Vũ Thất

Bảo Bình 1

Category Archives: Văn Nghệ

Chiến thắng Vũng Rô

Chiến thắng Vũng Rô

Trần Quốc Bảo

https://vuthat.files.wordpress.com/2017/06/79fc6-vung-ro.jpg?w=630

Xin nhắc lại những dòng Quân Sử
Thật lẫy lừng “Chiến Thắng Vũng Rô”
Để Người Lính trên bước đường viễn xứ
Vẫn tự hào “Chiến sĩ dìệt Cộng nô”!
-o-
Nếu bạn đi trên Quốc lộ Số Một
Qua Khánh Hoà, đến dãy Trường Sơn
Gặp đèo cao nhất Nước, là Đèo Cả
Hùng vĩ quanh năm, gió hú mây vờn
Nhìn xuống chân Đèo … Tu Bông, Vạn Giả
Xa xa Đại Lãnh, xóm lá dân nghèo
Đến một vùng, vách đá cheo leo
Eo biển “Vũng Rô” hoang vu nằm giữa
Thấp thoáng sườn non, vài tiều phu chặt nứa
Dăm ba dân chài, ngoài bãi biển giăng câu
Ai ngờ … nơi đây là bí mật “bến tầu”
Cộng sản Bắc Việt chuyên chở vũ khí
Tiếp tế ngầm, cho bọn Cộng phỉ miền NamNgày 16 tháng 2 năm 1965
Trung úy Bowers lái trực thăng dọc bờ duyên hải (1)
Thấy một tầu khả nghi tại bãi Vũng Rô
Liền báo Cố vấn trưởng MACV, Thiếu tá Rodgers (2)
Cùng Hải Quân Thiếu tá Hồ Văn Kỳ Thoại (3)
Tư lệnh Vùng 2 Duyên hải, tại Nha-Trang
Lập tức, phi cơ thám thính phái tới hiện trường
Quan sát thấy, sườn núi nhiều địch quân ẩn nấp
Cuộc Hành quân quy mô liền được triệu tập
Phối hợp đủ thành phần: Hải Lục Không quânKhu trục AD-1 Skyraider cấp tốc thực hiện phi tuần
Oanh kích phủ đầu, nhận chìm tầu biển địch
Thiếu tá Thoại chỉ huy cuộc Hành quân xung kích (hình: B )
Quân số tham chiến rất hạn chế trong tay
Chiến trường nơi đây, sườn núi, rừng cây
Địch chiếm cao điểm, nhiều hang sâu ẩn trốn
Lực lượng cơ hữu của ta, có Duyên đoàn 24
Và Liên đoàn Nguời Nhái, quen hoạt động biển hồ
Được Hộ tống Hạm Tụy-Động (HQ-04) chở tới Vũng Rô
Gặp chiến địa núi rừng, vẫn xông pha dũng cảm
Đơn vị tiền kích, làm Cộng quân khiếp đảm
Là Lực lượng Đặc Biệt, do Trung úy Từ Vấn chỉ huy (4)
Được trực thăng vận bốc đến Đại Lãnh cấp kỳ
Lên Hải Vận hạm Tiền-Giang HQ-405 vào trận

Cuộc chiến diễn ra đã vô cùng gay cấn
Trung đoàn Cộng trên cao, xạ kích điên cuồng
Đợt xung phong đầu, hai chiến sĩ ta tử thương
Hạm đội: HQ-405, HQ-04 và Chi-Lăng II HQ-8
Nã đại bác, liên hồi vào khu rừng rậm rạp
Khoá miệng sơn pháo, hỏi tội quân thù
Thung lũng hoang vu, khói lửa mịt mù
Thêm hỏa lực không quân, dội long trời lở đất
Lực lượng Đặc biệt nương theo địa hình địa vật
Bung vào trận địa, cận chiến với Cộng nô
Tình báo cho hay: bọn địch ở Vũng Rô
1 Trung đoàn, thuộc Quân đoàn 5 Cộng sản
Nhiệm vụ tử thủ nơi đây giữ kho súng đạn
Từ Bắc chở vào cất giấu trong hang.

Những Chiến sĩ can trường “Lực Lượng Đặc Biệt”
Suốt 3 ngày quần thảo với lũ sài lang
Đến chiều 19 tháng 2 (1965), quân ta toàn thắng
Chiến lợi phẩm: Gồm 1 kho vũ khí hạng nặng
Đại bác 57 ly, 2 Đại liên, 1000 Trung liên,
1 hang chứa vũ khí cá nhân còn mới nguyên
Gồm 2000 Mauser, 150 Tiểu liên Trung cộng,
300 Carbine và Tiểu liên Tiệp Khắc
Trên 1 triệu đạn súng cá nhân cùng đại bác
1 kho mìn cùng chất nổ hiệu Nga sô (hình: C )
Ta đã xóa sổ gọn một Trung đoàn Cộng nô
Thắng lợi hành quân, được ghi nhận quá ư to tát
Đại Tướng Nguyễn Khánh đã đến tận nơi thị sát.(hình: D )
Tổng Tư Lệnh khen thưởng xứng đáng tất cả chiến binh (hình E & G)
Chiến thắng này, lột trần mặt nạ Hồ Chí Minh
Phản bội Hiệp định Genève, chủ trương xâm lăng binh biến
Ngày hôm sau, Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến
Đến chiến trường, xác nhận: CSBV xâm nhập Miền Nam
-o-
“Đại thắng Vũng Rô”, Một chiến tích vẻ vang
Chói lọi muôn đời những trang Quân Sử Việt
– Bằng chứng hiển nhiên cho ngàn sau rõ biết
Lũ Bắc Cộng đội lốt Giải phóng miền Nam
Gây nên cuộc chiến tranh Nam Bắc tương tàn
Đưa trọn Việt Nam vào ao tù Cộng Sản
– Người Lính VNCH, dù trên đường di tản
Vẫn luôn tự hào với “Đại Thắng Vũng Rô !”
Thực xứng danh: “Chiến Sĩ diệt Cộng nô”

Trần Quốc Bảo
Richmond,Virginia
Viết cho Ngày Quân Lực VNCH 19/6

Ghi chú:

Bài Thơ “Chiến Thắng Vũng Rô” này là một tài liệu Quân-Sử, tác giả đã tham khảo tư liệu và được sự hiệu đính trực tiếp của Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (Houston,TX) và Đại Tá Từ Vấn (Sacramento,CA)

(1) Trong một phi vụ tản thương, Trung Úy J.S.Bowers lái trực thăng UH1B đã bay qua vùng Vũng Rô, cách Nha Trang khoảng 50 dặm.
(2) Thiếu tá H.P. Rodgers, Cố vấn trưởng, Bộ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên hải tại Nha-trang
(3) Sau này ông Hồ Văn Kỳ Thoại là Phó Đề Đốc Hải quân/QLVNCH
(4) Ngay sau Trận Vũng Rô, Trung uý Từ Vấn được gắn lon Đại Úy (thăng cấp tại Mặt Trận) – Sau này ông Từ Vấn là Đại Tá/Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 5.BB /QLVNCH  (Tư Lệnh SĐ 5 là Thiếu Tướng Lê Nguyên Vỹ – đã tuẫn tiết 30/4/75)

Hình ảnh tư liệu do Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và Đại Tá Từ Vấn  cung cấp


(B) Thiếu Tá Hồ Văn Kỳ Thoại (người thứ 1, trái) sau chiến thắng Vũng Rô, được ân thưởng Bảo-Quốc Huân-Chương kèm Anh-Dũng Bội-Tinh với nhành dương liễu, hình chụp chung với các Hạm trưởng Hải Quân (1965)

(C) Vũ khí, đạn dược, mìn chất nổ … tịch thu của VC sau trận Vũng Rô

(D) Thiếu Tá Hồ Văn Kỳ Thoại (quân phục mầu xanh,người thứ 2 từ trái) Chỉ huy cuộc Hành quân Vũng Rô và Đại Tướng Nguyễn Khánh (tay cầm thuốc lá,ngườì thứ 2 từ phải) đến thị sát Chiến trường Vũng Rô, đang xem chiến lợi phẩm.

(E) Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gắn Đệ  Ngũ Dẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh dũng bội tinh với nhành Dương Liễu cho Trung Úy Từ Vấn

(G) Trung Úy Từ Vấn (thứ 2 từ trái) và các Chiến Hữu tham dự trận Vũng Rô đứng trước Chiến lợi phẩm

nguồn: http://www.dslamvien.com/2017/06/chien-thang-vung-ro.html

Mời đọc: Chương 15, trân Vũng Rô qua thể hồi ký:

Đời Thủy Thủ, Chương 15

Trần Hoài Thư, người ngồi vá lại những linh hồn

Đỗ Trường (Danlambao) – Cuối tuần, có bác nhà thơ già đến thăm, ghé mắt vào bài đang viết về nhà văn Trần Hoài Thư của tôi, rồi gật gật, lắc lắc, bảo: Cái tựa, Người ngồi vá lại những linh hồn, thấy rờn rợn thế nào ấy. Vâng! Khi chưa đọc, chưa nghiên cứu Trần Hoài Thư, bác có cảm giác vậy thôi. Đọc rồi, bác sẽ thấy, một Trần Hoài Thư không chỉ đang ngồi vá lại linh hồn mình, đồng đội mình, mà còn đang nhặt nhạnh những linh hồn văn hóa Việt rách nát, vương vãi đâu đó, rồi cặm cụi khâu lại nữa kìa.
Nghe tôi trả lời, bác nhà thơ già gật gù, gật gù lẩm bẩm: Được, tôi sẽ tìm đọc, xem có thật vậy không?
Phải nói thẳng, Trần Hoài Thư không phải là một nhà văn, nhà thơ lớn, lừng lững tên tuổi trên văn đàn của Văn học miền Nam trước 1975, cũng như ở hải ngoại hiện nay. Nhưng ông là một trong những nhà văn tôi yêu mến nhất của nền văn học Việt Nam từ trước đến nay. Bởi, ngoài tài năng, thì nhân cách lòng quả cảm, dám hy sinh, đi đến tận cùng của sự đam mê, cũng đầy trách nhiệm với văn hóa, văn chương nước nhà như ông, không phải ai cũng làm được. Và có lẽ, nhiều người đọc, nghiên cứu ông đồng cảm với tôi về điều này (?).
Nhà văn Trần Hoài Thư tên thật là Trần Qúi Sách, sinh năm 1942 tại Đà Lạt. Dường như, cái tên Qúi Sách này, đã vận thẳng vào cái nghiệp viết, và nâng niu gìn giữ từng trang sách, hồn thơ Việt của ông chăng? Truyện ngắn “Nước Mắt Tuổi Thơ” in trên tạp chí Bách Khoa Sài Gòn vào năm 1964 là chiếc thẻ thông hành đã đưa Trần Hoài Thư đến với làng văn. Sau khi tốt nghiệp ngành toán học, trường Đại học Sài Gòn, ông về giảng dạy trung học tại Tam Kỳ. Năm 1966 Trần Hoài Thư nhập ngũ khóa 24 Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Và gần mười năm trong quân ngũ, lúc là lính thám kích, khi là phóng viên chiến trường, dường như không lúc nào ông ngừng viết. Nhật ký chiến trường, hoặc những truyện ngắn, tản văn thời kỳ ấy, không chỉ có khói súng, mùi đạn bom quyện với máu thịt ông, đồng đội ông, mà còn thấm đẫm nước mắt của tình yêu, tình người. Sau 30-4-1975, Trần Hoài Thư bị tù cải tạo. Ra tù, năm 1980 ông vượt biển, hiện đang viết và làm chủ cơ sở xuất bản Thư Ấn Quán, cũng như Thư Quán Bản Thảo, một tạp chí văn học tại New Jersey Hoa Kỳ.
Có thể nói, thơ văn cũng như thân phận người lính Trần Hoài Thư gắn chặt với những biến cố thăng trầm của đất nước. Do vậy, cũng như những nhà văn cùng thời, cái sự nghiệt ngã ấy, đã ngắt thơ văn ông thành từng giai đoạn thật rõ ràng.
Tuy bước chân vào làng văn bằng văn xuôi, nhưng thơ đã đóng góp không nhỏ tạo nên một chân dung vạm vỡ Trần Hoài Thư. Với 14 tập truyện, cùng 8 tập thơ (?) đã xuất bản, minh chứng Trần Hoài Thư có sức viết dẻo dai, và khá cân đối. Với tôi Truyện Từ Văn và Truyện Trần Hoài Thư (rút từ các tập san) viết trước 1975, được in lại trong mấy năm gần đây, cùng với thơ, và tập truyện Ra Biển Gọi Thầm, Hành Trình Của Một Cổ Trắng là những tác phẩm tiêu biểu cho bút pháp trong từng giai đoạn sáng tác của ông.
Khi đi sâu vào nghiên cứu, tôi nhận ra, ngoài tính chân thực, thì nghệ thuật miêu tả (diễn biến) nội tâm nhân vật là đặc điểm nổi bật nhất trong truyện của Trần Hoài Thư. Nghệ thuật này là một tài năng, tìm tòi liên tưởng chứ dứt khoát không phải do ông xuất thân từ nhà giáo, đã kinh qua những giáo trình tâm lý học. Bởi, cũng có nhiều nhà văn xuất thân từ nhà giáo, nhưng không có đặc điểm này.
Chiến tranh, dưới cái nhìn và ngòi bút nhân bản của nhà văn.
Nếu phải đưa ra một câu trả lời, với tôi Trần Hoài Thư, Phan Nhật Nam, Thế Uyên là những nhà văn hàng đầu viết về người lính của văn chương miền Nam ở thời điểm nóng bỏng nhất của cuộc chiến. Và cùng với Cao Xuân Huy và Phạm Tín An Ninh ở giai đoạn sau 1975 cho đến nay, nơi hải ngoại.
Có một điều đặc biệt, Trần Hoài Thư là một người lính chiến thực thụ và viết ngay nơi chiến trường. Hơn thế nữa, nhiều nhà phê bình đánh giá, nhận định ông là nhà văn quân đội. Nhưng đọc ông, cho tôi cảm giác, dường như có những lúc linh hồn ông đã tách ra khỏi cuộc chiến, rời bỏ chiếc áo nhà binh. Bởi, ngoài những người lính, còn có không ít truyện viết về tình yêu, về cái thuở học trò với những cuộc sống thường nhật, hay về cả những khi phản kháng đào ngũ, bỏ đơn vị nó hằn đậm trên trang viết của ông ở cái thời binh đao khói lửa ấy.


 
Có lẽ, ngay từ buổi ban đầu, Trần Hoài Thư chưa có ý thức rõ ràng về chiến tranh, với những lý tưởng cao đẹp nào đó. Cho nên, bước chân vào quân trường là nghĩa vụ bắt buộc đối với ông. Sự chán chường ấy, ta đã bắt gặp rất nhiều trên những trang viết của Trần Hoài Thư. Giai đoạn đó với ông, dù có đứng ở bên nào, góc độ nào thì cuộc chiến này cũng đều vô nghĩa. Do vậy, không chỉ ở truyện ngắn văn xuôi, mà ngay trong thơ ta thấy tương lai mịt mù với những lời thán ca đau đến nhức nhối lòng người:
 
“Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo
Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn
Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm
Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân
 
Thế hệ chúng tôi loài ngựa thồ bị xích
Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu
Quá khứ tương lai, tháng ngày mất tích
Đàn ngựa rũ bờm, không biết về đâu” (Thế hệ chiến tranh)
 
Với cái nhãn quan như vậy, cho nên người lính Trần Hoài Thư luôn ước nguyện, hy vọng trở về quê hương, nơi có cuộc sống bình dị, và cũng thật yên bình: “…Anh nghĩ rồi đây chiến tranh sẽ chấm dứt. Miền Nam và miền Bắc sẽ sum họp. Mọi người sẽ ngồi lại và tha thứ lẫn nhau. Rồi em về Nha Trang. Anh cũng trở lại cùng Nha Trang. Anh sẽ xin dạy trở lại. Rồi anh sẽ xin cưới em…” (Nha Trang).
 
Và cái suy nghĩ đơn giản, vô tư ấy, ông đã trả giá bằng chính những năm tháng ngục tù, rồi buộc phải cùng với con thuyền lá tre kia lao ra biển cả.
 
Có thể nói, tính nhân đạo là đặc trưng nổi bật nhất, xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của Trần Hoài Thư. Cái tình người, và sự cảm thông ấy không chỉ nằm trong tình đồng đội, tình đồng bào, mà nó còn là hơi ấm cho cả những người lính ở bên kia của chiến tuyến. Cái đặc tính này, gần đây dường như nó được tiếp nối một cách rất sâu sắc trong trang văn, truyện ngắn của đồng đội ông, nhà văn Phạm Tín An Ninh.
 
Ngày Thanh Xuân, một truyện ngắn điển hình như vậy, được Trần Hoài Thư viết vào mùa xuân 1972. Chúng ta hãy đọc lại lời thoại của hai đoạn trích dưới đây giữa một tù binh bị thương miền Bắc với người lính miền Nam, khi ở ngoài chiến trường, cũng như lúc ở quân y viện. Để thấy rõ tài năng miêu tả diễn biến nội tâm nhân vật, cũng như sự nhân đạo và sự cảm thông ngút trời ấy của Trần Hoài Thư: 
 
“Mong anh hiểu trách nhiệm và bổn phận của chúng tôi, những người lính khác trận tuyến với các anh. Anh hãy để chúng tôi săn sóc. Hy vọng một ngày hòa bình, anh sẽ trở về quê hương và tôi được dịp đáp tàu ra Bắc, như niềm mơ ước của tôi. Mời anh một điếu thuốc thơm, anh vui lòng chứ? Anh uống cà phê nhé. Cà phê tôi mang theo trong bi-đông…
 
Nếu tôi còn ở miền Bắc, có lẽ bây giờ tôi là đồng chí của anh. Chúng ta đều bị bắt buộc cầm súng. Chúng ta bị chủ nghĩa, ngoại bang, các thế lực quốc tế xô đẩy chúng ta vào hố thẳm của hận thù. Anh đồng ý với ý kiến của tôi không? – Phải, tôi đồng ý – Y thầm thì – Tôi đã hiểu rằng những người tuổi trẻ của Việt Nam là những đứa con tội nghiệp. Chúng ta lỡ sinh vào một thế kỷ bất hạnh nhất. Chúng ta được giao truyền lại một gia tài bi đát nhất…”
 
Không chỉ đối với những người còn sống, hay người tù binh tàn tật, mà lòng nhân đạo, và tình thương ấy đến với cả người lính đối phương vừa chết trận của Trần Hoài Thư. Và nếu văn là những lời sẻ chia, cảm thông, thì thơ ông như một tiếng ru cho linh hồn của đồng loại đã nằm xuống trong trận chiến này. Tôi đã đọc khá nhiều thơ của những người lính, thuộc cả hai chiến tuyến viết cho đồng đội nằm xuống. Từ đó có thể nói, Khi Chưa Có Mùa Thu là một trong những bài thơ hay nhất của người lính phía Bắc Trần Mạnh Hảo. Và vắt cơm nhòa nước suối, hay nhòa nước mắt để viếng (cúng) đồng đội của Trần Mạnh Hảo làm cho người đọc phải rưng rưng, xúc động: ”Vắt cơm nhòa nước suối/ Viếng bạn mình không ăn”. Nhưng đặc biệt, cao cả hơn thế nữa, người lính phương Nam Trần Hoài Thư đã tiễn đưa hồn người lính Bắc bằng những ly rượu nồng với những câu thơ đẹp và vô cùng lãng mạn, đọc lên ai cũng bùi ngùi, xót xa. Và tôi tin lúc đó, Trần Hoài Thư đã dứt bỏ hoàn toàn mọi áp lực xung quanh, mà chỉ còn trái tim đa cảm, bao dung đang rung lên của người nghệ sĩ, để viết nên bài thơ này. Tôi không dám nghĩ, đây là bài thơ độc nhất vô nhị, dù được viết trong lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt. Nhưng có lẽ, nó là bài thơ lạ lùng nhất đến nay tôi được đọc. Vâng! Và chính nó, bài thơ Một Ngày Không Hành Quân của Trần Hoài Thư đã làm cho những giọt nước mắt của tôi rơi ngay trên bàn phím này:
 
“…Tôi rót mời một người lính Bắc
Hắn nằm banh thây dưới hầm bí mật
Trên người vẫn còn sót lại bài thơ
Trên đồi cao mây vẫn xanh lơ
Có con bướm vàng dịu dàng dưới nắng
Tôi với hắn đâu có gì thống hận
Bài thơ nào cũng viết để yêu em”
 
Hoàn toàn không có ý so sánh, nhưng như có một sợi dây liên cảm, bởi khi đọc truyện ngắn Chiến Tranh của Trần Hoài Thư, làm cho tôi nghĩ đến những người lính gian khổ chống phát xít trong tiểu thuyết, tập truyện: Họ Đã Chiến Đấu Vì Tổ Quốc, hay Số Phận Con Người… của nhà văn Nga Mikhail Sholokhov. Trong cái không khí mịt mù khói lửa ấy, sự nguy hiểm, gian nan càng tăng lên, thì tình chiến hữu đồng đội của họ càng hòa quyện chặt vào nhau hơn. Và đứng trước thất bại cũng như cái chết, dường như đã cho Trần Hoài Thư nghị lực vượt qua tất cả để sống, để viết trả nợ đồng đội. Lời văn tự sự nhanh và mãnh liệt, với ngôn ngữ, câu thoại mang đậm tính điện ảnh, gần tâm lý độc giả Âu- Mỹ, Trần Hoài Thư đã cho ta thấy rõ điều đó:
 
“- Mày hãy nghe tao nói. Mày là nhà văn. Tao là độc giả của mày. Mày phải sống. Mày nghe rõ chưa. Mày phải sống để mà viết lại…
 
Rồi hắn gào lớn:
 
– Phải viết lại cảnh này. Thằng Trí, thằng Luông đang nằm cạnh tao đây cũng cần mày. Thằng Trí cõng tao, rồi chết vì tao… Mày hãy nói cho mọi người biết về những cái chết chó má như thế này. Chết mà không được bắn một viên đạn như thế này…
 
– Tư. Tao xin nghe mày. Tôi đau đớn nói.
 
– Tao dẫu sống cũng vô ích. Hai chân tao, ngực tao, ruột tao… Chỉ còn cái đầu tao là không trúng đạn… Rồi hắn la. Không, hắn mắng tôi.
 
– Sao lại không chịu chạy. Mày hèn à. Diều hâu mà hèn à…”
 
Chập chờn ký ức hiện về, cùng những tình tiết hiện thực đan xen, tạo nên hình ảnh so sánh ẩn dụ làm cho người đọc phải ám ảnh rờn rợn, xuyên suốt những tác phẩm của Trần Hoài Thư. Với thủ pháp nghệ thuật này, đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công, cũng như tên tuổi tác phẩm, tác giả Trần Hoài Thư. Nhiều thế hệ các nhà văn trẻ sau ông sử dụng khá thành công thủ pháp nghệ thuật này, đặc biệt cuốn Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh. Và Mắt Đêm là một truyện ngắn điển hình như vậy của Trần Hoài Thư. Tuy khoác áo lính, bước vào cuộc chiến là nghĩa vụ bắt buộc, nhưng Trần Hoài Thư luôn giữ vững quân kỷ của người trung đội trưởng, và trách nhiệm bảo vệ dân chúng, đồng bào được ông đặt lên hàng đầu. Đọc nó, không chỉ thấy được cái tình của người lính Việt Nam Cộng Hòa đối với người dân nơi chiến trường (dù biết họ có thể là nằm vùng, hay có quan hệ, che chở cho những người lính Bắc) mà Trần Hoài Thư còn đưa ta ngược về ký ức với hình ảnh tuổi thơ xa vời vợi của ông. Có thể nói, đây là một trong những truyện ngắn hay nhất của Trần Hoài Thư được viết trong thời kỳ này:
 
“Thằng Trung cầm trái M.26, sắp bỏ vào miệng rút chốt. Tôi gọi giựt: Khoan đã. Muốn chết hả? Trung nói: Thiếu úy, em nghe tiếng động trong hầm, bọn nó núp trong hầm, thiếu úy. Tôi nạt: Mà tưởng bắt bọn nó dễ dàng như vậy sao? Trung cầm trái lựu đạn, phân bua: Thì ở đây là bọn nó rồi còn gì. Tôi nói: Lỡ dưới hầm toàn dân không thì? Tôi chỉ tay vào trái lựu đạn cay, sao mày không dùng thứ này?…
 
Tôi không thể chịu nổi những gương mặt thảm thê, những đôi mắt ngơ ngác sợ sệt đó. Mụ đàn bà nhìn tôi van lơn. Hai ông già tiếp tục nhìn ra cánh đồng chói nắng… Tôi muốn nhắm mắt lại, ngủ một giấc, một giấc thôi. Mẹ tôi ở đó, những đêm ôm chặt tôi trốn dưới gầm giường. Đạn réo ngoài sân, ngoài ngõ, ngoài hiên. Đạn réo trên đầu, trên mùng, Mẹ tôi ở đó, trên sân nắng, hai tay để lên đầu, khóc lóc nhìn bọn lính Tây tra hỏi. Vẫn những giọt nước mắt, vẫn những tiếng khóc lóc, như một âm vang từ xa xôi vọng lại, từ một quê hương, một xóm làng đìu hiu.”


 
Vẫn những đêm ngủ rừng, hay trên gò mả giữa cánh đồng trắng trơn, hoặc xông vào những trận đánh kinh hồn, nhưng dường như giấc mơ, nỗi nhớ vẫn không thể thiếu trên mỗi chặng đường hành quân của Trần Hoài Thư. Tình yêu và cái thuở ban đầu ấy, như những cơn mưa đầu mùa tưới mát cho tâm hồn chai sạn của người lính chiến. Với tôi, trong các nhà văn quân đội VNCH (trực tiếp cầm súng) nơi chiến trường ác liệt, viết nhiều và hay nhất về tình yêu, và cái thuở học trò, chắc chắn phải là Trần Hoài Thư. Thật vậy, đọc truyện Nụ Hoa Vàng Của Ngày Si Tình của ông, cho tôi cảm giác như đang đọc một bài thơ. Một bài thơ tự sự đầy hình tượng về sự tiếc nuối một mối tình đầu của thuở hoa niên. Tuy nhiên ông bạn nhà thơ già của tôi, ghé mắt đọc, không cho là như vậy. Vì thế, khi ngồi viết những dòng chữ này, tôi chưa biết để Nụ Hoa Vàng Của Ngày Si Tình ở mục truyện ngắn, tùy bút, hay một trang thư…Nếu đây là một lá thư, thì có lẽ, đây lá thư tình hay nhất mà tôi đã được đọc. Và đọc nó, khẳng định thêm một lần nữa tài năng miêu tả tâm lý, nội tâm nhân vật của nhà văn Trần Hoài Thư:
 
“…Trên mái ngói đỏ của ngôi trường nữ trung học, có đôi chim bồ câu âu yếm tỉa lông cho nhau. Nhưng, riêng anh, cả lòng như một bến ga quạnh quẽ. Đứng bơ vơ, mà nghe trong gió có một cung đàn kỷ niệm. Cung đàn ấy, vọng từ một cõi nào xa xôi lắm, có vỉa hè Đồng Khánh, có cả rừng bướm trắng dập dìu, và có một kẻ tình si đang trồng chân như cây phượng vĩ già nua, nhìn theo một cánh bướm, qua sông vĩnh biệt…”
 
Trong văn học sử miền Nam có hai ông nhà văn vừa cầm súng vừa viết Phan Nhật Nam và Trần Hoài Thư, cùng chung cảnh cải tạo tù tội sau 1975, nhưng lại có văn phong khác hẳn nhau. Nếu văn Phan Nhật Nam sinh động, sắc sảo, thì văn Trần Hoài Thư trầm lắng, hình tượng. Phan Nhật Nam động thì Trần Hoài Thư tĩnh. Âu đó cũng là sự may mắn làm phong phú thêm cho nền văn học Việt Nam.
 
Và Viễn Thám là một truyên ngắn hay, có lời văn đẹp, tĩnh lặng như vậy của Trần Hoài Thư. Đây là truyện ngắn làm cho người đọc ngạc nhiên, bất ngờ và gây ra nhiều tranh cãi. Nó mở ra tư tưởng cũng như nhân sinh quan của ông. Có lẽ, không riêng tôi, mà còn nhiều người đánh giá cao giá trị nội dung cũng như quan niệm, thay đối tượng thẩm mỹ trong chiến tranh của tác giả trong truyện ngắn này. Hơn thế nữa, nó không chỉ đẹp trong từ ngữ lời văn, mà trong cả tâm hồn và trong cái tình của người lính thám báo, nhà văn Trần Hoài Thư. Và nó khác hẳn hình ảnh người thám kích dã man, tàn bạo trong truyện của Bảo Ninh và Dương Thu Hương. Tôi nghĩ, Bảo Ninh, Dương Thu Hương viết Nỗi Buồn Chiến Tranh và Vô Đề vào những năm cuối thập kỷ tám mươi của thế kỷ trước, khi chưa bốc (hết) được ngôi mộ với con ma xó tuyên truyền bấy lâu ra khỏi linh hồn mình. Nếu những cuốn sách ấy được ra đời vào thời điểm ngày nay, có lẽ sẽ khác đi chăng? Đọc truyện này, có lẽ nhiều người phản bác, cho rằng Trần Hoài Thư hành động bằng cảm tính. Và bằng chứng dường như có những đoạn văn của ông bị xét duyệt cắt bỏ khi in ấn vào thời điểm ấy chăng? Ơ hay! Trần Hoài Thư mang trái tim nghệ sỹ vào chiến tranh cơ mà. Và trong chiến tranh dường như, những người nghệ sỹ cầm súng luôn có tâm hồn, suy nghĩ như vậy. Nhưng dám hành động, và viết thành lời như ông không phải ai cũng đủ dũng khí. Chúng ta đọc lại một đoạn trích trong Viễn Thám (tuy nhiên, có đoạn khi duyệt đã cắt bỏ?) để thấy rõ điều đó:
 
“Trung đội thám kích đang săn tin về một đơn vị Bắc quân mới xâm nhập vùng Trường sơn, đã không ngờ gặp một cặp bộ đội đang hát bên bờ suối. Quân thù đó nhưng người lính đã không bắn. “Tôi không thể chơi cái trò dã man như vậy. Tôi muốn người thanh niên kia, ít ra, có một giờ phút vĩnh cửu (…) Tiếng hát như nói lên những điều câm nín từ những con tim của tuổi trẻ Việt Nam…. Tiếng hát như dậy khỏi mồ, bạt cả gió, khiến rừng như thể im phăng phắc lá như thể thôi lay động trên cành. Và ít ra, tôi vẫn còn hiểu rằng, mỗi người đều có trái tim. Và trái tim thì lúc nào cũng sống vĩnh cửu”
 
Có thể nói, chất liệu trong văn thơ Trần Hoài Thư có được từ thực tế bản thân và đồng đội. Ông đã trải nó lên trang văn dưới nhãn quan của riêng mình. Tuy có cái nhìn bi quan về cuộc chiến, nhưng nó lại bật lên tính nhân đạo ngút trời trong từng trang viết của ông. 
 
Tính bi hài và những nỗi đau.
 
Có lẽ không ai nghĩ, một thư sinh với sức trói gà Trần Hoài Thư có sức phản kháng mãnh liệt đến vậy. Sự phản kháng ấy, không chỉ có trên trang văn, mà còn mãnh liệt hơn trước những bất công ở ngoài đời. Trần Hoài Thư tự động rời bỏ quân ngũ trước phi lý của số phận đã chứng minh cho điều đó. Và từ đó, cho ta thấy được tính khí khái trong con người ông. Chứ thành thật mà nói, một nhà văn dù có sống ở chế độ nào cũng vậy, cứ cúi mặt xuống viết dưới cái bóng của các đấng ngồi trên, thì không bao giờ có được những tác phẩm ra tấm ra miếng.
 
Ngay ngày đầu, Trần Hoài Thư đã nhận ra cái bất công và số phận hẩm hưu của những người lính nơi tiền đồn. Do vậy, những cay đắng, khắc khoải đó như nén chặt trong lòng văn nhân. Và rồi, một lúc nào đó, nó sẽ chảy ộc ra bằng văn, bằng thơ, trải dài trên trang giấy, đọc lên ai cũng phải xót xa:
 
“Khi ra trận ta là thằng chết trước
Tổ quốc ghi ơn, lãnh tụ đẹp lòng
Khi tìm vợ, ta là thằng chạy chót
Nên khó lòng ấp vợ đẹp trong chăn…” (Lính tiền phương)
 
Vâng! Và người lính ấy chưa chết hẳn, nhưng trở về với đôi nạng gỗ trên tay. Đọc truyện Bệnh Xá Mùa Xuân, ta không chỉ thấy được sự lên án, mỉa mai, mà còn thấy được sự tàn nhẫn của chiến tranh. Và hình ảnh người lính cụt chân ấy, cứ tưởng mình còn nguyên vẹn, nhảy phắt xuống giường, bị ngã úp mặt xuống đất, dường như đẩy tính bi hài, và nỗi đau lên gấp bội. Phải nói thẳng, miền Nam có nhiều nhà văn lớn và tài hoa, nhưng tài năng đưa hình ảnh, hình tượng vào trong văn nhiều và hay như Trần Hoài Thư quả thực không nhiều:
 
“Nửa đêm, cả lòng đêm bỗng dưng bị dội lên bởi những quả đạn rơi rất gần khu bệnh xá. Những tiếng la thất thanh. Pháo kích! Pháo kích! Tiếp sau là những bóng người vụt chạy ra hầm núp ngoài sân. Tên thương binh cụt chân, trong cơn bấn loạn tột độ ngỡ mình vẫn còn lành lặn như xưa, đã ào nhảy xuống giường. Sau đó, hắn mới biết được sự thật. Hắn ôm khúc đùi rên rỉ và nằm ngay dưới nền. Hắn không còn nhận ra cặp nạng nữa…”
 
Đọc và nghiên cứu tôi thấy rất có lý, khi nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh nhắc đến cái chất giản dị trong văn của Trần Hoài Thư. Thật vậy, ngoài cái giản dị trong sáng, văn thơ Trần Hoài Thư không hề đao to búa lớn. Chính những đặc điểm ấy, đã giúp tôi đọc hết tất cả những gì ông viết, khi bắt gặp, hoặc tìm thấy, dù bất kể đề tài, thể loại nào. Qủa thật, tôi rất sợ đọc những bài viết lên gân quá mức cần thiết khi viết về người lính Việt Nam Cộng Hòa của một số tác giả gần đây. Thường những bài này, tôi bỏ nửa chừng. Là người, kể cả người lính dù có lý tưởng gì gì đi chăng nữa, trước cái chết ai mà chẳng sợ. “Cái chết nhẹ tựa lông hồng” không phải ai, và hoàn cảnh nào cũng có thể dùng được. Ta đọc lại những câu thoại giữa hai người lính (là thày, trò cũ của nhau) cùng bị thương dưới đây,trong truyện Bệnh Xá Mùa Xuân, để thấy cái day dứt, bi hài đi thẳng vào lòng người, tuy từ ngữ rất mộc mạc: 
 
“- Trời ơi, một người mang cặp kính nặng như thế mà họ vẫn không chịu buông tha sao thầy?
 
Minh cười:
 
– Họ nói là điếc thì không sợ súng, còn mang hai cặp mắt mới dễ bắn VC hơn.
 
– May mà em cụt một chân, nếu mù một con mắt họ vẫn bắt em đi ra đánh giặc trở lại.
 
– Thầy không buồn đâu. Bởi vì dù sao thầy là sĩ quan, là thiếu úy, thầy vẫn còn sướng hơn những người lính khác. Trung đội thầy có thằng mang đại liên, tên là Nga, Võ hồng Nga, to đen như Mỹ đen, nhưng bị cận thị nặng. Đi hành quân, nó không thấy đường, cứ nhằm chỗ VC mà tiến. Cuối cùng nó chết.
 
– Thầy biết không, bởi vì nó không cổ cánh….”
 
Chết hoặc trở thành tàn phế chưa phải là điều đáng sợ của người lính, mà cái đáng sợ nhất nhận lệnh, buộc phải thi hành của những người lãnh đạo quan liêu, và dốt nát. Đọc truyện Thế Hệ Chiến Tranh dường như cho ta một cảm giác, đây là một bản cáo trạng của nhà văn thì đúng hơn:
 
“Suốt cả một buổi trưa hai thằng chúng tôi mắc nạn không thể bò xuống đồi. Tư bị đạn trúng bã vai và chân. Còn tôi thì bị lựu đạn làm bể cả bắp đùi. Lúc này mạnh ai nấy thoát. Bởi ai cũng biết rằng nếu ở lại thì chết bởi những họng súng đang săn mồi từ cao điểm. Rõ ràng đây là một cuộc thí quân. Họ ra lệnh chúng tôi phải chiếm đồi với M16, và lựu đạn, trong khi địch ẩn núp trong những hang kiên cố, với lợi thế là thấy rõ chúng tôi, còn chúng tôi thì như những kẻ đui mù…”
 
Không dừng lại nơi chiến sự, Trần Hoài Thư tiếp tục chọc thẳng vào cái ung nhọt thượng tầng của xã hội. Khi ông đã nhận ra, sự hy sinh cả một thế hệ để phục vụ cho những kẻ lãnh đạo không lương thiện, thiếu tài năng này. Nếu gần đây, ta đã đọc bút ký Sau Cơn Binh Lửa của Trung tá, nhà văn Song Vũ, thì thấy được, những con sâu ở giới lãnh đạo thượng tầng này, góp phần không nhỏ dẫn đến sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Có thể nói, tuy miền Nam được tự do viết lách, nhưng ở vào thời điểm đó, Trần Hoài Thư viết thẳng tưng như thế này, quả thật cần lắm một sự dũng cảm. Và đoạn trích dưới đây, chứng minh cho ta thấy sự thối nát cũng như sự can trường của nhà văn:
 
“Trong khi bạn bè thầy, bạn bè em cứ tiếp tục bị chết, thì ở Sài Gòn người ta vẫn ăn chơi phè phỡn, đô la thuốc phiện và tranh giành quyền lực bằng những thủ đoạn chính trị bẩn thỉu. Ngay tại nơi này, những đồn điền mênh mông, những khu rừng cấm mà bọn mình đem xương máu bảo vệ là tài sản của các tướng tá hay các lãnh tụ ở Sài Gòn. Chúng ta cứ chết, mặc nước mắt của người mẹ, người em, để những mệnh phụ phu nhân, những bà lớn nắm quyền mua quan bán chức. Họ đục khoét tiền viện trợ Mỹ, con cái họ được chạy đi du học để trốn tránh trách nhiệm.”
 
Nỗi đau, sự trớ trêu trên những trang viết Trần Hoài Thư không dừng lại một gia đình, một tỉnh thành, mà cho toàn dân tộc Việt. Có thể nói, từ ngày lập quốc đến nay chưa có trận chiến nào tang thương, thù hận bằng cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn vừa qua. Trần Hoài Thư chứng kiến những hiện thực bi hài trớ trêu ấy, và tái hiện vào những trang sách, nên đôi lúc tôi cứ nghĩ, ông không dừng lại ở nhà văn, mà còn như một nhà sử học vậy. Nếu truyện Người Anh Hàng Xóm, cuộc đối đầu nhau trên chiến trường giữa hai cha con đều là trung đoàn trưởng ở hai phía, thì truyện Về Làng là nỗi đau của một người lính Việt Nam Cộng Hòa trước người chú và chị ruột theo CS, bị chính đồng đội của mình bắn chết… Đây là hai câu chuyện điển hình nhất trong nỗi bất hạnh của dân tộc trên trang viết của ông. Và nó cứ ám ảnh đeo vào lòng người một sự day dứt, không thể dứt bỏ. 
 
Có một điều đặc biệt nữa, truyện nào của ông cũng mang một nỗi u hoài của sự chia ly, chết chóc với những cái kết bất ngờ bỏ ngỏ, buộc người đọc phải suy nghĩ. Nói Trần Hoài Thư là nhà văn của những nỗi đau, thì quả thật không ngoa tẹo nào.
 
Khi các nhà văn cùng thời thường khai thác đề tài ít va chạm với quyền lực, xã hội, hoặc viết về những trận đánh, chiến công oai hùng của người lính, thì Trần Hoài Thư đi vào bới móc cái bóng đen của chiến tranh, cũng như xã hội con người. Một đề tài khó nhằn, khó nuốt.
 
Nói cho cùng, xã hội, quân đội nào cũng vậy, đằng sau cái hào nhoáng đó, nó còn ẩn nấp bao thứ tồi tệ và bệnh hoạn khác. Và rất cần những nhà văn như Trần Hoài Thư bóc trần, rồi cắt bỏ.
 
Ba mươi tháng tư, và linh hồn rách nát.
 
Vậy là chiến tranh đã kết thúc, người lính thám kích Trần Hoài Thư không thể về Nha Trang cưới em, và trở về nghề dạy học của mình, như ước nguyện. Nam- Bắc thống nhất, nhưng không thể tha thứ cho nhau, và người lính thua trận ấy bước vào vòng lao lý. Bốn năm lưu đày ấy như bốn ngọn roi quất vào tâm hồn văn nhân. Cặp bộ đội đứng hát bên bờ suối năm xưa, nay đã thành người quản giáo. Tiếng hát ngày nào đổi thành lời rao giảng, để hành hạ nhau. Đói và rét làm cho người người lính, văn nhân mất đi cả lý trí. Mình là ai? Sinh vật hay con người? Có lẽ chỉ có trời mới biết. Sự phản ứng vô ý thức ấy của văn nhân buộc tôi tự hỏi: Nếu bây giờ trở lại hoàn cảnh năm xưa, người thám kích Trần Hoài Thư có bắn cặp bộ đội đang hát bên suối hay vẫn tha? Và trái tim văn nhân có còn sống vĩnh cửu? (như ở truyện Viễn Thám). Ta đọc lại đoạn trích trong truyện ngắn Ra Biển Gọi Thầm, để so sánh tư tưởng, ý thức, hành động trước và sau 30-4-1974 của nhà văn Trần Hoài Thư:
 
“Nó cũng thâm độc hơn bất cứ một sinh vật nào. Nó đái lên những con cá lóc cá trê nó câu được trước khi nạp phần cho cán bộ quản giáo. Nó thầm lén phạt đứt cọng mạ non thay vì làm cỏ. Nó chửi thề khi hắn ngồi nghe chính trị viên lên lớp. Nhưng nó lại chịu thua trước thiên nhiên. Bởi nước thì quá sâu, và chảy quá mạnh. Bởi bó tràm thì quá ngỗ nghịch, cứng đầu. Nó ngoi ngóp. Nó vùng vẫỵ Hai chân vừa đạp, hai tay vừa kéo. Mưa lạnh làm châu thân nó run như lên cơn sốt rét. Hàm răng nó đánh cầm cập. Nó lại đóị Cái đói ghê gớm. Cái đói tàn bạo quật ngã nó khiến nó cứ thở dốc, thở rống từng hồi từ lồng ngực ngỡ khô cạn. Nó lảo đảo. Nó đang ở bên trời. Nó hay là tôi. Và tôi hay là nó. Tôi cũng chẳng cần biết nữa…”
 
Với tôi, Ra Biển Gọi Thầm là truyện ngắn hay và cảm động nhất trong tập truyện cùng tên. Truyện này, Trần Hoài Thư viết khi ông đã vượt thoát sang Hoa Kỳ. Vẫn thủ pháp nghệ thuật hồi tưởng, chập chờn của ký ức, ông đã đưa người đọc trở về với những ngày tù tội, nơi có mối tình cao thượng tuyệt đẹp, nhưng cũng tuyệt vọng của mình. Tôi đã đọc khá nhiều truyện, ký của các tù nhân, cải tạo, nhưng đây là lần thứ hai đọc truyện viết về tình yêu trong thời gian tù của họ. Và trước đó, là truyện Nghỉ Hè Ở Mallorca của nhà văn Phạm Tín An Ninh.


Dường như càng lớn tuổi, nhất là từ sau 1975 càng gian nan Trần Hoài Thư kiệm lời hơn, nên đi vào sự cô đọng, sâu lắng của thơ. Hơn bốn năm tù, với một linh hồn rách nát, đủ để cho ông nhìn lại. Dù nhận được lời mời vào hội văn thơ, nhưng ra đi là con đường duy nhất của ông. Và con thuyền lá tre chòng chành giữa biển khơi mênh mông bão tố ấy, chở ông đi tìm tự do, hay tìm về cõi chết? Đọc bài thơ Đêm Ra Biển của Trần Hoài Thư làm cho tôi phải rợn tóc gáy:
 
“…Đêm nước mặn mà ngọt ngào nỗi chết
Đêm quá dài mà ngắn chớp tử sinh
Đêm ơi đêm, một cõi u minh
Đêm bật khóc nhìn chúng tôi tự sát…”
 
Vậy là Trần Hoài Thư đã vượt qua được những chớp tử sinh. Đến được bến bờ tự do, nhưng ông cảm thấy mình bất hạnh hơn. Mâu thuẫn trong tư tưởng, tình cảm luôn giằng xé văn nhân. Và từ đây, ông như con thuyền không lái, chòng chành hơn, bởi đã mất quê hương:
 
“Là lúc biết mình như thoát nạn
Sáng chân trời, hồng rực vầng dương
Là lúc, thấy mình như bất hạnh
Sắp làm người không có quê hương” (Đêm tiễn biệt Việt Nam)
 
Có thể nói, sau 1975 và từ khi định cư ở Hoa Kỳ, Trần Hoài Thư viết nhiều hơn. Ông viết cho mình, viết cho đồng đội, cho quê hương. Mỗi trang sách, bài thơ của ông như những đường kim sợi chỉ, vá lại linh hồn cho bao người đã bị rách nát trong chiến tranh, và trong những ngày trốn chạy lưu vong.
 
Tuy chưa phải là nhà văn lớn, nhưng Trần Hoài Thư là một trong những nhà văn điển hình nhất trong hai mươi năm nội chiến của nền Văn học Việt Nam.
 
Viết bài này, khi tài liệu thơ văn của Trần Hoài Thư, tôi có không nhiều, chủ yếu tìm đọc trên Internet, (và cũng chưa một lần gặp gỡ ông). Do vậy, không có hệ thống, có thể còn sai sót và chưa lột tả, đi hết cái tận cùng con người, cũng như thế giới mênh mông văn thơ Trần Hoài Thư. Nhưng đây như một lời tạ ơn của kẻ hậu bối, đến một nhà văn suốt đời hy sinh, tận tụy cho văn chương nước nhà.
 
Và hình ảnh Trần Hoài Thư, ngồi vá lại những linh hồn in đậm trong lòng, đã thôi thúc cho tôi viết bài này.
 
Leipzig ngày 22- 5-2017

Sách mới: CÒN KHÔNG CHỐN QUAY VỀ

Giới thiệu sách mới: CÒN KHÔNG CHỐN QUAY VỀ

Truyện và tạp bút của nhà văn Hoài Ziang Duy

Bìa: Nghiêu Minh

Trình bày: Nguyễn Nam An

Nhà xuất bản Thân Hữu – tháng 4.2017

Sách dày 308 trang giá 18 USD

gồm 20 truyện và tạp bút

Muốn mua sách, xin gửi check hoặc money order

ghi tên BINH DO và gửi về địa chỉ:

21269 Mirror Ridge Pl

Sterling, VA 20164

Liên lạc với tác giả: hoaiziangduy@gmail.com

Phone: 571-232-2989

Đọc tạp bút Còn không chốn quay về:

https://vuthat.wordpress.com/2014/03/18/13600/

Đồ nói láo

Đồ Nói Láo! (Liar!)

 Nguyên tác: Isaac Asimov
 Bản dịch: Vũ Thất
Lời người dịch: Người máy Robot là nhân vật trong các truyện khoa học giả tưởng của nhà văn Isaac Asimov (1920-1992), tiến sĩ Hóa học, giáo sư Đại Học Boston.
Nhiều truyện của ông được quay thành phim. Cách đây không lâu, phim I, ROBOT, dựa vào tập truyện cùng tên của ông được tung ra thị trường, lôi cuốn hàng chục triệu khán giả khắp thế giới.
Robot là một công cụ dành cho con người sử dụng. Để con người khỏi phải trở thành nạn nhân của công cụ do chính mình tạo ra, bộ óc Robot được lập trình theo 3 điều luật:
1. Người máy không được gây tổn thương con người, cũng không được bất hoạt khiến con người bị thương tổn.
2. Người máy phải tuân thủ mệnh lệnh của con người trừ phi những mệnh lệnh đó đi ngược với điều luật 1.
3. Người máy phải tự bảo vệ quyền tồn tại miễn sao hành động tự vệ không đi ngược với điều luật 1 và 2.
Chính 3 điều luật ràng buộc khắc khe trên đã tạo ra những tình huống gây cấn, cảm thương mà người máy phải gánh chịu.
* * *
Alfred Lanning thận trọng châm điếu xi gà, nhưng các ngón tay run nhẹ. Cặp lông mày màu tro cong lại khi ông vừa bập khói thuốc vừa nói:
– Nó đọc được ý nghĩ. Mẹ kiếp, chả nghi ngờ gì nữa! Nhưng tại sao?
Ông nhìn nhà toán học Peter Bogert:
– Anh nghĩ thế nào?”
Bogert đưa hai tay vuốt mái tóc đen:
– Thưa ông Lanning, đó là kiểu RB thứ 34 vừa xuất xưởng. Những kiểu khác đều tuyệt đối chính thống.
Người thứ ba ngồi ở bàn, cau mày. Đó là Milton Ashe, thành viên trẻ nhất của Tổ Hợp Chế Tạo Người Máy Hoa Kỳ và anh rất hãnh diện với địa vị của mình:
– Này, Bogert. Trong suốt quá trình lắp ráp, không một vấp váp nào đã xảy ra. Tôi bảo đảm.
Đôi môi dầy của Bogert nở nụ cười kẻ cả:
– Anh bảo đảm? Nếu anh có thể trả lời thay cho toàn bộ đường dây lắp ráp, tôi sẽ đề nghị thăng chức anh ngay. Theo kiểm toán chính xác, có đến bảy mươi lăm ngàn, hai trăm ba mươi tư động tác cần thiết cho việc chế tạo một bộ óc điện tử, mà mỗi động tác riêng rẻ lại tùy thuộc vào việc hoàn thành một số yếu tố nào đó, từ 5 đến 105. Nếu chỉ cần một yếu tố sai lầm, bộ óc sẽ tiêu tùng. Tôi dẫn chứng từ chính tư liệu do anh phổ biến đấy, anh Ashe ạ.
Milton Ashe đỏ mặt nhưng tiếng nói thứ tư chận lời đáp của anh. Đôi bàn tay của Susan Calvin đan chặt đặt trên đùi, đôi môi mỏng lợt lạt mím lại:
– Nếu chúng ta sửa sai bằng cách đổ lỗi cho nhau thì tôi xin rời khỏi đây. Chúng ta có một người máy đọc được tư tưởng và theo tôi, điều quan trọng là chúng ta phải tìm cho ra tại làm sao mà nó đọc được tư tưởng. Chúng ta không làm việc đó bằng cách nói lỗi tại anh hay lỗi tại tôi!
Đôi mắt nâu lạnh lẽo của nàng dán chặt Ashe, và hắn cười nhăn nhở. Lanning cũng nở nụ cười toe toét và như thường lệ vào những trường hợp thế này, mái tóc bạc để dài và đôi mắt ti hí ranh mãnh tạo cho ông hình ảnh của một giáo chủ:
– Quả là chí lý, bác sĩ Calvin.
Ông đổi sang giọng giòn giã:
– Ở đây, mọi thứ đều trong dạng thức cô động như viên thuốc. Chúng ta đã sản suất một bộ óc dương điện tử được coi như đương nhiên là phải hoạt động bình thường, thế mà nó lại mang một đặc tính bất thường là có khả năng bắt được các làn sóng tư tưởng. Điều nầy hẳn là sẽ đánh dấu bước tiến quan trọng đi trước hằng thập niên trong ngành nghiên cứu người máy nếu ta hiểu được bằng cách nào việc đó đã xảy ra. Chúng ta hiện chưa biết và chúng ta phải tìm cho bằng được. Rõ ràng chứ?
Bogert hỏi:
– Tôi được phép nêu một đề nghị?
– Tự nhiên.
– Tôi muốn nói rằng cho tới khi chúng ta tìm ra đầu mối – và với tư cách một nhà toán học, tôi ngờ rằng đây là cái thứ rối rấm quỷ quái – chúng ta nên giữ bí mật về sự hiện hữu của RB-34. Bí mật ngay cả với các thành viên khác trong ngành. Trên cương vị là các trưởng ngành, chúng ta không được phép xem nó như là một vấn nạn không có cách giải quyết và càng nên có ít người biết chuyện này…
Bác sĩ Calvin lên tiếng:
– Bogert nói đúng. Từ ngày luật Liên Hành Tinh sửa đổi cho phép các mẫu người máy được xét nghiệm ngay trong các cơ xưởng trước khi chuyển vận ra ngoài, các chiến dịch tuyên truyền chống người máy đã gia tăng. Trước khi có đủ điều kiện tuyên bố rằng chúng ta đã nắm vững hiện tượng, chỉ cần một lời nào tiết lộ người máy có khả năng đọc được tư tưởng con người là chúng ta sẽ phải mất khá nhiều vốn liếng.
Lanning kéo một hơi xi gà và nghiêm nghị gật đầu. Ông quay sang Ashe:
– Tôi nhớ, anh có nói anh chỉ ở một mình khi lần đầu anh tình cờ khám phá ra cái vụ đọc được tư tưởng này?
– Đúng là tôi một mình. Tôi đã sợ gần chết. Thằng RB-34 vừa được nhấc ra khỏi bàn lắp ráp là họ cho mang đến tôi ngay. Oberman vừa đi đâu đó, vì vậy tôi tự mình mang nó xuống phòng thử nghiệm. Sự việc diễn ra ngay từ lúc tôi bắt đầu đưa nó đi.
Ashe ngưng lại, môi cố nở nụ cười mong manh:
– À này, có ai trong quý vị đã từng trải qua một cuộc đàm thoại trong đầu của mình mà lại không nhận biết?
Không ai buồn trả lời và anh tiếp tục:
– Thoạt đầu tôi không nhận ra việc đó. Nó cứ nói chuyện với tôi một cách có lý có tình như quý vị có thể hình dung và chỉ đến khi xuống tận phòng thử nghiệm tôi mới nhận ra tôi đã chẳng nói lời nào. Tất nhiên tôi đã suy nghĩ rất nhiều nhưng suy nghĩ đâu có nghĩa là nói, phải không quý vị? Tôi bèn khóa thằng người máy đó lại trong phòng và chạy tìm ông Lanning. Cứ nghĩ đến việc có nó đi bên cạnh, lặng lẽ săm soi vào tâm tưởng của mình, rồi moi móc, chọn lựa giữa các ý tưởng mà thấy hãi hùng.
Susan Calvin trầm ngâm, đôi mắt chăm chú dán chặt vào Ashe một cách lạ lùng:
– Tôi cũng thấy việc đó đáng sợ thật. Chúng ta đã có thói quen xem tâm tưởng của chúng ta là riêng tư.
Lanning nóng nảy chen vào:
– Thôi thì chỉ có bốn chúng ta biết chuyện này. Được lắm! Chúng ta hãy duyệt xét sự việc một cách có hệ thống. Ashe, tôi muốn anh kiểm lại đường dây lắp ráp, từ điểm khởi đầu đến điểm cuối cùng, từng động tác một. Anh loại bỏ các động tác xét ra không thể có sai lầm, rồi ghi chép các loại động tác có thể có cùng mức độ sai lầm của chúng.
Ashe càu nhàu:
– Việc mệt dữ đa!
– Tất nhiên! Anh phải xếp đặt nhân viên thuộc quyền làm việc này. Sử dụng hết mọi người nếu công việc đòi hỏi. Có trễ hạn việc khác cũng không sao.Và dứt khoát không một ai được biết lý do, anh thừa hiểu mà.
Chàng chuyên viên trẻ tuổi cười nhăn nhở:
– Hừm, được thôi! Nhưng nó vẫn là một việc phi thường.
Lanning xoay ghế, đối diện Calvin:
– Cô phải chận mọi việc từ các hướng khác. Ngoài ra, là nhà tâm lý học về robot, cô phải nghiên cứu đặc biệt thằng robot này, bằng cách đi ngược lại, bắt đầu từ điểm cuối. Hãy cố gắng khám phá xem làm sao mà nó làm được như vậy. Tìm xem có cái gì khác gắn bó với khả năng thần giao cách cảm, tới một chừng mực nào, tác động đến triển vọng của nó ra sao và chính xác là nó gây thiệt hại gì cho các đặc tính thông thường của loại robot này. Cô hiểu rồi chứ?
Không chờ bác sĩ Calvin trả lời, Lanning tiếp:
– Tôi sẽ điều hợp công việc và sẽ diễn giải các phát hiện một cách thích đáng.
Ông bập mạnh điếu xi gà và nói lầm bầm qua khói thuốc:
– Bogert sẽ tiếp tay tôi, dĩ nhiên.
Bogert chà bóng các móng tay bằng bàn tay ngắn ngủn ú nần, ôn tồn lên tiếng:
– Tôi nhận, nhưng có điều là tôi biết không nhiều về đường dây sản xuất.
Ashe đẩy chiếc ghế lui lại và đứng lên. Khuôn mặt vui vẻ dễ thương của anh gấp nếp với nụ cười tươi tắn:
– Vậy thì tôi bắt đầu đây! Tôi vớ phải cái phần việc đáng nguyền rủa nhất, vì vậy tôi phải biến ngay khỏi đây để tiến hành.
Anh rời phòng bằng giọng líu nhíu:
– Sớm gặp lại quý vị!
Susan Calvin đáp lễ bằng cái khẻ gật đầu nhưng đôi mắt vẫn nhìn theo cho tới khi anh khuất dạng. Và nàng cũng không buồn trả lời câu càu nhàu của Lanning:
– Cô có muốn lên xem thằng RB-34 bây giờ không, bác sĩ Calvin?
***
Cặp mắt quang điện của RB-34 rời khỏi quyển sách khi có tiếng xoay bản lề và nó đứng lên khi Susan Calvin bước vào. Nàng dừng bước, chỉnh lại tấm biển to lớn “Cấm Vào” trên cửa và tiến đến gần người máy robot:
– Tôi mang theo vài quyển sách viết về động cơ siêu nguyên tử, Herbie có muốn đọc chăng?
RB-34 – mang tên Herbie- nhấc ba quyển sách nặng nề khỏi tay nàng và mở một quyển, đọc tựa:
– Hừm! Lý Thuyết Về Siêu Nguyên Tử.
Trong khi lật từng trang giấy, nó lầm bầm gì đó rồi bỗng thốt lên qua dáng vẻ lơ đãng:
– Xin mời bác sĩ ngồi, chắc cũng phải mất vài phút tôi mới ngốn hết các quyển này.
Nhà tâm lý học ngồi lên ghế và tẩn mẩn quan sát Herbie từ lúc nó mang chiếc ghế từ bên kia bàn và ngồi đọc cả ba quyển một cách có phương pháp. Nửa giờ sau, nó bỏ sách xuống:
– Dĩ nhiên tôi hiểu vì sao bác sĩ mang mấy quyển nầy đến đây.
Góc môi của bác sĩ Calvin dúm lại:
– Tôi cũng e rằng chú đã rõ. Thật khó mà làm việc với chú, Herbie ạ! Chú luôn luôn tiến trước tôi một bước.
– Mấy quyển này cũng y như mấy quyển trước thôi! Chúng chẳng mang cho tôi ích lợi gì! Nội dung vẫn chỉ là con số không. Khoa học của bác sĩ chỉ là một khối dữ kiện cóp nhặt, được chắp vá với nhau bằng các lý thuyết tạm bợ và tất cả đều đơn giản đến không ngờ. Chắc chắn là không đáng để quan tâm. Chính các quyển tiểu thuyết mới gây cho tôi nhiều thích thú. Chính những nghiên cứu của bác sĩ về sự tác động lẫn nhau giữa duyên cớ và tình cảm con người…
Cánh tay đầy sức mạnh của nó làm một động tác mơ hồ như là nó cố tìm một từ thích hợp. Bác sĩ Calvin thì thào:
– Tôi nghĩ là tôi hiểu.
Thằng robot tiếp tục:
– Tôi đọc được tư tưởng con người, bác sĩ biết đó, nhưng hẳn không sao biết là chúng phức tạp đến chừng nào! Tôi không thể bắt đầu hiểu được mọi sự bởi vì tâm trí của tôi không có được bao nhiêu điểm tương đồng với tâm trí con người. Nhưng tôi hết sức cố gắng và các tiểu thuyết của bác sĩ đã giúp tôi.
Giọng Calvin đượm vẻ chua xót:
– Cứ cho là thế đi, nhưng tôi e rằng sau khi tiếp nhận vài kinh nghiệm xúc cảm, kinh nghiệm đớn đau từ các truyện tình thời đại, chú lại thấy rằng tâm tư trung thực của con người sao mà buồn nản, vô vị.
– Nhưng tôi không thấy buồn nản vô vị!
Câu trả lời đầy năng nổ, bất ngờ làm Susan đứng bật dậy. Nàng có cảm giác khuôn mặt mình đỏ rần và đầu óc nghĩ ngợi lung tung: “Nó hẳn đã biết!”
Herbie nhún người và hạ thấp giọng khiến cho cái âm sắc đầy chất kim khí biến mất:
– Hẳn nhiên là tôi biết, thưa bác sĩ Calvin. Bác sĩ luôn nghĩ đến chuyện đó, thì làm sao mà tôi không biết được.
Nét mặt Susan rắn lại:
– Thế chú mày đã có nói với ai khác không?
Herbie đáp với vẻ ngạc nhiên thực sự:
– Dĩ nhiên là không. Mà có ai hỏi đâu mà nói!
Bác sĩ như tự trách mình:
– Thế thì, tôi nghĩ, hẳn chú mày coi tôi như một người khờ dại.
– Thưa không! Đây là xúc cảm thường tình mà.
– Chính vì thường tình nên mới dại khờ đến thế! Tôi không phải là một phụ nữ được người ta gọi là… hấp dẫn.
Giọng Susan buồn thảm như làm lắng đọng mọi vật chung quanh. Nàng không biết rằng có biết bao phụ nữ đang thèm muốn địa vị của nàng.
– Nếu bác sĩ đề cập hấp dẫn như là sức mạnh lôi cuốn riêng về phần thể xác thì tôi không thể đánh giá được. Bởi tôi biết, trong bất cứ trường hợp nào, cũng đều có nhiều dạng hấp dẫn.
Bác sĩ Calvin hầu như không nghe lời nói của robot. Nàng tiếp tục ý nghĩ riêng:
– Cũng không còn trẻ nữa.
Giọng Herbie nài nỉ, đầy lo lắng:
– Bác sĩ chưa tới bốn mươi mà.
– Tính bằng niên kỷ thì tôi ba mươi tám. Còn tính bằng tình cảm thì tôi cằn cỗi đến tuổi sáu mươi. Một chuyên gia tâm lý thì cũng có được gì đâu?
Nhà tâm lý học tiếp tục bằng hơi thở dứt quãng, đắng cay:
– Còn anh ấy thì mới vừa ba mươi lăm, dáng dấp, cử chỉ còn trẻ trung. Chú mầy có cho rằng anh ấy xem tôi như… không là gì hết?
Bàn tay sắt của Herbie nện xuống mặt bàn bọc nhựa, kêu sầm:
– Bác sĩ nghĩ sai rồi! Xin nghe tôi…
Calvin vụt quay lại nó, mắt rực lên những tia đau đớn:
– Tại sao phải nghe chú mày? Chú mày biết gì về chuyện này. Nói gì thì nói, chú mày cũng chỉ là… cái máy! Hay chú mày coi tôi như một mẫu vật thử nghiệm, là con bệnh với bộ óc dị thường đầy hứng thú được trải rộng để chú mày khảo sát. Đó là một mẫu vật tuyệt vời về tâm trạng vỡ mộng, đúng không? Cũng hay ho như mấy quyển tiểu thuyết chú mày nghiền ngẫm chứ gì?
Giọng nàng nức nở vang lên rồi nghẹn ngào tắt dần. Thằng robot co rúm lại trước cơn giận đột phát đó. Nó lắc đầu van xin:
– Làm ơn nghe tôi nói mà! Tôi có thể giúp nếu bác sĩ chịu nghe tôi.
Nàng bĩu môi:
– Bằng cách nào? Bằng cách cho tôi những lời khuyên hữu ích?
– Không, không phải vậy. Quả đúng là tôi biết được những gì người khác suy nghĩ. Như Milton Ashe, chẳng hạn.
Một sự im lặng kéo dài, và đôi mắt của Susan bắt đầu nhỏ lệ. Nàng thổn thức:
– Tôi không muốn biết người đó nghĩ gì! Hãy im đi.
– Tôi biết bác sĩ muốn biết ông ấy nghĩ gì.
Đầu nàng vẫn cúi thấp nhưng hơi thở dồn dập dần. Nàng thì thào:
– Chú mày nói chuyện vô lý.
– Tại sao tôi nên nói ra. Tôi muốn giúp mà. Những ý nghĩ của Milton Ashe về bác sĩ…
Thằng robot ngưng lại. Và đến lúc đó, nhà nữ tâm lý học mới ngẩn đầu:
– Sao?
Thằng robot nói một cách bình thản:
– Ông ấy yêu bác sĩ.
Suốt trọn một phút, bác sĩ Calvin nghẹn lời. Nàng chỉ đăm đăm nhìn. Rồi bỗng thốt lên:
– Chú mày lầm! Chắc hẳn là lầm. Sao lại thế được?
– Thế mà đúng, ông ấy yêu bác sĩ. Chuyện như vậy khó che dấu, nhất là với tôi.
Nàng lắp bắp không thành lời:
– Nhưng tôi rất…rất…
– Ông ấy thâm trầm hơn là vẻ bên ngoài và biết ngưỡng mộ tài năng của người khác. Ông ấy cũng không thuộc hạng sẽ cưới bất cứ cô nào miễn cô đó có đôi mắt và mái tóc trên đầu.
Susan Calvin chớp mắt liên hồi và phải đợi một lúc mới lên tiếng được. Dù vậy, giọng nàng vẫn còn run run:
– Vậy mà anh ấy chẳng bao giờ tỏ dấu hiệu gì…
– Bác sĩ có cho ông ấy một cơ hội?
– Làm sao được? Tôi có bao giờ nghĩ rằng…
– Quả là vậy!
Nhà tâm lý học chìm đắm trong suy tư rồi bất thình lình ngẩn lên:
– Nửa năm trước, có một cô đến thăm anh ấy ở đây. Theo tôi, cô ấy đẹp, tóc vàng, dáng thon thả. Và dĩ nhiên, khả năng cùng lắm là biết cộng hai với hai. Anh ấy đã bỏ cả ngày, hết hơi hết sức cố giải thích cách thức chế tạo một robot.
Giọng cô trở nên đanh đá:
– Kết quả là cô ta chả hiểu tý gì! Mà cô ta là ai vậy?
Herbie trả lời không chút do dự:
– Tôi biết người đó. Cô nàng là em họ của ông ấy và chẳng có việc phiêu lưu tình cảm dính vào, tôi bảo đảm.
Susan Calvin đứng lên với một dáng vẻ rực rỡ đầy nữ tính:
– Quả lạ lùng! Đó chính là điều tôi tự bịa ra để an ủi dù chẳng tin chút nào. Thế rồi nay lại là sự thật.
Nàng chạy đến Herbie, hai tay nắm bàn tay lạnh lẽo,nặng nề của nó và thì thầm bằng giọng khản đục, khẩn nài:
– Cám ơn Herbie. Đừng nói với bất cứ ai việc này nghe. Coi như chuyện bí mật giữa chúng ta. Và một lần nữa, rất biết ơn.
Dứt lời, sau khi vụng về siết chặt những ngón tay kim loại vô cảm, nàng rời phòng. Herbie chầm chậm xoay lại quyển tiểu thuyết bỏ dở. Nhưng không một ai đọc được đầu óc nó đang nghĩ gì.
***
Milton Ashe chầm chậm vươn vai qua một động tác tuyệt đẹp hòa điệu với tiếng răng rắc của các khớp xương và khúc hợp âm của các lời cẳn nhẳn. Anh nhìn trừng trừng tiến sĩ Peter Bogert, rồi lên tiếng:
– Này! Cả tuần nay tôi bù đầu với vụ duyệt xét này gần như không chợp mắt. Tôi còn phải thức thêm bao lâu nữa đây? Tôi tưởng ông nói việc bắn phá các phân tử ở buồng chân không D đã có giải đáp kia mà.
Bogert kín đáo ngáp dài và nhìn đôi tay xanh xao của mình với vẻ thích thú:
– Đúng vậy. Tôi đang phăng lần manh mối đây.
– Tôi quá rành ngôn ngữ của các nhà toán học! Vấn đề là bao lâu nữa mới phăng xong?
– Cái đó còn tùy.
Ashe thả người lên ghế, duỗi dài đôi chân:
– Tùy cái gì?
Bogart thở dài:
– Tùy ở Lanning. Lão đó bất đồng ý kiến với tôi. Lão có phần cổ lỗ sĩ. Cái rắc rối là ở lão. Lão bám vào cơ học ma trận như là phương thức duy nhất trong khi sự việc rắc rối này lại đòi hỏi các phương tiện toán học có năng lực mạnh hơn. Lão ngang bướng quá!
Ashe thì thào giọng buồn ngủ:
– Vậy tại sao không hỏi thẳng Herbie và giải quyết toàn bộ vấn đề?
Bogert nhướn mày:
– Hỏi thằng người máy?
– Sao lại không? Người đẹp lỡ thời không nói gì với anh sao?
– Anh muốn ám chỉ Calvin?
– Đúng! Chính nàng ta nói đấy. Thằng người máy là một thiên tài toán học. Cái gì nó cũng biết mà biết dư thừa nữa. Nó làm ba bài toán tích phân nhẩm trong đầu và ngốn phép phân tích cơ trương như ăn tráng miệng.
Nhà toán học mở to mắt, ngờ vực:
– Anh nghiêm túc đấy chứ?
– Xin thề có Trời! Điều tức cười là thằng ngớ ngẩn này lại không thích toán. Nó chỉ khoái đọc tiểu thuyết tình cảm ướt át. Thật đấy! Anh phải thấy cô nàng Susan bệ rạc liên tục nuôi dưỡng nó: Nào là “Đam mê màu tím”, nào là “Tình trong không gian”…
– Bác sĩ Calvin đã chẳng một lời về việc này với chúng ta.
– Ờ, cô nàng chưa hoàn tất nghiên cứu thằng robot này. Anh biết nàng ta quá mà. Luôn luôn nắm chắc mọi thứ trước khi tiết lộ bí mật.
– Và cô nàng đã tiết lộ với anh.
– Chúng tôi chỉ nói đại khái. Gần đây tôi gặp cô nàng rất thường.
Ashe mở lớn đôi mắt và nhíu mày, tiếp lời:
– Nè, Bogert, gần đây anh có để ý thấy điều gì khác lạ ở cô nàng?
Bogert nở một nụ cười nhăn nhở:
– Cô ta tô son môi, nếu đó là điều anh ám chỉ.
– Quỷ thần ơi! Tôi biết mà! Má hồng, phấn tô, mày kẻ! Trông diêm dúa. Nhưng không chỉ thế. Tôi không thể giải thích rõ được. Đó là cái cách cô nàng ăn nói – cứ như là đang hạnh phúc một điều gì.
Ashe ngẫm nghĩ một lúc rồi nhún vai. Bogert ranh mãnh nhìn Ashe, lối nhìn của một khoa học gia ở tuổi năm mươi hiểu đời:
– Có thể cô nàng đang yêu.
Một lần nữa, Ashe nhắm kín đôi mắt:
– Khùng điên, Bogert! Đi mà hỏi chuyện với Herbie. Tôi muốn ở đây đánh một giấc.
– Nói y như thiệt! Tôi không chỉ không ưa thằng robot chỉ bảo cho việc phải làm, mà càng không tin là nó có khả năng chỉ bảo tôi!
Chỉ có tiếng ngáy đều đều đáp lời nhà khoa học.
Herbie chăm chú lắng nghe trong khi Peter Bogert, tay thọc vào túi quần, nói với vẻ thờ ơ đầy dụng ý:
– Chú mày đây rồi! Tôi nghe nói chú mày rành các việc này và tôi đang rất tò mò muốn hỏi chú mày. Tôi nhìn nhận rằng phương pháp lý luận của tôi, như tôi phát họa, có dính dáng vài bước đáng ngờ, là điều mà tiến sĩ Lanning không chấp nhận. Thành ra cái giải pháp vẫn còn chưa trọn vẹn.
Thằng người máy không nói gì và Bogert nhắc nhở:
– Sao?
Herbie nghiên cứu những con số viết nguệch ngoạc:
– Tôi không thấy sai sót gì.
– Tôi không nghĩ là chú mày có thể đi xa hơn những con số đó?
– Tôi không dám thử. Ông giỏi toán hơn tôi. Tôi ghét tự mình phơi bày cái dỡ của mình.
Một chút tự mãn hiện lên nụ cười của Bogert:
– Tôi nghĩ tình huống có thể là vậy. Nó còn sâu xa hơn nữa. Chúng ta hãy quên nó đi.
Ông vò nát tờ giấy, ném vào sọt rác, xoay người định rời phòng, rồi nghĩ sao ông đổi ý:
– Nhân tiện…
Thằng người máy chờ đợi. Bogert có vẻ như gặp khó khăn:
– Có một việc mà có lẽ chú mày có thể…
Ông ngừng lời. Herbie bình thản lên tiếng:
– Ý tưởng của ông đang rối rắm nhưng không chút nghi ngờ rằng tựu trung đều liên quan đến tiến sĩ Lanning. Thật là vớ vẩn nếu cứ ngần ngừ. Ngay khi ông bình tâm, tôi sẽ biết được ông muốn hỏi việc gì.
Bàn tay của nhà toán học lướt trên mái tóc bóng mượt bằng một động tác nhuần nhuyễn. Ông nói, làm như lời nói đó đã giải thích mọi chuyện:
– Ông Lanning có đến bảy mươi tuổi rồi!
– Tôi biết!
– Và ông cũng đã làm giám đốc cơ xưởng gần tròn ba mươi năm.
Herbie gục gặc đầu. Giọng nói Bogert trở nên đầm ấm:
– Vậy liệu chú mày có biết… có biết ông ấy đang nghĩ đến việc từ nhiệm? Có thể vì lý do sức khỏe hay lý do nào khác?
Herbie đáp gọn lỏn:
– Đúng!
– Nghĩa là chú mày biết?
– Tất nhiên.
– Vậy thì, nói tôi nghe?
Giọng thằng người máy hoàn toàn dửng dưng:
– Vì ông hỏi đấy nhé. Đúng, ông ấy đã xin về hưu!
– Cái gì?
Tiếng kêu vang lên rồi nghẹn lại. Nhà khoa học chòm đầu về phía trước:
– Nói lại lần nữa xem!
Giọng đều đều lặp lại:
– Ông ấy đã xin về hưu, nhưng chưa có hiệu lực. Như ông biết, ông ấy đang chờ giải quyết cho xong vụ rắc rối của chính…tôi ấy mà! Xong vụ này, ông ấy sẵn sàng bàn giao văn phòng giám đốc cho người kế vị.
Bogert phà mạnh hơi thở:
– Và người kế vị là ai vậy?
Cái đầu to lớn của Bogert đã rất gần thằng người máy, đôi mắt mê mẩn dán chặt vào các ổ điện quang màu đỏ đục, vô hồn. Lời nói chầm chậm vang lên:
– Ông là vị giám đốc kế nhiệm.
Và Bogert thấy vô cùng thư thái, nở nụ cười toe toét:
– Rất vui biết tin này. Tôi đã bao ngày mong đợi. Cám ơn nhiều, Herbie.
***
Peter Bogert làm việc đến tận năm giờ sáng mới về nhà và trở lại sở lúc chín giờ. Dãy sách tham khảo và đồ biểu không còn nằm trên hàng kệ ngay trước bàn. Tất cả đã lần lượt được Bogert nhấc xuống tra cứu. Trước mặt ông, các trang giấy dầy đặc những con toán có nét nhỏ dần theo từng hàng và dưới chân, những tờ nhàu nát, nguệch ngoạc chất cao thành núi.
Vào đúng ngọ, ông ngắm nghía trang cuối cùng, xoa đôi mắt có những tia máu đỏ, mở miệng ngáp và nhún vai:
– Càng lúc càng tệ, tiên sư nó!
Ông quay lại khi nghe tiếng cửa mở và gật đầu chào Lanning đang bước vào, hai bàn tay gầy gò bẻ răng rắc các đốt xương.
Vị giám đốc ghi nhận ngay tình trạng vô trật tự của căn phòng và đôi lông mày nhíu lại:
– Có manh mối gì không?
Một giọng trả lời đầy thách thức:
– Không! Mà có sự sai lầm gì trong các con toán trước đây vậy?
Lanning không buồn trả lời, cũng không có hành động nào khác hơn là liếc vào tờ giấy trên cùng ở bàn của Bogert. Ông nói qua ánh lửa của que diêm khi châm điếu xì gà:
– Calvin có nói với anh về thằng robot? Nó là một thiên tài toán học đấy. Quả là khác thường!
Bogert buông tiếng xì lớn:
– Tôi có nghe. Tuy nhiên tốt hơn hết là Calvin chỉ nên gắn bó với cái chuyên môn tâm lý về người máy của mình. Tôi đã kiểm nghiệm Herbie về toán và chắc chắn là nó không thể vật lộn với các phép tính vi-tích phân!
– Calvin không cho là vậy!
– Nàng ta ba trợn!
Đôi mắt của vị giám đốc híp lại một cách nguy hiểm:
– Tôi cũng không cho là vậy!
Giọng cứng cỏi của Bogert:
– Ông cũng không ư! Ông nói cái gì vậy?
– Suốt buổi sáng tôi đã đặt Herbie vào cuộc xét nghiệm và nó có thể làm nhiều trò mà anh chưa từng được nghe.
– Thật vậy sao?
Lanning rút nhanh tờ giấy từ túi áo vét và mở banh ra:
– Đây không phải là nét chữ của tôi, đúng không?
Bogert xem xét các ký hiệu lớn đầy góc cạnh trên khắp trang giấy:
– Herbie viết những thứ này?
– Đúng! Và nếu anh để ý, trong thời gian anh về nhà nghĩ, nó đã làm tiếp bài toán tích phân về thời gian của Phương Trình 22. Nó đã đạt đến…
Lanning gõ gõ ngón tay vàng khói thuốc vào phần cuối bài toán:
– Nó đã đạt đến cùng kết quả tính toán của tôi nhưng chỉ mất một phần tư thời giờ! Anh không có quyền bỏ quên hiệu ứng Linger khi bắn phá dương điện tử.
– Tôi đã không bỏ quên hiệu ứng đó. Trời ơi! Ông Lanning, hãy nhớ rằng hiệu ứng đó sẽ cân bằng…
– Ồ, chắc chắn rồi, anh đã giải thích điều đó. Anh đã sử dụng phương trình chuyển dịch Mitchell, có phải không? Thế thì…nó không áp dụng.
– Tại sao không?
– Bởi vì anh đã dùng quá nhiều các số ảo, đó là một việc…
– Dùng nhiều số ảo thì có dính dáng gì?
– Phương trình của Mitchell sẽ không hiệu lực khi…
– Ông điên chắc? Nếu ông đọc lại bản gốc của Mitchell trong quyển Kỷ Yếu Viễn…
– Tôi chả cần đọc. Tôi đã bảo anh ngay từ đầu rằng tôi không thích lý luận của Mitchell và Herbie đã làm hậu thuẫn cho tôi trong vấn đề này.
Bogert hét to:
– Vậy thì hãy để cái thằng người máy quỷ quái ấy giải quyết toàn bộ vấn đề cho ông. Cần gì làm rộn tôi với những việc vặt vãnh?
– Đúng y chang! Herbie đã không giải được vấn đề. Và nếu nó không thể, tự chúng ta cũng không thể! Tôi đang đệ trình toàn bộ nan đề lên Hội Đồng Quốc Gia. Nó đã vượt ngoài tầm tay của chúng ta.
Chiếc ghế của Bogert chạy vụt lui khi ông nhảy dựng, gầm gừ, đỏ mặt tía tai:
– Ông không thể làm ăn kiểu đó.
Lanning cũng đỏ mặt không kém:
– Anh dám bảo tôi điều tôi không thể làm à?
Bogert nghiến răng:
– Đúng! Tôi đã quá vất vả vì vụ việc này, ông không được lấy nó khỏi tay tôi, ông hiểu chứ? Đừng nghĩ rằng tôi không thấy rõ con người thật của ông, hỡi ông già hủ lậu, hết xí quách! Ông ghét bỏ tôi, muốn xóa bỏ hết, không để tôi có được uy tín do việc giải quyết tốt đẹp vụ thần giao cách cảm nầy!
Môi Lanning run lên vì tức giận bùng phát:
– Anh ngu quá là ngu Bogert ạ! Và tôi cất chức anh vì tội không tuân lệnh thượng cấp.
– Đó là điều mà ông sẽ không thực hiện được, ông Lanning ạ. Ông đâu còn giữ được điều gì bí mật với thằng người máy kề cận. Cho nên đừng quên rằng tôi quá biết việc ông từ chức.
Đoạn tro ở đầu điếu xi gà run lên và rơi xuống. Và điếu xi gà cũng rơi theo:
– Cái gì… Cái gì…
Bogert khúc khích cười một cách đểu cáng:
– Và tôi là vị giám đốc mới, xin hiểu biết cho. Tôi thừa biết việc này, đừng cho là tôi không biết. Hãy dương cặp mắt ra nhìn Lanning. Tôi sẽ ban hành mệnh lệnh về mọi việc ở đây và sẽ có một toán làm việc vui vẻ hữu hiệu mà ông chưa từng gia nhập.
Lanning tằng hắng lấy giọng rồi gầm lên:
– Anh đã bị sa thải, anh nghe không? Anh đã bị tước bỏ mọi nhiệm vụ. Anh tiêu tùng rồi, anh hiểu chứ hả?
Nụ cười hoang hoác trên môi người đối nhiệm:
– Giờ đây ông nói có ích gì? Sẽ chẳng đi đến đâu. Tôi đang nắm con bài chủ. Tôi biết ông đã từ chức. Herbie tiết lộ với tôi và nó lấy tin đó thẳng từ ông.
Lanning thấy mình cần dịu giọng lại. Ông trông già nua, với đôi mắt mệt mõi. Khuôn mặt đã biến mất nét hồng hào, nhường lại vẻ xanh xao vàng vọt của năm tháng chất chồng:
– Tôi muốn nói chuyện với Herbie. Nó không thể nào đã nói với anh một chuyện như thế. Anh đã chơi trò tháu cáy, Bogert, anh đúng là tên bịp. Hãy đi với tôi.
Bogert nhún vai:
– Đi gặp Herbie à? Tốt! Quá tốt là khác!
***
Cũng đúng vào trưa hôm đó, Milton Ashe rời mắt khỏi bản phát thảo vụng về, ngẩn lên nói:
– Cô hình dung được chứ? Tôi vẻ rất dở nhưng cũng ráng phát họa cho cô thấy nó ra làm sao. Đó là căn nhà thật tuyệt và tôi có thể mua với giá rẻ.
Susan đăm đăm nhìn Milton với ánh mắt thương cảm rồi bỗng thở dài:
– Căn nhà thật đẹp. Tôi thường nghĩ rằng tôi thích….
Giọng nàng ngập ngừng, chợt im bặt. Ashe bỏ cây bút chì qua một bên, giòn giã tiếp:
– Dĩ nhiên, tôi phải chờ đến dịp nghỉ phép. Chỉ còn hai tuần nữa thôi, thế rồi vì chuyện thằng Herbie mà mọi sự dở dang.
Milton nhìn xuống mấy ngón tay, tiếp lời:
– Ngoài ra, còn một điều nữa, một điều bí mật!
– Thế thì đừng nói.
Ashe nhe răng cười ngượng nghịu:
– Than ôi, tôi lại muốn nói. Tôi cứ muốn thổ lộ cùng một ai đó và cô đúng là người đáng tin cậy nhất ở sở này.
Tim Susan đập mạnh nhưng không đủ sức lên tiếng . Ashe kéo ghế gần hơn và hạ thấp giọng thành tiếng thì thầm cẩn mật:
– Thành thật mà nói căn nhà không phải chỉ dành cho một mình tôi. Tôi sắp cưới vợ!
Vừa dứt lời, anh chàng nhảy vụt khỏi ghế:
– Cô có sao không vậy?
Cảm giác choáng váng tan nhanh, cô nàng nghẹn lời:
– Không sao. Anh nói anh cưới vợ? Ý anh là…
– Đúng rồi! Cũng đã đến lúc, phải không? Cô còn nhớ cô gái đến đây thăm tôi vào hè năm ngoái? Chính nàng. Nhưng… hình như cô bị bệnh! Trông cô…
Calvin xua tay yếu ớt:
– Tôi bị nhức đầu! Gần đây tôi cứ bị nhức đầu luôn. Tôi muốn, muốn chúc mừng anh, dĩ nhiên là phải thế. Tôi rất vui…
Đốm phấn hồng tô vụng về tạo thành hai vệt đỏ trên khuôn mặt trắng phết. Đầu óc nàng lại quay cuồng:
– Xin anh tha lỗi…
Calvin lí nhí khi lảo đảo bước ra cửa như người đui mù. Sự việc đã xảy với đại họa bất thường của mộng đẹp, với ảo tưởng kinh hoàng của giấc mơ. Nhưng làm sao có thể như thế được? Herbie đã nói…Và Herbie đã biết! Nó đọc được ý nghĩ kia mà!
***
Nàng thấy mình đứng tựa thành cửa, không còn chút hơi thở nào, nhìn chòng chọc bộ mặt bằng sắt của Herbie. Calvin hẳn đã phải trèo suốt hai dãy thang lầu nhưng nàng đã không nhớ chút gì về việc này. Cái khoảng xa đã được che mờ trong một khoảnh khắc, như một giấc mơ.
Như trong một giấc mơ! Đôi mắt không chớp của thằng Herbie đang đứng im lìm hướng thẳng vào mắt nàng và màu đỏ đục của chúng chừng như làm nở phồng hai quả cầu lù mù trông ghê rợn.
Nó đang nói và nàng cảm thấy như có ly nước lạnh ấn lên môi nàng. Nàng nuốt nước bọt và rùng mình tỉnh thức, về với thực tại.
Herbie vẫn còn nói, giọng nói run run chừng như nó đang đau đớn, sợ hãi và van xin. Lời lẽ đã bắt đầu mang ý nghĩa. Nó nói:
– Đây chỉ là giấc mơ. Và bác sĩ nhất định không được tin vào giấc mơ. Bác sĩ sẽ bừng tỉnh và sẽ tự cười nhạo mình. Tôi nói ông ấy yêu bác sĩ. Ông ấy có yêu bác sĩ, có thực sự yêu nhưng không phải ở đây, không phải lúc này. Đó chỉ là một ảo mộng.
Susan Calvin gật đầu, chộp lấy cánh tay Herbie, bám chặt lấy nó, giọng thì thào lặp đi lặp lại:
– Đúng! Đúng! Nó không có thực, phải không? Nó không có thực, phải không?
Nàng không rõ bằng cách nào mình sực tỉnh nhưng nó tương tự như đang từ một thế giới mờ ảo chuyển sang một vùng ánh sáng chói chang! Nàng xô thằng người máy cho xa khỏi nàng, đẩy mạnh cánh tay sắt thép, mắt nàng mở lớn. Giọng nàng cất cao, cao vút:
– Chú mày muốn gì? Chú mày muốn gì hả?
Herbie lùi lại thật xa:
– Tôi muốn giúp.
Nhà tâm lý học nhìn trừng trừng:
– Giúp? Giúp bằng cách nói rằng đây chỉ là giấc mơ? Bằng cách cố đẩy tôi thành người loạn trí?
Cơn kích động xâm chiếm lấy nàng. Nàng la như cuồng dại:
– Việc này không mộng mơ gì hết. Tôi ao ước nó có thực.
Nàng hít một hơi thật mạnh:
– Xem nào! Tại sao…Tại sao… Tôi hiểu ra rồi! Cám ơn Thượng Đế, rõ ràng quá mà!
Thằng người máy nói bằng giọng kinh hoàng:
– Tôi phải nói thế!
– Và tôi lại tin chú mày! Tôi đã không hề nghĩ tới…
Có tiếng nói vang vang ngoài cửa làm ý nghĩ nàng đứt đoạn. Susan quay đi, bàn tay lúc nắm lúc mở, và khi Bogert cùng Lanning bước vào thì nàng đã đến tận cánh cửa sổ phía xa. Chẳng người nào mảy may để ý tới nàng.
Họ cùng lúc tiến đến Herbie; Lanning giận dữ và nóng nảy, Bogert khinh khỉnh lạnh lùng. Ông giám đốc lên tiếng trước:
– Bây giờ, Herbie, hãy lắng nghe tôi nói.
Đôi mắt Herbie đảo xuống nhìn người giám đốc già nua:
– Vâng, thưa tiến sĩ Lanning.
– Chú mày có luận bàn với tiến sĩ Bogert về tôi, phải không?
Câu trả lời phát lên thư thả:
– Dạ thưa không.
Nụ cười trên khuôn mặt Bogert vụt tắt. Bogert sấn lên trước vị giám đốc và đứng dạng chân trước thằng người máy:
– Gì thế hả? Hãy lặp lại đúng những lời chú mày nói với tao hôm qua.
– Tôi có nói rằng…
Herbie chợt nín bặt. Tận bên trong thân thể của nó, lớp cơ hoành xung động đưa ra những tiếng khua nho nhỏ, không đều.
Bogert gầm lên:
– Chú mày đã chẳng nói là ông ấy từ nhiệm là gì? Trả lời tao đi!
Bogert vung cánh tay một cách điên dại nhưng Lanning đẩy ông ta qua một bên:
– Anh định cố ép nó nói láo hả?
– Ông nghe mà, ông Lanning! Nó bắt đầu bằng từ “có” rồi không chịu nói thêm. Ông tránh ra. Tôi muốn nó nói lên sự thật, ông hiểu chứ?
– Để tôi hỏi nó.
Lanning hướng về thằng robot:
– Nè, Herbie! Cứ trả lời thoải mái! Có phải tôi đã từ chức?
Một cử động yếu ớt như là cái lắc đầu của robot. Hai người chờ khá lâu nhưng không có thêm dấu hiệu nào khác. Họ nhìn nhau và sự thù địch phát từ ánh mắt của họ trông thật lộ liễu. Bogert sửng cồ:
– Thật quái đản! Thằng robot bỗng phát câm! Mày không nói được nữa ư, thằng quỷ sứ?
Lời đáp như đã chuẩn bị sẵn:
– Tôi nói được chứ!
– Thì trả lời đi. Chú mày đã chẳng nói với tao là ông Lanning đã từ chức? Bộ ông ấy chưa từ chức sao?
Một lần nữa chỉ có sự lặng thinh buồn nản cho đến lúc, từ cuối phòng, tiếng cười của Susan bất thình lình vang lên cao vút gần như khùng điên. Hai nhà toán học nhảy dựng, đôi mắt Bogert nhíu lại:
– Cô cũng có mặt ở đây à? Cái gì mà xem ra vui thú quá vậy?
Nàng đáp bằng giọng không mấy tự nhiên:
– Có gì vui thú đâu! Chỉ cái điều tôi không phải là nhân vật duy nhất bị mắc lỡm. Thêm một điều mỉa mai -quả là mai mỉa- là có đến ba chuyên viên lỗi lạc của thế giới về robot lại bị sập chung một cái bẩy sơ đẳng nhất.
Giọng nàng lẩm bẩm, lắng dần, và đôi bàn tay xanh xao đặt lên trán:
– Có gì vui thú đâu!
Hai người đàn ông nhìn nhau. Lanning cất giọng một cách khó khăn:
– Có gì không ổn ở Herbie hả?
Susan chầm chậm bước lại gần họ:
– Không, không có gì không ổn ở Herbie hết. Chỉ chúng ta là không ổn thôi!
Bất thình lình nàng xoay người và hét vào thằng người máy:
– Cút đi! Lại góc đàng kia và đừng để tao nhìn thấy chú mày.
Herbie lùi lại trước các tia nẩy lửa từ đôi mắt Calvin và loạng choạng chạy xa bằng từng bước khua lách cách.
Giọng Lanning còn mang âm hưởng ghét bỏ:
– Đầu đuôi sự việc ra sao, bác sĩ Calvin?
Nàng nhìn thẳng vào mặt họ, giọng cay đắng:
– Chắc quý vị còn nhớ Điều luật Căn bản đầu tiên về việc chế tạo Người Máy.
Hai người gật đầu. Bogert cáu kỉnh:
– Tất nhiên là phải nhớ! “Một người máy không được gây tổn thương con người, cũng không được bất hoạt khiến con người bị thương tổn.”
Susan cười nhạo:
– Câu nói hay nhỉ? Nhưng mà tổn thương gì mới được?
– Đủ thứ tổn thương.
– Rất đúng! Bất cứ thứ tổn thương nào! Như cảm giác đau đớn, hạ nhục cá nhân, tan tành hy vọng, những thứ đó hẳn đều là tổn thương?
Lanning cau mày:
– Thằng robot có biết gì về…
Ông chợt hiểu ra và thở chừng như muốn hụt hơi!
– Ông nắm bắt được rồi phải không? Thằng robot này đọc được tư tưởng. Ông có cho rằng nó không biết gì về các tổn thương tinh thần? Ông có cho rằng nếu có người đặt cho nó một câu hỏi, nó sẽ không trả lời đúng cái ý mà người hỏi muốn nghe? Nó không biết câu trả lời không làm tổn thương người hỏi?
Bogert kêu lên:
– Thánh thần ơi!
Nhà tâm lý học ném tia nhìn diễu cợt về phía ông này:
– Tôi đoán ông hỏi nó có phải Lanning đã từ chức? Ông muốn được nghe đáp rằng ông ấy đã từ chức. Vậy là Herbie nói theo ý ông.
Lanning nói bằng giọng nhạt nhẽo:
– Cứ cho đó là lý do khiến vài phút trước nó không trả lời được. Nó không thể trả lời người này mà không làm tổn thương người kia.
Cả ba cùng im lặng, trầm ngâm nhìn thằng robot ở cuối căn phòng. Nó thu người vào chiếc ghế cạnh giá sách, đầu gục vào cánh tay. Susan dán mắt lên sàn nhà:
– Nó biết hết chuyện này. Thằng quỷ quái biết mọi thứ, kể cả việc sai sót trong cách lắp ráp nó.
Mắt nàng trở nên đen tối và tư lự. Lanning ngẩn lên:
– Điểm này thì cô trật rồi, bác sĩ Calvin. Nó không biết cái gì sai với nó. Tôi đã hỏi nó.
Calvin cao giọng:
– Câu trả lời của nó hàm chứa cái ý gì? Cái ý là ông không muốn nó cung cấp cho ông giải pháp. Trả lời biết, nó sẽ làm tổn thương cái tôi của ông vì một người máy làm được cái việc mà chính ông không thể làm.
Nàng hướng mắt về Bogert:
– Còn ông, ông có hỏi nó gì không?
Bogert tằng hắng, mặt đỏ nhừ:
– Theo một nghĩa nào đó thì có. Nó nói với tôi là nó biết đôi chút về toán học.
Lanning bật cười dòn và nhà tâm lý học mím môi chế nhạo. Nàng nói:
– Tôi sẽ hỏi nó. Lời giải đáp từ nó sẽ không tổn thương cá nhân tôi.
Nàng cất cao giọng, lạnh lùng ra lệnh:
– Đến đây ngay!
Herbie đứng thẳng, tiến về phía nàng bằng những bước ngại ngùng. Nàng nói:
– Tôi cho là chú mày biết, biết một cách chính xác, ở vào một thời điểm nào đó trong tiến trình lắp ráp, có một phần tử bất thường đã được dẫn nhập hoặc một phần tử thiết yếu đã bị bỏ qua.
Herbie đáp bằng giọng khó nghe:
– Thưa đúng!
Bogert cắt ngang, giận dữ:
– Khoan đã. Điều này không nhất thiết là sự thật. Các người muốn được nghe như thế. Và nó trả lời theo ý các người!
Calvin đáp lời:
– Đừng khùng điên! Tất nhiên là nó hiểu biết toán học nhiều bằng cả hai ông cộng lại vì nó có thể đọc được tư tưởng của hai ông. Hãy cho nó một cơ hội.
Cơn giận của Bogert dịu xuống và Calvin nói tiếp:
– Nói được rồi, Herbie. Chúng tôi đang chờ.
Nàng quay sang nói riêng với hai nhà toán học:
– Xin quý vị sẵn sàng giấy bút.
Nhưng Herbie vẫn im lặng. Giọng nói đầy vẻ đắc thắng của nhà tâm lý học vang lên:
– Tại sao chú mày không trả lời, Herbie?
Herbie mau mắn buột mồm:
– Tôi không trả lời được. Cô thừa biết là tôi không trả lời được. Tiến sĩ Bogert và tiến sĩ Lanning đều không muốn tôi trả lời.
– Họ đều muốn có giải pháp.
– Nhưng không phải từ nơi tôi.
Lanning xen vào, nói chầm chậm, rõ ràng từng tiếng:
– Đừng nói điên, Herbie. Chúng tôi đều muốn chú mày nói ra.
Bogert cộc lốc gật đầu. Herbie la lối:
– Nói ra thì có ích gì? Chẳng phải quý vị cho rằng tôi chỉ có thể nhìn thấu lớp ngoài tâm tưởng? Còn sâu hơn, quý vị lại không muốn tôi xuyên suốt. Tôi chỉ là một cái máy, được tạo ra theo phương thức bắt chước đời sống nhờ vào ưu điểm của các dương điện tác động qua lại trong bộ óc, một thiết bị do con người sáng tạo. Quý vị không thể bị mất mặt với tôi mà không bị tổn thương. Đó là điều đã in hằn trong tâm não của quý vị và sẽ không xóa bỏ đi được. Tôi không thể cho quý vị cái giải pháp.
Tiến sĩ Lanning lên tiếng:
– Hai chúng tôi sẽ rời khỏi phòng. Hãy nói cho Calvin biết.
Herbie kêu to:
– Có khác gì đâu! Rồi nhị vị cũng sẽ biết và tôi vẫn là thằng người máy đưa ra giải pháp.
Nhà tâm lý học Calvin lại lên tiếng:
– Nhưng, chú mày thừa hiểu mà, Herbie. Bất kể thế nào, tiến sĩ Lanning và tiến sĩ Bogert đều muốn có giải đáp đó.
Herbie cương quyết:
– Chính họ phải tự tìm lấy.
– Nhưng họ muốn có giải đáp, và sự thật là chú mày đang có nó. Việc chú mày nhất định không đưa cho họ sẽ làm tổn thương họ. Chú mày có thấy điều đó không?
– Có! Có!
– Còn nếu chú mày đưa giải đáp cho họ, thì việc này cũng lại làm họ bị tổn thương.
– Phải! Phải!
Herbie chầm chậm thục lùi theo từng bước tiến của Susan. Hai người đàn ông bàng hoàng nhìn cảnh tượng trước mắt.
Giọng nói của nhà tâm lý học chầm chậm, đều đều:
– Chú mày không thể nói cho họ biết vì nói sẽ làm họ tổn thương, và chú mày không được phép làm họ tổn thương. Nhưng nếu chú mày không nói cho họ, chú mày lại cũng làm họ tổn thương, vì vậy chú mày phải nói. Và nếu chú mày nói, chú mày sẽ làm họ tổn thương, là điều chú mày không được phép làm, nên chú mày không thể nói; nhưng nếu chú mày không nói, chú mày lại làm họ tổn thương, vì vậy chú mày phải nói; nhưng nếu chú mày nói, chú mày làm họ tổn thương nên chú mày không thể nói; nhưng nếu chú mày không nói chú mày lại làm họ tổn thương, vì vậy chú mày phải nói; nhưng nếu chú mày phải nói, chú mày….
Herbie bị dồn đến chân tường và tại đó, hai chân nó quỵ xuống. Nó hét lên:
– Đủ rồi! Xin đóng cái ý tưởng của bác sĩ lại! Nó chứa đầy những đớn đau, tuyệt vọng và thù ghét. Cho tôi xin nói, tôi đâu có ý như vậy. Tôi cố giúp cô mà. Tôi đã nói điều cô muốn nghe và tôi phải làm đúng như thế.
Nhà tâm lý học không quan tâm những lời phân trần của thằng người máy, nàng tiếp tục:
– Chú mày phải nói, nhưng nếu nói, chú mày họ làm tổn thương nên không thể nói; nhưng nếu không nói, chú mày làm họ tổn thương nên phải nói; nhưng…
Và Herbie thét lên! Tiếng thét giống của tiếng tiêu có âm độ cao nhất được nhân thêm nhiều lần, càng lúc càng thêm chói lói cho đến lúc nó biến thành tiếng rên la ghê rợn của người sắp trút linh hồn khiến cho căn phòng tràn ngập âm thanh đinh tai điếc óc.
Và khi tiếng thét tắt nghẽn vào cõi hư vô, Herbie sụp xuống thành một đống sắt hỗn độn, không còn động đậy.
Khuôn mặt Bogert không còn chút máu:
– Nó chết rồi!
Susan Calvin bật lên một tràng cười rũ rượi đến man dại:
– Chưa! Chưa chết đâu! Chỉ mới mất trí thôi! Tôi buộc nó phải đương đầu với một nan đề, một thế tiến thoái lưỡng nan và nó sụm! Ông có thể vứt nó ngay bây giờ vì nó chẳng bao giờ còn nói gì được nữa!
Lanning quỳ xuống bên cái vật từng được gọi là Herbie. Những ngón tay của ông sờ lên bộ mặt bằng kim loại vô tri lạnh ngắt và cảm thấy rùng mình.
Ông đứng lên, mặt nhăn nhúm:
– Cô cố tình làm thế!
– Nếu tôi cố tình thì sao? Giờ đây ông cũng chẳng đừng được.
Nàng buột thêm lời cay nghiệt:
– Đáng đời cho nó!
Vị giám đốc nắm lấy cườm tay của Bogert đang đứng tê liệt, bất động. Ông thở dài:
– Thì cũng thế thôi! Mình đi đi, Peter. Dẫu sao, một thằng người máy biết suy nghĩ loại này, xét cho cùng chẳng lợi ích gì!
Đôi mắt Lanning lộ rõ nét già nua, mõi mệt. Ông lập lại:
– Đi thôi, Peter!
***
Phải cần nhiều phút sau khi hai nhà khoa học rời phòng tâm trí bác sĩ Susan Calvin mới trở lại trạng thái quân bình. Hai mắt nàng từ từ hướng về robot Herbie đang sống dở chết dở và nét đanh đá lại hiện lên mặt nàng. Nhà tâm lý chăm chăm nhìn nó, rất lâu, trong lúc vẻ đắc thắng lụi tàn dần. Và nỗi tuyệt vọng đua nhau kéo về. Thế rồi giữa bao ý tưởng cuồng quay, chỉ một lời vô vàn đắng cay lướt qua môi nàng:
– Đồ nói láo!

Truyện 30/4: Núi Vẫn Xanh

Núi vẫn xanh 

    Núi Vẫn Xanh là tên một tập truyện của nhà văn Hà-Kỳ-Lam, trong đó tác-giả thuật lại chuyện một sĩ-quan Mũ Xanh, chỉ-huy một toán thám-sát bị địch-quân bao-vây. Sau khi chống-cự kịch-liệt, bị quân địch tràn ngập với quân-số gấp trăm lần quân mình, nghĩ không thể thoát được, ông gọi máy bay dội bom ngay trên đầu mình…Hai bên đều tan-nát. May-mắn bất ngờ, ông và một đệ-tử sống-sót. Sau nhiều ngày đêm vượt núi rừng về gần tới trại thì được dân chúng cho biết tin tan hàng, cờ địch đã treo trước trại. Ông sững-sờ nghĩ đến sự hy-sinh vô-ích của mình cùng các bạn đồng-ngũ.

     Người chiến-sĩ Mũ Xanh quay nhìn lại núi rừng, nơi còn nguyên thân-xác các bạn đồng-đội. Ông không đang tâm trở lại thị-thành một mình. Tất cả đều đã thay đổi, nhưng lòng ông không thể đổi thay . Ông lặng-lẽ trở lại núi rừng, nơi đất-nước đồng-đội Ông còn nằm lại. Chỉ ở nơi đó, Ông thấy không có gì thay đổi, Núi Vẫn Xanh như thuở nào.

    Bài thơ dưới đây cảm-tác sau khi đọc xong đoạn kết tuyệt-vời câu chuyện kể trên. Bài thơ để tặng nhũng chiến-sĩ vô-danh đã nằm xuống cho xanh núi rừng, và riêng tặng tác-giả tập truyện, nhà văn Hà-Kỳ-Lam.”

 Núi Vẫn Xanh 

Đất nước ta : đất nước hữu-tình,

Lịch-sử bao phen đã chuyển mình,

Lòng người thay đổi theo hồn nước

Núi vẫn muôn đời núi vẫn xanh.

Nước vẫn chảy xuôi, nước một dòng,

Lòng người chung-thuỷ một con sông.

Nào ai yêu nước ai bán nước,

Ai đẩy-đưa ai đến khốn cùng ?!

Núi vẫn xanh. . .và gã chiến-binh

Giờ tàn cuộc chiến đứng chênh-vênh,

Bạn-bè quân-ngũ ai còn mất ?

Ta kẻ lạc-loài, núi vẫn xanh.

Ta biết về đâu ? Hỡi Lạc-Hồng !

Hỡi dòng máu nóng giống Tiên-Long !

Từ đây ta hóa vào sông-núi,

Núi vẫn xanh hoài, suối vẫn trong. . .

Nguyễn Tường Vân

Nghe đọc truyện (click):

Núi Vẫn Xanh

CẢ BỐN TAY súng của toán thám sát Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bố trí lưng chừng đồi theo hình cánh cung để bảo vệ người toán trưởng và hiệu thính viên đằng sau lưng họ trên đỉnh đồi từ nãy giờ đang hướng mặt về phía đối diện để quan sát đám người lố nhố dưới kia, trong thung lũng trãi dài hai bên con suối ngoằn ngoèo như con rắn bạc lấp lánh dưới ánh nắng ban trưa chói chan của một ngày đẹp trời tháng tư. Hết quan sát những người xê dịch dưới thung lũng lại cúi nhìn đồng hồ, người trưởng toán có vẻ nôn nóng.

– Ít nhất là một tiểu đoàn. Có thể là K 25B công binh như tin tình báo cho hay. Mẹ kiếp, máy bay lên chậm thế này để chúng di chuyển hết thì hoài công.

– Không sao đâu, ông thầy. Bọn nầy có vẻ còn ở đây lâu đấy, vì nhiều tên còn đang tắm, thậm chí giặt giũ nữa kia.

Bỗng hiệu thính viên Thịnh đưa ống liên hợp cho thiếu úy Tuấn:

– Thằng L 19 đang lên vùng và cần gặp ông thầy.

Tuấn bóp chặt ống liên hợp, đưa lên miệng:

– Họa Mi đây Thạch Ðộ, trả lời.

Giọng miền Nam của viên phi công vang lên trong ống nghe:

– Thạch Ðộ đây Họa Mi, bạn điều chỉnh hướng bay khi bắt đầu thấy tôi để xác định vị trí bạn, trả lời.

– Họa Mi đây Thạch Ðộ. Tình thế khẩn cấp lắm, tôi sẽ nháy mắt để anh có thể thấy tôi nhanh hơn, trả lời.

– Tôi nhận bạn năm trên năm, và trực máy.

Tuấn đưa tay vẫy Tâm, một toán viên dưới lưng chừng đồi đang ngoái đầu nhìn lên anh. Khi người lính vừa bò đến gần Tuấn khẻ ra lệnh:

– Mày ra chỗ lúc nãy chờ, khi thấy thằng L 19 thì chiếu kiếng cho nó thấy mình.

Lần hành quân nào cũng vậy, Tuấn chỉ giao công tác chỉ điểm này cho Tâm. Không hẳn vì anh chàng làm công việc này giỏi hơn các toán viên khác – Tuấn có bao giờ sát hạch môn này cho cả toán đâu mà chấm điểm được – nhưng tình cờ một lần giao công việc này cho anh lính và thấy được việc nên Tuấn chẳng muốn “thay đổi nhân sự”.

Gài khẩu M 16 vào khoen leo núi móc gần vai bên phải, Tâm bò về phía mõm đồi cỏ tranh cách xa bên trái của Tuấn khoảng một trăm thước. Lúc mọi người vừa thoáng thấy chiếc máy bay quan sát màu trắng ở nẽo xa thì Tâm cũng vừa quỳ tại bải cỏ tranh ngập nắng, rút từ túi áo trên cái kiếng hình chữ nhật chỉ hơi lớn hơn chiếc hộp quẹt Zippo và nâng lên ngang mắt, nhìn từ phía sau kiếng qua lổ nhắm ở trung tâm kiếng để hướng cái chấm đỏ của tia mặt trời nằm thẳng hàng với phi cơ đang bay. Ðoạn anh ta khẻ lắc nhẹ để tạo sự nhấp nháy. Bỗng một tràng tiếng nổ dòn vang lên, cùng lúc Tâm bật ngữa ra sau rồi nằm bất động. Cả toán biết điều không lành đã đến với người đồng đội, ghìm súng ở tư thế đối đầu với mọi hướng. Thịnh nằm cạnh Tuấn khẻ nói:

– Ð.M. tụi nó ở đầy cả rừng rồi!

Tuấn chưa kịp đáp lời người lính mang máy truyền tin thì những quả đạn sơn pháo 75 ly, đạn cối 82 ly, và những loạt AK 47 thi nhau đổ về phía toán đang bố trí trên đồi. Cành cây, đất đá bắn tung tóe vào thầy trò Tuấn. Không cần lệnh của người toán trưởng, mỗi toán viên nằm thủ tại chỗ. Họ biết trong tình thế loại này tháo chạy hoặc co cụm lại với nhau chỉ tổ lãnh thêm thiệt hại. Tuấn nhìn qua các toán viên và thấy tất cả còn “nguyên”. Thịnh trao ống liên hợp cho Tuấn:

– L 19 gọi.

Tuấn chụp máy :

– Họa Mi đây Thạch Ðộ.

– Ðây Họa Mi, tôi vẫn chưa thấy bạn nhưng thấy nhiều cột khói và nhiều lằn chớp dưới đó.

– Ðang bị ném đá. Tôi đang ở hướng ba giờ của anh.

Sau hai lần “bẻ góc” nữa, chiếc máy bay quan sát từ xa gióng chính hướng ngọn đồi lướt tới. Tuấn cho viên phi công biết đang bay đúng hướng và sẽ báo cho anh ta biết khi nào máy bay vừa ngang qua đỉnh đồi. Súng địch vẫn nổ dòn, mưa đạn vẫn tới tấp đổ về ngọn đồi, khiến công việc điều không của anh càng khó khăn. Nằm dài trên mặt đồi để tránh tầm đạn đi, bên chiếc máy truyền tin, tay cầm ống nói áp sát một bên tai, mắt vẫn ngước lên dõi theo chiếc L 19 trên không đang tiến gần vị trí mình, rồi ngay lúc nó vừa ở trên đầu, Tuấn bóp ống liên hợp, nói như reo:

– Họa Mi, anh đang ở ngay trên đầu tôi, trả lời!

– Thạch độ đây Họa Mi. Nhận bạn rõ năm. Rất tốt.

– Họa Mi đây Thạch Ðộ. Cứ trực máy, tôi sẽ có việc cho anh.

Tuấn vừa trao ống liên hợp cho Thịnh tiếp tục liên lạc với máy bay để bò gần về phía bìa rừng quan sát trãng cỏ tranh, thì thình lình tiếng súng im bặt. Mấy giây sau cả rừng vang tiếng thét “xung phong”. Rồi trước mặt Tuấn, từ hướng mõm đồi cỏ tranh nơi Tâm quì chỉ điểm cho phi cơ vừa rồi, và từ hướng trước mặt toán lố nhố người cứ ùn ùn tiến tới. Hóa ra đợt bắn phá vừa rồi là trò đánh phủ đầu để bộ binh tiến sát. Bóng dáng những bộ quân phục kaki màu lá cây, nón tai bèo cứ xông lên bất kể những tràng đạn M 16 đốn ngã từng đợt người. Khoảng một trung đội địch tiến hàng ngang đã lên tới đỉnh đồi, cách bọn anh không đến mười thước, với tiểu liên AK kẹp nách bắn xối xả. Một tên địch gần Tuấn hơn ria một tràng đạn về phía anh, nhưng, như một phép lạ, anh vô sự. Thịnh nhanh tay siết cò súng hạ hắn đo đất. Nhiều tràng M 16 đáp lễ ngăn được chốc lát sự “tiếp cận” kia. Lúc này hai chiếc A 37 cũng vừa xuất hiện và bay cao hơn chiếc L 19. Trung sĩ Hiến báo cáo hai sự kiện dồn dập: Châu bị nguyên một tràng đạn AK vào ngực, chết ngay trên đồi, và địch bây giờ tràn lên đông hơn. Tuấn ra lệnh cả toán rút xuống triền dốc về phía thung lũng. Anh biết thung lũng đang có một đơn vị lớn của địch. Anh chỉ muốn bỏ ngọn đồi, men theo triền dốc, rồi xin phi pháo đánh ngay trên đồi để toán tiện bôn tẩu. Nhưng di chuyển một đoạn ngắn thì nhiều tràng AK từ dưới chân đồi khạc đạn xối xả về phía bọn anh. Không xong. Tứ bề thọ địch. Chỉ vỏn vẹn bốn tay súng mà tử thủ với biển người hay liều mạng phá vòng vây trùng trùng của địch thì phỏng ích lợi gì? Tuấn bấm ống liên hợp:

– Họa Mi đây Thạch độ.

– Họa Mi nghe. Bạn cho biết cần gì?

– Anh cho đánh ngay trên đầu chúng tôi.

– Không được! Bạn xác nhận lại, đánh ở đâu?

– Tôi, thẩm quyền Thạch Ðộ nhắc lại đánh ngay trên đầu chúng tôi và bất cứ chỗ nào có người. Ðịch tràn ngập rồi, không chần chờ gì nữa. Ðánh ngay đi. Dứt!

Tuấn trả máy cho Thịnh trước vẻ mặt hốt hoảng của anh này. Không có thì giờ và cũng không cần giải thích về quyết định của mình với người lính truyền tin của toán, Tuấn nép sau một thân cây to để tránh các tràng tiểu liên AK từ dưới chân đồi vẫn không ngừng quạt lên. Trên đỉnh đồi bây giờ đã lố nhố người của đối phương. Bốn người thám sát Biệt Cách Dù chỉ còn biết tử thủ: Hiến và Sắc chĩa súng về hướng đỉnh đồi, còn Tuấn và Thịnh quay súng xuống chân đồi. Cả bốn tay súng chiến đấu trong một ô vuông mỗi cạnh khoảng mười thước. Họ bắn dè xẽn từng ba phát một nhưng rất hiệu quả, và nhờ vậy đã làm chậm bước tiến của địch. Trong khi đó chiếc L 19 vẫn chưa chịu thi hành điều Tuấn yêu cầu, cứ bay lòng vòng bên trên. Anh “thông cảm” cho người phi công, nhưng không khỏi tức giận vì cảnh dầu sôi lửa bỏng của mình. Anh ta phải xin lệnh từ Trung Tâm Không Trợ về điều yêu cầu “điên khùng” kia, và chắc đang chờ trả lời. Tuấn cũng lấy làm lạ lần này không có biệt đội trưởng hay một sĩ quan của Liên Ðoàn bay L 19 hay trực thăng C&C như mọi lần. Thình lình mọi người cùng nghe rõ âm thanh “chéo-éo-éo … đoành!”. Một cột khói trắng bốc cao và cuồn cuộn tỏa ra như một đám mây, vươn lên khỏi tàng cây rừng ngay đỉnh đồi mà toán thám sát vừa rời bỏ. Tuấn biết viên phi công quan sát vừa bắn một trái khói chỉ điểm mục tiêu oanh kích. Ðiều yêu cầu của anh đang được đáp ứng. Tuấn vẫn nếp sau thân cây. Rồi anh bỗng thấy hành động nấp sau thân cây rõ lẩm cẩm vì biết bom sẽ rơi hướng nào. Nhưng đành phó mặc cho may rũi, anh cứ ngồi bên gốc cây. Tuấn tưởng chừng như anh đang gồng mình lại, các bắp thịt toàn thân như rắn lại, chờ đợi sấm sét giết người từ trời cao … Chiếc oanh tạc cơ thứ nhất đâm bổ xuống ngay trên đầu Tuấn, rồi hẳn nhiên đã đạt tới một độ thấp vừa đủ, con chim sắt ấy lại vút lên cao vài giây trước khi hai trái bom từ dưới cánh đâm thẳng xuống quả đồi của anh. Tuấn không dám tiếp tục ngẩng nhìn lên trời. Anh nằm cúi mặt xuống, thân chịu trên hai cùi chỏ để tránh áp ngực với mặt đất. Anh thấy vài con kiến ung dung bò trên nền lá khô. Thốt nhiên Tuấn cảm nhận được cái mong manh của thân xác mình lúc này – khác gì những cái kiến kia! Chỉ có mỗi một khác biệt là anh đau khổ chờ đón cái chết chóc, cái hủy diệt, còn chúng thì không hay biết gì cả, vẫn thản nhiên, vẫn ung dung cho đến khi nào cái chết xảy ra là xong, không còn cảm giác nữa. Chúng hạnh phúc hơn anh trong lúc này. Từng khuôn mặt thân yêu trong gia đình diễn hành nhanh qua trí anh: mẹ anh, các em, và chị. Rồi anh nghĩ đến Trinh thật xa xăm và cũng thật gần. Anh có còn trở lại cổng trường Trưng Vương nữa không? Rồi bên tai anh nghe mơ hồ giọng một ca sĩ quen thuộc với “em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại. Xin trả lời mai mốt anh về…” Tuấn lại nghĩ đến tập thể tuổi trẻ Sài Gòn: không có anh trong đó! Và trong cái khoảnh khắc chờ đón một sự hủy diệt khủng khiếp sắp giáng xuống mọi người, một khoảnh khắc rất ngắn nhưng cũng rất thiên thu, giác quan anh đón nhận cả một trình tự ngoại vật lướt qua chóng vánh: âm thanh động cơ phản lực gầm thét qua đầu, tiếng bom xé gió, hàng loạt tia chớp lóe lên, từng tràng tiếng nổ kinh hồn, và mă봠đất rung chuyển. Tuấn bị nhiều nguồn lực từ mọi hướng đẩy bật ngữa rồi xô tới trước hoặc xoay vòng; anh có cảm giác ngực bị ai đấm một quả rõ mạnh, tức đến khó thở. Ðất, sỏi ùn lên hắt vào người anh. Khói đen tỏa ra chung quanh, không khí khét lẹt mùi thuốc nổ. Tuấn biết một trái bom đã đáp cách anh không xa, đào một hố rõ to và làm dạt một mớ cây nhỏ bên trái anh, tung tóe đất lên quần áo anh. Riêng thân cây to vẫn đứng vững và hiển nhiên đã hứng hết những mãnh bom, đất đá và sức ép cho anh. Anh sờ khắp người để thấy mình vô sự. Trái bom khác rơi trên đỉnh đồi đã bật gốc một cây cổ thụ, tạo nên một âm thanh phụ nghe đánh ầm và làm trống hẳn một khoảng rừng.

Tuấn bò qua những cành cây gãy đổ ngổn ngang, tìm Thịnh nhưng không thấy hắn đâu cả. Trong mọi tình huống anh phải có máy bên cạnh mình. Nhưng chiếc A 37 lại đang đâm bổ xuống đầu Tuấn một lần nữa. Anh vội ngồi nấp sau một thân cây. Có lẽ đây là chiếc thứ hai, đang theo gót phi tuần trưởng của nó vừa rồi. Dù sao thì anh sắp hứng chịu một “trận đòn thù” nữa. Lại “ầm! ầm!” rồi mấy tiếng “ầm” phụ nổi lên. Tuấn lại bị lộn nhào một lần nữa, và anh giật bắn người khi thấy một cây cổ thụ vừa bật gốc ngã sóng soài cách anh không đầy một thước. Giá mà nó phang ngay anh thì còn gì nữa! Ngọn đồi bỗng “đổi mới”; cây ngã la liệt. Tuấn vẫn tìm Thịnh, tìm trung sĩ Hiến – người toán phó – và Sắc. Toán may ra thì còn được bốn mạng, kể cả anh. Tâm và Châu đã ra đi rồi! Nhưng sao thế này: im phăng phắc – địch đâu rồi, và ta đâu rồi? Bỗng lá cây lay động sột soạt sau lưng. Tuấn quay phắt lại, khẩu M 18 dưới nách chỉ thẳng vào bóng người từ trong bụi rậm vừa đứng lên.

– Sắc đây ông thầy.

Tuấn thở phào một cách dễ chịu. Anh khẻ nói:

– Mày không sao chứ?

Anh lính khẻ lắc đầu thay lời đáp. Tuấn biết mình vừa hỏi một câu không cần trả lời; nó chỉ có nghĩa của một câu xác định, “à, may quá còn có mày.” Anh đang lo cho số phận của các toán viên.

– Trung sĩ Hiến và Thịnh có sao không?

Sắc vừa nói vừa đưa tay chỉ về hướng hơi chếch đỉnh đồi:

– Ông Hiến bị thương nằm ở đằng kia. Ổng hỏi thăm ông thầy, và bảo em đi tìm.

Tuấn muốn đến gặp ngay trung sĩ Hiến xem tình trạng thương tích của ông ta ra sao, nhưng anh phải tìm Thịnh trước vì máy móc truyền tin là linh hồn của toán. Hai chiếc phản lực bây giờ đang ở tít trên mây; tiếng động cơ của chúng nghe nghe rất xa và đứt đoạn. Chiếc L 19 vẫn quầng trên đầu hai người. Có lẽ viên phi công đang gọi Thạch Ðộ khàn cả tiếng, Tuấn nghĩ thế. Quái, Thịnh biến đâu mất với chiếc máy truyền tin. Tuấn vẫn nhớ hắn chạy theo sau anh và nấp gần đây trước khi bom rơi. Tuấn bỗng nẩy ra ý nghĩ bới tìm trong mớ cây cối đổ ngổn ngang ngay cạnh hố bom. Và trong lúc hai thầy trò đang len lõi bò vào từng đống cây lá nằm bên trên hoặc bị vùi lấp dưới lớp đất mới thì phía trảng cỏ tranh một tiếng nổ phát ra và một cột khói trắng bốc cao. Anh biết viên phi công máy bay quan sát vừa bắn một trái chỉ điểm cho phản lực đánh bom xuống nơi anh ta vừa thấy địch ẩn núp đâu đó.

Trong tiếng rít của hai chiếc A 37 trên đầu, tiếng rền và chấn động liên hồi của bom, Tuấn chợt nghe giọng gọi đầy khích động của Sắc:

– Ông thầy ơi.

Tuấn nguớc nhìn theo ngón tay trỏ của người lính và thấy cách họ vài thước khúc cần ăng-ten của chiếc máy PRC 25 nhú ra khỏi mớ đất vàng tươi mới tinh khôi dưới mấy cành cây phủ lên. Anh lặng người mấy giây, cảm thấy đôi chân như không đứng vững nỗi. Giọng nói Tuấn nghe yếu ớt qua hơi thở:

– Moi đất ra.

Hai người hì hục lôi các cành cây bỏ sang một bên, dùng tay bới mớ đất bột lên. Chiếc máy truyền tin bị thủng, móp méo, vỡ nhiều chỗ, từ từ lộ ra, rồi màu áo rằn ri bày ra, dính đất và máu. Tuấn và Sắc cùng nâng người Thịnh đang nằm sấp lên. Xông pha trận mạc đã nhiều, đã trông thấy bao nhiêu xác chết của cả đôi bên, nhưng anh phải nhận chưa bao giờ thấy một xác người như thế này, nói chi xác ấy là đồng đội, là thuộc cấp của mình. Cả người Thịnh từ bụng lên vai bị mất tùng mãng thị lớn, và xương vai một bên bị gãy. Nhưng cái chân, ôi cái chân trái, anh không biết phải nói thế nào … đứt đến trên đầu gối, chỉ còn dính tòn teng với toàn thân bằng một mãnh da rộng bằng một bàn tay, và thịt chỗ hai đầu bị cắt lìa trở nên xám đen giống như vừa bị nướng trên lửa!

Sắc mở thử máy truyền tin. Chỉ là một cục kim khí im thin thít vô dụng. Chợt nhớ tới trung sĩ Hiến, hai người thận trọng di chuyển, và Sắc dẫn đường ngược lên đồi. Họ bước qua nhiều xác lính Bắc Việt nằm đủ vị thế – nghiêng, ngữa, sấp, hay cong queo. Tuấn cúi xuống bên người toán phó, xem xét vết thương ở bụng. Có vẻ một mãnh bom đã cứa một đường dài và sâu trước bụng. Anh thử xốc người thương binh lên nhưng anh ta nhăn nhó một cách đau đớn:

– Ối, ông thầy để tôi nằm đi.

– Trước khi bom nổ anh đã rút xuống triền dốc với toán mà sao lại ở đây?

Trên gương mặt tái xanh vì mất nhiều máu của Hiến Tuấn thấy một sự cố gắng dùng sức mới bật ra thành tiếng:

– Tôi chạy lên để.. kéo xác thằng Châu xuống.. kẻo bom dần nát mất nhưng..

Hiến ngưng nói, vẻ mệt nhọc, đưa lưỡi liếm quanh vành môi tái nhợt và khô khốc. Sắc mở nắp bi-đông, khẻ nâng đầu anh lên và kề miệng bình nước vào môi. Tuấn nhắc:

– Cho uống ít thôi để giữ cho máu bớt chảy.

Trong khi tháo cuộn băng cá nhân để băng cho trung sĩ Hiến, Tuấn vẫn thận trọng quan sát chung quanh. Anh thấy nhiều xác chết đối phương rãi rác khắp nơi. Xác Châu nằm cách trung sĩ Hiến khoảng năm thước, mắt còn nhìn lên trừng trừng. Anh rón rén bò đến bên người toán viên vẫn hay di chuyển hàng đầu trong các cuộc xâm nhập của toán, đoạn từ từ vuốt cho đôi mắt nhắm lại. Rừng im phăng phắt. Có lẽ chúng chỉ di tản những kẻ bị thương. Những người nằm kia đều “câm nín”. Sau khi đảo lại mấy vòng để bắn rocket và đại liên mười hai ly bảy xuống một điểm mới dưới thung lũng do phi cơ quan sát chỉ điểm, hai chiếc phản lực đã rời vùng. Chiếc L 19 vẫn còn lượn trên không phận hành quân. Tuấn vừa quay sang bảo Sắc lấy chiếc pa-nô tìm cách trãi để ra hiệu cho máy bay biết mình có mặt tại chỗ thì bỗng rừng núi lại rền vang từng tràng nổ. Tuấn nói:

– Mười hai ly bảy.

Chiếc L 19 vụt cất cao lên và mất hút vào khoảng không. Tuấn đề nghị khiêng trung sĩ Hiến men theo triền dốc về hướng Bắc cho xa vùng giao tranh được bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Anh đoán địch sẽ chiếm lại đồi này. Bỗng dưng trung sĩ Hiến quàng một tay ôm chặt chân Tuấn và thều thào nói:

– Ông thầy đi đâu anh em cũng đi theo ông thầy. Bây giờ ông thầy bỏ

anh em …

Tuấn định thốt một lời an ũi, hay trấn an nhưng bàn tay trung sĩ Hiến đã buông rơi khỏi cổ chân anh, đầu ngoẹo sang một bên, mắt nhắm nghiền như đi vào một giấc ngủ. Anh lay mạnh vai Hiến:

– Anh Hiến! anh Hiến!

Chỉ có tiếng gió ngàn xào xạt đáp lại. Rừng chiều hửng nắng ở những đồi xa. Sắc bỗng vỗ vào cạnh sườn Tuấn và chỉ về hướng trãng cỏ tranh. Lố nhố một đoàn quân dàn hàng ngang đang tiến lên đồi của anh. Họ vận kaki xanh, nón tai bèo, súng kẹp nách, vai đeo ba lô. Hai thầy trò vội lom khom chạy về phía triền dốc, rồi di chuyển về hướng Bắc men theo sườn đồi.

Ði được một giờ, vượt qua vài con suối, mấy quả đồi thấp, Tuấn dừng lại xem bản đồ, đoạn bảo Sắc đổi hướng, đi về đông theo phương giác 1800. Năm giờ chiều. Ðêm rừng bao giờ cũng đến nhanh. Trong ánh sáng nhá nhem hai thầy trò kẻ trước người sau cứ tiếp tục luồn lách qua cây lá, bụi rậm. Rồi sực nhớ phải có một độ quan sát tối thiểu mới có thể chọn một vị trí ngủ đêm an toàn, Tuấn khẻ nói với người toán viên đồng hành:

– Ta lên đỉnh đồi trước mặt tìm chỗ nghỉ đêm.

Mới hơn bốn giờ sáng Tuấn đã thức giấc. Bao giờ người lính hành quân cũng thức giấc sớm, vì giấc ngủ đến vào khoảng bảy giờ chiều thay vì một hai giờ sáng ở những “đêm đô thị”. Trời còn tối mịt. Anh nằm nghe ngóng một lát, đoạn đưa tay sờ lưng võng của Sắc. Một giọng nói rất khẻ:

– Ông thầy thức rồi hả?

Rồi ánh sáng nhờ nhờ đổi dần sang trắng đục. Rồi mọi vật bỗng hiện rõ trước một ngày đang lên. Có vài tiếng chim hót. Có vài tiếng hú đâu đó bên một ngọn đồi khác, rồi không biết bao nhiêu tiếng hú cất lên vang cả một vùng đồi núi, cơ hồ như tiếng hú này lây sang tiếng hú khác, và cứ thế truyền đi khắp nơi. Tuấn đã quá quen với các tấu khúc bình minh của rừng núi. Hai người cuốn võng bỏ vào ba lô, dọn dẹp “sạch sẽ” chỗ đất dưới chân, lùa mớ lá cây chung quanh phủ lên, không để lại một dấu vết nào có thể tố cáo sự hiện diện của hai thầy trò. Sắc mở một bịch gạo sấy, rót nước từ bi-đông vào bao làm một bửa ăn sáng. Tuấn chẳng thấy đói, tuy suốt ngày hôm qua anh chỉ ăn có một gói cơm sấy vào buổi sáng. Tâm trí anh quay về với những gì đã xãy ra. Bị lộ, trận oanh kích, những xác đồng đội bị bỏ lại, và bây giờ hai nguời lạc lỏng giữa rừng không máy móc liên lạc để biệt đội biết tung tích. Anh có trách nhiệm gì với những thuộc cấp vừa ra đi vĩnh viễn kia? “Ông thầy đi đâu anh em cũng theo ông thầy. Bây giờ ông thầy bỏ anh em …” Tuấn thấy miệng đắng khi nuốt nước bọt. Anh thèm một điếu thuốc, và một ly cà phê. Anh nhìn Sắc đang ngồi ăn, nhìn xuống khẩu M 18 gác trên đùi mình, ngước nhìn bầu trời xanh biếc ban mai. Sắc vụt hỏi:

– Bây giờ tính sao, ông thầy?

– Không có máy móc, không biết ở nhà thế nào, còn ở nhà cũng chẳng biết mình sống chết ra sao. Cứ tiếp tục đi về hướng Ðông, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, càng gần nhà càng tốt. Có trực thăng thì trãi pa-nô cho nó thấy mình. Thế nào biệt đội cũng cho máy bay đi tìm.

– Cha con nó bị thiệt hại nặng. Hai chiếc A 37 đánh hiệu quả thật. Sườn đồi bên kia và trãng cỏ tranh lãnh trọn mấy trái bom. Em thấy chung quanh chỗ ông Hiến nằm ít nhất cũng cả chục xác nằm la liệt. Ông thầy có để ý không? Ðợt bom đầu tiên chận đứng ngay cuộc tấn công. Em nghĩ có lẽ chúng kêu phòng không đến tiếp cứu sau này, vì suốt trong khi oanh kích đâu có khẩu mười hai ly bảy nào hoạt động đâu.

Tuấn đồng ý với phần lớn những lập luận của Sắc, nhưng anh chẳng thấy hứng thú bàn luận về chiến trận vừa qua. Tỷ số tử vong của chiến trường và tỷ số tử vong của lòng mình, cái nào làm nên chiến thắng? Ðợi cho người lính ăn xong và đào đất lấp mọi dấu vết, Tuấn đề nghị lên đường.

Sang đến ngày thứ ba hai người vẫn tiếp tục băng rừng, ngày đi đêm nghỉ. Còn khoảng hai chục cây số đường chim bay nữa mới về đến bộ chỉ huy của Liên Ðoàn. Cả hai đều thấy ngao ngán. Hai mươi cây số đường chim bay, điều đó có nghĩa là bốn, năm mươi cây số đường núi, mà tốc độ di chuyển băng rừng – chứ không phải theo theo đường mòn – có nhanh lắm cũng chỉ đạt tới bảy cây số một ngày.

Nhưng điều bất ổn trong lòng họ không phải đường về dịu vợi, đầy đe dọa, bất trắc, lương thực cạn. Cái bất ổn là không trung vắng lặn. Từ cái buổi sáng đầu tiên sau khi bỏ ngọn đồi và đồng đội ở lại anh và Sắc không hề thấy thấp thoáng, dù xa, bóng dáng một chiếc máy bay. Lạ thật. Không một chiếc trực thăng, không một chiếc L 19, không một chiếc vận tãi, không một chiếc oanh tạc cơ phản lực, thậm chí không một chiếc máy bay dân sự, không có gì ráo trên bầu trời quang đảng. Chưa bao giờ như thế, ít ra từ ngày Tuấn vào lính; chưa bao giờ có một ngày không có một hoạt động nào của không quân. Anh ngồi nghỉ mệt trên một ngọn đồi, tựa lưng vào một thân cây, dựng súng bên cạnh. Sắc ngồi xếp bằng trên mặt đất, cạnh Tuấn. Người lính cảm thấy bồn chồn khi nhìn vẻ tư lự của người chỉ huy. Anh ta không dám hỏi bất cứ điều gì lúc này. Tại sao bầu trời vắng lặng thế này? Sao không nghe một tiếng đại bác, một tiếng bom nổ xa xa? và vân vân. Cuối cùng, không nén nỗi những băn khoăn trong lòng, Sắc lên tiếng:

– Em thật không hiểu nổi. Chắc có chuyện gì đây, chứ không thể nào Liên Ðoàn đem con bỏ chợ như thế này.

– Tao cũng chịu thua, không hiểu nổi. Ðành rằng mình không có phương tiện liên lạc, không biết tình hình ở nhà hay các đơn vị bạn ra sao, nhưng Liên Ðoàn vẫn có thể cho trực thăng đi tìm. Ðằng này bặt vô âm tín. Mà cái điều lạ lùng nhất là không có bóng dáng một chiếc máy bay nào cả, chứ đừng nói trực thăng C&C của biệt đội. Tao cũng nghĩ như mày: chắc có biến cố gì đây. Ðiều cần nhất bây giờ là bằng mọi cách phải gắng về tới bộ chỉ huy Liên Ðoàn. Mầy còn mấy gói gạo sấy?

– Dạ ba gói, và không tới nửa chai xì dầu.

– Tao còn năm gói. Tao sẽ đưa thêm cho mày một gói. Mỗi thằng như vậy có bốn gói.Tao ước tính từ đây về tới Liên Ðoàn có thể mất sáu, bảy ngày nữa. Bây giờ tao tạm ấn định kỷ luật dùng lương khô là mỗi thằng chỉ được ăn nửa gói một ngày. Cố gắng chịu đựng như vậy thì mới đủ sức mà lết về tới nhà. Tao nói sáu, bảy ngày là trong giả thuyết di chuyển vô sự, không đụng địch.

Ðiều Tuấn nói sau cùng nhắc lại sự bất an của hai người. Trong ba ngày qua thầy trò anh đã né tránh mấy đoàn quân dài dằng dặc. Trong đời nhảy toán của mình Tuấn chưa bao giờ thấy địch chuyển quân rầm rộ như thế. Một điều lạ lùng nữa là những đoàn người cứ nườm nượp hướng về Ðông, cùng chiều với anh và Sắc, chỉ khác là họ dùng đường mòn. Tuấn đứng dậy tháo ba lô đặt xuống đất, lôi một gói gạo sấy đưa cho Sắc, đoạn cả hai lên đường.

*

* *

Tuấn nhìn đồng hồ tay: ba giờ chiều. Tuy gần cuối ngày, cái nắng như nung như đốt của tiết trời miền Nam đầu tháng Năm vẫn chưa dịu đi chút nào. Ðưa bi đông lên miệng tu một ngụm nước xong, anh xoay xoay tấm bản đồ, nhìn thật kỷ những vòng cao độ nâu lẫn xanh nhạt, rồi ngước nhìn địa thế chung quanh. Cho chắc chắn, anh mở cái địa bàn, xoay cho hướng bắc của bản đồ trùng với hướng mũi tên của địa bàn, đoạn anh đối chiếu chi tiết bản đồ với địa thế một lần nữa. Anh hân hoan nói với Sắc:

– Tới vùng Tân Uyên rồi!

– Chắc không, ông thầy?

– Bảo đảm!

Hai thầy trò bỗng thấy khỏe khoắn trong người, mặc dù mới trước đó mấy phút họ cảm thấy gần kiệt sức sau sáu ngày băng rừng lội suối với những cơn đói triền miên làm bủn rủn chân tay, hoa cả mắt. Nhìn lại đoạn đường dài gian nan, hiểm nguy, Tuấn thấy thương hại Sắc. Hắn ta to con, ăn khỏe, nên trong mấy ngày qua quả thật là một chuỗi ngày khốn khổ “tận cùng bằng số” đối với hắn. Tuấn bảo:

– Bây giờ mày có thể ăn nốt nửa bịch gạo sấy cuối cùng cho đỡ đói. Còn vài cây số nữa là tới chi khu rồi, tha hồ mà gọi mì, phở, hủ tiếu…

– Lạ thật, không thấy thèm nữa ông thầy ơi. Thôi, mình đi lẹ tới chi khu đặng báo Liên Ðoàn đón.

Hai người lội qua một con suối, tiếp tục đi về Ðông. Họ bước đi vững vàng hơn những ngày còn lếch thếch giữa rừng. Sau khoảng một tiếng đồng hồ di chuyển, nhìn xuyên qua một khoảng rừng thưa, hai người thoáng thấy mấy nóc nhà lợp tôn của chi khu Tân Uyên ở tít đằng xa, bên kia sông. Cùng với bước tiến của Tuấn và Sắc, mọi vật rõ dần. Rồi lá cờ phấp phới trên trụ cờ tuy vẫn còn mờ mờ trong quãng xa nhưng đã đủ để thấy không phải lá cờ vàng ba sọc đỏ quen thuộc. Hai người không tin nổi mắt mình: làm thế nào mà lá cờ nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao ở giữa lại ngang nhiên tung bay nơi này. Thầy trò nhìn nhau, nhưng mỗi người theo đuỗi những suy nghĩ riêng. Sắc bỗng vỗ vai Tuấn chỉ về phía con sông trước mặt, vẫn ở nẽo xa và chen vào giữa khoảng cách từ chỗ họ đến chi khu: vài chiếc ghe cũng treo loại cờ đó. Nhìn qua mấy mái nhà tranh gần bờ sông cũng lại thấy những lá cờ đó. Sắc khẻ nói:

– Chắc chúng chiếm vùng Tân Uyên rồi. Không khéo Biên Hòa cũng di tản chiến thuật nốt.

Tuấn nói, để tự trấn an hơn là làm yên lòng người thuộc cấp:

– Không thể có chuyện đó được.

Chợt nhìn bên trái, qua một khoảng rừng chồi lưa thưa, thấy có mấy người nông dân đang cuốc đất trong một thữa ruộng, anh chợt nẩy ra ý nghĩ đến tiếp xúc họ để dò hỏi tình hình. Tiến sát mãnh ruộng, để Sắc ngồi lại trong một bụi cây yểm trợ, Tuấn cầm khẩu M 18 trong tay phải, bước đến bên bốn người đang làm việc đồng áng. Họ ngừng tay, nhìn anh chằm chặp. Tuấn hỏi người lớn tuổi nhất trong nhóm người, một ông già khoảng năm mươi, xương xẩu nhưng còn nhanh nhẹn:

– Thưa Bác, hình như chi khu đã rút đi rồi, phải không ạ?

Gương mặt thoáng bối rối, ông nhìn Tuấn từ đầu đến chân rồi nói rất khẻ:

– Chú là biệt kích 81 trong rừng mới ra hả?

– Dạ phải.

– Ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng từ năm, sáu ngày nay rồi, từ hôm ba mươi tháng Tư. Ai nấy đều buông súng trở về nhà hết. Chính phủ Cách Mạng chẳng làm khó dễ gì cả. Anh em còn bao nhiêu người?

Tuấn chẳng còn nghe rõ ông già hỏi gì nữa. Anh cúi đầu rất lâu. Giòng ý thức của anh bỗng như ngừng lại – không hẳn là nó đặc quánh lại, cũng không hẳn nó trống rổng, chỉ biết nó tuồng như không còn khả năng suy nghĩ rõ ràng, mạch lạc nữa. Tuấn có cảm tưởng sau bao nhiêu suy đoán, thắc mắc, giờ đây được thực tế trả lời, trí não mình bỗng thấy “no” rồi, không đòi hỏi nữa, cũng không nhận dữ kiện nào từ ngoại giới nữa! Sắc từ trong bụi vội bước ra. Nhìn dáng điệu của người toán trưởng anh đã đoán tình hình hẳn là rất xấu. Trong ánh mắt ái ngại, ông cụ lặp lại cho người lính thứ hai nghe:

– Ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng hôm ba mươi tháng Tư rồi. Các chú nên bỏ súng ống đi, trở về gia đình thôi.

Ðến lược Sắc đứng đờ người ra. Lúc ngồi trong bụi anh đã đoán tình hình phải xấu, anh đã lờ mờ phát họa một vài viễn anh tệ hại, nhưng “xấu” như ông già này cho biết thì thật vượt quá xa dự tưởng của anh.

Ðột nhiên Tuấn ngước lên chào từ giã:

– Tụi cháu cám ơn Bác. Thôi, tụi cháu về.

Tuấn bước đi trước, và Sắc theo sau. Họ tiến về phía bờ sông. Hai người đứng nhìn giòng sông êm ả, trong vắt một hồi lâu. Rồi Tuấn nhìn Sắc, ngập ngừng vài giây, nói với một giọng hơi lạt đi, nhưng không kém dứt khoát:

– Qua bên kia sông, có thể đi bộ ra đến xa lộ, từ đó đón xe về Sài Gòn. Sắc, thôi thầy trò mình chia tay. Kể từ giờ phút này tao không còn là trưởng toán của mày nữa. Cứ tự do về với gia đình. Tao chỉ muốn nói một điều. Trong những ngày mày theo toán, nếu tao có làm những gì khiến mày buồn lòng, hoặc vì trách nhiệm, hoặc vì sai lầm, tao mong mày bỏ qua cho. Cầu chúc mày thật nhiều may mắn.

Sắc cố bậm môi để giữ cho miệng khỏi bị méo xệch. Anh ta muốn nói cả nghìn lời nhưng không thốt được một tiếng. Cúi gầm mặt xuống một lúc như cố đè cơn xúc động cứ chực bật ra thành tiếng nấc, cuối cùng anh ta hỏi:

– Còn ông thầy?

– Tao không thể bỏ toán còn nằm lại trong đó.

– Nhưng họ chết hết rồi mà.

– Chính vì vậy mà tao thấy mình không thể về nhà được. Lời nói sau cùng của trung sĩ Hiến rất đúng.

Tuấn ngập ngừng một lát, định nói thêm điều gì nữa nhưng lại thôi. Anh sẽ mang những đắng cay trong lòng mình vào rừng núi. Có lẽ anh chỉ cần nói điều đó với toán của anh vẫn còn lại trong rừng: người lính ở đâu cũng thế, chỉ là công cụ; thắng bại không phải do họ định đoạt, và vinh quang của chiến thắng cũng không thuộc về họ – có thuộc về họ chăng chỉ là những đau khổ của chiến bại và của hy sinh!

Tuấn quay lưng đi về hướng khi nãy hai thầy trò từ trong rừng ra. Trong một thoáng cõi lòng Sắc như hứng chịu bão táp tơi bời từ mọi hướng. Tìm về xa lộ sao ngập ngừng bước chân. Anh muốn rão bước theo sau người toán trưởng, nhưng hình ảnh những đường phố Sài Gòn thân thuộc giờ đây không xa lắm như níu chân anh, dù anh nghĩ nơi ấy chắc cũng đang phấp phới những lá cờ này. Rồi hình ảnh mẹ anh hiện ra thật rõ và bao trùm cả không gian. Sắc gọi:

– Ông thầy!

Tuấn quay lại. Sắc đứng ở thế nghiêm, đưa bàn tay phải lên ngang mày chào. Tuấn chào đáp lễ, đoạn quay gót tiến bước. Người lính đứng nhìn theo cái dáng gầy, phong sương xa dần rồi khuất sau ngàn lá. Anh ta lại nhìn những dãy núi xa xa ở chân trời.

… cái dáng gầy, phong sương xa dần rồi khuất sau ngàn lá.

Núi ở chân trời bao giờ cũng xanh lơ. Chắc toán của anh đang nằm trên một trong những dãy núi đó. Chắc người trưởng toán lại trèo lên nơi ấy. Sắc không sao ngăn nổi mấy giọt nước mắt từ từ lăn xuống, quyện với mồ hôi làm lưỡi anh mặn chát.

 Hà Kỳ Lam

Truyện 30/4: Mưa gió xa muôn trùng

LGT: Câu chuyện ghi lại một đêm mưa gió ở một quận lỵ nhỏ bé tại miền Nam Việt Nam, cái đêm tình cờ rạng ngày 30-4-1975 của hai người trẻ trong một gian nhà nhỏ. Rồi chia xa. Người hải ngoại, kẻ quê nhà. Nhưng cả “người đi theo mưa gió xa muôn trùng” và người ở lại, cứ mỗi 30 tháng 4 đều mặc nhiên cùng chung một hoài niệm … (blog cô gái Việt)

Mưa gió xa muôn trùng

Hà Kỳ Lam


Mới hơn tám giờ tối mà mọi nhà trong khu quận lỵ nhỏ bé này đều cửa đóng then gài. Chỉ có ánh đèn le lói qua các khe hở của vách ván hay qua các song cửa là dấu hiệu người ta còn thức. Mưa vẫn nặng hạt và đều đều với từng cơn gió thỉnh thoảng đẩy làn mưa thành những đường chỉ buông xiêng xiêng trước ánh đèn xe. Có lẽ một phần vì tình hình chiến sự có vẻ bất ổn sau một loạt đột biến như các vụ di tản chiến thuật ở miền Trung, rồi ở Cao Nguyên, và một phần vì trời mưa nên người dân ở đây đi nghỉ sớm. Chiếc xe jeep nhà binh dừng trước một căn nhà mái tôn với ánh đèn bên trong hắt qua các khe cửa sổ lá sách đã đóng lại. Rạng nhảy ra khỏi xe, và tài xế cho xe lao đi. Chàng dò dẫm mấy bực thềm trước khi có thể chạm tay vào cánh cửa. Chàng đứng im nghe ngóng mấy giây. Im phăng phắc – không có lấy một tiếng xầm xì bên trong. Dán mắt vào một khe hở của vách ván, Rạng vừa thoáng thấy bóng dáng Trâm đang ngồi chấm bài bên ngọïn đèn dầu hỏa. Trâm là một cô giáo mấy năm nay.
Rạng đưa tay định gõ cửa, nhưng dừng lại. Tiếng gõ cửa ban đêm thường làm người ta sợ. Chàng nói lớn nhưng ôn tồn:
“Trâm mở cửa cho anh. Rạng đây!”
Một cánh cửa sổ hé mở và một mái tóc xõa in hình trong khung cửa, rồi một giọng con gái reo vui:
“Anh Rạng!”
Cửa mở. Rạng bước vào nhà với bộ quần áo trận phong trần lấm tấm những hạt mưa, và Trâm đứng nép một bên nhường lối. Nàng nhìn Rạng từ đầu đến chân rồi hỏi:
“Thật là lâu anh mới đến. Đi công tác một mình hay cả đơn vị?”
“Bọn anh lại sắp được ném vào một lò lửa nào đây. Lâu quá nay mới có dịp qua vùng này nên ghé thăm hai bác và Trâm.”
“Ba má em lên Sài Gòn lo đám hỏi cho anh Trực, mai mới về. Tối nay anh ở lại đây nhé. Một năm rồi anh mới ghé. Đi đâu mà biệt tích lâu dữ vậy?”
Câu nói thân tình làm Rạng cảm thấy dễ chịu, thoải mái, một thứ cảm giác chỉ có mái ấm gia đình mới đem lại. Gia đình của Trâm là một mái gia đình thứ hai đối với quãng đời nhiều xê dịch của Rạïng. Trực, anh của Trâm, là bạn thân của Rạng từ thuở nhỏ. Nhưng chưa bao giờ ý nghĩ đi “cua” em gái bạn đến với Rạng.
Không phải vì Trâm không đẹp cỡ chim sa cá lặn. Thật ra, một nhan sắc ưa nhìn như Trâm cũng đủ cho những thằng con trai như Rạng dệt mộng ước, mặc dù tuổi trẻ nào cũng mang ảo tưởng mình không thiếu giai nhân. Có lẽ vì “lỡ” thân thiết với Trực quá, và “lỡ” cư xử thân tình với Trâm từ hồi nào không hay nên “trổ mòi” thì hơi kỳ! Rạng thấy chẳng cần phân tích làm gì. Có thể tình thế là như vậy, và có thể cũng không hẳn đúng, nhưng chàng biết mình mến mọi người trong gia đình này, chàng thấy mình quí Trâm vì sự chân thật của nàng. Chàng vẫn tìm thấy ở gia đình này một điểm tựa tinh thần, nhất là với Trâm. Rạng đáp:
“Anh là cá biển chim trời mà!”
“Hay bị cô nào xích anh lại bấy lâu nay?”
Đôi mắt Trâm long lang một vẻ mà Rạng không nói được là một tia nhìn diễu cợt hay thăm dò. Chàng nói:
“Chỉ có thằng Trực sắp bị một người con gái xích lại thì đúng hơn.”
Trâm cười:
“Bị xích hay được xích đấy? Cả anh nữa, phải được xích mới nên người!”
Rạng cười lớn và nhìn Trâm. Chắc đúng vậy. Em phải xích anh lại đi Trâm. Trong một thoáng Rạng nghĩ đến những người con gái khác mình quen biết. Chẳng ai có đủ “tư cách” buộc chân chàng lại. Trâm thì khác. Ô hay, sao lại đi so sánh như thế kia! Vấn đề không đặt ra như vậy. Trâm là Trâm. Trâm không nằm trong bảng sắp hạng những bóng hồng chàng chạy theo. Trâm mang một nghĩa lý khác đối với Rạng; không phải một cái đích chàng nhắm tới, nhưng cũng không phải là một đối tượng để đùa cợt; không phải là tình yêu để lo lắng, tận tụy, nhưng cũng không phải một hình bóng thoáng qua rồi mất hút trong quên lãng. Vị trí của nàng là một cõi nào đó trong ý thức của Rạng, ở đó mỗi lần bất chợt tìm đến chàng thấy một sự ấm áp, vỗ về. Trâm là một loại ốc đảo trong sa mạc của một lữ hành. Với Rạng, Trâm thật gần gũi, thân tình mà không là người tình. Tuy không lãng mạn, chàng vẫn thấy cái đường ranh mờ ảo trong tâm hồn mình có cái gì đẹp và dễ chịu hơn một tương giao xác định và kề cận của tình yêu trai gái. Đối diện Trâm chàng cảm thấy tự do, phóng khoáng, và cùng lúc, tương kính. Nhưng tất cả cái đó sẽ mất đi, hoặc sẽ hết nguyên vẹn với một lời tỏ tình, một cặp môi hôn, hay một vòng tay ôm siết cuồng si. Có thể đó chính là đường ranh mờ ảo và đẹp bắt chàng dừng lại. Và gặp lại Trâm sau một thời gian xê dịch đó đây bao giờ cũng là một hạnh phúc đối với Rạng. Trâm là một thứ em gái mà Rạng có thể thổ lộ tâm sự mà chính Lan, em gái Rạng, cũng khó có thể chia sẻ hay cảm thông.
Rạng kéo một chiếc ghế và ngồi đối diện với chồng bài vở Trâm đang chấm dở. Trâm đi rót nước trà vào tách, bưng đặt lên bàn trước mặt Rạng, đoạn, ngồi vào vị trí cũ. Nàng thu vén chồng bài vở, dẹp sang một bên, và rồi thôi thì đủ thứ chuyện: chuyện đời, chuyện nắng, chuyện mưa… Rạng có cảm tưởng cái giòng tương đắc giữa hai người không bao giờ bị cắt đứt, mà chỉ gián đoạn vì những năm tháng chia xa để lại tiếp tục khi tái ngộ.
Rạng chợt thấy một bản nhạc để ở góc bàn và với tay cầm xem: bản “Bến Xuân” của nhạc sĩ Văn cao. Đó là một trong số các bản ưa thích của Rạng và chàng nghĩ có lẽ cũng là một bản ưa chuộng của Trâm. Rạng không quên Trâm có một giọng ca khá điêu luyện. Có lúc Rạng đã nghĩ nếu Trâm quyết định đi theo nghề ca hát có lẽ nàng cũng đã thành công.
Trâm hỏi:
“Anh Rạng biết bản nhạc này không?”
“Biết thôi à? Còn mê nữa kia.”
Gương mặt Trâm thoáng vẻ hài lòng của một kẻ bắt gặp điều mình tìm kiếm. Nàng nói nhanh và khẽ:
“Em hát tặng anh nhé.”
Rạng trao bản nhạc cho Trâm, ngồi ngay ngắn như đón nhận một món quà. Liếc nhìn vẻ “nghiêm trang” của Rạng, Trâm mỉm cười rất tươi:
“Không có đàn thành ra hơi khó ca.”
Và giọng trong trẻo, truyền cảm của Trâm cất lên trong gian nhà nhỏ, giữa một không gian im vắng về đêm chỉ có tiếng mưa rơi, gió thổi bên ngoài, và chỉ có hai người với nhau…
“Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
Em đến tôi một lần…”
Âm thanh trầm bổng của lời ca ru Rạng vào một cõi mộng đẹp vô ngần. Chàng chiến binh Rạng giã từ những dốc cao, những lũng sâu, những con đường mòn tử địa với âm thanh chát chúa của đủ loại súng, với mùi khói súng khét lẹt, ở đó não cân tê dại hay căng thẳng, để:
“Dìu nhau theo dốc suối nơi ven đồi
Còn thấy chim ghen lời âu yếm
Tới đây chân bước cùng ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền soi nước…”
Rạng nghĩ chưa bao giờ giọng ca của Trâm hay đến thế, một giọng ca không kèn trống phụ họa, không có kỹ thuật âm thanh tăng cường. Nếu có bao giờ ta hy hữu chiêm ngưỡng một dung nhan Tây Thi không son phấn thì đó chính là cảm giác của Rạng lúc này đây, khi lắng nghe lời ca trần trụi của Trâm bằng xương bằng thịt! Lòng chàng lâng lâng. Đôi uyên ương với căn nhà bên suối mộng mị trong thế giới âm thanh kia ở trong cõi lòng của mỗi người nghe nhạc.
Rồi lời hai của bài ca làm tâm hồn Rạng chùng xuống một cảm xúc khó tả. Từ một trạng thái lâng lâng ngây ngất chàng bước vào một tình cảm nao nao. Cõi mộng chàng bước vào đầu bài ca bây giờ đã tan biến, đã ra đi theo bóng dáng giai nhân:
“Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác
Em vắng tôi một chiều
Bến nước tiêu điều còn hằng in nét dáng yêu…”
Giọng Trâm ngân dài với âm cuối bản nhạc, rồi nàng ngước lên nhìn Rạng, mỉm cười, khẽ hỏi:
“Nghe được không, anh Rạng?”
“Tuyệt. Anh nhớ lại, có lẽ chưa bao giờ Trâm ca hay như đêm nay. Bản “Bến Xuân” là một trong những bản yêu thích của anh, nhưng chưa lần nào câu ca
‘Người đi theo mưa gió xa muôn trùng
Dừng bước phiêu du về bến cũ…’
lại làm anh cảm xúc như bây giờ. Lời ca đã làm anh nao nao: anh cảm mà không diễn đạt được. Có lẽ anh đang sông trong câu ca đó, hay câu hát đã diễn tả hộ anh những gì anh thể nghiệm về một phần đời của mình, hay những linh cảm của mình về những ngày mưa gió đang chờ… Anh thật không biết diễn tả thế nào, nhưng cám ơn Trâm về một giọng ca cùng một bài ca hay.”
“Em tin là anh khen thật chứ không khen lấy lòng. Bỗng nhiên em thấy rung cảm theo từng lời ca, và có lẽ vì thế làn hơi có cảm hứng phải khác lạ hơn mọi lần. Có điều lạ là em cũng có cùng một ấn tượng như anh về hình ảnh ‘mưa gió xa muôn trùng’.”
Rạng im lặng, chẳng biết nói lời gì. Chàng đang tận hưởng một khoái cảm lâng lâng vì vừa có được một sự đồng cảm. Rạng nghĩ, nếu đời sống còn có những phút giây cộng hưởng hiếm hoi của hai tâm hồn thì vẫn còn nhiều lý thú, chứ không đến nỗi nhàm chán; đó là một thứ hạnh phúc mong manh và tiềm tàng. Rạng thấy từ trước đến giờ Trâm thường có cùng cảm ứng với chàng trước nhiều sự vật, từ dáng vẻ một giòng sông, đến cảnh trí buổi hoàng hôn, từ một cuốn phim đến một nhạc khúc như đêm nay… Chàng thấy tâm hồn Trâm là một tâm hồn đẹp và nhạy cảm; nó lai láng như sông nước vùng quê hương mưa nắng hai mùa trong đó nàng lớn lên.
Hai người lặng im nghe tiếng mưa rơi đều đều trên mái tôn hòa với âm thanh vi vu của từng cơn gió lướt qua vách ván. Tự nhiên Rạng thấy ngại bước đường “mưa gió xa muôn trùng” mà ngày mai, ngày kia, và biết đâu đêm nay chàng phải xông pha. Chàng bắt gặp ánh mắt Trâm, và bỗng nhiên chàng tin Trâm cũng đang “nhìn” mưa gió như mình. Tình yêu là sự hòa hợp của hai tâm hồn và thể xác. Có đúng như định nghĩa cổ điển kia không? Lại định nghĩa! Làm sao định nghĩa được điều không thể định nghĩa! Và tại sao mình lại moi ký ức ra cái câu quái đản kia? Đã có tình yêu chưa mà xao xuyến. Anh cũng muốn hỏi Trâm đấy. Rạng không biết mình đang nhìn Trâm hơi lâu. Lần đầu tiên từ ngày quen Rạng, Trâm cúi xuống tránh cái nhìn của chàng. Rạng lên tiếng phá tan sự im lặng:
“Thế là Trực quyết định lấy vợ. Cũng đương sự đó phải không?”
Trâm chưa kịp trả lời bỗng có tiếng gỏ cửa. Rạng đến bên cửa sổ nhìn và nhận ra chiếc xe jeep nhà binh đỗ trước nhà. Bên thềm chàng nhận ra dáng thấp bé của Cảnh, viên sĩ quan phụ trách kế hoạch hành quân. Rạng mở cửa bước hẳn ra đứng dưới mái hiên bên cạnh Cảnh. Cảnh bảo nhỏ:
“Về thôi. Lệnh khẩn cấp đêm nay lên đường. Kế hoạch trực thăng vận hủy bỏ.”
Rạng thấy tim mình đập nhanh lên một tí, không hẳn một nhói buốt. Chàng chẳng còn lạ với cái màn chợt đến chợt đi của kiếp sống quân ngũ thời chiến. Chỉ vì Rạng vừa nghĩ đến Trâm. Chắc nàng sẽ nhớ mãi đêm “mưa gió xa muôn trùng” này. Nhớ hay tiếc nhớ? Thôi đừng tiếc nghe Trâm. Hãy để cho đêm nay trở thành một hoài niệm đẹp về sau. Ý nghĩ ngủ lại đêm trong căn nhà chỉ có chàng và Trâm làm chàng lo sợ vẩn vơ, sợ biên giới mờ ảo trong lòng mình rồi sẽ mất… Thôi thế càng hay. Nhưng Rạng bỗng nghe lòng mình thầm hứa sẽ quay lại.
Từ sở làm ra, Rạng lái xe đến thẳng nhà vợ chồng Tùng, người bạn mà chàng quen biết mấy năm nay, từ khi “thiên đô” về vùng New England buốt giá này. “Bọn tớ vừa nhận được một bức thư từ Việt Nam, trong đó có một câu thật bất ngờ nhắn gửi cậu. Không thể đọc qua phone, cũng không tiện mang đến nhà cho cậu xem. Cậu ghé lại tớ đi… đàn ông hay đàn bà thì cậu sẽ biết, không muốn tiết lộ sớm!”
***
Suốt buổi tối hôm qua, rồi cả ngày hôm nay ở sở làm Rạng không ngớt nghĩ đến lời của Tùng. Có thật có một thư như thế hay tên Tùng này lại lừa mình đến để uống vài chai bia với hắn, như có lần hắn đã làm hồi năm ngoái. Nhưng Rạng có linh cảm lần này Tùng nói thật. Rạng moi ký ức nhưng đành chịu, không tìm nỗi một liên tưởng hợp lý. Chàng nhớ đến nội dung thường có của những bức thư từ Việt Nam: những lời cầu cứu, những chuyện chạy gạo kiếm cơm… Trong một xứ sở với kinh tế bi đát và một nền cai trị hà khắc, độc đoán, ít ai còn lòng dạ viết thư chỉ để khơi lại kỷ niệm xưa, chuyện cũ, nếu không vì một ẩn ý đánh thức chút tình cảm ở những thân nhân, bạn bè giờ đây đang no đủ ở ngoài nước. Có thể một lời nhắn gửi như thế lắm.
Vừa trông thấy Rạng, vợ Tùng tươi cười nói:
“Anh Rạng ngồi xuống đây, bình tĩnh lại nhé!”
Tùng cầm tờ thư bằng giấy mỏng, loại giấy viết thư ở Việt Nam người ta vẫn dùng, chi chít những chữ nhỏ li ti viết tràn ra cả ngoài lề, đưa cho Rạng:
“Cái câu liên quan tới cậu tớ gạch đít bằng bút đỏ. Nhưng cậu có thể đọc hết bức thư.”
Rạng dán mắt ngay vào hàng chữ có gạch đỏ. Chỉ vỏn vẹn một câu, không dài, không ngắn, thật đầy đủ, và cũng thật… khó tả! Nó sắc như nhát dao bổ đôi ý thức Rạng. Trâm! Có thế mà Rạng đã không nghĩ ra. Vâng, chàng chỉ không nghĩ ra, chứ không thể quên nàng. Làm sao có thể nghĩ đến được, vì đời sống là một chuỗi những tình cờ. Tình cờ chàng quen biết vợ chồng Tùng. Và Trâm là “tình cờ” như thế nào với hai người này? Rạng tò mò đọc bức thư từ đầu đến cuối để cuối cùng cũng phải hỏi Mai, vợ Tùng, về liên hệ họ hàng với Trâm. Mai và Trâm là đôi chị em con dì. Rạng đọc lại những chữ gạch đỏ một lần nữa trước khi trả tờ thư lại cho vợ chồng Tùng, “cho em gởi lời thăm anh Rạng và nhắn với ảnh rằng người đi theo mưa gió xa muôn trùng bao giờ mới về thăm lại Việt Nam.”
Mai hỏi một câu thăm dò:
“Chắc hai người có nhiều kỷ niệm đặc biệt với nhau lắm thì phải?”
Rạng mỉm cười, lòng phân vân, tự hỏi có nên kể lại cái điển tích “mưa gió xa muôn trùng” của một đêm năm xưa không. Chàng chẳng thấy hứng thú khơi lại chút tro tàn dĩ vãng của mình và Trâm. Rạng nghĩ có lẽ một ai đó đã đúng khi nói rằng đàn bà thường chắt chiu kỷ niệm mà đàn ông thì không thích sống với kỷ niệm nhiều. Rạng chậm rãi nói:
“Không có kỷ niệm gì đặc biệt cả, chị ơi. Cô ấy nhắc lại câu ca trong bản “Bến Xuân” của Văn Cao để trêu tôi đấy. Số là hồi đó tôi hay đến nhà chơi với Trực, và Trâm biết tôi rất thích câu hát đó, thế thôi.”
Dù không chắt chiu cái kỷ niệm năm xưa như Trâm, dù ký ức mình chẳng mấy khi khơi lại nó gần hai mươi năm nay, dù bây giờ bên cạnh mình đã có hẳn một người đàn bà và bốn nhóc, và dù cuộc sống xứ này như bánh xe lăn quay không cho chàng ngừng nghỉ, Rạng phải nhận rằng lời thư của Trâm đã len vào tâm tư chàng qua một ngõ ngách khác. Trâm không chỉ là kỷ niệm.
Đêm giã từ Trâm, Rạng đã theo đơn vị di chuyển về hướng Cần Thơ. Cả tiểu đoàn không ai biết mục đích chuyển quân, chỉ làm theo lệnh trên. Trưa hôm sau, khi còn cách phi trường Trà Nóc ba cây số, Rạng và đồng đội sửng sốt nghe lệnh đầu hàng phát đi từ Sài Gòn! Tại sao? Miền Tây mênh mông không hề nhận một dấu hiệu nào của chiến trận khốc liệt, đơn vị chàng còn nguyên vẹn, cả một quân đoàn còn nguyên vẹn, và bao nhiêu quân đoàn khác nữa. Tại sao?
Mọi người lặng thinh, trầm ngâm. Rạng nhìn lại những năm tháng miệt mài phong sương, nghĩ đến những đồng đội đã nằm xuống. Đơn vị trưởng đi họp ở trên về cho hay mọi người có thể tự do về nhà hay theo đến điểm hẹn để được tàu đón rời Việt Nam. Rạng đã thấy những giọt nước mắt long lanh trên nhiều bộ mặt. Dĩ nhiên Rạng chấp nhận ra đi. Từng khuôn mặt của người thân hiện về trong trí chàng. Rạng sắp bỏ lại tất cả. Bỗng khuôn mặt Trâm hiện ra rõ nét nhất và bao trùm cả không gian. Nàng sẽ ở lại hay cũng ra đi? Làm sao Trâm có thể có phương tiện. Hay là mình chạy về rủ Trâm cùng đi? Không được, trễ rồi! Bây giờ Rạng còn nhớ rõ lúc đứng trên tàu trực chỉ hướng Phi Luật Tân, nhìn trời nước mênh mông, chàng đã nghĩ đến Trâm nhiều hơn nghĩ về người thân của mình. Chàng không nhớ mình đang xa Việt Nam, mà chỉ thấy mình thực sự xa Trâm. Hình ảnh Trâm bị bỏ lại, xa dần, nhòa dần sau muôn trùng sóng. Và bây giờ Rạng còn nhớ rõ trên con tàu vượt trùng dương buồn bã năm ấy mình đã quay nhìn Việt Nam thầm nói, “Trâm ơi, giờ đây xa bến bờ anh mới thật sự đi theo mưa gió xa muôn trùng.”
Hà Kỳ Lam

XÃ HỘI SAU 1975: LƯƠNG THIỆN LÀ XA XỈ

XÃ HỘI SAU 1975: LƯƠNG THIỆN LÀ XA XỈ

Nguyễn Duy Chính

Khi tôi về, số người được ra trại còn hiếm lắm. Những năm làm quen với cuộc sống mới khiến cho nhiều người miền Nam có cái nhìn khác hẳn về chế độ cộng sản, nói theo sách vở thì là có dịp đối chiếu thực tế và lý thuyết. Phải nói rằng phần lớn chúng ta khá ngây thơ vì được đào tạo trong một nền giáo dục trắng đen rõ rệt, xấu tốt rạch ròi trong khi kẻ địch lại nói và làm khác nhau, suy nghĩ một đằng, hành động một nẻo.

Gần nhà tôi có ‘’bác Tư cơm tấm’’, một người mà tôi rất mến. Bác mở tiệm bán cà phê và các món điểm tâm ở khu vực này từ khi tôi còn học trung học. Khi còn bé bác gọi tôi bằng cậu, bằng em, xưng qua, đến khi ra trường đi làm bác gọi bằng thầy, thầy hai.

Tôi không tiếp xúc với bác nhiều nhưng biết bác nghiêng về phía bên kia như một số người có học, luôn luôn cho rằng mình xấu, địch tốt, cũng như con bò nào chẳng nghĩ rằng cái đồng cỏ ở phía bên kia đồi ắt mơn mởn xanh tươi hơn cái phía mình đang gặm. Cũng nên nói thêm bác Tư có trình độ, hồi trước theo học Chasseloup Laubat chứ không phải tầm thường, tiếng Pháp bác nói như gió, quần áo luôn luôn mặc đồ bộ màu mỡ gà theo kiểu một trưởng giả miền Nam. Chữ trưởng giả tôi dùng đây là một người đáng kính chứ không phải nghĩa một trọc phú mà người ta thường hiểu lầm. Dường như gia đình bác ở dưới tỉnh cũng khá, vì loạn lạc mà chạy lên Sài Gòn.

Tâm lý của bác tôi cũng thấy ở không ít số viên chức hành chánh khá cao cấp của miền Nam tôi gặp trong trại cải tạo và phải mất một thời gian sau mới nhận thức được rằng kẻ đối đầu với chúng ta quỷ quyệt, dưới nụ cười luôn luôn có dấu một lưỡi dao sắc.

Những ngày đầu tiên, tôi thấy bác vai đeo sắc cốt, khuôn mặt nghiêm trang của một người dấn thân khi bác tình nguyện lên phường làm việc. Tôi chào bác, bác đứng lại hỏi thăm, khuyến khích an ủi tôi và xác quyết về một nước Việt Nam mới mà hoà giải giữa hai miền là xương sống của chính sách, cùng nắm tay nhau tiến lên, đưa đất nước đến phú cường thịnh vượng.

Khi tôi trở về thì chính quyền ‘’cách mạng’’ không còn cần những người như bác nữa, bác đã trở lại nghề bán quán, có điều bây giờ khách không còn tấp nập như xưa, chỉ lèo tèo dăm người thợ lấm láp, uống vội một ly ‘’xây chừng’’, khuôn mặt đăm chiêu như lo âu về một tương lai u ám. Gặp lại tôi bác mừng lắm, có lẽ đã lâu không có ai để tâm sự. Bác nói nhỏ lại, những đoạn cần che giấu bác nói tiếng Pháp cho kín đáo, phần lớn là những tin đồn mà tôi sau này biết chỉ là tin vịt.

Khi nhà nước đánh tư sản và thi hành chính sách cải tạo công thương nghiệp, không biết bác bị đuổi đi đâu, về vùng kinh tế mới hay quê cũ tôi không rõ. Tội nghiệp bác Tư hiền lành, thật thà của tôi.

Tôi cũng gặp anh Lộc, nguyên Phó Tỉnh Quảng Trị hồi ở Ðà Nẵng. Chính quyền mới dùng anh trong ủy ban đánh tư sản mại bản như anh tiết lộ vì trước đây anh có hoạt động cho phía bên kia. Nghe đâu khi anh làm Phó Quận ở Chương Thiện bị địch bắt trong một lần tấn công rồi không biết cải tạo, móc nối hay cưỡng bách anh làm việc cho họ. Ðời sống anh cơ cực, bà vợ đi buôn chui từ dưới tỉnh lên bị bắt luôn, mấy cha con nheo nhóc, tình cảnh thật đáng thương. Ðến thăm anh, nhà trống lốc, đúng là ‘’nhà sạch nhà, phố sạch phố’’, mấy đứa trẻ còm cõi mắt thao láo như nhà mẹ Lê của Nhất Linh. Nhìn anh cởi trần, ngực hóp lại nhô những rẻ xương sườn như một người nghiện thiếu thuốc, không còn đâu cái phong thái cửa quyền như trong những buổi nhậu hồi mồ ma phe quốc gia.

Tôi còn gặp một vài người khác trong nhóm sinh viên tranh đấu cũ mà trước đây vẫn thường tranh luận với tôi về chính nghĩa của hai bên. Những anh em đó ai ai cũng não nề, cái não nề của người bị hụt hẫng, không biết mình thuộc về phe nào, người thắng hay kẻ bại. Có người sau này vượt thoát lại trở thành những nhân sĩ đấu tranh ở bên ngoài, lập trường rất cực đoan, không biết vì phản tỉnh hay vì muốn che dấu một quá khứ bất minh.

Trần Chánh Nghĩa được về sau tôi một thời gian ngắn, hai đứa tôi trở thành cặp bài trùng vì cùng…thất nghiệp, tuy ai cũng kiếm một cái giấy công nhân vớ vẩn để hộ thân. Chúng tôi trở thành những bình luận gia thời cuộc kiêm phát ngôn viên tin thất thiệt. Trong thế giới bưng bít, tin tức truyền tai rồi bị bóp méo đi lúc nào không biết khiến cả một xã hội biến thành những con ếch nằm trong giỏ, tự mình nhảy lanh quanh cho đến khi đuối sức. Rất có thể những tin tức đó do chính nhà cầm quyền tung ra để dò xét phản ứng đồng thời tạo ảo tưởng cho con người bám vào mà đừng vọng động. Không hiếm những tổ chức phục quốc giả mạo được họ lập ra để vét nốt những người còn lọt lưới.

Năm đầu tiên tôi bị gọi đi ‘’nghĩa vụ lao động’’ hai lần. Lần đầu 15 ngày đào thủy lợi Lê minh Xuân, lần sau hơn một tháng làm nhà cho đồng bào kinh tế mới ở Kà Tum, biên giới Việt Miên, phía Tây Bắc Tỉnh lỵ Tây Ninh. Trong thân phận kẻ thua, chúng tôi đành cam chịu nhưng những người chỉ huy trong tập thể là cán bộ miền Bắc bị điều vào Nam lại to mồm chửi rủa cái chế độ người bóc lột người.

Nhìn một rừng người đông nghẹt giữa những lá cờ đỏ luân lưu tôi nhớ lại các chính sách của Mao Trạch Ðông trong các kế hoạch Bước Tiến Nhảy Vọt và Cách Mạng Văn Hóa, lấy sức người để chiến thắng khoa học kỹ thuật Tây phương mà hậu quả ê chề khiến hàng triệu người chết đói. Những chương trình sặc mùi Mao-ít ấy được lập lại ở miền Nam, chẳng hiểu do cái ngu dốt thiếu nhận thức của người cầm quyền hay một tâm lý căm tức, ghen tị ngấm ngầm khi họ nhìn thấy sự thịnh vượng của đối phương. Có thể cả hai.

Tôi đoán là thế vì một lần chở mẹ tôi lên thăm một bà bác – chị họ của mẹ tôi từ ngoài Bắc vào đang ở trong một dinh thự đẹp đẽ tịch thu của tư sản. Bác tôi xinh đẹp và quí phái, vợ của một viên chức cao cấp, giọng Hà Nội rất dễ nghe và cũng có vẻ có trình độ. Thế nhưng trong câu chuyện, tôi vẫn ‘’đánh hơi’’ thấy sặc mùi căm thù và mặc cảm của chính quyền mới. Những người như thế khi chỉ huy các chiến dịch ‘’đánh’’ vào thành trì kinh tế và văn hóa của miền Nam ắt hẳn không nương tay. Họ được đào tạo trong cái môi trường gọi là chuyên chính và nhân danh dân tộc, tổ quốc để làm công tác phá hoại.

Trong khi chờ đợi, tôi ngồi nói chuyện với những người cận vệ đang hút thuốc lào, uống trà bằng những cái chén lật đáy lên có in hai chữ nho ‘’nội phủ’’, là đồ của cung vua, có lẽ lấy ra từ bộ sưu tầm cổ ngoạn của chủ nhân để lại. Lòng tôi quặn thắt, hiện ra một kỷ niệm mấy năm trước.

Ðối diện với Nha Hàng Không Dân Sự Ðà Nẵng, bên kia đường Ðộc Lập có một cái quán cà phê. Hồi làm ở Quảng Tín, mỗi lần ra tôi hay ghé lại đây ngồi trầm ngâm ngó bồn cá tai tượng, hút thuốc suy tư. Miền Trung thời nào cũng có những hàng quán rất nghệ thuật, lắm khi đi trước cả miền Nam, ảnh hưởng của đế kinh một thuở. Thế nhưng đây lại là một cái vườn không mấy màu mè, có vẻ như là một kinh doanh phụ cho vui hơn là để sinh nhai, kiếm sống. Cũng nơi đây, tôi tìm thấy một cây đào, loại cây rất hiếm ở nơi khác ngoài Ðà Lạt, mặc dù chỉ sản sinh ra những bông hoa nhỏ xíu và cằn cỗi nhưng cũng đủ để cho tôi tưởng tượng thành một cội mai già trong những bài thơ Ðường cho thêm thi vị.

Chủ quán là một thiếu phụ trung niên trông đáng kính. Một hôm không hiểu vì cớ gì bà hỏi tôi có thích chơi đồ cổ hay không ? Tôi mỉm cười thú thật là mình quá nghèo, không dám nghĩ tới thú vui cao quí đó. Bà đưa tôi sang gian hàng ở bên cạnh, một gian hàng đồ cổ nhưng dưới mắt tôi thì trông như một tiệm lạc xon với đủ mọi thứ đồ cũ. Cái kiến thức của tôi chỉ là vụn vặt học lóm trong vài cuốn sách của Cụ Vương Hồng Sển, thật không đủ sức đánh giá bất cứ món hàng nào, ngoài vài chữ nho đọc lõm bõm. Vậy mà không hiểu sao bà chủ đó lại có vẻ coi trọng, không biết đối đáp ‘’chó ngáp phải ruồi’’ thế nào mà bà mời về nhà cho tôi coi một bộ sưu tập rất quí giá. Dường như người nào đam mê thưởng ngoạn cũng giấu kín một nỗi cô đơn cần người để chia xẻ và tán thưởng công trình của mình. Nhìn những chiếc chén cổ được dùng để uống nước trà, để gạt tàn thuốc tôi chạnh nghĩ đến bà chủ quán năm xưa, không biết bây giờ ra sao, vượt thoát được ra nước ngoài hay đang tần tảo kiếm ăn nơi vỉa hè, góc phố ? Cũng như những món đồ vô giá kia, biết bao người chứa đựng cả một kho tàng văn hoá, nay bơ vơ sống lây lất giữa chợ đời.

Người đọc sách như tôi lại có nỗi xót xa riêng. Nhìn những xe ba gác chất đầy sách vở trong những lần đánh văn hóa ‘’đồi truỵ’’, những ‘’núi’’ sách ‘’phản động’’ chất trong sân Thư Viện Quốc Gia chờ chở đi tái chế để thành những tờ giấy đen sì và những lần chính tay mình phải đốt bỏ những công trình thu góp hay trước tác, thật không khác gì một mũi dao tự đâm vào tim. Qua đến Mỹ rồi, nhiều năm trời tôi không dám tái lập một tủ sách cũng chỉ vì nỗi day dứt khi nghĩ đến những gì đã mất không bao giờ kiếm lại được. Trong những tội lỗi mà bọn người thắng trận kia đã phạm, phá huỷ văn hoá phải kể là đứng đầu.

Ðiều duy nhất tôi học hỏi được trong kỳ đào thủy lợi là một chứng nghiệm bản thân. Một trong những công việc nặng nhọc nhất đối với dân thành thị là làm sao đem được đống đất đào dưới lòng rạch lên trên bờ. Tôi chỉ tìm ra khi chứng kiến một nông dân leng đất. Cái leng giống như một lưỡi mai nhưng hẹp và dài hơn dùng để xắn đất thành từng cục, mỗi bề chừng một gang, nặng chừng 2 ký.

Người thanh niên đó làm việc đẹp như một nghệ sĩ. Anh đạp chân, xoay người thành một hình bán nguyệt, ném cục đất lên bờ, những tảng đều và chắc, khác hẳn cái lối đào lam nham của chúng tôi. Xem anh ta làm một hồi, tôi chợt tìm ra lối xoay người của anh giống như một thế roi trong võ Bình Ðịnh và chủ yếu của sức ném là lối xoay hông chứ không dùng lực cánh tay. Tôi cũng thấy lối làm việc phù hợp với bí quyết mà Nguyễn Hữu Thọ chỉ cho tôi về cách làm vườn, đều đặn nhưng không bao giờ dùng quá sức, nghỉ và làm xen kẽ như trời sinh trái tim điều hòa giữa hai nhịp đập. Thọ đã sống cả tuổi thơ trên Ðà Lạt nên hiểu được cái phương pháp canh tác ở ruộng đồng.

Quả nhiên khi tôi bắt chước anh chàng kia, tôi cũng đạt được hiệu năng tương tự. Có điều khi đào luyện lại cho người khác thì hơi khó vì hầu như chỉ những ai đã từng tập côn, roi mới hiểu được cách xoay hông và cách nhả sức, nếu không đúng cách cục đất sẽ không lên bờ mà lại rơi trúng đầu người khác, hoặc hất ra không đủ xa. Thật khó mà mường tượng được rằng một động tác trông đơn giản nhưng lại không dễ chút nào.

Lần thứ hai tôi bị bắt phải tham gia trong một đoàn dân công, ‘’tình nguyện’’ đi làm nhà cho đồng bào kinh tế mới. Ðoàn chúng tôi khoảng mươi người, phần lớn là lính cũ cấp bậc thấp nên không bị đi cải tạo. Chỉ tiêu của chúng tôi là làm mỗi người một cái nhà cho đồng bào bao gồm phát quang, đắp nền, dựng khung rồi lợp tranh. Bấy nhiêu công việc làm hoàn toàn sức người với vài món dụng cụ đơn giản quả là vất vả. Nhiều hôm chúng tôi phải vào rất xa mới kiếm được vật liệu.

Hơn một tháng ở một nơi xa xăm, làm quen với sinh hoạt của rừng xanh cũng cho tôi một số kiến thức cơ bản, không còn là một cậu bé mơ tưởng đến đời sống của Tarzan hay chuyện tình liêu trai với một nàng sơn nữ. Núi rừng tàn nhẫn hơn nhiều, muỗi mòng, rắn rết, thú dữ…và nhất là nước độc. Muốn tồn tại ở những vùng hoang vu như thế chúng ta phải là dân bản xứ, sinh ra và lớn lên tại đây. Có lẽ kinh nghiệm của 40 ngày tự mưu sinh ở Kà Tum, khiến khi qua đây tôi đâm nghi ngờ những lời tường thuật hoang tưởng của một vài đoàn thể miêu tả sinh hoạt chiến khu như phó bản của một buổi camping hay picnic.

Tôi cũng có dịp tìm hiểu về đặc tính, tập quán của những loài thú hoang, dược tính của một số cây cỏ qua kinh nghiệm của người địa phương. Không gì thú vị hơn ngồi nghe một người thợ săn kể chuyện đường rừng một cách từng trải, những chi tiết anh kể tôi có ghi lại nhưng tiếc thay không còn giữ được. Xa xa ở bên kia cánh rừng là đất Cam Bốt, một quốc gia mà chế độ còn khắc nghiệt gấp bội chế độ cộng sản Việt Nam nên chúng tôi có muốn trốn đi cũng không xong.

Ở Kà Tum hơn một tháng, ăn hết số gạo dự trữ mà không thấy ai lên thay, chúng tôi đành bỏ về, phải lếch thếch cuốc bộ từ biên giới xuống tỉnh lỵ dễ chừng đến vài chục cây số. Gom nốt chỗ gạo còn lại, chúng tôi nấu cơm ăn một bữa cho no rồi tấp tểnh ra khỏi rừng khi trời còn tối. Cũng có lúc đi nhờ được một quãng bằng xe trâu, nghe người đánh xe than thở mà không dám bắt chuyện. Ðến trưa chúng tôi đã nhìn thấy núi Bà Ðen và nhiều dân địa phương lại tưởng chúng tôi là dân học tập trốn trại, thành thử cũng không dám vào quán để ăn uống, mặc dầu có giấy tờ đầy đủ. May sao có một chiếc xe lam chạy về tỉnh nên chúng tôi đỡ được một quãng, đến bến xe thì vừa kịp chuyến sau cùng về Sài Gòn. Kể cũng còn may.

Sau mấy năm sống bằng hy vọng, tình thế mỗi lúc một thêm bi đát. Ðến khoảng 1978 thì chính trị cũng như quân sự đều sôi động. Những tin đồn về những vụ tấn công tràn qua biên giới của chính quyền Khmer Ðỏ, và ngay chính vùng chúng tôi đi dân công ở Kà Tum một số đông đồng bào Việt cũng bị tàn sát, người còn lại phải trốn về thành phố. Chiến thắng của quân đội Việt Nam tại Campuchia và trận đánh Lạng Sơn mà Trung Quốc gọi là ‘’dạy cho Việt Nam một bài học’’ cho thấy tình hình không hoàn toàn như người ta nghĩ.

Cũng thời gian đó, phong trào vượt biên ‘’bán chính thức’’ nở rộ. Phong trào vượt biên trở thành câu chuyện đầu môi chót lưỡi và dường như ai ai ở Saigon cũng mơ đến một ngày xuất ngoại, dù biết rằng vượt biển bằng những chiếc thuyền mong manh ọp ẹp là đánh bạc với tử thần, chết nhiều hơn sống.

Những người có tiền thì việc tìm đường không mấy khó, nhiều gia đình đi cả chục lần mà vẫn phây phây trong khi những người như tôi đến một chỉ vàng cũng không có thì thật không thể nào tính toán gì được. Tuy vậy tôi cũng có nhiều cơ hội, mặc dù toàn những chuyến đi không thành công, thật cũng có mà ấm ớ hội tề cũng có. Tôi không nói là giả bởi vì tôi không mất tiền thì việc đánh lừa hoàn toàn không đặt ra, có điều những chuyến đi đó tổ chức không chu đáo, hay chính người bạn giúp tôi cũng không phải là chủ chốt.

Một lần tôi được rủ đi theo đường Phan Rang là quê của người bạn tôi. Tôi chỉ có nhiệm vụ đưa hai cô gái từ Sài Gòn ra. Công tác đó quả thật dễ. Hai thiếu nữ dù mặc áo bà ba nhưng vẫn không dấu được vẻ tỉnh thành. Chúng tôi đi xe đò lên Long Khánh rồi chờ một chiếc xe chở hàng đưa ra Phan Rang. Phải nói là thật sốt ruột khi ngồi bên vệ đường mà trời đã nhá nhem tối, kẻ qua lại nhìn ba người chúng tôi bằng cặp mắt dò hỏi, không biết họ có nghi ngờ gì không ?

Ðến khoảng 9 giờ đêm thì xe đón chúng tôi đi. Ðó là xe chở chuối từ Long Khánh ra ngoài Trung, chúng tôi ba người nằm giữa những buồng chuối xanh, lắc lư như đưa võng. Ra đến nơi, tôi được đưa về một gia đình nhà nông ở khá xa trong rẫy, mấy cô gái kia đi đâu tôi không biết. Vùng này có nhiều người Chàm, mặc đồ trắng như có tang, nước da đen đủi, không như những người Chàm ở vùng Tây Ninh.

Chủ nhà là một quân nhân của Việt Nam Cộng Hòa cũ, cũng khoảng tuổi tôi, sống với mẹ già. Tuy ít học nhưng anh ta khá hiểu biết và có biệt tài kể chuyện, tường thuật lại những phim đã xem. Những người như tôi xem ciné xong chỉ nhớ mang máng, trái lại anh bạn này kể lại với đầy đủ chi tiết như đọc một cuốn sách, lắm lúc thêm thắt rất ý nhị khiến người nghe có cảm tưởng như đang chứng kiến hoạt cảnh trong phim. Những đêm ngồi bên bếp lửa, nghe kể chuyện và kinh nghiệm của đời sống vùng biển khiến tôi không còn nghĩ rằng mình đang tạm trú chờ ngày vượt thoát. Mẹ anh ta đối với tôi cũng tử tế.

Mấy hôm sau, tôi được lệnh ra ngoài tỉnh lỵ để xuống bãi. Chúng tôi đi lang thang trong thị xã chờ bắt liên lạc. Tôi gặp được đứa em người bạn cùng đi trong chuyến đó, hai anh em nên cũng đỡ cô đơn. Thằng nhỏ kia đã ra ngoài này nhiều lần nên rành rẽ, có nó tôi chẳng phải lo gì cả. Chuyến đi đó không thành công, có lẽ tại tổ chức không chu đáo và đến chiều hôm đó chúng tôi được thông báo gấp là động ổ, mạnh ai người ấy tìm đường về Sài Gòn.

Ðêm hôm đó, tôi nằm ở nhà ga, một đêm thức cho muỗi cắn. Hai cô gái tôi ‘’hộ tống’’ cũng trong đám hành khách nhưng không dám nhận nhau. Sáng hôm sau, chúng tôi lên tàu. Ngồi dưới toa tàu một lát, chịu không nổi mùi hôi của đủ loại hầm bà lằng trong xe hỏa, tôi cũng theo thằng em trèo lên ngồi trên nóc cho thoải mái.

Ở trên cao nhìn ra chung quanh, khung cảnh khoảng khoát khiến mọi người lại rôm rả cười đùa như đi du ngoạn về. Mỗi khi đi qua một cái cầu, chúng tôi phải nằm mọp dưới sàn nếu không muốn bị thành cầu đánh văng xuống. Nằm ngửa nhìn những thanh sắt chạy vùn vụt trước mắt, chỉ cách mặt độ một gang, tôi tưởng như mình là một chiến sĩ lên đoạn đầu đài, nhìn máy chém từ trên cao rơi xuống.

Từ Phan Rang về Sài Gòn có đến mấy chục trạm kiểm soát. Những người bộ đội ngồi trên cao lớn tiếng chửi rủa cánh công an nhưng có lẽ họ cũng quá quen thuộc nên không ai đáp lại lời thách thức của những ông ‘’Bắc Kỳ Hà…Lội’’ này. Ðược thể, như muốn chứng tỏ cho dân trong Nam biết là mình ngon lành, mấy ông đó càng làm già. Chúng tôi tìm cách ‘’can khéo’’ cho họ thêm hứng khởi.

Ðến Long Khánh thì trời đã tối. Vào giữa rừng, một số dân buôn lậu tháo những ống hơi khiến cho tàu đang đi phải ngừng lại. Rồi có tiếng rầm rập chuyển hàng lên xuống và khi tàu đã sửa xong tiếp tục đi thì mọi việc lại êm xuôi. Ðây là lần đầu tiên tôi chứng kiến sinh hoạt chìm của xã hội, một xã hội nhiều giai tầng, mỗi thành phần một kiểu riêng rẽ. Chính trị không còn quan trọng, chỉ còn lại những người tranh sống, cố gắng qua mặt lẫn nhau. Chính tôi cũng là một trong số đó và sau một thời gian dài, sự lừa dối trở thành thói quen khiến người ta không còn biết là mình đang sống giả tạo. Từ dân chí quan, người ta thay đổi như một con tắc kè theo từng trường hợp, khi thiện, khi ác. Thói quen đó vốn thịnh hành ở miền Bắc, nay lan vào trong Nam một cách tự nhiên để trở thành một tập quán bẩm sinh, cũng như đói ăn, khát uống. Người ta không ai có nhu cầu phải lương thiện vì lương thiện là một nghịch lý, nếu không nói là xa xỉ.

Tôi về nhà vào giữa khuya, trèo lên lầu nằm ngủ. Sáng hôm sau, mẹ tôi ngạc nhiên khi thấy thằng con cả từ trong mùng chui ra sau mấy ngày đi mất biệt.

 nguồn:diendantheky.net

Nhớ lại và Suy ngẫm từ mấy câu chuyện sau 30-4-1975

Nhớ lại và Suy ngẫm từ mấy câu chuyện sau 30-4-1975

Đào Công Tiến

Ngày 30-4-2017 đang đến gần, tiếp tục gợi nhớ và thôi thúc suy ngẫm về những sự kiện lớn – kết thúc chiến tranh Việt Nam kéo dài 30 năm (1945-1975) và bắt đầu một “giai đoạn mới” cho thời hậu chiến của miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung.

Mừng hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, chia sẻ khát vọng “xua kẻ thù đi mau”, “dập tắt chiến tranh đẫm máu”, “đập tan bao đau khổ và chia ly” của cố nhạc sĩ Hoàng Việt đã thành hiện thực[1].Tuy nhiên, còn nhiều khát vọng vẫn chưa thành.

“Giai đoạn mới” lẽ ra phải dành cho việc khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội trên tinh thần “khoan sức dân”, vì dân sinh dân chủ, nhưng điều đó không diễn ra được vì những sai lầm của việc áp đắt một mô hình được gọi là “XHCN Xô Viết” và cả “XHCN đặc sắc Trung Quốc” cùng tự nhận là của Chủ thuyết Mác-Lenin, đã từng bị phá sản và thậm chí đã sụp đổ sau đó ở Liên Xô và Đông Âu cùng hệ thống XHCN của nó.

Mô hình sai lầm đó đã kìm hãm đất nước trong suốt hơn 40 năm qua kể từ 30.4.1975, từ đỉnh cao kết thúc chiến tranh thắng lợi rơi xuống vũng bùn của sự trì trệ và lạc hậu so với những nước trong khu vực từng có cùng một xuất phát điểm về trình độ kinh tế và năng suất lao động như Việt Nam, nay muốn đuổi kịp họ phải mất từ 30 đến 50 năm [với một giả thiết ngớ ngẩn là họ dừng lại để đợi ta!]

Khát vọng từ dân – Khơi nguồn cho suy ngẫm

Môi trường hòa bình độc lập thống nhấ đất nước sau 30.4.1975 khơi dậy nhiều khát vọng trong cộng đồng các dân tộc Việt với niềm hy vọng thiết tha là có được cơ hội để mọi gia đình được đoàn tụ, láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau, cùng cắm nén tâm hương, tưởng niệm dành cho nạn nhân chiến tranh với cả nhiều triệu người thân yêu của hàng triệu gia đình, đã đi với chiến tranh mãi không về. Ưu tiên hàng đầu vì thế mà cũng rất hiển nhiên là cùng chung sức chung lòng lo chữa lành các vết thương chiến tranh và giữ cho chúng không rỉ máu trở lại, lo xóa đói giảm nghèo, lo cho con trẻ được đến trường, người bệnh được chữa trị, người già cả, neo đơn được chăm sóc. Và, để xây dựng lại non sông, đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, rút ngắn khoảng cách tụt hậu để “cùng sánh vai với các nước trên thế giới”.

 “Giai đoạn mới” và những lựa chọn phải trả giá đắt

Đại hội Đảng IV (1976) và Đại hội Đảng V (1982) đều có nói đến “giai đoạn mới”, “khôi phục cải tạo và phát triển kinh tế, cải tạo và phát triển văn hóa”, được coi là nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách, vừa cơ bản của “giai đoạn mới” – giai đoạn bắt đầu của Cách mạng Việt Nam thời hậu chiến[2].

Tuy nhiên, với tâm lý chủ quan duy ý chí, thậm chí cả bệnh kiêu ngạo thường có ở “người thắng cuộc” cùng với bệnh giáo điều tiếp tục “trung thành vô hạn” – với CNXH theo chủ thuyết Mác – Lênin[3] vốn rất mù mờ về lý thuyết và trên thực tế đã và đang lún sâu vào khủng hoảng rồi phá sản và sụp đổ. Với nhận thức lệch lạc đó đã đưa đến những quyết sách sai lầm khiến cho dân tộc phải trả cái giá quá sức nghiệt ngã.

  1. Hệ thống phát ngôn của Đảng, bằng bộ máy thông tin tuyên truyền từ trung ương đến địa phương, đến cả loại hình “văn hóa loa phường”, vẫn tiếp tục một chiều, nặng về “thắng và thua”, “công lao, thành tích và tội lỗi”, “ta, bạn, thù và kích động hận thù”, và gần đây còn là “suy thoái tư tưởng chính trị, tự diễn biến, tự chuyển hóa” . . . Cứ thế mà duy trì sự khác biệt và phân biệt đối xử trong cộng đồng các dân tộc Việt và ngay cả trong nội bộ Đảng Cộng sản.

Chiến tranh đã dần lùi xa mà mức độ nặng nề của sự khác biệt và phân biệt đối xử từ lúc chiến tranh vẫn còn cứ đeo bám trong tâm lý đời thường. Duy trì sự khác biệt và phân biệt đối xử, còn tạo ra sự thiếu công bằng trong giáo dục, y tế… thậm chí còn gây thảm họa cả trong tình yêu đôi lứa – yêu nhau mà không lấy được nhau vì khác biệt và phân biệt đối xử.

Vẫn cứ một cách tuyên truyền sáo mòn cũ rích, nhai đi nhai lại những luận điệu mà không hiểu được rằng “một sự kiện chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” như nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc sinh thời đã nhắc nhở điều đó và ông từng đòi hỏi “đó là vết thương chung của dân tộc cần được chữa lành, thay vì tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”.

  1. Trong cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm (1945 – 1975) máu người Việt đã thấm đẫm trên mảnh đất quê hương. Có lẽ cũng khỏi phải nhắc lại những con số thống kê về bom đạn rải xuống ruộng đồng, sông suối, núi rừng trên đất nước này bằng bao nhiêu phần bom đạn trong chiến tranh thế giới lần thứ hai! Cũng chẳng cần phải nhắc lại những di hại của chất độc dioxin sẽ còn để lại những di chứng trong bao nhiêu lâu nữa trên da thịt của bao thế hệ Việt, cho nòi giống Việt! Những tranh cãi dai dẳng về “ý thức hệ” rồi sẽ theo thời gian mà trôi vào dĩ vãng, song truyền thống Việt Nam mà ông cha bao đời gây dựng và truyền lại thì vẫn mãi mãi lưu chảy trong huyến quản người Việt vốn là một dân tộc chưa bao giờ chịu khuất phục. Đó là một chân lý không bao giờ thay đổi, như mặt trời mọc từ hướng Đông và lặn về hướng Tây.

“Chiến tranh Việt Nam” mà người Việt và bè bạn trên thế giới thường nhắc đến là như vậy đấy – là một cuộc chiến mang đậm bản chất truyền thống yêu nước của người Việt. Song, chiến tranh Việt Nam đó cũng là cuộc chiến bị can thiệp, bị lợi dụng và phụ thuộc bởi tham vọng bá quyền của các nước lớn “theo cộng sản” và “chống cộng sản” trong “cục diện chiến tranh lạnh” trên thế giới sau Đại thế chiến thứ II.

Có những nghiên cứu về Trung Quốc, không xếp Trung Quốc vào phe “theo cộng sản” trong “cục diện chiến tranh lạnh” bởi, thực chất mà nói thì Trung Quốc đã và đang theo “chủ nghĩa Đại Hán” chứ không theo CNXH – CNCS và quốc tế vô sản của chủ thuyết Mác – Lênin, mà mộng bành trướng bá quyền của “chủ nghĩa Đại Hán” không “cho phép” Trung Quốc lép vế với các nước lớn khác trong “cục diện chiến tranh lạnh”. Từ khi kết thúc nội chiến, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, trên danh nghĩa đứng trong phe XHCN nhưng Trung Quốc không bao giờ phục tùng Liên Xô mà còn tranh chấp với Liên Xô, thậm chí còn đi với Mỹ chống Liên Xô. Với Việt Nam, Trung Quốc nhúng tay “lèo lái” việc chọn giải pháp “chia đôi đất nước” thành hai miền Nam, Bắc tại vĩ tuyến 17 ngay sau cuộc kháng chiến chống Pháp với Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi – sự kiện bị coi là “ươm mầm chia rẽ dân tộc” và dẫn đến cuộc chiến tranh  phải trả giá đắt. Trung Quốc “ủng hộ” Việt Nam chống Mỹ còn nhằm mục tiêu đẩy vòng vây chống cộng sản của Mỹ ra xa biên giới Trung Quốc và cũng sẵn sàng quay lưng lại với Việt Nam, chống Việt Nam khi chuyển sang đi với Mỹ, nhất là vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh 30 năm[4]

Sự can thiệp, lợi dụng của các nước lớn như đã nêu ở trên đã biến cuộc “chiến tranh Việt Nam”  thành cuộc chiến tranh nóng (trong cục diện chiến tranh lạnh) lớn nhất, kéo dài nhất, đẫm máu nhất và là cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam và thế giới sau Đại thế chiến thứ II. Và cái giá mà đất nước và con người Việt Nam phải gánh chịu, là quá lớn, quá đắt. Trong chiến tranh, có nhiều triệu người ngã xuống, nhiều triệu gia đình mất người thân yêu và sống trong đau khổ và chia ly . . . Trong hậu chiến, với trên 40 năm đã qua mà còn cả triệu người mang thương tích chiến tranh trên mình chưa chữa lành, môi trường sống bị chiến tranh tàn phá còn chưa khôi phục được, chất độc dioxin, bom mìn sót lại vẫn còn gây đau thương cho người dân vô tội … Và, cuộc chiến tranh đó đã và đang còn để lại trong cộng đồng các dân tộc Việt những vết thương của sự chia rẽ và lòng người ly tán do bất đồng ý thức hệ và thù hằn bởi “chiến tranh đẫm máu”, “đau khổ và chia ly” còn hằn sâu chưa tháo gỡ được. Vì thế đạo lý cần có sau khi chiến tranh kết thúc không phải là chia rẽ người Việt với nhau bởi vẫn tiếp tục duy trì sự khác biệt và phân biệt đối xử, càng không thể là kích động hận thù và trả thù của bên này đối với bên kia, mà phải là hòa giải hòa hợp dân tộc trên nền tảng của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, với lòng nhân ái, sự chân thành và khoan dung của con người Việt Nam. Những hành xử không trên tinh thần đó, chẳng hạn như tập trung cải tạo, phạt vạ, tù đày . . . của “bên thắng cuộc” đối với “bên thua cuộc” đã đến lúc phải có lời thành tâm sám hối và xin lỗi.

  1. Cuộc chiến hết sức khốc liệt kéo dài 30 năm đã vắt kiệt sức dân ta, sau 30.4.1975 nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá đó lẽ ra phải được khôi phục và phát triển trên tinh thần “khoan sức dân”. Nhưng điều đó không diễn ra được vì đường lối cải tạo XHCN đã giành hết chỗ cho nó, còn đâu cho khôi phục và phát triển vì dân sinh, dân chủ. Một bộ phận không nhỏ dân nghèo đô thị bị đưa đi kinh tế mới lâm vào cảnh sống “khốn cùng” – “không còn gì để ăn, còn đất (ở vùng kinh tế mới) đâu dễ cạp”. Câu nói này xác thực cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của sự “khốn cùng” đó. Trên những cánh đồng trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải miền Trung, các hộ gia đình nông dân phải gác lại những công việc đồng áng vốn quen thuộc để đi vào con đường “làm ăn tập thể” theo mô hình hợp tác xã của miền Bắc được tạo dựng một cách trầy trật suốt 16 năm vẫn không gượng đứng dậy được, bị lún sâu vào khủng hoảng và đứng trên bờ vực của sự phá sản, để rồi người trồng lúa thiếu gạo ăn, cả nước phải gặm bột mì và ăn bo bo.

Trong công nghiệp, thương nghiệp, Đảng chủ trương “đánh” kinh tế tư hữu, cấm đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân, “xây” kinh tế công hữu bằng những cách làm từ mô hình kinh tế XHCN vốn không thành công ở miền Bắc, đã làm cho kinh tế miền Nam mới ra khỏi chiến tranh vốn đã khó khăn, khó khăn hơn, đời sống của dân vốn đã cơ cực, cơ cực hơn.

Thời hậu chiến đã qua trên 40 năm sau 30-4-1975 mà tinh thần “khoan sức dân” vẫn chưa thấm được vào nhiều chính sách kinh tế. Chính sách giá, lương, thuế, phí vẫn tiếp tục vắt kiệt sức dân. Trong khi mức thu nhập GDP bình quân đầu người ở Việt Nam còn quá thấp và đang đội sổ thế giới (chỉ bằng 0.262 lần Trung Quốc, 0.257 lần Thái Lan, 0.158 lần Malaysia, 0.392 lần Indonesia và 0.604 lần Philippin) mà phải chịu những khoản thuế, phí quá cao, kéo dài nhiều năm, kể cả khi kinh tế khó khăn. Tiền lương tuy có điều chỉnh, nhưng chính sách tiền lương cơ bản không đổi vẫn trên nền lương tối thiểu không đáp ứng đủ nhu cầu tối thiểu của cuộc sống. Với thu nhập có được từ tiền lương không đủ sống như vậy, người dân lại phải chịu nhiều khoản thuế, phí quá cao, bởi phân phối trong nền kinh tế nghiêng quá nhiều về thu ngân sách cho đầu tư, chi phí và trả nợ công, cho cả thất thoát vì lãng phí và tham nhũng quá lớn. Thu ngân sách Nhà nước trung bình giai đoạn 2007-2011 so với GDP cùng kỳ lên tới 29%, chỉ tính riêng thuế, phí cũng đã lên đến 26.3%, cao gấp 1.4 đến 3 lần so với các nước trong khu vực (tỉ lệ này của Trung Quốc là 17.3%, Thái Lan và Malaysia là 13%, Indonesia là 12% và Ấn Độ là 7.8%)[5]

  1. Hiện tình kinh tế như vậy đòi hỏi phải thay đổi cách nghĩ cách làm – phải Đổi mới. Người dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung, nhất là người dân tại nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ gia đình nông dân, thợ thủ công và tiểu thương vì cuộc sống và lẽ sống của mình, họ đã tự phát “xé rào” vượt cơ chế chính sách hiện hữu đầy sai trái để cứu nguy kinh tế và đời sống. Đó là mũi đột phá từ dân – là cơ sở, gốc rễ của Đổi mới. Và, về cơ bản Đảng chấp nhận việc làm của dân như là chấp nhận giải phá tình thế trước áp lực của khủng hoảng đã đến mức không chịu nổi. Đại hội Đảng VI với Nghị quyết Đổi mới đã chấp nhận cho phát triển sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế có sự kết hợp giữa kế hoạch với thị trường và có sự điều tiết của Nhà nước. Theo đó, những rào cản “ngăn sông cấm chợ” được tháo gỡ trả lại sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho người sản xuất và người tiêu dùng, hợp thức hóa cách “khoán sản phẩm” trong hợp tác xã, mở đường cho kinh tế hộ gia đình được tự chủ và trở lại với vai trò của đơn vị kinh tế cơ sở ở nông thôn.

Đổi mới với hai mũi đột phá đó đã đưa kinh tế ra khỏi khủng hoảng và tạo được đà cho tăng trưởng. Thế nhưng, một số không nhỏ lý luận gia và những nhà lãnh đạo của Đảng, với kết quả Đổi mới vui một họ lo hai, ba thậm chí chín, mười, vì sợ “Đổi mới được kinh tế nhưng mất tư tưởng, được bộ phận nhưng mất tổng thể, được trước mắt nhưng mất lâu dài, được kết quả hiển nhiên nhưng xa rời mục đích và những nguyên tắc cơ bản, được của cải nhưng hỏng quan hệ sản xuất và con người”. Sự mơ hồ trong tư duy Đổi mới như vậy đã làm cho Đổi mới không toàn diện, không triệt để – do dự, thiếu dứt khoát, nhất là đối với đòi hỏi đổi mới thể chế chính trị đi liền với đổi mới kinh tế.

  1. Chiến tranh đã kết thúc và “giai đoạn mới” cũng đã đi được một khoảng thời gian dài, thế mà cách hành xử với nhân quyền, pháp quyền, quyền tự do dân chủ của công dân còn nhiều bất cập quá tệ hại:

Đạo luật cơ bản của Việt Nam, với Hiến pháp năm 1946 và với các lần sửa đổi sau đó, đã ghi “Tât cả quyền bính” hay “tất cả quyền lực” hoặc “tất cả quyền lực Nhà nước” – “thuộc về nhân dân” [6]. Những quyền “thuộc về nhân dân đó” về danh nghĩa cũng không trọn, làm gì có thực chất vì với pháp quyền XHCN, giới lập pháp VN tự cho mình có quyền đưa vào Hiến pháp sửa đổi năm 1980, 1992 và 2013 những điều vi hiến – lấy quyền lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội duy nhất thuộc về đảng Cộng sản, đặt lên trên các quyền thuộc về Nhân dân.

Để có một Nhà nước và một xã hội chấp nhận phục tùng “siêu quyền lực” đó của đảng, Đảng đã thao túng việc bầu chọn sắp xếp nhân sự cho nó bằng một quy trình “đảng cử, dân bầu” chứ không phải “dân cử, dân bầu”  để nó hành xử việc dân, việc nước theo ý đảng chứ không phải ý nguyện của nhân dân.

Nhiều quyền tự do, dân chủ được ghi trong Hiến pháp quá hiển nhiên, nhưng trên thực tế không được thực hiện bởi có nhiều rào cản khó vượt: Quyền tiếp cận thông tin không vượt qua được rào cản từ sự lạm dụng của việc giữ bí mật và bưng bít thông tin; Quyền tự do bày tỏ chính kiến không vượt qua rào cản từ cấm “đa nguyên”, và tương tự như vậy, quyền tự do hội họp, lập hội cũng không vượt qua được rào cản từ cấm “đa đảng”.

Nổi cộm lên trong bức xúc của người dân là “quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước” có lúc bị ách tắc dẫn đến lén lút vượt biên, tạo nên thảm trạng “thuyền nhân”. Quyền biểu tình chưa cho thực hiện vì chưa có luật biểu tình, bởi Quốc hội chưa quyết tâm, thậm chí chưa muốn làm. Quyển sở hữu tư nhân về đất đai là tư liệu sản xuất, là tài sản của công dân chưa được công nhận là nguyên nhân gây nhiều cản ngại đối với sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều tranh chấp gây bất ổn xã hội.

  1. Cái giá phải trả cho những lựa chọn thiếu thấu tình, đạt lý trong cả quá trình dài của “giai đoạn mới” sau 30-4-1975 là quá lớn, quá đắt: Tài nguyên và môi trường thiên nhiên bị phá nát, các thang giá trị bị đảo lộn, bất công xã hội gia tăng. Thiếu việc làm, lương thấp, thu nhập không đủ sống, đời sống khó khăn kéo dài suốt hơn 40 năm sau chiến tranh và hiện vẫn còn thấp xa so với hầu hết các nước trong khu vực. Thiếu an ninh, an toàn đối với người dân trong giao thông, phòng tránh bão lũ; bạo lực bạo hành từ trong gia đình đến ngoài xã hội, kể cả từ sự lạm dụng quyền lực của hệ thống công quyền gia tăng. Tham nhũng đã trở thành quốc nạn, không còn đơn thuần là tham nhũng tiền của mà còn là tham nhũng quyền lực và cấu kết với quyền lực trong các hệ thống nhóm lợi ích bất chính. Nền kinh tế vẫn bị chi phối bởi sự rối rắm về lý thuyết và sự hỗn loạn trong vận hành, vẫn kinh tế công hữu, kinh tế nhà nước là nền tảng, là chủ đạo, nắm giữ một bộ phận nguồn lực lớn nhất và cũng là nơi bị đục khoét lớn nhất bởi lãng phí và tham nhũng, nguồn lực trong dân với khu vực kinh tế dân doanh không được xem trọng nên làm cho nền kinh tế yếu từ gốc, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn nặng về khai thác nên góp sức chưa nhiều vào việc làm cho nền kinh tế mạnh lên và phát triển bền vững hơn, các lĩnh vực kinh tế nhạy cảm – tài chính, tín dụng, chứng khoán, bất động sản và một số ngành kinh doanh dịch vụ khác vẫn tiềm ẩn bất ổn.

Mấy đề xuất những việc cần làm

  1. Cần tổ chức lễ tưởng niệm nạn nhân chiến tranh của cuộc chiến 30 năm (1945 – 1975) ở Việt Nam ngang tầm quốc lễ, thay vì chỉ là lễ mừng hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước, như đã được tổ chức hàng năm suốt 41 năm qua. Quốc lễ tưởng niệm hàng năm, mỗi năm một lần, vào thời điểm thích hợp là lúc 11h30 ngày 30 tháng 4 (lúc đó của năm 1975 là thời điểm đội quân can thiệp Mỹ đã rút hết khỏi Việt Nam và tướng Dương Văn Minh – Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đọc trên đài phát thanh Sài Gòn Tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam).
  2. Cần có lời thành tâm sám hối và xin lỗi từ đảng Cộng sản tới nhân dân – cộng đồng các dân tộc Việt về những quyết sách sai lầm từng đưa đến những đau thương mà dân tộc phải gánh chịu như đã nêu ở trên.
  3. Hòa giải, hòa hợp dân tộc là chuyện lớn của dân của nước không thể tiếp tục quay lưng lại được. Sám hối và xin lỗi nếu được thực hiện là sự thành tâm, thiết nghĩ rất cần có cho hòa giải hòa hợp dân tộc.

Cũng không dừng ở đó, những người có trách nhiệm phải dám đối mặt với sự thật, để nhận biết vấn đề căn cơ, gốc rễ là lòng tin của nhân dân đối với Đảng đã bị xói mòn đến cạn kiệt mà nguyên nhân cơ bản là sự độc đoán chuyên quyền, phản dân chủ trong định hình thể chế và điều hành bộ máy quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Sự tha hóa của quyền lực càng ngày càng trầm trọng, đẩy tới sự tham nhũng ngày càng ăn sâu vào cốt tủy, càng chống càng tăng, đẩy tới nguy cơ sụp đổ không cứu vãn được. Chính điều này đã phá nát nền tảng của một xã hội như xã hội mà ta đang sống. Để giữ lấy độc quyền và siêu quyền cho mình, đảng đã quay lưng lại, loại bỏ mọi ý kiến khác của trí thức, nhân sĩ yêu nước, những tư vấn và phản biện tâm huyết và có tính khoa học để rồi không tránh được những sai lầm trong nhiều sự lựa chọn quyết sách phải trả giá đắt.

Lòng tin mà mất thì mất tất cả! Từ trong gia đình, đến ngoài xã hội, trong quan hệ giữa người với người không còn gì để tin cậy nhau thì chẳng còn gì để hòa giải, hòa hợp. Sẽ không có ngoại lệ cho hòa hợp, hòa giải dân tộc mà Việt Nam đang cần.

Thay lời kết

Càng ngẫm, càng buồn – cái buồn của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn về một “nước Việt buồn[7]

Từ một “nước Việt buồn” thời “ngàn năm”, “trăm năm” nô lệ bởi giặc Tàu, đô hộ bởi giặc Tây, đến một “nước Việt buồn” của cuộc chiến tranh “bốn nhất” – chiến tranh nóng (trong “cục diện chiến tranh lạnh”) lớn nhất, kéo dài nhất, đẫm máu nhất và là cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” tồi tệ nhất. Rồi lại tiếp nỗi buồn từ sự “ngoảnh mặt, quay lưng” với một “nước Việt buồn” của một bộ phận không nhỏ trong cộng đồng người Việt (cả quan chức của bộ máy công quyền, của doanh nghiệp Nhà nước của đảng viên cộng sản và cả người dân), bởi “ngu lâu” nên không nhận ra được “một nước Việt buồn”; bởi “tha hóa” vì “bả” vinh hoa phú quý và vì “quyền lực tuyệt đối, tha hóa tuyệt đối” nên mặc kệ một “nước Việt buồn”, bởi “mất lòng tin” lâm vào chơi vơi, vô cảm với chính “nước Việt buồn”.

Nỗi buồn về một “nước Việt buồn” như đã nêu ở trên là những câu chuyện thật, mà nguyên nhân không thể nào né tránh được – là thuộc về Đảng với sự độc quyền lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội bằng siêu quyền lực và với thể chế chính trị mà Đảng chọn và vẫn một mực trung thành với nó một cách “kiên định” bởi một “ý chí” gọi là “kiên cường” của sự bảo thủ – bảo thủ đến mức ngoan cố!

Đảng cộng sản như vậy, không thể giải được buồn – nỗi buồn của dân tộc. Giải nỗi buồn đó phải là chuyện của dân. Đã đến lúc các quyền thuộc về đảng, mà lẽ ra phải thuộc về dân, phải trao trả lại cho dân để dân giải nỗi buồn của mình bằng “tất cả quyền bính”, “quyền lực”, “quyền lực Nhà nước” đích thực thuộc về nhân dân.

Đào Công Tiến

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4/2017

[1] Nghe lại bản “Tình ca” của cố nhạc sĩ Hoàng Việt để cùng chia sẻ khát vọng “xua kẻ thù đi mau”, “dập tắt chiến tranh đẫm máu, đập tan ngay bao đau khổ và chia ly” của ông.

[2] Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982), Tổng Bí thư Lê Duẩn đã khẳng định: “Từ Đại hội lần thứ IV đến Đại hội lần thứ V của Đảng là những năm đầu Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới. Đó là những năm khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, cải tạo và phát triển văn hóa”.

[3] Trong bài diễn văn khai mạc Đại hội Đảng V (1982), cố Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh đã khẳng định “Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng cách mạng kiên cường, trung thành vô hạn với chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản”.

[4] Xem bài khai bút đầu tháng 1- 2017 “Tìm hiểu thêm về thế giới đã sang trang (bài 5)” của tác giả Nguyễn Trung. https://anhbasam.wordpress.com/2017/01/05/11-225-tim-hieu-them-ve-the-gioi-da-sang-trang-bai-5/

[5] Dữ liệu từ “Báo cáo kinh tế vĩ mô năm 2012” của Ủy ban kinh tế Quốc hội, qua bài “Thuế, phí cao chót vót”, báo Tuổi Trẻ ngày 4-9-2012 và bài “Oằn vai thuế thu nhập cá nhân”, báo Thanh Niên ngày 5-9-2012

[6] Hiến pháp sửa đổi năm 2013 và các Hiến pháp trước đó đều cùng có chế định “Tất cả quyền bính” hay “Tất cả quyền lực” hoặc “Tất cả quyền lực Nhà nước” đều thuộc về nhân dân. Tuy nhiên, Hiến pháp sửa đổi năm 1980, 1992 và 2013 đã bị giới lập pháp Việt Nam tự cho mình cái quyền “vi hiến”, đã mặc nhiên đặt quyền lãnh đạo cao nhất và duy nhất của Đảng đối với Nhà nước và xã hội – trên các quyền thuộc về nhân dân. Đây đích thực là rào cản không thể vượt qua được để thực thi dân quyền, mặc dù đã có chế định của pháp quyền.

[7] Nghe lại bài “Gia tài của mẹ” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, để chia sẻ với ông về “nước Việt buồn” thời “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây”, “hai mươi năm nội chiến từng ngày” và “gia tài của me để lại cho con, gia tài của mẹ là nước Việt buồn”.

Đào Công Tiến

nguồn: viet-studies.net

Tháng Tư Đen: Không Dễ Gì Quên

Tháng Tư Đen: Không Dễ Gì Quên

Lê Thị Hoài Niệm
Nơi tôi ở, bên này bờ Thái bình dương xa thẳm, một nơi chốn thật yên bình, nơi mà người dân được quá nhiều tự do (vẫn có ít điều cần giới hạn) từ trong nhà ra tới ngoài xã hội, một nơi rất đông người Việt tị nạn đang sinh sống, nơi có quá nhiều phương tiện truyền thông, báo chí phục vụ “Free” cho đồng hương. Bởi lẽ đó, mỗi năm nhân ngày “quốc hận tháng tư đen” ban chấp hành cộng đồng (có ứng cử-bầu cử đàng hoàng), vẫn tổ chức tưởng niệm ngày đau buồn đó.
Nhưng bên cạnh những uất nghẹn thương đau, cần và cần thiết phải thắp những nén hương, ngọn nến ngồi im lặng mà tưởng niệm, thì các  tổ chức, các hội cựu quân nhân muốn qui tụ đồng hương lại càng đông càng tốt, nên hầu hết phải “mướn ca sĩ chuyên nghiệp” ở các trung tâm băng nhạc lớn về. Có những ca sĩ hát rất hay, nội dung bài hát nói lên đươc nỗi đau, hay tinh thần bất khuất của những chiến sĩ quân lực VNCH ngày nào, dám hy sinh thân mình để bảo vệ  quê hương, đất nước. Nhưng có vài  ca sĩ lên sân khấu cũng không biết mình hát cho ngày gì? hát bài gì cho thích hợp với nội dung ngày đau buồn, nên cứ tha hồ… “nhiều đêm chăn gối bên người không quen biết?” hay “lâu đài tình ái”…. chẳng hạn. Thật hết ý.
Lại có quá nhiều chương trình trên truyền thanh, truyền hình nhắc nhở nhiều kỷ niệm về tháng tư đen. Người ta kể đến những trận di tản từ miền Trung, miền cao nguyên, những con đường kinh hoàng như tỉnh lộ 7 ở Hiếu Xương-Phú Yên, xác chết chồng lên xác chết, những bãi biển xác người trôi lềnh bềnh, phần tấp vô bờ thì ít, mà làm mồi cho cá chắc nhiều hơn. Đã bao nhiêu năm qua rồi, người ta vẫn còn tìm gặp những bộ xương có mang những tấm thẻ bài còn nguyên vẹn vùi nông nơi bãi cát (không hiểu anh linh của những chiến sĩ bị hy sinh một cách oan uổng, tức tưởi này có sớm được siêu thăng, hay vẫn còn vất vưởng đâu đó vì một nỗi uất hận chưa vơi? Một nén nhang thắp muộn vẫn là tấm lòng của một nữ thường dân còn nợ ơn Người!)..
30thang4-01
Người ta kể lại những trận đánh kinh hồn của những chiến sĩ can đảm nhảy dù, địa phương quân, nghĩa quân…, quyết tâm gìn giữ mảnh đất bao lâu nay đã tốn biết bao mồ hôi nước mắt, bao xương máu, ngay cả thân xác của những người lính đã hy sinh. Cuối cùng thì vẫn phải chạy và lột bỏ quần áo nhà binh và xin thường phục của người dân mặc vào để chạy!!!!. (?)
Người ta còn sưu tầm cả tiếng nói của vị “Tổng Thống cuối cùng” ban lệnh đầu hàng, phát lại cho thính giả nghe. Có người nặng lời “chửi bới” quan ngài đã dâng đất cho giặc. Phải chi ngày đó ông đừng có …bàn giao chính thể quốc gia cho cộng sản ? Dù biết rằng ngài đại tướng cũng chẳng làm được gì khi giặc đã vào …sát nách mà có một đám quan to, tướng lớn lại yếu hèn đã cuốn gói chuồn êm tự lúc nào. Bao nhiêu năm tháng nắm quá nhiều chức tước, binh quyền mà không làm gì được, để bọn giặc Hồ đem chủ nghĩa cộng sản ngoại lai vào tuyên truyền áp đặt lên người dân miền Bắc bấy lâu nay, giờ đang tràn xuống xâm chiếm miền Nam và cái đám mệnh danh “trí thức” miền Nam cũng theo đóm ăn tàn, nối giáo cho giặc.  Người ta nhắc và nhắc những kỷ niệm buồn đau, kèm theo những chuyến vượt biên hãi hùng, từ đường bộ đến đường biển, xác người vùi trong rừng sâu Campuchia, xác làm mồi cho cá mập trên biển cả và nhiều trẻ em, phụ nữ đã là nạn nhân của bọn hải tặc Thái lan dã man hung tợn… Hằng năm và hằng năm tiếp nối chắc không bao giờ kể hết chuyện.
Người ta hát những bài Nhớ về Sài gòn, Sàigòn niềm nhớ không tên, Sài gòn vĩnh biệt, nghe cũng buồn ray rứt dù nội dung lời ca thường là những cuộc vui chơi, ca hát ở vũ trường, và dù hiện tại người về Sài gòn hằng năm  đông như đi chợ (?). Nhưng sao  người ta cứ vẫn nhớ về Sài gòn nhỉ? Sài gòn làm gì có trọn tháng tư đen năm ấy? Nghe nhiều người di tản vào Sài gòn, sau ngày “mất nước” trở về kể lại rằng cả tháng tư người dân Sài gòn vẫn còn chính phủ VNCH, người dân vẫn tự do đi lại, vẫn hát vẫn hò, vẫn ngồi uống cà phê vỉa hè, vẫn vào rạp REX xem xi-nê, có chộn rộn chăng là vì có một số người “lánh nạn cộng sản” từ các miền đất nước chạy về, khiến những người có thân nhân đang ở nước ngoài, những nhà giàu có, những người làm việc trực tiếp cho người Mỹ phải nôn nao chạy đôn chạy đáo tìm đường thoát ra khỏi nước và họ đã ra đi rất sớm trước ngày Tổng Thống (có quốc hội chuẩn nhuận)  tuyên bố đầu hàng.
Dân chúng tị nạn tới Phú Bổn ngày 23-03-1975

Dân chúng tị nạn tới Phú Bổn ngày 23-03-1975
Và nhiều người còn thấm thía nỗi đau khi nghe được chính giọng nói của một người nhạc sĩ nổi danh (nay về bên kia thế giới rồi), đã tỏ lộ nỗi mừng vui khôn xiết, đã “hồ hởi-phấn khởi” tuyên bố ăn mừng trên đài phát thanh quốc gia vừa mới bị “tiếp quản”, và kêu gọi mọi người dân đừng bỏ…cộng sản để ra đi, hãy ở lại dựng xây đất nước với bọn chúng, rồi hăng hái hát suông bài “nối vòng tay lớn” của chính tác giả. Tiếc thay! “Em ra đi nơi này mất hết! ”. Sài gòn và cả nước mất hết, chứ không phải nơi này…vẫn thế mà “ngài nhạc sĩ” đã bênh vực cho chế độ mới và một số ca sĩ vẫn … lải nhải, tung hê!
Nhưng chắc chắn phải nhắc đến Sài gòn, vì Sài gòn là Thủ đô của cả nước, nơi chính quyền đặt dinh cơ để điều hành guồng máy lãnh đạo đất nước, nếu thủ đô mất vào tay giặc, có nghĩa là đất nước, chính thể không còn nữa. Nhưng nếu nhắc đến tháng tư đen ngòm, phải nhắc đến những tỉnh, những vùng đã bị quân cộng sản chiếm trọn tháng tư, như Nha trang, thành phố biển thân yêu của chúng tôi, mới thấm thía được cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của ba chữ “tháng tư đen”.
Ngày đó.
Người di tản tràn đến, từng đoàn người, từng đoàn xe từ Ban mê Thuột, từ Phú bổn, các tỉnh miền Trung đổ về vào những ngày giữa tháng ba. Trường Nam tiểu học, nơi cô trò chúng tôi gặp gỡ hằng ngày, đã không còn bóng dáng học sinh, vì trường đã biến thành “trung tâm tiếp cư”. Các thầy cô giáo chạy đôn chạy đáo tìm thức ăn, gạo muối, quần áo, vật dụng cần thiết vv..vv để phân phối, giúp đỡ những người đang xơ bơ, xấc bấc, lếch thếch, hốt hoảng buồn rầu đang ngồi ủ rủ   trong các phòng học làm nơi tạm trú
Chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuột thất thủ

Chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuột thất thủ
Một buổi chiều, vừa từ trường về, người bạn đã chạy ào vào nhà, và báo tin: cháu chị U đã chết cháy rồi. Tin thật buồn với sự chết chóc đã đến gần sát. Người vừa ra đi là  một Pilot  Trực thăng, và đơn vị đang hành quân ở BMT. Tàu anh đã trúng đạn phòng không của địch quân, bùng cháy như cột lửa ở trên không. Chạy đến nhà chị U, nhìn chị và bà con trong nhà khóc than,  cả bọn chúng tôi vừa đến cũng chụm đầu lại khóc.
Về nhà lại gặp một người bạn không quân tìm đến thăm, khi biệt đội của anh từ Cần Thơ, biệt phái ra để phụ giúp với các đơn vị bạn. Đáng lẽ ở căn cứ Pleiku, nhưng vì đơn vị trên đó cũng đã di tản, nên các anh lại kéo xuống phi trường Nha trang. Ngồi nghe nh kể những bữa đổ quân khó khăn với quá nhiều phòng không địch, những chuyến hành quân tiếp tế, và đặc biệt là cứu “dân chạy loạn”. Từng đoàn người, đoàn người từ các tỉnh cao nguyên chạy về,  phải đi bằng đường rừng, vì quốc lộ đã bị VC chiếm mất. Họ băng rừng, vượt suối bồng bế gánh gồng mà đi, có người đàn bà đã sanh rớt trên đường chạy loạn, may mà Trực thăng đã nhìn thấy nên đáp xuống  chở về nhà thương. Có hôm anh phải bay thật thấp để hướng dẫn đoàn người đi lạc trong rừng sâu có thể đi ra con đường mòn lớn hơn mà về được Khánh Dương.
Nhiều người đổ dồn về và cũng có lắm kẻ ra đi. Người Nha Trang cũng bắt đầu tìm đường tháo chạy, bằng máy bay, bằng xe hơi, xe hai bánh và chủ yếu là ghe thuyền đường biển.
Phi trường Nha Trang ngày 31 – 3- 1975

Phi trường Nha Trang ngày 31 – 3- 1975

Một vài ngày cuối tháng ba, trung tâm tiếp cư đã vơi người, một phần người tị nạn có thân nhân đến đón về, một lớp nữa họ tiếp tục xuôi Nam, những Thầy cô giáo cũng xôn xao nhiều vì người đi kẻ ở,Từ làn sóng radio phát đi chương trình tiếng Việt BBC Luân đôn, cho tin quân dân miền Nam đang …thua xiểng liểng, quá nhiều nơi giặc chưa đến đã không còn người lãnh đạo? cơ sở bỏ tan hoang. Và đường phố Nha trang đã có một lớp người mới đến, họ “hung hăng, dữ tợn” vô cùng. Với súng đạn có sẵn trên tay, họ có quyền cướp xe, bắt phụ nữ và làm nhiều điều xấu, người ta bảo “họ là toán lính” vừa đổ bộ lên bờ từ tàu hải quân cặp bến cảng Cầu Đá? Chẳng ai dám ra đường thường xuyên nữa, trong số đó có tôi.
Tâm trạng hoang mang giữa đi và ở. Ở lại sẽ như thế nào trước tin đồn quân giặc quá dã man. đàn bà  con gái sẽ  bị “rút móng tay”, bị bắt đi làm “hộ lý” cho bộ đội, đàn ông con trai sẽ bị bắt đi tải đạn, nếu lính tráng bị bắt, mạng sống sẽ không còn, nhiều tin rất hãi hùng mà người thành phố phải để ý đến. Nhưng đi thì đi về đâu? bằng phương tiện gì, nơi chốn nào để đến, hay cũng lang thang lếch thếch như những đoàn người đang nối đuôi nhau trên quốc lộ số một kia. Cuối cùng Ba Má tôi chọn giải pháp có chết thì cũng sẽ chết chung ở nhà mình, vì gia đình quá đông người, lại có thêm mấy gia đình bà con ở vùng ngoài chạy vào tị nạn,  mặc dù cá nhân tôi đã được người bạn sẵn dành cho phương tiện để ra đi đêm cuối cùng của tháng ba khi đơn vị anh trở về căn cứ ở miền Tây..
Phi trường Nha Trang Ngày 1 – 4- 1975

Phi trường Nha Trang Ngày 1 – 4- 1975
Buổi sáng ngày một tháng tư, sau khi đưa người anh trai, nguyên là sĩ quan đang làm việc tại bộ Tổng Tham mưu, là một trong những thành viên của  phái đoàn về Nha trang dự họp với tướng Ph. mấy hôm trước. Cuộc họp không đi đến đâu và cuối cùng phải trở lại SG. Quang cảnh phi trường Nha trang hỗn loạn không thể tưởng tượng nổi, cổng đóng, quân cảnh cầm súng lăm lăm, có thể nã đạn vào ai đó bất cứ lúc nào, nếu không tuân thủ mệnh lệnh, người và người chen lấn nhau, người la kẻ khóc, lớp trong lớp ngoài. May quá, anh tôi vào được bên trong vì còn “sự vụ lệnh” và đang đi bên cạnh một ông quan lớn.
Tôi quay đầu xe trở về nhà mà lòng buồn khôn xiết, chán nản tột cùng. Vừa về đến nhà, đã thấy người bạn phi công phản lực vừa từ Phan Rang chạy về, anh hỏi tôi có muốn di tản theo anh không? vì không còn nhiều thời gian nữa. Tôi từ chối và đang nói lời chúc Anh trên đường về Sài Gòn được bình yên, thì người chị bà con xuất hiện, tôi đẩy chị lên yên sau xe cùng đi với anh, và “tặng” chị chiếc khăn quàng Hướng đạo sinh tôi đang đeo trên cổ để chị làm kỷ niệm. Tôi nhìn theo mà mắt cay cay, miệng vẫn lầm thầm cầu nguyện cho hai chị em đến nơí an toàn,  dù gì, chị cũng từng là “chị kết nghĩa” của anh ấy.
Mới tối qua, ngay phòng khách nhà tôi, vài ông Tá cấp cao, vài ông úy cùng ngồi “bàn chiến sự”. Họ trấn an ba má và gia đình tôi rằng: cả nhà đừng có lo, nếu có chuyện xấu xảy ra, thì “Đèo Cả” sẽ là lằn ranh quốc cộng, chia hai phần lãnh thổ như Bến hải ngày xưa. Chúng tôi biết đó là những lời nói…vô thưởng vô phạt, nói để có chuyện chứ họ cũng đâu biết gì hơn. Khi họ đi rồi, ruột gan tôi héo hon quặn thắt, nhất là mỗi khi nghe tiếng máy bay cất cánh rời xa dần phi đạo xé nát không gian, hay những tiếng trực thăng xành xạch rồi nhỏ dần về hướng biển…
Xuân Lộc

Xuân Lộc
Buổi xế chiều ngày một  tháng tư, một người anh họ mặc đồ Lính đến gõ cửa, anh vô nhà mà cánh tay đang quấn băng trắng dính đầy máu khô. Thì ra, lúc di tản từ ngoài Tuy Hòa vào, cả đơn vị bị thất lạc hết, anh bị trúng đạn, tìm đường về nhà tôi để buộc lại vết thương. Nhưng chưa ngồi yên chỗ, anh đã nhìn dáo dác và bắt gặp mấy chị em tôi đang ngồi ủ rũ, anh hét toáng lên: “sao không tìm đường đi đi, bấy giờ ở dưới phố đang hỗn loạn lắm, cả một đám tù nhân hung dữ vừa phá cửa nhà tù và tràn ra đường cướp phá!”
Cả nhà tôi thất kinh, chưa kịp có phản ứng gì, thì một người hàng xóm chạy về la toáng lên: “nhà ai có con gái lớn phải tìm cách trốn đi, cả một đám tù ở quân lao vừa mới tràn ra đường, họ đang tủa ra nhiều đường phố cướp phá đó..”
Không còn chần chừ nữa, ba tôi vội vàng dắt chiếc honda 50 phân khối của tôi ra cửa, chiếc xe tôi vừa đưa anh tôi đi buổi sáng, vẫn còn đầy bình xăng, chị lớn tôi chạy đi xúc vài ký gạo, em tôi đi bốc vội vài bộ quần áo, cái mền, thế là 3 chị em phóng lên xe chạy vô Suối dầu, nơi ba má tôi có mảnh vườn  trồng nhiều cây trái, với căn nhà nhỏ.
Trong cơn hỗn loạn, muốn tìm con đường sống, tiềm năng sức mạnh trong mỗi một con người đã thể hiện, vượt qua những sinh hoạt thường ngày mà không ai ngờ tới. Với cái xe nhỏ xíu, mang đến ba con người, thêm gối mền gạo mắm,  vậy mà tôi phóng rất nhanh khi không có vật cản trên xa lộ số Một, rồi len lỏi, luồn lách qua một đoạn đường dài lên Thành với hằng hà sa số xe cộ từ xe GMC, xe Jeep, xe hàng, xe nhà, xe hai bánh đủ loại..… và một đoàn người gồng gánh, vai mang, gậy chống, võng khiêng… rồng rắn nối đuôi nhau. Họ âm thầm lặng lẽ lách qua đoàn xe đang nghẹt cứng trên đường.
Lách mãi, tôi cũng qua được đoạn đường Thành, đang dáo dác tìm lối lách nữa, bỗng nghe có tiếng gọi tên mình. Thì ra, nguyên cả một đoàn xe của Trung tâm huấn luyện Lam sơn cũng trong đoàn người di tản, và đang di chuyển nhích nhích nơi đây vì kẹt cây cầu đàng trước.
Chia tay với quí anh, những người đã từng đem mồ hôi và nước bọt để huấn luyện cho những tân binh trước khi ra chiến trường chống địch, giờ này cũng  đang tham gia vào cuộc di tản vô trật tự, một cuộc “tháo chạy” mà không biết sẽ ra sao ngày sau ?
30thang4-07
Xe chạy và chen lấn mà chạy, qua ngang cầu Lùng, một cảnh tượng thương tâm xảy ra, một xe Honda 90 phân khối, hình như chở đến 7 con người ta lớn nhỏ(?), người tài xế bị lạc tay lái và ngã cái rầm, người văng tung ra, nhưng chẳng mấy ai chịu dừng lại để giúp đỡ người bị thương, có thể chết không chừng(?). Đoàn người cứ tránh qua mà chạy, coi như chẳng thấy gì. Tình nhân loại, lòng nhân ái đã “bị bỏ quên” khi chính mình cũng đang đi tìm lối sống? Hoá ra hình ảnh mấy hôm trước trên TV còn chiếu cảnh những người…đạp đầu nhau để tìm một chỗ ngồi trên tàu di tản là chính xác. “Mạnh được yếu thua” đang diễn ra mọi nơi mọi chỗ trên quê hương tôi? Và trong đó có cả chính bản thân tôi. Buồn thật!
Cơn mưa chiều hung bạo, xối xả tự nhiên đổ ập xuống. Mưa và gió đập rầm rầm vào mấy bức vách của căn nhà nhỏ, nơi chúng tôi vừa đến chẳng bao lâu. Những hạt nước mưa nặng nề rơi xuống như muốn cuốn trôi dùm nỗi uất nghẹn trong tim của những con người bất lực, đang thua chạy mà không biết tại sao mình bị thua? Nhìn ra đường, đoàn người ướt nhẹp vẫn lóp ngóp đi hai bên lề dưới cơn mưa, xe cộ vẫn chen nhau mà chạy, đoạn đường này ngoài những khu vườn trồng cây với căn nhà nhỏ để ở tạm, không có nhà cửa hai bên đường, nên người đi bộ không thể nào có chỗ núp mưa, nên họ cứ lầm lũi mà đi, như những đám ma trơi mùa tháng bảy…(?)
Mưa tạnh bớt, một người nhà vườn bên cạnh chạy sang, họ yêu cầu chúng tôi góp tiền mua chiếu để chôn hai người vừa bị xe tông chết ở trên đường quốc lộ. Thương thay hai người Lính đèo nhau trên chiếc xe Honda, và đã bị chiếc xe nào đó đụng phải, họ ngã xuống đường và chết liền tại chỗ, máu loang đỏ cả mặt đường trộn lẫn nước mưa, Dù sao hai người Lính này vẫn có được nén nhang cúng bái và nấm mồ dù chỉ đắp bằng đất, và cả tên tuổi ghi rõ bằng những mảnh gỗ đóng  trên đầu mộ.
Sáng ngày 3 tháng tư, ba tôi vào gọi các con về vì “quân giải phóng” đã vào chiếm thành phố Nha trang hôm qua. Ba tôi nói có một nhóm người đã ra tận đèo Rù Rì để đón mừng(?) và hú hồn vì chúng tôi đã đi thoát đêm đó.  Nếu ở lại nhà, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, khi mà đám tù nhân hình sự, chuyên cướp của giết người, lẫn những người tù “bất trị” ở quân lao họ túa ra đường phố, đến phá cửa những nhà buôn nào họ nghĩ là có thể cướp được, nhà nào có con gái họ bắt để hãm hiếp. Về sau có nhiều người kể lại, các cô gái phải chui trốn ở những nơi dơ bẩn nhất, trên gác xép, dưới gầm giường, nhà xí v..v…Cũng hên là sau khi vơ vét được mớ tiền của thì họ bỏ đi, cùng lúc, những căn cứ quân sự, những cơ sở chính quyền, nhà dân bị bỏ trống, đã bị nhiều nhóm người khác nhau đến “hôi của” đốt phá. Thành phố đã hỗn loạn giờ thêm cảnh điêu tàn, nhếch nhác..
Bấy giờ mới thật sự là những ngày hãi hùng của “tháng tư đen” khi bộ đội miền Bắc đã đem xe tăng vào thành phố. Những chiếc xe “molotova” kềnh càng, lù lù chạy ngang chạy dọc trên đường, trên xe chở đầy những bộ đội mặc quần áo màu cứt ngựa và nón cối đội đầu, cả người và xe đều cắm đầy lá như những “cánh rừng “ biết đi. Người dân bình thường đứng nhìn bọn “khỉ rừng xanh” xuất hiện trong lo âu sợ hãi, trong khi những tên nằm vùng xuất đầu lộ diện  ăn mừng chiến thắng (?).
Giọng nói “chanh chua–chát chúa- the thé- sắc lạnh” từ miền Bắc xa xôi nào đó truyền đi qua làn sóng đài phát thanh, với “bảy điểm của ủy ban quân quản” cứ làm người nghe rờn rợn, nổi gai ốc cùng mình. Những lúc ra đường gặp phải những bộ đồ màu cứt ngựa, đôi dép râu và cái nón cối mặt ngơ ngơ ngáo ngáo, nhìn xiêng nhìn xéo trầm trồ, nói chuyện với nhau bằng thứ giọng lơ lớ như người miền núi mà thở dài ngao ngán và tự hỏi: những người chiến thắng đây sao?. Mặc dù người thành phố đã cải dạng, quần áo thường ngày đã đem giấu kỹ, chỉ còn những bộ đồ đen đúa hoặc nâu đà, nhưng vẫn bị nhìn với cặp mắt soi mói, ác cảm.
Chuỗi ngày tiếp theo thành phố bị tắt ngúm đèn điện ban đêm, nhà nhà đóng kín cửa, leo lét ngọn đèn dầu. Tháng tư đen đúng nghĩa. Thành phố trống vắng, hoang lạnh tiêu điều. Mới hôm nào những con đường phố đông vui nhộn nhịp, những bộ quân phục từ các quân trường, từ nhiều đơn vị về đây, trai thanh gái lịch dìu nhau đi trên phố, trên bãi biển những buổi chiều lộng gió, phố xá sáng trưng, sinh hoạt tấp nập, giờ còn lại một thành phố chết, vắng hoe. Đã vậy những tiếng súng phòng không được đặt khắp nơi cứ bắn lên nổ rền trời, tiếng súng đại bác bay xé không trung, xé trời và xé cả lòng người. Buồn đau và sợ hãi là tâm trạng của những người dân trong thành phố, dù mọi sách báo, tài liệu, của cải hiếm quí đã đem dấu cất, phi tang.
Những tiếng máy bay ầm ĩ bay trở lại thả bom vào mỗi đêm, nơi đã bị bắt buộc phải treo cờ “Mặt trận giải phóng miền Nam”. Những tiếng nổ long trời lở đất cứ dội lại, rền ra xa, những giấc ngủ chập chờn, khi trên đài phát thanh “quân giải phóng” ra rả loan tin “bọn Mỹ Ngụy” càng ngày càng thất trận. Lệnh của “uỷ ban quân quản” ban ra: “cách mạng sẽ khoan hồng nếu quân dân cán chính Mỹ Ngụy ra đầu thú”. Một người anh họ, chỉ là một “cán bộ xây dựng nông thôn” của một xã ngoài Phú yên, chạy vào nhà tôi tạm trú, ba má tôi lo sợ đã bảo trốn đi vào Nam, nhưng vì nghe lời gia đình của vợ bảo ra trình diện sẽ được “khoan hồng”, bị “cách mạng dẫn độ” về T.Hoà và bị chặt đầu không chút nương tay. Ngày liệm xác phải chờ xin lại.. cái đầu bị chặt để  ráp lại cho nguyên vẹn hình hài. Có người thanh niên ăn trộm vặt vì đói quá, bị “bộ đội” bắt đem ra bãi biển “xử tử” để làm gương, dù người bị mất cắp năn nỉ van xin bộ đội khoan hồng đừng xử bắn. Nhưng những con người vô cảm vẫn thi hành mệnh lệnh. Người dân thành phố cảm nhận được nỗi mất mát tột cùng nhưng không biết làm gì hơn.
Những Thầy Cô giáo như chúng tôi, vào những ngày sau đó, buổi sáng bị bắt buộc phải trở lại trường để  “học tập chinh trị”. Nhưng buổi chiều, cứ khoảng hai giờ là leo lên xe đạp, đèo theo chiếc mùng và vắt cơm nguội, đạp xe lên tận trên Thành, hoặc khu Đại điền xin ngủ nhờ qua đêm, chọn những gia đình có “hầm trú ẩn”. Vì cha mẹ già sợ bom đạn từ máy bay “Mỹ Nguỵ” của đám “giặc lái” trở về thả bom, tai bay hoạ gửi chẳng biết đâu mà tránh.
Dù đã đi khỏi thành phố, nhưng nhiều khi đang ngủ chập chờn, còi báo động rú lên liên hồi, dai dẳng đến rợn người, thế là ba chân bốn cẳng phải chạy chui vội xuống hầm, ngồi bó gối chờ cho đến sáng, khi biết chắc rằng “máy bay Nguỵ” không còn trở lại thăm viếng tặng bom.
Hỡi ơi! Khi “tháo chạy”, những người “có thẩm quyền” đã không chịu hủy bỏ những gì cần hủy, như tài liệu văn phòng, những hồ sơ cần thiết, hay những cây cầu chiến lược để xe giặc khỏi đi qua. Giờ đã lọt vào tay giặc, họ ra lệnh đem bom về thả chính nơi họ vừa mới bỏ ra đi. Thành phố như đã chết, giờ càng ghi đậm thêm nỗi chết, khi quá nhiều nơi “ăn” bom đạn của chính quân mình, từ ngoài xóm Bóng, đến đường Tô hiến thành, và cả ngôi trường thân thương của chúng tôi cũng lãnh nhiều quả đạn. Gia đình một người ”chạy giặc” chưa kịp tìm phương tiện trở về lại quê xưa, thì người vợ trẻ và đứa con trong bụng đã chết tức tưởi ngay trong phòng học vì quả đạn trúng sập căn phòng .
Buổi sáng trên đường đi đến trường để dọn xác chết và gạch ngói ngổn ngang, chiếc xe đạp cà tàng của chị bạn bị đứt dây sên, hai chị em vừa dắt xe chạy mà vừa khóc vì đường vắng đến lạnh người, lại tủi thân, xót phận của người bỗng chốc thành kẻ thua cuộc, lại phải đi ngang qua khúc quanh trước cửa trường Nữ trung học, nơi có ba xác chết nằm sấp đó thật hôi thối, mà chưa có người dọn dẹp khiêng đi mai táng….
Thú thật hồi đó cứ mỗi một đống gạch vụn khiêng đi đổ, là khiêng đổ cả mồ hôi và nước mắt, nhưng đã giữ lại trong tôi nỗi đau và sự tức giận đối với những người vừa là bạn, là phe mình mới hôm qua. Những quán ăn Thọ Lộc, Hoài Linh còn ấm cái ghế ngồi, chẳng lẽ hôm nay đã trở thành…thù địch?. Thương và giận luôn giằng co theo từng bước chân đi. Bao nhiêu ngày của tháng tư đen, là ngần ấy ngày chúng tôi sống trong lo âu sợ hãi, khủng hoảng tinh thần. “Cách mạng” luôn đưa người đến tận nhà “bắt buộc” các thầy cô giáo phải đến trường, nhưng có lúc mới đi đến giữa đường đã phải chạy về vì tiếng súng phòng không nổ đụp đụp liên hồi. Mãi đến khi trên làn sóng đài phát thanh chát chúa oang oang “Mặt trận lâm thời giải phóng miền Nam thông báo là quân dân ta đã chọc thủng chốt cản của Mỹ Ngụy tại phi trường Phan Rang và đang tiến nhanh theo gót bọn chúng đang tháo chạy…” thì không còn nghe tiếng ù ù của “những chuyến bay đêm!. Nhưng ngoài nỗi đau, sự hoang mang sợ hãi giờ mang thêm niềm thất vọng tột cùng.
Ôi tháng tư đen! đời đen như cục than đen bắt đầu từ những ngày tháng đó. Cho đến một ngày cuối tháng tư cả nước cùng nghe chung một tiếng loa của “phe thắng trận” với “đại thắng mùa Xuân”! Những ngày mà “đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ, nón tai béo che khuất nẻo tương lai ”bắt đầu một chế độ mới. Tiếp theo là những ngày ăn cơm độn với gạo mục, bo bo, mì sợi, với mỗi tháng một cái tem phiếu đi cửa hàng lương thực chờ chực cả ngày mới mua được vài ký rau muống….. Người thì bị đi tù mút chỉ không biết ngày ra, quá nhiều gia đình ly tán. Người tuổi trẻ bị bắt vào đội “thanh niên xung phong” lên rừng chặt cây lồ ô, đi lao động khổ sai tiếp diễn, chịu bao nỗi khổ ảỉ đắng cay. Đã vậy thêm lớp người mới mang băng đỏ, chuyên đi lùng sục bắt bớ những người “chưa chịu tuân thủ” lệnh của chính quyền mới, vào nhà vơ vét tài sản của dân lấy cớ tịch thu “sản phẩm đồi trụy của Mỹ Nguỵ” đã tạo thêm nỗi kinh hoàng cho những người dân vừa bị đổi chủ…, những tháng ngày không thể nào quên, và mãi mãi không dễ gì quên….
Lê Thị Hoài Niệm

Kỷ Niệm Tháng Tư

Kỷ Niệm Tháng Tư

Tôi có người anh không chết trận
Tự xóa tên mình cuối tháng Tư
Sử sách lưu danh làm chi nữa
Cờ lau khát vọng đất Hoa Lư

Tôi có người cha giương súng lệnh
Chào lá quốc kỳ trước khi đi
Chỉa thẳng đầu mình viên đạn chót
Chết theo thành – bia chẳng cần ghi

Tôi có người mẹ nhìn quanh mãi
Nhà mình còn chi đáng giá không
Trước cái tủ thờ bà cúi lạy
Tổ tiên tha thứ buổi gạo đong

Tôi có người chị từ dạo ấy
Bán tà áo cưới đi thăm nuôi
Thất thân giữa dặm trường Nam-Bắc
Lòng men sông Hát giải oan thôi

Tôi có đứa em ra đầu chợ
Chờ miếng cơm thừa bên quán ăn
Tay mời vé số cầu người trúng
Vỉa hè chiếu rách khóc thiên đàng

Tôi có người yêu đêm từ tạ
Khuya em lên tàu đi vượt biên
Máu trinh loang xuống vùng biển Thái
Trả giá tự do rồi hóa điên

Tôi có thằng bạn đi trót lọt
Quay về kháng chiến giữa rừng hoang
Hoài bão quê hương cao chất ngất
Tử hình-tù ngục chẳng sờn gan

Tôi có mình tôi rất ngậm ngùi
Bốn mươi lần đếm tháng Tư rơi
Chén đắng sao ai mời uống mãi
Bên dòng bi sử dật dờ trôi .

PXT. Tháng tư, 2015

nguồn: batkhuat.net