Vũ Thất

Bảo Bình 1

Category Archives: Thời Sự

“Don’t Fly the Unfriendly Skies”

https://www.youtube.com/watch?v=9KBS3U9QcGw



United Airlines Employee Manual

__._,_.___
funny responses toUnited drama

United Airlines Customer Service Desk

funny responses toUnited drama

funny responses toUnited drama

United Airlines Safety Card

funny responses toUnited drama

United Airlines Employee of the Month


United funny response

Nhớ lại và Suy ngẫm từ mấy câu chuyện sau 30-4-1975

Nhớ lại và Suy ngẫm từ mấy câu chuyện sau 30-4-1975

Đào Công Tiến

Ngày 30-4-2017 đang đến gần, tiếp tục gợi nhớ và thôi thúc suy ngẫm về những sự kiện lớn – kết thúc chiến tranh Việt Nam kéo dài 30 năm (1945-1975) và bắt đầu một “giai đoạn mới” cho thời hậu chiến của miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung.

Mừng hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, chia sẻ khát vọng “xua kẻ thù đi mau”, “dập tắt chiến tranh đẫm máu”, “đập tan bao đau khổ và chia ly” của cố nhạc sĩ Hoàng Việt đã thành hiện thực[1].Tuy nhiên, còn nhiều khát vọng vẫn chưa thành.

“Giai đoạn mới” lẽ ra phải dành cho việc khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội trên tinh thần “khoan sức dân”, vì dân sinh dân chủ, nhưng điều đó không diễn ra được vì những sai lầm của việc áp đắt một mô hình được gọi là “XHCN Xô Viết” và cả “XHCN đặc sắc Trung Quốc” cùng tự nhận là của Chủ thuyết Mác-Lenin, đã từng bị phá sản và thậm chí đã sụp đổ sau đó ở Liên Xô và Đông Âu cùng hệ thống XHCN của nó.

Mô hình sai lầm đó đã kìm hãm đất nước trong suốt hơn 40 năm qua kể từ 30.4.1975, từ đỉnh cao kết thúc chiến tranh thắng lợi rơi xuống vũng bùn của sự trì trệ và lạc hậu so với những nước trong khu vực từng có cùng một xuất phát điểm về trình độ kinh tế và năng suất lao động như Việt Nam, nay muốn đuổi kịp họ phải mất từ 30 đến 50 năm [với một giả thiết ngớ ngẩn là họ dừng lại để đợi ta!]

Khát vọng từ dân – Khơi nguồn cho suy ngẫm

Môi trường hòa bình độc lập thống nhấ đất nước sau 30.4.1975 khơi dậy nhiều khát vọng trong cộng đồng các dân tộc Việt với niềm hy vọng thiết tha là có được cơ hội để mọi gia đình được đoàn tụ, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau, cùng cắm nén tâm hương, tưởng niệm dành cho nạn nhân chiến tranh với cả nhiều triệu người thân yêu của hàng triệu gia đình, đã đi với chiến tranh mãi không về. Ưu tiên hàng đầu vì thế mà cũng rất hiển nhiên là cùng chung sức chung lòng lo chữa lành các vết thương chiến tranh và giữ cho chúng không rỉ máu trở lại, lo xóa đói giảm nghèo, lo cho con trẻ được đến trường, người bệnh được chữa trị, người già cả, neo đơn được chăm sóc. Và, để xây dựng lại non sông, đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, rút ngắn khoảng cách tụt hậu để “cùng sánh vai với các nước trên thế giới”.

 “Giai đoạn mới” và những lựa chọn phải trả giá đắt

Đại hội Đảng IV (1976) và Đại hội Đảng V (1982) đều có nói đến “giai đoạn mới”, “khôi phục cải tạo và phát triển kinh tế, cải tạo và phát triển văn hóa”, được coi là nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách, vừa cơ bản của “giai đoạn mới” – giai đoạn bắt đầu của Cách mạng Việt Nam thời hậu chiến[2].

Tuy nhiên, với tâm lý chủ quan duy ý chí, thậm chí cả bệnh kiêu ngạo thường có ở “người thắng cuộc” cùng với bệnh giáo điều tiếp tục “trung thành vô hạn” – với CNXH theo chủ thuyết Mác – Lênin[3] vốn rất mù mờ về lý thuyết và trên thực tế đã và đang lún sâu vào khủng hoảng rồi phá sản và sụp đổ. Với nhận thức lệch lạc đó đã đưa đến những quyết sách sai lầm khiến cho dân tộc phải trả cái giá quá sức nghiệt ngã.

  1. Hệ thống phát ngôn của Đảng, bằng bộ máy thông tin tuyên truyền từ trung ương đến địa phương, đến cả loại hình “văn hóa loa phường”, vẫn tiếp tục một chiều, nặng về “thắng và thua”, “công lao, thành tích và tội lỗi”, “ta, bạn, thù và kích động hận thù”, và gần đây còn là “suy thoái tư tưởng chính trị, tự diễn biến, tự chuyển hóa” . . . Cứ thế mà duy trì sự khác biệt và phân biệt đối xử trong cộng đồng các dân tộc Việt và ngay cả trong nội bộ Đảng Cộng sản.

Chiến tranh đã dần lùi xa mà mức độ nặng nề của sự khác biệt và phân biệt đối xử từ lúc chiến tranh vẫn còn cứ đeo bám trong tâm lý đời thường. Duy trì sự khác biệt và phân biệt đối xử, còn tạo ra sự thiếu công bằng trong giáo dục, y tế… thậm chí còn gây thảm họa cả trong tình yêu đôi lứa – yêu nhau mà không lấy được nhau vì khác biệt và phân biệt đối xử.

Vẫn cứ một cách tuyên truyền sáo mòn cũ rích, nhai đi nhai lại những luận điệu mà không hiểu được rằng “một sự kiện chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” như nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc sinh thời đã nhắc nhở điều đó và ông từng đòi hỏi “đó là vết thương chung của dân tộc cần được chữa lành, thay vì tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”.

  1. Trong cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm (1945 – 1975) máu người Việt đã thấm đẫm trên mảnh đất quê hương. Có lẽ cũng khỏi phải nhắc lại những con số thống kê về bom đạn rải xuống ruộng đồng, sông suối, núi rừng trên đất nước này bằng bao nhiêu phần bom đạn trong chiến tranh thế giới lần thứ hai! Cũng chẳng cần phải nhắc lại những di hại của chất độc dioxin sẽ còn để lại những di chứng trong bao nhiêu lâu nữa trên da thịt của bao thế hệ Việt, cho nòi giống Việt! Những tranh cãi dai dẳng về “ý thức hệ” rồi sẽ theo thời gian mà trôi vào dĩ vãng, song truyền thống Việt Nam mà ông cha bao đời gây dựng và truyền lại thì vẫn mãi mãi lưu chảy trong huyến quản người Việt vốn là một dân tộc chưa bao giờ chịu khuất phục. Đó là một chân lý không bao giờ thay đổi, như mặt trời mọc từ hướng Đông và lặn về hướng Tây.

“Chiến tranh Việt Nam” mà người Việt và bè bạn trên thế giới thường nhắc đến là như vậy đấy – là một cuộc chiến mang đậm bản chất truyền thống yêu nước của người Việt. Song, chiến tranh Việt Nam đó cũng là cuộc chiến bị can thiệp, bị lợi dụng và phụ thuộc bởi tham vọng bá quyền của các nước lớn “theo cộng sản” và “chống cộng sản” trong “cục diện chiến tranh lạnh” trên thế giới sau Đại thế chiến thứ II.

Có những nghiên cứu về Trung Quốc, không xếp Trung Quốc vào phe “theo cộng sản” trong “cục diện chiến tranh lạnh” bởi, thực chất mà nói thì Trung Quốc đã và đang theo “chủ nghĩa Đại Hán” chứ không theo CNXH – CNCS và quốc tế vô sản của chủ thuyết Mác – Lênin, mà mộng bành trướng bá quyền của “chủ nghĩa Đại Hán” không “cho phép” Trung Quốc lép vế với các nước lớn khác trong “cục diện chiến tranh lạnh”. Từ khi kết thúc nội chiến, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, trên danh nghĩa đứng trong phe XHCN nhưng Trung Quốc không bao giờ phục tùng Liên Xô mà còn tranh chấp với Liên Xô, thậm chí còn đi với Mỹ chống Liên Xô. Với Việt Nam, Trung Quốc nhúng tay “lèo lái” việc chọn giải pháp “chia đôi đất nước” thành hai miền Nam, Bắc tại vĩ tuyến 17 ngay sau cuộc kháng chiến chống Pháp với Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi – sự kiện bị coi là “ươm mầm chia rẽ dân tộc” và dẫn đến cuộc chiến tranh  phải trả giá đắt. Trung Quốc “ủng hộ” Việt Nam chống Mỹ còn nhằm mục tiêu đẩy vòng vây chống cộng sản của Mỹ ra xa biên giới Trung Quốc và cũng sẵn sàng quay lưng lại với Việt Nam, chống Việt Nam khi chuyển sang đi với Mỹ, nhất là vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh 30 năm[4]

Sự can thiệp, lợi dụng của các nước lớn như đã nêu ở trên đã biến cuộc “chiến tranh Việt Nam”  thành cuộc chiến tranh nóng (trong cục diện chiến tranh lạnh) lớn nhất, kéo dài nhất, đẫm máu nhất và là cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam và thế giới sau Đại thế chiến thứ II. Và cái giá mà đất nước và con người Việt Nam phải gánh chịu, là quá lớn, quá đắt. Trong chiến tranh, có nhiều triệu người ngã xuống, nhiều triệu gia đình mất người thân yêu và sống trong đau khổ và chia ly . . . Trong hậu chiến, với trên 40 năm đã qua mà còn cả triệu người mang thương tích chiến tranh trên mình chưa chữa lành, môi trường sống bị chiến tranh tàn phá còn chưa khôi phục được, chất độc dioxin, bom mìn sót lại vẫn còn gây đau thương cho người dân vô tội … Và, cuộc chiến tranh đó đã và đang còn để lại trong cộng đồng các dân tộc Việt những vết thương của sự chia rẽ và lòng người ly tán do bất đồng ý thức hệ và thù hằn bởi “chiến tranh đẫm máu”, “đau khổ và chia ly” còn hằn sâu chưa tháo gỡ được. Vì thế đạo lý cần có sau khi chiến tranh kết thúc không phải là chia rẽ người Việt với nhau bởi vẫn tiếp tục duy trì sự khác biệt và phân biệt đối xử, càng không thể là kích động hận thù và trả thù của bên này đối với bên kia, mà phải là hòa giải hòa hợp dân tộc trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, với lòng nhân ái, sự chân thành và khoan dung của con người Việt Nam. Những hành xử không trên tinh thần đó, chẳng hạn như tập trung cải tạo, phạt vạ, tù đày . . . của “bên thắng cuộc” đối với “bên thua cuộc” đã đến lúc phải có lời thành tâm sám hối và xin lỗi.

  1. Cuộc chiến hết sức khốc liệt kéo dài 30 năm đã vắt kiệt sức dân ta, sau 30.4.1975 nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá đó lẽ ra phải được khôi phục và phát triển trên tinh thần “khoan sức dân”. Nhưng điều đó không diễn ra được vì đường lối cải tạo XHCN đã giành hết chỗ cho nó, còn đâu cho khôi phục và phát triển vì dân sinh, dân chủ. Một bộ phận không nhỏ dân nghèo đô thị bị đưa đi kinh tế mới lâm vào cảnh sống “khốn cùng” – “không còn gì để ăn, còn đất (ở vùng kinh tế mới) đâu dễ cạp”. Câu nói này xác thực cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của sự “khốn cùng” đó. Trên những cánh đồng trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải miền Trung, các hộ gia đình nông dân phải gác lại những công việc đồng áng vốn quen thuộc để đi vào con đường “làm ăn tập thể” theo mô hình hợp tác xã của miền Bắc được tạo dựng một cách trầy trật suốt 16 năm vẫn không gượng đứng dậy được, bị lún sâu vào khủng hoảng và đứng trên bờ vực của sự phá sản, để rồi người trồng lúa thiếu gạo ăn, cả nước phải gặm bột mì và ăn bo bo.

Trong công nghiệp, thương nghiệp, Đảng chủ trương “đánh” kinh tế tư hữu, cấm đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân, “xây” kinh tế công hữu bằng những cách làm từ mô hình kinh tế XHCN vốn không thành công ở miền Bắc, đã làm cho kinh tế miền Nam mới ra khỏi chiến tranh vốn đã khó khăn, khó khăn hơn, đời sống của dân vốn đã cơ cực, cơ cực hơn.

Thời hậu chiến đã qua trên 40 năm sau 30-4-1975 mà tinh thần “khoan sức dân” vẫn chưa thấm được vào nhiều chính sách kinh tế. Chính sách giá, lương, thuế, phí vẫn tiếp tục vắt kiệt sức dân. Trong khi mức thu nhập GDP bình quân đầu người ở Việt Nam còn quá thấp và đang đội sổ thế giới (chỉ bằng 0.262 lần Trung Quốc, 0.257 lần Thái Lan, 0.158 lần Malaysia, 0.392 lần Indonesia và 0.604 lần Philippin) mà phải chịu những khoản thuế, phí quá cao, kéo dài nhiều năm, kể cả khi kinh tế khó khăn. Tiền lương tuy có điều chỉnh, nhưng chính sách tiền lương cơ bản không đổi vẫn trên nền lương tối thiểu không đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu của cuộc sống. Với thu nhập có được từ tiền lương không đủ sống như vậy, người dân lại phải chịu nhiều khoản thuế, phí quá cao, bởi phân phối trong nền kinh tế nghiêng quá nhiều về thu ngân sách cho đầu tư, chi phí và trả nợ công, cho cả thất thoát vì lãng phí và tham nhũng quá lớn. Thu ngân sách Nhà nước trung bình giai đoạn 2007-2011 so với GDP cùng kỳ lên tới 29%, chỉ tính riêng thuế, phí cũng đã lên đến 26.3%, cao gấp 1.4 đến 3 lần so với các nước trong khu vực (tỉ lệ này của Trung Quốc là 17.3%, Thái Lan và Malaysia là 13%, Indonesia là 12% và Ấn Độ là 7.8%)[5]

  1. Hiện tình kinh tế như vậy đòi hỏi phải thay đổi cách nghĩ cách làm – phải Đổi mới. Người dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung, nhất là người dân tại nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ gia đình nông dân, thợ thủ công và tiểu thương vì cuộc sống và lẽ sống của mình, họ đã tự phát “xé rào” vượt cơ chế chính sách hiện hữu đầy sai trái để cứu nguy kinh tế và đời sống. Đó là mũi đột phá từ dân – là cơ sở, gốc rễ của Đổi mới. Và, về cơ bản Đảng chấp nhận việc làm của dân như là chấp nhận giải phá tình thế trước áp lực của khủng hoảng đã đến mức không chịu nổi. Đại hội Đảng VI với Nghị quyết Đổi mới đã chấp nhận cho phát triển sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế có sự kết hợp giữa kế hoạch với thị trường và có sự điều tiết của Nhà nước. Theo đó, những rào cản “ngăn sông cấm chợ” được tháo gỡ trả lại sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho người sản xuất và người tiêu dùng, hợp thức hóa cách “khoán sản phẩm” trong hợp tác xã, mở đường cho kinh tế hộ gia đình được tự chủ và trở lại với vai trò của đơn vị kinh tế cơ sở ở nông thôn.

Đổi mới với hai mũi đột phá đó đã đưa kinh tế ra khỏi khủng hoảng và tạo được đà cho tăng trưởng. Thế nhưng, một số không nhỏ lý luận gia và những nhà lãnh đạo của Đảng, với kết quả Đổi mới vui một họ lo hai, ba thậm chí chín, mười, vì sợ “Đổi mới được kinh tế nhưng mất tư tưởng, được bộ phận nhưng mất tổng thể, được trước mắt nhưng mất lâu dài, được kết quả hiển nhiên nhưng xa rời mục đích và những nguyên tắc cơ bản, được của cải nhưng hỏng quan hệ sản xuất và con người”. Sự mơ hồ trong tư duy Đổi mới như vậy đã làm cho Đổi mới không toàn diện, không triệt để – do dự, thiếu dứt khoát, nhất là đối với đòi hỏi đổi mới thể chế chính trị đi liền với đổi mới kinh tế.

  1. Chiến tranh đã kết thúc và “giai đoạn mới” cũng đã đi được một khoảng thời gian dài, thế mà cách hành xử với nhân quyền, pháp quyền, quyền tự do dân chủ của công dân còn nhiều bất cập quá tệ hại:

Đạo luật cơ bản của Việt Nam, với Hiến pháp năm 1946 và với các lần sửa đổi sau đó, đã ghi “Tât cả quyền bính” hay “tất cả quyền lực” hoặc “tất cả quyền lực Nhà nước” – “thuộc về nhân dân” [6]. Những quyền “thuộc về nhân dân đó” về danh nghĩa cũng không trọn, làm gì có thực chất vì với pháp quyền XHCN, giới lập pháp VN tự cho mình có quyền đưa vào Hiến pháp sửa đổi năm 1980, 1992 và 2013 những điều vi hiến – lấy quyền lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội duy nhất thuộc về đảng Cộng sản, đặt lên trên các quyền thuộc về Nhân dân.

Để có một Nhà nước và một xã hội chấp nhận phục tùng “siêu quyền lực” đó của đảng, Đảng đã thao túng việc bầu chọn sắp xếp nhân sự cho nó bằng một quy trình “đảng cử, dân bầu” chứ không phải “dân cử, dân bầu”  để nó hành xử việc dân, việc nước theo ý đảng chứ không phải ý nguyện của nhân dân.

Nhiều quyền tự do, dân chủ được ghi trong Hiến pháp quá hiển nhiên, nhưng trên thực tế không được thực hiện bởi có nhiều rào cản khó vượt: Quyền tiếp cận thông tin không vượt qua được rào cản từ sự lạm dụng của việc giữ bí mật và bưng bít thông tin; Quyền tự do bày tỏ chính kiến không vượt qua rào cản từ cấm “đa nguyên”, và tương tự như vậy, quyền tự do hội họp, lập hội cũng không vượt qua được rào cản từ cấm “đa đảng”.

Nổi cộm lên trong bức xúc của người dân là “quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước” có lúc bị ách tắc dẫn đến lén lút vượt biên, tạo nên thảm trạng “thuyền nhân”. Quyền biểu tình chưa cho thực hiện vì chưa có luật biểu tình, bởi Quốc hội chưa quyết tâm, thậm chí chưa muốn làm. Quyển sở hữu tư nhân về đất đai là tư liệu sản xuất, là tài sản của công dân chưa được công nhận là nguyên nhân gây nhiều cản ngại đối với sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều tranh chấp gây bất ổn xã hội.

  1. Cái giá phải trả cho những lựa chọn thiếu thấu tình, đạt lý trong cả quá trình dài của “giai đoạn mới” sau 30-4-1975 là quá lớn, quá đắt: Tài nguyên và môi trường thiên nhiên bị phá nát, các thang giá trị bị đảo lộn, bất công xã hội gia tăng. Thiếu việc làm, lương thấp, thu nhập không đủ sống, đời sống khó khăn kéo dài suốt hơn 40 năm sau chiến tranh và hiện vẫn còn thấp xa so với hầu hết các nước trong khu vực. Thiếu an ninh, an toàn đối với người dân trong giao thông, phòng tránh bão lũ; bạo lực bạo hành từ trong gia đình đến ngoài xã hội, kể cả từ sự lạm dụng quyền lực của hệ thống công quyền gia tăng. Tham nhũng đã trở thành quốc nạn, không còn đơn thuần là tham nhũng tiền của mà còn là tham nhũng quyền lực và cấu kết với quyền lực trong các hệ thống nhóm lợi ích bất chính. Nền kinh tế vẫn bị chi phối bởi sự rối rắm về lý thuyết và sự hỗn loạn trong vận hành, vẫn kinh tế công hữu, kinh tế nhà nước là nền tảng, là chủ đạo, nắm giữ một bộ phận nguồn lực lớn nhất và cũng là nơi bị đục khoét lớn nhất bởi lãng phí và tham nhũng, nguồn lực trong dân với khu vực kinh tế dân doanh không được xem trọng nên làm cho nền kinh tế yếu từ gốc, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn nặng về khai thác nên góp sức chưa nhiều vào việc làm cho nền kinh tế mạnh lên và phát triển bền vững hơn, các lĩnh vực kinh tế nhạy cảm – tài chính, tín dụng, chứng khoán, bất động sản và một số ngành kinh doanh dịch vụ khác vẫn tiềm ẩn bất ổn.

Mấy đề xuất những việc cần làm

  1. Cần tổ chức lễ tưởng niệm nạn nhân chiến tranh của cuộc chiến 30 năm (1945 – 1975) ở Việt Nam ngang tầm quốc lễ, thay vì chỉ là lễ mừng hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước, như đã được tổ chức hàng năm suốt 41 năm qua. Quốc lễ tưởng niệm hàng năm, mỗi năm một lần, vào thời điểm thích hợp là lúc 11h30 ngày 30 tháng 4 (lúc đó của năm 1975 là thời điểm đội quân can thiệp Mỹ đã rút hết khỏi Việt Nam và tướng Dương Văn Minh – Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đọc trên đài phát thanh Sài Gòn Tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam).
  2. Cần có lời thành tâm sám hối và xin lỗi từ đảng Cộng sản tới nhân dân – cộng đồng các dân tộc Việt về những quyết sách sai lầm từng đưa đến những đau thương mà dân tộc phải gánh chịu như đã nêu ở trên.
  3. Hòa giải, hòa hợp dân tộc là chuyện lớn của dân của nước không thể tiếp tục quay lưng lại được. Sám hối và xin lỗi nếu được thực hiện là sự thành tâm, thiết nghĩ rất cần có cho hòa giải hòa hợp dân tộc.

Cũng không dừng ở đó, những người có trách nhiệm phải dám đối mặt với sự thật, để nhận biết vấn đề căn cơ, gốc rễ là lòng tin của nhân dân đối với Đảng đã bị xói mòn đến cạn kiệt mà nguyên nhân cơ bản là sự độc đoán chuyên quyền, phản dân chủ trong định hình thể chế và điều hành bộ máy quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Sự tha hóa của quyền lực càng ngày càng trầm trọng, đẩy tới sự tham nhũng ngày càng ăn sâu vào cốt tủy, càng chống càng tăng, đẩy tới nguy cơ sụp đổ không cứu vãn được. Chính điều này đã phá nát nền tảng của một xã hội như xã hội mà ta đang sống. Để giữ lấy độc quyền và siêu quyền cho mình, đảng đã quay lưng lại, loại bỏ mọi ý kiến khác của trí thức, nhân sĩ yêu nước, những tư vấn và phản biện tâm huyết và có tính khoa học để rồi không tránh được những sai lầm trong nhiều sự lựa chọn quyết sách phải trả giá đắt.

Lòng tin mà mất thì mất tất cả! Từ trong gia đình, đến ngoài xã hội, trong quan hệ giữa người với người không còn gì để tin cậy nhau thì chẳng còn gì để hòa giải, hòa hợp. Sẽ không có ngoại lệ cho hòa hợp, hòa giải dân tộc mà Việt Nam đang cần.

Thay lời kết

Càng ngẫm, càng buồn – cái buồn của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn về một “nước Việt buồn[7]

Từ một “nước Việt buồn” thời “ngàn năm”, “trăm năm” nô lệ bởi giặc Tàu, đô hộ bởi giặc Tây, đến một “nước Việt buồn” của cuộc chiến tranh “bốn nhất” – chiến tranh nóng (trong “cục diện chiến tranh lạnh”) lớn nhất, kéo dài nhất, đẫm máu nhất và là cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” tồi tệ nhất. Rồi lại tiếp nỗi buồn từ sự “ngoảnh mặt, quay lưng” với một “nước Việt buồn” của một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng người Việt (cả quan chức của bộ máy công quyền, của doanh nghiệp Nhà nước của đảng viên cộng sản và cả người dân), bởi “ngu lâu” nên không nhận ra được “một nước Việt buồn”; bởi “tha hóa” vì “bả” vinh hoa phú quý và vì “quyền lực tuyệt đối, tha hóa tuyệt đối” nên mặc kệ một “nước Việt buồn”, bởi “mất lòng tin” lâm vào chơi vơi, vô cảm với chính “nước Việt buồn”.

Nỗi buồn về một “nước Việt buồn” như đã nêu ở trên là những câu chuyện thật, mà nguyên nhân không thể nào né tránh được – là thuộc về Đảng với sự độc quyền lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội bằng siêu quyền lực và với thể chế chính trị mà Đảng chọn và vẫn một mực trung thành với nó một cách “kiên định” bởi một “ý chí” gọi là “kiên cường” của sự bảo thủ – bảo thủ đến mức ngoan cố!

Đảng cộng sản như vậy, không thể giải được buồn – nỗi buồn của dân tộc. Giải nỗi buồn đó phải là chuyện của dân. Đã đến lúc các quyền thuộc về đảng, mà lẽ ra phải thuộc về dân, phải trao trả lại cho dân để dân giải nỗi buồn của mình bằng “tất cả quyền bính”, “quyền lực”, “quyền lực Nhà nước” đích thực thuộc về nhân dân.

Đào Công Tiến

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4/2017

[1] Nghe lại bản “Tình ca” của cố nhạc sĩ Hoàng Việt để cùng chia sẻ khát vọng “xua kẻ thù đi mau”, “dập tắt chiến tranh đẫm máu, đập tan ngay bao đau khổ và chia ly” của ông.

[2] Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982), Tổng Bí thư Lê Duẩn đã khẳng định: “Từ Đại hội lần thứ IV đến Đại hội lần thứ V của Đảng là những năm đầu Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới. Đó là những năm khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, cải tạo và phát triển văn hóa”.

[3] Trong bài diễn văn khai mạc Đại hội Đảng V (1982), cố Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh đã khẳng định “Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng cách mạng kiên cường, trung thành vô hạn với chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản”.

[4] Xem bài khai bút đầu tháng 1- 2017 “Tìm hiểu thêm về thế giới đã sang trang (bài 5)” của tác giả Nguyễn Trung. https://anhbasam.wordpress.com/2017/01/05/11-225-tim-hieu-them-ve-the-gioi-da-sang-trang-bai-5/

[5] Dữ liệu từ “Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012” của Ủy ban kinh tế Quốc hội, qua bài “Thuế, phí cao chót vót”, báo Tuổi Trẻ ngày 4-9-2012 và bài “Oằn vai thuế thu nhập cá nhân”, báo Thanh Niên ngày 5-9-2012

[6] Hiến pháp sửa đổi năm 2013 và các Hiến pháp trước đó đều cùng có chế định “Tất cả quyền bính” hay “Tất cả quyền lực” hoặc “Tất cả quyền lực Nhà nước” đều thuộc về nhân dân. Tuy nhiên, Hiến pháp sửa đổi năm 1980, 1992 và 2013 đã bị giới lập pháp Việt Nam tự cho mình cái quyền “vi hiến”, đã mặc nhiên đặt quyền lãnh đạo cao nhất và duy nhất của Đảng đối với Nhà nước và xã hội – trên các quyền thuộc về nhân dân. Đây đích thực là rào cản không thể vượt qua được để thực thi dân quyền, mặc dù đã có chế định của pháp quyền.

[7] Nghe lại bài “Gia tài của mẹ” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, để chia sẻ với ông về “nước Việt buồn” thời “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây”, “hai mươi năm nội chiến từng ngày” và “gia tài của me để lại cho con, gia tài của mẹ là nước Việt buồn”.

Đào Công Tiến

nguồn: viet-studies.net

Chính sách một-Trung Quốc

Chính sách một-Trung Quốc

Beijing và Taipei | Trần Giao Thuỷ

Chỉ có một Trung Quốc duy trì hòa bình ở Đông Á là một điều tưởng tượng lịch sự – nhưng hiện nay nó đang chịu áp lực từ mọi phía.

Một-Trung Quốc: rất mơ hồ

Donald Trump, khi mới đắc cử Tổng thống Mỹ, ngày 11 tháng 12 nói rằng, “Tôi không biết tại sao chúng ta lại phải bị ràng buộc vì chính sách một Trung Quốc”, ông giựt bỏ miếng băng dán cũ nhất trong thế giới ngoại giao. Hai tháng sau, ông lại dán nó lại, khi nói với Xi Jinping (Tập Cận Bình), Chủ tịch Trung Quốc là ông sẽ tôn trọng chính sách một Trung Quốc “theo yêu cầu của Tập Chủ tịch”; điều này vẫn không thay đổi được thực tế là một người lãnh đạo Mỹ đã đặt vấn đề về một đặc điểm căn bản của nền an ninh châu Á. Và việc ông Trump nuốt lời cũng không giải quyết được vấn đề với công thức một-Trung Quốc – điều kiện để giữ hòa bình giữa Đài Loan và Trung Quốc; đó là một thực tế đã có từ lâu trước khi ông Trump đắc cử. Nếu tình hình tệ hơn, cuộc xung đột đang đóng băng giữa hai bên có thể nóng lên lại.

Công thức một-Trung Quốc là một khái niệm mơ hồ. Ở Trung Quốc thực sự không có chính sách một-Trung Quốc. Nó có cái gọi là nguyên tắc một-Trung Quốc, nghĩa là chỉ có một Trung Quốc, với chính phủ của nó ở Bắc Kinh. Nó coi Đài Loan là một tỉnh phản bội của Trung Quốc và từ chối lập quan hệ ngoại giao với bất kỳ chính phủ nào công nhận Đài Loan là một quốc gia. Tuy nhiên, nguyên tắc cứng nhắc này có thể bị bẻ cong. Vào năm 2015, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã gặp Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu, dưới nhãn quan vô tư người ta tưởng như đây một hội nghị thượng đỉnh song phương giữa những người lãnh đạo quốc gia. Và Trung Quốc nhằm mắt làm ngơ, mặc dù tức toé lửa, khi Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan – việc mà năm 1982 Mỹ đã nói sẽ đi dần đến chấm dứt, nhưng vẫn tiếp dục cho đến ngày nay.

Mỹ không chấp nhận nguyên tắc một-Trung Quốc. Nhưng Mỹ có chính sách một-Trung Quốc, thừa nhận Trung Quốc có một nguyên tắc như vậy – đây là hai việc không hoàn toàn như nhau. Mỹ không công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Đài Loan, cũng không nhận Đài Loan là một quốc gia độc lập. Nhưng Mỹ mua bán rất nhiều với Đài Loan. Dù là nước nhỏ như thế, Đài Loan là nước mua hàng xuất cảng của Mỹ nhiều thứ chín, vượt qua cả Ý và Ấn Độ. Mối quan hệ không chính thức của Hoa Kỳ với đảo quốc này gần hơn nhiều quan hệ ngoại giao của nhiều quốc gia khác. Viện Hoa Kỳ ở Đài Loan, một tổ chức phi lợi nhuận tư nhân có trụ sở tại Washington DC, trông giống như một toàn Đại sứ và cũng hoạt động như một đại sứ quán. Đạo luật Quan hệ Đài Loan năm 1979 buộc Mỹ cam kết giúp Đài Loan tự vệ chống lại mọi cuộc xâm lược và cấm vận, và coi việc cưỡng ép đảo quốc này là “quan tâm nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ”.

Ở Đài Loan, công thức một-Trung Quốc có một lịch sử còn lạ lùng hơn nữa. Nó bắt nguồn từ câu chuyện vị tổng thống đầu tiên của Đại Loan là Tưởng Giới Thạch đã chạy trốn khỏi khỏi Trung Quốc đến đó năm 1949 sau khi thua trận nội chiến với lực lượng cộng sản của Mao Trạch Đông, một ngày nào đó sẽ lấy lại toàn bộ lục địa Trung Quốc. Vì vậy tên chính thức của Đài Loan là Cộng hòa Trung Quốc. Do đó, đảng mà Tưởng Giới Thạch lãnh đạo, Quốc Dân Đảng và chính phủ Trung Quốc có thể đồng ý với nhau bằng một hiệp ước gọi là “sự đồng thuận năm 1992” [Công thức Cửu Nhị], nói rằng chỉ có một Trung Quốc nhưng thừa nhận rằng cả hai bên không đồng ý điều đó có ý nghĩa như thế nào trong thực tế, do đó họ chồng chất sự vớ vẩn lên chuyện mơ hồ. Đảng chính trị lớn khác của Đài Loan, Đảng Dân chủ Tiến bộ (DPP), bác bỏ cả hai, “Công thức Cửu Nhị” và nguyên tắc một-Trung Quốc, nói chung. Tuy nhiên, từ năm ngoái, lãnh đạo của DPP, Bà Tsai Ing-wen (Thái Anh Văn), Tổng thống Đài Loan, sau ông Mã Anh Cửu (Ma Ying-jeou) của Quốc Dân Đảng, không muốn công khai như vậy.

Trong hầu hết các lĩnh vực chính trị, sự thiếu ổn định này là một điều đáng lo ngại. Tuy nhiên, thỏa thuận không xem xét quá kỹ vào mâu thuẫn của “một-Trung Quốc” đã tạm giữ được nền hoà bình không thoải mái ở eo biển Đài Loan. Đã có những cuộc khủng hoảng chính trị – gần đây nhất vào giữa những năm 2000 – và vào năm 1996 Trung Quốc đã bắn hoả tiễn sang phía Đài Loan trong khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc cau mày chụp ảnh. Nhưng nhìn chung nó đã đủ tốt cho cả ba bên muốn duy trì “một-Trung Quốc”.

Lý do của họ khác nhau, giống như việc họ nhìn vấn đề. Trung Quốc tin rằng thời gian về phe với họ. Khi Hoa lục ngày càng giàu mạnh hơn, những người lãnh đạo Trung Quốc thực sự hy vọng rằng người dân Đài Loan sẽ muốn trở về. Giới lãnh đạo Đài Loan nghĩ ngược lại; rằng với thời gian người dân đảo quốc sẽ ngày càng thấy mình không có gì chung với Hoa lục. Kể từ khi có Công thức Cửu Nhị, tỉ lệ người trên đảo xác định họ đơn giản là người Đài Loan đã tăng gấp ba lần lên gần 60%; tỉ lệ những người tự gọi mình là người Trung Quốc đã giảm, chỉ còn 3% (xem biểu đồ). Trong số những người từ 20 đến 30 tuổi, 85% nói rằng họ là người Đài Loan. Thái độ của Mỹ đơn giản hơn, không hư thì đừng sửa. Điều kiện hiện tại cho phép Mỹ có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc mà không phá vỡ sự liên kết với Đài Loan, và điều đó là đủ.

Nhưng sự cân bằng giữa những lợi ích không thể so sánh này phụ thuộc vào một số điều kiện nhất định: Trung Quốc tiếp tục trở nên giàu có hơn, khẳng định sự lạc quan của giới lãnh đạo; mọi người ở hai bên eo biển không xem nhau như kẻ thù; ít nhiều thì châu Á vẫn ổn định, do đó các bên không bị dồn vào những xung đột của bên kia; và nếu điều xấu trở thành tồi tệ nhất, quân đội Mỹ sẽ bước vào để giữ hòa bình.

Tất cả những điều kiện này đang thay đổi. Kinh tế Trung Quốc đã chậm lại. Và châu Á không còn ổn định nữa. Ông Trump đã đe dọa áp đặt thuế quan lên hàng xuất cảng của Trung hoa, gây nguy cơ có chiến tranh thương mại. Những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc đối với các hòn đảo khác đang làm tình hình thêm căng thẳng: Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, Rex Tillerson, nói với Thượng viện rằng Mỹ phải có khả năng hạn chế việc Trung Quốc ra vào những hòn đảo đang tranh chấp ở Biển Đông. Ông Trump đã xác nhận với Thủ tướng Nhật Shinzo Abe rằng hiệp định quốc phòng của hai nước gồm cả hòn đảo Senkaku, mà Trung Quốc gọi là Diaoyu.

Và trong khi ông Trump và ông Abe đang họp, Bắc Hàn tiến hành thử hoả tiễn đầu tiên sau khi Hoa Kỳ có tổng thống mới. Một tháng trước, lãnh đạo Bắc Hàn Kim jong-un tuyên bố nước ông sẽ sớm thử hoả tiễn đạn đạo xuyên lục địa đầu tiên, có thể bắn vào lãnh thổ Hoa Kỳ, mặc dù đó không phải là những gì vừa được thử nghiệm. Để đối phó với những mối đe dọa của ông Kim, Mỹ đang xây dựng một hệ thống phòng thủ bằng hoả tiễn ở Nam Hàn khiến Trung Quốc phản đối kịch liệt.

Đài Loan có thể giống như mắt của cơn bão. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn có nguy cơ bị xâm lược, hoặc bị phong tỏa, vì Đài Loan, và đôi khi có dấu hiệu muốn kết thúc vấn đề. Năm 2013, ông Tập Cận Bình đã gây chấn động qua eo biển khi ông nói với Vincent Siew, Phó Tổng thống Đài Loan, rằng cuộc xung đột của họ “không thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”. Có vẻ như Chủ tịch Tập Cận Bình bắt đầu mất kiên nhẫn. Vào ngày 6 tháng 3, người đứng đầu Văn phòng Quan hệ Đài Loan, một bộ phận của chính phủ, nói với Quốc hội Quốc Dân (NPC), quốc hội gật của Trung Quốc rằng “Tôi phải nhấn mạnh rằng sự độc lập của Đài Loan … sẽ không đi đến đâu. Tôi hy vọng chính phủ Đài Loan sẽ suy nghĩ cẩn thận về câu này.” Tất cả điều này xẩy ra trong bối cảnh cân bằng quân sự đã thay đổi từ một thập kỷ qua, Trung Quốc đã tăng gấp đôi chi tiêu về mặt quân sự. Mười năm trước, giới hoạch định kế hoạch ở Ngũ giác đài đã coi chuyện xâm lược là “cuộc bơi một triệu người” [vì Trung Quốc chưa có đủ sức mạnh hải quân]. Ngày nay, người ta không nghe thấy những tiếng ồn ào như thế nữa.

Eo biển

Mỹ có thể không còn khả năng đưa hai hàng không mẫu hạm tới eo biển Đài Loan để buộc Trung Quốc phải lùi bước, như đã làm năm 1996. Nhưng nếu tình trang chiến tranh xẩy ra, Mỹ chắc chắn sẽ bị kéo vào. Đạo luật Quan hệ Đài Loan không hoàn toàn bắt buộc Mỹ phải tham chiến, nhưng không tham dự sẽ là một cú đánh sụp vị thế và uy tín của Mỹ như một siêu cường. Cũng sẽ có những cân nhắc về kinh tế: Đài Loan sản xuất hơn một phần năm chất bán dẫn của thế giới; một cuộc phong tỏa của Trung Quốc có thể làm tê liệt ngành công nghiệp máy tính.

Trong bối cảnh như vậy, cuộc bầu cử của bà Thái Anh Văn thuộc đảng DPP độc lập luôn luôn có thể làm dấy lên căng thẳng. Ngay sau lễ nhậm chức hồi tháng 5, chính phủ Bắc Kinh cắt đứt liên lạc giữa Văn phòng nội vụ Đài Loan của và Hội đồng các vấn đề Đại lục của Đài Loan, tăng cơ hội hiểu nhầm và tính toán sai lầm.

Vào ngày 25 tháng 11, Trung Quốc đã cho một oanh tạc cơ Tây An H-6K bay quanh hòn đảo, cùng với một số hộ tống. Hai tuần sau, một máy bay ném bom Tây An khác và ba chiến đấu cơ lại bay vòng quanh Đài Loan. Sau đó, vào tháng giêng, tàu sân bay của Trung Quốc, Liêu Ninh, đã đi vòng quanh mũi phía Nam của Đài Loan và vào eo biển Đài Loan. Andrew Yang, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan, nói, “Nó cho thấy họ không đùa.”

Trung Quốc có thể tăng thêm áp lực với Đài Loan. Đại hội Đảng Cộng sản mỗi 5 năm sẽ diễn ra vào cuối năm nay và ông Tập Cận Bình có thể muốn đánh bóng móng diều hâu của mình bằng cách tổ chức một số cuộc tập trận quân sự hù doạ trước đại hội đảng. Ông Tập có thể làm số 21 đối tác ngoại giao của Đài Loan giảm đi. Cũng có tin cho rằng Trung Quốc đang xem xét sửa đổi luật “chống ly khai”. Hiện tại luật này nói rằng Trung Quốc sẽ dùng tới “phương pháp phi hòa bình để bảo vệ chủ quyền quốc gia” chỉ khi nào Đài Loan chính thức tuyên bố độc lập hoặc nếu không còn có hy vọng về một giải pháp hòa bình. Vào ngày 7 tháng 2, Yomiuri Shimbun, một tờ báo của Nhật Bản, đã đưa tin rằng Trung Quốc đang nghĩ đến việc sửa đổi đao luật này để nói rằng họ có thể xâm lăng nếu giới lãnh đạo Đài Loan từ chối chấp thuận Công thức Cửu Nhị – một vị trí mà DPP vẫn giữ vững. Trong Quốc hội, một đô đốc Trung Quốc, Yin Zhuo, nói Trung Quốc nên sử dụng luật chống ly khai để nói rõ với Đài Loan rằng “độc lập có nghĩa là chiến tranh.”

Mặc dù mối quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan đã trải qua những thời kỳ đầy khó khăn trước đây nhưng không đổ vỡ hoàn toàn. Và có ba lý do để nghĩ rằng, ít nhất trong ngắn hạn, lần này mọi chuyện sẽ không đi vào hướng sai lầm khủng khiếp.

Cả ông Tập Cận Bình và bà Thái Anh Văn đều có những lý do mạnh trong nước để bỏ qua những khác biệt trong một thời gian. Ông Tập bị chi phối vì đại hội đảng, và mặc dù có thể muốn tỏ ra mình khó bằng một vài cử chỉ bướng bỉnh, ông ta không muốn có một cuộc khủng hoảng làm quẫn trí. Đối với bà Thái Anh Văn, bà biết rằng cơ hội tái đắc cử vào năm 2020 phụ thuộc vào việc quản lý kinh tế, chứ không phải việc giải quyết vấn đề Trung Quốc. Tăng trưởng GDP và mức lương của dân Đài Loan đang không thay đổi. Những cuộc thăm dò ý kiến đánhg giá bà rất kém. Bà đang chuẩn bị một cuộc cải cách, đầy mạo hiểm về mặt chính trị, hệ thống lương hưu do nhà nước quản lý. Một cuộc chiến với một siêu cường là điều bà ấy không nghĩ tới.

Lý do thứ hai cho sự lạc quan về hoà bình là bà Thái Anh Văn đã đưa DPP đến gần vị trí của Trung Quốc hơn bao giờ hết. Trong buổi lễ nhậm chức của mình, bà nói rằng bà công nhận “sự kiện lịch sử” của các cuộc đàm phán năm 1992, gần như nói là chấp nhận công thức 92 mà không thực sự như vậy. Trong một bài phát biểu vào tháng 10, bà trấn an chính quyền cộng sản Trung Quốc rằng bà “sẽ, tất nhiên, không quay trở lại con đường đối đầu cũ”. Bà Thái Anh Văn là một luật sư thương mại, thận trọng, có thể đoán trước và kiềm chế – tất cả những đặc tính mà người tiền nhiệm mạo hiểm, cùng đảng DPP, ông Trần Thủy Biển, Tổng thống từ năm 2000 đến năm 2008 không có. Sự khinh thường của Trung Quốc đối với bà Thái Anh Văn – Văn phòng Nội vụ Đài Loan đã gọi diễn văn nhậm chức của bà là “một câu trả lời đề thi không đầy đủ” như thể bà là một nữ sinh ngu ngốc – tương đối là nhẹ so với những lăng mạ đối với những người lãnh đạo DPP khác, những người mà họ gọi là “điên rồ” “tai quái” “cặn bã”. Điều đó có thể có nghĩa là ông Tập Cận Bình vẫn muốn mở cửa cho những cuộc đàm phán trong tương lai.

Thứ ba, sự cân bằng quân sự ở eo biển Đài Loan đã không nghiêng đủ về Hoa lục để lãnh đạo ở đó tự tin có thể chiến thắng chớp nhoáng. Nếu Trung Quốc có thể tràn vào Đài Loan nhanh đến nỗi thế giới không có thời gian để phản ứng (như khi Nga xâm lược Crimea) thì có thể các quốc gia khác sẽ coi cuộc xâm lăng như một chuyện đã an bài. Nhưng Đài Loan không phải là Crimea. Chỉ có 10% dân số muốn thống nhất và ít hơn 2% muốn thống nhất càng sớm càng tốt. Hòn đảo này có một xã hội dân sự sinh động có khả năng đưa hàng triệu người biểu tình lên đường chống lại chính phủ Đài Loan, chứ nói gì đến một lực lượng chiếm đóng của Trung Quốc.

Hoa lục có khoảng 1.400 hoả tiễn trên mặt đất nhằm vào Đài Loan, cộng thêm một số hoả tiễn không đối không. Mặc dù có hệ thống phòng thủ chống hoả tiễn – Patriot của Mỹ và các hệ thống khác của Đài Loan – các căn cứ không quân của Đài loan và nhiều hệ thống phòng thủ khác của nó có thể bị phá hủy nhanh chóng bằng tất cả hỏa lực đó. Tuy nhiên, một cuộc xâm lược đòi hỏi phải có quân đội ở chiến trường, trong trường hợp này, quân Trung Quốc cộng sản nằm ở phía bờ bên kia eo biển rộng 180km. Và các lực lượng còn lại của Đài Loan có thể làm cho cuộc vượt biển đó trở nên rất khó khăn. Ông Yang nói rằng, để có một cuộc xâm lăng thành công, Trung Quốc cần phải nhanh chóng tiêu diệt 85% hoặc nhiều hơn hệ thống hoả tiễn của Đài Loan; Nếu còn một nửa số hoả tiễn của Đài Loan sau đợt tấn công đầu tiên, lực lượng xâm lược Trung Quốc sẽ dễ bị tấn công.

Cùng một gốc (Ex uno, plures)

Nếu cuộc xâm lược có thể bị kháng cự, chậm lại, các nước khác sẽ có thời gian để phản ứng. Tại thời điểm đó, bất kỳ người lãnh đạo Trung Quốc nào cũng phải quyết định có nên dừng cuộc xâm lăng hay chấp nhận nguy cơ xung đột có thể lan rộng hơn hay không. Nhưng chắc chắn họ sẽ hết sức tránh những lựa chọn đó nếu có thể. Và đó mới là lực cản thực sự của Đài Loan: nó không cần phải có khả năng để đánh bật quân xâm lược; Đài Loan chỉ cần đủ lực lượng cầm chân đối thủ để có thể có đủ thời gian buộc Trung Quốc lựa chọn giữa một cuộc đảo chính ở lục địa và một cuộc chiến tranh khu vực ở nước ngoài.

Nếu không có sự bảo đảm sẽ chiến thắng chớp nhoáng, đi theo những điều mơ hồ quen thuộc của “một-Trung Quốc” sẽ là điều hợp lý nhất đối với giới lãnh đạo Trung Quốc. Nhưng ngày sẽ càng khó khăn hơn để duy trì những sự mơ hồ đó. Ông Trump có thể quay lại với những nghi ngờ của ông về sự ủng hộ của Mỹ đối với chính sách này; nó không phải là lần đầu tiên ông ta thay đổi ý định. Và thái độ quần chúng ở hai bên eo biển đang trở nên cứng rắn. Không chỉ có người dân ở hải đảo ngày càng thấy mình là người Đài Loan; người ở đại lục, từng coi người Đài Loan là anh em, đã bắt đầu có thái độ lạnh lùng hơn. Họ vẫn thấy người dân đảo Đài Loan như một phần của một nền văn hoá chung, nhưng hiện nay họ đang áp dụng những bài thử lòng trung thành, ví dụ đòi tẩy chay các nghệ sỹ Đài Loan năm ngoái đã không lên án phán quyết của Tòa án Quốc tế đối với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Đoàn Thanh niên Cộng sản, từ lâu đã là cơ sở nền tảng đào tạo  quan chức cho đảng cầm quyền, đã tiến hành một chiến dịch truyền thông trên mạng xã hội ở Trung Quốc chống lại một nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng người Đài Loan Leon Dai (Đái Lập Nhẫn) và đưa ông ta vào sổ đen.

Quan chức Trung Quốc đang khuyến khích nghi ngờ. Số lượng khách du lịch Trung Quốc đến Đài Loan đã giảm hơn một phần ba trong năm qua, đa số là vì nhà chức trách Trung Quốc đã làm cho việc du lịch khó khăn hơn. Các trường đại học Trung Quốc cũng đã yêu cầu Đại học Shih Hsin, ở Đài Loan, không thảo luận về “các chủ đề chính trị nhạy cảm” (như nguyên tắc một-Trung Quốc) với sinh viên trao đổi từ Hoa lục. Một viên chức cao cấp của Quốc Dân Đảng e rằng những ngày ủng hộ Đài Loan ở Hoa lục có thể đã chấm dứt.

Thái độ chính trị cũng cứng rắn hơn. Đài Loan từng có một đảng một-Trung Quốc, Quốc dân Đảng, và một đảng chuộng độc lập, DPP. Nhưng Quốc Dân đảng đang rơi tự do sau khi thất bại trong cuộc bầu cử năm ngoái. Lực lượng phát triển nhanh nhất là Đảng Quyền lực Mới, bắt nguồn từ các cuộc biểu tình của sinh viên chống lại mối quan hệ gần gũi với Trung Quốc; ít nhất là chống lại một-Trung Quốc như đảng DPP. Những cuộc đàn áp của ông Tập Cận Bình với những người bất đồng chính kiến và xã hội dân sự đang dẫn dắt hệ thống chính trị Trung Quốc tách xa khỏi nền dân chủ sinh động của Đài Loan. Sự can thiệp của chính phủ Bắc Kinh với chính trị địa phương của Hồng Kông được được đưa ra để chứng minh rằng “một quốc gia, hai hệ thống”, một công thức được lập ra cho Hong Kong và đã một lần đưa ra mời Đài Loan hội nhập, chỉ là một sự gian lận.

Đối diện với những thực tế này, cả hai bên đều muốn lựa chọn tiếp tục nói rằng khung sườn một-Trung Quốc vẫn đứng vững, và vẫn tìm những sự lúng túng mới để biện minh cho kết quả cuối cùng – Công thức 92. Năm 2011 Wang Yi, giờ là Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, lúc đó là người đứng đầu Văn phòng Nội vụ Đài Loan, nói riêng trong chuyến thăm Washington rằng Trung Quốc có thể xét việc thay thế Công thức 92 và có một số dấu hiệu cho thấy điều này vẫn có thể xảy ra. Mỗi hai tuần giới hữu trách Đài Loan gặp nhau để tìm kiếm sàng lọc những từ ngữ mới. Một công thức mới có thể dùng làm cơ sở cho các cuộc đàm phán trong tương lai.

Giải pháp đơn giản và tự nhiên là thừa nhận có hai Trung Quốc. Nhưng chính quyền cộng sản chưa sẵn sàng để làm điều đó. Thay vào đó, nó buộc người Đài Loan và người Mỹ phải đối phó với sự mơ hồ lúng túng của chính sách một-Trung Quốc, trong lúc cả ba đều từ từ để tiến tới một màn kịch sau cùng, mới và nguy hiểm hơn.

© 2017 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”


Nguồn: The one-China policy – The great obfuscation of one-China. Beijing and Taipei. The Economist | March 11th, 2017.

Tường thuật hành trình giáo dân Song Ngọc đi nộp đơn khởi kiện Formosa

Tường thuật hành trình giáo dân Song Ngọc đi nộp đơn khởi kiện Formosa

GNsP (14.02.2017) – 18 giờ 30: Nhiều giáo dân giáo xứ Song Ngọc, các phóng viên tự do và CTV GNsP bị công an hành hung, đánh đập sưng, bầm tím cả mắt, chảy máu mũi và nhiều vết thương trên cơ thể. Họ cướp tài sản và đập phá tài sản. Một cộng tác viên của GNsP đang tác nghiệp tại hiện trường bị công an hành hung trọng thương và đang cấp cứu tại bệnh viện.

Hiện nay, đoàn đã về giáo xứ Đồng Tháp thuộc xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An để nghi ngơi.

Hơn 1000 người dân thuộc giáo xứ Song Ngọc đi đòi quyền làm người, quyền sống của người dân đã bị nhà cầm quyền ra tay đàn áp, mén đá, dùng súng đạn bắn vào người dân khiến cho nhiều người bị thương – là bằng chứng rõ ràng nhất nhà cầm quyền cộng sản đang “phục vụ” cho dân hay cho Tàu Cộng, khi giới chức cộng sản ra sức “bảo vệ” Formosa do Tàu Cộng đầu tư.

GNsP tạm ngưng tường thuật hành trình đi gửi đơn khởi kiện ngày hôm nay. Có thông tin mới chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật trong bản tin kế tiếp.

clip_image002

17 giờ 45: SÚNG ĐÃ NỔ! Công an đã bắn đạn. Chưa rõ thương vong. Dân đang bị công an dùng dùi cúi đánh đập. Không chỉ riêng cha Thục, nhiều phóng viên bị bắt và đánh máu đổ. Công an đang điên tiết tấn công. Người dân xung quanh đang dần tiến tới. Mong mọi người hiệp thông cầu nguyện cho người dân ở Vinh.

17 giờ 50: Một thanh niên trẻ trong đoàn ngư dân kể rằng, nhóm của anh gồm có 10 người bị công an bắt, đánh đập sưng tím cả mắt, chảy máu miệng.

17 giờ 20: An ninh chìm nổi đang xen vào đoàn ngư dân và phá rối, gây sự rối loạn trong đoàn. Họ dùng đá mém vào đoàn ngư dân. Cha Thục yêu cầu bà con ngư dân quy tụ về một nơi và ngồi xuống đất. Cả đoàn ngư dân cùng cất lên lời kinh nguyện cầu với Đức Mẹ.

CSCĐ đã đánh đập và dùng đạn bắn vào đoàn ngư dân, nhiều người dân bị thương.

https://lh3.googleusercontent.com/-IbWAYP1WwYE/WKUPbxUwt4I/AAAAAAABFEU/9CXgA11jOIg/clip_image004_thumb.jpg?imgmax=800clip_image006

17 giờ 00: Đứng trước đông đảo giới chức cầm quyền, đoàn ngư dân Song Ngọc, cha JB Nguyễn Đình Thục tố cáo công an đã hành hung đánh đập cha cũng như bà con giáo dân, công an cướp điện thoại và đập phá. Cha Thục lên án công an đã đánh đập một phụ nữ lớn cách dã man.

Ông Phó Chủ tịch tỉnh Nghệ An xuống hiện trường nhưng không làm việc trực tiếp với cha. Ông chỉ làm việc với các cha Quản hạt và đề nghị các cha Quản hạt yêu cầu cha Thục và đoàn ngư dân trở về lại giáo xứ. Cha Thục và đoàn ngư dân cương quyết không về và phản đối việc ông Phó chủ tịch tỉnh Nghệ An đã trốn tránh khi không làm việc trực tiếp với cha Quản xứ Song Ngọc – là cha Thục đang đồng hành với bà con ngư dân đi khởi kiện.

clip_image020clip_image024

16 giờ 30: Cha JB Nguyễn Đình Thục bị công an đánh chảy máu miệng. Trước sự vây hãm của lực lượng của chức năng bảo vệ dân nhưng nay ngược đãi dân lành, cha Thục thông báo sự ngăn chặn của lực lượng công an, CSGT, CSCĐ là vi phạm pháp luật, đoàn ngư dân Song Ngọc đang thực hiện đúng quy định của pháp luật và đòi lại quyền làm người của người dân nên không có gì phải sợ và hãy mạnh mẽ lên.

16 giờ 20: Thông tin đáng tin cậy cho GNsP biết, nghe tin có một vị quan chức trong tỉnh Hà Tĩnh đến Tòa Giám mục Vinh, để trao đổi, nhằm ngăn chặn cuộc khiếu kiện của giáo xứ Song Ngọc, tuy nhiên quan điểm của TGM Vinh là: việc đòi lại quyền lợi của người dân đối với Formosa là chính đáng và cần ủng hộ.

Nhà cầm quyền Nghệ An đã thông báo quyết định ngăn chặn đoàn không cho đi gửi đơn khởi kiện, không chấp nhận cho đoàn ngư dân Song Ngọc tiếp tục đi trong tỉnh Nghệ An.

Đầu giờ chiều, nhà cầm quyền huy động khá đông công an, CSCĐ, CSGT, an ninh… ra tay bắt bớ, đàn áp các thanh niên trẻ trong đoàn biểu tình. Đã có một giáo dân bị chảy máu mũi khi bị an ninh hành hung.

16 giờ 15: Cha JB Nguyễn Đình Thục đang bị bao vây nhưng cha vẫn cương quyết chất vấn những người đã đánh đập hành hung con chiên của cha.

15 giờ 45: Nhiều người dân trong đoàn đi nộp đơn khởi kiện đã bị công an bắt, một thanh niên trong đoàn bị đánh đập chảy máu cách dã man.

phóng viên chiến trường đã bị công an bắt, trong đó có các cộng tác viên của GNsP. Công an được huy động đến gây áp lực và khó khăn cho đoàn đi gửi đơn khởi kiện.

16 giờ 00: Nhà cầm quyền Nghệ An huy động lực lượng CSCĐ, CSGT, công an các loại rất đông bao vây đoàn Song Ngọc. Giới chức cầm quyền đã bắt đi nhiều người dân và đưa đi đâu không rõ. Nhiều người lớn tuổi đang đọc kinh cầu nguyện xin Đức Mẹ

15 giờ 30: Một người dân trong đoàn khởi kiện bị công an đánh đập chảy máu một cách dã man.

Đoàn đã đi đến đoạn đường Diễn Hồng, Nghệ An nhưng đã bị công an chặn lại và yêu cầu đoàn đi qua con đường khác thay vì đi thẳng tuyến đường chung. Hiện nay, bà con đang đợi cha Thục xuống giải quyết.

Một viên cảnh sát giao thông hứa rằng, tuyến đường bà con được giành riêng cho đi sẽ an toàn.

clip_image044

15 giờ 10: Bà con giáo dân giáo xứ Phú Vinh chờ đợi phái đoàn Song Ngọc bên đường đã lâu, bà con giáo dân tiếp tục yểm trợ nước và bánh cho bà con trên đường đi. Tại khu vực đường quốc lộ thuộc giáo xứ Thuận Nghĩa, bài hát “trả lại cho dân” được cất cao.

14 giờ 30: Sau khi nghỉ trưa tạm thời bên dưới những mái hiên, ngả mình bên vách cột của nhà xứ Yên Lý, đoàn lại tiếp tục lên đường. Cơn mùa phùn bất chợt đổ xuống nhưng không đủ mạnh để cản những bước chân can đảm đi đòi công lý. Từng người khoác những chiếc áo mưa nylon giản dị, ta lại lên đường và bài hát “Dậy Mà Đi!” lại ngân vang như khúc hành ca giúp tăng thêm tinh thần hăng hái cho bà con.

13 giờ 30: CTV GNsP cho hay, rất đông công an đóng tại cầu Bến Thủy, giáp ranh giữa tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An, đang di chuyển vào khu công nghiệp Nam Cấm thuộc xã Nghi Xá, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Cầu Bến Thủy cách khu công nghiệp Nam Cấm khoảng 20 km về phía thành phố Vinh, Nghệ An. Khu công nghiệp Nam Cấm cách giáo xứ Yên Lý, nơi đoàn ngư dân Song Ngọc đang dừng chân nghỉ trưa, khoảng 15 km.

12 giờ 30: Đoàn nghỉ chân tại Giáo xứ Yên Lý để ăn trưa. Từng xô cơm và thức ăn được chuẩn bị trước được trong khuôn viên của giáo xứ. Đoàn chia thành nhiều nhóm nhỏ ngồi xuống ăn trưa bên cạnh vị mục tử của mình.

Có 3 linh mục thuộc giáo xứ lân cận đến nâng đỡ tinh thần bà con.

clip_image062

12 giờ 15: Đoàn sẽ dừng chân tại giáo xứ Yên Lý để dùng cơm trưa và nghỉ trưa tại đây.

Nhiều người dân sống ven đường những nơi đoàn biểu tình đi qua, họ tràn ra ủng hộ. Người đưa nước, kẻ đưa tiền, vừa tiếp sức mạnh tinh thần lẫn vật chất cho đoàn. Nhiều người trong đoàn đã rơi lệ khi chứng kiến thấy nhiều bà con giáo dân cũng như lương dân tiếp tế nước, bánh và có những lời an ủi, khích lệ tinh thần.

Phái đoàn đi khởi kiện có hơn 1000 người nhưng mọi người luôn giữ ý thức đi trong trật tự và ôn hòa.

Trong đoàn có nhiều người cao niên, trong số đó có một bà cụ ngồi trong đoàn bộ hành đi đòi công lý, trên tay bọc 3 chiếc bánh mì. Bà gói theo lương thực cho mình vì biết chuyến đi này sẽ không dừng lại ở 1 ngày đường

Một cụ ông cùng tham gia đoàn chia sẻ: “Tôi tự hào vì tham gia cùng với giáo xứ. Chúng tôi không chỉ dành làm cho chúng tôi mà cho cả quê hương dân tộc VN”.

Cha G.B Nguyễn Đình Thục là người dẫn đầu đoàn dân hơn 1000 người lên đường khởi kiện vào sáng sớm ngày 14.02.2017 tại giáo xứ Song Ngọc, giáo phận Vinh do cha làm Chánh xứ.

11 giờ 30: Hiện nay, bà con giáo xứ Thanh Cao, Giáo xứ Nguyên Hội, Giáo xứ Đồng Tháp, Đoàn Thiếu nhi Thánh thể của Giáo phận Vinh đang yểm trợ nước và bánh cho đoàn. Lòng nhiệt thành của bà con đã nâng đỡ tinh thần của đoàn. Nhiều người đã rơi nước mắt trước tình cảm đẹp này.

Một bác lớn tuổi tham gia đoàn đi gửi đơn khởi kiện bày tỏ: “Tinh thần tôi hăng say, khí thế, tôi muốn đuổi Formosa ra khỏi VN. Tôi vui và phấn khởi vì có nhiều người đồng hành, nhiều người khát khao đất nước trong sạch, mong muốn Formosa nhận trách nhiệm những thiệt hại đã gây ra cho đồng bào Việt Nam. Trên đường đi chúng tôi bị công an ngăn cản một cách mạnh mẽ nhưng người dân chúng tôi không nhụt ý chí mà còn mạnh mẽ hơn và quyết đi đến cùng để nộp đơn khởi kiện Formosa.”

clip_image111

Một bác lớn tuổi khác chia sẻ: “Trời nắng nóng lắm, vất vả lắm nhưng mình phải cố gắng vì đất nước mình thôi. Sáng nay trời mưa, chúng tôi cũng mặc áo mưa, trời nắng chúng tôi sẽ cởi áo đi tiếp. Tôi nghĩ chúng tôi sẽ không được nhận tiền đền bù nhưng vì quê hương dân tộc chúng tôi sẽ đi cho đến cùng.”

10 giờ 50: Cha Thục yêu cầu bà con sẽ gửi xe máy tại giáo xứ Yên Lý, sau đó cùng nhau xuống đường đi bộ đến Thị xã Kỳ Anh để gửi đơn khởi kiện Formosa. Cha JB Nguyễn Đình Thục hô lớn: “Một ngày, hai ngày, ba ngày chưa đến nơi thì một tuần sẽ đến. Chúng ta phải làm để cho thế giới thấy được công việc của chúng ta là quan trọng và chúng ta sẽ không hổ thẹn với con cháu chúng ta sau này.” Bà con giáo dân đồng thanh hô ủng hộ đi bộ cho khi nào đến được Thị xã Kỳ Anh gửi được đơn thì thôi.

Một cụ ông cùng tham gia đoàn chia sẻ: “Tôi tự hào vì tham gia cùng với giáo xứ. Chúng tôi không chỉ dành làm cho chúng tôi mà cho cả quê hương dân tộc VN”.

Có rất đông an ninh chìm, đeo khẩu trang che kín mặt trà trộn vào đoàn biểu tình quay phim, ly gián người dân và kích động bạo lực. Tuy nhiên cha G.B Thục đã trấn an bà con hãy luôn giữ bầu khí ôn hòa, đừng để rơi vào bẫy của nhóm an ninh.

10 giờ 40: Cha Thục và bà con giáo dân dừng chân tại thị trấn Quỳnh Giang và đang biểu tình tại đây. “Hãy giúp chúng tôi khởi kiện Formosa” là thông điệp chính muốn gửi đến tất cả đồng bào trong và ngoài nước hãy cùng nhau đồng lòng đứng lên bảo vệ quê hương dân tộc trước nạn giặc nội xâm và ngoại xâm.

10 giờ 15: Đoàn khởi kiện đã đến xã Quỳnh Giang, bà con tràn ra đường để chào đón, tiếp nước và một số gia nhập vào đoàn lên đường đi khởi kiện.

10g30: Đoàn đã đến gần bệnh viện Minh Anh thuộc trị trấn Quỳnh Giang và tạm dừng nghỉ chân, uống nước để lấy sức đi tiếp hành trình khởi kiện Formosa, đòi công lý.

 10 giờ: Đoàn tiếp tục lên đường với xe gắn máy hai bánh sau một hồi bị CSGT ngăn chặn. Nhiều hộ dân hai bên đường mang nước ra để tiếp khát cho bà con.

Cha Quản xứ Thuận Nghĩa cùng với bà con giáo dân đứng hai bên vệ đường chào mừng và tiếp sức cho bà con giáo xứ Song Ngọc trên quãng đường đi gửi đơn khởi kiện.

CTV GNsP cho hay, tại cầu Bát Giáp khá đông an ninh chìm nổi có mặt tại đây.

9 giờ 40: Rất đông CSGT, CSCĐ, an ninh chìm nổi được huy động đến để giám sát đoàn biểu tình. Công an tỉnh Nghệ An đến gặp trực tiếp cha Thục và yêu cầu cha đưa bà con giáo dân về lại giáo xứ. Tuy nhiên, cha và bà con giáo dân đã phản đối lời yêu cầu này và nhất quyết không về mà tiếp tục đi gửi đơn khiếu nại Formosa. Cha Thục và bà con tiếp tục hành trình lên đường đi nộp đơn khởi kiện.

9 giờ 00: Hiện tại đoàn đã đến xã Quỳnh Bá, thuộc huyện Quỳnh Lưu. Đã xuất hiện nhiều an ninh hơn theo dõi sát hành trình của bà con. Tuy nhiên không thấy có một dấu hiệu sợ hãi gì nơi dân.

Rất đông an ninh và CSGT đứng hai bên đường nhưng để giữ trật tự cho bà con đi, chưa thấy có dấu hiệu ngăn chặn.

Còn khoảng 200 mét nữa đoàn sẽ đến thị xã Giát. Lúc này, chúng tôi nhận thấy đông CSCĐ, CSGT và cả nhóm dân phòng túc trực hai bên đường đứng… chờ lệnh.

9 giờ 5: Đoàn đến thị xã Giáp, xe của CSCĐ và anh ninh chạy trước mở đường cho bà con. Phía sau bà con từng hai người một trên đoàn xe gắn máy hai bánh tiến lên tay cầm cờ ngũ sắc dương cao thể hiện truyền thống văn hóa hào hùng của dân tộc Việt.

Đoàn người đi qua với những ảnh tình cờ trái ngược nhau. Cờ đỏ nằm trên đầu của các anh ninh sắc phục và cờ ngũ sắc trên tay của người dân. Hình ảnh khác là một lão ông cùng gần 80 tuổi, tay cầm cờ ngũ sắc đang xông pha lên đường cùng đoàn người bộ hành.

8 giờ 45: CTV GNsP cho biết, rất đông công an mặc sắc phục, an ninh chìm nổi bố ráp tại khu vực xã Quỳnh Bá và Quỳnh Ngọc thuộc huyện Quỳnh Lưu. Họ quay phim, chụp hình phái đoàn. Hiện nay, CTV GNsP đang bị an ninh bám sát và theo dõi chặt chẽ.

8 giờ: Tại khu vực đường N5 và quốc lộ 1A thuộc xã Nghi Thuận, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, CTV GNsP đang có mặt tại đây cho biết, Linh mục Giuse Nguyễn Xuân Phương, Quản xứ giáo xứ Nhân Hòa cùng với bà con giáo xứ yểm trợ nước suối, bánh và “tiếp lửa” cho phái đoàn Song Ngọc đi khởi kiện Formosa.

Linh mục JB Nguyễn Đình Thục, Quản xứ Song Ngọc, G.p Vinh và bà con giáo dân Song Ngọc thuộc ba xã Quỳnh Ngọc, Sơn Hải, Quỳnh Thọ đã bắt đầu lên đường đi nạp đơn khởi kiện Formosa vào sáng nay, ngày 14.02.2017.

Tối qua, ngày 13.02.2017, cha Quản xứ JB cho hay, nhà cầm quyền đã gây áp lực các chủ nhà xe – được thuê và hợp đồng trước đó – không được chở phái đoàn giáo dân Song Ngọc đến Thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh để đi nộp đơn khởi kiện Formosa.

Nhiều xe lớn được hợp đồng đã không thể vào trong khu vực giáo xứ Song Ngọc do giới chức địa phương đã huy động CSGT ngăn chặn và kiểm soát các ngả đường đi vào giáo xứ này.

Dự tính nếu không đủ xe, cha và bà con giáo dân sẽ cùng nhau đi bộ và mang các dụng cụ cần thiết như chăn, mùng, mền để phục vụ cho chuyến đi dài ngày với hơn 175 km.

Hiện nay, bà con giáo dân đã đến trước nhà thờ rất đông và ngài đang quy tụ mọi người trước hang đá Đức Mẹ để cầu nguyện sự bình an cho chuyến đi.

Được biết, những người đi tham dự nộp đơn khởi kiện Formosa sẽ mặc áo ghi dòng chữ “Dân Muốn Cá Sống. Formosa Get Out”, và đeo chuỗi mân côi trên cổ để tránh sự trà trộn của an ninh cài cắm người phá bĩnh chuyến hành trình.

Pv.GNsP tại Nghệ An sẽ tiếp tục cập nhật và tường trình đến quý độc giả. Xin quý vị dõi theo.

nguồn: http://www.tinmungchonguoingheo.com

CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA TRUMP LÀ CẨU THẢ HAY CỰC ĐOAN? CẢ HAI.

CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA TRUMP LÀ CẨU THẢ HAY CỰC ĐOAN? CẢ HAI.

Tác giả: Jonathan Stevenson

Mai Sơn, lược dịch

Michael Flynn, Cố vấn An ninh Quốc gia tại tại buổi họp báo hôm thứ Tư 1/2. Ảnh: Nicholas Kamm/AFC — Getty Images

Chỉ mới hai tuần nhậm chức tổng thống, Trump đã khởi động một loạt chính sách ngoại giao gây ồn ào: làm nhục thủ tướng Úc, đe dọa chiến tranh thương mại với Mexico và áp đặt lệnh cấm di trú rất hậu đậu khiến cả thế giới lên án.

Những sơ suất của các chính quyền mới là điều có thể lường trước được. Nhưng lần này số lượng và bản chất của chúng khiến các nhà phân tích thắc mắc liệu chúng có phản ánh sự thiếu mạch lạc và cẩu thả của chính quyền này, hay đó là những bước đi đầu tiên, cực đoan và nguy hiểm trong chính sách ngoại giao. Câu trả lời là có thể cả hai, nếu Hội đồng An ninh Quốc gia của Trump có đóng góp gì vào chuyện đó.

Về mặt nhân sự, cho đến cuối tuần qua, dấu hiệu gây lo lắng nhất là việc Trump bổ nhiệm Michael T. Flynn, một tướng Quân đội ba sao về hưu, làm cố vấn an ninh quốc gia. Để có được một sự nghiệp lớn về chính sách ngoại giao, Flynn gặp phải hai “trở ngại” lớn. Một, ông được xem là một nhà chỉ đạo kém năng lực và độc đoán; năm 2014 ông bị bãi chức Giám đốc Cơ quan Tình báo Quốc phòng vì ông bị ám ảnh rằng Iran có dính líu đến các cuộc tấn công vào tòa đại sứ Mỹ ở Libya – một đánh giá không xứng tầm. Thứ hai, ông rất khinh suất khi bày tỏ quan điểm cực đoan về các chính sách. Ông cho rằng Mỹ phải lao vao cuộc chiến nhiều mặt trận chống khủng bố, hậu thuẫn cho các đồng mình chống Hồi Giáo cứng đầu như Ai Cập, đánh giá thấp các quan hệ với các đối tác chống khủng bố như Saudi Arabia

Có lúc có vẻ như Flynn đã thực sự vào cuộc. Chính sách ngoại giao trước khi nhậm chức của Trump chuyển động – đặc biệt là sự phản bác rõ ràng chính sách “Một Trung Quốc” và sự ve vãn Nga nhằm lôi kéo Nga trở thành một đối tác chống khủng bố cho thấy cách tiếp cận các vấn đề chiến lược của người cố vấn an ninh quốc gia này rất thiếu cẩn trọng.

Suốt tuần qua, tình hình bắt đầu xấu đi. Nhiều tin đồn rộ lên, rằng Trump, như Obama trước đây, đã mệt mỏi với tính hống hách độc đoán của Flynn. Có lẽ để ngăn chặn ông tướng này, Trump đã cất nhắc Stephen Bannon, cố vấn chính trị thân cận nhất của ông, vào vị trí cao nhất trong cỗ máy ra chính sách của Hội đồng An Ninh Quốc gia. Flynn dù sao cũng đã có một sự nghiệp lâu dài trong quân đội và ngoại giao, trong khi Bannon là một người có đầu óc cực hữu, và chỉ là một sĩ quan Hải quân cho đến cuối năm 1983.

Sẽ tệ hại hơn nếu Trump đem đến một quân sư chính trị chỉ để kiểm soát một cố vấn chính sách ương ngạnh (ý nói Flynn). Nhưng đồng thời, ông lại coi thường vị trí truyền thống: chủ tịch Hội đồng Liên quân – cố vấn quân sự chính yếu cho tổng thống. Ông chỉ thỉnh thoảng mời vị này họp.

Nói cách khác, Bannon hiện nay trong thực tế có thể là đồng cố vấn an ninh quốc gia, điều đó khẳng định rằng Trump có kế hoạch gắn chặt tiến trình ra quyết định về ANQG (an ninh quoc gia) với ý hệ chính trị hơn là cảm quan chiến lược và tính khả thi trong hoạt động.

Các học giả nổi tiếng cho rằng chính sách ngoại giao của Mỹ dựa trên dữ liệu đầu vào (input) quân sự và sự kiểm soát dân sự, đồng thời giữ cho các tác động chính trị ở mức tối thiểu. Theo Huntington, các nhà lãnh đạo dân sự phải có tầm nhìn chiến lược nhưng phải làm theo giới quân sự trong khi hành động. Một nghiên cứu về Việt Nam của Tướng McMaster chỉ cho thấy những hậu quả khi cán cân này bị lệch (quân sự bị xem thường).

Hoi đồng ANQG không chỉ tư vấn cho tổng thống; bằng cách điều phối với Bộ ngoại giao, Lầu Năm Góc và các cơ quan khác, nó còn có nhiệm vụ duy trì sự cân bằng này. Để làm việc đó đòi hỏi phải có một nhãn quan cởi mở trí thức và sự bao dung các quan điểm khác biệt. Nhiệm vụ của cố vấn ANQG là thiết đặt và điều phối lịch trình chính sách ngoại giao để xin ý kiến tổng thống, thu nhận dữ liệu của các cơ quan trọng yếu, và giao cho các cơ quan đó thực hiện chính sách. Rất ít khả năng hoặc Bannon hoặc Flynn sẽ tập trung vào loại công việc khó khăn như thế.

Cả hai đều nhìn thế giới qua lăng kính Ghét sợ Hồi giáo, không chấp nhận bất đồng và do đó thu nhận những kẻ bợ đỡ tay sai vào bộ máy của mình. Khuynh hướng của họ sẽ là lập chính sách theo các học thuyết lỗi thời và biến HDANQG thành một buồng ngủ âm vang ý thức hệ, phát đi những sắc lệnh cho các cơ quan thực hiện – chủ yếu là Bộ Ngoại giao và các cơ quan thực thi luật pháp. Bằng chứng là sắc lệnh cấm nhập cư vừa rồi đã không qua sự tham vấn của Bộ Ngoại Giao, Bộ Quốc phòng và Bộ An Ninh Nội địa.

Những sai lầm lớn khác đang thấp thoáng ở chân trời: Trump yêu cầu Saudi và Emirati chung tay thiết lập “vùng an toàn” ở Syria mà từ lâu Lầu Năm Góc và Hội đồng Liên quân đã phản đối. Liệu Bannon và Flynn có tham khảo ý kiến của các Tướng Liên quân về kế hoạch này nếu biết họ sẽ tranh luận chống lại mình?

Có chút hy vọng là Bộ trưởng QP Jim Mattis sẽ hành động như một đối trọng. Ông đã phê phán nhiều ý tưởng của Trump và bộ sậu của Trump, thuyết phục Trump không phục hồi biện pháp tra tấn tù nhân, tỏ rõ lập trường cứng rắn với Nga về Ukraine, ủng hộ giải pháp hai-nhà nước về vấn đề Israel-Palestine và cách tiếp cận Iran có cân nhắc.

Vậy là trong khi Bannon và có lẽ Flynn được Trump lắng nghe, thì Mattis có những khả năng riêng để bù đắp thiếu hụt. Là vị tướng 4 sao, với gia sản quân sự của ông được so sánh với Tướng Dunford, ông có sự hậu thuẫn mạnh trong chính quyền.

Trong các cuộc họp, cố vấn ANQG phải sắp đặt thứ tự đồng thuận về các vấn đề hành động của hội đồng. Bannon và Flynn có thể phun ý thức hệ ra, tung tóe những sự kiện và tin vịt của Flynn; trong khi đó Mattis có thể lên tiếng đầy thẩm quyền về các khả năng, những đánh giá về các mối đe dọa, những thỏa hiệp khu vực và toàn cầu và các hệ quả của chúng.

Chắc còn lâu Quốc hội và các chính trị gia khác mới dứt khoát đứng về phía Mattis chống lại Bannon bệnh hoạn hay Flynn lập dị. Hai người ngày càng bị Lầu Năm Góc, Bộ Ngoai Giao và cộng đồng tình báo phản kháng và bỏ mặc.

Câu hỏi là, như thế đã đủ chưa. Thông thường, một cố vấn ANQG không được ưa thích, không đáng tin cậy sẽ sớm bị đuổi cổ. Nhưng Trump có thể ương bướng đặt cược vào một hoặc cả hai kẻ trung tín này. Có được cả hai làm việc trong HĐANQG, tôi đoán chắc Trump cuối cùng sẽ rũ bỏ trách nhiệm chừng nào ông còn giữ được thể diện. Cho đến lúc đó, tình hình sẽ còn rất u ám. Rất ít hy vọng về một chính sách ngoại giao mạnh có thể dựa trên sự đối lập rộng rãi của cộng đồng quan chức an ninh quốc gia đối với tổng thống và các cố vấn thân cận của ông ta.

New York TimesFB Nguyễn Quang Lập

“ĐẤT NƯỚC MÌNH CÓ BAO GIỜ ĐƯỢC THẾ NÀY CHƯA!?”

“ĐẤT NƯỚC MÌNH CÓ BAO GIỜ ĐƯỢC THẾ NÀY CHƯA!?”
Có một số anh chị thường bảo tôi, “Tại sao không nhìn tới mặt tươi sáng, phát triển của xã hội Việt Nam ngày nay mà toàn nhìn cảnh tiêu cực rồi viết rất u ám, cứ như là xã hội tồi tệ lắm, trong khi thực tế thì người dân vẫn vui, vẫn chơi, vẫn mua nhà sắm xe ầm ầm đấy thôi!”
Tôi suy nghĩ nhiều về lời các anh chị nói. Quả đúng là từ mấy năm qua, tôi rất ít khi viết về sự phát triển, về mặt tốt trong xã hội, tôi đúng là thật tệ.
Tôi nhớ, hồi còn ở Hà Nội, tôi hay ngồi chè chén góc chợ gần nhà mỗi buổi sáng, uống chén chè nóng, chém gió vài câu với các cụ trước khi đi làm. Các cụ bộ đội xuất ngũ, hưu trí thường nói, “So với thời chiến tranh, bao cấp thì giờ sướng lắm rồi. Địt mẹ, bây giờ muốn mua ti vi mua đài xem kênh gì thì tùy ý, lên mạng có thể đọc từ báo chí trong nước đến BBC kể cả trang phản động. Hồi trước tao mua cái đài là phải có giấy giới thiệu, chờ đợi bao ngày và kèm theo bản cam kết KHÔNG NGHE ĐÀI ĐỊCH!” Anh hàng thịt, chị bán rau thì kêu, “Đa đảng thì loạn à!? Chiến tranh khổ lắm. Giờ tụi nó tham nhũng nhưng ít ra mình còn yên ổn để làm ăn. Đa đảng làm đéo gì cho loạn lạc rồi phải chạy giặc, không có cơm mà cho vào mồm.”
Quê tôi miền Tây, giờ về ít thấy cầu tre cầu dừa. Nhà tranh vách lá cũng hiếm dần đi. Nhà tường nhà lầu nhiều hơn, đẹp hơn. Bữa ăn trong nhà cũng thịt cá chứ chẳng mấy người ăn kho quẹt và món rau tập tàng luộc chấm kho quẹt trở thành đặc sản ở Sài Gòn cho người…hoài niệm. Về Sài Gòn, thấy kênh Nhiêu Lộc một thời nước đen quánh hôi thúi giờ trong hơn và khang trang hẳn ra với hàng loạt quán nhậu, cà phê nườm nượp người sáng tối.
Biệt thự, biệt phủ, chung cư cao cấp sang trọng được xây cất trong Nam ngoài Bắc, thậm chí người ta còn dư tiền tỉ xây lăng mộ cho người chết. Xe ô tô sang, xe máy sang, tiện nghi trong nhà từ đầy đủ cho đến cao cấp, trang trí nội thất thì ốp gỗ, hàng Ý sành điệu. Bật cái ti vi màn hình cong cả trăm inch lên với giàn loa chuẩn từng chi tiết là khỏi đi rạp. Các chương trình giải trí, game show tràn ngập trò vui, người đẹp. Báo chí thì toàn người mẫu xinh trai đẹp gái long lanh hút hồn, rồi nào là thực hiện thành công nghị quyết, gương người tốt việc tốt công an giúp dân dọn mảnh thủy tinh vỡ bằng tay không, nhào vào lửa với tay không để chữa cháy…hi sinh xả thân đến thế là cùng.
Lãnh đạo đảng và nhà nước thì bằng cấp đầy mình, toàn thành phần con nhà dòng dõi ưu tú tiếp nối. Tổng bí thư đảng thốt lên một câu hỏi tu từ, “Đất nước mình có bao giờ được thế này chưa!?” để ca ngợi thành tựu của đảng dẫn dắt đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội thành công. Nhân dân hoan ca, mỗi khi có lễ hội là dân mình nườm nượp tham gia chọi trâu, chém lợn, cướp lộc, đủ trò vui nhộn.
Đó. Vậy mà tôi vẫn không hài lòng. Tôi đòi hỏi gì nữa cơ chứ?! Đêm qua, mất ngủ, tôi suy nghĩ và tự trách bản thân mình mãi.
Tôi trách mình khi gặp dân oan thì không quay mặt đi, bĩu môi và phán bừa rằng họ rất tham khi không chịu hiến đất cho chính phủ làm dự án mà lại đòi tiền, đòi tái định cư đàng hoàng tử tế.
Tôi trách mình khi về quê nhìn thấy nhà tường nhà lầu thì không biết chúc mừng họ mà lại lăn tăn câu hỏi con Thu, con Mén, con Huệ, con Hồng “đi làm xa” lâu nay có về không? Con Thảo, con Lan, con Tuyền lấy chồng Đài Loan, chồng Hàn lâu nay có về, có hạnh phúc không? Tôi trách mình không nhìn tiện nghi đầy đủ trong nhà họ để ngợi ca mà lại cứ nhìn vào ánh mắt người già đau đáu và nụ cười gượng khi có ai đó hỏi về mấy đứa con gái trong nhà.
Tôi trách mình khi thấy thức ăn, thịt cá rau củ ngon thì không khen ngon, không ăn nhiều mà lại lo sợ rau xịt thuốc trừ sâu, củ xịt tặng trường, heo nuôi tăng trọng, cá nhiễm kim loại, chế biến có phụ gia..
Tôi trách mình đi ra đường không chịu trầm trồ xe mui trần, xe SH anh kia chạy, chị kia đi để thán phục dân mình sành điệu mà lại cứ chăm chăm quan sát người ta chạy leo lề, bóp còi, vượt đèn đỏ, lấn tuyến và…chửi nhau.
Tôi trách mình không coi chương trình thời sự Việt Nam để học nghị quyết, thấm nhuần chủ trương đường lối của đảng và nhà nước để đi theo và tự hào mà tôi lại toàn coi các chương trình thời sự chính trị của nước ngoài rồi quay ra thắc mắc tại sao nước người ta có an sinh xã hội tốt, tại sao thủ tướng, bộ trưởng của nước người ta lại từ chức khi làm sai mà nước mình thì không, tại sao người nước họ có thể chỉ trích chính phủ, quan chức và xuống đường biểu tình biểu lộ tiếng nói còn ở nước mình thì bị cho là phản động, thế lực thù địch bắt nhốt, đánh đập, tại sao bầu cử nước mình lại kỳ quặc như vậy..
Tôi trách mình khi nhìn thấy nhà máy thép, nhà máy giấy, nhà máy nhiệt điện thì không mừng vì nước mình tiến lên công nghiệp hóa hiện đại hóa mà lại lo sợ ô nhiễm môi trường rồi cứ suốt ngày kêu gào chỗ này ô nhiễm chỗ kia ô nhiễm. Khi thấy thủy điện thì phải tin vào quy trình xả lũ của đảng và nhà máy thì tôi lại cứ gào lên “đó là quy trình khốn nạn, giết người.” Mới có 235 người chết vì lũ tôi đã đòi chính phủ phải để tang mà không chịu hiểu mạng dân chứ đâu phải là mạng đồng chí. Hạn hán, ngập mặn đã có đảng và chính phủ đi xin Trung Quốc xả đập cứu miền Tây, tôi lại cứ ra rả chửi đảng và chính phủ quy hoạch ngu ngốc để phải lệ thuộc và kêu gào đó là nguy cơ chết tới đít. Thấy đảng và chính phủ bao dung cho Formosa tôi lại không coi đó là bước đi chiến lược, là yêu thương đồng chí mà tôi lại coi đó là bao che là không minh bạch là không thương dân.
Tôi trách mình không tự hào vì dân tộc có những tinh hoa cha truyền con nối mà lại chửi mắng đó là hiện tượng con ông cháu cha bè cánh bất tài vô dụng nhờ gia đình mà leo cao. Thấy đồng chí bắn đòm nhau tôi không biết xót xa thương tiếc mà lại phủi đít làm ngơ. Thấy quan chức tham nhũng, làm sai đã bị đảng cho quốc hội đem ra phê bình trước toàn dân tôi lại không lấy đó làm thông cảm mà lại đòi ị vào.
Tôi trách mình không biết vui với lễ hội toàn dân trong Nam ngoài Bắc, không vui với phim Tàu, phim Hàn tràn ngập các kênh tivi mà lại cứ đi ngó nghiêng tìm hiểu mấy cụ già em nhỏ lang thang mưu sinh, người mất nghề mất nghiệp, mất đất lang thang khắp nơi tìm việc rồi lo lắng rồi kêu gào. Tôi trách mình không chịu ngắm biệt thự biệt phủ của quan chức để trầm trồ mà lại cứ nhìn ba bốn người chen chúc một giường bệnh rồi than thở về an sinh xã hội. Khi thấy người ta đánh chết trộm chó thay vì hân hoan là người dân đã giúp cho công an và tòa án xử lý người vi phạm pháp luật thì tôi lại đập đất kêu trời bảo xã hội không có nhân bản, pháp luật không được thượng tôn. Khi thấy học trò đánh nhau quay clip tung lên mạng như cơm bữa, thay vì tự hào là nền giáo dục và xã hội đã khơi gợi được tinh thần anh hùng thiện chiến thì tôi lại bảo giáo dục xuống cấp, mất nhân bản, suy đồi..
Tôi trách mình thay vì nhìn về cái thời bao cấp để biết mình may mắn không phải mua tất tần tật bằng tem phiếu thì tôi lại nhìn qua Hàn, Sinh, Mỹ, Úc rồi ước ao vớ vẩn. Lại còn bày đặt đòi dân chủ tự do trong khi bà Doan đã khẳng định rất rõ là nước mình dân chủ gấp vạn lần hơn tụi tư bản giãy chết.
Tôi trách mình… Mà thôi, trách cả đêm rồi.
“Đất nước mình có bao giờ được thế này chưa?!”
-Thưa tổng bí thư, ơn đảng ơn chính phủ, chưa ạ!
Với tinh thần tự phê, tôi thấy mình thật là tệ quá đi! Các anh chị thấy tôi đáng bị hình thức kỷ luật nào ạ??? Tốt nhất là phải kỷ luật thật nặng vào, cho nó chừa! Inline image
MÌNH THẮC MẮC THÌ MÌNH HỎI THÔI
Khi các đảng viên, quan chức chính phủ, người thi hành công vụ làm sai, làm bậy, làm quấy, làm càn gây ra hậu quả nghiêm trọng mà bị lộ…thì đảng và nhà nước, chính phủ bảo đó là cá biệt, là con người sai chứ không phải do cơ chế, do đường lối, do hệ thống sai.
Ok, em tin luôn!

Khi có việc gì đó gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra mà bị lộ thì các đảng viên, quan chức chính phủ, người thi hành công vụ bảo do lỗi hệ thống, do cơ chế….
Ok, em tin luôn!
Mãi tới hôm nay mới giật mình, nghĩ lại, sao đảng và chính phủ nói xuôi nói ngược kiểu gì mình cũng tin thế nhỉ? Chậc, nhẹ dạ cả tin thế này khéo rất dễ chửa hoang. Lo lo là!
Thắc mắc, rốt cuộc lại thì do lỗi hệ thống hay do con người? Mà thôi, chính trị mệt đầu lắm, các bác cứ để em chửa cũng được

Hiện tượng “Dưa Leo”

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

 

Thời gian gần đây khi kênh YouTube phát triển mạnh lên đã sản sinh ra hàng loạt loại hình dựa trên sự dễ dàng của việc chuyển tải video lên mạng. Hàng trăm người tự viết kịch bản, tự quay phim và post lên YouTube. Ban đầu là tài tử dần dà khi số người theo dõi tăng cao người ta phát hiện ra rằng càng nhiều người xem thì YouTube càng lấy được nhiều quảng cáo và vì vậy Google có thể san sẻ lợi nhuận cho tác giả.

Từ chuyện xã hội

Bắt đầu từ đó, những video clip ngắn xuất hiện ồ ạt dưới cái tên vlog. Hàng chục tác giả đã dùng nó như một phương tiện kiếm sống bằng tác phẩm của mình. Đề tài cho mỗi một vlog riêng rất khác nhau. Có người nói về thời trang và các phong trào quần áo hàng hiệu. Có người giả tiếng ca sĩ hát những bài nhạc chế, có người kể chuyện ma, chuyện ở xứ người hay chuyện của các cô gái chàng trai đi phượt….tất cả mọi đề tài xuất hiện như nấm sau mưa, duy chỉ một Vlog chọn đề tài khác với tất cả đó là hiện trạng xã hội cùng các chính sách sai lầm của chính quyền, đó là Dưa Leo, một nghệ sĩ hài chọn thể loại độc thoại với những chủ đề xã hội chính trị rất nhạy cảm đối với chính quyền.

Bằng một phong cách hài hước nhẹ nhàng hóm hỉnh, Nguyễn Phúc Gia Huy với nghệ danh Dưa Leo mang tới cho người xem những câu chuyện đời thường khác nhau. Cách phân tích tình huống của người nghệ sĩ này có nét riêng và gây cho người xem chú ý. Đề tài anh chọn thường là thời sự và xuất hiện trên mặt báo hàng ngày. Anh dựa vào tin tức và những con số trong mỗi bản tin lọc chúng ra trình bày lại theo nhãn quan của mình. Kết quả là người xem thấy được vấn đề phía sau những thông tin ấy. Những vấn đề mà trước đây họ không nghĩ đến hay chưa có dịp nghiền ngẫm. Dưa Leo không phải là tác giả của những phóng sự điều tra, anh chỉ là người bỏ công lọc ra đề tài nào mà khán giả của anh ưa thích.

Dưa Leo càng nói về những điều thiết thực nhất thì số view càng lên cao nhất, những câu chuyện hôi của, khoe mẻ của các ngôi sao, bạo hành trong học đường, tham nhũng, hay ngay cả việc giới trẻ bị lên án là thiếu lòng yêu quê hương Dưa Leo cũng chứng minh được là họ hoàn toàn vô tội. Những clip ngắn của anh không phải để giải trí mà là những bài học ứng xử cũng như ý thức chính trị của mỗi công dân được mổ xẻ một cách thú vị qua lối dẫn chuyện đầy tính cách của anh.

Toàn bộ các video clip mà Dưa Leo thực hiện xem ra vô hại đối với người dân nhưng chính sự mở ra những góc tối trong tâm hồn của người trẻ mới là điều mà chính quyền để ý.

Cuối cùng thì anh cũng bị công an mời lên làm việc nhưng người dân cho rằng khó mà bắt bẻ được anh bởi bằng chứng còn hiển hiện ra đó không lý do gì có thể kết tội anh được.

Vài mươi người hâm mộ tập trung trước trụ sở công an chờ anh ra để hỏi anh có bị hăm dọa, hành hung hay bất cứ điều gì tồi tệ hay không. Câu trả lời là “không” và anh lại tiếp tục làm thêm vài clip mới nữa. Sau khi về nhà anh gửi đi một thông điệp mới trong đó anh nói: “Tui muốn truyền đạt một thông điệp trong cái clip này: tui là một diễn viên hài như tui từng nói. Mục đích chính là kiếm like, kiếm view ha hah…mục đích phụ của tui cũng bằng mục đích chính luôn đó là làm cho đất nước Việt Nam ngày càng phát triển hơn.

Tui dùng tiếng nói của mình để vạch ra những thói xấu của xã hội vì tui là người Việt Nam như bạn, tui rất muốn đất nước Việt Nam này phát triển hơn. Các bạn ra nước ngoài càng nhiều thì các bạn càng cảm thấy khó chịu. Thấy nước ngoài người ta đẹp bao nhiêu thì mình cảm thấy khó chịu bấy nhiêu bởi vì người ta cũng đầu, cũng tay chân mặt mũi y chang mình…nhưng có điều không đẹp trai bằng mình (hài hước) đặc biệt là tui! Tui thanh lịch khắp vũ trụ không ai đẹp trai bằng! Nhưng tại sao đất nước người ta giàu như vậy? Người ta tốt như vậy mà nước mình cũng những con người có gì khác họ đâu mà lại không làm được như vậy. Đó là những câu hỏi tui rất bức bối cho nên tui làm clip tui muốn thay đổi xã hội thông qua những clip mắc cười của tui.

Tui cần một người nói lên cái sai trái trong xã hội, tui không thấy ai làm hết, vâng, tui làm mặc dù tui làm thì bị chửi nhưng kệ, vì đó là chuyện tui có thể làm tốt được điều đó. Các bạn thấy tui nói clip các bạn ủng hộ tui cám ơn nhưng điều tui muốn các bạn không chỉ ủng hộ tui không mà các bạn nên share cái clip đó ra cho những người chưa biết tới tui.”

Đến chuyện chính trị

Câu chuyện gần nhất là cái quốc tang dành cho lãnh tụ Fidel Castro, hãy nghe anh phân tích:

000_II41P-400.jpg
Vòng hoa của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trước Đại sứ quán Cuba tại Hà Nội hôm 28/11/2016. AFP photo

“Nói thẳng ra là tui coi tin ở trên báo thì ngày 4 tháng 12 chúng ta chọn làm ngày quốc tang ông Fidel Castro. Oh! Lạ nha, Việt Nam để quốc tang ông Cuba còn dân Cuba thì lại ăn mừng cái chết của ổng. Có chuyện gì đó nó sai sai nó không đúng nè! Mà tui không biết chuyện gì! suy nghĩ nãy giờ mà nó không ra, đầu óc sao ngây thơ dữ vậy nè? Oh, mà chắc các bạn đã nghĩ ra rồi cho nên tui nghĩ các bạn có quyết định riêng của mình….tui kết luận riêng này nha, không riêng gì đâu, mệt lắm, mắc công lắm ở cái xứ này các bạn cũng biết mà nói tùm lum trúng tà la là chết cha mày luôn! Chưa kể mình cũng có thể chết nữa!

Tại sao ở Việt Nam mình người chết một đống. Lũ lụt thiên tai vừa rồi ở miền Trung chết quá trời người luôn. Rồi thêm ảnh hưởng Formosa cũng chết nữa tới bây giờ sao không thấy quốc tang nào hết vậy! Ah, nhức đầu quá đầu óc bé nhỏ này không thể nào suy nghĩ được vấn đề lớn lao như vậy, Oh đau đầu quá.. .bye bye….”

Còn chuyện tham nhũng ư? Thay vì nói rằng trên thế giới nước nào cũng có tham nhũng, Dưa Leo thông minh và tinh tế hơn khi nói rằng chính ông bà tổ tiên của người Việt mới là vua tham nhũng, hãy nghe anh lý luận: “Ngay cả trong văn hóa Việt Nam cũng ủng hộ chuyện tham nhũng! “Một người làm quan cả họ được nhờ”! Cái tinh thần tham nhũng được đúc kết thành tục ngữ thì đi đời cả dân tộc rồi còn gì nữa? Ai cũng nghĩ mình lên làm quan thì mình kéo cả gia đình giòng họ của mình vô đục khoét! Đục khoét, đục khoét….chết, chết, chết”

Từ chuyện tham nhũng trong cách nghĩ của người Việt tới tham nhũng thật sự trong hệ thống đảng, Dưa Leo trở thành một nhà báo giỏi khi dẫn chỉ thị 15 để chứng minh rằng tại sao tham nhũng không thể bị bắt, anh nói:

“Mà các bạn cũng biết ở Việt Nam muốn nắm quyền hành cao thì phải là đảng viên, mà đảng viên theo chỉ thị 15 thì công an không đụng vô được. Nó giống như Thượng phương bảo kiếm của Bao Công đó các bạn! Vậy thì sao? Các bạn kết luận cho bản thân nhé.

Các bạn hãy nhìn bậc lương của những người chức vụ cao trong đất nước mình đi. Các bạn thấy không, còn thua mấy bà bán xôi, bán bánh mì nữa. Mà mức lương đó là mức sống ở thành phố thôi vậy mà ai cũng sống, sống khỏe. Oh! Thế này là thế nào nhỉ? Tui nói thiệt, tui rất đồng ý với lời nói của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. . . . . “Đánh tham nhũng không khác nào ta tự đánh ta!”

Chuyện đất nước

Nhìn sang chuyện yêu nước của thanh niên Dưa Leo cho rằng hiện trạng xã hội đã dạy cho học sinh sinh viên thói hư từ lúc các bạn còn rất nhỏ, bắt đầu từ gia đình, anh nói:

043_dpa-pa_161103-99-42742_dpai-400.jpg
Học sinh ngồi trong khán phòng tại buổi khai mạc chương trình nghiên cứu German and European Law ở đại học luật Hà Nội hôm 31/10/2016.AFP photo

“Trong gia đình chỉ bàn chuyện game show xàm xí, những bộ phim truyền hình dài mấy trăm ngàn tập thì thoải mái lắm nhưng nói chuyện về đất nước thì “im đi” không được nói, nói mắc công lắm. Mất công cái gì? Ở nhà thì cấm đoán rất là dễ nhưng dạy dỗ thì quá ít. Tui nói thiệt, ở Việt Nam số lượng gia đình mỗi lần gặp nhau truyền thụ cho con cái những phim nào hay sách nào đọc hữu ích thì quá ít, toàn là ăn với nhậu không à! Mà bản chất con nít thì nó bắt chước người lớn. Hồi còn nhỏ nó thấy ba má ông bà nó gặp nhau là nhậu thì khi lớn lên nó cũng nhậu. Nó bị cấm đoán nói về đất nước riết nó không thèm quan tâm luôn, nó chỉ quan tâm chuyện nhậu, nhậu, nhậu và nhậu!”

Và gia đình suy ra chỉ là cái vỏ bọc trốn trách nhiêm, chính nhà trường mới là tác nhân chính làm cho học sinh mất hẳn lòng yêu nước:

“Ở Việt Nam có một thể loại giáo dục theo kiểu hiệu trưởng ra công văn răn đe tất cả học sinh sinh viên rằng mấy em không được quan tâm bất cứ sự kiện nào liên quan tới đất nước hết. Đứa nào tham gia thì đến trường uống trà với thầy! nặng hơn thì thầy hạ bậc hạnh kiểm hoặc là bị đuổi học.

Không có một nền giáo dục nào theo kiểu đi vô Facebook cá nhân của từng học sinh, sinh viên để coi tụi nó nói cái gì? nhà trường không phải coi theo kiểu rút kinh nghiệm thấy mình sai thì sửa mà là coi xem đứa nào nói xong rồi trừng trị tụi nó bởi vì dám nói lên cái xấu cái sai của trường. Một nền giáo dục kiểu gì mà điều động giáo viên nữ đi tiếp khách lại xem là chuyện bình thường. . . chuyện mà học sinh sinh viên đứng lên phản đối những quy tắc, những cách làm việc sai lầm thì lại viết bài báo hỏi rằng đằng sau tụi nó có ai giật dây không?

Nền giáo dục có kiểu nói mấy em không được quan tâm tới đất nước thì làm sao có học sinh nó quan tâm tới đất nước này! Ah hah”.

Vai trò của báo chí bào mòn lòng yêu nước của thanh niên Việt Nam không phải nhỏ, Dưa Leo chứng minh dễ dàng sự định hướng dư luận của các tờ báo lá cải:

“Báo chí chúng ta tập trung có hai vấn đề: vú và tiền. Chuyện của nữ đại gia quần áo hàng hiệu, đầm hở vai đầm lưng trần. . .tất cả liên quan tới khoe của, tới những thứ vật chất không có liên quan tới đầu óc hay đất nước gì hết.

Những bài viết về đất nước thì phần lớn tập trung ở hai tờ báo dành cho mấy ông già coi đó là Tuổi Trẻ và Thanh Niên. Còn tuổi trẻ thật thì tụi nó đọc Kênh 14. Kênh 14 thì kiếm đỏ con mắt cũng không ra một bài viết về đất nước nữa mà có rất nhiều bài nói về những sao Hoa ngữ, hay nói cách khác là những đứa nổi tiếng ở bên Trung + , những đứa mà mở miệng ra là nói Hoàng Sa, Trường Sa là của tụi nó, một tấc đất cũng không nhường cho ai hết, vậy mà vẫn tiếp tục đưa tin về những ngôi sao Hoa ngữ sao quần (…) Các bạn thấy đó, xã hội không cho tuổi trẻ có cơ hội để mà tập trung suy nghĩ về tương lai đất nước thì lỗi không phải của tụi nó, lỗi ở xã hội! cho nên chúng ta đừng có mở miệng chỉ trích giới trẻ nữa”.

Sau khi bị mời làm việc, trang Vlog của Dưa Leo có số truy cập lên gấp đôi. Trang Fanpage của anh có gần 1 triệu like và hầu hết là thanh thiếu niên. Sự thích thú của người xem anh ngày một tăng mạnh bất kể công an chìm nổi soi xét từng comment một. Hiện tượng này cho thấy, tài năng cộng với tấm lòng sẽ cho ra những sản phẩm hấp dẫn mà những sản phẩm giả mạo khác không thể nào thay thế.

Đã đến lúc phải xóa bỏ đảng cộng sản

Đã đến lúc phải xóa bỏ đảng cộng sản

Đã đến lúc phải xóa bỏ đảng cộng sản (Phần – III)

Đại Nghĩa (Danlambao) – Phải xóa bỏ đảng CSVN, có như thế mới:Xóa bỏ được công hàm bán Hoàng Sa-Trường Sa của Phạm Văn Đồng; Xóa bỏ mật ước thần phục TC ở Thành Đô của Nguyễn Văn Linh; Xóa bỏ sự độc tài toàn trị, độc đảng và xây dựng đất nước Độc lập, Tự do, Dân chủ, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam…
*
Hành động của cộng sản là đấu tranh giai cấp và mục tiêu của cộng sản là giành chánh quyền. Để thực hiện mục đích này cộng sản lấy quân đội với công an làm lực lượng xung kích với châm ngôn “quân đội trung với đảng” còn công an thì “chỉ biết còn đảng còn mình”. Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành qua sự tập họp những thành phần thanh niên bất hảo, nhẹ dạ cả tin, theo cựu Trung tá QĐND Trần Anh Kim, nguyên Phó Bí thư tỉnh đội Thái Bình, người đang thọ án tù 5 năm 6 tháng về tội hoạt động lật đổ chính phủ nói:
“Khi đang hình thành, thì họ kết nạp phần lớn kẻ khố rách áo ôm, kém học vấn, rất vô văn hóa, rồi đảng dạy cho lũ cốt cán cách ‘vu oan giá họa’, ‘ngậm máu phun người’… Những thành phần trên được tập hợp lại thành một tổ chức gọi là ‘Đảng Cộng sản Việt Nam’.
Thời kỳ đổi mới, đảng CSVN lộ nguyên hình là một đảng ăn cướp. Hành vi ăn cướp của đảng ngày càng thô thiển, trắng trợn, dã man, tàn bạo… sự suy đồi về đạo đức cũng ngày càng tồi tệ”. (ThoiLuan ngay 8-8-2008).
Nhà văn Đại tá QĐND Phạm Đình Trọng trong bài “Về với dân” cũng nói lên sự nhận định của mình về đường lối sai lầm và hành động lừa dối của đảng CSVN như sau:
“Ra đời bởi học thuyết sai trái, nhà nước CSVN phải tồn tại bằng dối trá. Với nhà nước CSVN dối trá đó, mỗi người dân ngay thẳng, lương thiện, chân chính đều mang một nỗi oan khiên”. (Boxitvn online ngày 30-10-2013)
Ở đất nước Việt Nam ngày nay nhân dân phải sống dưới ách độc tài toàn trị của một đảng bán nước duy nhất là đảng CSVN. Ngay sau khi nắm được chính quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam thì đảng cộng sản chiếm độc quyền cai trị. Muốn được nắm độc quyền cai trị muôn năm họ dựng nên cái Điều 4 trong Hiến pháp năm 1992 và duy trì điều này trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013 mặc dù cho có nhiều ý kiến của những vị lão thành trí thức cách mạng yêu cầu hủy bỏ nó nhưng nguyên chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã nói: “không có chuyện đó, bỏ nó là tự sát”.
Thực sự ở vị thế ngày nay, đảng CSVN bỏ Điều 4 ra là chết ngay và chết chắc. Sở dỉ họ cố bám Điều 4 là họ cố duy trì quyền lực của đảng “muôn năm” cũng như để bảo vệ những “thành quả” mà họ và gia đình vơ vét được. Để minh định đường lối cầm quyền của đảng CS đối với dân tộc Việt Nam, TBT đảng Nguyễn Phú Trọng đã lẩm cẩm và ngụy biện lòng vòng một cách trơ trẻn như sau:
“Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua tổ chức nhà nước dưới sự lãnh đạo của đảng… Nhà nước ta không tam quyền phân lập”. (RFA online ngày 21-5-2012)
Sau lời tuyên bố cực kỳ đầy mâu thuẩn và phản động của TBT Trọng những nhà trí thức cách mạng đồng thanh lên tiếng phản bác, điển hình như Giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội đã nhận xét:
“Một nhà nước khi mà tuyên bố rằng không tán thành quan điểm tam quyền phân lập thì ai kiểm tra khi nhóm đặc quyền đặc lợi tha hồ tung hứng?…
Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQ TP HCM tuyên bố: “Một nhà nước không có tam quyền phân lập là một nhà nước toàn trị như vậy không có ai chịu trách nhiệm cả”. (RFA online ngày 27-5-2012)
Có lần nguyên Đại sứ CSVN tại Thái Lan, ông Nguyễn Trung trao đổi với nhà báo Tống Văn Công về tình hình suy thoái của đảng CSVN, ông Công viết:
“Anh Nguyễn Trung gọi là ‘đảng hóa’. Thực chất là đảng trị, là chế độ Toàn trị của đảng, đưa đến thoái hóa hệ thống chính trị, suy đồi văn hóa đạo đức hôm nay! Những điều anh Nguyễn Trung bức xúc hỏi: ‘Tại sao cái chất của nhân dân, do dân, vì dân của nhà nước ta vẫn rất thấp?’ Tại sao những cái ‘giả, diễn, ảo’ đang trở thành nguồn sống của tất cả những ký sinh làm hao mòn sức sống của đất nước?” (DanLuan online ngày 4-10-2011)
Những nhà lãnh đạo đảng CSVN trước khi về vườn đã cấy những hạt giống đỏ để nối ngôi như Nông Quốc Tuấn con trai của Nông Đức Mạnh, Nguyễn Thanh Nghị, Nguyễn Minh Triết con trai của Nguyễn Tấn Dũng, Lê Trương Hải Hiếu con trai của Lê Thanh Hải, Nguyễn Bá Cảnh con trai của Nguyễn Bá Thanh, Tô Linh Hương con gái của Tô Huy Rứa… đã được “cơ cấu” vào các chức vụ quan trọng nhằm bảo vệ “bãi đáp an toàn” cho các “khứa lão”.
“Con vua thì được làm vua, con sải ở chùa đi quét lá đa”
Vì thế cho nên trong bài “Hiểm họa đen”, ông Nguyễn Trung viết:
“Tính đảng trị của chế độ này tạo ra cho truyền thống phong kiến cũ cha truyền con nối cái phương thức mới “làm vua tập thể” (Nguyễn Văn An) để duy trì chế độ đảng mặc nhiên và mãi mãi cầm quyền cai trị đất nước. Trên thực tế đã hình thành sự phân chia: đảng CSVN trở thành kẻ cai trị, nhân dân trở thành người bị cai trị”. (Boxitvn online ngày 22-7-2014 – trang 13)
Sự lãnh đạo đất nước của đảng CSVN trong thời kỳ xây dựng và phát triển đã bộc lộ sự kém tài và thiếu đức đang đưa đất nước đến chỗ suy vong theo như sự nhận định của Đại Tá Phạm Đình Trọng:
“… đảng CSVN, một tổ chức chính trị đã dùng bạo lực tàn nhẫn ứng xử với dân tộc Việt Nam văn hiến và đã đem lại cho dân Việt Nam gần một thế kỷ cách mạng, chiến tranh đẵm máu, li tán dân tộc, tan hoang đất nước. Đảng Cộng sản tồn tại bằng độc quyền quyền lực. Xóa bỏ độc quyền quyền lực là xóa bỏ sự tồn tại của đảng cộng sản…
 
Đảng cộng sản tự đặt vào thế đối lập với nhân dân, trở thành vật cản của dòng chảy lịch sử, kìm hãm đất nước trong trì trệ, đưa đất nước vào khủng bố, đàn áp đẫm máu, vào bạo lực, rối ren, giam cầm nhân dân trong ngục tù, nhục hình của chuyên chính vô sản, đày ải, vô hiệu, thủ tiêu nhiều tài năng, trí tuệ và khí phách dân tộc”. (ĐanChimViet online ngày 7-2-12)
Trung tướng Đặng Quốc Bảo, em họ của Chủ tịch Trường Chinh trong lần trò chuyện với hai Đại tá Tạ Cao Sơn và Đại tá Quách Hải Lượng ông nói về cái đảng CS độc tài toàn trị của ông như sau:
“Chủ nghĩa tư bản phát triển có cơ chế và yếu tố chống độc tài. Những người cộng sản không học được điều này ở CNTB. Cho nên, khi lên cầm quyền đã thâu tóm quyền lực vào đảng, rồi chỉ là một tập đoàn, một nhóm người, cuối cùng là quyền lực của một người. Đảng cộng sản độc tài là như vậy. Chúng ta cần tạo cho CNTB xuất hiện ở Việt Nam…
 
Độc tài của cộng sản ghê gớm lắm. Thâu tóm quyền lực, lừa bịp nhân dân, biến người dân thành nô lệ”. (ĐanChimViet online ngày 3-9-2009)
Ngày nay, đảng CSVN đang sợ nhất là “tự diễn biến”, là sự rệu rã thoái hóa từ bên trong đảng hơn là sợ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch từ bên ngoài. Vì thế mà họ đã gia tăng “xây dựng đảng”, “chỉnh đốn đảng” để đối phó với tình hình “rã đám” ngày càng nghiêm trọng. Giáo sư Thiếu tướng Bùi Phan Kỳ cảnh báo:
“Nếu những người cộng sản không ‘tự diễn biến’ thì ‘diễn biến hòa bình’ ‘có ba đầu, sáu tay’ cũng không làm gì nổi.
 
Vậy thế nào là ‘tự diễn biến’? Thực ra các hiện tượng này đã được báo chí chính trị trước Đại hội X nhắc đến. Đó là tình trạng ‘suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên’, là những biểu hiện ‘xa rời mục tiêu của CNXH’, ‘tham nhũng, lãng phí, quan liêu’, ‘ chạy chức chạy quyền”. (BaoMoi online ngày 10-1-2010)
Sự suy thoái và hao mòn quyền lực của đảng CSVN đã đến hồi báo động, ngay cả TBT Nguyễn Phú Trọng cũng phải lên tiếng cảnh báo:
“Ông nói với Hội nghị rằng điều đáng lo ngại nhất và cũng là nguy cơ lớn hất đối với một đảng cầm quyền ‘có bộ phận suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống’.
 
Có người công khai bày tỏ ý kiến trái với Cương lĩnh, Điều lệ đảng làm trái nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, thậm chí có người ‘sám hối’, ‘trở cờ’; tình trạng tham nhũng, quan liêu, xa dân, tổ chức không chặt chẽ, nhiều nguyên tắc của đảng bị vi phạm”. (Boxitvn online ngày 29-2-2012)
Đảng CSVN mắc phải cái bệnh cố hữu của xã hội loài người là: tham nhũng; tham nhũng thời nào cũng có, ở đâu cũng có nhưng tùy hoàn cảnh mà có mức độ khác nhau, nhưng đặc biệt là ở cái xứ gọi là CHXHCNVN thì tham nhũng ở chế độ này hơn chế độ trước và năm sau cao hơn năm trước vì nó tiến mạnh, tiến nhanh, tiến vững chắc trên bước đường “tự diệt” từ tiền triệu sang tiền tỷ rồi chục tỷ…
Trong lần tiếp xúc với cử tri quận I Sài Gòn, ông Trương Tấn Sang, lúc bấy giờ đang là ứng cử viên phát biểu:
“Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ cái đất nước này”. (Vietnamnet online ngày 7-5-2011)
Nhân ngày 22-8, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang viết trong bài Ngày Quốc khánh 2-9 bọc bạch về tình trạng phân hóa trong đảng CSVN do những “nhóm lợi ích” như sau:
“Xuất hiện những người có tư tưởng xa lạ, chỉ luôn rình rập mọi sơ hở để chống đối, để ‘chọc gậy bánh xe’, thậm chí để ‘cõng rắng cắn gà nhà”. (NguoiLaoĐong online ngày 23-8-2012)
Đứng trước hiểm họa ngoài biển thì mất đảo trong đất liền thì mất rừng đầu nguồn phía Bắc, mất quặng mỏ Tây nguyên, mất bờ biển cảng Vũng Áng miền Trung, mất đất làm Thành phố Tàu ở Bình Dương…bọn CSVN chỉ biết lo thu vén. Trong nước từ Nam chí Bắc bọn gián điệp Tàu giả dạng công nhân lao động, giả dạng thương buôn đang tung người đi dò la khắp nước đồng thời đánh phá nền kinh tế của nhân dân ta. Trước tình hình Hán hóa của những tên Hán gian, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang một người yêu nước đấu tranh không ngừng nghĩ đã viết lên tâm sự qua bài “Một người lính biết suy tư”.
“Chỉ vì quyền lợi ích kỉ của đảng, những người lãnh đạo đảng CSVN duy trì CNXH! Lại vì quyền lợi ích kỉ của đảng, lãnh đạo đảng CSVN thí bỏ lợi ích dân tộc đánh đổi lấy sự bảo lãnh của bành trướng Trung Hoa!…
 
… để đánh đổi lấy sự bảo lãnh của bành trướng Trung Hoa! Những người lãnh đạo đảng CSVN sẳn sàn mở đường rước con voi Trung Hoa về giày mả tổ mình…
 
Ôi chao, nhục nhã ê chề quá! Cố giữ liên minh với sức mạnh bạo lực Trung Hoa làm điểm tựa cho đảng CSVN tồn tại, dân tộc Việt Nam phải chịu hết nỗi nhục này đến nỗi nhục khác rồi tất yếu dẫn đến tận cùng nỗi nhục là mất nước!”(ĐanChimViet online ngày 15-11-2012)
Một hậu quả tai hại mà đảng cộng sản gây ra cho dân tộc Việt Nam là nguy cơ mất nước một lần nữa vào tay bọn bá quyền Bắc Kinh. Đại tá Phạm Đình Trọngngười đã từ bỏ đảng sau bao nhiêu năm phục vụ vì ông đã thấy được cái đảng cộng sản ngày nay chỉ còn là một đảng bán nước mưu cầu sự tồn tại để bảo vệ quyền thống trị.
“Nguy cơ chính trị đưa đất nước trở về thời ngàn năm Bắc thuộc, đẩy dân tộc Việt Nam vào thân phân nô lệ tũi nhục. Chính trị đồng hóa dân tộc Việt Nam về ý thức hệ với Đại Hán, mở đường cho Đại Hán thực hiện tham vọng thôn tính Việt Nam…
 
Đặt giai cấp lên trên dân tộc, coi lợi ích của đảng cộng sản, đảng của giai cấp vô sản lớn hơn lợi ích dân tộc, coi sự sống còn của đảng cộng sản cần thiết hơn sự sống còn của dân tộc Việt Nam…” (ĐanChimViet online ngày 6-9-2012)
Còn đảng CSVN là còn nguy cơ mất nước vào tay bọn bành trướng Bắc Kinh ngày càng lộ rõ. Đảng CSVN đã lệ thuộc đảng CSTC sâu nặng qua tình đồng chí, đồng đảng, nợ nần trong thời kỳ chiến tranh và hơn thế nữa là chỗ dựa cho đảng CSVN ngày nay.
Trong lần trò chuyện với Đại tá Tạ Cao Sơn và Đại tá Quách Hải Lượng, Trung tướng Đặng Quốc Bảo đã nhận định rằng:
“Trung Quốc tham vô đáy, không khéo ta sẽ từng bước trở thành bộ phận Trung Quốc. Vì nói phải ngã về Trung Quốc để được yên là chủ nghĩa đầu hàng, chủ nghĩa thất bại. Ngã theo Trung Quốc thực chất là bán nước”. (ĐanChim Viet online ngày 3-9-2009)
Đảng CSVN ngày nay đang trên đà suy thoái với tư tưởng bán nước cầu vinh, không còn đủ khả năng cũng như uy tính để đưa con thuyền dân tộc qua cơn sóng gió trước tham vọng của Bắc kinh. Chỉ còn con đường lựa chọn duy nhất là cần phải từ bỏ chủ nghĩa “đồng chí” với giặc Tàu cũng như mạnh tay đập tan 16 chữ vàng và 4 tốt, “không hữu nghị viễn vông”, đứng thẳng lưng lên “nhắm quân thù mà bắn” mới mong kết hợp được sức mạnh của toàn dân bảo vệ Tổ quốc. Tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã nói rõ:
“Trong thực tiễn Việt Nam hiện nay nói thoát Cựu hay thoát Cộng hay ‘vượt qua chính mình’ thực ra là cùng một nghĩa, tuy ‘vượt qua chính mình’ là cách nói dễ nghe hơn, nhưng tôi xin được dùng chữ thoát Cộng vì đúng thực chất nhất…
 
Toàn bộ kế hoạch ‘đô hộ kiểu mới’ mấy chục năm nay của Trung cộng được thiết kế trên hai chữ Cộng sản, giữ cái nền Cộng sản là giúp cho mưu đồ Hán hóa có một ưu thế ở tầm chiến lược.
 
Giữ Cộng sản thì Việt Nam bị ràng buộc bởi quá khứ đầy nợ nần và lầm lỡ, chẳng hạn như công hàm 1958, cam kết Thành Đô, các ký kết thời Lê Khả Phiêu, thời Nông Đức Mạnh, thời Nguyễn Phú Trọng…” (Boxitvn online ngày 3-6-2014)
Khi đã nhận thấy được sự tác hại của đảng CSVN hẳn nhiên là lòng dân bất mãn và khinh ghét, dĩ nhiên người ta không còn muốn có sự tồn tại của nó nữa. Nhưng có điều nhân dân Việt Nam ai cũng biết rằng đảng CSVN đang cố sức bám víu vào việc sinh tồn để bảo vệ quyền lực và tài sản đã vơ vét được, vì thế cho nên muốn giải trừ đảng CS này cũng không phải là dễ, nghĩa là rất khó, tuy nhiên khó chớ không phải là không làm được vì dù “khó vạn lần dân liệu cũng xong!”
Cụ Nguyễn Trải xưa có câu: “Chèo thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân cũng là dân” thì với tình hình đảng CSVN ngày nay theo ông Lê Kiến Thành, con trai của cố TBT Lê Duẫn nhận định thì:
“Bộ chính trị, các thành viên hiểu rằng đảng, hoặc sẽ phải tự chuyễn đổi hoặc sẽ bị chuyễn đổi chính người dân. Bên Liên Xô đã mạnh mẽ hơn CSVN nhưng chúng ta biết nó đã bị đào thải”. (DanLuan online ngày 7-10-2011)
Ông Trần Ngọc Thành, một đảng viên ‘vứt thẻ đảng’ từ năm 1990 sau khi tận mắt chứng kiến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu và Liên Xô, ông Thành viết:
“Thật trớ trêu: chủ nghĩa cộng sản lấy giai cấp công nhân làm nền tảng, làm chỗ dựa vững chắc, thì chính cái giai cấp công nhân lại là kẻ đào mồ chôn chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa Cộng sản coi Chủ nghĩa Tư bản là kẻ thù thì giai cấp công nhân lại đấu tranh để được theo Chủ nghĩa Tư bản”. (ĐanChimViet online ngày 19-10-2011)
Theo sự nhận định của ông Phạm Đình Trọng cho thấy đảng CSVN ngày nay vì quyền lợi, vì nhu cầu bảo vệ đảng, họ đã trở nên đối lập với nhân dân ngay chính trong việc bảo vệ Tổ quốc trước hiểm họa Hán hóa đang đến gần. Họ đã cấu kết với kẻ thù và đã nhẫn tâm đàn áp người dân yêu nước biểu tình chống giặc bành trướng bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa.
Sự suy thoái của đảng CSVN ngày càng trầm trọng và cần phải có một cuộc đổi thay. Nhiều đảng viên kỳ cựu như nhà báo Tống Văn Công viết bài “Đổi mới đảng tránh nguy cơ sụp đổ” cũng như:
“Ông Nguyễn Trần Bạc, tác giả quyễn ‘Đối thoại với tương lai’ đã phát biểu rõ ràng hơn: ‘Tôi cho rằng món nợ của những nhà cầm quyền ở Việt Nam đối với dân tộc này chính là dân chủ hóa xã hội… Nếu việc ấy không được thực hiện bởi họ thì dân tộc chúng ta sẽ đối mặt với một cuộc cách mạng xã hội”. (Boxitvn online ngày 16-8-2011)
Có ai ngờ cộng sản Liên xô sụp đổ, ai có ngờ bức tường ô nhục Đông-Tây Đức trong một đêm bị vỡ tan? Có ai ngờ ngày tàn của bạo chúa Gaddafi nơi ống cống và Saddam Hussein bị treo cổ?
Có ai ngờ người anh hùng của Công đoàn Đoàn kết của Ba Lan, Lech Walesa trở thành vị tổng thống đầu tiên của nước Ba Lan hậu cộng sản và ông đã nói về những người cộng sản như thế nào?
“Người cộng sản là những tổ sư chuyên về phá hoại. Họ có thể biến một cái hồ cá thành tô súp cá – dễ như chơi. Cái mà chúng tôi phải đối đầu hôm nay là biến tô súp cá đó thành cái hồ cá lại”. (DanChimViet online ngày 5-12-2007)
Ông Imre Pozsgay, một nhân vật có đầu óc chủ trương đổi mới hàng đầu trong đảng cộng sản Hungary tiếp chuyện với Brian Hanrahan, phóng viên ngoại giao của BBC, ông nói về đảng cộng sản ra sao?
“Hồi năm 1989, ông ít chú tâm tới việc đổi mới đảng cộng sản hơn là giải tán nó đi.
 
Từ lâu, tôi tin vào chủ thuyết cộng sản. Nhưng từ đầu thập niên 1980, tôi nhận thức là không thể nào đổi mới được đảng cộng sản, và điều duy nhất phải làm là thay đổi thể chế đó”. (BBC online ngày 26-10-2009)
Theo cựu Đại tá QĐND Bùi Tín thì đảng cộng sản Pháp, là một đảng cộng sản kỳ cựu ở Âu châu bốn năm trước đây cũng đã “vỡ từng mảng lớn” vì nó đã ruổng mục từ bên trong:
“Đảng CS Pháp suy sụp đến tận cùng đã vỡ từ bên trong, không phải do kẻ thù nào từ bên ngoài phá hoại, lật đổ. Nó suy sụp, thở hắt ra vì học thuyết Mác-Lênin, nguyên lý đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản nó theo đuổi không có sức sống…
 
Đúng như ông Gorbachev từng nói: các đảng cộng sản quá cũ không còn khả năng tự đổi mới, chỉ có xóa bỏ, giải thể, xây dựng tổ chức mới, dân chủ, đi với thời đại”. (ĐanChimViet online ngày 2-7-2010).
Qua bao nhiêu năm chủ nghĩa cộng sản có mặt trên trái đất này nó đã chứng minh một điều là đã thất bại rồi vì nó chỉ là một chủ thuyết mơ hồ, ảo tưởng, nó chỉ chiêu dụ được con người khi còn nằm trong lý thuyết tưởng tượng và qua thực tế thì nó đã bị bốc trần, nó đã bị đào thải, bị đào thải ngay cái nơi sản sinh ra nó: Liên Xô.
Nhà báo Thiện ÝTống Văn Công nói rõ:
“Đúng là chế độ cộng sản, bao gồm cơ chế đảng và bộ máy nhà nước của chế độ cộng sản là ‘không thể cải sửa mà chỉ bị hủy diệt hay thay thế’. Nhưng sai là ‘những con người cộng sản thì hoàn toàn có thể cải sửa, không thể hủy diệt được’…
 
Chính ông Mikhail Gorbachev là một trong những lãnh tụ hàng đầu đảng và nhà nước Liên Xô đã ‘phản tỉnh’, góp phần quyết định cho sự chuyễn đổi từ chế độ độc tài toàn trị Liên Xô qua chế độ dân chủ pháp trị Cộng Hòa Liên bang Nga ngày nay. Ông nói: ‘Tôi đã bỏ quá nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng; Đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá’.
 
Ông Boris Yelsin, một đảng viên cộng sản ‘phản tỉnh’, kế nhiệm ông Mikhail Gorbachev là vị Tổng thống thứ hai của nước Nga dân chủ thì nói: ‘Cộng sản không thể nào sửa chữa, chúng phải bị đào thải”. (VOA online ngày 24-2-2014)
Hiện tượng bỏ đảng ngày càng lan rộng nhất là trong những vị lão thành cách mạng đã thấy được sự sai lầm và suy thoái của đảng. Mỗi đảng viên tự từ bỏ đảng sẽ dễ dàng đi đến xóa bỏ đảng và những lời tuyên bố từ bỏ đảng của họ sẽ giúp cho mọi người thấy được cái sai lầm khi theo đảng. Ông Nguyễn Hộ, người đảng viên cộng sản kỳ cựu tuyên bố từ bỏ đảng.
“Tôi làm cách mạng trên 56 năm, gia đình tôi có hai người liệt sĩ…nhưng phải thú nhận rằng chúng tôi đã chọn sai lý tưởng: cộng sản chủ nghĩa. Bởi vì suốt hơn 60 trên con đường cách mạng cộng sản ấy nhân dân Việt Nam đã chịu sự hy sinh quá lớn lao, nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không có ấm no và hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sỉ nhục”. (RFA online ngày 4-7-2009)
Đảng CSVN không còn là biểu tượng của những người yêu nước, ngày nay họ đã lộ nguyên hình của một tổ chức “cướp ngày” làm cho nhân dân và một số đảng viên không còn tin đảng nữa. Trả lời phỏng vấn của Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, hai anh em ông Huỳnh Nhật Hải và Huỳnh Nhật Tấn từng giữ chức vụ quan trọng ở tỉnh Lâm Đồng đã tuyên bố:
“-Huỳnh Nhật Tấn: Tôi còn nhớ trong lá đơn xin ra khỏi đảng lúc đó tôi có viết một câu: ‘Tôi không tin đảng CSVN có thể lãnh đạo đưa đất nước đạt được những điều tốt đẹp như đảng thường nói’.
 
-Huỳnh Nhật Hải: Còn trong lá đơn của tôi viết sau ông em tôi một vài tháng, tôi nhớ đã viết là: ‘Tôi không còn động cơ để phấn đấu cho mục tiêu và lý tưởng của đảng nữa’. Nhưng thực sự trong thâm tâm thì cũng giống như ông em tôi đã nói ở trên. Tôi không tin đảng CSVN nữa”. (DanLamBao online ngày 29-4-2012).
Và đảng CSVN đã làm thất vọng những người trước đây là những sinh viên của Sài Gòn đã từng đi biểu tình chống chế độ VNCH và ủng hộ họ như cố luật gia Lê Hiếu Đằng người đã từ bỏ đảng CSVN trước khi mất cũng đã phải than rằng:
“Lịch sử ơi, sao ngươi chơi trò trớ trêu và cay đắng quá vậy. Ta đi chống chế độ cũ đàn áp nhân dân, nay ta ại gặp cảnh cũ như là trong cơn ác mộng!…
 
Nhân dân Việt Nam trải qua biết bao hi sinh của các thế hệ để mong ước có một chế độ xã hội tốt đẹp hơn các chế độ cũ. Con thuyền Việt Nam đang bị lái chệch hướng vào con đường của thời kỳ chủ nghĩa tư bản nguyên thủy, tư bản man rợ chỉ biết đấu đá, giẫm đạp lên nhau mà sống bất kể những tiếng kêu thấu trời của quần chúng”. (Boxitvn online ngày 2-5-2012)
Thầy giáo Phùng Hoài Ngọc, một giảng viên đã nghĩ hưu thông báo nghĩ sinh hoạt đảng và cho biết tình trạng đảng CSVN ngày nay đã xa rời lý tưởng mà họ từng rêu rao:
“Đảng đã không theo đúng tôn chỉ, mục đích của mình. Nói rõ là không còn đi theo tôn chỉ đem lại độc lập, tự chủ, hạnh phúc, dân chủ. Tất cả những khẩu hiệu ban đầu bây giờ đảng không thực hiện được… Nói cách khác, họ đã từ bỏ đảng, từ bỏ mục tiêu, lý tưởng của đảng, thì không có lý do gì mà mình đi theo họ nữa”. (RFA online ngày 28-8-2014)
Chẳng những cái đảng mà họ đã từng tham gia không còn mang lý tưởng lúc ban đầu mà trái lại nó còn mang tính phản bội, Đại tá Phạm Đình Trọng đã long trọng tuyên bố chia tay với đảng CSVN, ông đã muốn nói to lên cho mọi người biết để tránh đi theo vết xe đổ và tránh phải bị thất vọng như ông từng bị.
“Càng tự hào về lý tưởng cao cả mà mình bỏ cả đời để phục vụ, tôi càng day dứt, xấu hổ vì sự thoái hóa, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ những người trong guồng máy lãnh đạo, khiến đảng cầm quyền phạm nhiều sai lầm, làm mất niềm tin của nhân dân, làm khoản cách tụt hậu của đất nước càng ngày càng xa với các nước khu vực…
 
Hôm nay, con đường ấy đã bị chặn lại. Đau lòng lắm, nhưng phải đành vậy thôi! Từ giờ phút này, từ ngày hôm nay, 25-2-2014, tôi xin nói lời chia tay với đảng CSVN”. (ĐoiThoai online ngày 26-2-2014)
Nối bước theo Đại tá Trọng, Bác sĩ Trung tá QĐND Đinh Đức Long, người đã tố cáo sai phạm của cấp trên chẳng những không được khen mà còn bị trù dập nên ông đã viết Thông cáo “Từ bỏ đảng CSVN” gửi cho Bí thư đảng ủy khối Bưu chính Viễn thông Sai Gòn, ông Long viết như sau:
“…nói không đi đôi với làm, coi thường luật pháp do chính mình đặt ra, đi ngược lại truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thậm chí còn chà đạp lên những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký và long trọng cam kết tuân thủ, độc tài gia đình trị và lợi ích phe nhóm, không xứng đáng với niềm tin của tôi khi gia nhập đảng vào thời điểm mà còn 10 ngày nữa là tròn 32 năm.Vì vậy bằng thông báo này: Ngày 22 tháng 8 năm 2014 tôi tuyên bố bỏ đảng CSVN”. (ĐoiThoai online ngày 27-8-2014)
Trong một bài phát biểu của Linh mục Phan Văn Lợi từ Huế được truyền thanh qua đài Little SaiGon ở Nam California ngày 22-7-2007, ông đã hùng hồn kêu gọi giải thể cái đảng cộng sản bạo tàn như sau:
“Tố cáo trước nhân dân Hoa Kỳ cái tập đoàn cộng sản đầy tội ác, kết án trước hoàn vũ năm châu cái lũ cầm quyền cộng sản lắm bạo hành. Nhưng không chỉ có thế. Chúng ta sẽ hun đúc quyết tâm, củng cố ý chí giải thể cho bằng được chế độ cộng sản gian tà độc ác đang từng ngày tàn phá quê hương, hà hiếp dân lành, tiêu hủy sinh lực giống nòi đẩy đất nước đến chỗ tuyệt diệt”. (ĐoiThoai online ngay 28-7-2007)
Một sự dứt khoát, quyết liệt và can đảm, Đại tá Công an Lê Hồng Hà, nguyên Chánh văn phòng Bộ Công an đặt vấn đề muốn bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ và độc lập tự do thì phải loại bỏ ba chướng ngại trong Điều 4 của Hiến pháp: đảng CSVN – Mác Lênin – XHCN.
“Vấn đề đặt ra cho đất nước là: Đi đôi với vấn đề dân chủ hóa đất nước, loại trừ chế độ đảng trị độc tài, chấm dứt sự thống trị của chủ nghĩa Mác-Lênin, chấm dứt con đường XHCN, thì phải kiên trì đấu tranh để bảo vệ chủ quyền, độc lập của Tổ quốc…” (Boxitvn online ngày 30-3-2014)
Vì thế cho nên, đã đến lúc phải xóa bỏ đảng CSVN, có như thế mới:
1-Xóa bỏ được công hàm bán Hoàng Sa-Trường Sa của Phạm Văn Đồng
2-Xóa bỏ mật ước thần phục TC ở Thành Đô của Nguyễn Văn Linh.
3-Xóa bỏ sự độc tài toàn trị, độc đảng và xây dựng đất nước Độc lập, Tự do, Dân chủ, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Việt Nam.

Đã đăng: 
Phần 1

Thủ tướng tơ lơ mơ tờ lờ mờ

Thủ tướng tơ lơ mơ  tờ lờ mờ

Cờ lờ mờ vờ, cờ lờ vờ..

Trên mạng mấy hôm nay giông bão chuyện “cờ lờ” vì ông Nguyễn Xuân Phúc “càm giái đoạc” (cầm giấy đọc) cờ lờ mờ vờ. Kẻ chê, người bào chữa nhưng riêng mình thì mình thấy có 2 chuyện đáng nói:

1. Ở vị trí thủ tướng, ông Phúc cần trang bị đủ kỹ năng để phát biểu chớ không phải “càm giái đoạc”. Ông có thể cầm giấy soạn sẵn và dựa vào cái sườn đó để phát biểu chớ không nên cúi gầm mặt mà đọc một cách chăm chỉ như vậy. Cấp quan huyện, quan phủ sâu mọt, dốt nát nên phải cầm giấy mà ê a thì còn tạm chấp nhận được. Cấp tể tướng mà cúi gầm mặt đọc thì nên về vườn mà đuổi gà.

2. Ở vị trí kẻ soạn bài sẵn cho tể tướng đọc, đặc biệt là diễn văn, nếu thủ tướng có dốt quá thì phiên âm ra cho nó quốc tế một tí. Đừng “cờ lờ mờ vờ” mà nên phiên âm thành “xi-eo-em-vi” cho nó đỡ hai lúa một tí. Bởi lẽ, chẳng phải ai cũng biết “cờ lờ mờ vờ” là cái con khỉ gì hết. 

Tệ hại hơn nữa, mấy năm nay, tự điển xứ ta đã trở nên giàu có với những “clgt” (“cờ lờ gờ tờ” hoặc “cái lxx gì thế”) hoặc những “vcl” (“vờ cờ lờ” hoặc “vãi cái lxx”) ..v..v…và vô vàn những “mỹ ngôn” tương tự. Việc đọc “cờ lờ mờ vờ” trên một bài diễn văn khiến bọn “làm chủ đất nước” không chừng hiểu lầm thủ tướng đang “phun châu nhả ngọc” trước công chúng “clmv” (cái lxx mụ vợ) thì tan nát mấy ngàn năm dzăn hiến .

FB Hoàng Ngọc Diêu

Hết Ma dzê in Viet Nam đến Cờ Lờ Mờ Vờ- Cờ Lờ Vờ

VIỆT NAM (CTM Media)- Trước đây nhiều người cười muốn té ngữa khi nghe Thủ Tướng CSVN Nguyễn Xuân Phúc phát âm cụm từ Made in Việt Nam là Ma Dzê in Viet Nam. 

Ngày hôm nay, 05 Tháng Chạp, 2016, cư dân mạng lại được thêm một dịp bàn luận sôi nổi về hai cụm từ Cờ Lờ Mờ Vờ- Cờ Lờ Vờ nghe được từ giọng của ông Phúc trong một đoạn clip trên trang web của nhà nước CSVN.

Rất nhiều cư dân mạng cho rằng Thủ tướng là chức danh chính khách cao cấp, hưởng nhiều đặc quyền và lãnh lương từ nhân dân, bổn phận của thủ tướng là phải phát ngôn cho đa số nhân dân hiểu, khi anh nói cái mà đa số nhân dân không hiểu là anh đã thất trách.

Cũng có cư dân mạng nói rằng ông Phúc là người đâu có biết gì, viết sao đọc vậy, trách ông ta làm gì. CLMV mà bắt ông Phúc phải đọc là Campuchia, Lào, Myanmar (Miến Điện) và Việt Nam là đòi hỏi quá đáng đối với một người có khả năng như ông Phúc.

Thủ Tướng Việt Nam và bài diễn văn có những mẫu tự "cờ-lờ-mờ-vờ," "cờ-lờ-vờ." Ảnh: NHÀ BÁO TỰ DO CÔNG GIÁO

Hôm nay mình và cộng đồng FB nổ ra bàn luận tranh luận chuyện thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói tắt các cụm từ CLMV và CLV. Có các luồng quan điểm khen chê khác nhau dẫn đến tranh cãi khắp nơi và ngay trong FB của mình nên thôi tổng kết ra đây cho rộng đường dư luận
https://i.ytimg.com/vi/s1215K3P4Kw/maxresdefault.jpg

Bỏ qua chuyện ngôn ngữ Ây Bi Ci hay A Bờ Cờ…để dành cho các chuyên gia ngôn ngữ, ở đây nói khía cạnh chính trị của vấn đề nhỏ nhưng đằng sau nó là không nhỏ

 
1/ Thủ tướng là chức danh chính khách cao cấp, hưởng nhiều đặc quyền và lãnh lương từ nhân dân, bổn phận của thủ tướng là phải phát ngôn cho đa số nhân dân hiểu, khi anh nói cái mà đa số nhân dân không hiểu là anh đã thất trách
 
2/ Thủ tướng không phải là cán bộ phường xã, cán bộ phường xã nói không ai hiểu thì nó khác, còn cấp càng cao thì càng cẩn ngôn.
 
3/ Không thể nói do ban tham mưu, anh là lãnh đạo, phải tập tư duy đứng mũi chịu sào, huống hồ đây là phát biểu trực tiếp
 
Muốn chính trị quốc gia tiến bộ, từng người dân cho đến thủ tướng, ai cũng phải hiểu vị trí và hoàn thành trách vụ của mình. Trách nhiệm của dân là đóng thuế, trách nhiệm của chính phủ là tuyên truyền thúc đẩy đường lối chính sách. Nói mà người ta không hiểu nghĩa là việc tuyên truyền đã thất bại
 
Chuyện nhỏ là nói cho dân nghe mà không chỉnh chu, đại sự quốc gia có luộm thuộm hay không cái cần chú ý.
 
Chuyện CLMV-CLV nói đến đây là đủ và không cần bàn luận thêm.
Nguyễn An Dân
(FB Nguyễn An Dân)

Bao giờ “Vờ” mới vượt qua nhóm “Cờ Lờ Mờ Vờ” ?

Trong một bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc do VTV1 đưa tin, mọi người nhìn thấy ngài Thủ tướng cứ chăm chú nhìn vào bài phát biểu đã soạn sẵn, miệng cứ lặp đi lặp lại cái từ cờ lờ mờ vờ, cờ lờ vờ, cờ lờ mờ vờ…Nghe qua, đoan chắc rằng khó ai hiểu hay đoán được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đang nói về vấn đề gì?
 
Vậy ra, 4 chữ Cờ Lờ Mờ Vờ là tên bốn quốc gia có nền kinh tế kém phát triển nhất ASEAN: Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam, và Cờ Lờ Vờ là Campuchia, Lào và Việt Nam…
 
Với những vị lãnh đạo đất nước như thế, ắt hẳn cũng không khó hiểu vì sao bao nhiêu năm qua, Việt Nam vẫn nằm trong nhóm 4 nước kém phát triển nhất khu vực Asean.
 
Hiện tại thì Cờ và Lờ đã chế tạo được xe ô tô, Mờ đã xóa bỏ chế độ độc tài để xây dựng nền dân chủ …Trong tình hình này, việc Vờ trở thành quốc gia mạnh nhất trong bốn nước yếu cũng là một thách thức khá nặng nề chứ đừng nói là vượt ra khỏi nhóm Cờ Lờ Mờ Vờ.
 
Điền Phương Thảo
nguồn: tin mừng cho người nghèo.

 

BANG VÔ ĐẠO…

BANG VÔ ĐẠO…
Trần Văn Chánh
  
     Cho dù không thuộc phái nào trong số hai phái chủ yếu đề cao và bài bác Khổng Tử, nhưng dường như hầu hết ai cũng phải khách quan nhận rằng văn chương trong sách vở kinh điển của Nho gia có nhiều đoạn rất hay, rất “đắc”, hàm súc mà thâm trầm tế nhị về phương diện diễn đạt, khi nó muốn phát biểu bất cứ chuyện gì liên quan đến các vấn đề thuộc chính trị, văn hóa, đạo đức…
     Chẳng hạn, muốn nói về thái độ sống và trách nhiệm của hạng người quân tử tức tầng lớp lãnh đạo hay tầng lớp trên trong xã hội phong kiến thời xưa (phân biệt với đông đảo quần chúng), Khổng Tử chỉ buông ra một câu rất gọn mà dứt khoát, trong Luận ngữ, thiên “Thái Bá”: “Bang vô đạo, phú thả quý yên, sỉ dã” (Khi nước vô đạo nghĩa là đang ở trong tình trạng hắc ám về chính trị mà lo chạy theo lợi danh để mong được giàu và sang là điều đáng hổ thẹn).
        Về hai chữ “vô đạo”, Hán ngữ đại từ điển của Trung Quốc nêu lên cả thảy 5 ý nghĩa khác nhau, trong số có 3 nghĩa liên quan chính trị rất rõ: (1) Chỉ tình trạng quốc gia có nền chính trị hôn ám tệ hại, chính sự rối loạn thối nát, người lãnh đạo không trị dân bằng đạo đức (tương ứng với ý nghĩa trong câu vừa dẫn trên); (2) Vô đạo đức, vô hạnh, không thi hành chính đạo, làm những việc xấu ác (như trong câu  “Ngô văn Tống quân vô đạo…”, Ta nghe vua nước Tống làm những chuyện xấu ác, trong Hàn Phi Tử, “ Ngoại trữ thuyết tả thượng”); (3) Kẻ vô đạo, chỉ kẻ xấu không làm việc nhân nghĩa, hoặc vua chúa tàn bạo (như trong câu: “Phạt vô đạo, tru bạo Tần”  Đánh kẻ vô đạo, kể tội và giết nhà Tần tàn bạo, trong Sử ký, “Trần Thiệp thế gia”).       
       Xét các ý nghĩa của cụm từ “vô đạo” như trên thì Việt Nam trong vòng vài chục năm nay rõ ràng đã và đang ở trong tình trạng khó khăn, gần như vô đạo, tức chính trị thối nát và thiên hạ bị mất lòng tin trên diện rộng. Bên cạnh vài nhà lãnh đạo mà dân chúng còn có phần hi vọng được, một bộ phận không nhỏ kẻ khác tham lam vô hạnh/ vô đạo (nghĩa thứ 2 và 3) đã bằng con đường cơ hội hoặc thủ đoạn chính trị chen được vào bộ máy quản lý đất nước, để xảy ra tình trạng “thượng bất chính, hạ tắc loạn”, luật pháp không nghiêm, mà diễn đạt theo nghĩa bình dân dễ hiểu là mạnh ai nấy làm, “trên bảo dưới không nghe”, dẫn đến nhiều thực trạng đau buồn: môi trường thiên nhiên và xã hội bị phá nát, các thang giá trị bị đảo lộn, văn hóa-giáo dục-đạo đức xuống cấp tới mức lâm nguy, xã hội bất công trầm trọng, hố ngăn cách giàu nghèo thêm sâu sắc, quốc nạn tham nhũng, tội ác giết người cùng các loại hình tệ nạn xã hội khác diễn biến phức tạp theo chiều hướng ngày một gia tăng…, vô phương cứu chữa!
        Trong khi đó, một nhóm những kẻ thuộc tầng lớp trên nhưng lại bất cố liêm sỉ, cứ hớn hở ngồi trên các vị trí lãnh đạo câu kết lẫn nhau trục lợi và tranh giành quyền lực trước tình trạng ngày càng gian nan điêu đứng của khối quảng đại quần chúng lao động nghèo khổ bao gồm phần lớn là công nhân, công chức cấp thấp, dân nghèo thành thị, đặc biệt nông dân và đồng bào miền núi, những thành phần vốn bị lép vế, không tiền không quyền, chỉ biết mưu sinh chân chính bằng sức lao động trong nền chính trị không có tự do dân chủ và luật pháp nghiêm minh, trùm lên cả một nền kinh tế bất ổn định, lương không đủ sống, do chính những phần tử đặc quyền đặc lợi nêu trên gây ra. Nhóm đặc quyền đặc lợi này, dù bị dư luận phê phán bao nhiêu dường như họ cũng tỏ ra không biết hổ thẹn, trái lại cứ nhơn nhơn hằng ngày không ngượng miệng, nói mãi những câu chỉ đạo chung chung vô nghĩa, vừa giáo điều vừa sáo rỗng, mà chẳng cần biết có đối tượng dân chúng hay nhân sĩ trí thức nào còn muốn được nghe họ nói nữa hay không.  
        Hạng người như vừa nêu trên trong lịch sử thời nào cũng có, đặc biệt bộc lộ rõ nhất trong các thời kỳ “bang vô đạo”. Thời xưa đó là hàng trăm những ông quan đại thần trong triều (tương đương các quan chức trung ương như bộ trưởng, vụ trưởng vụ phó, cục trưởng cục phó … ngày nay), được chỉ huy bởi vua và tể tướng. Trong điều kiện chính trị hủ bại, nhóm người này từ tể tướng trở xuống đều trở thành những kẻ vô trách nhiệm, ăn hại đái nát, chuyên  ăn hối lộ đè đầu cưỡi cổ đám dân đen nghèo khổ, mà chẳng có kế sách gì để cải cách hay vực dậy hiệu quả nền chính trị trong nước, trái lại còn tìm cách duy trì sự thối nát bằng những luận điệu bảo thủ cũ rích để tiếp tục được hưởng lợi quyền lâu dài, cho cá nhân và cho những nhóm lợi ích liên quan tới mình.
 
     Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam và Trung Quốc, xưa cũng như nay, đều có những giai đoạn chính trị bại hoại tàn tệ gần gần giống như nhau.
 
     Ở Việt Nam, tiêu biểu có thể kể là vào khoảng cuối thời Hậu Lê, như thư viết năm 1766 của giáo sĩ thừa sai Reydellet gởi cho người em trai ở Pháp, đã mô tả rất sinh động tình trạng tệ hại trong nước, với giọng mỉa mai sâu sắc: “Về việc giữ gìn an ninh và luật pháp trong xứ [Đàng Ngoài, tức Bắc Việt] thì có lẽ sẽ rất dài dòng nếu ta đi sâu vào các chi tiết. Tôi chỉ xin nói để chú biết là nhìn tổng quát thì luật lệ ở đây rất đúng đắn, rất hợp lý và được quy định rõ ràng. Chỉ tệ một nỗi là chẳng được kẻ nào tôn trọng cả. Chính những người có phận sự thi hành luật pháp lại là những người phạm luật trước hơn ai hết. Tiền bạc và những tặng vật  đút lót xóa sạch những tội ác. Dù có là đại gian hùng nhưng nếu biết cách che giấu những hành động bất chính của mình thì vẫn là người lương thiện [TVC nhấn mạnh]. Chỉ những kẻ vụng về, những kẻ ngờ nghệch, ngây ngô, những kẻ nghèo hèn là bị trừng phạt thôi. Điều này cho thấy là đức hạnh của con người không đủ sức tạo ra những kẻ có lòng lương thiện” (xem Thư của các giáo sĩ thừa sai, bản Việt dịch từ Pháp ngữ của Nguyễn Minh Hoàng, NXB Văn Học, tr. 74).
     Tương tự như vậy, ở Trung Quốc thời xưa, ngay từ giai đoạn đầu nhà Minh (khoảng cuối thế kỷ 14), chính trị đã bộc lộ rõ sự bại hoại vô đạo, khiến một quan chức lớn vừa là nhà văn/ nhà trí thức đương thời là Lưu Cơ (tức Lưu Bá Ôn, 1311-1375) đã không ngăn được nỗi bức xúc, cực lực phê phán một cách sâu sắc hiện trạng quan lại gian tà trong bài “Mại cam giả ngôn” (Lời người bán cam), một tiểu phẩm cổ văn chính luận rất nổi tiếng, nội dung mượn lời người bán cam bình phẩm sự tác tệ của bọn quan chức ăn hại để kết luận bài viết. Đại khái, tác giả trách anh bán cam lừa đảo bán toàn cam bên vỏ ngoài màu mè thấy tươi tốt nhưng bên trong hỏng nát, thì được anh ta đáp lại bằng một luận điệu trông có vẻ rất tự nhiên bình thản: “Ở đời, kẻ lừa gạt người không phải ít, há chỉ có riêng tôi hay sao?… Nay những kẻ đầu đội nón cao to [chỉ giới quan lại cấp cao trong triều]…, nhưng… cướp dấy lên mà không biết ngăn, dân khốn khổ mà không biết cứu, quan lại gian tà mà không biết cấm, pháp luật bại hoại mà không biết sửa, ngồi không ăn tốn lúa trong kho mà không biết nhục. Trông họ ngồi trên nhà cao, cưỡi ngựa lớn, say rượu ngon, no thịt cá, thì kẻ nào mà chẳng vòi vòi đáng sợ…, bề ngoài thì như ngọc như vàng mà bề trong thì như bông nát? Nay ông chẳng xét những kẻ đó mà chỉ xét cam của tôi!”.
     Đọc tiểu phẩm cổ văn chính luận dẫn trên, chúng ta thấy dường như tác giả Lưu Cơ đã không tiếc lời mạt sát khinh miệt đám quan lại cấp cao “ngồi không ăn tốn lúa trong kho” còn thậm tệ hơn cả anh bán cam vì nghèo mà không tôn trọng đạo đức kinh doanh đến phải phạm tội lừa đảo.  
     Ngày nay, đối chiếu với thực trạng Việt Nam, nếu để ý quan sát, sẽ thấy đại khái cứ có khoảng bao nhiêu kẻ thất học vô công rồi nghề lừa đảo, cướp của giết người… phải vào tù ra khám thì có lẽ cũng có chừng ấy không ít hơn những viên chức-quan chức nhà nước bị truy tố, phải tra tay vào còng và bị đăng hình lên báo chí vì một số loại tội phạm như tham ô, móc ngoặc, hối lộ, lừa đảo…. Cho nên câu ca dao dạy trong các trường học “Con ơi nhớ lấy câu này, cướp đêm là giặc cướp ngày là quan” là ám chỉ khá đúng cho tình trạng hiện tại.
     Chỉ có điều, ngoài lòng tham và bản năng chạy tội ra thì giữa hai loại kẻ cướp lại có những đặc điểm hầu như khác nhau hoàn toàn. Đại khái: Một đằng thất học vô nghệ, lý lịch đôi khi không rõ ràng, bần cùng sinh đạo tặc; còn đằng kia thì phần nhiều được đào tạo có cấp bằng văn hóa hoặc chuyên môn cao hẳn hoi (kể cả không ít thạc sĩ, tiến sĩ), lý lịch từ quá tốt đến tốt, được tín nhiệm giao cho quyền cao chức trọng, không bần cùng mà vẫn sinh đạo tặc. Đạo tặc loại nào cũng nguy hiểm, hại dân hại nước, cần trừng trị như nhau, nhưng loại đạo tặc quan chức đứng đầu các cơ quan lãnh đạo hành chính hoặc doanh nghiệp nhà nước lớn (như tập đoàn, tổng công ty…) thì lẽ tất nhiên phải có hại cho dân nhiều hơn, vì thực chất dưới tay họ là những cơ quan công quyền hoặc công ty kinh doanh thuộc sở hữu của khoảng 90 triệu dân trong nước.
     Cũng như những kẻ giựt dọc khác, hầu hết đạo tặc quan chức khi bị phát hiện đều tìm mọi cách chối tội/ chạy tội,  đôi khi cũng trốn chui trốn nhủi ra nước ngoài, ngành công an phải phát lệnh truy nã; nhưng thường thì họ chỉ được xử lý nội bộ theo kiểu bao che lẫn nhau để hạ cánh an toàn, tiếp tục thụ hưởng sự giàu sang bên cạnh một đám đông dân số nghèo khổ mà chẳng ai làm gì được họ. Đám người này, một số đã về hưu, nếu chưa phạm trọng tội hình sự rõ ràng (không che giấu được) và bị đuổi ra khỏi tổ chức thì hầu hết cũng đều không chịu từ bỏ cái tổ chức chính trị đã nát bét nhưng nhờ đó họ được dung dưỡng trở nên vinh sang giàu có, nhà cao cửa rộng, cộng thêm một số ưu quyền mà thường dân không có. Một số người khác tuy có phẩm cách sạch sẽ trong sáng hơn, cố giữ mình trinh bạch tương đối cho lương tâm đỡ bị cắn rứt tới lúc về hưu, nhưng vẫn không dám mạnh dạn có tiếng nói phản biện trung thực, ngại xin ra khỏi tổ chức, vì sợ bị trù dập, mất các quyền ưu tiên, hoặc ngầm hiểu bản thân mình có thể hi sinh quyền lợi nhưng còn e ảnh hưởng bất lợi đến tương lai con cháu. Xét cho cùng kỳ lý, nhóm thiểu số tạm gọi tốt đẹp này cũng đã bị khéo lợi dụng mà không hay biết, vì kẻ xấu thường tìm cách treo gương họ ra bằng những tấm bằng khen, huân chương để tuyên truyền cho tính ưu việt của thể chế chính trị, khi gọi họ là những người con “ưu tú”, “chân chính”, “anh hùng”… của nhân dân và đất nước XHCN! 
     Một khi đã trở thành tội phạm, thì nhân cách các đối tượng đều xấu như nhau, nhưng nếu xét “hoàn cảnh” cụ thể thì hạng phạm nhân quan chức gây thiệt hại tiền tỉ cho dân lại đáng bị xã hội khinh chê nguyền rủa hơn, chẳng hạn so với quân trộm chó mạt hạng…, vì những kẻ này vốn đã được xã hội ưu ái, cho ăn học-đào tạo-đề bạt chức vụ, nhờ đó (trên nguyên tắc/ lý thuyết) hiểu biết luật pháp, có điều kiện nhận thức tốt hơn về những gì đáng làm và không nên làm. Vì lòng tham không đáy, họ dám phản bội cả lòng tin của tổ chức cấp trên và của nhân dân, bằng đủ loại thủ đoạn cao cường quỷ quyệt, sẵn sàng vi phạm phép nước để thỏa mãn tham vọng thấp hèn, góp phần tạo nên môi trường xấu và tình trạng bất công,  cũng chính là tạo nên cái điều kiện cơ bản để từ đó liên tục làm nảy sinh các loại tệ nạn xã hội khác.
     Ở các cấp lính lác thừa hành nhỏ hơn, noi gương xấu cấp trên, họ không thể kiên nhẫn chịu mãi sự lép vế thu nhập so với thượng cấp, nên một bộ phận không nhỏ đã lần lần trở nên hèn kém hư hỏng bằng đủ mọi loại thủ đoạn kiếm chác rẻ tiền. Một số khác trong họ đã trở thành những phần tử tha hóa ác ôn, ức hiếp bóc lột dân chúng, thường thấy trong những vụ cưỡng chế giải tỏa nhà đất, hoặc dẹp lòng lề đường…; nhân danh nhiệm vụ cấp trên giao, đi đến đâu cũng “đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi” (Nguyễn Du), sẵn sàng thi triển những hành động vô cảm, “phũ tay tồi tàn” ngay cả đối với những phụ nữ nghèo khổ mua gánh bán bưng lương thiện ngoài đường phố để kiếm tiền nuôi con.
     Những hình ảnh phản cảm như trên vừa nói gợi chúng ta nhớ đến một tiểu phẩm cổ văn chính luận khác cũng rất nổi tiếng, đó là bài “Bổ xà giả thuyết” (Lời người bắt rắn) của Liễu Tông Nguyên (773-819) thời Đường, nội dung công kích mạnh mẽ vào đám tham quan ô lại và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với những người dưới đáy xã hội bị bóc lột tận xương tủy, với ý tưởng chính coi chính sách thuế khóa bóc lột dân nghèo còn độc hại hơn cả nọc rắn độc và còn “dữ hơn cọp” nữa. Đại khái, trong câu chuyện, người dân đen ở nông thôn thà liều chết bắt rắn nộp lên quan để được miễn thuế còn hơn phải chịu khổ về nỗi thuế má nặng nề, lại còn bị bắt nạt hiếp đáp trăm chiều: “Bọn lại hung ác tới làng tôi, hò hét ở phía đông phía tây, phá phách ở phía nam phía bắc, ầm ĩ làm cho mọi người kinh hoảng, tới gà chó cũng không được yên”.    
     Bên cạnh một bộ phận không nhỏ giới quan liêu thối nát đủ cỡ và các cấp thừa hành chỉ biết làm theo lệnh cấp trên, xưa nay còn có một số không ít (chứ không phải tất cả) trí thức nô dịch ăn theo thể chế kinh tế-chính trị bằng cách minh họa/ phụ họa cho những chính sách mị dân, sai lầm. Những người này tuy chưa xứng gọi ăn hại đái nát, một số cũng có hoàn cảnh riêng biệt đáng được thông cảm, nhưng nói chung về mặt chiều sâu còn có hại hơn cả đám lính lác đi dọn dẹp lòng lề đường, trong vai trò đồng lõa của họ với những cái xấu lớn hơn/ gây tác hại nhiều hơn thuộc về đường lối, chính sách.
     Trong bối cảnh chính trị Việt Nam hiện tại, một số trong họ là những ông nghị viên hội đồng các tỉnh thành, ủy viên mặt trận này mặt trận nọ, chủ tịch các thứ hội, hoặc thậm chí cả đại biểu Quốc hội, vốn được cơ cấu sẵn để đưa vào tổ chức chính trị nhưng thực chất chỉ hữu danh vô thực, giữ vai trò a dua phụ họa. Đối với hạng trí thức này, có lần tôi đã mạnh dạn viết rõ: “Người ta thường thấy vẫn có không ít trí thức về mặt nhận thức đối với các hiện tình chung của xã hội thì họ vẫn đủ sáng suốt, thấy hết mọi vấn đề, nhưng vì nhiều lý do thực tế của cuộc sống, họ đã chọn lựa thái độ cầu an nên thường không dám tỏ thật thái độ, thậm chí vô hình trung còn đồng lõa với một số điều tệ hại đi ngược với quyền lợi của công chúng. Một số khác trong họ bên ngoài cuộc sống hiền lành và có vẻ trong sạch còn dần dà trở thành những phần tử thỏa hiệp nguy hiểm để hợp lý hóa cho những chủ trương chính sách sai lầm, gọi là ‘văn quá sức phi’, tức tìm cách tô điểm cho những điều bậy bạ trở nên có văn vẻ để mị hoặc quần chúng. Nếu cần tỏ thái độ phê bình, họ chỉ phát biểu vừa phải để giữ mức an toàn cho bản thân và cho những chức vụ đang được nắm giữ, rốt cuộc trở thành những kẻ ngụy tín ngụy biện lúc nào không hay. Họ có thừa khả năng lý luận để biện minh và che giấu cho mặt trái hành động của mình, so với đám tham quan ô lại thì thành phần trí thức dạng này còn nguy hiểm hơn nhiều vì chính họ mới là thủ phạm gián tiếp dung dưỡng, làm trái độn bắc cầu cho những kẻ tham quan ô lại tiếp tục hoành hành. Chuyện này không có gì mới, vì lịch sử đã nhiều lần chứng tỏ, trong một số thời kỳ chính trị hủ bại, một bộ phận của tầng lớp sĩ phu không phải lúc nào cũng đứng về phía binh vực cho quyền lợi của nhân dân lao động” (xem tuần báo Công Giáo Và Dân Tộc, số 1384).
     Nhưng nói đi rồi cũng phải nói lại cho đúng sự thật và công bằng sòng phẳng: dẫn đến tình trạng trầm trọng đáng lo như hiện nay không phải do tội lỗi của từng cá nhân riêng lẻ gộp lại, mà do cái tổng thể của kiểu cách/ mô thức tổ chức điều hành xã hội đã không thể không tạo nên tình trạng tha hóa cho mỗi con người mà cá nhân chỉ là sản vật. Nói cách khác, chính là cái thể chế kinh tế-chính trị, mà người ta thường nói giảm đi cho lịch sự tế nhị bằng hai chữ “cơ chế”, thứ cơ chế đã có mấy đời thủ tướng (như Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải…) gợi ý khéo léo cần phải thay đổi (chứ khó nói huỵch toẹt ra vì dù cấp thủ tướng trong cơ chế đó cũng chẳng dám hoặc được tự do phát biểu…), và có lần ông bộ trưởng Bộ Giao thông-Vận tải Đào Đình Bình đã phải ngậm ngùi phát biểu lớn lên giữa phiên họp Quốc hội ngày 15.6.2006 trước khi ông bị bắt buộc phải từ chức: “Cơ chế hiện nay phải thay đổi. Nếu không thay đổi thì bộ trưởng nào ngồi vào đây cũng sẽ mắc khuyết điểm. Tôi từ chức rồi, nhưng các đồng chí sau tôi chắc chắn cũng khó vượt qua” (dẫn lại theo tạp chí Phát Triển Kinh Tế, số 191, tháng 9.2006).
     Liên quan sự bất lực của cả hệ thống, rất nhiều quan chức cấp cực lớn trước nay đã thừa nhận công khai, như có thể nhắc lại, chính cựu Thủ tướng Phan Văn Khải khi vừa rời khỏi chính trường cũng có lần phát biểu trả lời phỏng vấn trước Quốc hội: “Rất nhiều lần tôi nói cả hệ thống chính trị chứ không chỉ hệ thống hành chính của chúng ta có vấn đề, cần phải cải cách, chấn chỉnh, nâng cao năng lực, hiệu quả, hiệu lực, chống cho được tham nhũng, tiêu cực, nhũng nhiễu…” (nt.).
     Một cái thông bệnh của quan chức các cấp nhà nước trong hệ thống chính trị là thường khi người ta sắp hoặc đã về hưu rồi mới có người thỉnh thoảng dám nói lên một phần sự thật mấy vấn đề cốt lõi về quan điểm/ lập trường chính trị; còn trong khi đương chức, nghĩ mình là phương diện quốc gia, sớm tối xách cặp đi họp/ đi báo cáo/ chỉ đạo… gọi là làm việc nước, để chỉ phát biểu qua loa mấy vấn đề râu ria sự vụ, mà chẳng dám động vào những chỗ bị ngầm hiểu (vì không có văn bản hay luật pháp quy định) là “vùng cấm” hay “vùng nhạy cảm”, vì sợ đi chệch đường lối chính thống sẽ có thể bị chính những đồng chí thân thiết của mình nghi ngờ và quy chụp quan điểm, từ đó có thể “bị đì”, rất khó tiến thân trên con đường sự nghiệp. Hậu quả tất yếu là hầu hết quan chức có chức vụ càng cao lại càng trở nên rụt rè gà phải cáo, sống và làm việc thiếu trung thực, (để giữ ghế chờ đến lúc về hưu hưởng đủ các loại chế độ?), và vì thế quốc gia nếu không ngày càng suy bại, bộ  máy vận hành nhà nước không ngày càng kém hiệu lực, mới là chuyện lạ.      
     Sự thật, chẳng phải không có những quan chức lãnh đạo cấp cao có thực tâm cải cách, chống tham nhũng, muốn làm trong sạch bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nhưng chính cái hệ thống với bản chất thiếu công khai dân chủ này trước hết đã vùi dập làm tê liệt mọi sáng kiến và quyền tự do phát biểu cá nhân, khiến cho một người dù thiện chí đến đâu rốt cuộc cũng phải chịu cảnh lực bất tòng tâm! Và trong tình huống triệt buộc bất lực một cách phổ biến như vậy, chỉ một số rất ít trong họ dám có quyết định “từ quan” để ít nhất cũng giữ mình trong sạch trong lương tâm thanh thản vì không tiếp tục mắc tội đồng lõa với một số biện pháp/ chính sách bất cập do tập thể quyết định. 
     Vậy rõ ràng vấn đề cần được giải quyết từ gốc, bằng cách phải sửa đổi căn bản hệ thống kinh tế-chính trịtheo hướng dân chủ hóa toàn bộ hoạt động xã hội một cách thực chất, thông qua quá trình sửa đổi Hiến pháp và thực thi đúng Hiến pháp, vì trên thực tế, kể từ Hiến pháp Việt Nam đầu tiên (năm 1946) cho tới Hiến pháp bây giờ (năm 2013), hầu hết các quyền tự do dân chủ căn bản đều chỉ dừng lại ở mức độ lý thuyết: nói tự do ngôn luận mà không có tự do ngôn luận (nên mới có vụ trấn áp nhóm Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956…); nói biểu tình mà không có quyền biểu tình (đến nay luật biểu tình vẫn chưa được thông qua, và ai tổ chức biểu tình cũng đều bị trấn áp, quy chụp do kẻ thù này khác xúi giục…); nói ứng cử/ bầu cử tự do nhưng thực tế chỉ do sự cơ cấu/ quy hoạch sẵn của một tổ chức độc quyền lãnh đạo (nên những người tự nộp đơn ứng cử hầu hết đều bị loại…) … 
     Cho đến hiện nay, tình trạng mất tự do dân chủ kiểu nêu trên vẫn chưa được cải thiện đáng kể, mọi ý đồ tốt đẹp của quốc gia vì thế đều chỉ nằm trên giấy, trong khi mọi thứ hiện tượng tiêu cực trong đó nổi bật quốc nạn tham nhũng tràn lan nêu ra từ mấy chục năm nay chẳng những không dừng lại mà còn tiếp tục gia tăng hoành hành, hay được mô tả khéo bằng cụm từ “diễn biến phức tạp”.
      Trong bối cảnh gần như bế tắc như vậy, không ít người có thiện chí đã tỏ ra lúng túng, cố gắng lắm cũng chỉ thẳng thắn nêu lên được một vài ý kiến phản biện/ đóng góp trên các phương tiện truyền thông (lề phải, lề trái) nhưng thường chỉ được đáp lại bằng sự im lặng gần như tuyệt đối của các nhà đương cuộc! Một số người khác thất vọng vì lực bất tòng tâm, không đủ kiên nhẫn chờ đợi lâu thêm, họ đã lai rai buồn bã đoạn tuyệt với cái tổ chức chính trị độc quyền trì trệ ít chịu thay đổi mà họ kịp nhận ra chính sự độc quyền trì trệ đó mới là nguyên nhân đích thực của mọi nguyên nhân  tạo nên tình trạng hôn ám, vô đạo như từ trước đến nay. Họ dứt khoát như vậy, vừa để tránh mặc cảm đồng lõa, vừa để bắt chước người xưa bảo tồn danh tiết.         
     Từ rất lâu đã có loại lý lẽ cho rằng, trong điều kiện nước nhà “vô đạo”, tức chính trị hôn ám bại hoại, nếu thật sự là người tốt, chân chính thì không ai có thể tiến thân xa trên con đường chính trị. Trường hợp ai đó thản nhiên chịu nhận chức vụ cao một cách không ngay chính (vì thiếu đức thiếu tài, lại được cơ cấu/ đề bạt không theo nguyên tắc công bằng, dân chủ…) để được giàu sang như trong thực tế xã hội hiện tại “tiền và quyền đi đôi với nhau” mà chẳng làm được gì có ích cho dân thì họ chỉ được cái mã ngoài tốt đẹp vinh thân phì gia nhưng thực chất chỉ là một nỗi nhục nhã hết sức lớn lao, tương lai sẽ bị lịch sử phán xét không thương tiếc!
      Là một người không từ bỏ lý tưởng xã hội, hẳn ai cũng muốn đóng góp phần mình vào sự nghiệp tiến bộ chung của đất nước. Nhưng ngặt nỗi, cuộc sống không đứng yên một chỗ, thực tế thời cuộc cũng ngày một đổi khác, lòng yêu nước, mục đích lý tưởng vì thế cũng cần được biến thông, thể hiện khác đi cho phù hợp với thời thế và hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã thay đổi. Nếu vẫn cứ một mực “ngu trung” theo con đường cũ, khi sự vật đã khác xưa, thì đó chắc chắn không phải là cách lựa chọn sáng suốt của một người trong sạch luôn coi lợi ích của nhân dân là mục đích tối thượng.
     Về phía các nhà đương cuộc chịu trách nhiệm lèo lái quốc gia, ngày càng thấy dường như họ đã nhận ra tầm quan trọng và tính bức bách của nhu cầu cải cách thể chế. Về mặt phát biểu công khai, không ít các nhà lãnh đạo cấp cao đã đề cập vấn đề này từ lâu. Nhiều người trông chờ vào một bước đột phá có tính quyết định để khai thông mọi bế tắc; một vài cố gắng cũng đã được bàn thảo và thực hiện bước đầu, tuy vẫn còn vấp phải khá nhiều khó khăn trở ngại, bởi nhiều lý do rất phức tạp. Nhưng dù thế nào, nếu thật sự muốn lấy lại niềm tin trong nhân dân, để đất nước được ổn định phát triển lâu dài và thông suốt, tiêu chí của giá trị cải cách nhất định cũng phải được đánh giá dựa trên cái ngưỡng từ đó trông thấy rõ nỗ lực vượt lên mấy nút chặn nghiệt ngã bấy lâu nay, liên quan những nội dung/ vấn đề cốt lõi như quyền tự do ngôn luận-báo chí-xuất bản, quyền ứng cử, quyền biểu tình, quyền sở hữu ruộng đất (trên thực tế)…, chứ không thể chỉ dựa vào mấy câu chữ lưỡng nghĩa vốn đã được sửa đi sửa lại nhiều lần ghi trong các bản nghị quyết suốt mấy chục năm nay mà bản chất gần như không có gì đổi mới.
                                                                                                                          22.11.2016     
          
 Tác giả gởi cho viet-studies ngày 24-11-16