xử từ lúc chiến tranh vẫn còn cứ đeo bám trong tâm lý đời thường. Duy trì sự khác biệt và phân biệt đối xử, còn tạo ra sự thiếu công bằng trong giáo dục, y tế… thậm chí còn gây thảm họa cả trong tình yêu đôi lứa – yêu nhau mà không lấy được nhau vì khác biệt và phân biệt đối xử.

Vẫn cứ một cách tuyên truyền sáo mòn cũ rích, nhai đi nhai lại những luận điệu mà không hiểu được rằng “một sự kiện chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” như nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc sinh thời đã nhắc nhở điều đó và ông từng đòi hỏi “đó là vết thương chung của dân tộc cần được chữa lành, thay vì tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”.

  1. Trong cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm (1945 – 1975) máu người Việt đã thấm đẫm trên mảnh đất quê hương. Có lẽ cũng khỏi phải nhắc lại những con số thống kê về bom đạn rải xuống ruộng đồng, sông suối, núi rừng trên đất nước này bằng bao nhiêu phần bom đạn trong chiến tranh thế giới lần thứ hai! Cũng chẳng cần phải nhắc lại những di hại của chất độc dioxin sẽ còn để lại những di chứng trong bao nhiêu lâu nữa trên da thịt của bao thế hệ Việt, cho nòi giống Việt! Những tranh cãi dai dẳng về “ý thức hệ” rồi sẽ theo thời gian mà trôi vào dĩ vãng, song truyền thống Việt Nam mà ông cha bao đời gây dựng và truyền lại thì vẫn mãi mãi lưu chảy trong huyến quản người Việt vốn là một dân tộc chưa bao giờ chịu khuất phục. Đó là một chân lý không bao giờ thay đổi, như mặt trời mọc từ hướng Đông và lặn về hướng Tây.

“Chiến tranh Việt Nam” mà người Việt và bè bạn trên thế giới thường nhắc đến là như vậy đấy – là một cuộc chiến mang đậm bản chất truyền thống yêu nước của người Việt. Song, chiến tranh Việt Nam đó cũng là cuộc chiến bị can thiệp, bị lợi dụng và phụ thuộc bởi tham vọng bá quyền của các nước lớn “theo cộng sản” và “chống cộng sản” trong “cục diện chiến tranh lạnh” trên thế giới sau Đại thế chiến thứ II.

Có những nghiên cứu về Trung Quốc, không xếp Trung Quốc vào phe “theo cộng sản” trong “cục diện chiến tranh lạnh” bởi, thực chất mà nói thì Trung Quốc đã và đang theo “chủ nghĩa Đại Hán” chứ không theo CNXH – CNCS và quốc tế vô sản của chủ thuyết Mác – Lênin, mà mộng bành trướng bá quyền của “chủ nghĩa Đại Hán” không “cho phép” Trung Quốc lép vế với các nước lớn khác trong “cục diện chiến tranh lạnh”. Từ khi kết thúc nội chiến, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, trên danh nghĩa đứng trong phe XHCN nhưng Trung Quốc không bao giờ phục tùng Liên Xô mà còn tranh chấp với Liên Xô, thậm chí còn đi với Mỹ chống Liên Xô. Với Việt Nam, Trung Quốc nhúng tay “lèo lái” việc chọn giải pháp “chia đôi đất nước” thành hai miền Nam, Bắc tại vĩ tuyến 17 ngay sau cuộc kháng chiến chống Pháp với Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi – sự kiện bị coi là “ươm mầm chia rẽ dân tộc” và dẫn đến cuộc chiến tranh  phải trả giá đắt. Trung Quốc “ủng hộ” Việt Nam chống Mỹ còn nhằm mục tiêu đẩy vòng vây chống cộng sản của Mỹ ra xa biên giới Trung Quốc và cũng sẵn sàng quay lưng lại với Việt Nam, chống Việt Nam khi chuyển sang đi với Mỹ, nhất là vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh 30 năm[4]

Sự can thiệp, lợi dụng của các nước lớn như đã nêu ở trên đã biến cuộc “chiến tranh Việt Nam”  thành cuộc chiến tranh nóng (trong cục diện chiến tranh lạnh) lớn nhất, kéo dài nhất, đẫm máu nhất và là cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam và thế giới sau Đại thế chiến thứ II. Và cái giá mà đất nước và con người Việt Nam phải gánh chịu, là quá lớn, quá đắt. Trong chiến tranh, có nhiều triệu người ngã xuống, nhiều triệu gia đình mất người thân yêu và sống trong đau khổ và chia ly . . . Trong hậu chiến, với trên 40 năm đã qua mà còn cả triệu người mang thương tích chiến tranh trên mình chưa chữa lành, môi trường sống bị chiến tranh tàn phá còn chưa khôi phục được, chất độc dioxin, bom mìn sót lại vẫn còn gây đau thương cho người dân vô tội … Và, cuộc chiến tranh đó đã và đang còn để lại trong cộng đồng các dân tộc Việt những vết thương của sự chia rẽ và lòng người ly tán do bất đồng ý thức hệ và thù hằn bởi “chiến tranh đẫm máu”, “đau khổ và chia ly” còn hằn sâu chưa tháo gỡ được. Vì thế đạo lý cần có sau khi chiến tranh kết thúc không phải là chia rẽ người Việt với nhau bởi vẫn tiếp tục duy trì sự khác biệt và phân biệt đối xử, càng không thể là kích động hận thù và trả thù của bên này đối với bên kia, mà phải là hòa giải hòa hợp dân tộc trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, với lòng nhân ái, sự chân thành và khoan dung của con người Việt Nam. Những hành xử không trên tinh thần đó, chẳng hạn như tập trung cải tạo, phạt vạ, tù đày . . . của “bên thắng cuộc” đối với “bên thua cuộc” đã đến lúc phải có lời thành tâm sám hối và xin lỗi.

  1. Cuộc chiến hết sức khốc liệt kéo dài 30 năm đã vắt kiệt sức dân ta, sau 30.4.1975 nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá đó lẽ ra phải được khôi phục và phát triển trên tinh thần “khoan sức dân”. Nhưng điều đó không diễn ra được vì đường lối cải tạo XHCN đã giành hết chỗ cho nó, còn đâu cho khôi phục và phát triển vì dân sinh, dân chủ. Một bộ phận không nhỏ dân nghèo đô thị bị đưa đi kinh tế mới lâm vào cảnh sống “khốn cùng” – “không còn gì để ăn, còn đất (ở vùng kinh tế mới) đâu dễ cạp”. Câu nói này xác thực cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của sự “khốn cùng” đó. Trên những cánh đồng trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải miền Trung, các hộ gia đình nông dân phải gác lại những công việc đồng áng vốn quen thuộc để đi vào con đường “làm ăn tập thể” theo mô hình hợp tác xã của miền Bắc được tạo dựng một cách trầy trật suốt 16 năm vẫn không gượng đứng dậy được, bị lún sâu vào khủng hoảng và đứng trên bờ vực của sự phá sản, để rồi người trồng lúa thiếu gạo ăn, cả nước phải gặm bột mì và ăn bo bo.

Trong công nghiệp, thương nghiệp, Đảng chủ trương “đánh” kinh tế tư hữu, cấm đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân, “xây” kinh tế công hữu bằng những cách làm từ mô hình kinh tế XHCN vốn không thành công ở miền Bắc, đã làm cho kinh tế miền Nam mới ra khỏi chiến tranh vốn đã khó khăn, khó khăn hơn, đời sống của dân vốn đã cơ cực, cơ cực hơn.

Thời hậu chiến đã qua trên 40 năm sau 30-4-1975 mà tinh thần “khoan sức dân” vẫn chưa thấm được vào nhiều chính sách kinh tế. Chính sách giá, lương, thuế, phí vẫn tiếp tục vắt kiệt sức dân. Trong khi mức thu nhập GDP bình quân đầu người ở Việt Nam còn quá thấp và đang đội sổ thế giới (chỉ bằng 0.262 lần Trung Quốc, 0.257 lần Thái Lan, 0.158 lần Malaysia, 0.392 lần Indonesia và 0.604 lần Philippin) mà phải chịu những khoản thuế, phí quá cao, kéo dài nhiều năm, kể cả khi kinh tế khó khăn. Tiền lương tuy có điều chỉnh, nhưng chính sách tiền lương cơ bản không đổi vẫn trên nền lương tối thiểu không đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu của cuộc sống. Với thu nhập có được từ tiền lương không đủ sống như vậy, người dân lại phải chịu nhiều khoản thuế, phí quá cao, bởi phân phối trong nền kinh tế nghiêng quá nhiều về thu ngân sách cho đầu tư, chi phí và trả nợ công, cho cả thất thoát vì lãng phí và tham nhũng quá lớn. Thu ngân sách Nhà nước trung bình giai đoạn 2007-2011 so với GDP cùng kỳ lên tới 29%, chỉ tính riêng thuế, phí cũng đã lên đến 26.3%, cao gấp 1.4 đến 3 lần so với các nước trong khu vực (tỉ lệ này của Trung Quốc là 17.3%, Thái Lan và Malaysia là 13%, Indonesia là 12% và Ấn Độ là 7.8%)[5]

  1. Hiện tình kinh tế như vậy đòi hỏi phải thay đổi cách nghĩ cách làm – phải Đổi mới. Người dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung, nhất là người dân tại nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ gia đình nông dân, thợ thủ công và tiểu thương vì cuộc sống và lẽ sống của mình, họ đã tự phát “xé rào” vượt cơ chế chính sách hiện hữu đầy sai trái để cứu nguy kinh tế và đời sống. Đó là mũi đột phá từ dân – là cơ sở, gốc rễ của Đổi mới. Và, về cơ bản Đảng chấp nhận việc làm của dân như là chấp nhận giải phá tình thế trước áp lực của khủng hoảng đã đến mức không chịu nổi. Đại hội Đảng VI với Nghị quyết Đổi mới đã chấp nhận cho phát triển sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế có sự kết hợp giữa kế hoạch với thị trường và có sự điều tiết của Nhà nước. Theo đó, những rào cản “ngăn sông cấm chợ” được tháo gỡ trả lại sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho người sản xuất và người tiêu dùng, hợp thức hóa cách “khoán sản phẩm” trong hợp tác xã, mở đường cho kinh tế hộ gia đình được tự chủ và trở lại với vai trò của đơn vị kinh tế cơ sở ở nông thôn.

Đổi mới với hai mũi đột phá đó đã đưa kinh tế ra khỏi khủng hoảng và tạo được đà cho tăng trưởng. Thế nhưng, một số không nhỏ lý luận gia và những nhà lãnh đạo của Đảng, với kết quả Đổi mới vui một họ lo hai, ba thậm chí chín, mười, vì sợ “Đổi mới được kinh tế nhưng mất tư tưởng, được bộ phận nhưng mất tổng thể, được trước mắt nhưng mất lâu dài, được kết quả hiển nhiên nhưng xa rời mục đích và những nguyên tắc cơ bản, được của cải nhưng hỏng quan hệ sản xuất và con người”. Sự mơ hồ trong tư duy Đổi mới như vậy đã làm cho Đổi mới không toàn diện, không triệt để – do dự, thiếu dứt khoát, nhất là đối với đòi hỏi đổi mới thể chế chính trị đi liền với đổi mới kinh tế.

  1. Chiến tranh đã kết thúc và “giai đoạn mới” cũng đã đi được một khoảng thời gian dài, thế mà cách hành xử với nhân quyền, pháp quyền, quyền tự do dân chủ của công dân còn nhiều bất cập quá tệ hại:

Đạo luật cơ bản của Việt Nam, với Hiến pháp năm 1946 và với các lần sửa đổi sau đó, đã ghi “Tât cả quyền bính” hay “tất cả quyền lực” hoặc “tất cả quyền lực Nhà nước” – “thuộc về nhân dân” [6]. Những quyền “thuộc về nhân dân đó” về danh nghĩa cũng không trọn, làm gì có thực chất vì với pháp quyền XHCN, giới lập pháp VN tự cho mình có quyền đưa vào Hiến pháp sửa đổi năm 1980, 1992 và 2013 những điều vi hiến – lấy quyền lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội duy nhất thuộc về đảng Cộng sản, đặt lên trên các quyền thuộc về Nhân dân.

Để có một Nhà nước và một xã hội chấp nhận phục tùng “siêu quyền lực” đó của đảng, Đảng đã thao túng việc bầu chọn sắp xếp nhân sự cho nó bằng một quy trình “đảng cử, dân bầu” chứ không phải “dân cử, dân bầu”  để nó hành xử việc dân, việc nước theo ý đảng chứ không phải ý nguyện của nhân dân.

Nhiều quyền tự do, dân chủ được ghi trong Hiến pháp quá hiển nhiên, nhưng trên thực tế không được thực hiện bởi có nhiều rào cản khó vượt: Quyền tiếp cận thông tin không vượt qua được rào cản từ sự lạm dụng của việc giữ bí mật và bưng bít thông tin; Quyền tự do bày tỏ chính kiến không vượt qua rào cản từ cấm “đa nguyên”, và tương tự như vậy, quyền tự do hội họp, lập hội cũng không vượt qua được rào cản từ cấm “đa đảng”.

Nổi cộm lên trong bức xúc của người dân là “quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước” có lúc bị ách tắc dẫn đến lén lút vượt biên, tạo nên thảm trạng “thuyền nhân”. Quyền biểu tình chưa cho thực hiện vì chưa có luật biểu tình, bởi Quốc hội chưa quyết tâm, thậm chí chưa muốn làm. Quyển sở hữu tư nhân về đất đai là tư liệu sản xuất, là tài sản của công dân chưa được công nhận là nguyên nhân gây nhiều cản ngại đối với sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều tranh chấp gây bất ổn xã hội.

  1. Cái giá phải trả cho những lựa chọn thiếu thấu tình, đạt lý trong cả quá trình dài của “giai đoạn mới” sau 30-4-1975 là quá lớn, quá đắt: Tài nguyên và môi trường thiên nhiên bị phá nát, các thang giá trị bị đảo lộn, bất công xã hội gia tăng. Thiếu việc làm, lương thấp, thu nhập không đủ sống, đời sống khó khăn kéo dài suốt hơn 40 năm sau chiến tranh và hiện vẫn còn thấp xa so với hầu hết các nước trong khu vực. Thiếu an ninh, an toàn đối với người dân trong giao thông, phòng tránh bão lũ; bạo lực bạo hành từ trong gia đình đến ngoài xã hội, kể cả từ sự lạm dụng quyền lực của hệ thống công quyền gia tăng. Tham nhũng đã trở thành quốc nạn, không còn đơn thuần là tham nhũng tiền của mà còn là tham nhũng quyền lực và cấu kết với quyền lực trong các hệ thống nhóm lợi ích bất chính. Nền kinh tế vẫn bị chi phối bởi sự rối rắm về lý thuyết và sự hỗn loạn trong vận hành, vẫn kinh tế công hữu, kinh tế nhà nước là nền tảng, là chủ đạo, nắm giữ một bộ phận nguồn lực lớn nhất và cũng là nơi bị đục khoét lớn nhất bởi lãng phí và tham nhũng, nguồn lực trong dân với khu vực kinh tế dân doanh không được xem trọng nên làm cho nền kinh tế yếu từ gốc, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn nặng về khai thác nên góp sức chưa nhiều vào việc làm cho nền kinh tế mạnh lên và phát triển bền vững hơn, các lĩnh vực kinh tế nhạy cảm – tài chính, tín dụng, chứng khoán, bất động sản và một số ngành kinh doanh dịch vụ khác vẫn tiềm ẩn bất ổn.

Mấy đề xuất những việc cần làm

  1. Cần tổ chức lễ tưởng niệm nạn nhân chiến tranh của cuộc chiến 30 năm (1945 – 1975) ở Việt Nam ngang tầm quốc lễ, thay vì chỉ là lễ mừng hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước, như đã được tổ chức hàng năm suốt 41 năm qua. Quốc lễ tưởng niệm hàng năm, mỗi năm một lần, vào thời điểm thích hợp là lúc 11h30 ngày 30 tháng 4 (lúc đó của năm 1975 là thời điểm đội quân can thiệp Mỹ đã rút hết khỏi Việt Nam và tướng Dương Văn Minh – Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đọc trên đài phát thanh Sài Gòn Tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam).
  2. Cần có lời thành tâm sám hối và xin lỗi từ đảng Cộng sản tới nhân dân – cộng đồng các dân tộc Việt về những quyết sách sai lầm từng đưa đến những đau thương mà dân tộc phải gánh chịu như đã nêu ở trên.
  3. Hòa giải, hòa hợp dân tộc là chuyện lớn của dân của nước không thể tiếp tục quay lưng lại được. Sám hối và xin lỗi nếu được thực hiện là sự thành tâm, thiết nghĩ rất cần có cho hòa giải hòa hợp dân tộc.

Cũng không dừng ở đó, những người có trách nhiệm phải dám đối mặt với sự thật, để nhận biết vấn đề căn cơ, gốc rễ là lòng tin của nhân dân đối với Đảng đã bị xói mòn đến cạn kiệt mà nguyên nhân cơ bản là sự độc đoán chuyên quyền, phản dân chủ trong định hình thể chế và điều hành bộ máy quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Sự tha hóa của quyền lực càng ngày càng trầm trọng, đẩy tới sự tham nhũng ngày càng ăn sâu vào cốt tủy, càng chống càng tăng, đẩy tới nguy cơ sụp đổ không cứu vãn được. Chính điều này đã phá nát nền tảng của một xã hội như xã hội mà ta đang sống. Để giữ lấy độc quyền và siêu quyền cho mình, đảng đã quay lưng lại, loại bỏ mọi ý kiến khác của trí thức, nhân sĩ yêu nước, những tư vấn và phản biện tâm huyết và có tính khoa học để rồi không tránh được những sai lầm trong nhiều sự lựa chọn quyết sách phải trả giá đắt.

Lòng tin mà mất thì mất tất cả! Từ trong gia đình, đến ngoài xã hội, trong quan hệ giữa người với người không còn gì để tin cậy nhau thì chẳng còn gì để hòa giải, hòa hợp. Sẽ không có ngoại lệ cho hòa hợp, hòa giải dân tộc mà Việt Nam đang cần.

Thay lời kết

Càng ngẫm, càng buồn – cái buồn của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn về một “nước Việt buồn[7]

Từ một “nước Việt buồn” thời “ngàn năm”, “trăm năm” nô lệ bởi giặc Tàu, đô hộ bởi giặc Tây, đến một “nước Việt buồn” của cuộc chiến tranh “bốn nhất” – chiến tranh nóng (trong “cục diện chiến tranh lạnh”) lớn nhất, kéo dài nhất, đẫm máu nhất và là cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” tồi tệ nhất. Rồi lại tiếp nỗi buồn từ sự “ngoảnh mặt, quay lưng” với một “nước Việt buồn” của một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng người Việt (cả quan chức của bộ máy công quyền, của doanh nghiệp Nhà nước của đảng viên cộng sản và cả người dân), bởi “ngu lâu” nên không nhận ra được “một nước Việt buồn”; bởi “tha hóa” vì “bả” vinh hoa phú quý và vì “quyền lực tuyệt đối, tha hóa tuyệt đối” nên mặc kệ một “nước Việt buồn”, bởi “mất lòng tin” lâm vào chơi vơi, vô cảm với chính “nước Việt buồn”.

Nỗi buồn về một “nước Việt buồn” như đã nêu ở trên là những câu chuyện thật, mà nguyên nhân không thể nào né tránh được – là thuộc về Đảng với sự độc quyền lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội bằng siêu quyền lực và với thể chế chính trị mà Đảng chọn và vẫn một mực trung thành với nó một cách “kiên định” bởi một “ý chí” gọi là “kiên cường” của sự bảo thủ – bảo thủ đến mức ngoan cố!

Đảng cộng sản như vậy, không thể giải được buồn – nỗi buồn của dân tộc. Giải nỗi buồn đó phải là chuyện của dân. Đã đến lúc các quyền thuộc về đảng, mà lẽ ra phải thuộc về dân, phải trao trả lại cho dân để dân giải nỗi buồn của mình bằng “tất cả quyền bính”, “quyền lực”, “quyền lực Nhà nước” đích thực thuộc về nhân dân.

Đào Công Tiến

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4/2017

[1] Nghe lại bản “Tình ca” của cố nhạc sĩ Hoàng Việt để cùng chia sẻ khát vọng “xua kẻ thù đi mau”, “dập tắt chiến tranh đẫm máu, đập tan ngay bao đau khổ và chia ly” của ông.

[2] Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982), Tổng Bí thư Lê Duẩn đã khẳng định: “Từ Đại hội lần thứ IV đến Đại hội lần thứ V của Đảng là những năm đầu Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới. Đó là những năm khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, cải tạo và phát triển văn hóa”.

[3] Trong bài diễn văn khai mạc Đại hội Đảng V (1982), cố Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh đã khẳng định “Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng cách mạng kiên cường, trung thành vô hạn với chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản”.

[4] Xem bài khai bút đầu tháng 1- 2017 “Tìm hiểu thêm về thế giới đã sang trang (bài 5)” của tác giả Nguyễn Trung. https://anhbasam.wordpress.com/2017/01/05/11-225-tim-hieu-them-ve-the-gioi-da-sang-trang-bai-5/

[5] Dữ liệu từ “Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012” của Ủy ban kinh tế Quốc hội, qua bài “Thuế, phí cao chót vót”, báo Tuổi Trẻ ngày 4-9-2012 và bài “Oằn vai thuế thu nhập cá nhân”, báo Thanh Niên ngày 5-9-2012

[6] Hiến pháp sửa đổi năm 2013 và các Hiến pháp trước đó đều cùng có chế định “Tất cả quyền bính” hay “Tất cả quyền lực” hoặc “Tất cả quyền lực Nhà nước” đều thuộc về nhân dân. Tuy nhiên, Hiến pháp sửa đổi năm 1980, 1992 và 2013 đã bị giới lập pháp Việt Nam tự cho mình cái quyền “vi hiến”, đã mặc nhiên đặt quyền lãnh đạo cao nhất và duy nhất của Đảng đối với Nhà nước và xã hội – trên các quyền thuộc về nhân dân. Đây đích thực là rào cản không thể vượt qua được để thực thi dân quyền, mặc dù đã có chế định của pháp quyền.

[7] Nghe lại bài “Gia tài của mẹ” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, để chia sẻ với ông về “nước Việt buồn” thời “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây”, “hai mươi năm nội chiến từng ngày” và “gia tài của me để lại cho con, gia tài của mẹ là nước Việt buồn”.

Đào Công Tiến

nguồn: viet-studies.net

Chính sách một-Trung Quốc

Chính sách một-Trung Quốc

Beijing và Taipei | Trần Giao Thuỷ

Chỉ có một Trung Quốc duy trì hòa bình ở Đông Á là một điều tưởng tượng lịch sự – nhưng hiện nay nó đang chịu áp lực từ mọi phía.

Một-Trung Quốc: rất mơ hồ

Donald Trump, khi mới đắc cử Tổng thống Mỹ, ngày 11 tháng 12 nói rằng, “Tôi không biết tại sao chúng ta lại phải bị ràng buộc vì chính sách một Trung Quốc”, ông giựt bỏ miếng băng dán cũ nhất trong thế giới ngoại giao. Hai tháng sau, ông lại dán nó lại, khi nói với Xi Jinping (Tập Cận Bình), Chủ tịch Trung Quốc là ông sẽ tôn trọng chính sách một Trung Quốc “theo yêu cầu của Tập Chủ tịch”; điều này vẫn không thay đổi được thực tế là một người lãnh đạo Mỹ đã đặt vấn đề về một đặc điểm căn bản của nền an ninh châu Á. Và việc ông Trump nuốt lời cũng không giải quyết được vấn đề với công thức một-Trung Quốc – điều kiện để giữ hòa bình giữa Đài Loan và Trung Quốc; đó là một thực tế đã có từ lâu trước khi ông Trump đắc cử. Nếu tình hình tệ hơn, cuộc xung đột đang đóng băng giữa hai bên có thể nóng lên lại.

Công thức một-Trung Quốc là một khái niệm mơ hồ. Ở Trung Quốc thực sự không có chính sách một-Trung Quốc. Nó có cái gọi là nguyên tắc một-Trung Quốc, nghĩa là chỉ có một Trung Quốc, với chính phủ của nó ở Bắc Kinh. Nó coi Đài Loan là một tỉnh phản bội của Trung Quốc và từ chối lập quan hệ ngoại giao với bất kỳ chính phủ nào công nhận Đài Loan là một quốc gia. Tuy nhiên, nguyên tắc cứng nhắc này có thể bị bẻ cong. Vào năm 2015, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã gặp Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu, dưới nhãn quan vô tư người ta tưởng như đây một hội nghị thượng đỉnh song phương giữa những người lãnh đạo quốc gia. Và Trung Quốc nhằm mắt làm ngơ, mặc dù tức toé lửa, khi Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan – việc mà năm 1982 Mỹ đã nói sẽ đi dần đến chấm dứt, nhưng vẫn tiếp dục cho đến ngày nay.

Mỹ không chấp nhận nguyên tắc một-Trung Quốc. Nhưng Mỹ có chính sách một-Trung Quốc, thừa nhận Trung Quốc có một nguyên tắc như vậy – đây là hai việc không hoàn toàn như nhau. Mỹ không công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Đài Loan, cũng không nhận Đài Loan là một quốc gia độc lập. Nhưng Mỹ mua bán rất nhiều với Đài Loan. Dù là nước nhỏ như thế, Đài Loan là nước mua hàng xuất cảng của Mỹ nhiều thứ chín, vượt qua cả Ý và Ấn Độ. Mối quan hệ không chính thức của Hoa Kỳ với đảo quốc này gần hơn nhiều quan hệ ngoại giao của nhiều quốc gia khác. Viện Hoa Kỳ ở Đài Loan, một tổ chức phi lợi nhuận tư nhân có trụ sở tại Washington DC, trông giống như một toàn Đại sứ và cũng hoạt động như một đại sứ quán. Đạo luật Quan hệ Đài Loan năm 1979 buộc Mỹ cam kết giúp Đài Loan tự vệ chống lại mọi cuộc xâm lược và cấm vận, và coi việc cưỡng ép đảo quốc này là “quan tâm nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ”.

Ở Đài Loan, công thức một-Trung Quốc có một lịch sử còn lạ lùng hơn nữa. Nó bắt nguồn từ câu chuyện vị tổng thống đầu tiên của Đại Loan là Tưởng Giới Thạch đã chạy trốn khỏi khỏi Trung Quốc đến đó năm 1949 sau khi thua trận nội chiến với lực lượng cộng sản của Mao Trạch Đông, một ngày nào đó sẽ lấy lại toàn bộ lục địa Trung Quốc. Vì vậy tên chính thức của Đài Loan là Cộng hòa Trung Quốc. Do đó, đảng mà Tưởng Giới Thạch lãnh đạo, Quốc Dân Đảng và chính phủ Trung Quốc có thể đồng ý với nhau bằng một hiệp ước gọi là “sự đồng thuận năm 1992” [Công thức Cửu Nhị], nói rằng chỉ có một Trung Quốc nhưng thừa nhận rằng cả hai bên không đồng ý điều đó có ý nghĩa như thế nào trong thực tế, do đó họ chồng chất sự vớ vẩn lên chuyện mơ hồ. Đảng chính trị lớn khác của Đài Loan, Đảng Dân chủ Tiến bộ (DPP), bác bỏ cả hai, “Công thức Cửu Nhị” và nguyên tắc một-Trung Quốc, nói chung. Tuy nhiên, từ năm ngoái, lãnh đạo của DPP, Bà Tsai Ing-wen (Thái Anh Văn), Tổng thống Đài Loan, sau ông Mã Anh Cửu (Ma Ying-jeou) của Quốc Dân Đảng, không muốn công khai như vậy.

Trong hầu hết các lĩnh vực chính trị, sự thiếu ổn định này là một điều đáng lo ngại. Tuy nhiên, thỏa thuận không xem xét quá kỹ vào mâu thuẫn của “một-Trung Quốc” đã tạm giữ được nền hoà bình không thoải mái ở eo biển Đài Loan. Đã có những cuộc khủng hoảng chính trị – gần đây nhất vào giữa những năm 2000 – và vào năm 1996 Trung Quốc đã bắn hoả tiễn sang phía Đài Loan trong khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc cau mày chụp ảnh. Nhưng nhìn chung nó đã đủ tốt cho cả ba bên muốn duy trì “một-Trung Quốc”.

Lý do của họ khác nhau, giống như việc họ nhìn vấn đề. Trung Quốc tin rằng thời gian về phe với họ. Khi Hoa lục ngày càng giàu mạnh hơn, những người lãnh đạo Trung Quốc thực sự hy vọng rằng người dân Đài Loan sẽ muốn trở về. Giới lãnh đạo Đài Loan nghĩ ngược lại; rằng với thời gian người dân đảo quốc sẽ ngày càng thấy mình không có gì chung với Hoa lục. Kể từ khi có Công thức Cửu Nhị, tỉ lệ người trên đảo xác định họ đơn giản là người Đài Loan đã tăng gấp ba lần lên gần 60%; tỉ lệ những người tự gọi mình là người Trung Quốc đã giảm, chỉ còn 3% (xem biểu đồ). Trong số những người từ 20 đến 30 tuổi, 85% nói rằng họ là người Đài Loan. Thái độ của Mỹ đơn giản hơn, không hư thì đừng sửa. Điều kiện hiện tại cho phép Mỹ có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc mà không phá vỡ sự liên kết với Đài Loan, và điều đó là đủ.

Nhưng sự cân bằng giữa những lợi ích không thể so sánh này phụ thuộc vào một số điều kiện nhất định: Trung Quốc tiếp tục trở nên giàu có hơn, khẳng định sự lạc quan của giới lãnh đạo; mọi người ở hai bên eo biển không xem nhau như kẻ thù; ít nhiều thì châu Á vẫn ổn định, do đó các bên không bị dồn vào những xung đột của bên kia; và nếu điều xấu trở thành tồi tệ nhất, quân đội Mỹ sẽ bước vào để giữ hòa bình.

Tất cả những điều kiện này đang thay đổi. Kinh tế Trung Quốc đã chậm lại. Và châu Á không còn ổn định nữa. Ông Trump đã đe dọa áp đặt thuế quan lên hàng xuất cảng của Trung hoa, gây nguy cơ có chiến tranh thương mại. Những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc đối với các hòn đảo khác đang làm tình hình thêm căng thẳng: Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, Rex Tillerson, nói với Thượng viện rằng Mỹ phải có khả năng hạn chế việc Trung Quốc ra vào những hòn đảo đang tranh chấp ở Biển Đông. Ông Trump đã xác nhận với Thủ tướng Nhật Shinzo Abe rằng hiệp định quốc phòng của hai nước gồm cả hòn đảo Senkaku, mà Trung Quốc gọi là Diaoyu.

Và trong khi ông Trump và ông Abe đang họp, Bắc Hàn tiến hành thử hoả tiễn đầu tiên sau khi Hoa Kỳ có tổng thống mới. Một tháng trước, lãnh đạo Bắc Hàn Kim jong-un tuyên bố nước ông sẽ sớm thử hoả tiễn đạn đạo xuyên lục địa đầu tiên, có thể bắn vào lãnh thổ Hoa Kỳ, mặc dù đó không phải là những gì vừa được thử nghiệm. Để đối phó với những mối đe dọa của ông Kim, Mỹ đang xây dựng một hệ thống phòng thủ bằng hoả tiễn ở Nam Hàn khiến Trung Quốc phản đối kịch liệt.

Đài Loan có thể giống như mắt của cơn bão. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn có nguy cơ bị xâm lược, hoặc bị phong tỏa, vì Đài Loan, và đôi khi có dấu hiệu muốn kết thúc vấn đề. Năm 2013, ông Tập Cận Bình đã gây chấn động qua eo biển khi ông nói với Vincent Siew, Phó Tổng thống Đài Loan, rằng cuộc xung đột của họ “không thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”. Có vẻ như Chủ tịch Tập Cận Bình bắt đầu mất kiên nhẫn. Vào ngày 6 tháng 3, người đứng đầu Văn phòng Quan hệ Đài Loan, một bộ phận của chính phủ, nói với Quốc hội Quốc Dân (NPC), quốc hội gật của Trung Quốc rằng “Tôi phải nhấn mạnh rằng sự độc lập của Đài Loan … sẽ không đi đến đâu. Tôi hy vọng chính phủ Đài Loan sẽ suy nghĩ cẩn thận về câu này.” Tất cả điều này xẩy ra trong bối cảnh cân bằng quân sự đã thay đổi từ một thập kỷ qua, Trung Quốc đã tăng gấp đôi chi tiêu về mặt quân sự. Mười năm trước, giới hoạch định kế hoạch ở Ngũ giác đài đã coi chuyện xâm lược là “cuộc bơi một triệu người” [vì Trung Quốc chưa có đủ sức mạnh hải quân]. Ngày nay, người ta không nghe thấy những tiếng ồn ào như thế nữa.

Eo biển

Mỹ có thể không còn khả năng đưa hai hàng không mẫu hạm tới eo biển Đài Loan để buộc Trung Quốc phải lùi bước, như đã làm năm 1996. Nhưng nếu tình trang chiến tranh xẩy ra, Mỹ chắc chắn sẽ bị kéo vào. Đạo luật Quan hệ Đài Loan không hoàn toàn bắt buộc Mỹ phải tham chiến, nhưng không tham dự sẽ là một cú đánh sụp vị thế và uy tín của Mỹ như một siêu cường. Cũng sẽ có những cân nhắc về kinh tế: Đài Loan sản xuất hơn một phần năm chất bán dẫn của thế giới; một cuộc phong tỏa của Trung Quốc có thể làm tê liệt ngành công nghiệp máy tính.

Trong bối cảnh như vậy, cuộc bầu cử của bà Thái Anh Văn thuộc đảng DPP độc lập luôn luôn có thể làm dấy lên căng thẳng. Ngay sau lễ nhậm chức hồi tháng 5, chính phủ Bắc Kinh cắt đứt liên lạc giữa Văn phòng nội vụ Đài Loan của và Hội đồng các vấn đề Đại lục của Đài Loan, tăng cơ hội hiểu nhầm và tính toán sai lầm.

Vào ngày 25 tháng 11, Trung Quốc đã cho một oanh tạc cơ Tây An H-6K bay quanh hòn đảo, cùng với một số hộ tống. Hai tuần sau, một máy bay ném bom Tây An khác và ba chiến đấu cơ lại bay vòng quanh Đài Loan. Sau đó, vào tháng giêng, tàu sân bay của Trung Quốc, Liêu Ninh, đã đi vòng quanh mũi phía Nam của Đài Loan và vào eo biển Đài Loan. Andrew Yang, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan, nói, “Nó cho thấy họ không đùa.”

Trung Quốc có thể tăng thêm áp lực với Đài Loan. Đại hội Đảng Cộng sản mỗi 5 năm sẽ diễn ra vào cuối năm nay và ông Tập Cận Bình có thể muốn đánh bóng móng diều hâu của mình bằng cách tổ chức một số cuộc tập trận quân sự hù doạ trước đại hội đảng. Ông Tập có thể làm số 21 đối tác ngoại giao của Đài Loan giảm đi. Cũng có tin cho rằng Trung Quốc đang xem xét sửa đổi luật “chống ly khai”. Hiện tại luật này nói rằng Trung Quốc sẽ dùng tới “phương pháp phi hòa bình để bảo vệ chủ quyền quốc gia” chỉ khi nào Đài Loan chính thức tuyên bố độc lập hoặc nếu không còn có hy vọng về một giải pháp hòa bình. Vào ngày 7 tháng 2, Yomiuri Shimbun, một tờ báo của Nhật Bản, đã đưa tin rằng Trung Quốc đang nghĩ đến việc sửa đổi đao luật này để nói rằng họ có thể xâm lăng nếu giới lãnh đạo Đài Loan từ chối chấp thuận Công thức Cửu Nhị – một vị trí mà DPP vẫn giữ vững. Trong Quốc hội, một đô đốc Trung Quốc, Yin Zhuo, nói Trung Quốc nên sử dụng luật chống ly khai để nói rõ với Đài Loan rằng “độc lập có nghĩa là chiến tranh.”

Mặc dù mối quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan đã trải qua những thời kỳ đầy khó khăn trước đây nhưng không đổ vỡ hoàn toàn. Và có ba lý do để nghĩ rằng, ít nhất trong ngắn hạn, lần này mọi chuyện sẽ không đi vào hướng sai lầm khủng khiếp.

Cả ông Tập Cận Bình và bà Thái Anh Văn đều có những lý do mạnh trong nước để bỏ qua những khác biệt trong một thời gian. Ông Tập bị chi phối vì đại hội đảng, và mặc dù có thể muốn tỏ ra mình khó bằng một vài cử chỉ bướng bỉnh, ông ta không muốn có một cuộc khủng hoảng làm quẫn trí. Đối với bà Thái Anh Văn, bà biết rằng cơ hội tái đắc cử vào năm 2020 phụ thuộc vào việc quản lý kinh tế, chứ không phải việc giải quyết vấn đề Trung Quốc. Tăng trưởng GDP và mức lương của dân Đài Loan đang không thay đổi. Những cuộc thăm dò ý kiến đánhg giá bà rất kém. Bà đang chuẩn bị một cuộc cải cách, đầy mạo hiểm về mặt chính trị, hệ thống lương hưu do nhà nước quản lý. Một cuộc chiến với một siêu cường là điều bà ấy không nghĩ tới.

Lý do thứ hai cho sự lạc quan về hoà bình là bà Thái Anh Văn đã đưa DPP đến gần vị trí của Trung Quốc hơn bao giờ hết. Trong buổi lễ nhậm chức của mình, bà nói rằng bà công nhận “sự kiện lịch sử” của các cuộc đàm phán năm 1992, gần như nói là chấp nhận công thức 92 mà không thực sự như vậy. Trong một bài phát biểu vào tháng 10, bà trấn an chính quyền cộng sản Trung Quốc rằng bà “sẽ, tất nhiên, không quay trở lại con đường đối đầu cũ”. Bà Thái Anh Văn là một luật sư thương mại, thận trọng, có thể đoán trước và kiềm chế – tất cả những đặc tính mà người tiền nhiệm mạo hiểm, cùng đảng DPP, ông Trần Thủy Biển, Tổng thống từ năm 2000 đến năm 2008 không có. Sự khinh thường của Trung Quốc đối với bà Thái Anh Văn – Văn phòng Nội vụ Đài Loan đã gọi diễn văn nhậm chức của bà là “một câu trả lời đề thi không đầy đủ” như thể bà là một nữ sinh ngu ngốc – tương đối là nhẹ so với những lăng mạ đối với những người lãnh đạo DPP khác, những người mà họ gọi là “điên rồ” “tai quái” “cặn bã”. Điều đó có thể có nghĩa là ông Tập Cận Bình vẫn muốn mở cửa cho những cuộc đàm phán trong tương lai.

Thứ ba, sự cân bằng quân sự ở eo biển Đài Loan đã không nghiêng đủ về Hoa lục để lãnh đạo ở đó tự tin có thể chiến thắng chớp nhoáng. Nếu Trung Quốc có thể tràn vào Đài Loan nhanh đến nỗi thế giới không có thời gian để phản ứng (như khi Nga xâm lược Crimea) thì có thể các quốc gia khác sẽ coi cuộc xâm lăng như một chuyện đã an bài. Nhưng Đài Loan không phải là Crimea. Chỉ có 10% dân số muốn thống nhất và ít hơn 2% muốn thống nhất càng sớm càng tốt. Hòn đảo này có một xã hội dân sự sinh động có khả năng đưa hàng triệu người biểu tình lên đường chống lại chính phủ Đài Loan, chứ nói gì đến một lực lượng chiếm đóng của Trung Quốc.

Hoa lục có khoảng 1.400 hoả tiễn trên mặt đất nhằm vào Đài Loan, cộng thêm một số hoả tiễn không đối không. Mặc dù có hệ thống phòng thủ chống hoả tiễn – Patriot của Mỹ và các hệ thống khác của Đài Loan – các căn cứ không quân của Đài loan và nhiều hệ thống phòng thủ khác của nó có thể bị phá hủy nhanh chóng bằng tất cả hỏa lực đó. Tuy nhiên, một cuộc xâm lược đòi hỏi phải có quân đội ở chiến trường, trong trường hợp này, quân Trung Quốc cộng sản nằm ở phía bờ bên kia eo biển rộng 180km. Và các lực lượng còn lại của Đài Loan có thể làm cho cuộc vượt biển đó trở nên rất khó khăn. Ông Yang nói rằng, để có một cuộc xâm lăng thành công, Trung Quốc cần phải nhanh chóng tiêu diệt 85% hoặc nhiều hơn hệ thống hoả tiễn của Đài Loan; Nếu còn một nửa số hoả tiễn của Đài Loan sau đợt tấn công đầu tiên, lực lượng xâm lược Trung Quốc sẽ dễ bị tấn công.

Cùng một gốc (Ex uno, plures)

Nếu cuộc xâm lược có thể bị kháng cự, chậm lại, các nước khác sẽ có thời gian để phản ứng. Tại thời điểm đó, bất kỳ người lãnh đạo Trung Quốc nào cũng phải quyết định có nên dừng cuộc xâm lăng hay chấp nhận nguy cơ xung đột có thể lan rộng hơn hay không. Nhưng chắc chắn họ sẽ hết sức tránh những lựa chọn đó nếu có thể. Và đó mới là lực cản thực sự của Đài Loan: nó không cần phải có khả năng để đánh bật quân xâm lược; Đài Loan chỉ cần đủ lực lượng cầm chân đối thủ để có thể có đủ thời gian buộc Trung Quốc lựa chọn giữa một cuộc đảo chính ở lục địa và một cuộc chiến tranh khu vực ở nước ngoài.

Nếu không có sự bảo đảm sẽ chiến thắng chớp nhoáng, đi theo những điều mơ hồ quen thuộc của “một-Trung Quốc” sẽ là điều hợp lý nhất đối với giới lãnh đạo Trung Quốc. Nhưng ngày sẽ càng khó khăn hơn để duy trì những sự mơ hồ đó. Ông Trump có thể quay lại với những nghi ngờ của ông về sự ủng hộ của Mỹ đối với chính sách này; nó không phải là lần đầu tiên ông ta thay đổi ý định. Và thái độ quần chúng ở hai bên eo biển đang trở nên cứng rắn. Không chỉ có người dân ở hải đảo ngày càng thấy mình là người Đài Loan; người ở đại lục, từng coi người Đài Loan là anh em, đã bắt đầu có thái độ lạnh lùng hơn. Họ vẫn thấy người dân đảo Đài Loan như một phần của một nền văn hoá chung, nhưng hiện nay họ đang áp dụng những bài thử lòng trung thành, ví dụ đòi tẩy chay các nghệ sỹ Đài Loan năm ngoái đã không lên án phán quyết của Tòa án Quốc tế đối với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Đoàn Thanh niên Cộng sản, từ lâu đã là cơ sở nền tảng đào tạo  quan chức cho đảng cầm quyền, đã tiến hành một chiến dịch truyền thông trên mạng xã hội ở Trung Quốc chống lại một nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng người Đài Loan Leon Dai (Đái Lập Nhẫn) và đưa ông ta vào sổ đen.

Quan chức Trung Quốc đang khuyến khích nghi ngờ. Số lượng khách du lịch Trung Quốc đến Đài Loan đã giảm hơn một phần ba trong năm qua, đa số là vì nhà chức trách Trung Quốc đã làm cho việc du lịch khó khăn hơn. Các trường đại học Trung Quốc cũng đã yêu cầu Đại học Shih Hsin, ở Đài Loan, không thảo luận về “các chủ đề chính trị nhạy cảm” (như nguyên tắc một-Trung Quốc) với sinh viên trao đổi từ Hoa lục. Một viên chức cao cấp của Quốc Dân Đảng e rằng những ngày ủng hộ Đài Loan ở Hoa lục có thể đã chấm dứt.

Thái độ chính trị cũng cứng rắn hơn. Đài Loan từng có một đảng một-Trung Quốc, Quốc dân Đảng, và một đảng chuộng độc lập, DPP. Nhưng Quốc Dân đảng đang rơi tự do sau khi thất bại trong cuộc bầu cử năm ngoái. Lực lượng phát triển nhanh nhất là Đảng Quyền lực Mới, bắt nguồn từ các cuộc biểu tình của sinh viên chống lại mối quan hệ gần gũi với Trung Quốc; ít nhất là chống lại một-Trung Quốc như đảng DPP. Những cuộc đàn áp của ông Tập Cận Bình với những người bất đồng chính kiến và xã hội dân sự đang dẫn dắt hệ thống chính trị Trung Quốc tách xa khỏi nền dân chủ sinh động của Đài Loan. Sự can thiệp của chính phủ Bắc Kinh với chính trị địa phương của Hồng Kông được được đưa ra để chứng minh rằng “một quốc gia, hai hệ thống”, một công thức được lập ra cho Hong Kong và đã một lần đưa ra mời Đài Loan hội nhập, chỉ là một sự gian lận.

Đối diện với những thực tế này, cả hai bên đều muốn lựa chọn tiếp tục nói rằng khung sườn một-Trung Quốc vẫn đứng vững, và vẫn tìm những sự lúng túng mới để biện minh cho kết quả cuối cùng – Công thức 92. Năm 2011 Wang Yi, giờ là Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, lúc đó là người đứng đầu Văn phòng Nội vụ Đài Loan, nói riêng trong chuyến thăm Washington rằng Trung Quốc có thể xét việc thay thế Công thức 92 và có một số dấu hiệu cho thấy điều này vẫn có thể xảy ra. Mỗi hai tuần giới hữu trách Đài Loan gặp nhau để tìm kiếm sàng lọc những từ ngữ mới. Một công thức mới có thể dùng làm cơ sở cho các cuộc đàm phán trong tương lai.

Giải pháp đơn giản và tự nhiên là thừa nhận có hai Trung Quốc. Nhưng chính quyền cộng sản chưa sẵn sàng để làm điều đó. Thay vào đó, nó buộc người Đài Loan và người Mỹ phải đối phó với sự mơ hồ lúng túng của chính sách một-Trung Quốc, trong lúc cả ba đều từ từ để tiến tới một màn kịch sau cùng, mới và nguy hiểm hơn.

© 2017 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”


Nguồn: The one-China policy – The great obfuscation of one-China. Beijing and Taipei. The Economist | March 11th, 2017.

Tường thuật hành trình giáo dân Song Ngọc đi nộp đơn khởi kiện Formosa

Tường thuật hành trình giáo dân Song Ngọc đi nộp đơn khởi kiện Formosa

GNsP (14.02.2017) – 18 giờ 30: Nhiều giáo dân giáo xứ Song Ngọc, các phóng viên tự do và CTV GNsP bị công an hành hung, đánh đập sưng, bầm tím cả mắt, chảy máu mũi và nhiều vết thương trên cơ thể. Họ cướp tài sản và đập phá tài sản. Một cộng tác viên của GNsP đang tác nghiệp tại hiện trường bị công an hành hung trọng thương và đang cấp cứu tại bệnh viện.

Hiện nay, đoàn đã về giáo xứ Đồng Tháp thuộc xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An để nghi ngơi.

Hơn 1000 người dân thuộc giáo xứ Song Ngọc đi đòi quyền làm người, quyền sống của người dân đã bị nhà cầm quyền ra tay đàn áp, mén đá, dùng súng đạn bắn vào người dân khiến cho nhiều người bị thương – là bằng chứng rõ ràng nhất nhà cầm quyền cộng sản đang “phục vụ” cho dân hay cho Tàu Cộng, khi giới chức cộng sản ra sức “bảo vệ” Formosa do Tàu Cộng đầu tư.

GNsP tạm ngưng tường thuật hành trình đi gửi đơn khởi kiện ngày hôm nay. Có thông tin mới chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật trong bản tin kế tiếp.

clip_image002

17 giờ 45: SÚNG ĐÃ NỔ! Công an đã bắn đạn. Chưa rõ thương vong. Dân đang bị công an dùng dùi cúi đánh đập. Không chỉ riêng cha Thục, nhiều phóng viên bị bắt và đánh máu đổ. Công an đang điên tiết tấn công. Người dân xung quanh đang dần tiến tới. Mong mọi người hiệp thông cầu nguyện cho người dân ở Vinh.

17 giờ 50: Một thanh niên trẻ trong đoàn ngư dân kể rằng, nhóm của anh gồm có 10 người bị công an bắt, đánh đập sưng tím cả mắt, chảy máu miệng.

17 giờ 20: An ninh chìm nổi đang xen vào đoàn ngư dân và phá rối, gây sự rối loạn trong đoàn. Họ dùng đá mém vào đoàn ngư dân. Cha Thục yêu cầu bà con ngư dân quy tụ về một nơi và ngồi xuống đất. Cả đoàn ngư dân cùng cất lên lời kinh nguyện cầu với Đức Mẹ.

CSCĐ đã đánh đập và dùng đạn bắn vào đoàn ngư dân, nhiều người dân bị thương.

https://lh3.googleusercontent.com/-IbWAYP1WwYE/WKUPbxUwt4I/AAAAAAABFEU/9CXgA11jOIg/clip_image004_thumb.jpg?imgmax=800clip_image006

17 giờ 00: Đứng trước đông đảo giới chức cầm quyền, đoàn ngư dân Song Ngọc, cha JB Nguyễn Đình Thục tố cáo công an đã hành hung đánh đập cha cũng như bà con giáo dân, công an cướp điện thoại và đập phá. Cha Thục lên án công an đã đánh đập một phụ nữ lớn cách dã man.

Ông Phó Chủ tịch tỉnh Nghệ An xuống hiện trường nhưng không làm việc trực tiếp với cha. Ông chỉ làm việc với các cha Quản hạt và đề nghị các cha Quản hạt yêu cầu cha Thục và đoàn ngư dân trở về lại giáo xứ. Cha Thục và đoàn ngư dân cương quyết không về và phản đối việc ông Phó chủ tịch tỉnh Nghệ An đã trốn tránh khi không làm việc trực tiếp với cha Quản xứ Song Ngọc – là cha Thục đang đồng hành với bà con ngư dân đi khởi kiện.

clip_image020clip_image024

16 giờ 30: Cha JB Nguyễn Đình Thục bị công an đánh chảy máu miệng. Trước sự vây hãm của lực lượng của chức năng bảo vệ dân nhưng nay ngược đãi dân lành, cha Thục thông báo sự ngăn chặn của lực lượng công an, CSGT, CSCĐ là vi phạm pháp luật, đoàn ngư dân Song Ngọc đang thực hiện đúng quy định của pháp luật và đòi lại quyền làm người của người dân nên không có gì phải sợ và hãy mạnh mẽ lên.

16 giờ 20: Thông tin đáng tin cậy cho GNsP biết, nghe tin có một vị quan chức trong tỉnh Hà Tĩnh đến Tòa Giám mục Vinh, để trao đổi, nhằm ngăn chặn cuộc khiếu kiện của giáo xứ Song Ngọc, tuy nhiên quan điểm của TGM Vinh là: việc đòi lại quyền lợi của người dân đối với Formosa là chính đáng và cần ủng hộ.

Nhà cầm quyền Nghệ An đã thông báo quyết định ngăn chặn đoàn không cho đi gửi đơn khởi kiện, không chấp nhận cho đoàn ngư dân Song Ngọc tiếp tục đi trong tỉnh Nghệ An.

Đầu giờ chiều, nhà cầm quyền huy động khá đông công an, CSCĐ, CSGT, an ninh… ra tay bắt bớ, đàn áp các thanh niên trẻ trong đoàn biểu tình. Đã có một giáo dân bị chảy máu mũi khi bị an ninh hành hung.

16 giờ 15: Cha JB Nguyễn Đình Thục đang bị bao vây nhưng cha vẫn cương quyết chất vấn những người đã đánh đập hành hung con chiên của cha.

15 giờ 45: Nhiều người dân trong đoàn đi nộp đơn khởi kiện đã bị công an bắt, một thanh niên trong đoàn bị đánh đập chảy máu cách dã man.

phóng viên chiến trường đã bị công an bắt, trong đó có các cộng tác viên của GNsP. Công an được huy động đến gây áp lực và khó khăn cho đoàn đi gửi đơn khởi kiện.

16 giờ 00: Nhà cầm quyền Nghệ An huy động lực lượng CSCĐ, CSGT, công an các loại rất đông bao vây đoàn Song Ngọc. Giới chức cầm quyền đã bắt đi nhiều người dân và đưa đi đâu không rõ. Nhiều người lớn tuổi đang đọc kinh cầu nguyện xin Đức Mẹ

15 giờ 30: Một người dân trong đoàn khởi kiện bị công an đánh đập chảy máu một cách dã man.

Đoàn đã đi đến đoạn đường Diễn Hồng, Nghệ An nhưng đã bị công an chặn lại và yêu cầu đoàn đi qua con đường khác thay vì đi thẳng tuyến đường chung. Hiện nay, bà con đang đợi cha Thục xuống giải quyết.

Một viên cảnh sát giao thông hứa rằng, tuyến đường bà con được giành riêng cho đi sẽ an toàn.

clip_image044

15 giờ 10: Bà con giáo dân giáo xứ Phú Vinh chờ đợi phái đoàn Song Ngọc bên đường đã lâu, bà con giáo dân tiếp tục yểm trợ nước và bánh cho bà con trên đường đi. Tại khu vực đường quốc lộ thuộc giáo xứ Thuận Nghĩa, bài hát “trả lại cho dân” được cất cao.

14 giờ 30: Sau khi nghỉ trưa tạm thời bên dưới những mái hiên, ngả mình bên vách cột của nhà xứ Yên Lý, đoàn lại tiếp tục lên đường. Cơn mùa phùn bất chợt đổ xuống nhưng không đủ mạnh để cản những bước chân can đảm đi đòi công lý. Từng người khoác những chiếc áo mưa nylon giản dị, ta lại lên đường và bài hát “Dậy Mà Đi!” lại ngân vang như khúc hành ca giúp tăng thêm tinh thần hăng hái cho bà con.

13 giờ 30: CTV GNsP cho hay, rất đông công an đóng tại cầu Bến Thủy, giáp ranh giữa tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An, đang di chuyển vào khu công nghiệp Nam Cấm thuộc xã Nghi Xá, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Cầu Bến Thủy cách khu công nghiệp Nam Cấm khoảng 20 km về phía thành phố Vinh, Nghệ An. Khu công nghiệp Nam Cấm cách giáo xứ Yên Lý, nơi đoàn ngư dân Song Ngọc đang dừng chân nghỉ trưa, khoảng 15 km.

12 giờ 30: Đoàn nghỉ chân tại Giáo xứ Yên Lý để ăn trưa. Từng xô cơm và thức ăn được chuẩn bị trước được trong khuôn viên của giáo xứ. Đoàn chia thành nhiều nhóm nhỏ ngồi xuống ăn trưa bên cạnh vị mục tử của mình.

Có 3 linh mục thuộc giáo xứ lân cận đến nâng đỡ tinh thần bà con.

clip_image062

12 giờ 15: Đoàn sẽ dừng chân tại giáo xứ Yên Lý để dùng cơm trưa và nghỉ trưa tại đây.

Nhiều người dân sống ven đường những nơi đoàn biểu tình đi qua, họ tràn ra ủng hộ. Người đưa nước, kẻ đưa tiền, vừa tiếp sức mạnh tinh thần lẫn vật chất cho đoàn. Nhiều người trong đoàn đã rơi lệ khi chứng kiến thấy nhiều bà con giáo dân cũng như lương dân tiếp tế nước, bánh và có những lời an ủi, khích lệ tinh thần.

Phái đoàn đi khởi kiện có hơn 1000 người nhưng mọi người luôn giữ ý thức đi trong trật tự và ôn hòa.

Trong đoàn có nhiều người cao niên, trong số đó có một bà cụ ngồi trong đoàn bộ hành đi đòi công lý, trên tay bọc 3 chiếc bánh mì. Bà gói theo lương thực cho mình vì biết chuyến đi này sẽ không dừng lại ở 1 ngày đường

Một cụ ông cùng tham gia đoàn chia sẻ: “Tôi tự hào vì tham gia cùng với giáo xứ. Chúng tôi không chỉ dành làm cho chúng tôi mà cho cả quê hương dân tộc VN”.

Cha G.B Nguyễn Đình Thục là người dẫn đầu đoàn dân hơn 1000 người lên đường khởi kiện vào sáng sớm ngày 14.02.2017 tại giáo xứ Song Ngọc, giáo phận Vinh do cha làm Chánh xứ.

11 giờ 30: Hiện nay, bà con giáo xứ Thanh Cao, Giáo xứ Nguyên Hội, Giáo xứ Đồng Tháp, Đoàn Thiếu nhi Thánh thể của Giáo phận Vinh đang yểm trợ nước và bánh cho đoàn. Lòng nhiệt thành của bà con đã nâng đỡ tinh thần của đoàn. Nhiều người đã rơi nước mắt trước tình cảm đẹp này.

Một bác lớn tuổi tham gia đoàn đi gửi đơn khởi kiện bày tỏ: “Tinh thần tôi hăng say, khí thế, tôi muốn đuổi Formosa ra khỏi VN. Tôi vui và phấn khởi vì có nhiều người đồng hành, nhiều người khát khao đất nước trong sạch, mong muốn Formosa nhận trách nhiệm những thiệt hại đã gây ra cho đồng bào Việt Nam. Trên đường đi chúng tôi bị công an ngăn cản một cách mạnh mẽ nhưng người dân chúng tôi không nhụt ý chí mà còn mạnh mẽ hơn và quyết đi đến cùng để nộp đơn khởi kiện Formosa.”

clip_image111

Một bác lớn tuổi khác chia sẻ: “Trời nắng nóng lắm, vất vả lắm nhưng mình phải cố gắng vì đất nước mình thôi. Sáng nay trời mưa, chúng tôi cũng mặc áo mưa, trời nắng chúng tôi sẽ cởi áo đi tiếp. Tôi nghĩ chúng tôi sẽ không được nhận tiền đền bù nhưng vì quê hương dân tộc chúng tôi sẽ đi cho đến cùng.”

10 giờ 50: Cha Thục yêu cầu bà con sẽ gửi xe máy tại giáo xứ Yên Lý, sau đó cùng nhau xuống đường đi bộ đến Thị xã Kỳ Anh để gửi đơn khởi kiện Formosa. Cha JB Nguyễn Đình Thục hô lớn: “Một ngày, hai ngày, ba ngày chưa đến nơi thì một tuần sẽ đến. Chúng ta phải làm để cho thế giới thấy được công việc của chúng ta là quan trọng và chúng ta sẽ không hổ thẹn với con cháu chúng ta sau này.” Bà con giáo dân đồng thanh hô ủng hộ đi bộ cho khi nào đến được Thị xã Kỳ Anh gửi được đơn thì thôi.

Một cụ ông cùng tham gia đoàn chia sẻ: “Tôi tự hào vì tham gia cùng với giáo xứ. Chúng tôi không chỉ dành làm cho chúng tôi mà cho cả quê hương dân tộc VN”.

Có rất đông an ninh chìm, đeo khẩu trang che kín mặt trà trộn vào đoàn biểu tình quay phim, ly gián người dân và kích động bạo lực. Tuy nhiên cha G.B Thục đã trấn an bà con hãy luôn giữ bầu khí ôn hòa, đừng để rơi vào bẫy của nhóm an ninh.

10 giờ 40: Cha Thục và bà con giáo dân dừng chân tại thị trấn Quỳnh Giang và đang biểu tình tại đây. “Hãy giúp chúng tôi khởi kiện Formosa” là thông điệp chính muốn gửi đến tất cả đồng bào trong và ngoài nước hãy cùng nhau đồng lòng đứng lên bảo vệ quê hương dân tộc trước nạn giặc nội xâm và ngoại xâm.

10 giờ 15: Đoàn khởi kiện đã đến xã Quỳnh Giang, bà con tràn ra đường để chào đón, tiếp nước và một số gia nhập vào đoàn lên đường đi khởi kiện.

10g30: Đoàn đã đến gần bệnh viện Minh Anh thuộc trị trấn Quỳnh Giang và tạm dừng nghỉ chân, uống nước để lấy sức đi tiếp hành trình khởi kiện Formosa, đòi công lý.

 10 giờ: Đoàn tiếp tục lên đường với xe gắn máy hai bánh sau một hồi bị CSGT ngăn chặn. Nhiều hộ dân hai bên đường mang nước ra để tiếp khát cho bà con.

Cha Quản xứ Thuận Nghĩa cùng với bà con giáo dân đứng hai bên vệ đường chào mừng và tiếp sức cho bà con giáo xứ Song Ngọc trên quãng đường đi gửi đơn khởi kiện.

CTV GNsP cho hay, tại cầu Bát Giáp khá đông an ninh chìm nổi có mặt tại đây.

9 giờ 40: Rất đông CSGT, CSCĐ, an ninh chìm nổi được huy động đến để giám sát đoàn biểu tình. Công an tỉnh Nghệ An đến gặp trực tiếp cha Thục và yêu cầu cha đưa bà con giáo dân về lại giáo xứ. Tuy nhiên, cha và bà con giáo dân đã phản đối lời yêu cầu này và nhất quyết không về mà tiếp tục đi gửi đơn khiếu nại Formosa. Cha Thục và bà con tiếp tục hành trình lên đường đi nộp đơn khởi kiện.

9 giờ 00: Hiện tại đoàn đã đến xã Quỳnh Bá, thuộc huyện Quỳnh Lưu. Đã xuất hiện nhiều an ninh hơn theo dõi sát hành trình của bà con. Tuy nhiên không thấy có một dấu hiệu sợ hãi gì nơi dân.

Rất đông an ninh và CSGT đứng hai bên đường nhưng để giữ trật tự cho bà con đi, chưa thấy có dấu hiệu ngăn chặn.

Còn khoảng 200 mét nữa đoàn sẽ đến thị xã Giát. Lúc này, chúng tôi nhận thấy đông CSCĐ, CSGT và cả nhóm dân phòng túc trực hai bên đường đứng… chờ lệnh.

9 giờ 5: Đoàn đến thị xã Giáp, xe của CSCĐ và anh ninh chạy trước mở đường cho bà con. Phía sau bà con từng hai người một trên đoàn xe gắn máy hai bánh tiến lên tay cầm cờ ngũ sắc dương cao thể hiện truyền thống văn hóa hào hùng của dân tộc Việt.

Đoàn người đi qua với những ảnh tình cờ trái ngược nhau. Cờ đỏ nằm trên đầu của các anh ninh sắc phục và cờ ngũ sắc trên tay của người dân. Hình ảnh khác là một lão ông cùng gần 80 tuổi, tay cầm cờ ngũ sắc đang xông pha lên đường cùng đoàn người bộ hành.

8 giờ 45: CTV GNsP cho biết, rất đông công an mặc sắc phục, an ninh chìm nổi bố ráp tại khu vực xã Quỳnh Bá và Quỳnh Ngọc thuộc huyện Quỳnh Lưu. Họ quay phim, chụp hình phái đoàn. Hiện nay, CTV GNsP đang bị an ninh bám sát và theo dõi chặt chẽ.

8 giờ: Tại khu vực đường N5 và quốc lộ 1A thuộc xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, CTV GNsP đang có mặt tại đây cho biết, Linh mục Giuse Nguyễn Xuân Phương, Quản xứ giáo xứ Nhân Hòa cùng với bà con giáo xứ yểm trợ nước suối, bánh và “tiếp lửa” cho phái đoàn Song Ngọc đi khởi kiện Formosa.

Linh mục JB Nguyễn Đình Thục, Quản xứ Song Ngọc, G.p Vinh và bà con giáo dân Song Ngọc thuộc ba xã Quỳnh Ngọc, Sơn Hải, Quỳnh Thọ đã bắt đầu lên đường đi nạp đơn khởi kiện Formosa vào sáng nay, ngày 14.02.2017.

Tối qua, ngày 13.02.2017, cha Quản xứ JB cho hay, nhà cầm quyền đã gây áp lực các chủ nhà xe – được thuê và hợp đồng trước đó – không được chở phái đoàn giáo dân Song Ngọc đến Thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh để đi nộp đơn khởi kiện Formosa.

Nhiều xe lớn được hợp đồng đã không thể vào trong khu vực giáo xứ Song Ngọc do giới chức địa phương đã huy động CSGT ngăn chặn và kiểm soát các ngả đường đi vào giáo xứ này.

Dự tính nếu không đủ xe, cha và bà con giáo dân sẽ cùng nhau đi bộ và mang các dụng cụ cần thiết như chăn, mùng, mền để phục vụ cho chuyến đi dài ngày với hơn 175 km.

Hiện nay, bà con giáo dân đã đến trước nhà thờ rất đông và ngài đang quy tụ mọi người trước hang đá Đức Mẹ để cầu nguyện sự bình an cho chuyến đi.

Được biết, những người đi tham dự nộp đơn khởi kiện Formosa sẽ mặc áo ghi dòng chữ “Dân Muốn Cá Sống. Formosa Get Out”, và đeo chuỗi mân côi trên cổ để tránh sự trà trộn của an ninh cài cắm người phá bĩnh chuyến hành trình.

Pv.GNsP tại Nghệ An sẽ tiếp tục cập nhật và tường trình đến quý độc giả. Xin quý vị dõi theo.

nguồn: http://www.tinmungchonguoingheo.com