Vũ Thất

Bảo Bình 1

Category Archives: Văn Nghệ

Thơ Thái Bá Tân

Ta sai từ bao giờ?

 Thái Bá Tân5

Một nhóm mười trí thức
Được bà Nguyễn Thị Bình
Mời đến chơi, nói chuyện,
Kiểu thân mật gia đình.

Giữa chừng, bà chợt hỏi,
Không khỏi không bất ngờ:
Theo các anh, nói thật,
Ta sai từ bao giờ?

Hầu hết mọi người nói
Thưa chị, chúng ta sai
Từ Một Chín Năm Mốt,
Tức từ Đại Hội Hai,

Khi đảng quyết định lấy
Chủ nghĩa Mác – Lênin
Tư tưởng Mao Chủ Tịch
Làm đường lối của mình.

Còn Nguyên Ngọc thì nói,
Mọi người nghe, tưởng đùa:
Chúng ta sai, thưa chị,
Từ thời Đại Hội Tours!

Bà Bình không đồng ý.
Nhưng ngay sáng hôm sau
Bà tự tìm Nguyên Ngọc,
Rồi nói, vẻ buồn rầu:

Hôm qua chị không ngủ,
Nằm suy nghĩ suốt đêm,
Và buộc phải thừa nhận,
Chị đồng ý với em!

*
Cùng đẳng cấp phong kiến,
Cho nên ta với Tàu
Đánh nhau trong lịch sử,
Lúc thắng, lúc thua nhau.

Còn thằng Pháp thì khác.
Đẳng cấp nó cao hơn.
Nó văn minh, vật chất
Và tinh thần cao hơn.

Đáng lẽ nên học nó
Giúp đất nước canh tân.
Rồi độc lập chưa muộn.
Khai trí cho người dân.

Chứ nếu dùng vũ lực,
Công nông lên cầm quyền,
Đất nước sẽ đi xuống,
Không thể nào đi lên.

Khi những người vô học
Có quyền hành trong tay,
Thì họ sẽ vơ vét,
Vơ vét mãi hàng ngày.

Họ sẽ làm băng hoại
Các mỹ tục thuần phong,
Văn hóa và đạo đức,
Nếp sống của cộng đồng.

Con đường duy nhất đúng
Để phát triển nước mình
Là con đường phục quốc
Của cụ Phan Chu Trinh…

PS
1
Nguyên Ngọc đã nói thế,
Nhà văn của chúng ta.
Một tấm lòng đáng quí,
Một cây bút tài ba.

Nếu không có Nguyên Ngọc
Và những người như ông,
Giới văn chương Đại Việt
Sau này sẽ chạnh lòng

Và chắc xấu hổ lắm,
Vì ngậm miệng ăn tiền,
Vì văn nô, đĩ bút
Bợ đít cho chính quyền.

2
Bà Bình vào thời ấy
Là lãnh đạo cấp cao,
Đã nhận ra sai trái
Do ai và lúc nào.

Có nghĩa các vị khác,
Vốn không phải ngu lâu,
Thừa biết thằng cộng sản
Sẽ đưa ta đến đâu.

Nhưng biết thì cứ biết,
Mà làm thì cứ làm.
Và đó là thảm họa
Cho nước ta, Việt Nam.

Thái Bá Tân

nguồn: kontumquetoi.com

Advertisements

Đi xem thiết kế mô hình hộ tống hạm HQ-10 chuẩn bị diễn hành Tết

Đi xem thiết kế mô hình hộ tống hạm HQ-10 chuẩn bị diễn hành Tết

Linh Nguyễn

“Chúng tôi đều là những cựu quân nhân hải quân, cùng ngồi lại với nhau để đáp ứng lời kêu gọi thực hiện dự án HQ-10 của ban tổ chức diễn hành Tết, nhằm vinh danh 75 tử sĩ hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974,” ông Nguyễn Ngọc Bạch, cựu sĩ quan hải quân, nói với phóng viên nhật báo Người Việt.

Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 sẵn sàng tham dự diễn hành Tết Mậu Tuất. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

GARDEN GROVE, California (NV) – Một nhóm cựu quân nhân Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa nỗ lực tình nguyện bỏ công sức, dựng mô hình hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) từ hơn ba tuần nay, để kịp tham dự cuộc diễn hành Tết Mậu Tuất sẽ diễn ra vào 9 giờ sáng Thứ Bảy, 17 Tháng Hai sắp tới.

“Chúng tôi đều là những cựu quân nhân hải quân, cùng ngồi lại với nhau để đáp ứng lời kêu gọi thực hiện dự án HQ-10 của ban tổ chức diễn hành Tết, nhằm vinh danh 75 tử sĩ hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Tôi được ông Bùi Phát, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California, giao phụ trách việc thiết kế,” ông Nguyễn Ngọc Bạch, cựu sĩ quan hải quân, nói với phóng viên nhật báo Người Việt.

“Tôi nhận lời ngay, vì tôi lúc nào yêu hải quân, và đặc biệt kính phục những chiến hữu đã anh dũng hy sinh chống ngoại xâm,” ông Bạch nói.

Súng ống được làm như thật, sẵn sàng nghênh chiến. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Ông Bùi Phát xác nhận vai trò của ông Bạch: “Trong một phiên họp về dự án HQ-10, tôi kêu gọi các cựu quân nhân hải quân của chúng ta giúp thực hiện HQ-10, vì sau 44 năm, đã đến lúc phải thể hiện lòng biết ơn các tử sĩ Hải Quân VNCH. Rất may mắn, ông Bạch đến họp, mang theo chiếc tàu HQ-10, dài 5 ft, được thiết kế rất công phu. Mọi người xem và đồng ý để anh lo việc thiết kế, vì anh là người có nhiều kinh nghiệm nhất.”

Theo lời ông Bùi Phát, khi bắt tay vào việc, ông Bạch và ông Võ Thành Phát, một cựu quân nhân hải quân khác, cho biết chi phí thực hiện con tàu có thể lên đến $15,000. Ông chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California sau đó tổ chức gây quỹ kêu gọi cộng đồng hỗ trợ HQ-10 diễn hành Tết.

Về thiết kế, công việc lần này, theo ông Bạch cho biết phải mất hai tuần để vẽ bản thiết kế hai lần trước khi được thành phố chuẩn thuận, và khó hơn, vì kích thước HQ-10 sẽ lớn bằng 1/3 chiếc tàu thật, với kích thước khi hoàn tất là 57 ft x 12 ft. Ông cho biết ông cũng làm hai cây súng “bô pho” 40 ly đơn, và đại bác 76.2 ly phía mũi tàu.

Mỗi người một việc. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

“Khó khăn đầu tiên là tìm chỗ để dựng con tàu. Rất may là ông Bùi Phát giới thiệu chủ nhân cơ sở Cali Nail Supply cho mượn nhà kho trống ở số 10531 Garden Grove Blvd., Garden Grove. Thế là chúng tôi bắt tay vào việc,” ông Bạch kể.

Cũng theo ông Bạch, ngoài việc vẽ theo tỷ lệ, việc thiết kế chiếc tàu nằm chồng lên trên một chiếc xe truck làm nền, rất khó, vì hình dạng của mũi tàu rất lớn.

“Chúng tôi phải mướn một chiếc xe truck hạng nặng (heavy duty), để có thể đủ sức chịu cho con tàu, và nhất là đủ diện tích cho việc thiết kế mũi tàu. Tiền mướn xe gần một tháng nay đã lên hơn $4,000,” ông Bạch cho biết.

Được hỏi về động lực thúc đẩy ông dành nhiều thời giờ cho việc dựng lại các chiếc tàu, ông Bạch nghẹn ngào rồi bật khóc. Một hồi sau, lấy lại bình tĩnh, ông nói: “Hàng ngày trước khi rời nhà, hai vợ chồng tôi khấn nguyện anh linh của 75 tử sĩ Hoàng Sa phù hộ cho chúng tôi và các anh em đây hoàn thành nhiệm vụ. Công trình hiện nay như đã xong, còn lại chỉ là trang trí lặt vặt.”

Phía mũi tàu là phần khó nhất để tránh mũi chúc xuống đất. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Hầu hết mọi người, hàng ngày bỏ công sức đến làm việc tình nguyện, đều do tình huynh đệ chi binh và lòng cảm phục những tử sĩ anh hùng, không ngại đường xa, như ông Lương Quốc Sơn, từ tiểu bang Missouri đến. Có người lại đem thức ăn đến cho anh em ăn sau giờ làm việc.

Ông Hoàng Thông, chủ nhân nhà hàng Paracel Seafood, chia sẻ: “Biết anh em làm việc cực nhọc, là chiến hữu hải quân, tôi chỉ xin đóng góp một phần nhỏ. Đó là bữa ăn tối Chủ Nhật vừa qua để ủng hộ tinh thần, và để mọi người cùng ăn với một số anh em người nhái và hải quân đến từ San Diego, và các anh em hải quân cơ hữu vùng Orange County.”

Được biết ông Thông cũng hát bài Hoa Biển để góp phần trong chương trình văn nghệ bỏ túi ngay tại nơi anh em đóng tàu.

Ông Võ Thành Phát, cựu thuyền trưởng thuộc Giang Đoàn 30 Xung Phong, tâm sự: “Chúng tôi làm để nhớ những anh em đã khuất. Với tôi, một đời là cho hải quân. Tôi làm phần khung sườn, sơn vỏ tàu, và làm những sợi dây an toàn.”

“Trung bình một ngày trung bình có khoảng tám anh em hải quân thay phiên nhau đến đóng góp công sức cho dự án. Anh em hải quân tinh thần đồng đội rất cao, và với sự gợi ý của ủy ban diễn hành Tết, chúng tôi làm để nhớ lại các đồng đội đã hy sinh và cho con cháu biết đến những tấm gương hy sinh cao cả ấy,” ông Võ Thành Phát nói thêm.

Ông Quan Lê, 78 tuổi, cư dân Westminster, cho biết: “Tôi đến làm việc sáu ngày một tuần vì biết có tám người nhái hải quân hy sinh trong trận Hoàng Sa. Trước đây tôi phục vụ trong Liên Đoàn Người Nhái được sáu năm, và qua Mỹ năm 1975.”

“Tôi tham gia vì tinh thần hải quân và hưởng ứng từ ngày đầu, 15 Tháng Giêng,” ông Nguyễn Văn Hiền, cựu quân nhân cơ khí hải quân, phục vụ Bộ Tư Lệnh Hạm Đội bảy năm, nói.

Ông Phan Thanh Quang, cựu sĩ quan hải quân khóa 25 Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, phục vụ năm năm trên tàu PGM, chia sẻ: “Tôi, anh Hiền và anh Hùng làm cây đại liên 50 , cây súng cối 81, và tự chế máy tiện để làm các viên đạn 40 ly bằng gỗ.”

Ông Bùi Phát (trái) đàn vĩ cầm, và “ca sĩ” hải quân Hoàng Thông, chủ nhân Paracel Seafood Restaurant, hát ủng hộ tinh thần, bên chiếc HQ-10 sắp hoàn thành. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Anh Quang cho biết thành phố cũng đã đến kiểm soát và chứng nhận thông qua các tiêu chuẩn an toàn. Anh cũng là người làm hai chiếc mỏ neo màu đen, trông như thật, bằng giấy cạc tông, cũng như thực hiện các cây súng trên tàu.

Ông Trần Xuân Tin, cựu sĩ quan người nhái, điềm đạm cho biết: “HQ-10 này được làm vì danh dự của hải quân, để nói lên chí khí quật cường, bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam trước các âm mưu xâm lăng của Trung Cộng. Chúng tôi đã cầm súng, chiến đấu dù biết là cái chết ở trước mặt, vì đó là vinh dự của người lính.”

“Chính vì cái hồn của chiếc HQ-10 này và cái hồn của ngày diễn hành Tết năm Mậu Tuất, chúng tôi, những cựu quân nhân hải quân, không thuộc hội đoàn hay tổ chức nào, phải nỗ lực làm việc với nhau, để con cháu hậu duệ, nhất là quốc nội biết rằng Hải Quân VNCH từng chiến đấu chống lại sự xâm lăng của Trung Cộng,” ông Tin khẳng định.

Ông Cao Hữu Vinh, 87 tuổi, cư dân Fountain Valley, một sĩ quan hải quân từng phục vụ chiếc tàu chở dầu HQ-470, chia sẻ: “Hồn thiêng sông núi và anh linh của 75 chiến sĩ Hoàng Sa, qua chiếc HQ-10 này, nhắc nhở đồng bào trong nước cũng như ở hải ngoại trách nhiệm lấy lại Hoàng Sa từ tay Trung Cộng. Hoàng Sa là của Việt Nam.”

Ông Vinh cho biết thêm là ban diễn hành Tết dự trù tổ chức lễ “hạ thủy” từ 11 giờ đến 4 giờ chiều Chủ Nhật, 11 Tháng Hai, cũng tại địa chỉ 10531 Garden Grove Blvd., Garden Grove, CA 92840.

Ông Bùi Phát, trưởng ban tổ chức Diễn Hành Tết 2018, cho biết nhờ có sự vận động của nhiều người với chủ nhân chợ ABC, như cựu Nghị Viên Tony Lâm, ông Alan Ford, ông Phó Thịnh Trương, trong đó có sự can thiệp của Thị Trưởng Westminster Tạ Đức Trí, sau khi diễn hành, HQ-10 sẽ được trưng bày trong ba ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật và Thứ Hai, từ 17-19 Tháng Hai, tại bãi đậu xe trước chợ ABC để đồng hương thưởng lãm.

Linh Nguyễn

nguồn: nguoi-viet.com

 

Huế, Tôi và Mậu Thân – Quái Điểu Tiểu Đoàn 1 TQLC

Huế, Tôi và Mậu Thân – Quái Điểu Tiểu Đoàn 1 TQLC

Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán

https://i2.wp.com/www.tqlcvn.org/images/TD1-TQLC%20TRANS.gif

Từ Cai Lậy về thủ đô, nhập ngay vào đánh giải tỏa trại Cổ Loa của Thiết Giáp và Xóm Mới Gia Ðịnh xong xuôi, Quái Ðiểu Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến về nằm dọc đường Ngô Tùng Châu. Mười hai giờ khuya họp Tiểu đoàn, 2 giờ sáng có mặt tại Tân Sơn Nhất, 4 giờ sáng lên máy bay đi, đi đâu không biết. Ðồ khô và tái trang bị không lãnh kịp. Cứ lên phi trường rồi hay. Ðó đây những loạt pháo kích, những loạt đại liên rời rạc, những đốm hỏa châu lũng lẳng trên bầu trời. Tôi để lại đằng sau một Sài Gòn mang nặng bộ mặt chiến tranh. Những chiếc máy bay C.13O khổng lồ nuốt gọn 8OO Quái Ðiểu và đưa chúng tôi lên cao trong đêm tối mịt mùng.
– Ði đâu bây ?
– Nha Trang, tao nghe Nha Trang đang có đánh nặng.
Lượm Ðại đội trưởng Ðại đội 1 (dân Nha Trang) trả lời. Tôn Ðại đội trưởng Ðại đội 2 là dân Ðà Lạt, cãi:
– Ðà Lạt.
Phán Phu Nhân nói:
– Ði đâu cũng được, đổi vùng là khoái rồi.
(Khi vào Quân trường, Phán trình diện: Tui chánh quán làng Phú Nhơn, ở gần Hồ Tịnh Tâm, quận Thành Nội, Huế. Thế là sau đấy, giữa lửa đạn và thịt đổ xương rơi, và qua tiếng thét trong máy truyền tin, cái tên ngụy trang ‘Phu Nhân’ ra đời, nghe thật lạ tai!)
– Máy bay chi bay mãi ri bây ?
Thời tiết thật xấu, và rồi bánh xe phi cơ cũng chạm đất, những cặp mắt đổ dồn ra khung cửa sổ máy bay. Phú Bài ! Cơn gió cắt da, bãi cát trắng trải dài, mưa nặng hột. Thiếu áo lạnh, tất cả đều quấn Poncho đứng nhìn đoàn người gánh gồng xuôi ngược, hấp tấp và lo sợ, một số về Truồi, một số lên Giạ Lê, An Cựu.
Phú Bài đó, Tịnh Tâm đó, Cầu Kho đó, Mạ, dì, chị và em mình đó mà không liên lạc được. Tình hình không biết sao, ruột như lửa đốt. Trách nhiệm nặng nề, tôi nằm trằn trọc suy nghĩ thật nhiều để chờ sáng mai. Kỳ niệm thời đi học kéo về trong trí tôi, đẹp quá, nhẹ nhàng quá, vụng dại quá.
Mười giờ sáng, đoàn GMC đưa chúng tôi về Huế. Qua Giạ Lê, đồng bào hỗn loạn, nét lo âu hiện rõ trên mặt. Tới An Cựu, dân chúng thưa thớt, nhà hai bên đường đóng kín cửa. Dọc quốc lộ 1 từ Huế về Phú Bài, binh sĩ Nhảy Dù từng toán dìu nhau âm thầm đếm bước.
Những cái nhìn như nhắn gửi, như lo sợ giùm chúng tôi. Mạnh, Ðại úy Nhảy Dù, cùng khóa cho tôi biết:
– Huế tang thương và điêu tàn lắm Phán ơi. Thừa (cùng khóa) chết, Phạm Như Ðà Lạt bị thương…
Mạnh khắp người băng bó đang được hai đệ tử dìu đi bộ về phi trường Phú Bài. Mạnh tiếp:
– Phán, mày cẩn thận. Không yểm trợ, không thực phẩm, không tiếp liệu, thời tiết quá xấu. Tụi nó chiếm hết thành phố, Ðại Nội, Gia Hội. Tụi nó chốt rất kỹ, chỉ còn cái lõm nhỏ ở Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 tại Mang Cá.
Sau này được nghe nói: Vì nghe tin tướng Trưởng kẹt nặng nên đại bàng Lê Quang Lưỡng, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Nhảy Dù đã xua quân đi bộ từ cây số 17 về Huế để cứu tướng Trưởng. Tôi xin tướng Lưỡng cho tôi được nghiêm mình chào một cách đầy kính phục cho cái tình nghĩa huynh đệ không bút nào tả nỗi này. Ðể đáp trọn tình nghĩa, Lữ đoàn của đại bàng Lưỡng cũng hao hụt nặng nề.
Ðoàn xe dừng lại bên hông Ðại học Văn Khoa, cách con đường là trường Kiểu Mẫu mới xây, đối diện là Ðài phát thanh Huế. Và trước mặt là cầu Trường Tiền, chiếc cầu tượng trưng cho xứ Huế, chiếc cầu đã hàng ngàn, hàng vạn lần qua lại, đầy ắp kỷ niệm.
Nhìn qua chợ Ðông Ba và phố Trần Hưng Ðạo mà lòng quặn thắt. Một mái chợ đã sập. Những cột khói ngút trời cách khoảng. Từ đầu đường đến cuối đường Trần Hưng Ðạo không một bóng người. Nhìn bên phải là cầu Gia Hội vắng tanh. Những cột khói khác vươn lên… Cả thành phố đã chết, Huế tôi tang thương đến thế sao ! Một nhịp cầu đã sập, tôi nghĩ vành khăn tang đã cuốn lấy Huế.
Xuống tàu tại chân cầu Trường Tiền, xuôi giòng Hương xanh biếc ngang Gia Hội, quẹo trái sông Hang Bè. Cầu Ðông Ba đó, có tiệm La Ngu ngày xưa chúng tôi thường mua dụng cụ học trò. Tiếp tục xuống ngang tiệm gạo Mụ Ðội, có người con gái đẹp não nùng tên Xuân mà con trai Huế lứa tuổi tôi đều hơn một lần đi qua đó để nhìn người con gái trời cho đẹp. Qua trường Bình Minh, nơi tôi học năm đệ Tam, nhiều kỷ niệm đẹp. Ðến Bao Vinh, dân chúng nhốn nháo khi thấy một đơn vị lớn đang đổ bộ tại bến đò.
Tôi hướng dẫn đơn vị vào Mang Cá Nhỏ để tới bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Ðịch chào đón bằng hàng loạt hỏa tiễn 107 và 122. Tất cả nằm sát bờ tường để tránh pháo và tìm chổ phòng thủ. Tôi cho lệnh Sự, Trung úy Ðại đội phó kiểm soát con cái và chuẩn bị cơm chiều. Trung úy Sự là sĩ quan trẻ, có tài và đầy nhiệt huyết, xuất thân khóa 19 Võ bị Ðà Lạt, thủ môn Hội tuyển Nha Trang, đúng là đa năng đa hiệu. Tôi dự buổi họp Tiểu đoàn khẩn cấp và quan trọng. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh:
– Phu Nhân rành địa thế dẫn đầu, 8 giờ sáng mai xuất phát. Kế tiếp là Tôn, Ðại đội 1, Lượm Ðại đội 2. Tiếp theo là Bộ chỉ huy Tiểu đoàn cùng Ðại đội chỉ huy, sau cùng là Tòng Ðại đội 4. Mục tiêu Phu Nhân phải chiếm là trường tiểu học Trần Cao Vân. Trước trường có thành Quân Cụ, vào khoảng một Ðại đội ta đóng ở đó, không biết còn hay mất.
Phán hỏi:
– Còn phi trường Thành Nội thì sao ? Tình hình trong Ðại Nội, Thiếu tá có nắm vững không ?
– Không rõ, tụi nó chiếm hết, chốt rất kỹ. Tất cả các cửa Thành Nội tụi nó đều kiền và chốt rất chặt. Cửa Hữu, cửa Chánh Tây, cửa Sập, cửa An Hòa, cửa Ðông Ba, Kỳ đài Phú Vân Lâu… tụi nó đều chiếm hết.
Trong óc tôi, một bản đồ chi tiết hiện ra rất rõ cho một cuộc hành quân mà tình hình tôi nắm không được vững. Tôi cố tìm một con đường ngắn và an toàn nhất cho đơn vị để tới mục tiêu. Có rất nhiều đường đưa tới trường Trần Cao Vân, nơi từ 9 tuổi đến 19 tuổi tôi đã bao nhiêu lần đi lại. Con đường nào cũng đầy hoa và mộng. Nay tôi đang tìm một con đường không có máu để cho anh em chúng tôi đi.
Tám giờ sáng, tất cả gọn gàng, sẵn sàng di chuyển. Ba trăm thước đường từ Mang Cá đến nhà tôi sao quá dài. Bồn chồn, nóng ruột vì nơi đó Mạ tôi, dì tôi, chị tôi và em trai út của tôi đang trông ngóng. Không biết có bị gì không ? Thiếu uý Duật, Trung đội trưởng Trung đội 2 dẫn đầu. Duật xuất thân 21 Ðà Lạt, hăng say, gan, thích xóc đĩa và gái đẹp, uống rượu rất ít, chỉ phá mồi. Phán và Bộ chỉ huy kế tiếp. Thiếu uý Nghênh, Trung đội trưởng Trung đội 1 tiếp theo. Nghênh xuất thân từ ‘Commando du Nord’, kinh nghiệm, gan lỳ, thích đánh phé nhưng đánh nhỏ, rượu rất ít và không thích gái. Kế đến là Thượng sĩ nhất Mã Khện, Trung đội trưởng Trung đội 3, xuất thân Commando trong Nam, rất gan lỳ, ít nói, mê rượu, không mê gái. Sau cùng là Thượng sĩ nhất Hải, Trung đội trưởng Trung đội súng nặng. Hải xuất thân Commando du Nord, người Nùng, lỳ lợm già dặn chiến trường, không rượu, không gái và không thuốc lá.
Hai bên đường dân chúng đứng chen chúc, vẻ mặt hớn hỡ thật tội nghiệp cho họ. Lần lần những khuôn mặt quen thuộc hiện ra, những cánh tay vẫy chào, nào mụ Ðội Dậu, mụ Ba, ông Sung, ông Dung, anh Thiên chủ bàn Ping Pong… Những tiếng nói đó đây:
– Anh Phán đó tề ! Anh Phán ! Anh Phán…
Tiếng gọi lớn dần và lan dài suốt con đường tôi đi.
Con hẻm sát hồ Tịnh Tâm là đường vào nhà tôi. Mạ tôi đó, dì, chị và em tôi đó. Xao xuyến quá ! Tôi đi nhanh đến ôm Mạ tôi, dì và chị tôi khóc như mưa. Thằng em luống cuống chạy quanh, bị Mạ tôi nạt:
– Mi chạy mau vô nhà lấy khúc cá kho khô và đòn bánh tét gói lại đem ra đây bới cho anh mi.
Mạ tôi dụi vào tay tôi chai dầu Nhị thiên đường:
– Con xức cho khỏi gió.
Lính đi ngang hỏi nhau:
– Mạ Ðại úy sao đầu trọc lóc vậy bây ?.
– Bà ấy đi tu để phước cho con, tụi mình cũng được hưởng ké đấy.
Phán và âm thoại viên vẫn còn dừng lại:
– Nhà mình có răng không Mạ ? Bà con thân thuộc có ai bị chi không ?.
– Nhà ông Quế chủ quán Chiêu bị trúng hai trái nhưng người thì không răng. Nhà mình bị ngói đổ một góc, cây đào bị gãy ngọn. Còn thằng Chỉ không biết đi mô.
Chỉ là bạn tôi xuất thân 17 Võ bị Ðà Lạt. Tôi xót xa đắng miệng:
– Thôi con đi, Mạ và gia đình đừng lo cho con.
Mạ tôi khóc òa, tôi thật não lòng. Những tiếng gọi anh Phán, anh Phán tiếp tục vang lên cho đến giữa hồ Tịnh Tâm.
Tiếng gọi, giọt nước mắt và những cánh tay chào vẫy, phải chăng nhắc nhở trách nhiệm của tôi. Bây giờ là lúc đền đáp ơn sâu nghĩa nặng. Vinh dự này thật khổ. Máu nóng sôi trong người, tôi và hai âm thoại viên vượt lên đi với Trung đội đầu. Cuối hồ Tịnh Tâm là đường Tịnh Tâm, tôi cho lệnh quẹo tay mặt theo đường lên nhà ông Ngự Ðạt. Như vậy bên hông mặt của con cái tôi lúc nào cũng có bức thành và cái hồ che chở. Cuối đường Tịnh Tâm quẹo trái là trường tiểu học Ðoàn Thị Ðiểm, nhưng tôi không đi con đường này. Tiếp tục đi thẳng qua một con hẻm nhỏ, con đường đã bao lần đi lại, nào ăn cắp me, nào trộm sấu, nào hái xoài, nào đào sen, nào học thi, nào thăm người yêu… Con đường nào cũng nhắc tôi bao kỷ niệm yêu dấu khôn quên.
Ðến Canh Nông, chưa thấy phản ứng nào của địch, gần sân bay Thành Nội dân chúng thưa thớt và kinh hãi. Tôi cho dừng quân bên này đường, một ông già mách :
– Con đường ni bị bắn rất rát, từ trong cửa Hòa Bình ở Ðại Nội bắn ra.
– Còn sân bay Thành Nội ra sao ôn, có ai khôn ?.
– Ðánh nhau mấy ngày ni dữ lắm, mà tui không biết răng, không biết mình hơn hay thua nữa.
Tôi chỉ con đường và hướng dẫn Duật: Băng qua khỏi con đường này, đến một xóm nhà, qua một cái cống thì bên trái là thành Quân cụ. Nghênh và Mã Khện yểm trợ hông mặt cho Duật, và sau đó băng qua đường theo tôi. Con đường chỉ có 5 thước mà hơn một giờ mới vượt qua với 6 thằng em rớt rụng trên mặt đất. Lần mò theo mép đường tới sát ống cống, tôi cho dừng lại, phi trường vắng tanh. Tôi bảo Duật: Mày cho một thằng con nhỏ qua trước làm đầu cầu bên kia cống, sau đó cho tất cả con cái mày qua rờ vào thành Quân Cụ, chờ tau lên.
Thành Quân Cụ cao khỏi đầu người, không liên lạc được với bên trong. Tất cả con cái nằm sát thành để tôi và đám cận vệ bò tới cổng chính. Loáng thoáng thấy nón sắt, Field -Jacket, giây ba chạc.. .Không phải tụi nó đâu, chắc chắn là bạn rồi. Thằng đệ tử tôi gọi lớn:
– Ê ! Thủy Quân Lục Chiến đây.
Một loạt đạn bay qua khỏi đầu một cách rùng rợn. Bò lết vào tới trong đồn, ông trưởng đồn nói tiếng Huế đặc sệt, ông là Trung uý Cát, thủ môn nổi tiếng của Huế:
– Ðại úy ơi, 7 ngày không ra vào nỗi, nó bao hết. Trường Trần Cao Vân, Ðại Nội, xóm nhà trước mặt và bao quanh đồn tụi nó chốt hết. Nhà Bảo sanh sau lưng trường cách một cái hồ tụi nó cũng chiếm luôn. Dân chúng chạy hết rồi, không còn ai cả. Tụi nó pháo liên miên, không cho ngóc đầu được, đủ loại: 61, 82 hỏa tiễn 107, 122. Tôi ráng cố thủ đây được ngày mô hay ngày nấy, còn ngoài nớ tôi không liên lạc được nên không biết tình hình các nơi khác ra răng.
Tôi trở ra báo cáo về Tiểu đoàn, lệnh của Tiểu đoàn trưởng:
– Phu nhân chiếm cho bằng được trường Trần Cao Vân, dọn sạch chung quanh. Tiểu đoàn trưởng và Bộ chỉ huy sẽ lên ở trại Quân Cụ.
Quan sát địa thế thêm một lần nữa, trước mặt trường là cái am lên đồng, bên cạnh là quán hớt tóc lợp tranh chỉ có một ghế ngồi. Sát đó là ngã ba đường, một đường chạy lên cửa Sập, một chạy về trường Ðào Duy Từ và một chạy đến trường Trần Cao Vân. Có bốn năm cái đầu lố nhố bên trong trường.
Duật phải chiếm am trước, trong trường bắn ra mãnh liệt, có cả B.40. Tôi ra lệnh Nghênh và Mã Khện cầm chân hỏa lực trong trường học. Duật chiếm xong am không một tổn thất. Tôi gọi Thượng sĩ Hải đem hai đại liên và một 57 không giật lên tăng cường cho Duật để Duật yểm trợ cho Mã Khện vào trường. Sau 45 phút dùng mưu kế cùng với hỏa lực và sự gan dạ, kinh nghiệm, Mã Khện đã chiếm được một lớp của trường. Nghênh tràn vào cùng với Mã Khện lục soát và làm sạch sẽ. Hỏa lực từ góc Thành Nội đổ dồn về phía trường học, không sao, có thành của các lớp học che chở.
Tôi kêu Sự :
– Pháo binh có chưa ? Kêu về đại bàng Thanh Hoá cứ bắn vào góc thành cho tau.
Ðến chiều vẫn không có một trái pháo bắn, anh em tôi có 7 đã lót đường cho mục tiêu đầu và 3 bị thương nặng. Tôi lên sát Duật và bảo đem cây 57 đến:
– Nhắm ngay vào góc thành, tụi nó bắn rát quá cứ Phơ cho tau, trật trúng gì không cần, chỉ cần tiếng nổ.
Qua một vạt đất trống, trong một ngôi nhà gạch có bóng người lấp ló. Duật quay 57 nhắm thẳng:
– Nhột quá, cho em bung cái nhà này đi.
Tôi bỗng thấy có bóng đàn bà, tôi la lớn:
– Khoan bắn, nhà thầy Tiềm.
Rồi tôi băng qua đám đất trống đến nhà gặp cô và các cháu. Không thấy thầy tôi chào cô và giới thiệu tôi học Sử địa với thầy ở trường Bồ Ðề và khuyên cô về dưới phố. Tôi trở lại vị trí mà lòng nao nao buồn. Giờ này vẫn chưa có pháo, làm sao khóa góc thành đó lại. Duật bảo con cái đào hầm hố thật kỹ, tôi dặn:
– Mày cố thủ tại đây cho Tiểu đoàn lên.
Tôi cùng đám đệ tử lúp xúp chạy đến tiệm hớt tóc để quan sát ngả ba đường và góc Thành Nội. Tôi chợt nghe tiếng đàn bà rên la quằn quại, sau cùng chỉ còn tiếng rên nho nhỏ. Nơi góc quán tối tăm, một người đàn bà máu me khắp nửa phần thân thể, vừa bị thương nặng lại vừa sanh ra một bào thai lờ mờ tượng hình đứa bé, trông giống như con rắn mối. Xót xa, chịu không nổi, tôi ra lệnh đem chôn đứa bé ngay và chuyển người mẹ về đồn Quân Cụ cho bác sĩ Tựu cứu giúp . Ðến đây 13 người chết và 3 bị thương nặng để trải thảm cho đơn vị.
Tối đó, Bộ chỉ huy Tiểu đoàn đến trại Quân Cụ. Sáng hôm sau, Tiểu đoàn trưởng cho Ðại đội 2 của Tôn và Ðại đội 1 của Lượm dưới sự chỉ huy của đại ca Ðã, Tiểu đoàn phó, chiếm nhà Bảo sanh. Ðoạn đường có 30 thước, cách một hồ nhỏ mà phải trả bằng 50 đứa con thân yêu. Sau 8 tiếng đồng hồ mới chiếm được nhà Bảo sanh, Tôn bị thương ngay từ phút đầu, Lộc Ðại đội phó lên thay.
Mười ngày tiếp theo, nhìn nhau qua một con đường rộng vừa đủ cho xe chạy mà hai bên đều khựng. Mưa vẫn rơi ray rức lê thê, thỉnh thoảng cơn gió thật lạnh thổi qua. Có những trận tấn công chớp nhoáng của địch vào Ðại đội của Lượm và Lộc đều bị đánh bật lui. Ngược lại ta cũng nhiều lần cố tràn qua bên kia nhưng không chiếm được thêm một tấc đất. Hai bên tải thương đều thấy nhau rất rõ. Lượm bị hao hụt nặng, Phu Nhân lên thay. Tôi và con cái bò lên từng toán một, địch và ta đã sát nhau, ngóc đầu lên là đạn bắn xuyên mũ sắt ngay. Hơn nửa ngày mới trám hết vị trí của Lượm. Lượm và Tòng về phòng thủ cho Tiểu đoàn. Tối đến pháo địch đủ loại nổ vang trời. Xác chết của anh em nằm trên mặt đường , sình lớn mà không lấy được. Phía bên kia bốn năm xác địch vẫn để yên, tụi nó cũng không dám ra lấy về. Cố giữ đất, giữ vị trí và làm vài cuộc tấn công nhỏ vẫn không qua đường được.
Từ căn nhà hai tầng cuối đường nhìn xéo từ nhà Bảo sanh, một thượng liên và và trung liên nồi của tụi nó kiểm soát con đường rất kỹ, dưới sự chỉ huy của một đứa con gái mặc áo choàng màu xám, tóc xỏa dài nhưng không thấy rõ mặt. Tay đứa con gái chỉ tới đâu thì đạn nổ dồn về hướng đó. Tôi nhắm bắn hai phát M16 nhưng hụt, nó trốn nhanh vào sau cửa và mất luôn.
Hai mươi ngày nằm chịu pháo và bị bắn sẻ, tối nào hai bên cũng rà máy chưởi nhau. Theo dõi máy, đột nhiên tôi bắt được một câu báo cáo của tụi nó:
– Bồ câu hết thóc!
Tôi nghĩ ngay tụi nó đang thiếu đạn. Nếu cứ nằm như thế này,một lúc nào đó tụi nó tập trung tấn công mình cũng bị mất vị trí ngay, chỉ vì áp lực quá nặng nề, tổn thất nhiều, tinh thần anh em quá mệt mỏi. Tôi đi đến kết luận riêng: nếu mình không đánh nó, chắc chắn nó sẽ tấn công mình. Tôi trình với Tiểu đoàn trưởng:
– Thiếu tá cho tôi luôn thằng 2 để tôi tấn công tụi nó. Tôi thấy tinh thần anh em xuống quá và sức khỏe ngày càng hao hụt.
Tiểu đoàn trưởng không cho bắt ráng giữ vị trí. Phu Nhân năn nỉ:
– Nếu không thì cho tôi đột kích, tôi cùng vài toán nhỏ tràn qua đường đánh đột kích rồi rút về. Mình phải chứng minh cho tụi nó thấy mình còn đủ sức chơi tụi nó, thời tụi nó không dám tấn công mình.
Tiểu đoàn trưởng nói:
– Làm kế hoạch xong cho tôi hay.
Tại hầm của tôi anh em đang chờ, họ gồm: Lộc Ðại đội 2, Sự Ðại đội phó của tôi, Duật, Nghênh và Mã Khện. Tôi nói:
– Nằm chờ lâu tau chán quá, chỉ muốn qua đột kích tụi nó rồi rút về.
Tất cả im lặng, tôi tiếp:
– 4 giờ sáng mai mình đột kích. Nếu giữ được vị trí thời tau cho tràn luôn. Bây giờ tau chọn 4 toán: Toán 1: Phán, Ðiểu, Việt, Can, Dư và Phúc mang máy. Toán 2: Duật và 3 người thật nhanh và gan dạ. Toán 3: Nghênh và 3 người. Toán 4: Thượng sĩ nhất Hải và 3 người. Trang bị thật nhẹ: mỗi người 20 quả lựu đạn và hai băng đạn cong ráp ngược cho M16. Sự và Lộc dẫn con cái ra sát bờ đường, khi thấy khói xanh thì lùa tất cả tràn qua. Nếu thấy khói màu vàng, yểm trợ tối đa cho tụi tau dọt về. Sự và Lộc hãy về lo cho con cái, đúng 4 giờ sáng sẵn sàng tại vị trí.
Duật Nghênh và Hải ở lại, tôi nhìn anh em thật lâu rồi cho biết
– Tau theo dõi tụi nó báo cáo qua máy, hình như tụi nó thiếu đạn. Do đó tau quyết định cuộc đột kích hôm nay.
Tôi nghiêm mặt và lạnh lùng nói:
– Hai ông Duật và Nghênh tôi chỉ định phải đi với tôi. Riêng ông Hải, tôi cho ông suy nghĩ lần nữa. Lần này đi khó trở về, ông con cái đông, muốn ở lại vị trí tôi cho phép và tôi hứa rằng tôi không nghĩ là ông thiếu can đảm.
Suy nghĩ một lát, Thượng sĩ Hải trả lời:
– Ðại úy cho tôi ở lại vị trí.
Tôi vui vẻ bằng lòng và gọi Mã Khện đến, Mã Khện đồng ý đi và xin đem theo Hạ sĩ nhất Mười. Tôi tiếp:
– Bây giờ các ông về chọn người xong lên gặp tôi.
Tôi ngồi suy nghĩ miên man, liều, phải liều mới cứu được đơn vị.
Chiều hôm đó, lúc 4 giờ, các toán trưởng lên gặp tôi, có thêm Trung úy Sự. Tôi hỏi lần chót:
– Có ai xin ở lại cho tôi hay.
Không ai trả lời. Tôi căn dặn Sự nhắc Lộc khi thấy khói xanh thì sao và khói vàng thì sao, phải nhớ kỹ. Tôi đưa ba toán trưởng bò đến hầm trú ẩn của nhóm tiền đồn ở sát ngã tư đường. Tôi chỉ từng căn nhà bên kia đường:
– Cái thứ nhất gần ngã tư là mục tiêu của tau, cái thứ hai kế tiếp có hàng rào là của Nghênh, căn thứ ba cũng có hàng rào và cây nhãn cao là của Mã Khện, căn thứ tư có mấy bụi chuối lớn là của Duật. Tất cả hãy quan sát cho kỹ và cố chọn một con đường tiến quân thích hợp, không cần báo cáo miễn sao thích hợp thôi.
Tôi tiếp tục quan sát mục tiêu của tôi. Căn nhà bằng gạch có nhà trên và nhà dưới, kế đó là cầu tiêu xây bằng đá lợp tôn, sát đường là cái giếng xây bằng xi măng. Trước sân có hai cây vú sữa cao và sai trái. Tôi biết phải làm gì để chiếm căn nhà đó. Tôi quay lại nói:
– Lần chót tôi hỏi các ông có ý kiến gì không ? Ðúng bốn giờ sáng mai tôi sẽ chiếm trước, sau đó tùy các ông bằng mọi cách phải hốt cho bằng được các mục tiêu tôi ấn định.
Trở lại vị trí, tôi dặn dò Ðiểu, Việt, Can, Dư và Phúc mang máy:
– Tối nay miễn gác, 3 giờ sáng mai gặp tau ở đây.
Sau đó tôi đi gặp Tiểu đoàn trưởng để trình bày kế hoạch. Ông nói:
– Nguy hiểm quá, không được, chết cả lũ !.
Tôi nói:
– Nếu Thiếu tá không làm bây giờ, một vài ngày nữa tụi nó chỉ cần ho là lính mình chạy hết !.
Cuối cùng ông chấp thuận:
– Nhớ là có gì thì trở về liền, càng sớm càng tốt.
Tôi dạ nhưng trong đầu tôi nghĩ khác. Trước mắt tôi bây giờ không có gì ngoài đoạn đường từ tiền đồn qua cái giếng, lên cầu tiêu, tới nhà dưới rồi chiếm nhà trên. Tôi nằm suy nghĩ triền miên cho đến 3 giờ sáng.
Trước khi bò ra tuyến xuất phát, tôi nhắc Sự và Lộc một lần nữa cho chắc ăn. Bốn giờ kém mười sáng, toán tôi có mặt tại tiền đồn. Trời vẫn mưa, mưa xứ Huế có dư âm cái lạnh của ngày Tết. Trời tối không thấy gì, tôi ngại bắn lầm nhau. Gắng chờ một chút nữa, đến 5 giờ sáng mưa vẫn không tạnh, trời vẫn tối mù. Năm giờ rưỡi, cái giếng đã nhìn thấy được. Chuẩn bị ! Tôi cảm thấy hồi hộp. Chỉ cần bốn cái nhảy vọt là qua bên kia đường nhưng khó như đi lên trời vì con đường này là con đường tử thần làm ranh giới bên ta và địch, là hai mươi ngày trời không nuốt nổi 5 thước đất. Rách nát bao nhiêu cũng vẫn không qua được. Bây giờ mình cắt băng khánh thành, phải làm để cứu đơn vị, phải hy sinh để cứu đồng đội. Vừa suy nghĩ xong, tôi phóng vụt qua ôm bờ giếng. Kế tiếp là Ðiểu, Việt, Can, Dư băng theo. Tất cả ngồi ôm thành giếng, mồ hôi ra như tắm mặc dù trời lạnh như cắt. Ðiểu và Can chiếm cầu tiêu. Bỗng một loạt đạn thật giòn và thật gần, tôi quay nhìn ra đường. Phúc và cái máy nát mình nằm trên mặt đường nhựa, dưới làn đạn mịt mùng của địch. Tôi hét lớn:
– Dư, Việt chiếm nhà bếp.
Tôi theo sát lên cầu tiêu bên cạnh Ðiểu và Can. Súng và pháo nổ dồn dập, một B.40 nổ ngay trên đầu mái tôn cong, cả ba thầy trò đều bị miễng nhỏ đâm đầy mặt, tóc râu và lông mày đều bị cháy. Cầu tiêu nhỏ quá nên tôi cùng Ðiểu và Can lên nhà bếp. Tôi ra lệnh:
– Ðiểu và Dư chiếm nhà trên, lục soát thật kỹ. Ðể Việt ở lại, tôi và Can cũng lên nhà trên. Ðiểu và Can giữ cửa chính nhìn ra sân, tôi và Dư giữ cửa sổ nhìn ra vườn có nhiều luống khoai lang.
Trời sáng hẳn, tôi lắng tai chẳng nghe nhà bên cạnh có gì cả bèn bò trở ra bờ giếng và thấy Duật, Nghênh, Mã Khện vẫn còn bên kia đường. Tôi toát mồ hôi. Tôi nhìn thẳng vào mấy ổng rất nghiêm và lấy ngón tay ngoắc. Tôi không dám gọi lớn tiếng, mấy ông kia gật đầu. Tôi bò trở lên nhà trên. Lựu đạn, súng nhỏ, súng lớn nổ khắp nơi và nhất là bên phía tay mặt tôi. Tôi biết rằng tụi tôi đã băng được qua đường. Tôi hỏi khẽ:
– Thấy gì không Dư ?.
Dư lắc đầu, tôi nghe tiếng thì thào sát vách tường phía ngoài. Tôi đoán khoảng 7-8 người đang ở trong một cái hầm, tôi dùng ngón tay đẩy nhẹ cửa sổ. Một loạt đạn từ phía nhà đối diện xuyên ào ào vào cửa sổ. Bỗng Dư chỉ tay về phía các luống khoai, tôi đếm đủ 11 người đang bò qua, kaki Nam Ðịnh, súng AK và B.40, cách vách tường khoảng 20 thước, 15 thước rồi 10 thước. Tôi đưa súng lên lên định bóp cò thì Dư kéo lại và ra dấu đừng bắn, dùng lựu đạn. Tôi dựng cây súng xuống thật nhẹ, hai tay rút hai trái lựu đạn miệng cắn chốt. Dư cũng thế, bốn lựu đạn ném ra cùng lúc, tiếng nổ xé trời, rồi bốn trái tiếp theo. Bên ngoài tường, tiếng hét lớn rồi tiếng rên và sau đó im lặng, tụi còn lại bò sát vào chân tường. Nhìn ra cửa, 5 xác nằm vắt trên luống khoai. Một loạt đạn nổ và tôi nghe:
– Chết em, Ðại uý!.
Tôi sững sờ nhìn Dư, tay trái ôm ngón út của bàn tay mặt đầy máu, ruột của Dư đổ ra lòng thòng. Dư ngã vật ra chết tại chỗ, nơi Dư đứng có một lỗ hổng nhỏ ở vách tường. Vì mãi nhìn qua cửa sổ mà không để ý ở phía dưới: nguyên một họng AK thọc qua lỗ tường để sát bụng Dư mà nhả đạn. Tôi bắn một loạt M16 ra cửa sổ, và cứ thế hết quả này qua quả khác tôi ném tất cả lựu đạn của tôi ra ngoài bờ tường. Hai thằng em đã hy sinh, còn bốn thầy trò phải giữ vững vị trí. Phía bên tay phải của tôi, súng vẫn nổ dữ dội. Ðến 10 giờ 30 sáng tôi cho Ðiểu liên lạc với Nghênh, Duật và Mã Khện. Ðiểu băng người ra đi, bốn căn nhà cách nhau mười phút đi bộ mà hơn một tiếng đồng hồ sau Ðiểu mới về báo cáo là tất cả đã chiếm được mục tiêu. Có đoạn đường nào xa và xấu hơn đoạn đường tôi đang đi ! Toán Duật: một chết một bị thương. Toán Mã Khện: hai chết. Toán Nghênh một chết một bị thương. Tất cả là 6 chết 2 bị thương, chúng tôi còn lại 11 người tại tuyến.
Ðiểu bò ra giếng cố đem qua cho tôi một cái máy. Cột máy vào một đầu dây và quăng đầu dây kia qua cho Ðiểu kéo. Can mờ máy liên lạc với Tiểu đoàn:
– Trình đại bàng, tôi sẽ cho tràn ngập vị trí với thằng 2 của Lộc và thằng 3 của tôi.
Ðại bàng hỏi:
– Tại sao từ sáng đến giờ không chịu liên lạc với tôi? Tôi ra lệnh rút về ngay.
Phán nài nỉ:
– Ðây là dịp may, tinh thần anh em đang lên, tôi xin đại bàng cho làm luôn !.
Ðại bàng Thanh Hóa nói bằng bạch văn không ngụy trang:
– Nếu anh không rút về, tôi sẽ đưa anh ra tòa án quân sự.
Khí giận bừng bừng, tôi tắt máy không trả lời, trên tay vẫn cầm trái khói xanh. Suy nghĩ thật kỹ ! Suy nghĩ thật kỹ ! Hơn mấy giờ để đánh mục tiêu, bốn căn nhà và một con đường ngập máu. Mưa vẫn lạnh như cắt da và mồ hôi vẫn ra như tắm. Cuối cùng tôi đành bảo Ðiểu chuyển lệnh cho các toán:
– Rút về ngay, mạnh toán nào rút toán nấy, không chờ đợi. Mang thương binh theo, xác chết bỏ lại.
Năm thước đường đi đã khó, về còn khó hơn. Mỗi bóng người nhúc nhích là đạn nổ hàng loạt, liên hồi, đạn bắn chéo bao phía, đan lưới thật dày trên mặt đường và khắp vị trí. Làm sao trở về đây ! Con cái bên kia đường đưa mắt theo dõi. Toán tôi bò ra giếng, bỗng mấy bóng đen vụt qua đường như sao xẹt, nhào vào bờ lề và được anh em kéo ra sau. Ðạn nổ dòn tan cày nát mặt đường. Ðây là mấy đứa bị thương nặng, tưởng là di chuyển không nổi, nhưng khi nghe lệnh rút chúng thu hết tàn lực vùng chạy về, chớp mắt không kịp thấy.
Hỏa lực 3 phía nổ vùi vào vị trí chúng tôi. Các toán đột kích không còn liên lạc với nhau. Ðiểu và Can vẫn giữ căn nhà. Ðịch kiểm soát con đường bằng mấy cây thượng liên và trung liên, chúng bắn liên miên. Bên kia đường, Sự và Lộc đáp lễ bằng hỏa lực cơ hữu của Khăn tím và của 2. Tôi lấy chân đạp vào thành giếng phóng người băng qua đường, lăn mình, nhảy, chạy và té ào vô bờ lề. Anh em kéo vội tôi ra sau, tôi dừng lại bảo Lộc và Sự bắn từng loạt một để tụi nó dọt về. Nhìn thấy Việt ngồi thành giếng trố mắt ngó về mà tội nghiệp. Sống và chết cách nhau có một con đường. Tôi hồi hộp xót xa cho mấy thằng em. Tôi vừa quay mặt hét:
– Bắn kềm mấy cây thượng liên, Những bóng người bay vọt qua đường. Tim tôi thắt lại, đạn nổ mịt mù. Lần lượt tôi gặp Nghênh, Duật, Mã Khện và tất cả anh em. Tôi ôm ghì từng đứa, tụi nó còn sống cả. Can và Việt nhào đến ôm tôi một cách dữ dội mà đậm đà trìu mến. Lính với tay sờ người, nắm nhẹ áo tôi: Ðại úy, tóc và râu Ðại úy cháy hết rồi, mặt bị dăm nhiều chỗ. Cả Ðại đội bất chấp đạn địch, đứng dậy nhìn nhau hãnh diện và sung sướng. Tôi báo cáo Tiểu đoàn:
– Tất cả đã về vị trí.
Bỗng tôi thấy thiếu một cái gì, tôi nhìn Can và Việt hỏi:
– Thằng Ðiểu đâu ?.
Tụi nó nói:
– Lần cuối cùng em thấy nó vừa khóc vừa chạy lung tung tìm xác Ðại úy ở bên ấy.
– Thôi chết tau rồi, tau phải cứu nó, hai thằng bây theo tau.
Tôi, Can và Việt bò trở ra đường. Bỗng nhiên một bóng người nhảy qua khỏi hàng rào, nhảy qua khỏi miệng giếng, phóng nhanh qua đường, nhào lăn rào rào vào vị trí và la lớn:
– Ê, tụi bay thấy anh Hai đâu không?.
Ðiểu đứng dậy nước mắt đầm đìa, tôi lao đến ôm Ðiểu:
– Tau định qua kiếm mày đây !.
– Trời anh Hai, tụi nó nói anh Hai chết rồi. Em đi lục hết căn nhà mấy chục lần, chỉ không dám ra ngoài hè mà không thấy xác anh Hai đâu. Hôm trước Mạ có dặn nhỏ với em, phải sát bên cạnh anh Hai, nếu có gì cũng phải nhớ đem anh Hai về cho Mạ..
Tóc tai mặt mày râu ria Ðiểu cháy nám, áo quần rách bươm, nó khóc mùi mẫn vì thấy tôi còn sống. Rồi nó lại bẻn lẻn cúi đầu hai hàng nước mắt lã chã giọt xuống đất. Trong một cuộc chiến bạc bẽo lại có chút tình nghĩa trao nhau qua mấy giọt nước mắt nóng hổi.
Sáu giờ chiều, xuống trình diện Tiểu đoàn trưởng, ông nói ngay:
– Ông làm những chuyện nguy hiểm quá, lỡ kẹt bên đó thì nói làm sao với Lữ đoàn ?
Tôi dạ dạ vâng vâng cho qua rồi nghiêm mặt đề nghị:
– Thưa Thiếu tá, ngày mai cho tôi tấn công, tôi tin chắc sẽ tràn ngập vị trí tụi nó. Cho tôi thêm thằng 2 của Lộc, để thằng 1 của Lượm đi sau thu dọn chiến lợi phẩm. Chỉ xin Thiếu tá cho tôi hai chiếc tank kèm hai bên hông của tôi.
Ông hỏi:
– Có chắc ăn không Phán ?.
Tôi cương quyết:
– Chắc, và nếu tràn được vị trí Thiếu tá cho phép tôi đánh thẳng lên Kỳ Ðài nếu kịp thời gian.
Tôi theo Tiểu đoàn trưởng lên trình ông Già Hự, Ðại tá Yên Tư lệnh phó. Ông già chấp thuận.
Tôi trở về họp các Trung đội trưởng: Ngày mai, 8 giờ sáng, Ðại đội 3 Khăn tím bên trái, Ðại đội 2 của Lộc bên phải, dàn hàng ngang lấy con đường lên cửa Sập làm chuẩn tiến song song. Sau khi hai chiếc tank yểm trợ bằng hỏa lực xong, cả hai Ðại đội xung phong tràn ngập vượt qua mỗi chốt thật nhanh, không cần thâu lượm chiến lợi phẩm, để cho Ðại đội 1 đi sau làm chuyện đó. Tất cả ba lô và đồ ăn để lại, trang bị thật nhẹ. Khi tới xóm nhà sát cửa thành thì dừng lại chờ tôi.
Ðúng 8 giờ sáng ngày hôm sau, dàn quân, hai chiếc tank Ontos hạng nặng tiến lên, mỗi chiếc trang bị 6 cây đại bác 106 ly. Tôi chỉ vị trí tác xạ cho hai trưởng xa người Mỹ rồi ra lệnh khai hỏa. Hy vọng 12 cây 106 ly này sẽ san bằng mục tiêu trước mặt cho con cái tôi được dễ dàng đôi chút. Nhưng mỗi chiếc tăng chỉ bắn một phát đạn duy nhất rồi chạy lùi biến mất, không biết chạy về đâu. Tôi hết hồn, quân đã dàn xong, bắt buộc tôi phải ra lệnh xung phong. Tôi hét thật lớn, hét khản cả cổ:
-XUNG PHONG!
Cả một đoàn quân dàn hàng ngang, không một ai nhúc nhích. Con đường trước mặt, con đường của 21 ngày máu và nước mắt, con đường tráng nhựa đẹp đẽ nhưng băng qua là đi vào cõi chết. Tôi tức giận chửi thề lung tung rồi chụp cây đại liên M.60 của người lính bên cạnh bắn một loạt dài rồi một mình tôi vừa bắn vừa băng qua đường cùng với toán cận vệ: Can , Việt, Ðiểu và hai thằng mang máy. Qua khỏi đường xông tới trước, tiếng đại liên của tôi nổ dòn. Ðúng lúc ấy cả đoàn quân đồng thanh hô xung phong và ào qua đường. Sau đó, đoàn người vượt nhanh qua mặt tôi và lướt tới trước. Súng nổ vang rền, đoàn quân tiến đều, M16 bắn vãi vào chốt, lựu đạn ném vào chốt, đạp chốt, bang chốt, lướt qua, cố giữ đội hình. Tiếng nổ inh tai liên tục, đàn áp thật mãnh liệt và chạy tới trước. Ðến 3 giờ chiều, chúng tôi đến xóm nhà sát cửa Sập.
Lính vỗ vai nhau cười làm tôi bắt cười lớn vì xóm nhà này rất quen thuộc với họ. Lính thường hay đến xóm này rồi về kể nhau nghe con này đẹp, con kia chân dài, con nọ… Nào khăn, nào thau vứt bừa bãi khắp nơi. Lính vui vẻ kể chuyện tục cho nhau nghe và hồn nhiên đùa nghịch. Những tiếng cười đầy ham muốn và thèm thuồng, hơn 40 ngày, từ vùng 4 về giải tỏa Sài Gòn rồi ra đây, không thấy mặt một người đàn bà, chỉ thấy toàn máu và mồ hôi.
Tôi ra lệnh:
– Lộc và Sự mỗi ông cho một toán 10 người băng thật nhanh đến áp sát mặt thành xong ngồi xuống. Toán kế tiếp chạy đến leo lên vai toán thứ nhất để toán này đồn đồn lên thành. Khi bám được mặt thành thì tác xạ tối đa và bằng mọi cách giữ vị trí để làm đầu cầu.
Con cái tôi hành động đẹp còn hơn tài tử xi nê. Tiếng đạn lớn nhỏ nổ rền, hai toán lên thành chiếm xong vị trí. Tôi cho tất cả con cái đem bàn ghế ra chất sát tường và leo lên ngay. Tiếng đạn và pháo địch vẫn mãnh liệt trên nóc thành, phải khóa lại. Một chặng đường xương máu đã vượt qua, bây giờ mục tiêu chính, mục tiêu của niềm hãnh diện, mục tiêu của ơn sâu và nghĩa nặng: Kỳ Ðài Huế. Ðây là nơi tượng trưng cho linh thiêng của dân tộc nói chung và cho Huế nói riêng. Duật và 20 người tiến chiếm 6 cây súng thần công to lớn, từ đó Duật dùng hỏa lực kềm địch ở cửa Ngọ Môn, yểm trợ cho Nghênh và Mã Khện chiếm Kỳ Ðài. Ðịch bắn trả. Con cái tôi dùng hỏa lực tối đa và thần tốc tiến vào Kỳ Ðài. Phản ứng của địch bắt đầu yếu, 5 giờ 12 phút chiều, màu áo rằn ri Thủy Quân Lục Chiến đã làm chủ Kỳ Ðài. Lá cờ xanh đỏ sao vàng đầy hận thù còn ở trên không. Một thằng lính rút đâu trong người ra một lá cờ vàng ba sọc đỏ thật lớn. Tôi gọi về Tiểu đoàn:
– Tất cả đã sạch sẽ , xin Thiếu tá cho tôi treo cờ.
Tôi nhớ rõ lệnh của Trung tướng Lê Nguyên Khang:
– Một người lính Thủy Quân Lục Chiến duy nhất còn sống sót cũng phải dựng lại cho được ngọn cờ vàng tại Phú Vân Lâu.
Trong niềm vui sướng cùng tột , Hạ sĩ Hạnh hét lớn: Thủy Quân Lục Chiến ! Xong lấy trái hỏa châu đập mạnh định bắn pháo bông lên trời ăn mừng. Trong cơn say chiến thắng, Hạnh xoay ngược đầu hỏa châu vào mình, hỏa châu nổ xuyên bụng. Hạnh cười tươi:
– Em không sao Ðại úy!.
Phán nghĩ thằng em này tỉnh táo quá, chắc nó chết. Và nó chết thật.
Tiểu đoàn trưởng bảo Phu Nhân giữ đầu máy chờ. Sau này tôi được nghe: Khi báo cáo về Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1, Chuẩn tướng Trưởng xin Thủy Quân Lục Chiến dành vinh dự treo cờ cho Sư đoàn 1. Sáng hôm sau ngày 24/2 Phạm Văn Ðịnh dẫn một đơn vị của Sư đoàn 1 từ cửa Thượng Tứ lên làm lễ thượng kỳ.
Nhìn lá cờ vàng phất phới trên nền trời màu xám của Huế, tôi hãnh diện thật sự vì một thằng con của Huế đã góp phần dựng lại ngọn cờ này. Trung úy Sự trình tôi:
– Thằng Hạnh chết, mình còn 67 người.
Ðại đội ra đi hơn 17O người, sau 24 ngày và sau bao nhiêu lần bổ sung quân số, chỉ có 3 mục tiêu: con đường, cửa Sập và Kỳ Ðài mà bây giờ tôi chỉ còn lại 67 người.
Sáng hôm sau tôi về phối trí đóng quân lục soát ở khu vực cửa Ðông Ba, Nhà Thương Nhỏ, chợ Xép, ngã tư Anh Danh. Bộ chỉ huy của tôi đóng tại một tiệm cầm đồ, tiệm này có Tôn và Lưu cùng học một lớp với tôi hồi nhỏ. Trong nhà không còn ai cả. Chiều hôm đó tôi gặp lại rất nhiều bạn bè cũ. Tình hình chưa được an ninh hoàn toàn nhưng đóng ở đây chúng tôi nhẫn nha hơn trước nhiều. Tôi đi kiểm soát các vị trí và cho lệnh lục soát tàn quân địch. Lính canh bắt giải tới một người đàn ông lớn tuổi, gầy ốm ăn mặc lếch thếch, áo vét nhàu rách, tóc tai rối bù và dơ bẩn, miệng nói lí nhí.
– “Lệnh giới nghiêm, đã 11 giờ đêm sao ông này còn lang thang trên hè phố, em nghi quá,” Người lính nói.
Tôi sững sờ nhìn người đàn ông. Thầy Cao Hữu Triêm!
– Trời ơi Thầy!.
Tôi gọi mấy tiếng lớn mà thầy cũng không nghe, thầy tiếp tục lẩm bẩm rất nhỏ. Tôi cầm tay mời thầy ngồi:
– Con là học trò cũ của thầy đây.
Một ánh mắt lạc lỏng xa vời:
– Ờ, ờ sao con khỏe không ? Thầy mấy ngày ni chưa ăn chi cả.
Lính tôi kiếm cơm trắng và một đĩa gà luộc về mời thầy xơi. Tụi nó còn kiếm được một bình trà nóng mời thầy. Sau một hồi thầy tỉnh táo, và cho biết: cô và sắp nhỏ vào Ðà Nẵng, thằng con lớn bị chết rồi, thầy không muốn về nhà nữa. Rồi thầy khóc, giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo.
– Thôi thầy ở đây với con cho yên, tôi nói.
Lính của tôi thay nhau hầu hạ thầy ân cần, đến ngày thứ tư thầy đòi đi, tôi thu xếp để thầy vô Ðà Nẵng. Từ đó, tôi mất tin tức của thầy. Cầu mong thầy được bằng an.
Ðược sinh ra và lớn lên ở Huế, tôi cố trả một phần nào chữ Hiếu cho nơi chôn nhau cắt rún. Máu của tôi, của anh em tôi, của đồng bào tôi đã tạo thành một cơn sóng thần cuốn đi tất cả kẻ thù để dựng lại ngọn cờ trên Kỳ Ðài tượng trưng cho Huế. Hai mươi năm sau, hồi tưởng lại, máu và xương kia đã theo giòng Hương giang cuốn tôi và bằng hữu ra biển bắt làm người biệt xứ. Lạy trời, một ngày nào đó, cũng Cố Ðô đó, cũng Kỳ Ðài đó, cho tôi được góp phần dựng lại ngọn cờ một lần nữa để đền đáp ơn sâu và nghĩa nặng, nơi tôi đã sinh ra, nuôi tôi lớn lên và cho tôi làm người.
MX Nguyễn Văn Phán
nguồn: dongsongcu.wordpress.com

Melbourne: Diễn hành Ngày Quốc Khánh Úc – Australia Day 2018

Melbourne: Diễn hành Ngày Quốc Khánh Úc – Australia Day 2018

Hãnh diện là công dân Úc gốc Việt, hàng năm CĐNVTD/VIC tham gia đoàn diễn hành không chỉ để chào mừng Ngày Quốc Khánh mà còn để bày tỏ lòng biết ơn đối với người dân và đất nước Úc đã mở rộng vòng tay tiếp đón và cưu mang người Việt tỵ nạn.

Để cùng chung vui Ngày Quốc Khánh Úc, CĐNVTD/VIC với màu cờ sắc áo, với phần đóng góp của nhóm múa AVA (Autralian Vietnamese Arts Inc.) trong y phục truyền thống, mang bản sắc dân tộc – áo dài khăn đóng, đã cùng với nhiều hội đoàn, đoàn thể, cộng đồng sắc tộc bạn tạo nên một tấm tranh “mosaic” với những nét đẹp muôn màu của nền đa văn hoá Úc Châu.

CĐNVTD/VIC với màu cờ sắc áo …

Một sự ngẫu nhiên, đoàn diễn hành CĐNVTD/VIC, với lá Cờ Vàng, đi ngang qua trạm xe lửa Flinder vào đúng giờ ngọ – trạm xe lửa Flinder, có lối kiến trúc thời “Edwardian”, là trạm chính và cũng là một địa danh của thành phố Melbourne.

Đoàn diễn hành CĐNVTD/VIC, với lá Cờ Vàng, đi ngang qua trạm xe lửa Flinder vào đúng giờ ngọ

Trong đoàn diễn hành của CĐNVTD/VIC, đặc biệt có bác Điền Phong với biệt danh “Con Thuyền Không Bến”, năm nay tuy bác đã được 96 tuổi, da mồi tóc bạc, đi đứng không vững nhưng đã tự một mình dùng phương tiện di chuyển công cộng để đi đến địa điểm tập trung và vui vẽ đi bộ cùng đoàn diễn hành trên một đoạn đường dài (đi và về) trên 3 cây số (3 cây số đối với một người lớn tuổi, phải chống gậy mà đi, trời lại nóng bức … là cả một sự cố gắng vượt bực). Về phía phụ nữ thì có dì Sinh, 84 tuổi, trừ những lúc “trái gió trở trời” (uống thuốc nhiều hơn ăn) hầu như lúc nào dì cũng có mặt trong các sinh hoạt của Cộng Đồng. Tinh thần của các vị cao niên như dì Sinh, bác Điền Phong là cái gương sáng để cho thế hệ các con cháu hãnh diện noi theo.

Bác Điền Phong (96 tuổi) và dì Sinh (84 tuổi)

Sau khi cuộc diễn hành vừa chấm dứt, cũng trên con đường Swanton, đã đổ ra một cuộc biểu tình chống đối, đòi dời Ngày Quốc Khánh Úc (26/01). Cách đây chưa đầy 1 giờ đồng hồ, cũng trên quãng đường này, đã có hàng chục ngàn người đứng hai bên đường phất cờ Úc, vỗ tay, reo hò, hoan hô đoàn diễn hành chào mừng Ngày Quốc Khánh Úc thì bây giờ lại có hàng chục ngàn người tham gia cuộc biểu tình với lá cờ người Thổ Dân trên tay, đưa cao những biểu ngữ “Change The Date”, “Abolish Australia Day”,… Cuộc biểu tình đã được cảnh sát dẫn đường và bảo vệ trật tự – một hình ảnh quen thuộc trên một đất nước dân chủ, tự do, khi quyền con người, nhất là quyền tự do ngôn luận luôn luôn được tôn trọng và bảo vệ mặc dầu có nhiều khi những sự chống đối, đòi hỏi của người dân đi ngược lại chánh sách của chính phủ, quyền lợi của quốc gia.

“Change The Date”, “Abolish Australia Day”

Chống đối và đòi dời Ngày Quốc Khánh Úc (26/01) là một vấn đề đang gây ra nhiều tranh cải đã được đảng Xanh (Greens) vận động đòi thay đổi ngày tổ chức Quốc Khánh Úc với lý do đưa ra là để tạo nên sự đoàn kết (brings the country together). Vì cho rằng ngày 26/01 là một ngày gợi lại những nổi đau của người Thổ Dân – là một ngày mà đất nước của người Thổ Dân bị xâm chiếm (Invasion Day), rồi người Thổ Dân bị tàn sát, bị diệt chủng (Genocide), là một ngày tang tóc (Day of Mourning) đối với người Thổ Dân.

Trong khi đó thì nhiều chính trị gia cho rằng ngày Quốc Khánh Úc 26/01 là một phần quan trọng của lịch sử Úc Châu, là ngày mà dân chúng ăn mừng những thành công to lớn của một quốc gia dân chủ, tự do, phong phú và đa dạng. Và Thủ Tướng Úc, Malcolm Turnbull, đã tỏ ra thất vọng khi có nhiều người dùng ngày này (26/01) để gây chia rẽ thay vì tạo nên sự đoàn kết trong quần chúng.

Tưởng cũng cần nhắc lại là vào ngày 13 tháng Hai, 2008, Thủ Tướng Úc lúc bấy giờ, ông Kevin Rudd, đã lật sang một trang sử mới khi chính thức lên tiếng vinh danh và xin lỗi người Thổ Dân về những sự đối xử tàn tệ trong quá khứ, về những điều luật, những chính sách của chính phủ Úc đã gây nên bao đau thương và mất mát cho người Thổ Dân. Không chỉ nhìn nhận những lổi lầm ông còn hướng tới tương lai với nhưng thay đổi để xóa dần đi những bất công, những sự phân biệt chủng tộc, những khoảng cách về cuộc sống trong xã hội (https://www.australia.gov.au/about-australia/our-country/our-people/apology-to-australias-indigenous-peoples).

Một xã hội đa văn hóa, đa dạng trong một thể chế tự do, dân chủ, luật pháp công minh với một chính phủ can đảm, sáng suốt và bao dung sẽ tạo nên sự đoàn kết trong dân chúng đó chính là nguồn sức mạnh của một quốc gia.

Melbourne
26/01/2018

nguồn: lyhuong.net

Nhìn y phục, biết nô lệ

Nhìn y phục, biết nô lệ

Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) – Nếu như nhìn người lính qua bộ quân phục là biết tư cách của họ, nhìn vào y phục những vị lãnh đạo một quốc gia, người ta có thể nhận ra ngay họ đang “trị quốc bình thiên hạ” với một tinh thần độc lập hay là bằng tâm thức nô lệ ngoại bang.
Trước khi ngắm y phục “bác” và các “chú” lãnh đạo “khai quốc công thần” lập ra nước CHXHCNVN hôm nay, thiển nghĩ, cũng nên lướt qua vài hình ảnh của anh lính “ngụy” và của các chú Bộ đội cụ Hồ thứ thiệt dưới đây, để “nhìn quân phục, biết tư cách” của họ thế nào.
Hai anh lính VNCH đứng hiên ngang trước Chợ Đà Lạt, 
thuở chưa bị “phỏng hai hòn”.
Hai chú Bộ đội Cụ Hồ ngồi chò hỏ giữa chợ Sài Gòn 
mà họ vừa “phỏng” được, hồ hởi phấn khởi 
mua đồ “Địt” mang về Bắc làm quà “đại thắng”.
Mừng Đại thắng Mùa Xuân
Quân ta trở về Bắc
Lưng oằn chiến lợi phẩm 
“Bác cùng (chúng) cháu hành quân”
Bàn đến quân phục của các “cháu” mà không nhắc đến y phục của “bác” và các “chú” lãnh đạo là phản động, là thù địt, là âm mưu chống phá tổ quốc xhcn. Nên (tác giả) phải động chuột mổ cò, gõ cửa Giáo sư Gu Gồ để hỏi thăm tình hình ăn mặc của cha già DT và các đồng chí lãnh đạo tối cao thời kỳ Kách Mạng chưa mở cửa để hít ha mùi Tư bản Đế quốc, bỏ Đồng Rúp ông Liên Xô để núp Đồng Đô thằng Mỹ.
Dưới đây là hình “bác” Hồ và “chú” Đồng trong y phục theo “xì tai” ông nội Mao Xếnh Xáng:
Và dưới đây là hình Cha già DT trong quân phục Giải phóng quân Trung Quốc khi “Người”-Thiếu tá Hồ Quang- thi hành nghĩa vụ quân sự tại mẫu quốc:
Còn dưới đây là cha già DT trong y phục “xì tai” lai ông nội Xít Ta Lìn khi “Người” đang ở bên trời Tây:
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thư ở Paris (7-1946)
 
Ông nội Xít-ta-lin của Tố Hữu
Trong khi Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, ông Ngô Đình Diệm thường mặc quốc phục Việt Nam trong những dịp lễ lớn hay đón quốc khách, công du nước ngoài… chứng tỏ tinh thần độc lập:
Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm trong chuyên công du Úc năm 1957
 
Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm tiếp Quốc vương Thái Lan, năm 1960
Thì trái lại bác Hồ và các chú lãnh đạo Miền Bắc XHCN luôn luôn trong bộ “đại cán” y chang bác Mao, bác Xít thể hiện “bản lãnh” nô lệ Nga Tàu.
Nói theo lời bác Hồ dạy thì, Sông có thể cạn núi có thể mòn, nhưng sự thực trên đây không thể cãi chầy cãi cối, ăn gian nói dối được. Rõ ràng là như thế rồi còn gì nữa. Chỉ cần vắn tắt:
Nếu không nô lệ Nga, “bác ta” đã không theo chỉ thị của Xít Ta Lin lập nên Đảng Cộng Sản Đông Dương, để Xích hóa các nước thuộc khu vực này trong đó có VN.
Nô lệ Nga đến nỗi, khi hay tin Xít Ta Lin chết, nhà thơ đại thiên tai Tố Hữu, giữ chức Giám đốc Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Phủ Thủ tướng của Phạm Văn Đồng lăn đùng ra khóc vật vã hơn cha chết mẹ chết qua bài thơ “Khóc Xít-ta-lin” trứ danh “nâng bi”
Nếu không nô lệ Tàu, cha già DT đã không thi hành triệt để chỉ thị của “Mao Chủ tịch không bao giờ sai” tàn sát hàng trăm ngàn đồng bào vô tội qua Phong trào Cải Cách Ruộng Đất, chiến dịch Đấu Tố, để rồi phải ăn năn khóc hu hu, mặc dù với nước mắt cá sấu.
Nô lệ đến nỗi dâng biển đảo cho kẻ thù xâm lăng truyền kiếp, dâng một cách chính thức bằng Công hàm Ngày 14 Tháng 9 Năm 1958 Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký theo lệnh Chủ tịch nước Hồ Chí Minh.
Truyền thống nô lệ do “bác” và các chú “tiền bối Cách mạng” đã có công gieo mầm tám mươi năm trước nay đã bám rễ, phát huy tưng bừng hoành tráng, đã thăng hoa thành sao, “bà nhập” vào cờ Tàu phất phơ trên tay các cháu nhi đồng vốn mang dòng máu Bà Triệu Bà Trưng, nhưng đứng trên đất Thăng Long mà hồn các cháu thì biết “ở đâu bây giờ”, trong khi bác Cả Lú ôm chặt vai bá sáp cổ người thừa kế vĩ đại Mao Chủ tịch, ông thầy sẵn đầy tư tưởng mà bác Hồ chỉ cần há mồm ra chờ mớm cho (chẳng hạn như phải “Bác” phải về kiếm cho ra 5% dân làng là “địa chủ ác ghê” đem ra mà đấu tố, tịch thu tài sản, giết hoặc tù đày).
Tinh thần nô lệ đã “đi vào hồn” chẳng phải “không tên” (Buồn vào hồn không tên), tinh thần nô lệ đã đi vào hồn những tên Cộng Sản đang nắm vận mệnh Tổ quốc Việt Nam khiến chúng đang làm tay sai đắc lực cho quan thầy trong chủ trương đồng hóa dân tộc vào dòng Đại Hán. Những bản án phi lý nặng nề, những đàn áp khủng bố công khai lẫn trá hình đều sẵn sàng nhắm vào bất cứ “đối tượng” nào đụng đến mưu đồ, hành vi xâm lăng của Tàu Cộng, khiến người Dân Việt phải cất tiếng hỏi “Việt Nam Tôi Đâu?”
Nhìn y phục, biết nô lệ. “Cha già dân tộc” đã anh dũng vứt đi Quốc phục Việt Nam, tròng cổ vào đồ “Đại Cán” (của Tàu CS) cho đến hơi thở cuối cùng. Để ngày nay, nhờ “sống, học tập, làm theo gương bác Hồ”, các chú lãnh đạo đất nước, đứng đầu là Đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng, phát huy tinh thần Bác Hồ tự tròng cổ vào đồ “Đại Cán”. Các chú đang ra sức cực kỳ năng nổ để tròng cổ Dân Việt vào vòng nô lệ Đại Hán.
“Con đường từ “đại cán” Hồ Chí Minh đến Đại Hán chẳng quang vinh gì, tất nhiên, nhưng nó đã “ngốn” hàng triệu sinh linh Dân Việt hai miền Nam Bắc.”
17.01.2018

Người Việt đang từ bỏ quê hương

Người Việt đang từ bỏ quê hương

Nguyệt Quỳnh

Cứ mỗi năm cuộc tranh giành quyền lực ở cấp lãnh đạo thượng tầng lại lặp đi lặp lại, và càng ngày mức độ càng gay gắt. Tôi tự hỏi không biết các vị lãnh đạo có từng bao giờ quan tâm để nhận biết ra rằng từ lâu nhiều người dân Việt Nam đã thầm lặng bỏ nước ra đi!

Điều đáng giật mình là – ngày nay người ta rời bỏ quê hương mình không một chút vấn vương luyến tiếc. Quê hương là nơi chốn thiêng liêng, nơi thân thuộc, nơi có cha mẹ, anh em, bằng hữu, có cả một trời thơ ấu; nhưng vì sao người VN lại tìm mọi cách để rời bỏ đất nước mình?

Bốn mươi năm trước, người ta buộc phải dứt áo ra đi, buồn thắt ruột khi phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn. Thi sĩ Luân Hoán có bốn câu thơ nhớ quê đến nao lòng:

Trông ra cửa kính trời mưa tuyết
Ngó lại mình đang ngồi bó tay
Quê hương nhắm mắt như sờ được
Sao vẫn buồn xo đến thế này?

Nếu như ngày xưa, người Việt tị nạn lìa xa quê, nhớ từng chiếc lá me, từng cành phượng vĩ, thương từng viên ngói vỡ, bóng con chim se sẻ trước hiên nhà; thì ngày nay, người giàu cũng như nghèo, ngay cả con cái các quan chức nằm trong bộ máy chính quyền cũng tìm mọi cách để rời bỏ đất nước, ra đi không cần ngoái đầu nhìn lại.

Trong cuộc họp tại văn phòng Quốc hội ngày 29 tháng 12 vừa qua, bàn về tình trạng các du học sinh cấp phổ thông trung học và đại học sau khi tốt nghiệp không trở về; Thứ trưởng Nội vụ Nguyễn Duy Thăng đã nhìn nhận với các đại biểu Quốc hội rằng: “Tôi nghĩ con em nhiều người ngồi ở đây cũng không về. Cá nhân gia đình tôi cũng vậy, 2 đứa không về.”

Vì đâu có tình trạng này? Chiến tranh, nghèo đói cũng không làm người ta rời bỏ quê hương mình. Chỉ mới ngày nào, khi cuộc chiến biên giới bùng nổ vào năm 1979, hàng hàng lớp lớp thanh niên ưu tú sẵn sàng viết đơn bằng máu để xin ra chiến trường. Dù khó khăn, gian khổ người ta vẫn gắn bó, vẫn hãnh diện về dân tộc mình. Tôi nhớ có lần đọc được trong facebook của một em sinh viên: “Tôi tự hào vì mỗi tên đất, tên đường ở xứ tôi đều viết bằng tên người chứ không phải đánh số. Nhưng chỉ vài tuần trước đây, một bài viết trên trang mạng BBC viết rằng – tác giả muốn rời bỏ VN để con cái mình khi lớn lên được sống làm người tử tế.

000_PAR2003100589951-400.jpg
Một người nhập cư Việt đang lao động ở Ba Lan. Ảnh chụp ngày 4 tháng 10 năm 2003. (minh họa)AFP PHOTO

 

Tôi có dịp gặp một số thanh niên Việt Nam ở Philippines. Họ trẻ, tốt lành và trong sáng, nhưng họ quay lưng hẳn và không muốn nhắc đến tình hình xã hội, chính trị tại đất nước mình. Sự gian dối, giả trá khắp nơi đã làm các em chán nản. Một em chia sẻ với tôi là hầu hết các bạn của em đều cảm thấy bất lực và muốn tìm cách rời khỏi Việt Nam.

Tôi gặp em H, một thiếu nữ sống một mình ở đất nước xa lạ này. Em sống và chống trả với những bất trắc, bão tố do tình trạng cư trú bất hợp pháp của mình. Gã chủ nhà muốn xâm hại em, thản nhiên cầm điện thoại và hăm dọa nếu em không thuận hắn sẽ báo cảnh sát. Rất may, H là một thiếu nữ thông minh và mạnh mẽ, em đã vượt thoát được. Cha mẹ ở miền quê làm sao biết được em đã phải chống chọi với những gì. Những thiếu nữ yếu đuối, không may mắn khác sẽ hành xử ra sao? Và định mệnh sẽ đưa đẩy các em về đâu?

Tôi cũng gặp một trường hợp khác, một phụ nữ miền biển, nghèo khó, vô danh nhưng chị đã làm tôi xúc động đến ngẩn ngơ.

Nếu bạn đang đi du lịch phượt trên đất Thái. Dừng chân uống một cốc nước dừa trên hè phố hay tại một quán ăn nào đó. Lúc bạn đang cố bập bẹ nói một ít tiếng Thái với người đang phục vụ, thì nhớ rằng người đang nói chuyện với bạn bằng tiếng địa phương đó có thể là một người Việt Nam. Bên dưới nụ cười xã giao và ánh mắt lẩn tránh đó, ẩn chứa cả một mối ân tình thắm thiết của người đồng hương.

Tôi gặp chị L, người phụ nữ gầy ốm da ngăm đen đứng bán một xe nước dừa bên hè phố. Ban đầu có lẽ nghe chúng tôi nói tiếng Việt, không nhịn được, chị cất tiếng hỏi tôi có phải người Việt Nam không. Thấy người đồng hương tôi vồn vã hỏi thăm, nhưng thấy thái độ chị lẩn tránh và đáp lại bằng tiếng Thái tôi đoán có lẽ chị đang có vấn đề về di trú. Bốn mươi năm trước, tôi đã gặp một người mẹ cắt ruột đẩy đứa con 6 tuổi của mình ra biển để mong nó tìm được tương lai. Ngày nay, tôi gặp người mẹ khác, cũng thắt ruột bỏ lại đứa con gái năm tuổi của mình cho bà ngoại để đi kiếm sống ở nước ngoài, đi “tha hương cầu thực”.

Khi đã tin cậy, chị níu chặt lấy cánh tay tôi luôn miệng nói chuyện, quên cả bán hàng. Được một lúc chị móc trong túi áo ra 25 baht tôi vừa trả tiền nước, đưa lại. Chị ngượng ngùng bảo tình cảm mà lấy tiền tối về không ngủ được. Tôi xúc động vì sự tốt lành, vì cái ân tình chị dành cho tôi, một người xa lạ. Bấy nhiêu thôi cũng đủ thấu hiểu tấm lòng tha thiết của chị đối với người Việt, đối với quê hương như thế nào. Vậy mà có đến mấy lần chị nói với tôi là chị không muốn trở về VN nữa. Xin ghi lại một đoạn đối thoại của tôi với người phụ nữ này để hiểu vì sao chị không muốn trở về. Tôi cố tình hỏi tiếp:

–          Nhưng khi để dành đủ tiền rồi chị về quê mình chứ?

–          Thôi không về đâu.

–          Tại sao lại không về?

–          Ở đây người Thái họ hiền lắm, họ thương mình. Mình đẩy xe đi bán từ 7 giờ sáng đến 12 giờ đêm mới về được đến nhà. Đi ban đêm cũng không sợ… Ở đây từ những người thấp nhất trong xã hội như xe ôm hay cảnh sát họ đều giúp đỡ mình hết mình.

–          Nhưng mai mốt chị về thăm con, người khác dành mất chỗ bán của chị thì sao?

–          Không sao đâu, không có mình thì họ bán, khi họ thấy mình đẩy xe tới, họ tự động đẩy xe đi chỗ khác.

–          …

Những dự thảo văn kiện đại hội đảng có bao giờ đặt ra vấn đề vì lẽ gì mà người dân nghèo, lương thiện lại không cảm thấy an toàn ở quê hương mình? Những người như chị bán nước dừa, hay cháu H đâu cần biết gì đến dân chủ hay nhân quyền? Họ cũng không cần biết ngày mai ông Nguyễn Phú Trọng hay ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ trở thành Tổng Bí Thư. Họ chỉ cần một môi trường sống ổn định, an lành. Nơi hàng ngày không phải nơm nớp lo sợ gặp cảnh sát giao thông hay quân cướp giật. Nơi họ kiếm được miếng ăn hàng ngày và không phải im lặng trước những điều tai ác.

Đến bao giờ người dân mình khi “Rời Bỏ” quê hương đều ôm giấc mơ sẽ “Trở Về” để sớt chia những gian nan và dựng xây lại đất nước?

Tôi biết những người như vậy, những người đã ra đi, nhưng lại chọn trở về như Trần Văn Bá, Võ Đại Tôn, Hoàng Cơ Minh, Võ Hoàng, Ngô Chí Dũng…Chúng ta cũng biết những người đang nỗ lực thay đổi xã hội, những người gắn bó với tổ quốc, người muốn dân mình, đồng bào mình được có đời sống đích thực cần có của một con người. Họ là Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Hồ Đức Hoà, Đặng xuân Diệu, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Văn Oai, Bùi Minh Hằng, Nguyễn Đình Cương, Võ An Đôn…Tiếc rằng những nỗ lực của họ chỉ đổi lấy tù tội, bất trắc và gian nan.

Tôi tự hỏi những người như Thứ trưởng Nội vụ Nguyễn Duy Thăng, các vị đại biểu quốc hội, những đảng viên “chân chính”… họ nghĩ gì? Họ phục vụ cho ai? Một chính quyền dù có theo đuổi mục đích, lý tưởng cao đẹp gì đi chăng nữa thì cũng chẳng có ý nghĩa gì khi mà con em họ, khi mà mọi người dân, từ trí thức cho đến chị bán nước dừa cũng đều muốn ra đi.

Tôi cho rằng các vị lãnh đạo, những người liên hệ trong chính quyền, hay trong trận đấu đá tranh giành quyền lực năm 2016 – từ anh công an quèn quen bóp cổ dân, đến các nhân sự tứ-trụ-triều-đình tương lai cần có câu trả lời chính đáng cho chính mình và cho những người dân hiền lành, chất phác đang phải sống lưu vong khắp nơi.

Nguyệt Quỳnh

nguồn: RFA

Tổng thống Thiệu ra lệnh khai hỏa ở Hoàng Sa

Tổng thống Thiệu ra lệnh khai hỏa ở Hoàng Sa

Henry Kissinger với Phó Tổng thống Nelson Rockerfeller và Tổng thống Gerald Ford năm 1974

Người dân chài làm ăn thường là cần cù, lương thiện nhưng khi người lính đội lốt dân chài đi đánh cá thì thật là nguy hiểm, dù đánh cá ở Scarborough, Kinsaku hay Hoàng Sa.

Vào tháng 2 năm 1959 ngư thuyền Trung Quốc đưa người vào đánh cá trên Hoàng Sa. Không biết là dân chài thật hay dân chài giả, Tổng thống Ngô Đình Diệm cho lệnh bắt giữ rồi trục xuất ra ngay.

Bộ Ngoại Giao Mỹ dưới sự lãnh đạo của Ngoại trưởng Foster Dulles không e ngại TQ trả đũa, cũng không ngăn chặn Tổng thống Diệm.

Tới năm 1974, ngư thuyền Trung Quốc lại quay về Hoàng Sa, nhưng lần này có chiến hạm đi theo. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh ‘mời’ những tàu này ra.

Khi chiến hạm cứ tiến vào, Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã khai hỏa. Trận chiến kéo dài một ngày. Lập tức Bộ Ngoại Giao Mỹ dưới sự lãnh đạo của ông Kissinger liền khẩn cấp can ngăn Tổng thống Thiệu hãy ngừng lại, đừng đụng độ với Trung Quốc thêm nữa!

Ý nghĩa của trận Hoàng Sa

Quân đội Mỹ vừa rút đi xong, Trung Quốc đã muốn tìm hiểu xem thực sự Mỹ có can thiệp trở lại hay không, Washington có thay đổi lập trường “ngăn chặn Trung Cộng'” hay không? Đó là lý do dẫn đến biến cố Hoàng Sa ngay đầu năm 1974.

Đây là cảm tưởng chúng tôi có được sau khi hàn huyên với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về biến cố này.

Một buổi chiều mùa Thu năm 1976 tại ngôi nhà bé nhỏ của gia đình ông ở vùng Surrey ngoại ô thành phố Luân Đôn, sau bữa cơm tối tôi ngồi nhâm nhi ly rượu và tâm sự với ông về những diễn biến trước khi sụp đổ.

Khi tôi hỏi ông về trận Hoàng Sa và nhắc lại là đầu năm 1974 ông có chỉ thị cho chúng tôi phải báo cáo cho thật trung thực về tình hình viện trợ, chúng tôi đã trình bày là về tiếp liệu, quân nhu và quân cụ thì chúng tôi không biết rõ, nhưng về ngân sách dành cho Việt Nam thì sắp hết rồi vì Quốc hội Mỹ đang cắt xén rất mạnh tay.

Tôi hỏi ông là tại sao ông biết đã đến lúc cạn kiệt rồi mà vẫn còn chống cự cả Trung Quốc.

Ông không trả lời thẳng nhưng suy nghĩ giây lát rồi lẩm bẩm – chúng tôi không nhớ rõ nguyên văn nhưng đại khái ông nói: “Tôi còn định đi thêm bước nữa,” rồi nhìn tôi và lắc đầu.

Tôi muốn hỏi thêm ‘đi bước nữa là thế nào,’ nhưng thấy ông tỏ vẻ lơ đãng, ưu phiền nên nói lảng sang chuyện khác. Các bạn có thể xem thêm trong cuốn Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 25.

Ngày nay, với những tiết lộ mới đây về mật điện của Bộ Ngoại Giao Mỹ vào chính ngày có hải chiến Hoàng Sa (19/1/1974) và tìm hiểu thêm qua nhân chứng thì chúng tôi đã có thể giải mã về biến cố này.

Phân tích cho kỹ thì thấy ý nghĩa của trận Hoàng Sa thật là sâu xa: về thực tế, là để bảo tồn lãnh thổ, nhưng về mặt nguyên tắc, nó phản ảnh một cố gắng – hoàn toàn ngoài sức mạnh của VNCH – để ngăn chặn Trung Quốc khỏi tràn xuống Biển Đông.

Bối cảnh dẫn tới trận Hoàng Sa

Ngày 22 tháng 6, 1972 trong một buổi mật đàm với Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ở Bắc Kinh, Cố vấn Mỹ Henry Kissinger đã cho ông Chu biết rằng:

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong lễ khai trương một bệnh viện ở Sài Gòn

Getty Image. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong lễ khai trương một bệnh viện ở Sài  Gòn

“Nếu có một thời gian vừa đủ giữa lúc chúng tôi rút quân và những gì xẩy ra sau đó thì vấn đề gần như chắc chắn rằng có thể khoanh gọn, như chuyện nội bộ của Đông Dương” và “sau khi chúng tôi đã không còn can dự nữa thì …rất ít khả năng chúng tôi sẽ quay trở lại, rất ít khả năng.”

Cuối tháng 3/1975, toàn bộ quân lực Mỹ đã rút khỏi Miền Nam. Sau đó Quốc Hội Mỹ lấy cớ “Miền Nam đã có cả hòa bình lẫn danh dự” để cắt giảm viện trợ thật nhanh.

Như vậy là ván bài Việt Nam đã được khoanh gọn, và tới đầu năm 1974 thì chắc TQ cho rằng “khoảng thời gian vừa đủ” đã chấm dứt: Bắc Kinh muốn trắc nghiệm xem Mỹ có quay trở lại hay không.

Cho nên, ngay đầu năm, Trung Quốc đã lấn chiếm Hoàng Sa.

Dù trong hoàn cảnh nghiệt ngã, Hải quân VNCH vẫn chống trả. Ngày 18 tháng 1, Tổng thống Thiệu bay ra tận Đà Nẵng, lấy giấy ra viết tay thẳng cho Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải.

Trên đầu trang ông viết: ‘Chỉ thị cho Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải’:

“Thứ nhất là tìm đủ mọi cách ôn hòa mời các chiến hạm Trung Cộng ra khỏi lãnh thổ VNCH. Thứ hai, nếu họ không thi hành thì được nổ súng cảnh cáo trước mũi các chiến hạm này và nếu họ ngoan cố thì toàn quyền sử dụng vũ khí để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ VNCH.”

Viết lệnh xong, ông Thiệu cất giọng: “Anh Thoại, đến đây và đọc trước mặt tôi đây, có gì không rõ ràng thì cho tôi biết ngay từ bây giờ.”

Dù bị mất Hoàng Sa và chịu nhiều tổn thất và thương vong, Hải quân VNCH đã gây tổn thất lớn cho đối phương như nhiều nguồn đã đề cập.

Theo ông Thoại thì Hộ tống hạm lớp Kronshtadt 274 của Trung Quốc bị bắn chìm.

Vì tàu này là soái hạm nên hầu hết bộ tham mưu đều tử trận gồm cả Đô đốc Phương Quang Kinh, Tư lệnh Phó của Hạm đội Nam Hải, bốn đại tá, sáu trung tá, hai thiếu tá, bảy sĩ quan cấp úy và một số đoàn viên.

Ngoài ra, Trục lôi hạm số 389 và số 396 bị hư hại nặng.

Dĩ nhiên phải “cẩn tắc” để “vô ưu” nên Trung Quốc đã chuẩn bị cho những bất trắc có thể xảy ra.

Những tiết lộ mới đây cho biết Chủ tịch Mao đã sắp xếp để đưa một lực lượng quân sự lớn lao gồm hơn 40 chiến hạm để làm lá chắn cho Hoàng sa, phòng hờ Đệ Thất Hạm Đội can thiệp.

Bài học từ Hoàng Sa

Sau hải chiến, Tổng thống Thiệu ra lệnh cho Không quân oanh kích để phản công

Bây giờ thì chúng tôi lại cũng hiểu rõ về câu Tổng thống Thiệu nói “Tôi còn định đi thêm bước nữa.”

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đón khách

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đón đoàn Quốc hội Mỹ, mùa hè 1974. Tác giả Nguyễn Tiến Hưng ngồi ở bìa trái hình.

Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết rằng sau trận hải chiến, Tổng thống Thiệu đã ra lệnh cho Không Quân VNCH bay ra Hoàng Sa oanh kích để phản công, nhưng rồi lệnh được rút lại.

Tại sao như vậy? Ngày nay thì ta đã có chứng cớ và văn bản để trả lời.

Trước hết về lệnh cho Không Quân ra khơi để phản công, chúng tôi phối kiểm với Đại tá Nguyễn Quốc Hưng, (Phụ Tá Tham Mưu Phó Hành Quân, Bộ Tư lệnh Không quân, phụ trách toàn bộ 19 phi đoàn khu trục của VNCH) thì ông đã xác nhận là đúng.

Ông kể lại nhiều chi tiết, tóm tắt như sau: vào 8 giờ tối ngày 19 tháng 1/1974, Tư lệnh Không quân nhận được mật lệnh của Tổng thống phải dùng phản lực cơ chiến đấu siêu thanh F5-E để oanh kích phản công địch trên đảo Hoàng Sa.

Ngày hôm sau đoàn phi công đã cất cánh hai lần để ra khơi, một lần vào buổi trưa và một lần buổi chiều, mỗi lần gồm hai phi tuần.

Nhưng vừa bay được khoảng trên một trăm dặm thì nhận được đặc lệnh phải quay trở về đáp và hủy bỏ ngay các phi vụ không kích này.

Lý do là Đệ Thất Hạm Đội yêu cầu ngừng kế hoạch oanh tạc và nhấn mạnh rằng sẽ không có “top cover” (yểm trợ trong trường hợp bị phi cơ của Trung Quốc từ Hải Nam lên không chiến) và cũng không có “rescue” (cứu vớt nếu bị bắn rơi).

 Tàu Hải quân VNCH trong Hải chiến Hoàng Sa 1974Tàu Hải quân VNCH trong Hải chiến Hoàng Sa 1974

Trong số những quân nhân tham gia phi vụ không kích này, số nhân chứng còn sống hiện nay thì ngoài ông Quốc Hưng (hiện ở Salem, Oregon) còn có các Thiếu tá Phạm Đình Anh (California), Đàm Tường Vũ (Arizona), Vũ Viết Quý (California), và Hồ Văn Giầu (Las Vegas).

Mật điện Bộ Ngoại Giao Mỹ (19 /1/1974): Can ngăn Tổng thống Thiệu

Một chuyện thật lạ lùng: vào ngày 17 tháng 1/1974 (ngày 18 tháng 1 – giờ Sài Gòn) Bộ Ngoại Giao Mỹ do Ngoại trưởng Henry Kissinger lãnh đạo đã gọi điện thoại cho Đại sứ Martin ở Sàigòn và nhấn mạnh ý muốn của Bộ là “tình hình phải được hạ nhiệt” (cooling the situation).

Tài liệu này được giải mật ngày 30 tháng 6, 2005. Dĩ nhiên là ông Martin phải thi hành ngay và đã cố vấn ông Thiệu. Ngày hôm ấy chính là ngày Tổng thống Thiệu bay ra Đà Nẵng để ra lệnh chống cự Hải quân Trung Quốc.

Cùng ngày, Đề đốc Lâm Ngươn Tánh, Tư lệnh phó Hải quân VNCH bay ra Bộ tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải tại Đà Nẵng để chỉ huy lực lượng tham chiến tại Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 1 là ngày có trận hải chiến, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lại gửi mật điện can ngăn Tổng thống Thiệu đừng đi thêm bước nữa.

Bức điện đó như sau:

Ngày 19 tháng 1/1974

Người gửi: Ngoại Trưởng – Washington DC

Nơi nhận: Tòa Đại sứ Sài Gòn

Mật điện Bộ Ngoại Giao 012641

1. Xung đột quân sự tại Hoàng Sa đã đưa đến thương vong cho VNCH với hai chiến hạm bị tên lửa STYX của Trung Quốc bắn chìm. Chính phủ VNCH có yêu cầu Mỹ giúp tìm kiếm và cứu vớt các nạn nhân. Tình hình thêm phức tạp vì báo cáo là trên đảo Pattle (do VNCH đóng quân) lại có một nhân viên dân sự Mỹ làm việc cho Văn phòng Tùy viên ở Đà Nẵng. Chúng tôi không hiểu tại sao người này lại có mặt ở đó.

2. Bộ Ngoại Giao đã yêu cầu Bộ Quốc Phòng ra lệnh cho Hải quân Hoa Kỳ tránh khỏi khu vực này .

Hai ngày trước đây (17 tháng 1) chúng tôi có bàn luận với Đại sứ Martin qua điện thoại và bày tỏ ý muốn của chúng tôi là tình hình phải được hạ nhiệt…

3. Thông cáo của Bộ Ngoại Giao gửi cho báo chí về vụ này sẽ nói theo những điểm như sau:

— Chính phủ Hoa Kỳ không đứng về phe nào trong việc tranh chấp Hoàng Sa nhưng hết sức mong muốn là sự tranh chấp được giải quyết trong hòa bình.

— Lực lượng quân sự Mỹ không dính líu gì vào xung đột này.

4. Chúng tôi đang yêu cầu Tòa Đại sứ ở Sàigòn cố vấn chính phủ VNCH chỉ nên có những hành động tối thiểu để tự vệ và để cứu vớt nạn nhân (và người nhân viên Mỹ ở trên đảo) nhưng làm tất cả những gì có thể để tránh đụng độ trực tiếp thêm nữa với lực lượng Trung Quốc. Việc mà VNCH hay chúng ta không cần chút nào trong lúc này là đụng độ giữa Trung Quốc và Chính phủ Việt Nam về mấy hòn đảo, dẫn tới vai trò bất chấp của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam.

KHẨN – MẬT

Về phản ứng của Mỹ và mật điện ngày 19 tháng 1, 1974, ta có thể nhận xét như sau:

Vừa biết tin rục rịch là TT Thiệu đang sửa soạn ra lệnh chống trả chiến hạm

Trung Quốc là Bộ Ngoại Giao đã can ngăn ngay.

  • Chính phủ VNCH yêu cầu Mỹ giúp tìm kiếm và cứu vớt các nạn nhân (ngoài số tử thương còn 68 binh sĩ VNCH bị mất tích và bắt làm tù binh) nhưng bị từ chối.
  • Đã không yểm trợ chiến đấu, đã ra lệnh cho Hải quân Hoa Kỳ tránh né khỏi khu vực giao tranh, lại còn tuyên bố cho rõ ràng là “Chính phủ Mỹ không đứng về phe nào trong việc tranh chấp Hoàng Sa” và xác định (cho Bắc Kinh biết) là “Lực lượng quân sự Mỹ không dính líu gì vào vụ xung đột này.”
  • Không đứng về phe nào thì tại sao lại khuyên can chính phủ VNCH “hãy hạ nhiệt,” chỉ hành động tối thiểu để tự vệ và để cứu vớt nạn nhân thôi, nhưng làm bất cứ những gì để tránh đụng độ thêm nữa với lực lượng Trung Quốc về mấy hòn đảo? Ông Kissinger đã quên rằng chính ông đã từng soạn thảo lá thư để TT Nixon gửi TT Thiệu ngay trước khi ký kết Hiệp Định Paris nói đến lập trường vẹn toàn lãnh thổ của VNCH: “Nền tự do và độc lập của VNCH vẫn còn là mục tiêu tối cao của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ” (thư ngày 17 tháng 1, 1973).
  • Như vậy là một cửa vào Biển Đông đã bắt đầu được mở rộng. Trước đó, từ 1960 tới 1973, Trung Quốc chỉ cho tầu đi tuần tiễu vùng biển giữa quần đảo Hải Nam và Hoàng Sa trung bình khoảng năm lần một năm.

Qua eo biển Đài Loan

Trước Hoàng Sa, Mỹ đã mở một cửa nữa vào Biển Đông, đó là qua eo biển Đài Loan ở phía trên. Sau khi ông Mao Trạch Đông chiếm được Trung Hoa Lục Địa vào tháng 10/1949, Hoa Kỳ nhất quyết bảo vệ độc lập của Đài Loan hay nước ‘Trung Hoa Dân Quốc.’

Bởi vậy mỗi lần Bắc Kinh đe dọa eo biển Đài Loan như vào năm 1954-1955 và 1958 thì Mỹ phản ứng rất mạnh (xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 28). Nhưng từ 1971 thì khác.

Ngày 29 tháng 7/1971: Kissinger bí mật đi Bắc Kinh và trong dịp này đã cho Trung Quốc biết là Mỹ không còn ủng hộ một Đài Loan độc lập nữa, có nghĩa là Đài Loan sẽ chỉ là một khu vực của Trung Quốc, và như vậy Mỹ sẽ hết bảo vệ khu này và sẽ rút hạm đội và phi đội ra khỏi nơi đây.

Tháng 8/1971: sau cuộc họp, Mỹ tuyên bố hủy bỏ việc chống Trung Quốc gia nhập Liên Hiệp Quốc. Tháng 10, Liên hiệp Quốc bỏ phiếu 76 thuận, 35 chống (và 17 không bỏ phiếu) việc đẩy Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và chấp nhận chính quyền Bắc Kinh là chính phủ đại diện Trung Quốc.

Tháng 10/1971: Mỹ rút khu trục hạm của Đệ Thất Hạm Đội ra khỏi eo biển Đài Loan.

Tháng 2/ 1972: TT Nixon thăm viếng Bắc Kinh. Sau cuộc họp Nixon – Mao tại Bắc Kinh, một thông cáo chung gọi là ‘Thông Cáo Thượng Hải’ (Shanghai Communique) được tuyên bố, gián tiếp quy định “Việc Mỹ rút toàn bộ khỏi Đài Loan là mục tiêu cuối cùng,” và sẽ “từng bước giảm cả quân đội, cả những căn cứ Mỹ tại Đài Loan khi sự căng thẳng trong vùng bớt đi.”

Trấn an Trung Quốc sau khi Miền Nam sụp đổ

Ngày 1 tháng 12 năm 1975: ông Henry Kissinger đã sắp xếp để người kế vị Tổng thống Richard Nixon là Tổng thống Gerald Ford đi Bắc Kinh năm ngày và gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông.

Trước chuyến đi, ông Kissinger đã cố vấn Tổng thống Ford thật kỹ: “Ngài sẽ cố gắng hết sức để tăng cường giây liên lạc với Trung Quốc. Ngài (nên cho họ biết rằng) Ngài tin việc phát triển mối bang giao Mỹ – Trung là quyền lợi căn bản của chúng ta và Ngài sẽ theo đuổi việc này một cách mạnh mẽ trong những năm tới.”

Ngày 7 tháng 12/1975: Vừa từ Bắc Kinh về, TT Ford tuyên bố ‘Học thuyết Thái Bình Dương’ (Pacific Doctrine) kêu gọi bình thường hóa toàn diện quan hệ với Trung Quốc và cộng tác kinh tế trong toàn thể Á Châu.

Dĩ nhiên, điều kiện để bình thường hóa toàn diện với Trung Quốc là việc Mỹ rút khỏi eo biển Đài Loan.

Cuối tháng 5 năm 1975: chỉ một tháng sau khi Miền nam sụp đổ, Hoa Kỳ đã rút đội phi cơ chiến đấu cuối cùng ra khỏi Đài Loan. Có nghĩa là từ đó những hạm đội Đông Hải của TQ từ phía bắc có thể theo con đường nhanh nhất tràn xuống phía Nam.

Và từ phía nam những hạm đội Nam Hải có thể tiến thẳng vào Biển Đông qua ngả Hoàng Sa.

Tương lai của vùng này trở nên đen tối. Trung Quốc chỉ cần mua thời gian để chuẩn bị, chờ cho tới khi có đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa để ra tay: ba yếu tố này đã hội đủ vào năm 2008 (Các bạn xem thêm cuốn Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 26).

Như vậy lịch sử sẽ phải ghi nhận rằng chính hai ông Nixon và Kissinger đã đơn phương và trong vòng bí mật, mở cả hai cửa vào Biển Đông cho Trung Quốc từ trên 40 năm trước đây.

Hậu quả của mật điện Hoàng Sa ngày 19/1/1974 thật là lớn lao, nó dẫn đến tình trạng hỗn loạn tại Biển Đông ngày nay. Để mất Hoàng Sa và còn nhắn nhủ Trung Quốc rằng Mỹ không có dính líu gì vào tranh chấp hải đảo, rằng quân lực Mỹ đã được lệnh rút ra khỏi vùng này.

Như vậy là Trung Quốc được tự do tung hoành. Từ tung hoành tới lộng hành. Cái kẹt là sau khi lộng hành với các quốc gia sở tại, Trung Quốc lộng hành với chính Mỹ. Cho nên Mỹ phải xoay trục để trở về với Biển Đông, nơi đó có tới bảy quyền lợi của Mỹ như đã được xác định bằng văn bản (Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 26).

Trung Quốc lại là đối tác ngoại thương lớn nhất – tổng số xuất-nhập Trung-Mỹ lên tới $579 tỷ vào năm 2016. Mặt khác Mỹ phải cố gắng để thắt cho thật chặt quan hệ ngoại giao với các quốc gia trong vùng, nhất là với Việt Nam.

 
Chiến hạm USS John S. McCain thăm Đà Nẵng năm 2010: Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á và Việt NamChiến hạm USS John S. McCain thăm Đà Nẵng năm 2010: Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á và Việt Nam

Tại sao như vậy? Đó là một chủ đề chúng tôi sẽ đề cập trong một bài khác.

Bây giờ, muốn trở về với Biển Đông Mỹ đi hàng đôi: một mặt thì tỏ ra mềm dẻo với Trung Quốc nhưng mặt khác lại luôn luôn chuẩn bị để đối phó bằng quân sự với Trung Quốc, dù dưới thời Tổng thống Obama hay Tổng thống Trump.

Để đối phó, Mỹ đang tăng cường liên minh quân sự với một số quốc gia trong vùng, kể cả tiến tới đối tác chiến lược với Việt Nam. Tại sao như vậy? Đó là một chủ đề chúng tôi sẽ đề cập trong một bài khác.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng Kế hoạch VNCH từ năm 1973 đến 1975, phụ tá về tái thiết của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất bản các cuốn sách Khi Đồng minh tháo chạy (2005) và Khi Đồng minh nhảy vào (2016).

nguồn: bbc.com

Tóm tắt lịch sử giết người của đảng Cộng sản Trung Quốc

“Bác Mao nào ở đâu xa
Bác Hồ ta đó chính là bác Mao”
(Chế Lan Viên)

Tóm tắt lịch sử giết người của đảng Cộng sản Trung Quốc

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thành lập năm 1921, giành được chính quyền năm 1949. Theo thống kê, có khoảng 80 triệu người Trung Quốc đã bị chết bất thường (bức hại, đói khổ, hành quyết…) dưới thời cai trị của ĐCSTQ. Con số này nhiều hơn số người chết trong hai cuộc chiến tranh thế giới. Hãy cùng điểm lại hành trình giết và giết của ĐCSTQ…

Năm 1953, tại Phụ Khang – Tân Cương, quân sĩ của ĐCSTQ hành quyết “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng” (National Archives).
Năm 1953, tại Phụ Khang – Tân Cương, quân sĩ của ĐCSTQ hành quyết “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng” (National Archives).

Thảm sát Đoàn AB

Đoàn AB là một tổ chức thuộc Quốc dân đảng được thành lập tại Giang Tây vào tháng 12/1926, mục đích nhằm chống lại ĐCSTQ đã chiếm quyền lực của Quốc dân đảng tại Giang Tây. Tháng 4/1927 Đoàn AB tan vỡ. Nửa sau năm 1930, ĐCSTQ phát động phong trào chống Đoàn AB và đã giết hại vô số người từng làm việc cho tổ chức này.

Tháng 12/1930, Quân đoàn 20 Hồng quân Công nông Trung Quốc phát động binh biến tại Phú Điền – Giang Tây, chiếm thị trấn Phú Điền và thả tất cả người bị bắt, bắt nhân viên chính phủ bản địa của ĐCSTQ. Ngày 28/3, lãnh đạo tối cao ĐCSTQ Vương Minh (Wang Ming) cử Bật Nhậm Thời phụ trách khu Xô-Viết trung ương, tuyên bố biến cố Phú Điền là “bạo động chống cách mạng”. Ngày 18/4, lãnh đạo binh biến của Quân đoàn 20 bị bắt trong lúc đi tham gia đàm phán, sau đó bị hành quyết. Tháng Bảy cùng năm, Quân đoàn 20 bị điều đến trại Bình Đầu Giang Tây và bị quân của Bành Đức Hoài cùng Lâm Bưu bao vây tước vũ khí, hơn 700 quân bị đưa đi hành quyết.

Sau biến cố Phú Điền, phong trào tấn công Đoàn AB nổi lên cao trào mới, mức tàn khốc khác thường, “trói tay treo người lên tra tấn, kẻ nào ngoan cố còn bị dùng dầu lửa thiêu thân, thậm chí dùng đinh đóng tay vào bàn gỗ và dùng nạt tre đâm vào trong móng tay”. Chỉ trong một thời gian ngắn, mọi người tại khu Xô-Viết Giang Tây đều sống trong tình trạng nguy hiểm tính mạng, trong nhiều cơ quan của ĐCSTQ tại khu vực có đến 80 – 90% người trở thành “phần tử AB”, tổng cộng hơn 70.000 người đã bị giết.

Ông Mao Trạch Đông là người trực tiếp phụ trách trấn áp. Sau này ĐCSTQ thừa nhận, đa số những người hành quyết đều là người vô tội.

Chỉnh đốn Diên An

Từ đầu năm 1942 đến tháng 4/1945 nổ ra phong trào chỉnh đốn tại Diên An, đây cũng là phong trào quy mô lớn đầu tiên do đích thân ông Mao Trạch Đông lãnh đạo, phong trào khủng bố đẫm máu này đã đưa Mao lên địa vị quyền lực tột đỉnh trong Đảng.

Nhà văn Vương Thực Vị (Wang Shiwei) là phần tử trí thức đầu tiên bị giết hại trong chỉnh đốn Diên An.Nhà văn Vương Thực Vị (Wang Shiwei) là phần tử trí thức đầu tiên bị giết hại trong chỉnh đốn Diên An.

Trong phong trào chỉnh đốn Diên An đã giết hại hơn 1.000 người. Người bị hại nổi tiếng nhất là trí thức Vương Thực Vị. Ông Vương Thực Vị đến Diên An vào tháng 10/1937, làm việc tại phòng biên dịch học viện Marx, đã dịch tổng cộng hơn hai triệu chữ trong bộ tác phẩm kinh điển của Marx. Từ tháng 2/1942, học giả Vương Thực Vị đã viết bài cho các tạp chí Cốc Vũ, Nhật báo Giải phóng, và tạp chí của Viện Nghiên cứu Trung ương, tố cáo khoảng tối trong “cuộc sống mới” tại Diên An, đặt vấn đề chế độ đẳng cấp và xu thế quan liêu hóa của ĐCSTQ. Những bài viết đã khiêu chiến với quan điểm của Mao, và bị liệt vào phần tử chống cách mạng, đặc vụ ngầm của Quốc dân đảng.

Ngày 1/4/1943, Khang Sinh ra lệnh bắt Vương Thực Vị. Tháng 6/1947, máy bay của quân Quốc dân đảng đã phá hủy trại giam Vương Thực Vị. Bộ trưởng Công an ĐCSTQ Khang Sinh và Thứ trưởng Lý Khắc Nông chỉ đạo cho hành quyết bí mật Vương Thực Vị. Ngày 1/7/1947 tại huyện Hưng – Sơn Tây, học giả Vương Thực Vị bị đưa đi chém tại một khu hẻo lánh ven sông Hoàng Hà, thi thể bị quăng xuống sông.

Hiện nay chưa từng có công bố số liệu phong trào chỉnh đốn Diên An giết chết bao nhiêu người.

Vây khốn thành Trường Xuân

Ngày 13/3/1948, liên quân dân chủ Đông Bắc chiếm Tứ Bình, và Trường Xuân trở thành một ốc đảo bị quân của ĐCSTQ bao vây. Ngày 7/6/1948, ông Mao Trạch Đông chính thức cho phép dùng phương án bao vây cắt đường lương thực tại Trường Xuân. Khẩu hiệu được đề ra: “Không cho kẻ thù tiếp viện lương thực, cho quân tướng Trường Xuân bị chết đói trong thành”.

Ban đầu Quốc dân đảng không cho phép người dân rời khỏi thành Trường Xuân, nhưng vì số lương thực trong thành chỉ còn dùng đủ đến cuối tháng Bảy, vì thế sau đó ông Tưởng Giới Thạch chấp nhận yêu cầu từ ngày 1/8 cho sơ tán dân chúng. Nhưng ĐCSTQ thực hiện biện pháp “giới nghiêm không cho dân chúng ra khỏi thành”. Sau ba tháng bao vây, ngày 9/9 Lâm Bưu cùng La Vinh Hoàn, Lưu Á Lâu, Đàm Chính cùng nhau báo cáo với Mao: “Bao vây đã thu được thành quả, trong thành đang thiếu lương thực nghiêm trọng… nhiều người dân phải ăn lá cây, cỏ xanh lót dạ, nhiều người chết đói”.

Học giả Homare Endo lúc 5 tuổi, bà may mắn sống sót trong đợt vây khốn Trường Xuân, năm 1953 bà theo người thân trở về Nhật Bản, hiện là giáo sư danh dự Đại học Tsukuba. Cả đời bà chưa thoát khỏi ám ảnh kiếp sống đói khát trong thời gian bị vây khốn tại Trường Xuân.Học giả Homare Endo lúc 5 tuổi, bà may mắn sống sót trong đợt vây khốn Trường Xuân, năm 1953 bà theo người thân trở về Nhật Bản, hiện là giáo sư danh dự Đại học Tsukuba. Cả đời bà chưa thoát khỏi ám ảnh kiếp sống đói khát trong thời gian bị vây khốn tại Trường Xuân.

 

Ông Đoàn Khắc Văn (Duan Kewen), cựu lãnh đạo tỉnh Cát Lâm từng viết trong hồi ký tả cảnh một người lính của ĐCSTQ trông thấy nạn dân tiến lại gần đã quát: “Đồng hương, không được tiến lên, các người còn tiến lên chúng tôi sẽ nổ súng”. Nạn dân khẩn cầu: “Chúng tôi toàn người dân lương thiện, sao có thể nhẫn tâm ép chúng tôi chết đói tại đây?” Người lính kia đáp: “Đây là lệnh của Mao chủ tịch, chúng tôi không dám chống lệnh”. Một người liều mạng lao về trước, một tiếng súng “bằng” vang lên…

Ngày 24/10/1948, Nhật báo Trung ương Nam Kinh viết trong bài «Quá trình phòng thủ Trường Xuân» : “Theo tính toán thấp nhất, từ cuối tháng 6 – đầu tháng 10, tổng số hài cốt không dưới 150.000”. Con số người chết đói do phía chính quyền ĐCSTQ thừa nhận là 120.000 người, trong cuối hồi ký của Thị trưởng kiêm Giám đốc sở Dân chính Thượng Truyền Đạo (Shang Chuandao) cũng nhắc đến số liệu này.

Chính phủ Quốc dân đảng từng nhận định hành động bao vây Trường Xuân của ĐCSTQ đủ cấu thành tội ác chiến tranh.

Cải cách ruộng đất và đàn áp “phản cách mạng”

Tháng 3/1950, ĐCSTQ phát động «Chỉ thị trấn áp phần tử phản cách mạng», Mao Trạch Đông tuyên bố trong một văn bản “nhiều nơi sợ sệt không dám giương ngọn cờ giết bọn phản cách mạng”. Mao chỉ thị “giết phần tử phản cách mạng, ở nông thôn cần vượt qua tỉ lệ một phần ngàn dân số… ở thành thị nên ít hơn một phần ngàn”.

Một phần ngàn ở đây chính là chỉ tiêu giết người, nhưng trên thực tế số người bị giết hại cao hơn nhiều. Theo thống kê của ĐCSTQ, số phần tử “phản cách mạng” bị giết, cải tạo lao động hoặc quản chế vào khoảng 30 triệu người.

Theo tài liệu «Phong trào chính trị trong lịch sử ĐCSTQ từ sau khi kiến quốc» do Phòng nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương Trung Quốc biên soạn, trong kế hoạch đàn áp “phản cách mạng” từ đầu năm 1949 đến tháng 2/1952, số người bị đàn áp khoảng 15,8 triệu người, trong đó có khoảng 873.600 người bị tử hình.

Cùng với phong trào trấn áp “phản cách mạng” sôi sục là phong trào “cải cách ruộng đất”. Thực tế phong trào này tương tự như lý tưởng “có ruộng cùng cày” thời Thái Bình Thiên Quốc. Mục đích thực tế là mượn cớ giết người.

Thời cải cách ruộng đất thường tổ chức hội đấu tranh, lôi địa chủ và phú nông ra luận tội. Những kẻ luận tội là Đảng viên ĐCSTQ hoặc phần tử tích cực với Đảng, việc hành quyết thực thi khi kẻ đứng đầu hô to “nên giết!”

Mục đích của phong trào trấn áp phần tử “phản cách mạng” để củng cố chính quyền mới. Trong hình là các “địa chủ” bị thanh trừng vào năm 1951 (National Archives).

Mục đích của phong trào trấn áp phần tử “phản cách mạng” để củng cố chính quyền mới. Trong hình là các “địa chủ” bị thanh trừng vào năm 1951 (National Archives).
Quân lính ĐCSTQ hành quyết “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng” tại Phụ Khang – Tân Cương năm 1953 (National Archives)
Quân lính ĐCSTQ hành quyết “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng” tại Phụ Khang – Tân Cương năm 1953 (National Archives)

 

Theo công bố của ĐCSTQ, đến cuối năm 1952, số “phần tử phản cách mạng” bị tiêu diệt là hơn 2,4 triệu người, thực tế tổng số quan chức Quốc dân đảng, nhà giáo và địa chủ bị bức hại lên đến hơn 5 triệu người.

“Tam phản” và “ngũ phản”

Từ năm 1951 – 10/1952, ĐCSTQ triển khai phong trào “Tam phản” và “Ngũ phản”. “Tam phản” là phong trào “chống tham ô lãng phí” trong doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, “chống chủ nghĩa quan liêu”; “Ngũ phản” là phong trào “chống hối lộ, trốn thuế” đối với giới doanh nghiệp tư nhân, “chống ăn cắp tài sản quốc gia”, “chống đánh cắp thông tin tình báo kinh tế quốc gia”.

Phong trào “Tam phản” để xử lý cán bộ ĐCSTQ hủ bại, nhưng rồi ĐCSTQ cho rằng cán bộ biến chất là do bị nhà tư bản dụ dỗ, hệ quả là sau đó đã thực hiện “Ngũ phản”. Thực tế “Ngũ phản” chính là cướp tiền của nhà tư bản, là giết người cướp của. Trong mục «Lịch sử giết người của ĐCSTQ» trong «Cửu bình» có ghi: “Buổi tối mỗi ngày thị trưởng thành phố Thượng Hải ngồi trên ghế xô-pha bưng ly trà nghe báo cáo, hỏi câu hờ hững: Hôm nay có bao nhiêu lính nhảy dù?” Thực tế ý câu này là hỏi có bao nhiêu thương nhân nhảy lầu.

Theo số liệu trong «Phong trào chính trị trong lịch sử ĐCSTQ từ khi kiến quốc» xuất bản năm 1966, có hơn 323.000 người bị bắt trong phong trào “Tam phản Ngũ phản”, hơn 280 người tự sát hoặc mất tích; có hơn 5.000 người bị liên lụy và hơn 500 người bị bắt trong “phong trào chống Hồ Phong”, hơn 60 người tự sát, 12 người chết bất thường; sau đó trong phong trào “dẹp phản động” có khoảng 21.300 người bị phán tội tử hình, hơn 4.300 người tự sát và mất tích.

Phóng viên Nicholas Kristof của New York Times trú tại Bắc Kinh viết trong «Trung Quốc thức tỉnh» (China Wakes): “Theo báo cáo của cựu Bộ trưởng Công an La Thụy Khanh, từ 1948 – 1955 có bốn triệu người bị hành quyết”.

Thảm họa “Đại nhảy vọt”

Nhiều triệu người Trung Quốc đã chết bất thường trong thảm họa mất mùa vào cuối thập niên 50 – đầu 60 thế kỷ 20. Trong hình là cảnh người cha chôn người con bị chết đói.

Nhiều triệu người Trung Quốc đã chết bất thường trong thảm họa mất mùa vào cuối thập niên 50 – đầu 60 thế kỷ 20. Trong hình là cảnh người cha chôn người con bị chết đói. 

Từ 1958 – 1962, Mao Trạch Đông thực hiện kế hoạch “Đại nhảy vọt”, cưỡng chế tập thể hóa nông nghiệp và chế độ nhà ăn tập thể đã làm số người chết đói la liệt khắp nơi. Theo con số do Cục trưởng Cục Thống kê Quốc gia Tiết Mộ Kiều (Xue Muqiao) đưa ra, số lương thực bị hao hụt do những nhà ăn tập thể khổng lồ này gây ra năm 1958 là 17,5 triệu tấn. Thực tế vụ mùa năm đó không phải quá tệ, nhưng chỉ sau nửa năm đã xảy ra nạn đói.

Hồ sơ giải mật của ĐCSTQ trong vài năm gần đây đã chính thức thừa nhận có 37,56 triệu người chết đói trong “Đại nhảy vọt”. Số liệu được giới học thuật trong và ngoài Trung Quốc thừa nhận là vào khoảng 37 – 43 triệu người chết đói. Chỉ riêng vùng Tín Dương tỉnh Hà Nam đã chết một triệu người, xảy ra hiện tượng người ăn thịt người, lịch sử gọi là “sự kiện Tín Dương”.

Mùa đông năm 1959 – mùa xuân 1960 là thời đỉnh cao của nạn người chết đói, nhưng năm 1959, ĐCSTQ lại xuất khẩu 4,15 triệu tấn lương thực. Số lương thực này nếu chia cho 30 triệu người thì mỗi được có được 138,6 cân, sẽ không ai bị chết đói. Năm 1960, ĐCSTQ còn xuất khẩu 2,7 triệu tấn lương thực.

Giết người điên cuồng trong  “Cách mạng Văn hóa”

Sau “Cách mạng Văn hóa”, tướng Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) từng nói: “Cách mạng Văn hóa” đã chỉnh đốn 100 triệu người, giết chết 20 triệu người. Theo tính toán của giáo sư R.J. Rummel thuộc Đại học Hawaii (Mỹ) trong tác phẩm «Thế kỷ sắt máu Trung Quốc» (China’s Bloody Century) xuất bản năm 1991, có khoảng 7,73 triệu người chết trong “Cách mạng Văn hóa”.

Trong sách «Phong trào chính trị của ĐCSTQ từ khi xây dựng chính quyền» viết: Tháng 5/1984 ĐCSTQ thực hiện cuộc điều tra toàn diện kéo dài 2 năm 7 tháng và đưa ra con số thống kê mới về “Cách mạng Văn hóa”: 17,28 triệu người chết bất thường; 135.000 người bị hành quyết vì tội chống cách mạng; trong “Võ đấu” (1966 – 1969) giết chết 237.000 người, 70.300 người bị thương tật.

Làn sóng giết người đầu tiên vào năm 1966. Tháng Sáu năm đó, dưới chỉ thị “Quét sạch quỷ trâu thần rắn”, làn sóng càn quét của Hồng vệ binh từ Bắc Kinh nhanh chóng mở rộng trên toàn quốc nhằm tra khảo và giết “quỷ trâu thần rắn”.

Tháng 8/1966, Hồng vệ binh Bắc Kinh đã giết chết 1.772 người. Học giả Đinh Trữ (Ding Shu) bình luận: “Tại Trung Quốc đại lục chưa bao giờ có số người chết nhiều trong một thời gian ngắn như thế, chết vì những dụng cụ tra tấn kiểu cổ đại như côn và dây da. Những người bị giết bởi những kẻ mà họ không có thù oán gì, học sinh trung học mười mấy tuổi mang thầy hiệu trưởng, người hàng xóm ra tra tấn đến chết…”.

Trong sách «Tháng Tám khủng bố đỏ», học giả Vương Hữu Cầm (Wang Youqin) viết: “Nửa sau tháng 8/1966, hàng loạt người bị tra tấn chết không rõ danh tính cùng bị chất thành đống tiêu hủy. Hiệu trưởng Cao Vân (Gao Yun) và Bí thư Đỗ Quang (Du Guang) thuộc Đại học Sư phạm Bắc Kinh đều cùng bị đánh bất tỉnh và mang đi hỏa thiêu. Người làm việc tại nơi hỏa thiêu phát hiện họ chưa chết nên không thiêu. Họ lại trở về nhà. Vô số thi thể chất thành đống không thiêu kịp phải ướp băng, máu và nước trộn lẫn vào nhau”.

Ngày 26/1/1967 xảy ra sự kiện Thạch Hà Tử tại Tân Cương gióng phát súng đầu tiên trong đợt võ đấu trên toàn quốc mở ra làn sóng giết người thứ hai. Từ tháng 8/1967, đã nổ ra màn võ đấu quy mô lớn tại các địa bàn Thượng Hải, Nam Kinh, Trịnh Châu, Trường Xuân, Thẩm Dương, Trùng Khánh và Trường Sa, đến cuối năm 1968 mới tạm lắng xuống. Quân đội Vân Nam bao vây một tổ chức quần chúng có tên “đội Điền Tây” và dùng súng máy quét, sau 20 phút hàng ngàn người của tổ chức này thiệt mạng. Dự tính số người chết trong “võ đấu” khoảng 300.000 – 500.000 người.

«Phong trào chính trị của ĐCSTQ từ khi kiến quốc» ghi lại có khoảng 237.000 người chết trong đợt võ đấu. Thực tế dự tính số người chết trong võ đấu khoảng 300.000 – 500.000 người.

Đợt “thanh trừng giai cấp” 1968 – 1969 là cao trào càn quét “quỷ trâu thần rắn” của Chủ tịch Mao Trạch Đông, cũng là thời kỳ có số người chết nhiều nhất trong “Cách mạng Văn hóa”. Theo tư liệu, trong hơn 2.000 huyện trên toàn quốc, bình quân mỗi huyện khoảng 100 người bị hành quyết.

Ngoài những người bị giết hại tàn nhẫn, thời đầu “Cách mạng Văn hóa” có khoảng 100.000 – 200.000 người vì không cam chịu bị làm nhục nên tự sát, con số người tự sát này hiếm thấy trong lịch sử thế giới. Nhà văn Ba Kim nhớ lại:

Mọi người đều sống như người điên, trông thấy một người nhảy từ trên lầu xuống cũng không chút cảm xúc mà trái lại còn phê bình, dùng những lời lẽ độc địa chửi người tự sát. Mao Trạch Đông từng nói với bác sĩ Lý Chí Tuy: “Tôi vui vì thấy thiên hạ đại loạn”.

Ngoài ra còn vô số người dũng cảm lên tiếng phê phán mà bị hại thân, bị bắn chết hoặc chết oan trong tù. Ông Thái Thiết Căn, Trưởng ban huấn luyện Học viện Quân sự cao cấp Nam Kinh bị phát hiện có ghi trong nhật ký những lời bất bình đối với tướng Bành Đức Hoài, thế là lập tức bị bắt. Ngày 11/3/1970, quân lính nhà tù đến mang ông trói lại rồi đọc lệnh bắt, sau đó đọc luôn lệnh hành hình mà không cho khiếu kiện. Giáo sư Hồng Ân (Hong En), chỉ huy đoàn nhạc giao hưởng Thượng Hải vì viết xấu về ông Mao Trạch Đông trong «Mao chủ tịch ngữ lục» cũng bị xử tử hình, trước khi đưa ra pháp trường cổ họng còn bị cắt đứt.

Thảm sát Thiên An Môn

Ngày 4/6/1989, ĐCSTQ đã đàn áp đẫm máu phong trào sinh viên đòi dân chủ kéo dài hơn 50 ngày gây chấn động thế giới. Đến nay, phong trào Thiên An Môn vẫn là một đề tài cấm kỵ của ĐCSTQ. Con số người thiệt mạng trong sự kiện này không được chính quyền Trung Quốc công bố, con số dự tính của các giới đưa ra không thống nhất.

Chiều ngày 3/6/1989, ĐCSTQ quyết định trấn áp, tuyên bố “bộ đội giới nghiêm có quyền dùng các biện pháp tự vệ”. Tối hôm đó, Giải phóng quân từ vùng ngoại thành tiến vào Bắc Kinh.

Sinh viên đưa bạn đi cấp cứu vì bị bộ đội bắn giết vào sáng ngày 4/6/1989.

Sinh viên đưa bạn đi cấp cứu vì bị bộ đội bắn giết vào sáng ngày 4/6/1989.

 

Sau 10 giờ tối khi quân đội đột nhập vào Bắc Kinh đã bắt đầu bắt giết dân chúng, ban đầu các sinh viên tưởng quân đội chỉ dùng súng bắn đạn cao su và hơi cay, không ngờ quân đội lại dùng đạn thật.

Vương Quân Đào (Wang Juntao), người tổ chức phong trào sinh viên nói: “Tối ngày 3/6 tôi phát hiện có người dùng bạo lực đối với người dân rồi bỏ chạy, khi đến hiện trường tôi cảm giác có âm mưu gì đó, muốn điều tra, nhưng thấy mọi người dân bắt đầu nổi giận và dùng gạch đá ném vào quân lính, thế là quân lính bắt đầu nổ súng từ đường ngoại ô phía tây Bắc Kinh. Họ đi đến đâu thì bắn đến đó, vô số người trúng đạn thiệt mạng…”

Vương Hữu Tài (Wang Youcai), một trong những người tổ chức phong trào nói: “Từ quan sát của cá nhân tôi, khi đó có nhóm sinh viên Đại học Bắc Kinh đã đi các bệnh viện điều tra, được biết khoảng hơn hai ngàn người thiệt mạng. Dĩ nhiên tôi không có khả năng chứng minh điều này, vì khi đó tôi đang bị bắt giam”.

Nhà văn Tào Trường Thanh (Cao Changqing) viết: “Trong «Trung Quốc thức tỉnh» có đề cập số người chết trong sự kiện đàn áp tại Thiên An Môn do một số bác sĩ cung cấp thông tin, theo đó số người chết khoảng 400 – 800, hàng ngàn người bị thương. Cho dù chỉ 400 người cũng vượt quá tổng số học sinh sinh viên kháng nghị bị chính quyền Trung Quốc giết chết trong cả thế kỷ 19. Sách cũng dẫn số liệu của Chính phủ Mỹ với khoảng 3.000 người bị thiệt mạng trong sự kiện này”.

>> Xem thêm: Số người chết trong vụ thảm sát Thiên An Môn ‘là khoảng 10.000’

Bức hại Pháp Luân Công

Tháng 7/1999, ĐCSTQ phát động đàn áp những người tập Pháp Luân Công, khởi đầu giai đoạn bức hại nhân quyền kéo dài gần 18 năm. Ông Giang Trạch Dân lợi dụng cỗ máy quyền lực nhà nước thực hiện chính sách tận diệt những người theo Pháp Luân Công.

Theo thống kê chưa hoàn chỉnh của trang mạng Minh Huệ của Pháp Luân Công cho đến ngày 17/2/2017, khoảng 4.075 người tập Pháp Luân Công bị hại chết, còn số người bị mổ cướp nội tạng còn ghê rợn hơn. Ngoài ra, còn có hàng triệu người bị bắt bớ, bị cưỡng bức lao động phi pháp. Trang Minh Huệ cũng nhận định, vì tình hình bức hại bị che giấu nên con số người bị hại thực tế còn khủng khiếp hơn nhiều.

Những người theo tập Pháp Luân Công bị hành hạ đến chết trong các trại giam, trại cưỡng bức lao động, nhà tù, các trung tâm tẩy não và bệnh viện tâm thần. Họ bị đủ hình thức tra tấn như bị đánh, điện giật, tiêm thuốc độc, cố định ghế hổ, hãm hiếp… khiến vô số người bị thương tật. Rất nhiều vụ thảm án đã lan truyền ra nước ngoài phơi bày tội ác của ĐCSTQ.

Ngày 23/6/2000, Washington Post đưa tin vụ thảm án của kỹ sư máy tính Trung Quốc đại lục Tô Cương (Su Gang, 32 tuổi) vì theo tập Pháp Luân Công. Ngày 25/4/2000, Tô Cương bị bắt vì đi Bắc Kinh khiếu kiện; ngày 23/5 Tô Cương bị ép vào bệnh viện tâm thần. Ông Tô Đức An, cha của Tô Cương nói, mỗi ngày hai lần họ tiêm cho Tô Cương thứ thuốc gì đó không rõ, sau một tuần thì Tô Cương không thể ăn uống và đi lại bình thường. Ngày 10/6, Tô Cương chết vì suy tim.

Anh Trần Tương Duệ tại tỉnh Hồ Nam bị đánh chết vì theo Pháp Luân Công (Ảnh: mạng Minh Huệ)

Anh Trần Tương Duệ tại tỉnh Hồ Nam bị đánh chết vì theo Pháp Luân Công (Ảnh: mạng Minh Huệ)

Anh Trần Tương Duệ (Chen Xiangrui, 29 tuổi) người tỉnh Hồ Nam bị đánh chết vì theo Pháp Luân Công. Ngày 11/3/2003, công an thành phố Hành Dương đã bắt anh Trần Tương Duệ về đồn và tra tấn điện, dùi cui sắt, gậy cao su, trong tình trạng lục phủ ngũ tạng thương tổn nghiêm trọng, Trần Tương Duệ qua đời vào sáng hôm sau.

Tháng 3/2006, nhân chứng Anne đã tiết lộ câu chuyện về tội ác mổ cướp nội tạng những người theo Pháp Luân Công trước giới truyền thông nước ngoài.  Sau đó, luật sư nhân quyền David Matas nổi tiếng quốc tế và cựu ngoại trưởng Canada phụ trách vấn đề Châu Á-Thái Bình Dương David Kilgour đã được mời để tiến hành một cuộc điều tra độc lập. Tháng 7/2006 họ công bố báo cáo điều tra gồm 53 bằng chứng về tội ác mổ cướp nội tạng và khẳng định “đây là tội ác chưa từng có trên hành tinh này”.

>> Xem thêm: Mổ cướp nội tạng ở Trung Quốc liên quan gì đến người Việt?

Tối 30/10/2016, luật sư nhân quyền nổi tiếng David Matas và cựu Ngoại trưởng Canada phụ trách vấn đề Châu Á-Thái Bình Dương David Kilgour đã tổ chức họp báo công bố chứng cứ mới về tội ác mổ cướp nội tạng của ĐCSTQ (Ảnh: Epochtimes).
Tối 30/10/2016, luật sư nhân quyền nổi tiếng David Matas và cựu Ngoại trưởng Canada phụ trách vấn đề Châu Á-Thái Bình Dương David Kilgour đã tổ chức họp báo công bố chứng cứ mới về tội ác mổ cướp nội tạng của ĐCSTQ.

“Tổ chức Thế giới Điều tra đàn áp Pháp Luân Công” đã thực hiện điều tra hơn 10 năm và thu được nhiều chứng cứ (tài liệu và ghi âm) chứng minh: Ông Giang Trạch Dân đã dùng toàn bộ cỗ máy nhà nước kết hợp với thế lực xã hội đen tạo thành mạng lưới giết người cướp nội tạng kiếm lợi nhuận rộng khắp. Theo phân tích của tổ chức này, vì nhiều người sau khi bị giết đã bị thiêu hủy thi thể nên rất khó biết chính xác số người bị giết lấy nội tạng mang bán là bao nhiêu.

Tuyết Mai (T/H)

Tài liệu tham khảo:

  1. «Lịch sử giết người của ĐCSTQ» trong «Chín bình luận về ĐCSTQ», Epochtimes xuất bản tháng 12/2004.
  2. «Năm 60 Trung Quốc đẫm máu: Ghi chép về tội ác giết người của ĐCSTQ» Tùng Lãm Trung Quốc (Chinainperspective) xuất bản tháng 9/2009.
  3. Lãnh Đào: «Mao Trạch Đông: Lông vũ cuối cùng của ‘hệ thống thăng bằng’ ĐCSTQ», Đài Phát thanh Quốc tế Hy Vọng ngày 17/1/2017.
  4. Đường Ngọc Vi (Tang Qiwei): «Kể bạn nghe về chân tướng sự kiện Thiên An Môn 1989», Đài Á châu Tự do ngày 3/6/2009.
  5. Xuyên Nhân (Chuan Ren) «Sự thật lịch sử về cuộc chiến bao vây Trường Xuân», Nhìn Trung Quốc, ngày 1/4/2012.
  6. Trương Chính Long (Zhang Zhenglong): «Tuyết trắng máu đỏ», Nhà xuất bản Thiên Địa Đồ Thư (Hồng Kông), năm 2002.
  7. Diệp Quan Tinh (Ye Guanqing): «Từ ba năm Đại nhảy vọt nhìn bộ mặt ma quỷ của ĐCSTQ», Epochtimes ngày 11/1/2016.

nguồn: trithucvn.net

MỘT TRUYỆN NGẮN CA NGỢI TRẦN ÍCH TẮC TRÊN BÁO VĂN NGHỆ CỘNG SẢN

MỘT TRUYỆN NGẮN CA NGỢI TRẦN ÍCH TẮC TRÊN BÁO VĂN NGHỆ

 Nguyễn Xuân Diện

Báo Văn Nghệ số 50 ra ngày 16-12-2017, các trang 19-20-21 có đăng truyện ngắn “Bắt đầu và Kết thúc” của Trần Quỳnh Nga.

Truyện ngắn này có đề cập đến các nhân vật lịch sử Trần Ích Tắc, An Tư, Thoát Hoan. Về Trần Ích Tắc thì là “một kẻ vì nước, mà hy sinh cả tiền tài, danh vọng và thân phận của mình để làm một kẻ nội gián”. Còn công chúa An Tư thì che chở cho Thoát Hoan để cùng Thoát Hoan trốn về nước. Kính mời các bác đọc và bàn luận cho vui.

 


Bắt đầu và Kết thúc

Truyện ngắn của Trần Quỳnh Nga
Đã đăng trên Báo Văn Nghệ số 50 (16-12-2017).

Nàng đã chọn cho mình một cách sống.
Bởi nàng chỉ có một cuộc đời.

*
1. Bấy giờ, vào khoảng đầu năm Ất Dậu (1285), quân Nguyên đã đánh tới Gia Lâm vây hãm Thăng Long.

Kinh thành thất thủ nhanh như một hơi rượu.

Quân Trần tan tác. Tàn quân đi thuyền ngược dòng sông Hồng, lên Tam Trĩ rút về Quảng Ninh tản mát dọc các con sông bờ suối rậm rịt um tùm.

Tháng giêng. Tháng lễ hội còn chưa kết thúc. Đâu đó trên các tuyến phố trong kinh thành đèn lồng còn giăng đỏ rực. Những sới vật dở dang, những bãi chọi gà đông đúc, những góc chợ rộn rã cờ lọng giờ tan hoang dưới vó ngựa kẻ thù.

Hoa đào rụng như chém gốc.

Thăng Long kiêu sa lừng lẫy phút chốc buồn như một phế nhân.

*
Thoát Hoan dẫn đại quân Mông Cổ rầm rập tiến vào kinh thành Thăng Long như vào chỗ không người, trong lòng hắn cũng lấy làm đắc ý lắm. Đại Việt vốn dĩ từ trước tới giờ mang tiếng là quân chư hầu nhưng trong lòng không hề chịu khuất phục. Lại thêm việc khước từ cung cấp binh lương cho nhà Nguyên đánh Chiêm Thành như đổ thêm dầu vào lửa làm nên cuộc chiến tranh Đại Việt lần 2. Những tưởng Đại Việt là đấng anh hào, ấy vậy mà mới chỉ vài ba trận đánh nhỏ thôi đã như ong vỡ tổ. Thoát Hoan thừa thắng đã cho quân truy sát đám tướng lĩnh và quân đội nhà Trần. Không lâu nữa sẽ bắt được hai vua cho xứng với câu của tổ phụ: “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc cái nòi giống ương ngạnh và không chịu khuất phục của một nước nhược tiểu”. Thoát Hoan cười gằn: “Để rồi xem, vó ngựa Nguyên Mông sẽ khiến cho cỏ nước Nam các người còn sức để vươn lên nữa hay không?”

Đêm đó, Thoát Hoan khao quân ầm ĩ trong kinh thành Thăng Long.

Cũng đêm đó, thuyền nhỏ của hai vua ngược dòng Tam Trĩ. Mùa này nước lớn, dòng sông bị kẹp giữa hai bên vách núi dựng đứng, cao vút khiến dòng sông giống như một khe nước vừa sâu, vừa hẹp, với địa hình vô cùng hiểm trở. Từ trên đỉnh núi nhìn xuống chỉ thấy mây trắng bồng bềnh, những ghềnh đá lởm chởm, những khúc cua nghiêng ngả rợn ngợp.

Thượng Hoàng Trần Thánh Tông ngồi trầm ngâm đầu mũi thuyền lặng lẽ buồn. Chẳng lẽ cứ ở mãi trong chốn tận cùng hiu hắt này để trốn tránh vây bắt trong khi thế nước đang như ngàn cân treo sợi tóc.

– Hoàng thượng nắm được tình hình thế nào từ phía quân Mông Thát?- Thượng hoàng quay lại hỏi

– Bẩm phụ hoàng, Thoát Hoan là một người trẻ tuổi và rất dũng võ. Dưới trướng lại có những tướng tài nên trong cuộc chiến lần này, ta đã vì chủ quan mà thua thế quân địch. Giờ hắn đang cho mở yến tiệc khao quân ngay trong kinh thành Thăng Long.

– Hoàng thượng có nhận được tin gì từ phía Nghệ An lên không? Phải mau chóng tập hợp quân đội để bàn kế sách phản công chứ không cứ mãi ở lâu trong lau lách um tùm này được. Thế này sẽ làm nhụt chí nghĩa quân “sát thát”.

– Nhưng quân của Thoát Hoan bây giờ đang mạnh, sợ quân ta khó lòng cầm cự nổi chứ chưa tính đến chuyện phản công nhanh. Đỗ Khắc Chung đã đi sứ để làm chậm tốc độ tiến quân của quân Nguyên, nhưng không có kết quả. Trong khi lúc này tướng Trần Bình Trọng đã hi sinh, Trần Kiện, Trần Lộng và cả hoàng thúc Trần ích Tắc cũng mang gia quyến chạy sang trại giặc. Ta cần phải có thời gian để củng cố lực lượng, Thượng hoàng có kế sách gì với Thoát Hoan không để ta tạm cầu hòa?

Thượng Hoàng không nói, ngồi lặng nhìn hai bên bờ sông bạt ngàn lau lách thở dài nghĩ về Hoàng đệ của mình giờ đang bị lên án như một vết nhơ làm tổn thương cả hoàng tộc mà lấy làm đau lòng. Xét về tình thủ túc, mất một người em làm sao người không đau lòng được. Xét về tình quân vương người lại càng nuối tiếc nhiều bởi Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc là một vị tướng toàn tài mà không ai có thể sánh bằng được.

– Phụ hoàng- hoàng thượng Trần Nhân Tông ngập ngừng- nhi thần có ý này, nhân việc Hoàng thúc Trần Ích Tắc đang là điều nghi kị của quân Nguyên Mông. Chi bằng ta xử tội thúc ấy vắng mặt bằng cách…- hoàng thượng ghé vào tai Thượng hoàng thì thầm- chỉ có cách đó mới làm quân Mông Thát kia không khỏi nghi kị.

Chỉ mới nghe thôi mà Thượng hoàng đã lặng hết cả người .

*
2. Trong thung sâu hun hút này con thuyền của An Tư chỉ là một chấm đen nhỏ xíu. Những thuyền khác của hậu cung cũng nằm ở đấy, neo lại bên những bụi cây trong thung trật tự và nhường nhịn. Hình như chỉ đến nước này hậu cung mới thôi ồn ĩ và ganh tỵ lẫn nhau. Thuyền nào thuyền nấy yên ắng lạ thường. Nơi đây khuất gió. Thung trong như một tấm gương xanh.

An Tư nhìn qua rèm cửa. Trời đã dần về chiều. Trên vách đá cheo leo chỉ thấy khói sóng và mây trời ảm đạm.

– Không biết bây giờ cây đào trước phòng ta có còn nữa không nhũ mẫu?- An Tư phá tan sự tĩnh lặng bằng một câu hỏi chợt thốt ra như vậy

– Cây đào! chắc Hoàng cô lại nhớ Hoàng thúc chứ gì- một công chúa nhỏ cao giọng nghi hoặc- hoàng thúc giờ là một kẻ phản đồ. Nếu hoàng cô còn nghĩ đến hoàng thúc thì sớm muộn gì cũng bị liên đới.

– Chắc đã nở rồi thưa công chúa – nhũ mẫu trả lời khe khẽ rồi nhanh chóng phá tan sự nghi hoặc của mọi người đang nhìn công chúa nhỏ – công chúa lại đang nghĩ đến chuyện gom hoa làm phấn nụ đấy à . Hoa đó mà làm phấn nụ thì màu sắc sẽ tươi lắm đó!

– Ước gì …

Công chúa bỏ dở câu nói nửa chừng nhìn ra khoảng không trước mắt. Thung sâu lúc trời chuyển tối đen thẫm lại đáng sợ. Ánh sáng từ trên cao yếu ớt loang ra vẽ nên những hình thù kì dị khó hiểu.

Lòng An Tư như có lửa đốt. Nàng đang lo lắng cho hoàng huynh vô cùng. Ai cũng nhìn công chúa với vẻ ái ngại bởi trong cung này ai cũng biết đến mối thân tình đặc biệt của hoàng thân Trần Ích Tắc với tiểu muội của mình. Chỉ ngặt điều họ không muốn bàn ra nơi đây một chuyện mà họ xem là một mối nguy hại.

Ngoài kia yên ắng như tờ. Ánh trăng đầu tháng cong vênh tỏa ra thứ khí trời bàng bạc nhuốm trắng cả một khúc sông loang lổ.

*
3. So với các con của Trần Thái Tông, An Tư là nàng công chúa phải chịu thiệt thòi. Mẹ nàng vốn là một phi tần của Thượng hoàng nhưng lại không được sống trong cung mà ở trong một nông trại phía đông của phủ Long Hưng. Nàng sống với mẫu thân cho đến khi thân mẫu của nàng lâm bệnh rồi mất. Năm Thượng hoàng mất, mẹ nàng cũng mất. Năm đó An Tư chỉ vừa mới năm tuổi. Nàng được đưa vào cung.

Nàng không bao giờ có thể quên được cảm giác nhỏ nhoi của mình khi đứng trước những người anh em mà nàng chưa hề biết. Cả hoàng tộc đang nhìn vào đứa trẻ đứng run run trước ngai vàng với cặp mắt vừa xa lạ vừa chần chừ. Đứa trẻ cúi mặt xuống đất muốn khóc mà không thể khóc được cho đến khi có một bàn tay chạm vào bờ vai và giật mình. Trước mặt công chúa là một người thanh niên đang mỉm cười vô cùng hòa ái: “hoàng muội, đừng sợ! ta là anh của muội, tên ta là Trần Ích Tắc” là ngay lập tức, bao nhiêu niềm tin yêu vào phép màu cứu rỗi và che chở đã nằm lại ở khoảnh khắc đó vĩnh viễn. Công chúa nắm chặt lấy tay hoàng huynh.

*
An Tư nhớ lắm. Nàng nhớ rất rõ khuôn mặt hiền lành của Trần Ích Tắc huynh mỗi khi bế thốc nàng lên cổ chạy vòng vòng quanh phủ như chơi với con gái. Nàng cũng lại nhớ hình ảnh người đàn ông lực lưỡng trong bộ áo giáp, vai mang cung tên mới từ chuyến đi săn về vội vã ào vào phủ trên tay ôm một bầu cây sai người trồng ngay trước cửa sổ phòng của nàng mà dặn dò “đây là một gốc đào quý huynh kiếm được khi phường săn ngược cổ trấn Kinh Bắc. Cây đào tượng trưng cho sự ấm cúng, gieo vào lòng mỗi người niềm vui, niềm tin yêu hi vọng. Ta muốn muội phải tập cách tin vào chính bản thân mình. Và nữa, muội phải nhớ là lá ngọc cành vàng nên muội tuyệt đối phải tập cho mình cái cốt cách mỹ nhân giống như hoa đào vậy”

*
Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc- Đệ tam hoàng tử của tông thất nhà Trần thông minh hơn người, làu thông kinh sử, văn chương hơn người lại am tường võ nghệ trong thiên hạ ít người có thể sánh nổi. Người đã từng mở học đường ở bên hữu phủ đệ, tập hợp văn sĩ bốn phương quy về một mối. Người đã nhân từ đưa tay mình ra nắm lấy tay An Tư khi nàng trở nên lạc lõng trong chính gia tộc của mình…Con người toàn tài cả về phẩm chất lẫn tư cách đang được kính trọng đó trong một đêm binh biến đã trở thành tội đồ, trở thành vết nhơ cho cả hoàng tộc.

Điều đó làm An Tư sốc.

Cuộc đời nàng so với nỗi đau mất mẹ thì nỗi đau này ghê gớm hơn nhiều. Bởi với một đứa trẻ 5 tuổi như An Tư hoàng huynh chính là cha, là mẹ, là người thân duy nhất. Người đã vượt qua tất cả những rào cản, những hạn chế của xã hội mà dạy cho nàng tất cả kinh sử, lẫn võ thuật. Người đã dành tâm huyết của mình vì một lòng trung quân ái quốc, đã dạy cho nàng phải biết tu dưỡng phẩm chất và đức hạnh của người Hoàng tộc “muội là công chúa thì phẩm chất của muội cũng phải là một công chúa, phải biết đối nhân xử thế, biết thương dân như thế muội mới được nhân dân tôn trọng và nghe theo được. Học kiếm phổ cũng thế, hiểu được tuyệt kĩ của nó tự khắc con người ta sẽ đạt được đến đoạn tịnh độ. Muội hãy cố gắng học được Bạch Vân kì kiếm để phòng thân khi không còn ta bên cạnh để lo cho muội…”

Lời dặn giống như lời trối.

Người đã bỏ nàng mà đi.

Nàng đâu biết rằng, dưới màn sương dày đặc kia, bóng một con thuyền nhỏ vừa vút qua để lại một mùi thơm khiến nàng nao lòng: mùi của kinh thành, mùi của những viên kẹo hồ lô nàng được hoàng huynh Trần Ích Tắc mua cho trong những lần cùng huynh ra phố. Nàng giật mình nhìn theo vào màn sương mờ đục lặng tờ.

Tất cả chỉ là ảo giác!

Nàng thất thần.

Giọt nước mắt rơi dài trên gò má của nàng thiếu nữ vừa chạm tuổi 16.

*
4. Ngay sau khi vào kinh thành, Thoát Hoan đã ra lệnh cất quân lần theo dấu vết quân Trần hốt gọn mẻ lưới cuối cùng để cùng đoàn quân nam tiến. Vậy mà một tuần trôi qua vẫn chưa bắt được hai vua. Hắn nhìn thời gian trôi nhanh trong lòng đã thấy bồn chồn liền cho quân rời kinh thành ra ở lán trại phía tả ngạn sông Hồng chờ tin tức.

– Ta sẽ ra lán trại ở tả ngạn sông Hồng. Các người cứ ở lại đây chiếm giữ kinh thành. Hễ có biến phải san bằng kinh thành trong nháy mắt.

Thoát Hoan nói rồi nhảy lên ngựa thong dong đi ra cổng. Con ngựa hãn huyết thần thánh với bộ lông đen bóng nổi bật trên nền đá xám lạnh của sân rồng. Trên đầu, hoa đào ken kín trông xa như những đám mây khiến Thoát hoan không thể lạnh lùng qua mau được. Trước cảnh hoa đào đẹp đến lặng lẽ như thế, đột nhiên thôi, trong lòng hắn thoáng chút bồn chồn nuối tiếc “giá Đại Việt cứ khuất phục đi, khuất phục làm chư hầu như bao đời nay vẫn thế thì có phải những chốn thiên thai này sẽ còn lại mãi mãi?”

Sinh ra từ thảo nguyên, từ bé đến giờ chỉ sống trên lưng ngựa với cung kiếm và những trận chinh phạt trải dài từ nam chí bắc Thoát Hoan hiểu được rằng, dòng dõi Đại hãn không bao giờ được yếu đuổi hay để chuyện riêng tư làm ảnh hưởng đến gia tộc hùng mạnh của mình. Đó là nguyên tắc bất biến mà bất kì Khả Hãn nào cũng phải nắm vững.

Vậy mà Thoát Hoan đã gìm cương xuống ngựa, thảnh thơi dạo trong vườn thượng uyển. Vườn ngự đẹp quá, những cành hoa sà xuống gần mặt đất non tơ cỏ xanh làm sáng cả một góc vườn. Nó gợi lên trong lòng Thoát Hoan về một kinh thành tinh tế và hoa lệ nhưng cũng rất đỗi gần gũi thân thuộc. Ở Trung nguyên đại lục của hắn thiếu gì những cảnh sắc đẹp đẽ. Nhưng đẹp đến bi uất như chốn kinh thành Thăng Long tiêu điều này thì đến bây giờ Thoát Hoan mới nhận ra được. Phải chăng ngay cả lúc điêu tàn nhất, nước Nam vẫn là một điều kì dị và bí hiểm đến mê hoặc?

Đang nghĩ vẩn vơ bỗng Thoát Hoan chợt dừng lại trước một cây đào lạ. Hoa màu bích đào, hoa tám cánh nở to hơn bình thường trên những cành đào mốc thếch sần sùi những vẩy địa y bám chặt. Nhưng dáng cây lại tinh tế lạ lùng. Trông như dáng một con hạc đang kiễng chân, vỗ cánh như chuyển bị bay lên vậy:

– Đây là loại đào gì?

– Dạ bẩm, đây là hoa đào rừng ạ. Một loại bích đào hiếm có được tìm thấy trong thung sâu. Chính Chiêu quốc vương Trần Ích Tắc đã tìm ra và đem về tặng cho Hoàng muội của người đó ạ.

– Hoàng muội của Trần Ích Tắc?

– Là công chúa lưu lạc trong nhân gian vừa được sắc phong.

– Sao trong đám thị tì không có nàng ấy?

– An Tư công chúa đã cùng hậu cung chạy trốn rồi ạ

– An Tư? Mỹ nữ đẹp nhất trời Nam? – Thoát Hoan nói thế rồi cười lớn- Hảo!

*
Trong đại điện lúc đó, Chiêu văn vương vừa lỡ tay làm đổ chén trà cung đình. Chén trà rơi xuống đất vỡ tan. Nước bắn tung tóe!

*
5. An Tư là người thứ ba sau hai vua được nghe tin từ phía trại giặc. Nó như một tiếng sét làm kinh động đến trái tim non nớt của nàng. An Tư nhắm chặt mắt. Nỗi sợ hãi duềnh lên trong lòng thiếu nữ. Nàng biết làm gì đây khi mang danh phận công chúa Trần triều lại bị chính tướng giặc yêu cầu cống nạp cho lần bang giao sắp tới. Bị đưa đến chốn hang hùm, nàng sẽ ra sao, sẽ bị đối xử như thế nào dưới thân phận của một nô lệ khi nàng mới chỉ vừa tròn 16 tuổi?

An Tư đã chịu đựng nỗi băn khoăn đó một cách cô độc. Cả triều đình đang nâng niu nàng như một thánh nhân mà không hề nghĩ đến nỗi sợ hãi sâu thẳm của một người thiếu nữ. Anh của nàng, Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, người vừa trao lại quyền năng cho nàng đã cùng lúc tước đi sự tự do của nàng đang ngồi im như phỗng làm nàng sợ hãi. Giá như Thượng Hoàng nói với nàng vài lời chắc An Tư cũng sẽ can đảm như những bậc trung thần khác sẵn sàng hi sinh thân mình cho đất nước nhưng người lại im lặng. Im lặng là đau lòng hay lạnh lùng thì nàng không thể nào hiểu nổi.

An Tư đi lại phía cửa sổ nhìn dòng sông mùa xuân xanh rờn một màu xanh nguyên thủy yên bình chảy. Sự tĩnh lặng làm nàng như rơi vào trạng thái ảo giác. Trong cơn hỗn độn đó nàng thấy mình đang ngồi khóc nơi bậc thềm. Dưới tán hoa đào bung như mây hồng và tiếng vó ngựa khấp khấp đổ dồn rộn rã:

– Hoàng huynh! Hoàng huynh.

– Sao hoàng muội lại khóc chứ

– Muội sợ huynh bỏ muội mà đi.

– Đời ta sinh ra là để phụng sự nước nhà. Nếu không bỏ xác ngoài sa trường thì ta sẽ không bao giờ buông tay muội. Muội là đứa em mà ta thương yêu nhất.

– Nhưng…

– Muội nên nhớ rằng bây giờ muội là hoàng cô của Hoàng thượng rồi. Dòng máu hoàng tộc không chỉ nuôi sống cơ thể chúng ta mà nó còn là huyết mạch nuôi dưỡng tinh thần quật cường, đức hi sinh, lòng kiêu hãnh của cả một triều đại.

– Thế tại sao huynh có thể…

– Ta đã chọn lựa cách sống của riêng mình và ta không hổ thẹn với nó. Cũng như muội giờ đây, muội phải lựa chọn cuộc sống cho riêng mình chứ không chỉ cứ ngồi chờ ta và khóc như một đứa trẻ nữa.

Hoàng huynh nói rồi mất hút trong một trận cuồng phong làm mặt nước nổi sóng duềnh khiến An Tư tỉnh giấc.

*
Chiều! Chiều rồi! bóng nắng khuất dần sau núi chỉ còn lại vài vệt yếu ớt từ đám mây trên đỉnh trời hắt xuống. Dòng Tam Trĩ dài dằng dặc chảy từ thượng nguồn núi Am Váp xuôi về đến hạ lưu giống như một con rắn lục khổng lồ vắt mình qua những dải rừng nguyên sinh thâm trầm bí hiểm trườn ra phía biển. An Tư nhìn dòng sông phía cuối hạ lưu thao thiết chảy. Nàng nhớ đến giấc mơ của mình thoáng chút ngỡ ngàng: chẳng lẽ đó là điều mà hoàng huynh mộng báo ?

*
Tháng 2 năm Thiệu Bảo thứ bảy – năm 1285. Mùa xuân năm đó, cây cỏ đìu hiu. Hơi thở đóng băng. Cả kinh thành được ví như hình rồng uốn lượn giờ cũng hiền lành náu mình trong sương giăng kín lối. Đêm đó, người ta trang điểm cho công chúa thật đẹp. Nàng mặc bộ áo lụa đỏ, đi hài đỏ, ngồi trên một cây kiệu đỏ có 8 người khiêng đi về phía trại giặc. Không ai biết được trong lòng công chúa nghĩ gì. Chỉ thấy khuôn mặt nàng khi tái nhợt, khi bừng đỏ. Đôi mắt nàng khi long lanh ngấn lệ, khi lạnh băng như nước hồ thu. Nàng đang đi về một nơi mà nàng không hề ngờ tới.

*
6.
– Múa đi! Múa để ta xem sức bền của người Giao Chỉ các ngươi chịu đựng đến đâu trước sức mạnh của Trung Nguyên đại lục.

Từ sau bức mành trúc, tiếng người vừa ra lệnh cho nàng múa không ai khác chính là tướng quân Mông Cổ Trấn nam vương Thoát Hoan. Người mang mặt nạ sắt đang ngồi bên bàn rượu trông uy nghi, đạo mạo, giọng nói trầm hùng.

– Đã một tuần trăng qua, thần thiếp đã múa hết các điệu múa của Đại Việt rồi, bây giờ, thần thiếp muốn múa điệu múa của người Mông Cổ.- An Tư cung kính cúi đầu trước Trấn Nam Vương rồi nhỏ nhẹ tiếp lời – Đêm nay, thiếp xin hầu Trấn Nam Vương điệu phi thiên vũ.

– Phi thiên vũ?

An Tư không đáp lại lời Trấn Nam Vương. Trong khoảnh khắc tĩnh lặng đó, tiếng đàn mã cầm đầu đột nhiên vút lên não nề. Tiếng đàn da diết mà lại rất phóng khoáng, mênh mang như tâm hồn dân du mục vùng thảo nguyên bát ngát và cánh chim thiên vũ vút lên trời xanh như một mũi tên đang kể chuyện về cuộc đời tự do của mình khiến Thái tử trung nguyên ngỡ ngàng không thể rời mắt. Từ bé tới giờ Thoát Hoan chỉ ở trên thảo nguyên rộng lớn. Cái khoáng đạt của lòng người cũng như lòng thảo nguyên bao la và có phần lãng tử. Chàng chắc cũng đã được biết nhiều đến các mỹ nhân, nhưng đẹp và tài hoa như An Tư quả là chàng chưa thấy bao giờ. An Tư đã khéo léo lột tả được vẻ đẹp của sức mạnh và sự nhu nhị lại với nhau. Bài múa là sự phối hợp giữa nội lực và sự uyển chuyển cho nên nét nhu càng nổi bật hơn. Người ta thường nói, nhu năng khắc cương là cái thần của bài múa chính là như vậy.

Từ khi thấy An Tư từ trên kiệu hoa bước xuống, Thoát Hoan đã thấy sững sờ trước đệ nhất mỹ nữ nước Nam rồi nhưng cái đẹp khiến hắn đắm say lại chính là từ điệu múa phi thiên vũ nhuần nhuyễn đến nghi hoặc này. Rốt cuộc nàng là ai? Là công chúa lưu lạc trong dân gian không danh phận hay một tiên nữ giáng trần để thử lòng kiêu hùng của tướng quân Khả Hãn? Câu hỏi chưa kịp thốt ra đã bị quên lãng. Tâm thế Thoát Hoan đã bị cuốn vào trong điệu vũ tiếp đất thanh thoát của nàng. Thế hạc tấn khiến xiêm áo nàng tung bay như một bông hoa đang nở.

– Trời!

Tiếng hét ngỡ ngàng không kìm được của Thoát Hoan làm An Tư bối rối. Nàng sững sờ chới với một lúc rồi ngã xoài ra đất. Âm nhạc tắt lịm. Không gian quánh lại nghẹt thở. Cả lán trại ồ lên phút chốc lại yên lặng đến nghẹt thở. Quần thần lặng im bởi ai cũng biết rằng mỗi khi Trấn nam vương cắt lời ai thì người đó không có quyền được sống nữa. Giờ thì đã hết! tiếng hét của Thoát Hoan là mũi tên cắm sâu vào lồng ngực. Con chim đã trúng tên rơi tự do xuống đất. Nàng nhắm mắt. Trời xanh vừa khép lại trên đầu nàng. Dẫu nàng biết rằng từ khi đến đây ngày nào với nàng cũng là ngày cuối nhưng nàng vẫn thấy sao thời gian lúc này đây dài lê thê đến thế. Nàng nằm im chờ đợi sự phán quyết cuối cùng không hề sợ hãi hay nuối tiếc bởi khi nhìn con chim bồ câu đưa tin bay lên trên bầu trời xanh thẫm sáng nay, nàng biết sứ mệnh của nàng đã hoàn toàn chấm dứt. Vì thế, nàng chọn điệu Phi thiên vũ để múa bằng tất cả những đam mê tự do cuối cùng của riêng mình.

– Hoàng huynh! …vĩnh biệt….

*
7. Vậy là sau một tháng giãn binh ở kinh thành Thăng Long, quân đội Đại Việt đã phủ đầu đại quân Mông Nguyên bằng những cuộc phản công thần tốc.

Vó ngựa rền rĩ.

Tiếng chiêng trống thúc dục liên hồi.

Bốn bề là biển lửa !

Tiếng binh khí loảng xoảng. Tiếng hò hét điên loạn: Phải bắt sống Thoát Hoan! Phải bắt sống Thoát Hoan.

*
8.
An Tư choàng mở mắt. Đêm tối đen. Ánh sáng từ cây đèn bạch lạp lấp lánh ở góc phòng không đủ sáng để soi rõ khuôn mặt người đàn ông đang ngồi trước mặt nàng. Là Thoát Hoan vừa lay gọi nàng dậy. Đây là lần đầu tiên An Tư được diện kiến khuôn mặt không mang mặt nạ sắt của kẻ khét tiếng hung tợn đất Trung Nguyên. Nàng đã từng tưởng tượng rằng đằng sau dáng ngồi kềnh càng như một con gấu lớn với tấm áo khoác da thú tanh đầy mùi máu phải là một người kì dị chứ không phải là một trang nam tử Hán trong một bộ áo dài màu nâu viền vàng gài khuy chéo được quấn bằng một dây đai nạm ngọc tinh tế làm lộ rõ thân hình đẹp đẽ.

– Nàng tỉnh rồi !

An Tư bừng tỉnh. Nàng chưa kịp hiểu ra sâu xa điều gì khi Thoát Hoan nói thế. Thoát Hoan không thể nào nói thế. Một đất nước luôn mang trong mình khát vọng bành trướng lãnh thổ bằng cách thôn tính các nước nhược tiểu chỉ có thể sản sinh ra những con người gồ ghề, máu lạnh sẵn sàng hủy hoại tất cả những gì ngáng trở trên con đường thành công của chúng. Ấy vậy mà trong hoàn cảnh tính mạng đang bị dồn đến đường cùng hắn vẫn đang ngồi đây và nói những lời gần như vô nghĩa khiến nàng không thể nào hiểu nổi. Nàng hít một hơi sâu trong lồng ngực để biết rằng mình không bị ảo giác. Mình không mơ. Nàng biết mình đã lọt vào đường cùng:

– Giết ta đi.

– Ta đã từng nghĩ rằng ta sẽ bóp chết nàng như bóp chết một con nhạn nhưng ta không thể. Vì nàng đã chạm đến trái tim ta chứ không phải mưu lược của anh nàng khiến ta bị lừa gạt. Chẳng lẽ, nàng không muốn gặp lại hoàng huynh của người sao?

– Hoàng huynh của ta?

– Chiêu văn vương Trần Ích Tắc, một kẻ ngông cuồng, một kẻ vì nước mà hi sinh cả tiền tài, danh vọng và thân phận của mình để làm một kẻ nội gián đáng chết.

– …

– Nhưng ta sẽ không cho hắn được chết. Cho hắn chết chẳng khác nào để cho hắn trở thành anh hùng trong lòng dân các ngươi ư? Ta sẽ cho hắn sống, sẽ cung phụng hắn, bao bọc hắn trong nhung lụa. Hắn đã muốn hàng ta sẽ cho hắn đầu hàng… và lúc đó không chỉ hai vua mà cả Trần triều đều coi hắn là một kẻ phản quốc. Hắn sẽ sống không bằng chết.

– Ngươi…

– Ta đã có thể thoát khỏi đây một cách nhanh chóng nhưng ta vẫn ở đây bởi vì ta yêu nàng. Vừa yêu vừa căm hận. Nàng cũng giống như hoàng huynh của nàng thôi, cũng sẽ chết trong tay ta nếu ta muốn thế.

– …

– Bây giờ chúng ta phải cùng nhau lựa chọn thôi, hoặc là bắt đầu hoặc là kết thúc – Thoát Hoan đứng dậy nhìn ra phía cửa sổ.

– Là sao?

– Là ta đã vì nàng mà trở thành tội đồ của dân tộc ta. Nàng cũng đã vì ta mà mang tội che giấu kẻ thù với triều đình. Nếu cả hai việc đều bị vỡ lở thì không chỉ ta, cả nàng cũng bị xử tội. Chi bằng chúng ta hãy chọn mở đầu để kết thúc mọi chuyện. Chúng ta sẽ sống cho cuộc đời của chúng ta. Sẽ biến mất khỏi cuộc chiến này một cách vĩnh viễn.

An Tư mở choàng mắt tỉnh hẳn. Trân trân nhìn vào con người đang ngồi trước mặt mình một cách lạnh lùng. Ngoài song, quân triều đình đã áp sát chặn mọi ngả đường hắn sẽ không còn lối thoát. Đồ ngạo mạn ấy cuối cùng cũng sẽ bị giết dưới tay quân đội triều đình thôi. Không ai khác chính nàng sẽ tự tay giết chết hắn. Nàng nghĩ thế nhưng rồi khi chạm phải ánh mắt của Thoát Hoan làm nàng chùng lòng. Ánh nhìn đó khiến nàng nhớ đến ánh mắt của hoàng huynh khi đưa tay nắm lấy tay nàng hồi thơ bé.

Lại có tiếng hò hét rượt đuổi ngoài cổng thành. Quân triều đình đã vây kín mọi lối thoát. Cánh cửa phòng nàng bật mở. Trong tích tắc, An Tư như bừng tỉnh. Nàng vùng dậy, kéo tấm chăn bằng lụa điều rồi đẩy Thoát Hoan vào đó.

Cho đến canh ba thì tiếng hò hét biến mất. Thinh không phút chốc trở lại yên ắng lạ thường. Gió lạnh ngoài sông thổi về gấp gấp. Trong đêm tối tĩnh mịch có hai người vội vã rời khỏi kinh thành. Ngựa phi nhanh như gió. Sau lưng họ, hoa đào rụng trắng như tuyết dưới ánh trăng đẫm sương ướt át. Mùi thơm còn đọng lại trên nhụy đài chan chát ngọt ngào.

T.Q.N 

Hội nhà văn Việt Nam: Từ Hội chó săn đến hội bán nước

Hội nhà văn Việt Nam: Từ Hội chó săn đến hội bán nước

Phạm Thành

 

“…Nay với việc cho in truyện ngắn “Bắt đầu và kết thúc” trên mặt tiền của báo Hội, ngợi khen giặc, bôi bẩn dân tộc thì cái Hội Nhà Văn Việt Nam đã tiến thêm một bước, không chỉ là một hội chó săn mà còn là một hội bán nước…”

batdau_ketthuc

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diên: “Báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam được xem như cái mặt tiền và là nơi ẩn chứa linh hồn của những hà văn trong Hội nhà văn này. Hiện tại, Hội Nhà văn Việt Nam do nhà thơ Hữu Thỉnh làm chủ tịch đến khóa thứ 3 liên tiếp, Báo Văn nghệ do… làm tổng biên tập. Trên báo Văn Nghệ số 50 (16-12-2017) có in truyện ngắn “Bắt đầu và Kết thúc” của Trần Quỳnh Nga. Truyện đề cập đến các nhân vật lịch sử Trần Ích Tắc, An Tư, Thoát Hoan. Về Trần Ích Tắc thì là “một kẻ vì nước, mà hy sinh cả tiền tài, danh vọng và thân phận của mình để làm một kẻ nội gián”. Còn công chúa An Tư thì che chở cho Thoát Hoan để cùng Thoát Hoan trốn về nước”.

GS Trần Đình Sử nhận định về truyện ngắn “Bắt đầu và Kết thúc” này: “Trần Ích Tắc là một tội nhân của lịch sử, là biểu tượng cõng rắn cắn gà nhà, bán nước cầu vinh, Thoát Hoan là kẻ thù của dân tộc, nêu tên trong lịch sử. Có lí do gì để phiên án, lật lại bản án lịch sử, biến kẻ tội đồ thành người yêu nước, biến kẻ thù thành kẻ mạnh mẽ đáng yêu?

Trước đây tôi có viết, nếu nước ta trở thành một khu tự trị của Trung Quốc thì tên nước bị xoá, lịch sử Việt Nam sẽ được viết lại. Bọn bán nước được viết thành anh hùng, Lẽ nào tiên đoán của tôi đã ứng nghiệm?!”.

Nhà giáo, tiến sĩ Chu Mộng Long viết: “Rốt cuộc, cả “bắt đầu” lẫn “kết thúc” đều không có gì ngoài một áng văn mang cảm hứng đồng bóng với mục đích thần tượng hóa kẻ thù. Cũ rích và nhạt thếch của lối văn nô. Đọc xong tất cả đều bốc hơi, chẳng để lại dư vị gì. Có chăng là một mùi ô uế bốc lên từ luận điệu của kẻ cướp nước với chủ nghĩa bá quyền và kẻ bán nước với luận điệu ru ngủ dân chúng. Và có chăng là hiệu ứng ngược gây phẫn nộ trong cộng đồng người Việt yêu nước. Tôi không tin Quỳnh Nga có tư tưởng ấy mà chẳng qua bị nhồi sọ quá nặng. Nếu truyện này được đăng trên Hoàn Cầu hay Phượng Hoàng của Trung Hoa thì có lẽ thích hợp hơn là trang Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam.

Lịch sử và văn chương đến lúc chấp nhận trò chơi tương tác diễn ngôn. Đã qua rồi cái thời văn chương dựa dẫm vào lịch sử, xem lịch sử là chân thực, mẫu mực. Nhưng trong trò chơi tương tác này, Trần Quỳnh Nga đã thất bại thảm hại vì những sáng tạo trong Bắt đầu và kết thúc không có gì hơn ngoài sự nô dịch về tư tưởng và lối viết. Đó là sáng tạo chết và trang Văn nghệ cũng chết theo nếu tác giả và tòa soạn không chịu khai phóng tinh thần mà chỉ nhăm nhăm tìm nguồn tài trợ để giải quyết khủng hoảng”.
Nhà Văn Hoàng Quốc Hải thì giận dữ: “một áng văn phản lịch sử”.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, Giáo sư Trần Đình Sử, nhà giáo, tiến sĩ Chu Mộng Lòng cùng sự nổi giận của Nhà văn Hoàng Quốc Hải, tất cả đều đúng, đều chuẩn, thể hiện một thái độ vì nước, rõ ràng, dứt khoát, Phạm Thành chỉ chua thêm một câu: Nếu không có Phú Trọng và phe phái Phú Trọng đã và đang thắng thế trong mưu đồ rắp tâm bán nước cho Tàu Cộng thì có mà nhử thính Văn Nghệ của Hữu Thỉnh và… cũng không dám đăng truyện này lên báo. Suy cho cùng về chính trị, truyện ngắn này cổ vũ cho bọn Việt gian hãy tin tưởng bán nước Việt Nam cho Tàu Cộng.
Vì sao vậy?
Vì báo chí, văn chương nghệ thuật là một vũ khí lợi hại, tiềm ẩn những nguy cơ trước mắt và lâu dài vô cùng to lớn. Và khi nó được chính quyền sử dụng vào mục đích xuyên tạc lịch sử, bôi bẩn dân tộc, ngợi ca kẻ thù thi sự nguy hại mất nước đã đến rất cận kề. Hồi năm 2012, trong lúc đang dậy mùi thum thủm thơ thiền của Hoàng Quang Thuận, Phạm Thành tôi đã từng khóc trên Blog Bà Đầm Xòe như thế này:

“Các bạn ơi, Bà Đầm xòe Phạm Thành khi viết bài “Thúi lắm rồi, đất nước ơi!” là Phạm Thành khóc đấy! Khóc cho đất nước, khóc cho dân tộc dường như đến hồi mạt không còn đường cứu chữa nữa rồi. Bởi vì xã hội ta đang sống không chỉ có nhung núc những sâu, những bọ tham ăn, tham quyền mà giờ đây đã ào ào nảy nòi thêm ra một đống đám trí thức lưu manh trong giới khoa học, giáo học và những nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa. Điều này như báo hiệu rằng, sự mất của dân tộc giừơng như không thể cứu chữa được nữa, vì sự lưu manh trong giới trí thức khoa học, văn học nghệ thuật là biểu hiện cuối cùng của con đường mạt của dân tộc. Các triết gia chân chính từ lâu đã chỉ ra rằng, đất đai sông núi có thể bị mất bởi quân xâm lược, nhưng chữ nghĩa, văn hóa của dân tộc ấy còn thì nước mất rồi còn có thể lấy lại, chứ mất ngôn ngữ – chữ nghĩa – văn hóa thì đất nước đó có thể còn nhưng dân tộc thì đã mất.
Phạm Thành tôi phải khóc lên “Đất nước ơi, Đất nước ơi!” là vì điều này đấy. Nhưng vì còn le lói trong lòng niềm tin về dân tộc sẽ còn, nên tôi mới khóc trong sự căm giận về một lũ trí lưu manh trên cánh đồng khoa học và chữ nghĩa như vậy”.

Tuy Phạm Thành tôi đã khóc như vậy, nhưng từ năm năm 2014 đến nay, giới lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam lại bất ngờ hiện lên trước mặt tôi y trang một Hội chó săn khi có công văn tố cáo tội phạm là tôi sang An ninh Hà Nội khi tôi đem tiểu thuyết “Cò hồn Xã nghĩa” dự thi nộp cho Hội nhà văn Việt Nam. Nay với việc cho in truyện ngắn “Bắt đầu và kết thúc” trên mặt tiền của báo Hội (Báo Văn Nghệ), ngợi khen giặc, bôi bẩn dân tộc thì cái Hội Nhà Văn Việt Nam đã tiến thêm một bước, không chỉ là một hội chó săn mà còn là một hội bán nước.

Phạm Thành

nguồn:  http://ethongluan.org