Vũ Thất

Bảo Bình 1

Category Archives: Các Bài Khác

Những vì sao

Những vì sao
Vũ Thất 
Image result for starry night sky
Ảnh :pcwwallart
Tôi cảm thấy mỏi mệt và buồn ngủ, muốn rời đài chỉ huy về phòng nhưng nghĩ đến những giờ phút lê thê một mình trên chiếc giường xa lạ trong căn phòng lạnh lẽo chật hẹp, tôi thấy rõ là còn tệ hại hơn ở đây. Và giả như có rơi được vào giấc ngủ, thì hẳn cũng lại mơ thấy những gì không muốn thấy. Thôi thì đành đứng đây tuy âm thầm lặng lẽ, nhưng ít nhất cũng có bóng dáng con người. Bằng đang đứng bên tôi, rất gần mà cũng rất xa. Dường như anh mãi mê theo dõi hai ánh đèn xanh đỏ hướng mũi tàu. Tôi nghe anh ra lệnh đổi hướng đi…
 
Tôi xoay người, khoanh tay lên thành đài, ngước nhìn bầu trời đầy sao. Bầu trời sâu thăm thẳm và vô vàn các vì sao rực sáng đến ngạc nhiên. Hình ảnh gợi tôi nhớ một câu trong truyện ngắn được học từ Hội Việt Mỹ năm ngoái: Chưa bao giờ tôi thấy bầu trời sâu thẳm và các vì sao rực rỡ đến thế’. Tôi ưa thích câu này và đã từng ngước nhìn bầu trời về đêm nhưng lúc nào không gian của thành phố cũng vàng úa che mờ những vì sao thưa thớt. Tôi đã nghĩ đó chỉ là lời hoa mỹ của một nhà văn. Nhưng đêm nay, ngoài biển khơi tăm tối, tôi thấy lời văn đó chừng như chưa diễn đạt đủ. Bởi vì chính mắt tôi đang chiêm ngưỡng bầu trời sao tuyệt vời… 
 
Vừa lúc Bằng quay lui nhìn tôi, tôi hỏi ngay:
– “Đại úy có đọc truyện The Stars của Alphonse Daudet?”
– “’The Stars’ thì chưa, nhưng ‘Les Étoiles’ thì có. Thời trung học của tôi còn ngoại ngữ Pháp văn nên Alphonse Daudet nằm trong chương trình.”
– “Tôi phải mượn câu nói của cô chủ Stéphanette với chàng chăn cừu để tạm diễn đạt những gì tôi đang chiêm ngưỡng: ‘Never had the heavens appeared to me so profound, never the stars so brilliant.’”
– “Tôi thì thích câu tiếng Pháp, nghe… Tây hơn: ‘Jamais le ciel ne m’avait paru si profond, les étoiles si brillantes…’”
Tôi cười thầm. Anh chàng có vẻ muốn khoe mình biết tiếng Pháp chăng? Vậy thì nói thêm một câu tiếng Anh nữa cho bỏ ghét:
– “If one has ever passed a night under the stars, one knows that during the hours when most people sleep a mysterious world awakens in the solitude and the silence.”
(Nếu có bao giờ thức ngoài trời một đêm đầy sao, bạn mới biết rằng trong lúc chúng ta ngủ, một thế giới huyền bí thức dậy trong cô đơn và tĩnh mịch)
– “Cô Phượng thuộc cả bài tiếng Anh?”
– “Tôi từng thuộc cả bài nhưng giờ thì quên nhiều, như câu tiếp theo!”
Bằng không đọc tiếp bằng tiếng Pháp mà… nhân nhượng dịch sang tiếng Việt:
 “Lúc bấy giờ những dòng suối có tiếng ngân trong trẻo hơn, những hồ nước lấp lánh những đốm lửa nhỏ. Các thần linh của núi rừng đi lại tự do; và trong không gian có những xao xuyến, những âm thanh không thể nghe được, tuồng như người ta nghe cây cối tăng trưởng, cỏ hoa mọc thêm’. Trong trường hợp đứng giữa biển mịt mùng như đêm nay, lời diễn đạt trên cần bổ sung thêm một đoạn nữa: tuồng như người ta nghe được cả nhịp tim của công chúa Thủy tề và nỗi hân hoan của người thủy thủ…”
Lời thêm thắt của Bằng mang cho tôi niềm hưng phấn và bạo dạn. Tôi cao hứng đọc tiếp, đổi tiếng ‘shepherd’ của cô chủ và thay bằng cấp bậc của Bằng:
– “How beautiful the stars are! I have never seen so many. Do you know their names, lieutenant?” (Đẹp quá. Chưa bao giờ tôi thấy nhiều như thế. Đại úy có biết tên tất cả các ngôi sao kia không?
“Mais oui, Mademoiselle Phượng. Tenez! Juste au-dessus de nous, voilà le Chemin de saint Jacques (la voie lactée).” (Thưa cô, biết chứ. Cô hãy nhìn kia! Ngay trên đầu chúng ta là con đường thánh Jacques -dải Ngân Hà)
Chúng tôi cùng cười phá lên. Tiếng cười đánh thức cảm giác gì đó rất mơ hồ trong tôi. Không ngờ Bằng lại nhạy bén đến thế. Tôi vui thích ngợi khen:
– “Xem chừng đại úy thuộc cả bài?”
– “Cũng không hơn gì cô!”
– “Tôi không tài nào nhớ cái đoạn anh chàng chăn cừu kể chuyện tình các vì sao! Vừa khó hiểu vừa có những danh từ riêng lạ lẫm…”
Anh nghiêng mặt nhìn tôi:
– “Phiên hải hành thì còn dài, để tôi thử đóng vai chàng chăn cừu tán hưu tán vượn thêm may ra… rõ hơn! Nhưng trước hết tôi phải giao quyền chỉ huy cho Thiếu úy Lâm. Cô chờ tôi một chút!”
 
Bằng bước sang bàn hải đồ, loay hoay đo đạc. Tôi tiếp tục ngước nhìn các vì sao, hít sâu làn gió nhẹ, cố đè nén xúc động. Sao bỗng dưng tôi lại gài Bằng và tôi vào hai nhân vật của một truyện tình tuyệt đẹp? Trong sâu thẳm của tâm hồn, tôi đang có ước muốn đó sao? Chưa bao giờ tôi và Hưng có những giây phút êm đềm thơ mộng như thế này. Hưng quá thực tế. Trong đầu Hưng lúc nào cũng đấu tranh cướp chính quyền, lúc nào cũng tìm phương cách đuổi Mỹ về nước, lúc nào cũng mộng mơ xây dựng một xã hội không có người bốc lột người. Trong suốt tuần bên anh, nếu Hưng không bàn chuyện làm cách mạng thì cũng trầm ngâm ưu tư, chưa từng được một lần cùng thưởng thức những ưa thích đời thường như Bằng và tôi hiện tại! Ngay cả khi ngồi bên nhau ở những quán cà phê ngoài trời, tôi cũng không nhận được một lời tình tứ ngọt ngào nào từ Hưng, trái lại có lần tôi phải mượn một câu trong một truyện của Bùi Quang Đoài để tỏ lòng mình: ‘Anh hãy đếm những vì sao trên trời, được bao nhiêu thì em yêu anh còn hơn thế nữa’. Anh nghe và chỉ cười trừ…”
Bằng trở lui đứng bên tôi, hỏi:
– “Cô Phượng thấy ‘The Stars’ ra sao?”
Tôi lại nhìn lên bầu trời rồi thú nhận:
– “Sao nhiều hơn và sáng tỏ hơn ở thành phố… vạn lần.”
– “Tôi muốn hỏi cảm nghĩ về truyện Les Étoiles”.
– “Rất tuyệt! Tôi mê lắm, mê đến thuộc lòng!” 
– “Chỉ câu kết thôi cũng đủ ăn tiền, phải không?” Bằng cười khẻ. “Có lúc tôi ngỡ rằng một trong những ngôi sao đó, ngôi sao đẹp nhất, sáng nhất, lạc đường đã đến tựa trên vai tôi mà ngủ….”
 – “Đẹp như mơ! Mọi người mê là vì vậy”.
– “Thời đó tôi cũng mê lắm, nhưng sau vào Hải Quân, được học hàng hải thiên văn, có dịp nghiên cứu các vì sao mới thấy anh chàng chăn cừu này có phần… ma giáo.”
– “Ma giáo, ma giáo là sao?” Tôi ngạc nhiên hỏi.
– “Cô chê anh chàng chăn cừu kể chuyện tình các vì sao khó hiểu. Tôi tạm tóm lượt đoạn khó hiểu đó:  «Cô hãy nhìn kia! Ngay trên đầu chúng ta là con đường thánh Jacques (dải Ngân Hà)… Chính thánh Jacques đã vạch con đường này cho hoàng đế Charlemagne tiến đánh bọn Sarrasins. Xa hơn, là cổ xe chở linh hồn (Ðại Hùng Tinh) với bốn trục bánh xe sáng rực. Ba ngôi sao đi đầu là ba con vật kéo xe, và ngôi sao bé tí gần ngôi sao thứ ba là người xà ích điều khiển xe… Thấp một chút là sao Ba Ông Vua…Thấp hơn một chút, vẫn về phía nam, là ngôi sao Jean de Milan, ngọn đuốc của các vì sao. Về ngôi sao này, các mục đồng có truyền tụng một câu chuyện như sau. Vào một đêm nào đó, Jean de Milan cùng với sao Ba Vua và sao Poussinière (sao Rua) được mời dự tiệc cưới của một sao bạn gái. Sao Poussinière vội vả hơn nên đi trước và chọn lộ trình cao… Sao Ba Vua đi đường thấp hơn và đuổi kịp; nhưng anh chàng Jean de Milan lười biếng này, vì ngủ dậy trễ, đi lẹt đẹt sau chót, giận dữ đưa cây gậy ra để chận các sao kia lại. Vì thế, sao Ba Vua còn được gọi là cây gậy của Jean de Milan. Nhưng ngôi sao đẹp nhất trong tất cả các vì sao, là ngôi sao của chúng tôi, Ngôi Sao của Kẻ Chăn Cừu (sao Hôm, sao Mai)… Chúng tội còn gọi sao đó là Maguelonne, nàng Maguelonne kiều diễm chạy theo chàng Pierre của xứ Provence (Thổ Tinh) và kết hôn với chàng ta cứ bảy năm một lần. » Câu chuyện mờ mờ ảo ảo, tính danh các vì sao không giống ai, kết cuộc chẳng đâu vào đâu! Vậy có khác gì những lời ru ngủ cho cô chủ vốn đang mỏi mệt vì lạc đường vì mưa lạnh! Ngồi cạnh kề nhau mà ngủ gục thì đương nhiên phải ngã vào vai… chàng thôi! Ma giáo là chỗ đó!”
– “Đại úy có ý tưởng… quỷ quái thật!”
– “Tôi chỉ bông lơn cho vui thôi. Huyền thoại của Pháp về các vì sao đến anh chàng chăn cừu mà cũng biết thì coi như người Pháp nào mà không biết! Chúng ta mù mờ chỉ vì chúng ta chỉ biết… truyện cổ nước Nam!”
Tôi vẫn cảm thấy bực dọc. Dù là ý nghĩ bông lơn nhưng vẫn là một xúc phạm đến nét đẹp của nội dung. Phải chọc quê cho bỏ ghét, tôi nói khích:
– Đại úy trách anh chàng chăn cừu ma giáo. Vậy, với cái tâm trong sáng, đại úy sẽ kể câu chuyện thế nào?”
– “À à! Cô Phượng làm khó tôi chi vậy; có là khùng mới sửa đổi một tuyệt phẩm văn chương. Tôi chỉ dám liều mạng lan man cái đoạn khó hiểu cho nó… dễ hiểu hơn thôi!”
– “Tôi xin lắng nghe.”
– Trường hợp việc tôi lan man càng khiến cô Phượng thêm khó hiểu, thì hãy như cô chủ của chàng chăn cừu, cô quá giang của chiến hạm cứ tự nhiên… tựa lên vai tôi mà ngủ!”
– “Đại úy! Xin làm ơn…” Tôi ngượng nghịu kêu lên.
– “Trước khi lan man,” Bằng thản nhiên tiếp, “tôi xin có vài lời phi lộ về thiên văn. Như cô đang nhìn thấy và như trong truyện kể, bầu trời quả là sâu thẳm với vô vàn các vì sao. Sâu thẳm là vì nó vô cùng tận. Rồi cô sẽ thấy vì đâu nó vô cùng tận. Còn với vô vàn các vì sao, thì ngay với kính thiên văn, cũng không ai đếm được hết. Tuy vậy, từ năm ngàn năm trước, các nhà thiên văn đã quan sát, nghiên cứu và chọn đặt tên cho chừng vài chục ngôi sao sáng nhất, có lợi ích nhất cho mùa màng và hàng hải. Nhưng việc nhận dạng từng vì sao lại là chuyện khó nên tùy vị trí của chúng, họ đặt chúng thành từng chòm, và hình dung mỗi chòm thành một con người hay một con vật. Và qua hình dạng của nó, họ bịa ra một câu chuyện thần thoại để dựa vào đó mà đặt tên cho chòm sao. Có tất cả 88 chòm sao thấy được bằng mắt thường trên bầu trời, gồm 12 chòm sao Hoàng Đạo, 29 chòm sao ở Bắc bán cầu và 47 chòm ở Nam bán cầu. Cô Phượng theo kịp chứ?”
– “Xin tiếp tục…”
– “Vào thời điểm anh chăn cừu ngồi bên cô chủ ở một trang trại nào đó trên nước Pháp nằm khoảng giữa Bắc bán cầu, bầu trời hiện ra những chòm sao như được kể trong truyện: Con đường của Thánh Jacques tức Dải Ngân Hà, Chòm Đại Hùng Tinh với Cổ Xe chở Linh Hồn, chòm Lạp Hộ với sao Ba Vua, chòm Đại Khuyển với sao Sirius, chòm Kim Ngưu với cụm sao Rua cùng hai hành tinh Sao Kim và Sao Thổ.Vậy, tôi bắt đầu bằng huyền thoại Dải Ngân Hà…”
Image result for starry night sky
Ảnh :pcwwallart
Tôi chận lời Bằng:
– “Huyền thoại dải Ngân Hà –con đường Thánh Jacques, theo ông thầy tôi giảng thì đó là con đường hành hương từ Pháp sang Tây Ban Nha mà vì tín đồ đi hành hương quá đông nên bụi bay mờ mịt thành một dải sáng trông như sữa trên bầu trời, nên được đặt tên là La voie lactée. Mình gọi là Dải Ngân Hà.”
– “Đó rất có thể là huyền thoại được kể trong truyện. Nhưng còn một huyền thoại khác cũng ‘trông như sữa’, mà hấp dẫn hơn. Đó chính là một trong các huyền thoại được sáng tác để đặt tên cho chòm sao. Thần thoại Hy Lạp kể rằng trên trời có một vị thần chúa tể tên Zeus, rất uy quyền mà cũng rất…. loạng quạng! Một hôm, một đứa con ngoại hôn của ông bị khát sữa vì mẹ đi vắng, ông liều mạng cho nó bú trộm vú hoàng hậu Hera đang ngủ say. Hoàng hậu giật mình đẩy đứa bé ra, khiến dòng sữa văng tóe lên bầu trời thành Milky Way.”
Bằng nâng ống dòm lên tìm kiếm rồi đưa cho tôi:
– “Cô Phượng nhìn kỹ hướng này sẽ thấy một dải sáng chạy dài từ hướng lái đến hướng mũi tàu. Đó là Milky Way.
Tôi nhìn qua ống dòm. Đúng là có một dải sáng, nơi thì rực trắng, chỗ thì ửng hồng quyện lẫn những làn mây đen nằm vắt ngang bầu trời. Một hình ảnh lạ lùng, tuyệt đẹp nhưng không có gì giống một đường sữa hay long lanh thủy ngân. Tôi hỏi:
– “Milky Way sao lại dịch là Dải Ngân Hà?”
– “Thì đông là đông, tây là tây mà! Người châu Âu thấy nó như dòng sữa nhưng người châu Á trông nó tựa như dòng sông! Phải chăng vì dân châu Á nghèo nàn ít thấy sữa nên chỉ có hình ảnh nước trong đầu? Nhưng chính nhờ nghĩ tới dòng sông Ngân Hà mà ngày nay văn học Việt Nam có được câu chuyện tình đẩm nước mắt mà đẹp hơn cả Les Étoiles. Đẹp hơn là cái chắc: Cô con gái út của Ngọc Hoàng yêu chàng chăn trâu. Và vì quá yêu nhau mà phải bị phạt xa nhau! Cô hãy nhìn lại dải Ngân Hà, và tôi sẽ chỉ cô đâu là Chức Nữ, đâu là Ngưu Lang…”
Tôi phản đối:
– “Đại úy ơi, đây chỉ là huyền thoại!”
– “Đúng là huyền thoại nhưng là huyền thoại về một một thực thể. Thực tế trên bầu trời có một ngôi sao mang tên Chức Nữ và một ngôi sao mang tên Ngưu Lang, mỗi ngôi sao nằm một bên dải Ngân Hà. Cô hãy nhìn dải Ngân Hà ở khoảng này.” Tôi hướng theo ngón tay Bằng. “Ngôi sao sáng nhất, lấp lánh ánh xanh ở bờ sông bên trên chính là nàng Chức Nữ. Còn ngôi sao dĩ nhiên sáng thua Chức Nữ đôi chút ở bờ bên dưới, phía phải chính là chàng Ngưu Lang. Và ngôi sao bên trái, nằm ngang sao Ngưu Lang là một tiên nữ tên Thiên Tân, là người được Ngọc Hoàng biệt phái để mỗi năm đưa đò cho ‘đôi trẻ’ gặp lại nhau. Cô nhận ra ba ngôi sao rồi chứ?”
– “Thấy rồi.” Tôi hăng hái gật đầu.
– “Cô có biết đôi uyên ương bị chia cách bao xa không?”
Tôi cười:
– “Chắc không quá xa. Xa quá thì tiên nữ Thiên Tân chèo gì nổi!”
Bằng hướng nhìn về vùng trời mông lung như đang đo lường khoảng cách giữa hai vì sao. Tôi nghe ấm ức với cách hỏi của Bằng, câu hỏi vô bổ, vô lý như muốn chọc tức người nghe. Có ai đi đo làm gì khoảng cách giữa hai vì sao! Tôi quay nhìn hướng mũi tàu. Đài chỉ huy lờ mờ bốn bóng đen. Một bóng đứng trước chúng tôi bên mạn tả là tên Mỹ da trắng. Hắn lên đài chỉ huy cùng Hạm trưởng  khi chiến hạm bắt đầu vào vùng nhiều ghe đánh cá và vẫn đứng im lìm như thế sau khi hạm trưởng giao trách nhiệm cho Bằng. Dường như hắn cũng thích ngắm sao và dường như cũng lắng nghe Bằng nói về các chòm sao. Ba bóng đen kế tiếp đứng dàn hàng từ cánh phải như ba pho tượng, mỗi pho tượng một thế đứng mà tôi nghĩ rằng trong tư thế đó, mỗi người hẳn tận dụng được tối ưu nhãn lực để quan sát và phát hiện mọi đối vật. Một người thì ngồi lù lù trên thành đài cánh hữu, tôi đoán là Thiếu Úy Lâm, ống dòm dán vào mắt. Chiếc ghế hạm trưởng trống vắng im lìm. Tiếng của Bằng kéo tôi xoay lại:
– “Muốn thấy được là xa bao nhiêu, tôi cần nói thêm đôi chút về dải Ngân Hà. Thứ nhất dải Ngân Hà có chừng vài trăm tỷ ngôi sao trong đó có ngôi sao Mặt Trời. Chúng ta đã học Thái dương hệ gồm Mặt Trời và 9 hành tinh quay quanh nó. Trái Đất chúng ta là một. Dải Ngân Hà thực ra là một khối hình trụ tròn, tựa như vòng thổi của khói thuốc, có đường kính khoảng 100.000 năm-ánh-sáng, có độ dày khoảng 1.000 năm nhưng vì chúng ta đang ở bên trong nó nên thấy như một… dải ngân hà! So với vũ trụ, dải Ngân Hà chỉ chiếm một khoảng trời quá bé nhỏ. Chỉ cần biết nó bé nhỏ cỡ nào là ta biết vũ trụ lớn cỡ nào. Cô hẳn còn nhớ tốc độ của ánh sáng là ba-trăm-ngàn-cây-số-trong-một-giây. Một năm-ánh-sáng là gần 10 ngàn tỷ cây số. Theo công thức tính thể tích hình trụ tròn, ta lấy bình phương của ‘10 ngàn tỷ cây số nhân cho bán kính 50.000 năm-ánh-sáng’ rồi nhân chiều cao là ‘10 ngàn tỷ cây số nhân cho 1.000 năm’ rồi nhân cho Pi thì… không tưởng tượng nỗi!”
– “Quả là không thể hình dung nó lớn cỡ nào!”
– “Với một dải Ngân Hà mênh mông như vậy thì khoảng cách xa nhau giữa Chức Nữ và Ngưu Lang là 16 triệu năm-ánh-sáng xem ra có bao!”
– “Xa như vậy thì làm thế nào một năm gặp một lần được?”
– “Thì như vậy mới gọi là huyền thoại! Ngọc Hoàng chỉ cần cho gặp là… gặp thôi!”
Bằng cười sảng khoái. Tôi cũng thấy vui lây, không ngờ trên trời lại có những con số hay ho như vậy. Tiếng Bằng lại cất lên như lời thì thầm:
 – “Trở lại bộ ba Ngưu Lang-Chức Nữ-Thiên Tân, về phương diện thiên văn, là một kết hợp lừng danh từ ba ngôi sao sáng của 3 chòm sao Thiên Ưng, Thiên Cầm, Thiên Nga. Nó mang tên là ‘Tam giác mùa Hè’. Cũng với những kết hợp tương tự, các ‘Tam giác mùa Xuân’, ‘Lục giác mùa Đông’ đã giúp cho những nhà hàng hải từ thời xa xưa cho đến khi… tận thế luôn luôn có phương tiện hải hành an toàn trên hải lộ!”
Sợ Bằng lan man vào chuyên môn, tôi vội hỏi:
– “Ngưu Lang, Chức Nữ mỗi năm được tái ngộ vào tháng bảy mưa ngâu, còn trong truyện của Alphonse Daudet, Kim Tinh và Thổ Tinh phải cần đến 7 năm mới kết hôn một lần là sao?”
– “Thực tình mà nói, tôi cũng… mù luôn!”
Tôi mỉm cười, nhớ ra Trung úy Bách cũng từng dùng từ ngữ này. Họ sống gần gụi nhau quá. Chỉ cần tôi ở thêm với họ vài ngày nữa, e rằng cũng khó tránh khỏi bị… mù!
– “Tuy nhiên,” Bằng nói tiếp, “theo tôi suy đoán thì chắc tác giả muốn nói về thời điểm gặp gỡ giữa Kim Tinh và Thổ Tinh được nhìn từ Quả Đất.”
Bằng lặng thinh một lúc như tìm giải đáp:
– “Cái rắc rối là người đẹp Kim Tinh –Vệ Nữ- không chịu quay quanh Mặt Trời cùng chiều với 8 hành tinh kia mà lại quay theo chiều ngược lại. Người đẹp này lại nhiều e ấp. Trong một thời gian nào đó, nàng vừa là sao Mai vừa là sao Hôm; một thời gian khác chỉ là sao Mai hoặc sao Hôm; lại có khi lâu vài ba tháng nàng biến mất trên bầu trời. Với người đẹp Kim Tinh thì vậy, còn người đẹp Kim Phượng cũng nào kém: lúc thì vừa quen vừa lạ, khi thì chỉ lạ hoặc chỉ quen và ngày mai đây sẽ vĩnh viễn biến mất khỏi con tàu này, trừ phi người đẹp để lại địa chỉ.”
Tôi cười:
– “Tôi được Ngọc Hoàng gửi tạm xuống chiến hạm này để đồng hành cùng đại úy một lần… rồi thôi. Còn đại úy muốn gặp lại, hãy nhìn ngôi sao bên sao Chức Nữ. Đó là nơi tôi ở: ‘Quê nhà ở phía ngôi sao. Qua sông mượn khúc ca dao làm cầu.’”
Bằng lắc đầu:
– “Đành thôi! Mượn tiên nữ đưa đò thì còn hy vọng được chứ mượn khúc ca dao thì Ngọc Hoàng lấy đâu mà cho mượn!” Anh buông tiếng thở dài. “Thôi thì đành… nói tiếp chuyện 7 năm kết hôn một lần. “Ngoài rắc rối quay ngược chiều, càng rắc rối hơn là mỗi hành tinh không chỉ có chu kỳ quay quanh Mặt Trời khác nhau mà còn khác nhau cả vận tốc tự quay quanh trục của chính mình. Đây là bài toán rắc rối mà tôi chưa có dịp nghiên cứu. Nhưng hãy cứ tin cái nhóm từ ‘cứ bảy năm cưới một lần’ là kết quả tính toán cho thời điểm nhìn từ Trái Đất thấy được Thổ Tinh nằm kề Vệ Nữ.”
– “Quả là rối rắm.” Tôi nhìn nhận. “Còn Đại Hùng Tinh là ngôi sao nào? Nó có nằm trong Dải Ngân Hà?”
Tiếng Thiếu úy Lâm vang lên sau câu tôi hỏi:
 “Trình Hạm phó, chiến hạm nằm lệch ngoài đường nửa hải lý.”
– “Anh cho lệnh lái vào hải trình.”
– “Đáp nhận.”
Bằng lặng thinh nhìn hướng mũi tàu như đang quan sát tác động của các lệnh Thiếu úy Lâm ban hành. Một lúc, anh quay sang tôi:
– “Còn câu chuyện của chúng ta, tôi có… lệch xa lắm không?”
– “Chừng trăm tỷ hải lý thôi!” Tôi cười giòn.
– “Vui lòng cho biết đang đến đâu để tôi tự lái vào.”
– “Trong truyện có nhắc tới sao Đại Hùng Tinh, xin đại úy chỉ cho thấy ngôi sao đó ở đâu?”
Ảnh Earthsky.com
– “Chỉ thì dễ mà thấy được hay không thì lại tùy sức… tưởng tượng! Trước tiên cần nói rõ nó không là một ngôi sao mà là một chòm sao và nó nằm ngoài dải Ngân Hà. Chòm Đại Hùng Tinh –Ursa Major gồm hai chục vì sao, mang hình tượng con gấu, gọi là Gấu Lớn đối diện một con gấu nhỏ hơn, tức Tiểu Hùng Tinh. Ngôi sao cuối cùng của cái đuôi của Gấu Nhỏ chính là sao Bắc Cực Polaris, vô cùng cần thiết cho người đi biển. Thế nhưng vì sao Bắc Cực không được sáng lắm, nên muốn tìm ngôi sao này cũng như muốn tìm các chòm sao khác gần đó, người ta phải nhờ đến chòm Gấu Lớn. Bằng cách nào? Ở bụng và đuôi Gấu Lớn có 7 ngôi sao sáng rất nổi tiếng cả trong thiên văn lẫn văn học, mang tên Thất Tinh Bắc Đẩu. Chúng xếp thành hình cái gàu múc nước –như cái muỗng- với ba ngôi sao làm cán và 4 ngôi sao làm chậu. Kéo dài 5 lần cạnh nối hai ngôi sao cuối về phía miệng chậu, sẽ gặp sao Bắc Cực.  Vì ở cách xa trên 400 năm-ánh-sáng nên dù ở bất cứ nơi nào trên Bắc bán cầu, ta luôn luôn nhìn thấy ngôi sao này. Độ cao của nó so với đường chân trời chính là vĩ độ của người ngắm nó.”
 
Bằng bước về bàn hải đồ, bật ngọn đèn nhỏ vài giây rồi bước sang chiếc la bàn điện đặt giữa đài chỉ huy. Anh loay hoay ngắm qua vòng chia độ của la bàn xuôi theo lái tàu rồi trở lại bên tôi:
– “Chiến hạm đang ở vĩ độ 100, suy ra sao Polaris có cao độ cũng100.  Cô nhìn đúng hướng Bắc,” tôi hướng mắt theo tay Bằng chỉ, “ngay sát chân trời là Bắc Đẩu Thất Tinh. Theo sách vở, cô ‘kéo’ một đường thẳng ở hai sao cuối đi ngược lên sẽ thấy sao Bắc Cực.”
Tôi đặt ống dòm, phải mất khá lâu tôi mới nhìn ra nó. Rồi theo hướng dẫn kế tiếp, tôi cũng nhận ra nó đúng là ngôi sao cuối ở cái đuôi của Gấu Nhỏ. Tôi không kềm được tiếng kêu thích thú:
– “Tôi đã hiểu vì sao các anh đi biển lâu ngày mà không chán rồi!”   
– “Đối với nhà hàng hải, chòm Đại Hùng Tinh còn cho biết thêm nhiều chòm sao lân cận bằng cách cứ kẻ đường kéo dài đi qua hai ngôi sao nào đó trong chòm. Còn đối với nhà nông,  cứ nhìn Thất tinh Bắc Đẩu là biết mùa: Vào lúc hoàng hôn, nếu thấy cái cán chỉ về hướng Đông thì nhân thế vào mùa Xuân, chỉ hướng Nam –mùa Hè, hướng Tây -mùa Thu và hướng Bắc –mùa Đông.”
Tôi lại thích thú khẽ reo:
– “A, hay quá!”
Giọng Bằng vẫn đều đều ấm áp:
– “Cái này còn hay hơn. Qua hình dạng của 7 ngôi sao này, các nhà thiên văn thời nhà Hán và Ả Rập cổ xưa lại không thấy giống cái đấu mà giống một chiếc xe với 4 ngôi sao là cổ quan tài và ba còn lại là ba con vật kéo xe. Còn người xà ích là ngôi sao nhỏ cạnh đó. Phải chăng đây là hình ảnh Cổ Xe chở Linh Hồn theo như truyện kể?”
 
Bằng nghiêng mặt nhìn tôi. Tôi vờ nhìn vào khung trời xa thẳm để tránh ánh mắt chừng như muốn thắp sáng khuôn mặt tôi. Qua một cử động đổi thế đứng, cánh tay tôi vô tình chạm vào cánh tay Bằng. Một đụng chạm rất nhẹ nhưng đủ để cảm giác êm đềm từ anh tuông sang. Một lằn sáng xẹt nghiêng bầu trời. Tôi mừng rỡ kêu lên:
– “Ô, sao băng. Một ngôi sao băng, thiệt đẹp.”
Bằng nói khẻ:
– “Cô Phượng ước điều gì đi. Thấy sao băng ước gì được nấy.”
Một ý tưởng chợt bật lên. Tôi lắc đầu buồn bã. Đã quá muộn, có Thánh cũng không thay đổi được.”
– “Cô ước gì, tôi biết được chăng?”
– “Không! Không thể!”
– “Sao lại không thể? Thông thường người ta ước là ước điều tốt đẹp.”
– “Tôi đã ước một điều tốt đẹp nhưng không nói ra được. Xin đừng ép.”
– “Còn tôi, tôi đã ước một điều rất tốt đẹp. Cô muốn nghe không?”
Óc tò mò còn mạnh hơn ý muốn từ chối. Vả chăng, đêm còn dài, thì cứ nghe cho qua thì giờ. Có thể Bằng đã ước… được tôi yêu; cũng có thể đã ước được tôi… làm vợ. Nếu thật vậy và nếu Bằng hỏi tôi có cảm nghĩ gì thì tôi sẽ trả lời sao? Tôi tự cười nhạo mình sao bỗng dưng lại có ý tưởng quá ngạo mạn. Hay chính tôi đang khao khát được như vậy?  Tôi gượng gạo khuyến khích:
– “Đại úy nói nghe thử!”
– “Nghe thử thì không nói!”
– “Thì nghe thiệt!”
– “Ước gì cô Phượng đã không xuống tàu…”
Tôi ngước nhìn muôn vạn vì sao. Dường như chúng đang chao đảo, nhòe nhoẹt. Thật lạ lùng, đó cũng chính điều tôi ước! Tôi đã ước giống Bằng nhưng không phải như mục đích của Bằng. Bằng chỉ muốn bày tỏ tình yêu dành cho tôi, còn tôi, chỉ vì yêu Hưng mà bước xuống tàu để rồi chính tình yêu đó không còn nguyên vẹn. Cả cái ý nguyện đuổi Mỹ xâm lược chừng như cũng không còn thuyết phục. Không có gì chứng tỏ người Mỹ chỉ huy trên con tàu này. Và thủy thủ đoàn, mỗi người một nghề, một nhiệm vụ, họ tận tâm, hãnh diện và chân thành, không một biểu hiệu cho thấy là lính đánh thuê. Cả đến chỗ ngồi ở bàn ăn tôi cũng được xếp ngồi trên tên Mỹ. Giọng cợt đùa của Bằng như ngọn sóng ập phủ lên tôi:
– “Ước một điều đã xảy ra để không xảy ra thì có Thánh cũng đầu hàng. Thôi thì cô Phượng đã xuống tàu, đã đứng cạnh tôi, thì hãy cứ như cô chủ của chàng chăn cừu chịu khó nghe mao tôn cương tiếp chuyện Les Étoiles. Chúng ta đã bàn qua dải Ngân Hà, chòm Đại Hùng Tinh, giờ xin tán rộng chuyện sao Ba Vua. Đó là ba ngôi sao thẳng hàng nổi bật trên cái đai lưng của người thợ săn Lạp Hộ Orion. Chòm sao này không chỉ giúp chàng chăn cừu biết giờ giấc mà còn tối cần cho các nhà hàng hải định vị và định hướng con tàu. Chòm sao này có lắm điều thú vị…

en.wikipedia.org

Tiếng còi vang lên, lồng lộng. Bằng ngưng nói, quay nhìn chiếc đồng hồ 24 giờ chiếu sáng bằng dạ quang: 3:45. Anh quay lại với tôi:
– “Còn 15 phút nữa tôi sẽ mãn phiên. Nếu cô Phượng muốn nghe tiếp, tôi rất vui…”
Tôi nhanh nhẩu:
 “Tôi cũng rất vui nếu đại úy không buồn ngủ…”
– “Không sao! Tôi sẽ ngủ bù sau khi cô rời tàu để có thể tiếp tục thấy cô trong mơ, để trong mơ thấy Ngọc Hoàng thương tình cho phép một năm gặp nhau đôi lần…”
Tôi dở cười dở khóc. Tôi muốn rút lại câu nói của mình. Trăng sao có dính dáng gì đến tương lai mà muốn biết để dây dưa… Tôi cũng muốn phản đối lối ăn nói sỗ sàng của Bằng nhưng giọng Bằng lại êm đềm cất lên, nương cơn gió mang theo rung động mơ hồ…
– “Cô Phượng chờ tôi một tý. Tôi cần làm vài thủ tục để bàn giao phiên hải hành. Rồi sau đó chúng ta sẽ tự do trôi theo dải Ngân Hà…”
Bằng bước sang bàn hải đồ… Tôi xốn xang trông theo dáng anh rồi gục mặt lên cánh tay cố ngăn những giọt nước mắt. Mày điên rồi sao Phượng? Có gì đâu mà mày khóc. Mày phải nhớ mày mới quen người ta một ngày. Mày phải nhớ mày xuống đây là để làm công tác chớ không để cảm thương. Tôi mở to mắt nhìn dải Ngân Hà và tôi thấy lời Bằng chí lý: thật là vui nếu chúng tôi cùng trôi theo dải Ngân Hà…
Khi chúng tôi ngồi mỗi người một ghế ở khẩu đại bác 76 ly2 trước mũi, Bằng nhìn bao quát bầu trời một lúc mới lên tiếng:
– “Thật không may là chúng ta ở gần xích đạo nên chỉ có thể thấy sao Ba Vua vào mùa đông. Vậy thì hãy tưởng tượng trên nền trời có ba ngôi sao sáng gần nhau và thẳng hàng. Rồi tưởng tượng tiếp có bốn ngôi sao sáng khác bao quanh: hai ngôi sao sáng ở phía trên là Bellatrix và Beltagueuse màu đỏ, mỗi ngôi sao nằm trên vai của một chàng hiệp sĩ và hai ngôi sao phía dưới, một không tên, một tên Rigel sắc trắng xanh sáng rỡ nằm trên hai đầu gối. Ba ngôi sao sáng thẳng hàng ở giữa chính là đai kiếm của chàng hiệp sĩ Lạp Hộ.”
 – “Nhưng chàng hiệp sĩ đâu?”
– “Phải tưởng tượng chứ! Nếu có cơ hội, tôi sẽ cho cô xem hình, còn bây giờ thì ráng tưởng tượng. Từ cái đai lưng Sao Ba Vua ta kéo dài ở hai đầu, sẽ gặp hai ngôi sao cũng được truyện nhắc đến là sao Jean de Milan tức sao Sirius sáng nhất bầu trời thuộc chòm Đại Khuyển và cụm Poussinière  tức cụm Thất Nữ tuyệt đẹp thuộc chòm Kim Ngưu. Cụm Thất Nữ chính là cụm sao mà người mình gọi là Sao Rua, hay Tua Rua. Quan sát bằng kính thiên văn, cụm sao này có đến 250 vì sao nhưng nhìn bằng mắt thường, có cái lạ là người ngoại quốc thì thấy 7 ngôi sao mà người mình lại thấy tới 9. Bởi vậy mới có các câu ca dao:
 
Sao Rua chín cái nằm kề
Thương em từ thuở mẹ về với cha.
Sao Rua chín cái nằm ngang,
Thương em từ thuở mẹ mang trong lòng.
Sao Rua chín cái nằm chồng,
Thương em từ thuở mẹ bồng mát tay.
Sao Rua chín cái nằm xoay,
Thương em từ thuở em hay khóc nhè.
Sao Rua chín cái nằm gần.
Thương em từ thuở bước chân xuống tàu.”
 
Tôi không nín được tiếng cười:
– “Hai câu chót chắc là ca dao mới, do đại úy Bằng sáng tác.”
– “Cô Phượng nhanh trí thật!” Bằng cười giòn… 
Sợ Bằng thêm sáng tác, tôi hỏi vội:
– “Đại úy nói là các nhà thiên văn đặt tên các chòm sao theo hình tượng con người và con vật. Xin cho vài ví dụ…”
– “Ví dụ như Xà Phu, Lạp Hộ, Song Nam, Bảo Bình; như Thiên Nga, Hổ Cáp, Bắc Giải, Song Ngư… Cả trong việc đặt tên, các nhà thiên văn còn thận trọng đặt cho đủ giống đực giống cái để giúp các chòm sao khỏi cô đơn. Ví dụ kể về vợ chồng thì có chòm Thiên Vương, Thiên Hậu; kể về bạn bè thì có Anh Tiên, Xử Nữ; kể về bồ bịch thì có Tiên Nữ, Mục Phu…”
– “Đại úy quả là có lòng quãng đại, cho Tiên Nữ có bồ…. cowboy!”
– “Thì truyện Les Estoiles đã chẳng gợi ý chàng chăn cừu mê cô chủ. Rồi thêm truyện con gái Ngọc Hoàng mê chàng chăn trâu. Còn truyện tôi đang tưởng tượng thì vai chính cũng đang mê một giai nhân…”
Tôi hốt hoảng đặt câu hỏi tránh né:
– “Đại úy có thể cho biết vì sao các anh phải học các… vì sao?”
– “Cô Phượng ngưng gọi tôi “đại úy” thì tôi nói.
Tôi đắn đo. Điều kiện dễ dàng mà nghe… kỳ kỳ! Nhưng chắc phải đành thôi. Bằng không nói thì tôi biết phải nói với ai cho hết đoạn đường xem ra còn quá dài. Có đi ngủ thì ngày mai cũng gặp Bằng. Tôi hứa hẹn lửng lơ:
– “Đại úy nói đi, rồi tôi ngưng…”
– “Nói tổng quát, các vì sao, các chòm sao giúp cho các nhà hàng hải ở mọi thời đại định được vị trí và hướng đi của mình. Vì vậy, đã vào hải quân thì phải học les étoiles, cũng như lên trung học là phải học the stars! Đành rằng ngày nay tàu bè đa số đều được trang bị máy Loran định tọa độ như chiến hạm này, hoặc tân tiến hơn là dùng vệ tinh nhân tạo, nhưng thói thường cái gì gọi là máy móc thì đều có thể bị hư hỏng hoặc bị phá hoại. Vì vậy phương pháp hải hành bằng thiên văn là phương pháp tuy cổ điển mà ăn chắc. Chỉ có trời mới ngăn được các nhà hàng hải sử dụng các vì sao. Mới đầu chúng tôi sợ lắm vì sao quá nhiều mà xem ra sao nào cũng giống sao nào. Nhưng càng học càng mê. Trừ các hành tinh, một đặc điểm rất đáng được biết ơn của các vì sao là vị trí của chúng trên thiên cầu không bao giờ thay đổi. Đặc điểm thứ hai, kể cả các hành tinh, là mỗi thiên thể có một độ sáng riêng, có màu sắc riêng và cả dung nhan riêng. Lại có các vì sao thực sự làm say đắm lòng người, khiến đêm mơ ngày tưởng như vì sao đi lạc ngủ trên vai chàng chăn cừu và vì sao lạc xuống tàu…
– “Đại úy! Xin đại úy…” Tôi nài nỉ. Tôi bắt đầu sợ lời bóng gió chừng như bất tận.
– “Cô Phượng có xem phim Anastasia, kể chuyện cô con gái út của Nga hoàng?”
Bằng hỏi đột ngột, có vẻ như chuyển đề tài, tôi mừng rỡ đáp ngay như thoát món nợ:
– “Có chứ, tôi cũng… mê phim này lắm.” Tôi nhận ra mình vừa dùng từ ngữ ‘mê’ của Bằng.
– “Cô mê gì nhất?”
– “Nữ tài tử Ingrid Bergman, đẹp mà diễn xuất tuyệt vời, đã nhận được giải Oscar.”
– “Còn ‘mê’ gì nữa?”
Bằng có ý gì? Sẽ dẫn tôi tới đâu? Tôi duyệt lại nội dung bộ phim. Đó là chuyện đời người con gái không biết có phải mình đã từng là một công chúa để rồi ngay trước khi ngôi vị đó được xác nhận trong một buổi lễ trang trọng, nàng lại từ chối để đuổi theo người mình yêu… Tôi nói:
– “Tôi mê phim nhưng chê đoạn kết! Tôi không thuộc loại quá tôn thờ tình yêu.”  
– “Còn bản nhạc nền có nhắc đến một vì sao?”
– “A!” Tôi nhớ ra kêu lên. “Tôi rất thích bản đó. Pat Boone hát thật tuyệt vời!”
– “Nếu chàng chăn cừu có đủ sức tưởng tượng một vì sao sáng nhất lạc đường ngủ trên vai của mình thì tôi cũng dám tưởng tượng có một vì sao đẹp nhất lạc vào tiếng hát nồng nàn của Pat Boone: ‘Anastasia. Tell me who you are? Are you someone. From another star? Anastasia. Beautiful stranger. Step down from your star. I only know I love you so. Whoever you are.’”
Tôi nghe rùng mình. Bằng gọi tên Anastasia mà tôi mơ hồ như anh đang gọi tên tôi. Đã đành tôi ưa lãng mạn mộng mơ nhưng chừng như tôi đang bước dần sang bến bờ ủy mị. Tôi nói nhỏ nhẹ mà dứt khoát:
– “Đại úy. Xin trở lại chuyện các vì sao. Đành rằng các anh phải học các vì sao nhưng học những gì?
– “Chúng tôi không học chuyên về thiên văn là môn học nghiên cứu và giải thích các chuyển động, các hiện tượng vật lý của các thiên thể trong không gian. Chúng tôi chỉ học về những gì có liên quan đến hàng hải, tức là phải biết nhìn sao để định hướng đi, phải biết đo cao độ sao để định vị trí con tàu. Học định hướng không khó, nhưng học đo cao độ mới là nhiêu khê. Thứ nhất, nếu không ‘nhận diện’ được thiên thể thì phải rành sử dụng bảng-tìm-sao hoặc bản-đồ thiên-cầu. Thứ hai, tìm được tên ngôi sao rồi, phải biết cách dùng kính lục phân sextant cho cao độ, dùng lịch The Nautical Almanac cho kinh tuyến Greenwich cùng độ phương vị, và dùng các dụng cụ lỉnh kỉnh khác…”
– “Đại úy nói bầu trời có 88 chòm sao, trong đó có 12 chòm sao Hoàng Đạo. Sao gọi là 12 chòm sao Hoàng Đạo?”
– “Ngày xưa cổ nhân cho rằng Trái Đất là trung tâm vũ trụ và mọi thiên thể quay quanh nó. Ai nói ngược lại thì bị tử hình. Tương truyền rằng nhà thiên văn học Galileo chịu tử hình chớ không nói khác sự thật: Mặt Trời mới là trung tâm và Trái Đất quay quanh Mặt Trời. Ông bị bắt giam. Đến khi bị mang lên giàn thiêu, người ta cho ông cơ hội nói lại để được sống, ông bảo, dù ông có chết Trái Đất vẫn cứ quay quanh Mặt Trời. Đúng là vậy nhưng, để cô Phượng dễ hiểu, tôi tạm để Trái Đất đứng yên và Mặt Trời quay quanh thiên cầu. Và trong khi du hành giáp vòng là một năm, Mặt Trời đi qua đúng 12 chòm sao trong số 88 chòm sao trên thiên cầu. Người ta gọi đó là 12 chòm sao Hoàng Đạo. Về phương diện chiêm tinh, 12 chòm sao Hoàng Đạo chính là 12 cung Hoàng Đạo của tử vi tây phương. Mỗi cung tương ứng một tháng…”
– “À ra thế!”
– “Cô có tin tử vi không?”
– “Không tin nhưng tuần nào cũng mua báo để đọc tử vi. Đó là mục giải trí ưa thích!”
– “Nếu ưa thích tử vi thì hẳn cũng ưa thích… Hải Quân vì Hải Quân lấy 12 chòm sao hoàng đạo đặt tên cho các khóa sĩ quan. Như khóa tôi thuộc cung thứ 11: Bảo Bình.
– “Ô, thật vậy sao?”
– “Tháng sinh của cô thuộc cung nào?”
– “Cung Sư Tử”. Tôi dùng từ ngữ bình dân để hù Bằng.
– “Không như cái tên nghe dễ sợ, người thuộc cung Hải Sư rất vui vẻ, dễ thương, thích văn chương thi phú và cũng là người khá lãng mạn và làm mọi điều để cho người mình yêu được hạnh phúc.”
Tôi trố mắt nhìn Bằng. Không lẽ anh rành cả khoa tử vi? Đó đúng là lá số vắn tắt cung tuổi của tôi. Nhưng giờ nghe anh nói khiến tôi giật mình. Câu chót xem ra quá đúng, vì yêu Hưng tôi đã bằng lòng làm một việc ngoài ý muốn để Hưng được vừa lòng.
– “Còn tôi, thuộc cung Kim Ngưu, là người đáng tin cậy và… đáng thương. Thương thiệt hay thương hại đều đáng thương cả!”
Tôi không thấy ánh mắt của Bằng nhưng chắc chắn nó phát ra những tia ranh mãnh dẫn đường cho lời nói. Tôi cằn nhằn vờ vĩnh:
– “Đang nói chuyện thiên văn, đại úy tự dưng chuyển qua tử vi.
– “Cô không muốn tôi coi tiếp sao? Thí dụ như cung Hải Sư có hạp cung Kim Ngưu?”
Tôi nghĩ tới Hưng và đùa một cách chua xót:
– “Chắc chắn là không hạp rồi vì ở giữa có sao… quả tạ!”
Bằng bật cười giòn khiến tôi cũng bật cười theo. Giọng Bằng vui vẻ:
– “Cho dù có sao quả tạ thì nó cũng chỉ là một trong muôn vàn tinh tú. ‘Em chớ hỏi: sóng đi trên biển lớn. Cớ làm sao thành nhã nhạc dâng lên. Cớ làm sao muôn tinh tú trong đêm. Bỗng rung động khi em cười rất nhẹ.’ Thơ Nguyên Sa đó, nghe tình quá phải không?”
Tôi thở hắt và thú nhận với chính mình: Chưa biết là của Nguyên Sa mà lòng đã xiểng liểng! Anh tàn ác quá… Anh nỡ bủa sao trời vây kín không cho tôi thoát. Nhưng tôi phải thoát, tôi chỉ mới quen anh, chưa từng biết gì về anh. Một câu ca dao chợt hiện. Tôi lấy giọng khiêu khích:
 “Anh về đếm hết sao trời.
Em đây kết tóc ở đời với anh.
Tôi nghe tiếng Bằng thở dài:
– “Cô Phượng ơi! Chỉ nội dải Ngân Hà không thôi đã có vài trăm tỉ ngôi sao mà cô lại đòi tôi phải đếm hết trọn cả bầu trời. Chắc phải hẹn gặp cô hàng tỉ tỉ kiếp sau…”
 
Chúng tôi cùng im lặng một lúc lâu. Dường như Bằng có ý chờ tôi nói một lời gì. Nếu tôi không tiếp tục hỏi, tôi phải ngưng gọi anh là đại úy. Không, không thể thay đổi. Tôi có định gặp lại Bằng đâu thì thay đổi để làm gì! Tôi đặt một câu hỏi để Bằng nói mãi về các vì sao, không còn thì gìờ để tạo trong tôi những xao xuyến ngoài ý muốn:
– “Đại úy nói là người xưa bịa ra những câu chuyện thần thoại để đặt tên cho 88 chòm sao. Phượng rất muốn nghe. Mỗi một truyện đại úy kể, Phượng hứa sẽ giảm số sao đại úy phải đếm…”
Tôi chợt nhận mình không còn xưng tôi mà lại xưng tên và may quá Bằng không để ý.
– “Tôi đã kể huyền thoại về Thất Tinh Bắc Đẩu mang hình ảnh cổ xe chở linh hồn nhưng chưa kể do đâu mà chòm sao chứa 7 ngôi sao này mang tên Gấu Lớn. Theo thần thoại Hy Lạp đã nói đến, ông vua Zeus lại léng phéng có con với một người đẹp khác, nên hoàng hậu Hera lại nổi cơn ghen và biến người đẹp này thành con gấu. Vua Zeus quá thương nên đưa lên trời. Về sau đứa con cũng được vua cha cho về gần mẹ qua hình tượng chòm sao Gấu Nhỏ. Nhưng cả hai vẫn không được yên thân. Hoàng hậu còn ấm ức nên nhờ anh mình là thần biển không cho phép họ uống nước. Vì vậy mà hai mẹ con Gấu cứ chạy lòng vòng trên bầu trời Bắc cực, không bao giờ được xuống dưới đường chân trời… Nhờ vậy mà sau này nếu cô có dịp quá giang vào bất cứ thời điểm nào trong năm, cho dù cô không thấy tôi trên tàu, cô cũng sẽ thấy tôi trên…cổ xe chở linh hồn!”
Tôi liếc xéo Bằng nhưng anh phớt lờ tiếp tục:
– “Còn về chàng thợ săn Lạp Hộ có đai lưng là sao Ba Vua thì thần thoại Hy Lạp kể rằng, bởi anh thợ săn này quá kiêu căng, tự xưng mình là tay săn bắn giỏi nhất trần đời nên Hoàng hậu Hera nổi sùng, bèn sai con Hổ Cáp Scorpio dùng nọc độc giết người thợ săn này. Vua Zeus nghe tin lấy làm thương xót và quyết định cho cả hai lên trời nằm ở hai vị trí đối nghịch. Hễ chòm sao này mọc thì chòm sao kia lặn để cho hai kẻ thù chẳng bao giờ thấy mặt nhau…”
 
Vẫn giọng êm ấm thân tình, Bằng kể tiếp qua thần thoại chòm Đại Khuyển với ngôi sao sáng nhất trong mọi vì sao là Sirius Thiên Lang… Có quá nhiều tên sao bằng tiếng ngoại quốc lạ lùng. Rồi tên của nhiều chòm sao khó nhớ khác. Nói cho đúng thì tôi không chủ tâm để nhớ. Chúng có liên quan gì đến cuộc sống của tôi đâu. Nhưng cách Bằng kể chuyện tạo cho tôi cái cảm tưởng như chính mình đang sống trong thần thoại. Tôi không biết Bằng có định kể trọn 88 chòm sao hay không nhưng tôi mong anh đừng bao giờ chấm dứt. Bởi vì chừng như anh không đang kể những gì tôi muốn anh kể mà là anh đang nói những gì anh muốn nói. Đến một lúc, tôi chợt nhận ra một điều khác thường. Không như cô chủ nghe chàng chăn cừu kể chuyện mà ngủ gục, tôi đã vô cùng vui thích lắng nghe. Có điều trong lúc lắng nghe, dù không chút nào buồn ngủ, tôi vẫn muốn được như cô chủ là tựa đầu lên vai Bằng!
 
Vũ Thất
Trích Trong Cơn Bão Biển
Truyện dài, Sài Gòn 1970
 
Advertisements

Về hưu

Về hưu

Vũ Thất

Vào đến sở, việc đầu tiên của tôi là gắn chiếc walkie-talkie vào thắt lưng rồi đi một vòng kiểm soát tình trạng khiển dụng của các máy in-chụp Xerox: bắt đầu từ tầng một lên đến tầng năm, mỗi tầng hai máy ở hai đầu. Hôm nay gặp may, không máy nào nổi đèn báo hiệu bị đứt cầu chì, bị kẹt, hết giấy, hết mực…; tôi chỉ phải “châm” thêm ít giấy mới. Dư thì giờ, tôi chợt thấy cũng nên lên từng chót xem có gì mới lạ. Tôi từng lên đây một lần ngày đầu mới đến. Hãng này trước đóng đô ở Maryland trong tòa nhà ba tầng, sau nhờ làm ăn khấm khá nên thuê một tòa nhà sáu tầng hoàn toàn mới ở Virginia. Trong hai năm, hãng bành trướng thêm hai tầng và dự trù năm tới sử dụng luôn tầng chót.

Tầng lầu vẫn thế, vẫn trống trơn, thênh thang, sạch sẽ. Ánh nắng phản chiếu lên lớp gạch nhựa màu lục có vân tỏa ra một độ sáng mát mắt. Tôi bước đứng sát khung kính khoảng giữa. Vách của tòa nhà được thiết trí toàn bằng kính nhuộm màu xanh nhạt ngăn tia tử ngoại.

Bên ngoài, cả một phần không gian tuyệt đẹp. Nền trời biêng biếc sau vô số tòa nhà vươn cao, treo lơi khơi vài đám mây trắng dị hình qua đó một chiếc phi cơ đang chúc mũi xuống phi trường Dulles. Những dáng cây trụi lá không che kín con lộ 66 rộn ràng. Mặt đất thường là hoa cỏ đầy sắc màu giờ đây chỉ là một thảm tuyết trắng xóa mênh mông. Chếch hướng hai giờ, gần gụi nhất là tòa cao ốc bề thế mang biển SpringHill Suites Marriott, nơi mười hôm trước hãng mở tiệc mừng Giáng Sinh cho bốn trăm nhân viên trong một ballroom lộng lẫy. Về phía trái, nằm dọc con hương lộ mới mở là khu townhouse rộng lớn đang xây cất, nghe đâu có đến ba trăm căn. Một tấm biển dựng ngay cạnh đường đề giá từ 250 ngàn. Tôi nhìn cái giá mà thấy mừng. “Từ 250 ngàn” có nghĩa đó là giá thấp nhất. Mười lăm năm trước, cũng một căn tương tự, chúng tôi mua với giá chỉ bằng một phần ba, và bảy năm sau đó, với số tiền 250 ngàn này chúng tôi mua được căn single house. Tôi mừng vì cái biển quảng cáo xác nhận chúng tôi ước tính đúng. Và đó chính là động lực khiến nhà tôi thúc đẩy tôi phải… về hưu: bán một căn, nhập tiền lời vào tiền an sinh xã hội là tôi có thể sống lâu… trăm tuổi!

Quyết định nghỉ việc thì không mấy khó nhưng mở lời với Sếp thì quá ngại ngùng. Mở lời thế nào cho Sếp khỏi giận khi mới tuần rồi tôi đã tỏ ra quá hài lòng khi được Sếp đề cử đi học hai tuần bổ túc nghiệp vụ để nhận chức giám thị, cái chức đồng nghĩa với lương bỗng cao hơn và công việc thì chỉ cần phụ tá Sếp… chỉ tay năm ngón.

Tiếng talkie reo khẽ. Tôi gỡ máy, bấm nút đáp “tôi nghe”, rồi áp vào tai. Sếp bảo cần gặp tôi ngay. Bình thường mà bị triệu hồi thế này là có rắc rối nhưng hôm nay thì còn sợ chi rắc rối, trái lại còn thấy vui mừng: cơ hội gặp Sếp không cầu mà được.

Văn phòng của Sếp và trung tâm ấn loát của tôi cùng ở tầng trệt, cùng nằm bên phải một hành lang ngăn đôi từ cuối quầy tiếp tân và phòng đợi. Đối diện với giang san của tôi là câu lạc bộ với chừng một trăm chỗ cho nhân viên ăn trưa.

Sếp ngồi kia, đang đọc gì đó. Nghe tôi gõ cửa, Sếp ngẩng lên ngoắt tay. Tôi bước vào mở lời theo thói quen:

– Good morning Mister White. How are you today?

Sếp đưa tay bắt, vui vẻ:

– I am fine. You?

Tôi nói “not very good” rồi im lặng.

Sếp mở mắt lớn nhìn tôi như nhận ra thứ ngôn ngữ tôi không dùng thường ngày. Ông mời tôi ngồi. Tôi ngại ngần thả người lên ghế. Sếp cười cười trước dáng điệu khác thường của tôi:

– Sao? “Không khá lắm” là sao?

Tôi vẫn không biết mở lời thế nào nên cười gượng:

– Ông muốn gặp tôi mà? Tôi có thể làm gì cho ông đây?

– À, tôi muốn nhờ anh coi giùm công việc của phòng. Tôi có buổi họp lúc 9 giờ.

 Sếp nhìn đồng hồ, nghiêm giọng:

– Còn nửa tiếng nữa. Nào, có chuyện gì?

Tôi ngồi nghiêng, khủyu tay chống lên tay ghế, ngập ngừng:

– Mister White, tôi rất tiếc phải thông báo cho ông biết rằng tôi muốn xin nghỉ việc.

Sếp ngạc nhiên kêu to:

– What! What are you talking about?

Tôi cười gượng:

– You heard me.

Sếp vẫn nhìn tôi đăm đăm:

– Anh không đùa chứ?

– Tôi rất nghiêm túc, thưa ông White.

Sếp tôi là Mỹ đen nhưng mang họ White nhìn vào màn hình trước mặt, tay gõ lộp cộp rồi ngã người tựa vào lưng ghế nhắm mắt. Bất ngờ ông chồm tới:

– Căn cứ vào năm sinh tháng đẻ của anh thì phải hai năm nữa anh mới đến tuổi về hưu…

Tôi lắc đầu:

– Chưa đến tuổi chính thức nhưng đã dư cho tuổi hưu non!

– Lãnh hưu non thì… có là bao! Còn đối với hãng, anh làm việc đã được 9 năm, chỉ cần thêm một năm nữa anh sẽ được hưởng hưu bỗng bốn trăm mỗi tháng. Nghỉ năm nay anh chỉ được hưởng một nửa theo thâm niên 5 năm.

Vợ chồng tôi đã có cân nhắc phúc lợi này nhưng xét thấy việc về hưu non vẫn có lợi hơn, nhất là bảo đảm mạng sống hơn. Mùa đông bão tuyết với bao hiểm nguy trên cuộc hành trình quá dài đến sở và trở về. Vì vậy, tuy có nao lòng với ân cần của Sếp, tôi vẫn dứt khoát:

– Chúng tôi có bàn tới điểm này nhưng…

– Hằng ngày anh vẫn thấy dăm ba nhân viên trên bảy mươi còn ngồi ở bàn của họ, mà anh thì mới sáu mươi ba rưỡi. Nghe tôi đi, một hai năm nữa có là bao, lại được thêm nhiều tiền… du hí!

Tôi nửa đùa nửa thật:

– Mister White, ở đây ông là Sếp nhưng ở nhà, vợ tôi là Sếp! Bà ấy đã hạ lệnh, tôi không thể không nghe!

Sếp ngửa mặt, cười ngất:

– Các bà là Sếp, đồng ý. Nhưng ít nhất anh cũng cho tôi biết lý do xin nghỉ…

– Tối thứ sáu, trên đường về bị snow trơn trợt nên xe tôi hun đít xe phía trước.

Sếp nhỏm tới, chống hai khủyu tay lên bàn:

– Mừng thấy anh vô sự. Xe ra sao?

– Hai xe trầy sơ sơ thôi, coi như huề. Nhưng bà nhà tôi lý luận: đụng một lần, sẽ có lần hai, lần ba. Bà ấy không muốn… chôn tôi sớm!

Sếp lắc đầu:

– Các bà bao giờ cũng quá lo! Tôi biết anh là good driver! Hãy tiếp tục đi làm, tôi cần anh.

Tôi ngẫm nghĩ mà buồn cười. Cũng cùng thời gian tận tụy 9 năm mà hãng trước lại lạnh lùng cho nghỉ việc dù tôi rất muốn được tiếp tục, còn hãng này tôi tự nguyện xin nghỉ thì lại cố giữ làm thêm.

Tôi thở dài:

– Mister White, ông thật tốt với tôi. Nhưng… xin chân thành cảm tạ nhã ý của ông.

Sếp gục gặc:

– Thì đành tiếc là không giữ được anh. Vậy theo thông lệ, hãng cần hai tuần để tìm người thay thế. Trong hai tuần đó, chúng ta xúc tiến thủ tục nghỉ việc. Anh cần nói gì thêm thì chốc nữa. Bây giờ thì tôi phải đi. Cám ơn anh.

***

Nói là làm thủ tục nhưng thật ra chẳng có gì nhiêu khê. Tuần lễ đầu, chỉ mỗi việc phải ký tên vào một tờ giấy xác nhận ngày nghỉ việc, còn thì mọi việc bình thường. Được cái hấp dẫn là chiều thứ sáu, khá đông nhân viên Phòng Dịch Vụ kéo tôi đi nhậu chia tay. Chỗ nhậu là một nhà hàng tôi chưa từng bước chân vào dù chỉ cách hãng 10 phút.

Một biển hiệu chữ nổi màu đỏ HOOTERS nằm bề thế rực rỡ chạy dài suốt chiều ngang cửa chính. Vừa bước qua cửa, nhạc xập xình và độ ấm áp nghe thật dễ chịu. Hình ảnh đầu tiên làm choáng mắt là các các cô chiêu đãi trẻ trung hấp dẫn. Tất cả mặc đồng phục, quần màu da cam cũn cỡn bó sát núi đồi; áo thung trắng ba lỗ, lồ lộ vú vê. Phần áo bên trái in hình con cú đen với hai mẫu tự O của thương hiệu HOOTERS thay cho cặp mắt cú vọ như cặp mắt của tôi.

Chưa kịp lớ ngớ thì một cô chiêu đãi bước đến niềm nỡ chào hỏi, hướng dẫn chúng tôi treo áo ấm trước khi tiến sâu vào bên trong. Khách hàng đông nghẹt đa số là đàn ông ở tuổi trung niên. Lớp tuổi của tôi thì ít hơn tổng số hiện hiện của các bà.

Quán được thiết kế đẹp mắt. Chiếm một khu rộng ngay giữa nhà là cái bar rượu và bếp. Ngay trên kệ bày rượu mẫu, ba TV gắn sát trần đang chiếu những màn thể thao khác nhau. Những màn hình tương tự đặt vòng quanh vách ngoài cùng. Vách là những tấm gỗ thông với những gân nổi tự nhiên. Sàn lót gỗ có vân đánh bóng. Bàn ghế được đặt chạy vòng theo quầy xen lẫn những cột trụ chống đỡ mái nhà. Sự sắp xếp khéo léo giúp thực khách ngồi nơi nào cũng xem được chương trình mình ưa thích.

Nhờ đặt bàn trước, mười sáu người của Phòng Dịch Vụ –mười hai ông, bốn bà- được gom vào trọn nửa cánh trái. Chưa kịp ngồi thì có nghe tiếng reo từ phía quầy:

– Hello! Hello Mister White, Mister Vo.

Người gọi là Rick Danton, vị Sếp mà chín năm trước đã phỏng vấn và nhận tôi vào làm ngay sau tôi bị hãng cũ cho nghỉ việc. Đúng là Tái Ông thất mã. Cuộc phỏng vấn lòi ra chúng tôi từng là chiến hữu trên kinh Đồng Tiến. Thời đó Sếp là lính trên một giang đỉnh nằm trong Task Force 116 mà năm 1969 được chuyển giao toàn bộ cho Hải Quân Việt Nam thành Lực Lượng Tuần Thám có tôi làm trưởng toán. Và cũng có thể chính nhờ sự hội ngộ tình cờ này tôi được mướn với giá cao hơn và được tăng lương hậu hĩ hằng năm. Bốn năm sau, ông thăng chức, thăng lên tầng 5 và gửi gấm tôi cho Ron đến thay thế. Chỉ đôi khi chúng tôi mới gặp lại nhau trong các buổi hội họp, tiệc tùng, như đêm nay. Sếp cũ nồng nhiệt xiết tay tôi:

– Nghe tin bạn ta về hưu, chúc mừng, chúc mừng. Đây là hậu cứ mà mỗi chiều chủ nhật Mister White và tôi đóng đô xem football. Có dịp, bạn ta cứ đến…

Tôi gật bừa. Chúng tôi ngồi vào chiếc ghế dài dành sẵn. Tôi ngồi giữa, hai Sếp tả phù hữu bật, một đen trung tuần, một trắng cao niên. Rick Danton say sưa nhắc nhở chiến trường xưa. Còn Ron White, chưa từng đi lính, thì kể chuyện tiếu lâm với ba nhân viên đối diện. Đôi khi hoặc mới hướng mắt vào trận Football sinh viên. Kể cũng lạ. Cứ ngỡ rằng thiên hạ chen nhau vào đây là để mãn nhãn trước các nàng Hooters nóng bỏng nhưng không hẳn thế. Chừng như họ đã quá quen, không nhìn vẫn thấy! Thảng hoặc họ mới ghé mắt vài giây. Và chừng như không ai còn nhớ cái giá món ăn thức uống vốn đã cộng thêm chi phí dòm ngó. Nhân lúc chờ cô chiêu đãi rót đầy ly bia mang đến, Ron bất chợt nghiêm giọng:

– Nè, tôi có thắc mắc muốn hỏi lâu rồi mà thấy không tiện. Trước khi chia tay, bạn ta có thể nào giải thích dùm. Tiền lương bạn ít hơn tôi, làm sao bạn làm chủ được ngôi nhà trong lúc tôi còn ở nhà cho mướn?

Tôi nhìn Ron đăm đăm, không tin là thật. Rick cười:

– Hắn nói thật đó! Tôi cũng vậy, cũng đang ở thuê. Hãy tiết lộ cho chúng tôi các đòn phép mua nhà…

Tôi ngại ngùng. Họ là Mỹ chính gốc, đều là Sếp của tôi mà đi hỏi một việc đúng ra tôi mới là người hỏi. Tôi cười:

– Tôi không dám…

Tôi định nói tôi không dám “múa rìu qua mắt thợ” mà không tìm ra thành ngữ tương đương. Ron nằng nặc:

– Theo cách… bất hợp pháp cũng được. Tụi này không tố cáo đâu!

Tôi giật mình. Thì ra cái từ “đòn phép” ẩn ý là thế. Sự thể đến mức này thì không nói không xong:

– Chả có gì bất hợp pháp! Ai có việc làm cũng đều mua được nhà, nếu muốn. Rất giản dị. Đành là tùy số lương, nhưng căn bản vẫn là tiền “down”; tiền down càng nhiều, nhà càng lớn! Mua được một căn thì cũng mua được căn thứ hai, bởi vì lương mỗi năm một tăng trong khi tiền nhà căn thứ nhất, người mướn đã trả giùm.

Rick gật đầu:

– Đúng. Nhưng lấy đâu ra tiền down?

– Thì để dành!

– Không đủ xài thì lấy đâu để dành!

– Xài thì bao nhiêu cho đủ! Chúng tôi có nhà là vì chúng tôi… dám để dành!

Họ ngẩn ngơ ra vẻ chưa hiểu. Tôi lên mặt thầy đời:

– Người Việt Nam chúng tôi có thành ngữ “An cư, lạc nghiệp”. Căn nhà là ưu tiên, bằng mọi giá phải có! Còn muốn để dành thì nhớ câu này: “Cơm nhà, quà vợ”…

– Hãy nói rõ hơn.

– Đây là kinh nghiệm cá nhân. Cứ làm thử một tháng, một tháng thôi. Sau một tháng, các ông thử tính xem để dành được bao nhiêu và bao lâu thì đủ tiền down cho căn nhà.

Thấy hai Sếp tỏ vẻ lắng nghe, tôi nói thật chậm:

– Đòn phép là đây. Thứ nhất, tuyệt đối tránh xa food machine, mang theo phần ăn trưa. Thứ hai, không xài phí bậy bạ, nhất là không để mang nợ sinh tiền lời tín dụng. Và thứ ba, giảm tối đa đi ăn nhà hàng và nghỉ hè tốn kém.

Tôi ra dấu cả hai chụm đầu gần vào rồi thì thầm:

– Nhất là đừng bao giờ bén mảng đến… HOOTERS!

***

Bắt đầu tuần thứ hai, tôi phải huấn luyện cho người thay thế tôi. Công việc cũng dễ dàng vì hắn đang là nhân viên dưới quyền và từng thường thay tôi khi tôi đi phép hay đau yếu. Còn việc huấn luyện cho tay mới tuyển thì do hắn đảm trách. Tôi tà tà đọc email, bài vở từ cái computer đã xóa sạch memory chờ tới giờ cơm gặp Juliet. Đó là cô bạn đồng nghiệp vong niên từ hơn năm qua. Gọi đồng nghiệp cho ngon chớ tôi vào hạng lao công cổ xanh, còn cô thuộc thành phần chuyên gia cổ trắng, làm marketing, trên cùng tầng một với văn phòng Chủ tịch…

Quen nhau cũng tình cờ. Ngay ngày đầu nhận việc của cô, giờ ăn trưa, chúng tôi vào câu lạc bộ cùng lúc. Trong khi tôi hâm nóng thức ăn thì cô đứng chờ đến lượt. Sau đó, thấy tôi ngồi một mình cô chào hỏi và xin phép được ngồi chung. Cô đặt hộp thức ăn và lon coke lên bàn, chìa tay ra trước:

– Tôi tên Juliet.

Tôi vẫn ngồi, vươn tay nắm lấy:

– Gọi tôi là Bang. Rất vui được gặp Juliet. Còn Romeo đâu?

Ánh mắt cô rực lên theo nụ cười vụt tắt:

– Romeo chết rồi!

– Thế sao Juliet còn ngồi đây?

Cô cười buồn:

– Ngu sao chết theo!

Thế là ngay buổi quen nhau đầu tiên đó, cô tuôn hết tâm sự. Cô vừa ra đại học thì bị tình phụ nên buồn tình xin việc ở hãng xa. Tôi không yêu cầu cô kể nhưng lại bị buộc phải hứa trưa mai sẽ đến lượt tôi. Thấy cô chân chất, tôi cũng thật lòng. Tôi nói tôi vừa ra trường thì cũng bị bồ đá nên gia nhập Hải quân như là một cách… trả thù! Nghe thế cô vui mừng, hãnh diện khoe rằng cha cô cũng là một sĩ quan Hải quân và đang phục vụ trên một hàng không mẫu hạm hoạt động vùng lò lửa Trung Đông. Cô ít gặp cha nên muốn biết các trải nghiệm hải nghiệp. Dần dần chúng tôi hiểu thêm gia cảnh của nhau. Cô cho biết gốc người Ý, các anh em đều sinh trưởng ở New York. Mẹ còn đi làm. Tôi cũng buộc phải kể lý do gia đình phải rời bỏ Việt Nam và được bảo trợ về Maryland…

Như thường lệ cô xuống đúng giờ. Vừa ngồi xuống ghế, tôi mở lời:

– Hai tuần phép cuối năm, gia đình họp mặt vui vẻ chứ? Mẹ cô thế nào? Anh em ra sao? Có tin chiếc mẫu hạm của ba cô về Mỹ nghỉ bến?

Cô im lặng nhìn món ăn. Một lúc lâu, cô hỏi nhỏ:

– Nghe đồn bác xin nghỉ việc?

Giọng trầm buồn như khuôn mặt. Hẳn cô nghĩ rồi đây phải ngồi ăn với… kẻ không quen. Mấy tên nhân viên của tôi từng nói tôi tốt số. Tôi bảo với họ tuổi cô ta còn nhỏ hơn tuổi con tôi. Chẳng qua cô thích ngồi ăn với tôi là vì cha cô với tôi cùng nghề lính biển. Phần tôi thì cho rằng trời đã giúp cho cơ hội tốt để luyện giọng. Nhưng họ vẫn cười cười. Mà việc gì phải đính chính…

 – Ừ, cuối tuần này là ngày chót.

– Thật ư? Đáng buồn cho cháu! Hết rồi những buổi ăn trưa vui vẻ, hết rồi những an ủi giúp cháu an tâm khi nhớ ba cháu.

Tôi cười đùa:

– Hãng có thiếu gì người trẻ tài hoa. Hãy chọn một và biết đâu tình yêu còn giúp cháu an tâm hơn nữa.

Tôi ngạc nhiên thấy cô tỏ ra bẽn lẽn:

– Cháu có… Romeo mới lâu rồi nhưng sợ bác cười nên giấu. Nhà hắn cùng tiểu bang với bác. Chúng cháu đang bàn làm đám cưới. Bác hứa dự nghe. Từ nay đến cuối tuần, xin vui lòng trao dần cho cháu những bí quyết nào đã giúp bác và bà nhà giữ được hạnh phúc trên 30 năm bất kể 10 năm xa cách?

***

Ngày làm việc cuối cùng rồi cũng đến. Khi chuông đánh thức reo 6:30, ý nghĩ đầu tiên bật lên trong tâm trí tôi là bữa nay ngày chót, có trễ cũng chẳng nhằm nhò gì! Việc huấn luyện cho người mới tiến triển suông sẻ, vào hãng thì chỉ mỗi việc nhận giấy tờ chính thức nghỉ hưu. Rồi bái bai. Rồi chẳng bao giờ trở lại. Tôi xoay người định ngủ tiếp nhưng tâm trí lại nghĩ lan man. Từ nay ta được phè cánh nhạn mãi tận… cuối đời. Chấm dứt thức khuya dậy sớm, không còn đường sá ngổn ngang. Thảnh thơi thơ túi rượu bầu… Hạnh phúc chợt ào đến mà nghe sảng khoái lạ thường. Cơn sảng khoái lan đi, tỏa ra rồi… vụt tắt. Tội nghiệp cho bà xã. Vẫn dậy sớm thức khuya. Vẫn data entry từ sáng tới chiều. Trẻ tuổi có khi là một tai vạ. Muốn được về hưu sớm như tôi, bà ấy còn phải “cày” thêm… 10 năm nữa. Mười năm, ôi mười năm! Mười năm bà ấy từng đơn thân xứ người vất vả nuôi con. Rồi nay lại mười năm vừa đi làm vừa hầu hạ ông chồng ích kỷ, chây lười! Ta là thứ gì mà lấy đó làm hạnh phúc cho mình? Sao không biết cảm thông, chia sẻ? Phải thức cùng vợ, phải cà phê cà pháo cùng “nàng” rồi ….chở đi làm, rồi đón về. Làm được như vậy thì lại có thể bán bớt một xe, giảm tiền bảo hiểm. Nghĩ ra điều này, tôi thấy mình đang… bay ra khỏi giường!

Bà ấy còn đang ngồi ăn sáng, ngạc nhiên nhìn tôi:

– Tưởng anh còn ngủ. Ngày chót mà…

Tôi ngường ngượng, dã lã:

– Ngày chót, càng cần nên đến đúng giờ… cho đẹp! Và từ ngày mai…

Không, không nên nói. Phải biết dành dụm cả ngạc nhiên… Bà ấy bận rộn, nên cũng lơ là… Do đường xa, tôi rời nhà trước. Vào đến sở, được Sếp mời ngồi. Sếp nhấc chiếc bao thơ để sẵn trên bàn, trao tôi:

– Văn kiện nghỉ việc đầy đủ trong bao thư. Thành thật chúc mừng. Tuy nhiên, trước khi ra về vĩnh viễn, làm ơn giúp tôi một việc, việc chót… Tôi có buổi họp đến trưa.

Tôi mừng, vì tôi cũng còn dịp chót ăn trưa với Juliet. Và tôi qua giang sơn của tôi đọc email cũng… lần chót!

Giữa trưa, Sếp trở lại vui vẻ tuyên bố Ông Chủ tịch đang chờ gặp tôi. Tôi nghe mà xúc động. Chỉ là một nhân viên cổ xanh mà cũng vinh dự được Chủ tịch ưu ái tiếp kiến giã từ. Tôi đi cạnh Sếp lên thang máy mà tưởng như mình đang lên mây. Nhưng sao thang máy không dừng ở lầu một, nơi đặt văn phòng Chủ tịch mà vẫn tiếp tục lướt qua. Cũng không dừng ở tầng hai thuộc bộ phận chuyển ngân và tồn trữ dữ liệu cho các ngân hàng, tầng ba của Phòng thanh toán lương bổng cho nhân viên các hãng xưởng, tầng bốn và năm rất hạn chế xuất nhập, nghe đâu chuyên về thảo chương cho DOD (Department of Defense- Bộ Quốc Phòng). Gần đến số 6, thang máy chậm lại. Không lẽ các Sếp lớn dời lên đây. Tầng cao nhất còn bỏ trống chờ được thêm khế ước kia mà!

Cửa thang máy chưa mở hết tôi đã choáng váng nghe tiếng hô đồng loạt của một rừng người trước mặt:

– Happy retirement!

Tôi chợt hiểu và nhận ra ngay hai khuôn mặt thường gặp: Ông Chủ tịch hãng và Bà Chủ tịch điều hành. Sếp đẩy lưng tôi, nhắc tôi tiến đến trước họ. Cả hai lần lượt bắt tay chúc tụng: “Happy retirement! You deserve it!” Đám đông vỗ tay vang dội. Tôi đã từng dự nhiều surprise party, vẫn cho rằng có gì đáng ngạc nhiên đâu mà cứ bày vẻ, nhưng giờ thì chính tôi ngạc nhiên thực sự và thấm hiểu ý nghĩa…

Ông Chủ tịch bước tới máy vi âm mời mọi người chọn thức uống. Rồi ông kêu gọi mọi người nâng ly. Thức ăn chọn lọc được mang từ nhà hàng láng giềng Marriott cùng người phục vụ. Tôi hòa vào đám đông, ăn uống cười giỡn. Thỉnh thoảng bắt tay vài người quen mặt không rõ tên. Lại thêm cả nhân viên tôi chưa gặp lần nào. Một số cô thì ôm tôi nồng nhiệt kể cả cô bạn thân thương Juliet. Cô nói khẻ: “I’ll miss you”…

Nửa giờ sau, tôi được mời nhận quà. Ông Chủ tịch đích thân trao hộp quà đầu tiên. Tôi mở ra. Đó là tấm biển đồng khắc mấy hàng chữ xanh với phù hiệu hãng ở cuối. Tôi nâng tấm biển hướng về đám đông, quét chầm chậm từ trái qua phải rồi xoay ngược lại, đọc to: “Presented to Bang Vo in honor of Your Retirement from Data Nework, Co.” Tôi nghe nhiều tiếng reo tán thưởng. Bà chánh văn phòng trao những món kế tiếp: đó là chiếc áo lạnh in tên hãng, một chiếc túi du lịch của ông A, khăn quàng cổ của bà B, đôi găng tay của cô C, chiếc đồng hồ để bàn của bà Chánh văn phòng, chiếc nón lưỡi trai có hàng chữ USS Harry S. Truman nằm trên phù hiệu và số tàu CVN 75 thêu chỉ vàng không đề tên ai tặng. Tôi nghiệm ra ngay một người. Chỉ người đó mới nghĩ đến món quà đặc sắc này. Tôi đưa mắt kiếm tìm. Từ giữa đám đông, Juliet giơ tay cao, vẫy vẫy. Tôi nói bằng đôi môi: “Thank you”.

Cuối cùng là những món quà cồng kềnh. Cồng kềnh mà thiết thực: các dụng cụ làm vườn. Tôi ngỡ ngàng. Những ngày tù tội ở núi rừng miền Bắc ập về. Chín năm nhục nhằn, đói khát. Nhìn cái cuốc, cái sẻng mà vừa thấy vui vừa thấy đau. Cũng những món đó, những người khác chủng tộc ở đây trao tôi qua mỹ ý giải khuây tuổi già trong khi 29 năm trước tại chính quê nhà, những kẻ gọi là đồng bào lại nhằm buộc tôi lao động cho tàn đời! Tại sao? Tại sao có sự nghịch đời như vậy?

Tôi cầm máy vi âm:

– Thưa nhị vị chủ tịch, thưa quý bà và quý ông. Tôi chân thành cảm tạ nước Mỹ đã cho gia đình tôi chốn dung thân. Xin đa tạ hãng Data Network cho cơ hội gia đình chúng tôi sinh tồn. Và xin cám ơn lòng ưu ái của quý bà quý ông hiện diện. Tôi sẽ không bao giờ quên quý vị. Năm mới chúc mọi người hạnh phúc. Xin từ biệt!

Tôi vừa dợm bước thì cánh tay bị ghị lại. Bà Chủ tịch điều hành trao tôi một phong thư đồng thời công bố trong bao thư là phần thưởng của Hãng đền đáp 9 năm tôi tận tụy. Đó là hai vé phi cơ và chi phí một tuần tận hưởng Bahamas. Tiếng trầm trồ, xì xào. Tôi chưa biết đáp lời ra sao thì cánh tay Bà choàng qua vai tôi và tiếng nói lại vang khắp phòng:

– Mister Vo, I have one last request to you. Please do as much as you can!

Mọi người ngạc nhiên hướng về Bà Điều Hành. Tôi cũng đứng lặng người chờ đợi. Sếp nhỏ mới nhờ tôi giúp lần chót, giờ lại tới Sếp lớn. Họ… câu giờ kỹ quá! Chờ khi gian buồng lặng im phăng phắc, Bà cất cao giọng:

– Enjoy your retirement!

 

Vũ Thất

(trích Làm Lại Từ Đầu, 2016)

NGUYỄN VĂN PHIÊN: Anh tôi

NGUYỄN VĂN PHIÊN: Anh tôi

Võ Văn Bảy

Sáng chủ nhật ngày 30/12/2012, tôi ghi vào mảnh giấy và dán vào màn ảnh máy điện toán: “Ngày mai gọi chúc mừng sinh nhật anh Tư”. Anh Tư là tên gọi trong gia đình của anh Nguyễn Văn Phiên. Đến trưa, con gái anh gọi tôi từ Cali: “Chú Bảy ơi, bịnh của ba trở nên xấu, chú qua ngay!” Tôi mua được vé bay thẳng từ Maryland đến Los Angeles chuyến sớm nhất 6 giờ sáng hôm sau. Nhưng đến 10 giờ tối, cháu gọi qua cho biết ba đã lìa đời.

image (4)

Tôi lặng người. Anh đi nhanh quá. Không ngờ rằng lời anh nói với tôi hơn một tháng trước  khi tôi sang thăm anh đã trở thành sự thật: “Chắc đây là lần cuối anh em mình gặp nhau”.  Tháng trước, anh còn khỏe lắm; còn lên lầu xuống lầu. Tiếng nói còn rổn rảng như mọi ngày. Chuyện kể vẫn rành rẽ như mọi khi. Những chuyện liên hệ gia tộc dây mơ rễ má. Chuyện ông cố chúng tôi từ miền Trung vào lập nghiệp, truyền nghề ruộng rẫy cho các con cháu. Chuyện ba chúng tôi thấy nghề làm ruộng cực nhọc quá nên chuyển sang nghề Đông y. Chuyện ông ngoại chúng tôi làm cai Tổng của triều đình. Chuyện thời sự kinh tế, chính trị. Chuyện vợ, chuyện con… Anh nói say sưa, không ngưng nghỉ. Tai tôi như còn đang nghe tiếng rổn rảng của anh và tiếng tôi trả lời: “Chưa lần cuối đâu, mình còn gặp nhau nữa!”

Rồi bỗng nhiên trước mắt là những hoài niệm về anh…

Tôi nhỏ hơn anh 10 tuổi và là đứa em út cùng cha cùng mẹ, gồm 4 anh chị em. Chúng tôi gọi người chị lớn nhất là chị Ba. Tôi gọi anh là anh Tư, chị kế là chị Năm. Chị thứ sáu chết yểu. Và tôi, thứ bảy. Sở dĩ tôi gọi chị lớn nhất là chị Ba vì trước chị Ba, tôi có chị Hai, con bà vợ đầu tiên của ba tôi. Ba tôi có 3 đời vợ. Má lớn chúng tôi sau khi sinh đứa con gái duy nhất thì chia tay với ba tôi. Má tôi là người vợ kế của ông. Một trong những người con của chị Hai có mặt trong tang lễ này: Cháu Nguyễn Minh Yêm. Mẹ chúng tôi mất khi tôi lên 6. Hai năm sau, ba tôi sống với bà vợ thứ ba và chúng tôi lần lượt có 6 đứa em nữa. Đứa em trai duy nhất cùng cha khác mẹ cũng đang hiện diện chịu tang ông anh: Em Võ Văn Thuận. Năm đứa em gái khác còn ở Việt Nam.

Anh Tư tôi học rất giỏi. Theo học trung học College de Cần Thơ, trong một dịp hè anh thi  đậu cả hai bằng Thành Chung vimage (8)à Diplom. Nhờ đó anh được tuyển chọn nhập học trường Sư phạm Sài Gòn, cũng là ước mong của anh. Nhưng sau khi tốt nghiệp thay vì nhận được giấy bổ nhiệm dạy học thì anh nhận được lệnh động viên vào quân đội quốc gia. Đúng lúc đó, tôi vừa dứt bậc tiểu học. Theo dự trù thì tôi theo học trung học ở trường tỉnh Châu Đốc nhưng nhân dịp anh lên Sài Gòn nhập ngũ khóa 2 sĩ quan trừ bị ba tôi gửi tôi theo anh đi học ở Sài Gòn. Thấy ba mình đang vất vả lo cho đàn con lớp sau, anh hứa là sẽ coi sóc tôi và khuyên ông đừng lo lắng. Coi sóc không chỉ về mặt tinh thần mà còn cả vật chất.

Trước khi vào quân trường Thủ Đức, anh gửi tôi cho người bạn học cũ, lúc đó đã là giáo viên. Thật may cho tôi, ông Thầy này đang là một thi sĩ đang lên nên tôi cũng bắt đầu phải lòng văn chương thi tứ. Khi tôi vừa lên đệ ngũ thì anh được sang Pháp tu nghiệp. Một năm sau, với bằng tốt nghiệp ưu hạng về tiếp liệu Quân Nhu, anh về nước, được thăng cấp Đại úy, và được đổi ra Nha Trang làm Chủ sự Sở Quân Nhu Quân Khu 2. Tất nhiên anh “lôi” tôi theo. Hai năm sau, anh đổi đi Đà Nẵng và đồng ý cho tôi ở trọ nhà người bạn chung lớp để chương trình trung học của tôi được liên tục… Nhờ đó tôi  gặp cái may thứ hai là lây cái đam mê Toán học và say mê văn học của bạn.

Năm sau, anh cưới vợ và đổi về Sài Gòn. Đến hè, tôi kết thúc bậc trung học ở Nha Trang cũng cuốn gói về theo. Ước mong của anh là tôi phải tốt nghiệp Đại học Sư phạm để thay cho giấc mộng dở dang của anh nhưng tôi lại thấy đã đến lúc cần trút bớt gánh nặng cho anh khi chị sinh đứa con đầu lòng. Vào dịp anh du học Hoa Kỳ, tôi thử “ý Trời” bằng cách nộp thi vào trường Sĩ quan Hải quân. Và quả là Trời đã tán đồng quyết định của tôi…image (9)

Sau khi ra trường, đổi xuống đi tàu, mỗi lần về bến Sài Gòn là tôi lại về nhà anh chị, ăn uống tự nhiên như thuở học trò. Ấy vậy mà không hiểu sao có lúc tôi vẫn túng thiếu. Khi ngặt nghèo quá, tôi đành mò lên sở anh xin yểm trợ ít tiền. Một lần, tiền vào túi xong, định ra về thì anh bảo ngồi chơi. Anh hỏi han về sinh hoạt của tôi trên chiến hạm. Anh hỏi có thường đụng trận không. Tôi nói, ở biển thì không nhưng vào vịnh vào sông thì lai rai bị phục kích tấn công. Thế là anh quay điện thoại nói chuyện với Tư lệnh Hải quân Chung Tấn Cang mà hai người vốn quen biết khi cùng học bên Pháp. Nói chuyện xong, anh đưa tôi giấy tờ bảo về điền nộp xin đi học Phát hướng viên. Tôi phản đối kịch liệt. Tôi nói với anh là tôi đi Hải quân là để thành Hạm trưởng chớ đâu để làm Sĩ quan Tài chánh. Thuyết phục mãi không xong, anh thở dài: “Nhiều người xin tao giúp mà tao từ chối. Còn mày, thằng em độc nhất của tao, tao tự nguyện giúp thì lại bị chối từ. Thôi mặc xác mày.”

Một ngày trong năm cuối cùng trước khi tan hàng, và dù đã có vợ có con, tôi lại đi tìm anh. Sở cũ bảo anh đã về làm ở Bộ Quốc Phòng. Gặp thằng em, anh tỏ vẻ ngạc nhiên rồi buông một câu hỏi trúng tim đen: “Lại hết tiền phải không?” Đó là lần cuối anh “còn dịp” để … giúp đỡ thằng em. Ngày 30/4/75, nghe lời dụ dỗ  hòa hợp hòa giải , từ biển tôi chở vợ con về Sài Gòn. Tưởng là sẽ “tiếp thu” nhà ông anh, nào ngờ ông anh cũng ngây thơ với Việt Cộng như tôi. Anh cũng có phương tiện ra đi mà chọn ở lại.  Chúng tôi đối ẩm ba ngày cho vơi nỗi buồn mất nước. Rồi chia tay, tôi về  quê trước thăm ba chúng tôi và “tình nguyện” vào tù ở Châu Đốc. Anh về sau, chưa gặp ba thì đã bị  bắt giữ ở Long Xuyên.

Bẵng đi chừng hơn một năm, chúng tôi tình cờ gặp nhau ở núi rừng Yên Bái. Tôi trại 1, anh trại 2. Ba năm sau nữa cùng về Nam Hà, anh trại A, tôi trại B. Năm 82 thì cùng về Hàm Tân Phan Thiết. Anh trại Z 30A, tôi Z30D.  Điều lạ lùng là bất kể hàng ngàn trại tù cộng sản rải rác khắp Nam Bắc Việt Nam, chúng tôi luôn luôn ở tù gần nhau và thỉnh thoảng có dịp gặp nhau. Chỉ có một khác biệt: Tôi thì  9 năm tù, còn anh thì tiếp tục khổ sai thêm 4 năm nữa. Càng lại lùng hơn là rốt cuộc toàn gia đình của hai anh em lại được đoàn viên ở một nơi cách xa quê hương nửa vòng trái đất. Anh hưởng không khí tự do được 10 năm thì ngã bệnh và 10 năm sau nữa thì trút hơi thở tự do cuối cùng.

Tang lễ của anh diễn ra trong 3 ngày cuối tuần. Nằm trong quan tài, hình dáng anh không có gì thay đổi. Đôi mắt nhắm kín, khuôn mặt bình thản an nhiên. Môi cười mỉm rất nhẹ. Dù Cáo Phó ghi là xin miễn phúng điếu mà người đến viếng ngày nào cũng đông và tràng hoa dần dần đặt kín quanh tường. Tang gia thoạt đầu chỉ muốn tang lễ giản dị nhưng rồi mỗi lúc một thêm trang nghiêm.image (5)

Cùng với thân nhân, thông gia và bằng hữu là các hội đoàn đã đến chào tiễn biệt anh. Ngày cuối cùng trước khi cử hành lễ hỏa táng, trưởng nữ của trưởng nam của anh đã nói lời từ biệt ông nội bằng tiếng Việt thật rành rọt và thân thương. Cháu cho ông nội biết là ngay sau buổi lễ, cháu sẽ trở về trường để chuẩn bị bài vở cho kỳ thi tốt nghiệp cử nhân vào sáu tháng tới. Cháu vẫn nhớ các phong tục tập quán Việt Nam được ông nội giảng dạy. Cháu cũng đã thấy tầm quan trọng của việc học hỏi và kiến thức mà ông nội thường nhắc nhở. Cháu hứa là sẽ luôn luôn học hỏi để bồi dưỡng kiến thức như ông nội đã làm đến tận cuối đời. Cuối cùng, cháu chúc ông nội an giấc nghìn thu.

Nhiều Niên trưởng trong các hội đoàn hiện diện như Quân trường Thủ Đức, khóa 2 Thủ Đức, binh chủng Quân Nhu, ngành Hành chánh Tài chánh lên phát biểu cảm tưởng, đọc điện thư phân ưu từ bạn bè trên tứ xứ … Một Niên trưởng tài chánh cấp cao nhân danh ông Châu Kim Nhân là cựu Tổng trưởng Tài chánh, cựu Phụ tá Tổng trưởng Quốc Phòng vì đang bệnh không đến được, đã đề cao tác phong tư cách của anh, tuyên dương công trạng thành tích của anh và kể lại những kỷ niệm của thời chung lo việc nước. Bài điếu văn gây xúc động. Thuở sinh thời, anh cũng thường nhắc đến ông cựu “xếp lớn” này. Đó là một người rất năng động và lúc nào cũng quan tâm đến mọi viên chức từng làm việc dưới quyền cho dù ngày nay không một ai còn là thuộc cấp. Vài năm một lần, mỗi khi có đại hội Hành chánh Tài chánh, dù là hội ở Cali hay Texas, ông đều bay từ Thủ đô Washington đến dự. Trong mấy năm anh Phiên lâm bệnh, cả hai ông bà thỉnh thoảng bay từ bờ Đông sang bờ Tây, đích thân đến nhà hoặc vào tận bệnh viện hỏi han anh và cho quà cáp.

image (2)Trong một phát biểu khác, một chiến hữu của ngành Tài chánh đã khơi lại những thích thú cũng như những muộn phiền qua năm tháng làm việc dưới quyền xếp Phiên. Vị này xác nhận rằng xếp chưa từng phạt kỷ luật người nào nhưng vì tính quá khe khắt, thường hay nổi nóng nên dù các nhân viên đều thương mến xếp, họ cũng không tránh khỏi buồn phiền. Đến nỗi đã đặt xếp cái danh hiệu là đại tá “phiền” thay vì đại tá Phiên.

Đặt cái danh hiệu đầy ý nghĩa đó, không ai biết rằng nó lại trúng phóc cái tên khai sinh của anh. Đó là một cái tên có một “lịch sử” là lạ mà tôi thấy mọi người hiện diện cũng nên biết qua. Vì vậy, dù không dự trù phát biểu, tôi cũng vội xin có vài lời trước khi sang phần Cảm tạ các quan khách của Trưởng nam người quá cố. Nguyên thủy, anh tên Nguyễn Văn Hiền. Tất cả chúng tôi đều mang họ mẹ vì khi cưới mẹ chúng tôi, ba tôi còn kẹt hôn thú với bà vợ lớn. Bà mụ ghi tên anh tôi vào sổ với chữ H hoa viết tay. Viên chức làng xã đọc thành chữ Ph. Thế là trên giấy khai sinh sổ bộ, tên Nguyễn Văn Hiền thành Nguyễn Văn Phiền. Về sau, khi vào quân đội và được du học ở Mỹ, chữ Phiền biến thành Phiên vì chữ Mỹ không có dấu huyền. Còn tên của tôi cũng biến hóa còn hơn cả tên anh. Ba tôi chọn tên tôi là An Ninh để tương ứng với tên ba tôi là An Hà. Ông chọn tên rồi quên nói với vợ. Chẳng ngờ nhằm lúc tôi chào đời ông lại bận chuyện đi xa nên khi bị làng xã thúc hối, mẹ đành lấy cái thứ tự của tôi trong đàn con mà đặt tên: Nguyễn Văn Bảy. Khi ba tôi trở về, thấy tên tôi lạ xa, ông chợt nhận ra cái dòng họ Võ có thể lụi tàn. Vì vậy ông xin má lớn chúng tôi hủy bỏ hôn thú, đồng thời ông lập hôn thú với má ruột chúng tôi. Khi trình hôn thú cho viên chức sổ bộ, chữ Nguyễn trước tên tôi được gạch ngang, bên trên ghi vào chữ Võ. Nhưng anh Phiên và các chị tôi thì vẫn giữ nguyên họ mẹ. Ba tôi giải thích rằng vì các anh chị tôi đều đã lớn, tên họ đã ghi vào các cấp bằng, nên việc đổi họ trở nên nhiêu khê. Tôi vốn thích cái tên An Ninh hơn là tên số Bảy, nên đã hỏi ông vì sao nhân đổi họ cho tôi ông lại không thay luôn tên mới là An Ninh, ông cười bảo số Trời cho má tôi chọn tên cho con nên ông quyết định giữ nguyên tên đó để làm… kỷ niệm.” Qua Mỹ, lúc thi lấy quyền công dân, tôi đã có thể đổi tên Mỹ, hay lấy lại tên An Ninh tôi ưa thích nhưng đúng lúc được hỏi tôi có muốn đổi tên, tôi chợt hiểu hết ý nghĩa của chữ “kỷ niệm” ba tôi viện dẫn. Còn cái kỷ niệm nào sâu đậm hơn là cái tên cha mẹ mình đặt cho mình… Nhớ đến mẹ cha, ngắm người anh đang nằm đây và rồi mãi mãi khuất bóng, tôi bỗng giật mình nhìn quanh: Hóa ra từ hôm nay tôi đã là đứa con cuối cùng của cha mẹ tôi …còn sống!

Khi đứng cạnh quan tài thì thầm lời tạ ơn ông anh đã dưỡng dục tôi nên người, tôi chợt nhìn nụ cười mỉm của anh mà không ngăn được cơn xúc cảm nghẹn ngào. Có một điều hôm nay tôi thấy rất rõ: Trong suốt cuộc đời kéo dài 84 năm của anh, anh thường nhặng xị với lắm người nhưng lại dành cho tôi nhiều tiếng cười nhất. Và hôm nay, đây là lần đầu anh mỉm cười với tất cả.

Còn một chuyện nữa, tôi nghĩ là sẽ giúp anh vui vẻ hơn. Nên tôi lại thì thầm: “Anh biết không, ba mất ở tuổi 76 là người sống thọ nhất của dòng họ Võ. Hôm nay, anh tuy mang họ Nguyễn nhưng vẫn là người đã phá kỷ lục sống lâu của ba. Anh hãy vui vẻ ra đi. Em không dám hứa là sẽ phá kỷ lục của anh nhưng xin hứa chắc là anh em mình sẽ gặp lại nhau…”

Đọc “Nội Ngoại đều thương” của Khiêm Cung

Vũ Thất

Tôi thực sự ngạc nhiên khi nhận được món quà gửi từ nước Úc xa xôi: tuyển tập truyện ngắn Nội Ngoại Đều Thươngcủa Khiêm Cung.

Bìa sách in hai màu xanh trắng trang nhã với bức ảnh làng quê ẩn hiện trong rừng dừa dọc hai bên bờ con sông lặng lẽ êm đềm. Tôi  mê sách báo nhưng ít khi ngắm nghía một quyển sách mà lòng rộn ràng như lúc này. Cái tựa Nội Ngoại Đều Thương nghe thật dễ thương và một bút danh nghe thật… khiêm cung.

Nhìn cái giá bưu phí ngang gần ấn phí (tôi ước chừng vì bản đặc biệt không đề giá bán) tôi nao nao nghĩ đến cái tình đồng hương ông dành cho tôi… Tôi không quen Khiêm Cung, chỉ biết ông qua các bút ký, truyện ngắn xuất hiện đều đều
trên trang nhà Thất Sơn Châu Đốc. Nếu chỉ vì tình đồng hương thì chưa đủ lý do để quyển sách vượt ngàn dặm đường. Hẳn là phải thêm cái nòi tình đồng điệu văn chương chữ nghĩa…

Không một chút chần chừ, tôi đọc ngay tập truyện. Đọc mỗi truyện chừng một trang tôi đều nhận ra rằng truyện đó tôi đã đọc rồi. Nhưng việc đọc rồi không đủ sức để ngăn tôi đọc… một lèo hết quyển sách dầy 228 trang. Tôi gấp sách lại, lòng lâng lâng bồi hồi,  một cảm giác không hề có sau khi đọc từng bài của Khiêm Cung đăng cách quảng trước đây. Sự nối kết các truyện ngắn như tạo thành một sức hút mới mẻ và mạnh mẻ.

Bằng vào lời phi lộ “Về già rảnh rổi viết để giải khuây, nhớ gì viết nấy”, thì hẳn ông bắt đầu viết vào lứa tuổi …tri thiên mệnh. Thế nhưng những gì ông nhớ và viết ra thì thật đáng kinh ngạc so với số tuổi của ông. Truyện mở đầu Làng Tôi, ông viết về sinh quán làng Bắc Nam phía bắc Châu Đốc. Ông vẻ ra tỉ mỉ đường đi nước bước, ông nhớ các sư sãi chân đất ôm bình bát đi khất thực theo sau vài chú tiểu mới xuất gia. Ông kể chuyện người Miên đua thuyền trong ngày lễ Rước Nước. Ông mô tả vũ điệu Là Khol và các nhạc khí. Ông ghi lại sinh hoạt cúng đình, lễ Vu Lan và nhất là lễ Nghinh Ông “cứ bốn thanh niên khiêng một cái kiệu để cung nghinh chư vị Châu Sương, Quan Bình, Ông Oanh đang lên đồng, miệng thở xì xịt, tay cầm kiếm sắt cắt lưỡi lấy máu vẽ bùa, hoặc chém vào lưng, hoặc dùng cây sắt nhọn xuyên thủng hai bên má, máu chảy dầm dề…”. Thuở nhỏ tôi cũng từng chen lấn xem lễ Nghinh Ông nhưng chắc chắn không thể nhớ lại để diễn đạt sắc nét như Khiêm Cung.

Cũng trong truyện này, ông kể về những ngày Tết trẻ thơ bên lò nấu bánh tét và đốt pháo kim… Ông cũng không quên vẻ lại cái thảm cảnh mùa lũ lụt: “…Lúc đó tôi thường hay nhìn quanh nhìn quất xem ở rặng cây xa xa trên đồng nước bao la có cái giàn để quan tài người chết hay không…Người ta phải làm một cái giàn… dùng để tạm quan tài người chết, chờ khi nước rút hết mới chôn xuống đất”.

Truyện kế tiếp là Dòng Sông Kỷ Niệm nơi người lớn sống bằng nghề bắt cá qua nhiều cách thức khác nhau, còn cậu bé Dương Văn Chung thì lo bắt cá thia thia, móc đất sét nắn đồ chơi, hoặc bơi thuyền ra giữa dòng sông Châu Đốc, lấy rổ cào tôm cào cá vào xuồng…

Tôi đang miên man theo những kỷ niệm thời thơ trẻ của tác giả ở vùng biên giới Việt Miên thì đến bài liền theo đó Cái Hôn Lộ Thiên tác giả đột ngột …kéo tôi đi dự đám cưới con trai người bạn ở Úc. Qua bài này, trong tư cách người lớn tuổi, Khiêm Cung nhận xét về những cải biến trong hôn lễ của người Việt ở xứ người…

Rồi đang dự đám cưới ở nước Úc năm 1989, Khiêm Cung quay về Việt Nam thương yêu bằng cách hồi tưởng về Một Chuyến Vượt Biên rất gian nan vài năm trước đó.  Lối kể chuyện của ông là lối kể chuyện trinh thám, khiến tôi gần đứng
tim và luôn mong mõi cả gia đình ông được thoát đi xuông xẻ. Quả nhiên gia đình ông không bị công an bắt. Nhưng hãy nghe ông tỏ lời kết thúc chuyến vượt biên: “Trái đất tròn, nước Việt Nam mình cũng tròn, gia đình tôi đi vòng vòng rồi trở về chỗ cũ”. Ông thất bại chua cay, mất bao nhiêu tiền của mà vẫn giữ nụ cười hóm hỉnh…

Có lẽ chính nhờ tinh thần hài hước đó mà Khiêm Cung đã tuyển chọn bài và cố tình sắp xếp theo thứ tự thời gian đột biến: từ một quá khứ ấu thơ rồi bất ngờ kể chuyện tuổi già, từ tuổi già bỗng quay lại thuở học trò, từ thuở học trò chợt nhảy sang thời… mất nước. Thời gian đột biến kéo theo không gian đột biến. Từ quê nội sang quê ngoại. Từ quê nhà chuyển sang quê người. Đề tài cũng biến đổi liên tục. Từ gia đình đến hàng xóm. Từ thầy cô đến bạn bè. Từ tập tục lễ
nghĩa đến chuyện cũ tích xưa. Từ ngôn ngữ bất đồng đến con người bất bình đẳng… Hiện tại-quá khứ xem ra không dính gì nhau mà lại đan nhau một cách một cách khéo léo, tự nhiên và lôi cuốn.

Tôi tâm đắc cái tựa sách Nội Ngoại Đều Thương. Nó phù hợp với nội dung của toàn tập truyện. Nội mang nghĩa quê nội mà cũng có nghĩa quê nhà. Ngoại là quê ngoại mà cũng có nghĩa quê người . Khiêm Cung tỏ ra thương cả bên nội lẫn
bên ngoại dù ông thú nhận thương bên ngoại nhiều hơn. Ngược lại ông hướng tâm tư tình cảm thiết tha về quê nhà so với chỉ là lòng biết ơn quê người.

Quê nội ngoại của Khiêm Cung là  làng quê phía Bắc của thị xã Châu Đốc. Quê nội ngoại của tôi ở về phía Đông. Nếu ông chưa hề quên quê cha đất tổ thì trên 20 năm ở quê người tôi cũng thường tìm đọc các truyện miệt vườn để đỡ nhớ quê mình. Các tác giả ưa thích của tôi là Phạm Thăng, Nguyễn Văn Ba, Hồ Trường An, Hứa Hoành, Nguyễn Tấn Hưng. Gần đây, từ ngày trang nhà Thất Sơn Châu Đốc trình làng, tôi bắt đầu yêu chuộng Hai Trầu Lương Thư Trung, Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa. Và dành cảm tình đặc biệt cho Khiêm Cung Dương Văn Chung. Đặc biệt vì những gì Khiêm Cung viết về quê ông cũng chính là hình ảnh sự việc ở quê tôi và những gì ông quan ngại về truyền thống dân tộc trước cuộc hội nhập ở nước Úc thì cũng là mối ưu tư của mọi người.

Thêm vào đó, qua Nội Ngoại Đều Thương tôi học hỏi thêm nhiều điều thú vị. Ngoài việc tác giả giúp tôi sáng tỏ các lễ lạc, tập tục, mùa màng mà tôi hiểu biết lờ mờ hoặc đã quên lãng, ông còn đưa ra các câu ca dao dễ thương tôi chưa từng nghe đến:

Biển Hồ cực lắm em ơi. Ban đêm xẻ cá ban ngày phơi khô (tr.9).

Cây khô tưới nước cũng khô. Vận nghèo đi tới xứ mô cũng nghèo (tr.82).

Trầu vàng ăn với cau dày. Tao nghe má nói gả mày cho tao (tr.120).

Cu kêu ba tiếng cu kêu.Cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè (tr. 124).

Ông cũng giúp tôi hiểu được vì sao có những đứa trẻ gọi chính mẹ ruột mình bằng Vú và vì sao người ta đặt tên cho loài cây có hoa đỏ rực vào mùa hè là cây phượng vỹ… Với một trí nhớ lạ thường, một tri thức quảng bác, với lời văn bình dị
sáng sủa đôi khi diểm chút khôi hài ý nhị, tôi không tin tập truyện Nội Ngoại Đều Thương được hình thành như ông bày tỏ: “Về già rảnh rổi viết để giải khuây”. Ông nói gì thì nói, tự tập truyện của ông đã hàm chứa đầy đủ các lời nhắn nhủ về đạo làm người Việt Nam, rất cần cho con cháu ông, cho con cháu tôi và cho tuổi trẻ hải ngoại.

Cuối tác phẩm là phụ lục dầy 25 trang như là lời bạt của nhà văn Lương Thư Trung. Nhà văn đã nồng nhiệt chúc mừng và ngợi khen tác phẩm đầu tay của Khiêm Cung. Tôi không có kết luận nào khác hơn là đồng ý với nhận xét của bác Hai
Trầu ở Kinh Xáng Bốn Tổng: “ … Những gì anh viết bằng chất liệu thật nuôi sống tâm hồn anh lớn dậy và những trang sách của anh làm con tim tôi rung cảm, bồi hồi”.

Mong đợi tác phẩm kế tiếp…

nguồn: thatsonchaudoc.com

Xem và đọc THE DA VINCI CODE

Vũ Thất

Phim và truyện

Truyện mở đầu bằng một vụ sát nhân. Không gian là viện bảo tàng Louvre của thủ đô nước Pháp. Địa điểm là phòng trưng bày tranh của Leonardo Da Vinci. Sát thủ là một tên trông như ma trơi. Nạn nhân là vị giám đốc viện bảo tàng. Ông đã bị bắn một viên đạn vào bụng. Sát thủ định bồi thêm phát ân huệ nhưng rồi mỉm cười lặng lẽ bỏ đi. Hắn đã nhận được lời khai chỗ dấu viên chủ thạch đúng theo lệnh trên. Sớm hay muộn ông cũng chết. Tốt hơn là để ông chết từ từ, để ông hưởng cái thú đau thương như hắn hưởng mỗi ngày. Mỗi ngày hắn phải tự hành xác đến tóe máu để được lên thiên đường.
Kết quả của sự đùa giỡn với tử thần này dẫn đến toàn bộ diễn biến rất hồi hộp sau đó. Bởi chính trong những giây phút mong manh của đời mình, vị giám đốc bảo tàng đã cố sức dùng máu của mình vẻ một ngôi sao năm cánh trên ngực và nguệch ngoạc bốn hàng số và chữ lên sàn gỗ:

13–3–2–21–1–1–8–5
O, Draconian devil!
Oh, lame saint!
P.S. Find Robert Langdon

Robert Langdon là tên của vị giáo sư trường đại học Harvard, được mời qua Pháp thuyết trình đề tài về biểu tượng tôn giáo. Hàng chữ cuối cùng là nguyên do ông bị cảnh sát triệu đến hiện trường trong tư cách hung thủ vì nạn nhân đã chỉ đích danh ông.

Riêng với nhân viên giải mã Sophie Neveu của Sở Cảnh Sát Trưng Ương thì đó là lời nhắn dành riêng cho cô. Vị giám đốc bảo tàng chính là ông nội của cô. P.S. là viết tắt chữ Princess Sophie, biệt danh mà ông gọi cô khi còn nhỏ. Ông nội cô còn là lãnh tụ của một hội kín tên có là Priory of Sion, thành lập từ năm 1099. Hội này có nhiệm vụ bảo vệ một hồ sơ tối mật trong đó gồm các chứng từ cho biết Chúa Jesus mang giòng máu hoàng tộc, nhiều quyền lực, có vợ có con và hậu duệ còn tồn tại. Ngược lại, giáo đoàn Opus Dei trực thuộc tòa thánh Vatican có nhiệm vụ bảo vệ bằng mọi giá sự trong sáng của Thánh Kinh trong đó ghi chép Chúa Jesus là con của chúa Trời, không vợ không con. Cái mấu chốt gây cấn của câu chuyện là ở sự tréo cẳng ngổng đó. Hồ sơ tối mật mà bạch hóa thì Kinh Thánh sẽ từ tơi tả đến te tua. Nhưng cả trăm năm nay, từ ngày Opus Dei thành lập, Tòa Thánh không ghi nhận tin tức bạch hóa từ phe… địch mà chỉ ghi nhận báo cáo tội ác của phe mình. Vì vậy, ngay sau khi nhậm chức, vị Tân Giáo Hoàng ra lệnh giải tán giáo đoàn Opus Dei. Trong bối cảnh đó, câu chuyện hình thành.

Để tìm Robert Langdon, dù chưa được lệnh, Sophie cũng vội đến hiện trường. Biết chắc vị giáo sư sẽ bị còng, cô bày trò đánh lừa viên cảnh sát trưởng Fache để cô có đủ thì giờ giải mã bốn hàng chữ số. Đó là trò chơi hoán vị mẫu tự của ông nội cô. O, Draconian devil là Leonard Da Vinci và Oh, lame saint là The Mona Lisa. Trên tấm kính chắn trước bức tranh Mona Lisa cô khám phá một mật mã khác. Lục soát phía sau bức tranh của Leonard Da Vinci treo đối diện, cô tìm thấy một chìa khóa hình chữ thập. Cô không đủ thì giờ để giải mã hàng số, chỉ đủ may mắn trốn thoát cùng giáo sư Langdon bằng một hành động thí mạng cùi …

Đại úy Fache bực tức cho lệnh truy nã. Ảnh hai người được phổ biến khắp nơi. Cảnh sát quốc tế được nhờ cậy tiếp sức. Robert và Sophie vừa lo đào tẩu vừa cố giải đoán ý nghĩa và công dụng của chiếc chìa khóa. Sau bao suy diễn vất vả, họ đi đến kết luận giản dị: chìa khóa tương trưng cho ngân hàng và chữ thập là biểu tượng của quốc kỳ Thụy Sĩ. Ông nội của Sophie để lại cái gì trong nhà băng Thụy sĩ. Và họ xông xáo đến đó. Chiếc chìa khóa cho phép họ tiến sâu vào ngân hàng nhưng cần phải có mật số mới lấy được hộp ký thác. Họ lại phải vận dụng… đỉnh cao trí tuệ. Mật số có thể chính là dòng mật mã đầu tiên chưa dùng đến. Họ bấm số theo thứ tự đã ghi: 13–3–2–31–1–1–8–5. Không kết quả. Họ chỉ còn được phép thử một lần duy nhất nữa hoặc mãi mãi di vật đó trở thành vô chủ. Sophie nghĩ về sở thích của ông nội. Ông thích nhất trò hoán vị. Họ hoán vị được mẫu tự thì hẳn đây là hoán vị con số. Phải rồi, chuổi số Fibonacci 1–1–2–3–5–8–13–21. Đặc điểm của nó giúp ông dễ nhớ: con số kế tiếp là tổng số của hai số đứng trước. Tuy vậy họ vẫn đứng tim khi bấm số.

Di vật là một hộp bằng loại gỗ quý với một bông hồng năm cánh được chạm trỗ tinh vi trên nắp. Thoạt tiên, họ nghi ngờ chiếc hộp đựng chén Thánh. Chén Thánh là bảo vật truyền thuyết được săn tìm trên hai nghìn năm qua, có liên quan đến vợ của Jesus, đến hồ sơ tối mật. Nhưng họ không có thì giờ nghĩ suy thêm. Cảnh sát đã ập tới bủa vây bên ngoài. Vị chủ ngân hàng giúp họ vượt thoát bằng xe chở tiền nhưng rồi chính ông này lại uy hiếp họ để tước đoạt chiếc hộp. Họ phải hiệp sức dụng kế choảng ông chủ nhà băng và cướp xe tiếp tục trốn chạy. Cùng đường, họ đến nhà ông Teabing, bạn của giáo sư Robert, người suốt đời đam mê nghiên cứu chén Thánh, hy vọng ông này giúp họ giải tỏa các thắc mắc về ý nghĩa và công dụng của chiếc hộp khắc hoa hồng..

Trong khi đó sát thủ đến địa điểm tiết lộ, đập vỡ nát sàn nhà thờ mà vẫn không tìm ra viên chủ thạch. Sát thủ kinh hoảng điện báo với Ông Thầy. Sát thủ chưa biết mặt ông Thầy, chỉ được phép liên lạc máy nhận lệnh hành động. Thật ra sát thủ là đệ tử của vị giám mục thủ lãnh giáo đoàn Opus Dei, là người mà sát thủ từng thọ ơn cứu mạng. Chẳng những thế sát thủ còn được vị thủ lãnh cho phép hắn tự… hành xác tóe máu để được Chúa thương yêu cứu rỗi. Vị giám mục này đang bất mãn Tòa Thánh Vatican là cơ quan tối cao vừa ban lệnh giải tán giáo đoàn. Giải tán là tiêu tan quyền lực nhờ đó mang đến tiền tài.

Đúng lúc đó, một người tự xưng là Ông Thầy cho biết ông đã tìm ra chỗ cất dấu viên chủ thạch cùng hồ sơ mật và cần sự cộng tác để lấy cắp. Thành công, giám mục sẽ mãi mãi làm thủ lãnh, Ông Thầy sẽ mãi mãi lên hương. Thế là sát thủ đươc biệt phái cho Ông Thầy để thực hiện sứ mạng. Hắn làm gọn bốn thành viên cao cấp của hội kín Priory of Sion trong một đêm. Hắn tưởng sẽ lập được công lớn dâng lên Ông Thầy. Nào ngờ hắn thất bại. Nhưng nhờ ơn Chúa, Ông Thầy tỏ ra thông cảm, chỉ yêu cầu hắn truy đuổi hai tay mơ để thu hồi viên chủ thạch. Ông Thầy chính là Teabing, bạn của giáo sư Robert. Đêm nay Teabing quá sướng, bỗng dưng hai con mồi dẫn xác đến cùng với chiếc hộp ông mong ước…

Đúng là chiếc hộp đựng viên chủ thạch. Nhưng muốn mở chiếc hộp phải biết một mật mã. Mật mã đó lại dẫn đến một mật mã khác, rồi lại một mật mã khác nữa… Đôi bạn phải sát cánh phối hơp với nhau và với người bạn Teabing nay đã thay dạ đổi lòng để giải mã dài dài. Đó là một hệ thống mật mã tinh vi do chính họa sĩ tài hoa Leonardo Da Vinci, một thành viên cao cấp của Priory of Sion sáng chế nhằm mục đích vừa để bảo vệ mà cũng vừa để dẫn tới chén Thánh, nếu biết cách giải mã.

Cái thú vị là không mật mã nào giống mật mã nào, mỗi lúc một khó khăn hơn. Cái hồi hộp là cứ mỗi phút trôi qua, đôi bạn càng tiến gần tới… tử thần. Chớ lần này trốn đi đâu được. Kẻ thù khắp nơi. Nơi này cảnh sát thủ đô, phía kia cảnh sát quốc tế, cận kề là ông bạn trở mặt Teabing, đâu đây là tên sát thủ khát máu. Số phận họ sẽ ra sao? Chén Thánh có thật không? Ai là hậu duệ của Chúa? Nấm mồ của Mary Magdalene,vợ của Chúa có tìm thấy không?

Thật đáng buồn là tôi phải dừng phần tóm lượt ở đây.  Nguyên tắc không thành văn của việc điểm phim và truyện trinh thám không cho phép tôi đi xa hơn. Viết thêm cho thấy kết cuộc sẽ làm mất hứng thú người chưa xem, kẻ chưa đọc.
Đọc hết gần năm trăm trang The Da Vinci Code, mới thấy là phim đã theo rất sát truyện dù có rất nhiều thay đổi khá lý thú. Đây là một thay đổi lý thú nhất. Không gian thì giống nhau: sân trước của nhà thờ. Thời gian thì trái ngược: trong sách, ban đêm tràn ngập ánh trăng; trong phim, ban ngày trời đầy mây trắng. Sách thì mô tả thế này: “Sophie đưa bàn tay mềm mại đặt lên một bên khuôn mặt chàng. Rồi ngã người tới hôn chàng một cách trìu mến lên má”. (Sophie reached out and placed her soft hand on the side of his face. Then, leaning forward, she kissed him tenderly on the cheek). Rồi họ nói vài câu hẹn hò gặp nhau ở Florence của Ý. Mẫu đối thoại hẹn hò rất… phê khiến cho “Sophie lại ngã về phía trước và lại hôn chàng, lần này hôn lên môi. Thân thể họ áp sát nhau, thoạt tiên êm dịu rồi tan vào nhau”. (Sophie leaned forward and kissed him again, now on the lips. Their bodies came together, softly at first, and then completely). Nhưng trong phim, cũng cảnh đó thì: “Đôi bạn nhìn nhau cười cười. Rồi chàng vòng tay kéo nàng áp vào ngực mình, đầu nàng tựa một bên vai. Cử chỉ đó kéo dài độ vài …giây thì chàng nhẹ đẩy nàng ra, âu yếm nhìn vào mắt nàng, khẻ nói: You take care. Nàng âu yếm nhìn chàng: Yes! Chàng cúi mặt đặt đôi môi lên…trán nàng. Và họ nhìn nhau, cười cười từ giã”!

Sao kỳ vậy kìa? Thuyền quyên gặp anh hùng, gái chưa chồng gặp trai chưa vợ, cùng trải qua những giây phút gian nguy, vào sinh ra tử, thập tử nhất sinh thì…tả như trong truyện là phải hơn, chớ đâu như trong phim chỉ là một nụ hôn hờ hững vào một chỗ vô tội vạ. Hẳn có cái gì…lấn cấn đây! Phải chăng vì đêm đổi thành ngày nên tâm tình cũng đổi? Hoặc cũng có thể đây là nụ cười…mona lisa của nhà sản xuất tặng cho mối giao hảo đang kém mặn nồng giữa hai nước đồng minh lâu đời Mỹ – Pháp?

Khen thưởng và chê trách

Chỉ riêng quyển The Da Vinci Code, Dan Brown đã phát hành được 50 triệu bản (2006). Phải kể thêm 50 triệu độc giả ở các thư viện và một trăm triệu coi sách cọp và các bản in lậu. Còn có lời khen nào nồng nhiệt hơn? Giá bán một quyển bìa cứng là 25 USD. Một quyển bìa mềm 8 USD. Cứ cho Dan Brown được trả bản quyền một quyển 2 USD thì ông ẳm sương sương 100 triệu USD. Sương sương thôi vì chưa kể tiền bản quyền thực hiện thành phim, tiền sản phẩm DVD, audiobooks … và bốn mươi bốn nước mua bản quyền dịch thuật! Có phần thưởng tiểu thuyết nào mang giá trị cở đó trước đó chăng?
Về phim, The Da Vinci Code đạt số thu gần $800 triệu tính đến ngày 22/8/06. $800 triệu thu nhập so với $125 triệu chi phí. Lời quá cỡ! Tám trăm triệu là kết quả của bao nhiêu khán giả ? Đây vừa là lời khen nồng nhiệt đồng thời cũng là phần thưởng xứng đáng dành cho đạo diễn Oscar Ron Howard.

Quả thật ông rất đáng được tưởng thưởng khi không ngại tốn kém để giữ tính trung thành với nguyên tác. Như đoàn phim của ông sẵn sàng du hành để quay tu viện Westminter ở Luân Đôn  và nhà thờ Saint–Sulpice ở Ba Lê nhưng rồi đều bị cấm quay. Riêng tu viện Roslin ở Tô Cách Lan (Scotland) thì hoan hỉ tiếp đón với điều kiện phải chịu phí tổn tu bổ. Nhẹ thôi, chỉ có… 7 triệu đô la. Tin cho biết, vị tu viện trưởng là giám mục Michael Fass vừa từ chức với lý do rất … đạo và đời: việc ông phép quay phim đã kéo du khách tới viếng tu viện đông như… Disneyland! Chỗ tu hành mà trai thanh gái lịch đến nùm nụp thì chỉ còn là nơi tu… hú!

Đạo diễn thì tài ba nhưng còn các minh tinh tài tử diễn xuất ra sao? Tài tử tạo ấn tượng mạnh nhất là sát thủ Paul Bettany. Cảnh hành xác như thật, trông ớn chè đậu. Diễn xuất cũng thần sầu. Còn nam tài tử Jean Reno vốn đóng vai sát thủ trong phim The Professional lại tỏ ra khặc khừ trong vai cảnh sát, khắc tinh của tân sát thủ Paul Bettany! Còn cặp trai tài gái sắc đóng vai chính Tom Hanks và Audrey Tautou làm ăn có… tới bến?

Trước hết, kể qua về thành tích của tài tử thần tượng. Tom Hanks từng đoạt hai Oscar, được sách kỷ lục Guinness tặng danh hiệu “Nam diễn viên có nhiều phim thu trên $100 triệu USD nhất”, với tổng số 14 phim trong đó có 7 phim liên tục từ năm 1998 đến 2002. Phim có số thu cao nhất là Saving Private Ryan với $ 216.5 triệu. Giờ đây, The Da Vinci Code chưa chi đã đạt 800 triệu, đương nhiên sách Guinnes sẽ phải ghi nhận kỷ lục mới này của Tom Hanks. Riêng về phía khán giả thì tất cả đều đồng ý rằng với tài nghệ diễn đạt ở phim này, Tom Hanks rất có khả năng lãnh được … cái búa. Còn Audrey Tautou, cô đào trẻ đẹp duyên dáng đang lên của nước Pháp, dù rất tròn trịa với vai trò nhưng chắc cũng chẳng ăn được … cái giải gì!

Khen thưởng càng nồng nhiệt thì chê trách càng thậm tệ. Đa số lời chê trách phát xuất từ các giáo hội Ki–tô giáo và tòa Thánh Vatican. Nội dung nhằm bài bác và phản bác các thông tin xuyên tạc, bóp méo, bịa đặt của Dan Brown về Chúa Jessus. Có ít nhất mười quyển sách thuộc loại “lột trần”, “lật mặt” The Da Vinci Code đã phát hành. Nhiều phim cùng chủ đích cũng đã được chiếu trên các hệ thống truyền hình, truyền thanh. Lại thêm vô số websites được thiết lập để ăn thua đủ với tác giả và nhóm làm phim. Vài tuần trước khi phim được chiếu đồng loạt khắp thế giới, Giáo Hội Ki–tô cho phổ biến lời kêu gọi tẩy chay.

Kết quả trái ngược. Nơi nào có nhiều tín đồ Ki–tô nhất, nơi đó có đông khán giả nhất. Có thể việc phản ứng quá quy mô đã gợi thêm óc tò mò của dân chúng và vô tình cổ động cho phim lẫn sách. Người ta thấy, trong dịp này, không chỉ quyển The Da Vinci Code được tái bản mà còn kéo theo ba quyển khác ít nổi tiếng của Dan Brown.

Các nhà bình luận cho rằng, phải chi Giáo Hội cứ giữ thái độ phớt tĩnh như Ăng lê mà không chừng…không đến nỗi vậy. Hoặc cùng lắm chỉ cần nhẹ nhàng như Tom Hanks trả lòi phỏng vấn: “Về quyển sách, đây là một câu chuyện hay nên đọc giải trí. Và về cuốn phim, thật lầm lẫn lớn nếu xem cuốn phim là nghiêm túc”.

Làm sao nghiêm túc được khi truyện phim mở đầu bằng một vụ ám sát … tưởng tượng. Chưa từng có vụ giết người thực sự nào xảy ra trong viện bảo tàng Louvre, nói chi là giết ông giám đốc. Từ một biến cố bịa, kéo theo các nhân vật bịa, những hành động bịa và dẫn đến một kết cuộc…trớt quớt! Ấy vậy mà hốt bạc, mới … tài!

Trước khi hốt bạc, Dan Brown chỉ là một giáo sư Anh ngữ. Vào một kỳ nghỉ hè, sau khi ông đọc xong một quyển tiểu thuyết của Sidney Sheldon ông cảm thấy mình có thể viết hay hơn tác giả này! Và Dan Brown đã viết hay hơn thiệt.

Còn tôi người từng viết văn, sau khi đọc The Da Vinci Code lại càng cảm thấy mình có thể viết hay hơn… Dan Brown. Quyển sách tôi sắp viết còn có cái tựa cũng vượt trội: “Mật Mã Hang Pắc Bó”! Cũng chẳng việc gì phải nặn óc để… bịa như tác giả Mật mã Da Vinci, tôi chỉ việc dựa vào vài sự viêc dã man có thật trong hồi ký Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên và các chi tiết rùng rợn ly kỳ bị rò rỉ sau vụ đấm đá “xét lại phản đảng” là sách đủ hấp dẫn hốt bạc.

Thông thường, ở bìa sau quyển sách đều có in hình tác giả kèm với lý lịch … trích ngang. Dan Brown chơi ngang chỉ in tấm ảnh trần trụi. Tôi chơi ngông, dưới bức ảnh, sẽ kê khai cái tội đã phạm chưa từng có trong lịch sử văn minh loài người: tội ngụy quân.

Nổi danh và nổi tiếng

Chỉ cần quyển The Da Vinci Code, tác giảDan Brown trở nên vừa nổi danh vừa nổi tiếng! Cái từ “tai tiếng” không thể áp dụng vào trường hợp của ông. Ông bị hai tác giả quyển Holy Blood Holy Grail truy tố ra tòa về tội đạo văn nhưng được tha bổng. Có người chê ông thuộc loại … buôn thần bán thánh vì chọn Thiên Chúa làm đề tài kiếm ăn nhưng cũng có người khen ông can đảm vì dám nói thẳng thừng là Chúa … có vấn đề.

 Không biết hồi ức “Mật Mã Hang Pắc Bó” (tạm dịch The Pac Bo Cave Code) có giúp tôi nổi danh nổi tiếng như tác giả The Da Vinci Code không chớ tôi biết có một “nhà văn” Việt Nam từng nổi tiếng trước Dan Brown gần nửa thế kỷ với nhiều tác phẩm mà một quyển được coi là hay tuyệt. Hay đến nỗi vừa được các nhà làm điện ảnh nổi danh chọn để thực hiện thành phim (2006). Họ khẳng quyết là “thực hiện nhằm mục đích để đời”. Bàn thêm về tác giả, theo dư luận, ông là một nhân vật khá hiện thực huyền ảo. Khi ông giảng chánh pháp thì màu áo của ông vàng rực khắp làng Mai. Còn khi ông thuyết chánh trị thì áo ông đổi sắc tựa làng Hồng.

Thật là một cơ hội may mắn để tôi thể hiện tính công bằng là nếu đã điểm sách và phim nói về Chúa thì cũng nên điểm phim và sách nói về Phật. Vậy xin hẹn gặp lại quý độc giả ở bài “Đọc và Xem Đường Xưa Mây Trắng” của thiền sư Nhất Hạnh.

Copyright © 2006 DCVOnline


Tác giả tu chính ngày 11/10/2011.

Mời đọc: Xem và đọc “Memoirs Of a Geisha”

Một người dân Châu Đốc

Một người dân Châu Đốc

Vũ Thất

Chiếc Jeep cặp vào lề, dừng lại. Tôi bước xuống, đứng sau vài người đang xếp hàng.  Bên kia xe bánh mì là một cô gái còn rất trẻ, rất dễ thương. Đôi bàn tay của cô đang vẻ những động tác nhanh nhẹn, uyển chuyển, chính xác. Một tay cầm ổ bánh, tay kia cầm con dao nhỏ, xẻ đôi, bỏ dao xuống, nhét thịt, dưa leo, đồ chua , rắc tý tiêu muối, đặt ổ bánh lên tờ giấy trắng, gói gọn gàng, quấn vòng một sợi dây thung. Vừa khi người khách cầm ổ bánh, cô bé nở nụ cười rạng rỡ kèm lời cám ơn ngọt ngào. Rõ ràng nụ cười xã giao đó dành cho người kia mà sao tim tôi bỗng rung động bồi hồi.  Tôi chợt hiểu rằng mình chưa thể rời ngay Châu Đốc. Đến lượt, sau khi nhận ba ổ bánh kèm với nụ cười và lời cám ơn, tôi ra hiệu anh tài xế và hộ tống viên cùng vào quán.
Tối thứ bảy, nhà hàng đông khách. Chúng tôi được hướng dẫn ngồi vào bàn kê trên vỉa hè, cạnh xe bánh mì. Chia mỗi người một ổ, tôi cười bảo ăn mà không có uống thì  khô khan quá, mất ngon. Tôi gọi một chai 33. Hai anh lính gọi cà phê. Cô bé đang đứng cách tôi rất gần. Tôi muốn gợi chuyện mà cô đang bận túi bụi. Tôi mở tờ giấy bọc ổ bánh mì, thấy có chữ in, tôi vuốt thẳng, tò mò nâng lên đọc: “Lưu Luyến”. Kiểu chữ đẹp, khá to, màu xanh. Bên dưới in hai hàng chữ nhỏ hơn: “Điểm tâm, giải khát nơi đây. Quán ăn Lưu Luyến, 52 Bạch Đằng”. Tôi vừa nhai vừa gật gù. Hai câu thơ ngắn gọn mà đầy đủ. Lại rất hữu ích…cho tôi. Chỉ cần biết thêm tên cô bé là tha hồ viết thư.
Tôi nhìn cô bé, chỉ thấy phía lưng, không thấy nụ cười. Buồn tình, tôi nốc một hơi nửa chai bia. Từ phía trong, giọng ca Khánh Ly như đưa cay qua bản Chiều một mình qua phố. Tôi mở nắp túi, móc bao thuốc và quẹt zippo. Tôi rút một điếu gắn lên môi, bật lửa rồi đưa bao thuốc và hộp quẹt cho hai “đệ tử”. Tôi dứt nửa chai bia còn lại và gọi thêm chai mới. Bụng đói làm vị bia ngon ngọt nhưng cũng làm chếch choáng. Tôi vừa gặm bánh mì vừa nghĩ cách hỏi tên cô bé. Tôi chợt để ý người đàn bà ngồi ở một bàn nhỏ gần kề, đang thoăn thoắt xé thịt gà ram. Tôi hỏi như để câu giờ:
– Thưa bác, bác là thế nào trong tiệm này.
– Dạ, tôi là…chủ.
Tôi giật mình chăm chú nhìn người đàn bà. Khuôn mặt tròn, phúc hậu, khoảng tuổi trung niên. Bà đang nhìn tôi, cười mỉm hiền từ. Đó là nụ cười của cô bé. Không biết có phải tại rượu không mà tôi bật miệng một cách mau mắn:
– Vậy cô bé đang bán bánh mì là …con của bác?
–  Phải, nó là con gái tôi.
Tôi hết nhìn bà rồi nhìn cô gái. Nước da của hai người đều trắng như nhau. Khuôn mặt cô bé mang vẻ đẹp của bà nhưng đậm nét Trung Hoa. Tôi nhớ đến người đàn ông Tàu ngồi ở quầy phía trong, lúc còn tìm chỗ ngồi. Chính ông hướng dẫn tôi đến bàn này kèm với câu xã giao tiếng Việt điệu nghệ: “Mời đại úy ngồi đỡ ở đây, xin cảm phiền”. Tôi quay nhìn vào. Ông vẫn ngồi đó, đang tính tiền.Tôi lại buộc miệng:
– Vậy ông ngồi trong kia là …
Sợ mình nói hớ tôi chợt im lặng. Bà lại mỉm cười, giọng khoan hòa:
– … Là chồng tôi.
Tôi đăm ra lúng túng, nâng chai bia, nhấp vài ngụm rồi hít hai ba hơi thuốc. Lấy lại được bình tĩnh, tôi đổi đề tài, hy vọng chiếm được cảm tình:
– Hai câu thơ Lưu Luyến thật đầy đủ ý nghĩa. Chắc bác là tác giả?
– Không, của con tôi.
– Của cô đó hả bác?
– Không phải, đứa khác…
Tôi nhìn đồng hồ. Mới đó mà qua đi nửa giờ. Càng khuya, đường về càng kém an ninh. Đưa tiền cho anh tài xế lo việc thanh toán, tôi nhặt chiếc mũ, rời khỏi ghế, bước sang ngồi cạnh mẹ cô bé rồi nói một cách mạnh dạn:
– Thưa bác, xin bác cho cháu nộp một lá đơn…
Bà ngưng xé thịt, ngẩn lên, ngạc nhiên:
– Đơn từ gì ?
Tôi nói chầm chậm một cách nghiêm túc:
– Thưa bác, xin bác vui lòng cho cháu được nạp lá đơn xin cưới cô đang bán bánh mì…
Bà lại nở nụ cười hiền hòa nhưng nói bằng giọng trách móc:
– Xin đừng nói giỡn đại úy ơi.
Tôi đổi giọng thành khẩn:
– Thưa bác, cháu nói thật.
– Nói thật cũng không được. Nó còn con nít, mới mười sáu tuổi.
– Cháu sẽ chờ, đến bao lâu cũng được.
Bà đứng lên, trao thau thịt đã xé xong cho cô bé, nói từ tốn mà dứt khoát:
– Đại úy say rồi, nên về nghỉ đi.
Cái từ “gửi đơn” của tôi và cái chữ “say” của bà vừa đủ tác dụng để gây cho tôi vô vàn khó khăn sau đó. Tôi tự khám phá ra rằng không ai lại gã con cho một tên say sưa, hỗn hào. Tôi nghĩ đúng nhưng chưa đủ …
Suốt mấy tháng trở về Cần Thơ, tôi đành sống những ngày thương nhớ nụ cười, những đêm miệt mài viết thư. Thư nào cũng dài bảy tám trang và kết thúc bằng từ “còn tiếp”. Rồi cuối cùng, không cưỡng được, tôi lại vượt đoạn đường dài tìm về Châu Đốc. Tôi lại sắp hàng mua bánh mì, nóng lòng chờ đến lượt để hỏi nhỏ cô bé: “Sao cô không trả lời thư tôi?” Cô bé thản nhiên hỏi lại: “Thư gì?”. Tôi cay đắng tìm chỗ ngồi lặng lẽ uống bia, nghe nhạc, rất yên phận. Thỉnh thoảng liếc nhìn cô bé cho đỡ nhớ. Tôi tự hỏi mình có nên đến nữa hay thôi. Rồi tự an ủi mình, ở đâu thì cũng uống bia, uống ở đây… ngon hơn. Một năm trôi qua rất êm đềm mà chua xót. Thư vẫn chỉ có đi mà không hề có lại.
Bỗng một buổi tối, đang ngồi nhâm nhi nghe nhạc một mình ở chiếc bàn cạnh quầy tính tiền,  bất chợt một bà cụ xuất hiện, xin phép ngồi cùng bàn với tôi. Cụ xưng là bà ngoại cô bé, khuyên tôi đừng đeo đuổi cô bé nữa. Cụ nêu lý do: “Chính cháu tôi chê đại úy không được… đẹp trai và cả nhà cũng không ai muốn nó lấy chồng làm …lính”. Tôi nghèn nghẹn đáp lời: “Xin cụ hãy xem cháu như một khách hàng lúc nào cũng ưa thích… điểm tâm giải khát nơi đây. Và cháu sẽ tự động chấm dứt khi cô bé… lấy chồng”. Giọng cụ đầy nhân ái: “Mong đại úy không buồn phiền gì”.
Buồn phiền thì sao khỏi buồn phiền nhưng tôi vẫn tiếp tục làm con thoi Cần Thơ-Châu Đốc mỗi cuối tuần. Tôi vẫn xếp hàng mua bánh mì để nhận nụ cười và tiếng cám ơn luôn luôn làm hồn tôi xao xuyến. Rồi lại vẫn ngồi lặng lẽ uống bia hút thuốc cho tới giờ giới nghiêm. Ông chủ, bà chủ gặp tôi vẫn vui vẻ chào hỏi như một khách hàng quen mặt nào đó.
Một năm nữa lại trôi qua. Cô bé càng lớn càng đẹp và vẫn chưa chịu lấy chồng. Rồi lại bỗng một buổi tối, bà cụ tái xuất hiện đến ngồi bàn tôi. Cụ cười cười hỏi tôi có còn thương, có còn muốn cưới cô bé không. Tôi nghĩ chắc cụ tưởng tôi đã quên nên muốn hỏi để …chúc mừng. Tôi gượng cười, gãi đầu gãi tai: “Khổ cho cháu là càng thương hơn và càng muốn cưới”. Cụ lại cười cười, bảo: “Tội nghiệp”, rồi rời bàn…
Trong đại gia đình, cụ rất được con cháu kính trọng, thương yêu. Ai cũng sẵn sàng làm vui lòng cụ.  Khi mẹ cô bé lên mười tám, một người Tàu xin cưới, cả gia đình dòng họ phản đối nhưng cụ bằng lòng. Trong vòng ba năm qua, cụ lần lượt lựa chọn cháu rể theo ý mình cho hai cô cháu ngoại vừa thành thiếu nữ. Lần này, tình yêu bền bĩ của tôi dành cho cô bé khiến cụ… tội nghiệp. Khi mọi tin tức thăm dò về gia thế và gia cảnh của tôi đều thuận lợi, cụ biến tội nghiệp thành phép lạ cho tôi. Nhờ phép lạ, sáu tháng sau tôi được phép gọi mẹ cô bé bằng Mẹ!
Mẹ có mười người con. Tính đến ngày …bị giải phóng, trừ tôi đi tù “cải tạo”, trừ một đứa con và hai rể thoát ra nước ngoài,  mẹ ôm luôn một gia đình gồm chồng, con, dâu, cháu nội-ngoại, tổng cộng mười hai miệng ăn! Cũng nên kể thêm miệng uống vì uống cũng là một vấn đề …bức xúc trong xã hội mới. Xã hội mới không cho mẹ buôn bán để tiếp tục nuôi gia đình trong khi bao nhiêu tiền mồ hôi dành dụm gửi ở ngân hàng bỗng chốc vào hầu bao của các tay… vô sản. Cách mạng bảo, muốn sống, gia đình mẹ phải đi vùng kinh tế mới. Mẹ thấy chắc một điều là đi vùng kinh tế mới chẳng những không sống mà còn chết sớm. Mẹ nghe thắm thía cái câu “Cộng sản đến đâu dân rầu đến đó”. Chỉ có mỗi một con đường để sống thực sự: con đường…tỵ nạn cộng sản.
Mẹ biết con đường mẹ chọn rất hiểm nguy, xa xôi vạn dặm. Nhưng mẹ nhất quyết ra đi. Theo mẹ, đàng nào rồi cũng chết. Ở lại thì chết dần chết mòn vì bị lăng nhục, đói khát. Đi thì có chết cùng chết một lượt. Hoặc là thoát chết mà có tương lai. Mẹ nôn nao gom góp tài sản chuẩn bị chuyến đi. Ba thì buồn đời, chỉ vui với rượu, bỏ mặc cho mẹ lo toan. Chuyến đi lần đầu gặp trở ngại, mất hết vốn liếng. Năm sau, được tiền của các con từ hải ngoại gửi về, mẹ bán hết gia sản liều một chuyến cuối cùng. Lần này thoát đi suông sẻ.

Đó không phải là thành tích đầu tiên trong đời mẹ. Mẹ đã từng làm những việc phi thường từ nhiều năm trước. Sau ngày lấy chồng, mẹ bận rộn với những đứa con sanh năm một, năm hai. Lại thêm ngôn ngữ bất đồng, mẹ đã không giúp được gì cho công việc buôn bán nhiêu khê của chồng. Vì thiếu sự  kiểm soát chặt chẽ, hàng hóa thất thoát dần về tay người quản lý bất lương. Khi mẹ khám phá ra thì không còn đủ vốn để trở lại từ đầu. Thậm chí có ngày phải ăn cháo. Đây là lúc mẹ… ra tay. Ban ngày, mẹ gửi các con cho bà ngoại, ra sức thu gọn tiệm thuốc bắc, dùng một nửa căn nhà để mở quán ăn sáng. Chẳng bao lâu, khách đến ăn mỗi ngày một đông. Ngược lại, khách mua thuốc mỗi ngày một vắng. Mẹ quyết định dẹp luôn thuốc bắc, bất kể phản đối của chồng. Mẹ mở cửa tiệm bán ăn sáng từ bình minh sau đó bán giải khát đến mười giờ, giới nghiêm.
Mẹ chuẩn bị nhiều món ăn sáng. Món nào cũng đều được nồng nhiệt tán thưởng.  Càng đông khách, càng cực nhọc. Suốt nhiều năm, ba mẹ dậy sớm thức khuya. Bù lại, đời sống đầy đủ hơn.
Khi đời sống gia đình đã ổn định, mẹ tự nguyện giúp đỡ bà con giòng họ nghèo khó. Ai cần gì, mẹ sẵn lòng, vô điều kiện. Cháu xa, cháu gần cần chỗ trọ đi học, mẹ hân hoan tiếp nhận.
Vừa lúc mẹ thấy khỏe khoắn thì một khó khăn khác lại tới. Người chủ phố cho mẹ cái hạn sáu tháng để mua đứt căn nhà, nếu không sẽ bán cho người khác. Mẹ đã dành dụm được một số tiền nhưng không thấm vào đâu. Mẹ đau đớn phải bán căn nhà thừa tự. Mẹ xót xa phải… từ giả các món nữ trang. Mẹ mượn hết tiền để dành của mẹ cha mà vẫn không đủ.
Cân nhắc, tính toán, đắn đo, Mẹ thấy các con lớn có thể giúp tăng được nguồn thu nhập mà vẫn không trở ngại việc học: bán bánh mì vào ban đêm và làm thêm các loại bánh tây đem bỏ mối. Đó là khoản thời gian tôi gặp cô bé. Mẹ chỉ ngủ khi không còn thức được nữa và thức ngay khi chợt mở mắt.  Cuối cùng thì ba mẹ trở thành chủ nhân căn phố. Từ đó mối lo đeo đẳng có ngày mất chỗ sinh nhai cũng chấm dứt. Mãi đến lúc này mẹ mới chịu lơi tay, nghỉ ngơi đôi chút. Nhưng số của mẹ chưa đến hồi thới lai. Thư thả mới được vài năm thì …cách mạng tới. Mẹ rời bỏ quê cha đất tổ vào tháng sáu năm 1977…
Bảy năm sau, sau chín năm tù, tôi vượt biên theo con đường của mẹ. Con đường mẹ đi chỉ cần ba ngày hai đêm là tới. Tôi phải đi mất ba ngày ba đêm. Mười bốn năm kinh nghiệm mà thua người chưa hề đi biển. Dẫu sao tôi cũng còn chút an ủi. Cuộc đời từng là hạm trưởng chiến hạm rốt cuộc tìm lại được hạnh phúc gia đình nhờ một chuyến hải hành cuối cùng bằng ghe tắc rán.
Hơn nửa năm sau, cũng theo con đường của mẹ, từ Mã Lai tôi đến phi trường thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Rất đông người ra đón. Trong cái chóa mắt từ mọi thứ rực rỡ, tôi nhận ra mẹ đầu tiên. Rõ ràng mẹ đẹp hơn, cười tươi hơn. Tôi chào mẹ mà đảo mắt tìm nụ cười của cô bé. Với nụ cười rạng rỡ của ngày nào, cô bé mở vòng tay ôm tôi thật chặt. Nhưng lần nầy, tôi là người nói tiếng cám ơn. Tôi ôm xiết cô bé, miệng thì thầm: “Cám ơn đã đợi chờ mười năm!”
Suốt gần mười năm chúng tôi xa nhau, chính mẹ đã đóng vai trò chủ yếu cho ngày chúng tôi đoàn tụ. Mẹ đã là điểm tựa tinh thần không thể thiếu của cô bé, là tình thương vô bờ cho hai con tôi hướng về tương lai. Nếu không có mẹ…
Nếu không có mẹ? Tôi có thể hình dung ra cuộc sống của từng người trong đại gia đình của mẹ. Cuộc sống đó chắc chắn chẳng có gì khá hơn cuộc sống của tôi trong cõi tù đày. Cuộc sống đó đói khổ triền miên, lo sợ đêm ngày. Mẹ đã khéo léo tận dụng bộ óc khôn ngoan, nghị lực phi thường và ý chí sắc đá vượt mọi chông gai… Mãi về sau tôi mới có dịp khám phá do đâu mẹ có được những đức tính tưởng là Trời cho đó. Thì ra mẹ là hậu duệ của vị khai quốc công thần của vùng An Giang Châu Đốc. Ngài chính là tác giả những con kinh đào nổi tiếng vùng nầy và cũng là người đã từng được vua Gia Long chỉ định Bảo hộ Cao Miên. Mẹ mang giòng máu của Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại.
Cũng nhờ thừa hưởng những đức tính quý báu đó mà mẹ thành công nhanh chóng ngay cả ở xứ người. Chỉ trong vòng vài năm, mẹ và ba đã mua được căn nhà ba tầng, là cơ ngơi cho bốn đứa con còn học đại học. Đó cũng là chốn dung thân của vợ con tôi.
Chín năm nhà tranh vách đất, chỉ biết có núi và rừng, khi bước vào căn nhà, tôi có cảm tưởng như lạc chốn thần tiên. Nơi tiếp khách,  nơi giải trí, nơi ăn, nhà bếp, đâu đâu cũng trông hiện đại, sang trọng. Tôi chợt nhớ ngày đầu làm quen mẹ mà không ngăn được câu nói đùa:
– Thưa mẹ, mẹ cho con nạp cái đơn…
Mẹ cười cười:
– Cưới được vợ lâu rồi còn đơn từ gì nữa…
– Dạ, đơn xin được ở cùng nhà với ba mẹ.
Nghỉ ngơi vài tuần, tôi xông xáo vừa đi học vừa đi làm. Một năm sau, một đứa em vợ tốt nghiệp đại học, được việc lương cao. Mẹ muốn bán căn nhà hiện tại để mua căn nhà mơ ước, rộng lớn hơn, đẹp đẽ hơn, sang trọng hơn. Cũng vừa lúc tôi bắt đầu ý thức về việc cần tạo dựng một tổ ấm riêng để được giảm thuế tiền lương. Chúng tôi tâm sự với mẹ. Mẹ giận vì bỗng dưng phải xa con cháu. Nhưng dần dà, khi thấy hai căn nhà cất gần nhau và gần sở làm, mẹ cũng chóng nguôi ngoai.
Sở làm là một hảng điện tử nổi tiếng. Làm được mười năm, mẹ nói đùa rằng mẹ đã tìm lại được cơ sở kinh doanh của mẹ ngày xưa mà không phải vất vả như xưa.  Quả là cái hảng đã cưu mang gần như toàn bộ gia đình của mẹ. Ba làm ở một ngành,  các con làm ở các ngành khác. Riêng mẹ và cô bé, giống như thuở bán bánh mì, vẫn ngồi làm việc bên nhau. Và mẹ đã tận tụy “trông nom” cái cơ sở của mình suốt mười lăm năm từ ngày qua Mỹ cho tới khi về hưu ở tuổi sáu mươi sáu. Ba thì về hưu trước đó hai năm.
Thảnh thơi, ba và mẹ bắt đầu ngao du đây đó. Hai lần về Việt Nam cúng viếng mồ mả cha mẹ, tổ tiên; thăm hỏi thân nhân láng giềng; giúp đỡ bà con giòng họ. Một lần, mẹ theo ba về Trung quốc để biết… giang san nhà chồng. Sở thích của mẹ là du hành, là đi thăm dân cho biết sự tình. Chương trình đã vạch sẵn. Tháng tới sẽ viếng Pháp, Anh. Sau Pháp là Úc châu…
Trước khi “đôi bạn đời” có dịp lang thang dạo phố các nước châu Âu, các con cháu đã dành cho ba mẹ một bữa tiệc ngân hôn, kỷ niệm 50 năm nên nghĩa vợ chồng. Một ngày đoàn tụ đông vui..
Nhưng rất bất ngờ, chuyến đi phải đình hoãn. Không một dấu hiệu báo trước, mẹ đột nhiên bị tai biến mạch não. Rất may, mẹ yếu mệt một thời gian rồi bình phục dần. Rồi lại không may, vừa khi hồi phục thì mẹ bị lần thứ nhì. Lần này nặng hơn, không còn cho mẹ đủ sức đi đứng bình thường, phải cần gậy chống đỡ. Mẹ cố gắng tập thể dục, tập đi. Không đi xứ xa được, mẹ rong chơi xứ nhà. Mỗi năm mẹ đi một vùng biển. Năm tháng theo qua, mẹ ngày càng yếu hơn. Đi đâu mẹ cũng phải ngồi xe lăn.
Ngày cưới đứa con gái út của chúng tôi, mẹ muốn dự dạ tiệc. Chúng tôi e ngại tiếng ồn ào, nhất là tiếng ồn ào quá sức của ban nhạc có thể làm mẹ thêm yếu mệt nhưng mẹ cương quyết muốn đi. Mẹ bảo nó là đứa cháu ngoại nhỏ nhất vượt biên cùng mẹ và luôn luôn sống bên mẹ. Hôm đó mẹ rất khỏe và đã ở lại đến tiệc tàn.
Mẹ vẫn cố gắng tập thể dục, tập đi. Chúng tôi mừng mẹ vượt lên tuổi bảy mươi và cùng nhau tổ chức lễ Trung thọ. Các bạn bè cố cựu và các đại diện sui gia đã đến chúc mừng ba mẹ và chung vui cùng các con, các cháu và chắt của ba mẹ.
Bệnh tiểu đường kinh niên không cho phép mẹ ăn uống đầy đủ và bắt đầu gây biến chứng. Mẹ yếu dần… Mãi đến lúc này mẹ mới chịu chọn nơi mẹ an giấc ngàn thu. Mẹ được đưa đi xem nhiều nghĩa trang. Phải mất nhiều tháng mẹ mới hài lòng một địa điểm cho hai ngôi mộ. Địa điểm nằm trên lưng đồi với những cây thông cao vút nhìn xuống những ngọn đồi thấp hơn có đường xe ngoằn ngoèo. Mãi tới lúc này ba mới có ý thức về một ngày ba không có mẹ trong đời. Ba thường ngồi trầm ngâm, dường như để ôn lại những gì mẹ đã dành cho ba và những gì ba đã đối xử với mẹ trong suốt quảng đời chung sống rất dài. Bỗng một hôm, sau bữa cơm tối có đông con cháu tham dự, Ba bỗng mở lời một cách bất thường:
– Tụi bây không biết chớ mẹ tui bây hay lắm đó.
Mẹ ngạc nhiên đăm đăm nhìn ba. Chúng tôi im lặng hồi họp chờ đợi. Ba vốn ít nói, có nói thì thường là những lời than phiền, trách cứ. Ba cười mà giọng nghiêm trang:
– Không nhờ mẹ tụi bây, giờ này tất cả chỉ là thợ cày bừa. Không nhờ mẹ tụi bây, làm gì tụi bây có được ngày hôm nay, được ăn sung mặc sướng trên một đất nước văn minh giàu có. Tụi bây phải biết ơn mẹ tụi bây.
Mẹ bật cười rồi bật khóc. Gần sáu mươi năm sống bên ba, mẹ chưa từng nhận được một lời khen. Ngày hôm nay, đối với mẹ, chỉ một lần thôi đã đủ đền bù…
Mẹ bắt đầu phải nằm tại chỗ. Ai cũng biết là mẹ phải chịu đau đớn từ nơi nào đó nhưng không bao giờ nghe mẹ rên than. Ai đến thăm, mẹ vui vẻ nói năng. Khi không còn thốt được nên lời thì mẹ nói bằng ánh mắt, nụ cười.  Bịnh nặng thêm làm mẹ không còn ăn uống được nữa và sống bằng chất dinh dưỡng chạy qua đường ống dẫn thẳng vào dạ dày. Như là có phép lạ, mẹ vẫn nấn ná như muốn được hôn thêm nhiều đứa chắt. Và đứa chắt mới chào đời nhận nụ hôn cuối cùng của bà cố lại là đứa con thứ nhì của đứa cháu ngoại mẹ nhất định dự tiệc cưới.  Đó cũng là tiệc cưới cuối cùng mẹ dự…

Mẹ mất cuối năm Nhâm Ngọ, hưởng thọ 78 tuổi.

Cho tới ngày mẹ mất, mẹ để lại đủ mười đứa con và tổng cộng năm mươi ba dâu, rể, cháu nội ngoại, cháu dâu rể và chắt. Và để lại thương yêu đồng đều cho mọi người.

Cho tới ngày mẹ mất, mẹ để lại người chồng sáu mươi năm chia ngọt xẻ bùi. Và để lại cho ông tất cả ân tình và lòng bao dung…
Mẹ hãy yên nghỉ, hãy an giấc.
Rồi đây ba sẽ mãi mãi bên mẹ.
Và chúng con rồi cũng về bên mẹ đời đời…

đọc “MÙA MÀNG NGÀY CŨ” của Lương Thư Trung

đọc “MÙA MÀNG NGÀY CŨ” của Lương Thư Trung

Vũ Thất

Cuối tháng 11 năm 2003, Talawas cho đăng một bài của một tác giả có bút danh rất quê mùa là Hai Trầu với cái tựa cũng đầy sắc màu ruộng rẫy: Lá Thư Từ Kinh Xáng. Vốn cũng xuất thân từ ruộng vườn, như trúng tần số, tôi tò mò đọc ngay. Câu mở đầu đã khiến… giật mình. Cái ông nhà quê Hai Trầu nào đây mà lại “dám” gửi thư cho nhà lý luận văn học hàng đầu hải ngoại:

“Thưa thầy Nguyễn Hưng Quốc. Mấy hôm nay sắp nhỏ vừa xuống giống vụ Ðông Xuân xong, có chút thì giờ rảnh, tui bèn viết lá thư này, trước thăm thầy mạnh giỏi, sau xin có lời cảm ơn thầy đã bỏ thì giờ viết về một số con vật có trong con người để ‘đại chúng’ cùng đọc. Thật là thú vị.
Dưới ánh đèn dầu lờ mờ, tui giở lại bài viết …và những thứ con khác của thầy, mà thằng em tui bên Mỹ nó ‘i-meo’ dìa cách nay vài bữa, tui đọc đi đọc lại năm lần bảy lượt, rồi nhập tâm, không ngủ được. Dù biết mình không rành chữ nghĩa, và cái gốc làm ruộng làm rẫy nó làm mình mê man hết biết đường mò bể thánh rừng nhu bao la trời đất, nhưng có cái vụ này, theo thiển ý của tui thì xin góp chút chút với thầy, ước mong là tô bồi thêm mấy chữ thường xài ở trong bá tánh dân gian, mà nhất là nơi kinh cùn nước cạn như kinh xáng Bốn Tổng miệt Ba Thê, núi Sập này hay xài, cùng kính mong thầy bỏ qua cho sự đường đột”.
Đọc hết lá thư thì mới hay ra rằng ông Hai Trầu đã rất ngại ngùng khi bày tỏ mục đích viết lá thư là chỉ muốn “sửa lại cho đúng” ý nghĩa của vài tiếng lóng mà thầy Quốc đã giải thích không hợp lý. Thế là từ lần đó, tôi đăm ra …ưa Hai Trầu và bắt đầu tìm đọc các Lá Thư Từ Kinh Xáng. Té ra ông đã bắt đầu những lá thư bình dân này từ nhiều năm về trước. Lá thư thứ nhất được khởi viết từ tháng 3 năm 1998. Ở mỗi lá thư, ông… ba điều bốn chuyện về chuyện đồng quê trước khi vào chủ đề… nghiêm túc.Những lá thư từ Kinh Xáng giúp tôi hiểu … sơ sơ ông là người thế nào. Là người hết lòng gắn bó với đồng quê, mê mẩn với ruộng vườn mà vì thời thế phải bỏ ruộng đồng ra đi. Từ chốn thị thành ngàn trùng xa cách, ông thường tìm về vùng quê thương yêu của mình qua việc ghi lại chuyện … ba đồng bảy đổi ngày xưa hoặc qua sách báo miệt vườn. Thế nhưng qua sách báo, ông thường bắt gặp những bài viết về sinh hoạt quê nhà sao quá lơ mơ, thậm chí cả sai lầm. Chẳng đặng đừng, ông đành mượn hình thức lá thư, một là để khởi ức lòng, hai là với ước mong các sự việc cần được đặt để vào “nguyên vị” của nó và các ngôn từ dân dã cần được sử dụng theo đúng “chính danh”. Như lá thư ông bàn với thầy Quốc về các chữ “cọp”, chữ “cò”. Như lá thư ông đặt câu hỏi liệu dân làm ruộng ăn cơm trong đồng trong bái một năm mấy lần mà một tác giả lại bảo trong ăn uống họ mang tính hoang dã. Như ở một lá thư khác ông nêu than phiền nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã bôi bác đàn bà ruộng rẩy chơn chất miền Tây khi cho nhân vật trong Cánh Đồng Bất Tận lấy ông Chà bán vải chỉ vì mê lãnh Mỹ A …Đọc các lá thư, tôi ngạc nhiên về kiến thức nhiều mặt của ông nhà quê Hai Trầu. Tới chừng có dịp diện kiến ông lần đầu ở Boston vào năm 2005 tại tư gia nhà thơ Phan Xuân Sinh, tôi càng ngạc nhiên hơn khi được biết trước cả khi ông gom góp 52 lá thư để in thành tuyển tập Lá Thư Từ Kinh Xáng, ông đã phát hành 2 tập truyện: Bến Bờ Còn Lại (2000) và Tình Thầy Trò (2005), với bút danh mang tên thật Lương Thư Trung.
Qua lời ông giới thiệu, tôi khởi đọc lá thư thứ 53 và những thư kế tiếp xuất hiện đều đều trên thatsonchaudoc.com. Lá thư mới nhất đề ngày 4/11/2010 nhằm góp lời trong dịp thiên hạ bàn nhau “Giã Từ Talawas”. Tôi hy vọng lá thư “Giã Từ Talawas” sẽ không đồng thời là lá thư giã từ… Kinh Xáng!

Hôm nay, sáu năm sau ngày tập sách Lá Thư Từ Kinh Xáng trình làng, quyển thứ tư Mùa Màng Ngày Cũ vừa được phát hành. Quyển Tạp Ghi này được tác giả đề tên thật Lương Thư Trung. Sách do Thư Ấn Quán in ấn, dầy 287 trang. Nhìn cái ảnh bìa đầy hoa sen và hoa súng đang nở, tôi bồi hồi nhớ đến những đầm sen đầm súng bên con đường từ Cần Thơ đi Long Xuyên. Mở xem qua nội dung, điều đáng khen là cả tác giả lẫn nhà xuất bản đã không ngại tốn kém để thực hiện kỹ thuật ảnh màu in chen vào nội dung để làm nổi bật các chủ đề. Cái lạ là mỗi chủ đề lại có lắm… mùa màng!

Trong một năm, thiên nhiên chỉ có 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông nhưng với thôn quê thì trong mỗi mùa thiên nhiên đó lại kèm theo… tùm lum mùa màng. Nếu phải kể lẻ tẻ thì hẳn có đến hàng trăm nhưng tác giả đã cố gắng gom các “mùa” có cùng thuộc tính hoặc có cùng thời vụ viết chung thành một mùa “tập thể”. Mùa cày bừa, sạ cấy, gặt lúa. Mùa… trăm cá về đồng. Mùa giăng lưới, đặt lờ. Mùa bắt lịch, bắt lươn. Mùa đặt rù, chận ụ. Mùa chuột, cóc, ếch, nhái. Mùa xoài, mận, dưa leo, dưa hấu, dưa gang. Mùa bắp, đậu, củ co, bông sen, bông súng… Bằng cách đó, quyển Mùa Màng Ngày Cũ được hình thành bởi 19 mùa “tập thể” và hai mùa “đặc biệt”: Một mùa mang cái tựa chung chung là Mùa Màng Tháng Chạp và mùa kia mang cái tựa lửng lơ là Có Những Mùa Chim.

Súng
Nguồn ảnh: OntheNet

Mùa nào nhà văn Lương Thư Trung cũng kể ngọn ngành, rành rọt. Mùa cày bừa phát cỏ thì khởi công lúc nào, cách thức ra sao. Mùa chuột thì làm sao vồ chuột, làm sao tránh đào nhầm hang rắn. Mùa cá thì hàng trăm thứ cá, hàng chục cách bắt và lắm cách làm khô. Mùa cây trái đọc mà phát thèm, mà muốn gieo trồng… Chả ngạc nhiên khi loạt bài này xuất hiện, mới đến bài thứ bảy mà nhà văn Khiêm Cung đã đưa ra những lời khen nồng nhiệt và độc giả Thái Lý, sau khi đọc xong toàn bộ mùa màng đã viết nguyên một bài dài ca ngợi làm tác giả không thể không bày tỏ Lời Cảm Ơn ở cuối sách: “…dù chưa quen, và dù cách nhau khá xa về tuổi đời, dù đang ở một nơi khá xa, xa tận vùng biên giới Miên-Việt, thế mà bạn đã tìm đọc và chia sẻ những nhận xét như đi vào bụng tác giả, thật vô cùng hạnh phúc đối với một người nhà quê già như tôi.”

Sách mở đầu bằng Lời Tựa của nhà văn Tô Thẩm Huy. Ông gốc Bắc mà lại tỏ ra khoái giọng miệt quê của Hai Trầu. Có lẽ không có lời giới thiệu nào chí tình như lời ông viết: “Chao ôi! Gấp sách lại mà lòng dạ thêm bồi hồi, vương vấn. Ai gọi ai trong giấc mộng trước hiên nhà, sao đã nghe oanh ríu rít hỏi xuân về? Gẫm người xưa ghép miệng với lúa mà gọi chữ hòa không phải là không duyên cớ. Lời của kẻ nhà quê mà nghe sao như châu ngọc! Hòa với mưa mà thuận với nắng trời! Tấc lòng cố quốc tha hương, ngậm ngùi cùng mùa xưa ngày cũ….” Lời Tựa có thừa quyến rũ khiến người đọc hứng thú lần dở trang kế tiếp để rồi bị cuốn hút vào lắm thứ mùa màng.

Còn Lời Bạt là của nhà thơ Phan Xuân Sinh, người miền Trung. Ông thổ lộ,

“…đọc Mùa Màng Ngày Cũ tôi rất ngạc nhiên và thích thú. Cái đất miền Nam xa xôi ấy lại chất chứa nhiều điều bí ẩn mà vùng quê miền Trung hay miền Bắc không thấy không nghe. Họ giàu về đất đai đã đành mà họ còn giàu có về mùa màng, mùa nào cũng sung túc…và khi đọc xong Mùa Màng Ngày Cũ tôi mới nghiệm ra được, mới hiểu được tại sao người dân miền Nam họ rộng lượng, hiếu khách, thảo ăn thảo uống, lòng họ chân chất huỵch tẹt cũng chính vì vùng đất đã ưu đãi họ, đã nâng niu họ…Vùng đất ấy đã cưu mang biết bao nhiêu nhọc nhằn của dân tộc, chống đỡ và cứu giúp biết bao nhiêu tai họa của các miền khác.”
Ngoài nhận xét về các sự kiện được nêu lên trong Mùa Màng Ngày Cũ, nhà thơ Phan Xuân Sinh cũng khẳng định về giá trị văn chương của tác phẩm dù ở trang Mời Bạn Vào Mùa nhà văn Lương Thư Trung tự cho rằng tập sách của mình là không có tính văn chương biên khảo, “Mặc dù anh chối từ điều nầy. Ta thử lật xem từ bài viết đầu đến bài viết cuối…với cả tấm lòng anh trang trải, chắt chiu. Người nông dân chân chất ít học, thì làm sao viết được, mà có viết được đi nữa thì làm sao nó sống động, hiện thực như anh viết…”
Tôi không những tán đồng với nhà thơ về mặt giá trị văn chương của tác phẩm mà còn cho rằng Mùa Màng Ngày Cũcòn mang cả giá trị biên khảo.
Cách đây không lâu, tôi có dịp đọc trên các trang mạng hai câu chuyện đồng quê ở miệt Cửu Long Giang; một là “Chuyện Đồng Quê” của Trần Văn nói về mùa màng ở vùng Bà Bài Thất sơn Châu Đốc, hai là “Chuyện Bắt Cá Tôm Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” của Hai Rạch Dừa ở vùng Mỹ Long, Cao Lãnh. Hai câu chuyện được kể bằng giọng văn chân chất, rất hấp dẫn của thể loại hồi ký. Còn Mùa Màng Ngày Cũ của Lương Thư Trung lúc thì như lời tâm tình, khi thì như bản tường trình. Lời tâm tình thì rành rẽ, bản tường trình thì rành nghề. Ấy vậy mà tác giả lại từ chối tính văn chương biên khảo của tập sách thì ông quả là khiêm tốn.Nếu phải đưa ra đầy đủ các đoạn minh chứng trong cả quyển sách thì bài viết sẽ quá dài, vì vậy, tôi chỉ xin chọn bài cuối cùng Có Những Mùa Chim, tuy cái tựa vừa lửng lơ vừa nên thơ nhưng nội dung lại mang đầy tính biên khảo. Ngay từ các dòng mở đầu, tác giả đã xác nhận tính chất này

“Không hiếm các nhà khảo cứu về chim muông đang đi tìm căn nguyên của sự sinh tồn các loài chim cùng thói quen, tập quán và đời sống của chúng. Người ta len lỏi vào tận các cánh rừng Phi Châu, Á Châu, Mỹ Châu để tìm kiếm và thu hình các loài chim. Từ cách kiếm ăn cho chí cách làm ổ, ấp trứng và nở con, từ cách sống thành đàn cho chí những cuộc đời riêng lẻ, nhà khảo cứu về chim muông không bỏ lỡ một chi tiết nhỏ nhặt nào. Tất cả đều được ghi nhận qua từng chi tiết rất mực chính xác và linh hoạt.”
Từ một lời mở đầu như thế, ông bắt đầu đi vào chi tiết từng loài chim. Ông cho thấy ngoài đặc tính chung là… khôn ngoan, cần mẫn và biết khéo léo sử dụng cái mỏ không thua gì bàn tay các điêu khắc gia tài hoa tuyệt vời, mỗi loài chim có hình dạng, kích cỡ, sắc lông, tiếng hót, tiếng kêu, tính tình khác nhau. Ông còn vạch rõ, tuy chim có cùng giống nhưng lại không hẳn là có cùng màu lông, thậm chí có thể hoàn toàn khác biệt.Sau phần bàn về các đặc điểm, ông luận về cách đặt tên chim. Ông cho biết người dân quê Việt Nam thường đặt tên chim theo tiếng kêu như ta gọi chim cu, chim cú, chim ụt, khúm núm, se sẻ … hoặc theo hình dáng như gà đãi, gà nước, áo dà, bánh ít, thằng chài… Nhưng với các nhà nghiên cứu thì họ đặt tên theo sách vở khoa học. Những cái tên xa lạ khó đọc, khó nhớ vô cùng! Tôi đã thử cố gắng nhớ vài tên mà rốt cuộc cũng không viết ra được tên nào! Cũng vì vậy mà tôi thích nhất đoạn ông kể về những loài chim ở vùng quê quán của ông. Những cái tên nghe thật quen thân y hệt ở vùng quê của tôi. Trong vô số tên chim quen thuộc, ông có nhắc tới 3 tên chim có từ kép giống nhau. Tôi tẩn mẩn cố moi óc xem có bao nhiêu loài chim có tên như vậy. Và cả loài thú nữa. Tôi tìm thêm được 6 tên: Kên-kên, đa-đa, cào-cào, chuồn-chuồn, ba-ba, thia-thia. Còn ba tên chim ghi trong Mùa Màng Ngày Cũ xin để độc giả tự suy tìm.Phần nghiên cứu công phu nhất phải nói là về các loại cò, vạc, diệc, sếu, nông. Tôi đã quen nghe tên các loài chim này nhưng quả là không ngờ sao mà có lắm thứ cò, có nhiều thứ vạc đến như vậy. Rồi còn lắm loại diệc, sếu, nông. Không chỉ kể chi tiết về mỗi loại mà ông còn kèm theo nhiều hình ảnh để minh họa sự khác biệt. Riêng phần cò, vạc, sếu… này đã có đến 18 bức ảnh, nói lên sự sưu tập nghiêm túc của ông. Nhờ bài viết của Hai Trầu mà tôi hiểu biết thêm rành rẽ các thứ chim mà nhiều con tai nghe quen mà mắt chưa từng thấy. Lại còn nhờ các lời diễn đạt về triết lý sống của các loài chim mà tôi có dịp suy gẫm về triết lý sống của …riêng mình.

Đọc cái cách ông thiết tha nhắc đến các loài chim vùng quê của ông thuở thiếu thời khiến tôi nhớ đến bài viết của Lê Hoàng Vũ hiện được phổ biến trên không gian ảo. Kể chuyện 50 năm về trước, Lương Thư Trung còn nhớ, cứ đến mùa chim là “rền vang tiếng hót trên những cánh đồng đầy lúa vàng, hay bên vạt rừng tràm vắng vẻ, bên rặng tre làng xanh xanh trầm mặc…Tiếng hót ấy như những khúc nhạc đồng quê lan xa, lan xa vô tận.” Nhưng ngày nay, cứ đọc cái tựa bài của của Lê Hoàng Vũ là thấy ghê hồn, “Đồng bằng sông Cửu Long: Chim, Cò… kêu cứu”. Quả như vậy, tác giả thống thiết báo động về mối đe dọa tuyệt chủng của các loài chim… Theo Lê Hoàng Vũ, vùng đồng bằng vẫn còn rất nhiều khu vườn chim cò nổi tiếng. Riêng khu du lịch sinh thái Bằng Lăng có đàn chim trời đông khoảng 600 ngàn con đến cư trú, thu hút hàng trăm du khách mỗi ngày. Nhưng mỗi ngày vườn cò cũng thu hút vô số “sát thủ” để cung cấp vô số chim cò cho nhu cầu… nhà hàng! Ngoài các “sát thủ”, còn đủ loại “tay nghề”, đủ loại bẩy sập để bắt chim hiếm quý cung ứng cho thú chơi “thời thượng” của giai cấp… đại gia! Tác giả Lê Hoàng Vũ kết luận: “Hành động bắt chim cả đàn, cả tổ như hiện nay không bao lâu nữa sẽ dẫn tới sự mất cân bằng sinh thái, hậu quả không thể lường hết được.” Nghe mà não lòng cho chim cò, cho đất nước!

Bài Có Những Mùa Chim là bài cuối nhưng sách còn thêm 31 trang nữa. Đầu tiên tác giả đưa ra Lời Kết cho công trình hình thành 21 bài về ruộng đồng, chim cá của mình. Ông cho biết những gì ông ghi chép chỉ là các mùa chính miệt quê Long Xuyên Châu Đốc. Còn nhiều mùa phụ khác như mùa ổi, mùa mận, mùa lê, mùa mít, mùa nhãn, mãng cầu, khoai mì, điên điển, mùa thốt lốt, mùa măng le. Lại còn thêm biết bao vùng thuộc miệt Cửu Long giang với các đặc sản riêng như mùa mía, khoai môn, khoai lang, cam quít, khóm thơm, mùa trầu vàng … Tôi coi như đây là một lời hứa hẹn viết tiếp của ông.

Hai Trầu Lương Thư Trung
Nguồn: thatsonchaudoc.com


Sau Lời Kết, nhà văn Lương Thư Trung không quên ngỏ lời cám ơn những người đã ít nhiều giúp ông hoàn thành tuyển tập. Và lời cám ơn đẹp nhất đương nhiên tác giả dành cho người giúp ông với tất cả tấm lòng. “Người ấy” đã giúp ông bằng cách làm ruộng để vừa nuôi hai đứa con thơ dại vừa để tiếp tế lương thực cho ông sống sót suốt 7 năm tù mà trong một lần thăm nuôi bị chìm đò khiến suýt chết đuối cả ba mẹ con. Người ấy giúp ông bằng cách cùng ông làm ruộng, trồng cà, trồng mía, trồng bắp, khoai lang… để tạo dựng lại mái ấm gia đình sau khi ông rời cái gọi là trại cải tạo mà chính kinh nghiệm ruộng rẫy của người phụ nữ đảm đương này đã dự phần hoàn chỉnh Mùa Màng Ngày Cũ. Và quyển sách ra đời cũng để kỷ niệm 41 năm chồng vợ, “như ghi dấu một khoảng đời với biết bao vui buồn cùng xớt chia…”

Trong niềm xúc cảm chia vui cùng ông bà Lương Thư Trung, tôi chợt nhớ đến hai câu ca dao được nhà văn Khiêm Cung nhắc đến trong bài tùy bút Miếng Trầu:

“Trồng trầu thì phải khai mương,
Làm trai hai vợ phải thương cho đồng.”

Thật oái oăm, hai câu ca dao có cả hai từ tạo thành bút danh Hai Trầu mà nội dung trật lất với gia cảnh của chính Hai Trầu. Cho tới khi tôi viết những dòng chữ này, Hai Trầu vẫn chỉ có mỗi một… bà. Không chừng chính từ sự thủy chung như nhất này của ông mà ngày nay không còn ai trồng trầu để khỏi phải khỏi khai mương…

Qua ân tình mặn nồng gắn bó keo sơn của hai ông bà suốt quãng thời gian dài gần nửa thế kỷ, tôi tin chắc nhà văn Lương Thư Trung sẽ tiếp tục cho ra đời những đứa con… tinh thần trong những năm tháng tới.
nguồn: DCVonline

Chào mẹ

Chào mẹ

Vũ Thất

Image
Chào Mẹ
Hoài Hương và Trọng Nghĩa diễn đọc

Tôi không khó khăn nhận ra mẹ khi bà vừa bước ra khỏi trạm kiểm soát an ninh phi trường. Một tay kéo chiếc va ly nhỏ, một vai mang chiếc xách tay, mẹ thong dong như trôi theo dòng người. Dáng mẹ trông mảnh mai, thanh nhã, linh hoạt dù rằng đã ở cái tuổi tám mươi. Tóc đã bạc phơ. Chiếc áo sơ mi màu trắng như giúp khuôn mặt mẹ tươi tắn hơn ngày tôi gặp mười lăm năm trước. Mẹ đưa mắt tìm kiếm. Tôi giơ tay vẫy. Bà mừng rỡ vẫy lại. Tôi cười khi mẹ đến gần:

“Chào mẹ!”

Mẹ buông rơi chiếc va ly, mở vòng tay ôm ghì lấy tôi. Tôi cũng ôm xiết mẹ mà sao không cảm nhận chút nồng ấm nào. Từ khi chưa đầy một tuổi, ba mẹ tôi đã đành đoạn bỏ rơi tôi. Thôi nôi, ngoại cúng kiến van vái. Lên ba, ông ngoại mất. Lên năm, bà ngoại lìa đời. Cậu mợ tôi thừa hưởng gia sản nên… thừa hưởng luôn việc săn sóc dưỡng dục tôi. Vì vậy mà khi khôn lớn, tôi hầu như quên hẳn mình còn đủ cha đủ mẹ.

Tôi lái xe vào trung tâm thủ đô, chạy vòng vòng cho mẹ xem phố xá rồi quẹo sang đường Constitution. Tôi chỉ mẹ xem đài tưởng niệm Washington, tòa Bạch ốc và hứa một ngày khác sẽ đưa mẹ vào xem tận bên trong. Mẹ nói mẹ muốn ưu tiên gặp em của mẹ, còn việc tham quan chừng nào cũng được. Tôi cho mẹ biết cậu mợ đang chu du Âu châu, hai tuần nữa mới về. Sợ mẹ hiểu lầm, tôi giãi bày:

“Cậu mợ ghi tên đi chơi trước ngày mẹ báo tin qua đây nên không hủy bỏ được. Con đã xin nghỉ một tháng. Trong tháng đó mình sẽ đi một vòng sơ khởi nước Mỹ. Mẹ sẽ gặp em trai mẹ vào tuần lễ thứ ba…”

Tôi ngưng nói khi thấy mẹ xoay mặt về khung cửa kính. Nhân lúc xe qua cầu, tôi cất cao giọng:

“Đây là sông Potomac. Đi xuôi dòng sẽ trông thấy một phần hình ảnh rất đẹp của thủ đô. Nhà của con phía thượng dòng cách đây độ nửa giờ.”

Mẹ vẫn nhìn quang cảnh thành phố, chỉ có tiếng “thế à” hờ hững vang lên. Tôi nhìn đồng hồ và mừng là đã tới giờ cơm chiều. Tôi nói nhỏ nhẹ:

“Suốt ngày đêm trên máy bay, chắc mẹ thèm cơm. Khu thương mại Eden của người Việt vùng này có một nhà hàng nấu món canh chua cá bông lau, cá kho tộ ngon lắm!”

Bà nói giọng mệt mỏi:

“Nói chung thì mẹ thèm một tô phở.”

Một cái gì nghẹn ngào đột ngột trào dâng trong tôi. Hai mươi năm tập kết ra Bắc mẹ đã bị đồng hóa. Không chỉ thay đổi cả giọng nói, ngôn từ mà lơ là luôn cả món ăn ưa thích của miền Nam. Tôi ngờ rằng bà không phải là người sinh ra tôi…

Tôi đưa mẹ vào tiệm Phở Xe Lửa và gọi tô đặc biệt. Mẹ khen ngon hơn phở ở Sài Gòn. “Nhưng vẫn thua phở Hà Nội”, tôi nhanh nhẩu tiếp lời. Mắt mẹ thoáng chút ngạc nhiên rồi lặng lẽ quan sát xung quanh… Tôi cũng quan sát bà. Tôi giống mẹ lạ lùng. Chắc chắn nhìn chúng tôi, không ai nghĩ khác hơn là mẹ và con. Mà giống mẹ để làm gì khi tâm hồn chúng tôi không có chút gì hòa điệu…

Tôi nhấn một chiếc nút trên trần khi xe sắp quẹo vào driveway và lái thẳng vào garage. Trong khi tôi mở cóp nhấc xuống các hành lý, mẹ đi ra phía trước đường. Tôi bước đến bên mẹ khi bà ngắm nghía ngôi nhà, trầm trồ:

“Nhà của con đây hả? To và đẹp quá, ngoài tưởng tượng của mẹ. Quang cảnh cũng thật sáng sủa tươi mát.”

Tôi cười buồn:

“Chúng con mới mua năm ngoái và chắc cũng sắp bán…”

Giọng mẹ thảng thốt:

“Tại sao thế?”

Tôi nắm cánh tay mẹ dìu đi:

“Mẹ vào nhà nghỉ ngơi. Từ từ rồi mẹ sẽ biết…”

Tôi bấm số liên hợp và mở toang cánh cửa. Mẹ bước vào, đứng sững người trên tấm thảm nhỏ mang chữ welcome. Dường như mẹ không tin những gì mẹ đang thấy. Mẹ ngập ngừng bước đi, mắt dừng lại từng vật trang trí ở phòng khách, phòng gia đình, miệng lẩm bẩm lời tán thưởng. Khi mẹ hướng về khu bếp, tôi biết mẹ sẽ ở đây lâu hơn nên lặng lẽ trở ra ngoài mang hành lý vào nhà. Khóa cửa xong, tôi đảo mắt tìm mẹ. Bà đang ở trong phòng đọc sách, đứng lặng yên trước bàn thờ. Mẹ không nhìn các tượng Phật rất đẹp tôi thỉnh tận Thái Lan. Mắt mẹ đang đăm đăm nhìn di ảnh của Huy. Anh mặc áo tiểu lễ hải quân với dây biểu chương, trên một nắp túi là chiếc huy hiệu hạm trưởng và bảng tên Lê Quang Huy. Bên kia là hai hàng huy chương nhiều sắc màu khác biệt. Và Huy đang tươi cười…

Mẹ nói bằng giọng ngạc nhiên mà bình thản:

“Sao con không nói gì với mẹ?”

Tôi lắc đầu:

“Để làm gì? Mẹ có biết gì về ảnh đâu và chắc cũng không ưa ảnh!”

Mười lăm năm trước, khi về chịu tang ba tôi, tôi đã từ chối trả lời mọi câu hỏi của mẹ. Tôi muốn cho thấy khi bà đã có can đảm bỏ rơi tôi thì tôi cũng có can đảm coi như đời tôi không dính dáng gì tới bà. Mãi gần đây, khi mẹ ngỏ ý muốn qua thăm chúng tôi, Huy khuyên tôi nhận lời, dù gì bà cũng là người sinh thành ra mình. Tôi nghe lời khuyên nhưng chỉ một mình tiếp đón mẹ. Huy chết bất thần vì cơn đột quỵ.
Mẹ nhìn khắp bàn thờ rồi quay phắt sang tôi:

“Sao không thấy con thờ ba con?”

“Thờ ba? Tại sao con phải thờ ba?”

Mặc dù đã tự nhủ, tôi vẫn không dằn được cơn bực tức bùng vỡ. Mẹ quay đi, lặng lẽ thắp nén nhang cắm vào lư hương, nhìn Phật Bà, nhìn Huy rồi thở dài lặng lẽ bước lên thang lầu. Tôi đã từng nghe nhiều tiếng thở dài tương tự của mẹ trong suốt thời gian mười ngày về dự đám táng ba tôi. Tôi đã cho bà thấy tôi không chỉ dửng dưng với người chết mà còn lạnh lùng với cả người còn sống. Liệu có ai cư xử khác tôi khi suốt quãng đời dài gần bốn mươi năm mà chỉ vài lần được nghe nhắc đến mẹ cha mình bằng lối bông đùa.

Năm tôi lên mười bốn, sau trận Mậu Thân khói lửa khắp Chợ Lớn Sài Gòn, một bữa, lần đầu tôi nghe cậu nhắc tới ba mẹ. Trong bộ đồ trận rằn ri mang lon trung tá, cậu ra vẻ trịnh trọng: “Nè, Phượng! Con có biết là suýt nữa con đã có dịp trùng phùng ba mẹ con không?” Trong khi tôi tò mò lắng nghe, cậu tỉnh bơ tiếp: “ Nhưng vì cậu thấy họ không xứng đáng làm bậc cha mẹ, cậu đã đuổi họ về mật khu rồi!” Tôi thường cười với mỗi cợt đùa của cậu nhưng lần đó tôi mím môi muốn khóc.

Năm hai mươi mốt tuổi, khi tôi đưa Huy về nhà giới thiệu nhân buổi tiệc mừng cậu thăng cấp tướng, cậu nói nhỏ vào tai tôi: “ Chà chà! Như vầy là kẹt cậu rồi! Con mà chọn tên hải quân đó làm chồng thì cậu khốn khổ với chị cậu. Tuy nhiên, nếu con… năn nỉ cậu, cậu cũng liều cho con làm… bà thiếu tá.” Tôi vẫn cười thầm về chuyện này vì bốn tháng sau, sự thể đảo ngược. Chính cậu lại là người phải “năn nỉ” tôi để cả gia đình được lên tàu của Huy rời khỏi Việt Nam.

Chúng tôi thành hôn ở Mỹ. Huy trở lại đại học, tôi đi làm ngày đêm. Rồi lần lượt hai đứa con ra đời. Huy ra trường đi làm. Tôi vào đại học. Vất vả mà hạnh phúc. Tôi quá bận rộn để nhớ về quê cha đất tổ, cho tới mười năm sau tôi mới lại nghe tin tức ba mẹ. Lại vẫn do cậu đưa tin. Cậu tôi cho biết đã liên lạc được với chị của mình. Không lâu sau đó tôi liên tiếp nhận được thư ba mẹ tôi bày tỏ lòng khao khát mong nhận được thơ tôi và hình ảnh gia đình. Và tiếp đến là những lá thư mong mỏi tôi về Việt Nam. Tôi nhận thư, tôi đọc, lòng ngơ ngẩn, bâng khuâng nhưng không có chút hứng thú trả lời. Thậm chí nhiều năm sau, cái tin ba tôi đau nặng cũng chỉ được đón nhận với lòng dửng dưng.

Huy bảo tôi nên về. Cậu mợ gọi điện bảo tôi phải về. Tôi thưa với cậu mợ rằng tôi không có cha mẹ nào khác ngoài cậu mợ nhưng cậu mợ tiếp tục thúc bách và giảng đạo lý. Tôi rủ cậu mợ cùng về. Cậu bảo cậu không muốn giỡn mặt với chính quyền cộng sản. Cuối cùng tôi khăn gói một mình lên đường. Thời điểm này chúng tôi còn nghèo nên Huy đành ở lại với hai con.

Nhưng đoạn đường quá xa để ba tôi không thể chờ. Ông vĩnh viễn ra đi vài giờ trước lúc tôi bước vào ngôi nhà xưa. Dù vậy tôi vẫn còn kịp nhìn mặt ba tôi. Nhìn chỉ một lần mà vẫn đủ để khuôn mặt già nua, khắc khổ, hoàn toàn xa lạ đó theo tôi về tận xứ Mỹ. Thỉnh thoảng nhân một liên tưởng về dòng họ ai còn ai mất, khuôn mặt của ông lại hiện ra cùng với những tiếng thở dài của mẹ. Thế mà tuyệt nhiên, tôi không hề nghĩ đến việc thờ phượng ông…

Mẹ nằm trong buồng riêng suốt đêm ngày, mãi đến tối hôm sau mẹ mới tươi tỉnh hẳn. Tôi rủ mẹ đi ăn đồ biển. Mẹ ăn tự nhiên, ngon lành. Nếm đủ tôm cua nghêu sò ốc hến. Luôn cả hào tươi. Lâu lắm mới có dịp ăn ngoài, tôi cũng tận lực nuốt. Trên đường về nhà, mẹ hỏi:

“Cậu bảo con có hai thằng con trai. Chúng nó đâu mà mẹ chưa gặp?”

“Tụi nó đều đã lập gia đình. Mỗi đứa ở mỗi tiểu bang khác nhau, khá xa. Đứa lớn ở Georgia, có hai con, đứa nhỏ ở Texas, đang chờ con đầu lòng. Con đã sắp xếp để mẹ đến chơi với chúng nó, mỗi đứa vài ngày, sau khi mẹ gặp cậu mợ.”

Mẹ nhìn tôi, dò hỏi:

“Con ở đây một mình sao?”

Tôi gật đầu:

“Vì vậy mà con có ý muốn bán nhà này về sống với mấy đứa nhỏ, luân phiên mỗi đứa một thời gian. Tụi nó đang năn nỉ con về ở chung.”

Giọng mẹ ngập ngừng:

“Phải thú nhận rằng mẹ vừa trông thấy căn nhà này là mê ngay. Nếu con bán thì bán cho mẹ. Mẹ con ta sẽ ở đây, mãi mãi tới ngày mẹ chết…”

Tôi đăm đăm nhìn mẹ. Tôi đã biết từ lâu là mẹ rất giàu, chỉ ngạc nhiên về ý cuối. Nó đến quá bất ngờ như là một nhánh gai quẹt vào người. Tôi nghe xót đau, khó chịu. Tôi không chuẩn bị việc này, cũng không muốn nó xảy ra. Đầu óc tôi đông cứng. Chợt hình ảnh Huy hiện ra, miệng cười cười. Ba tháng nay, từ ngày anh mất, khi tôi gặp điều gì khó xử là anh lại hiện về. Nụ cười của anh luôn luôn giúp tôi tìm giải pháp. Tôi thấy bao nhiêu phiền phức nếu cho mẹ ở chung. Tôi đã quen với cuộc sống không có mẹ. Chỉ mới hai mươi bốn tiếng đồng hồ “có mẹ” mà tôi đã chịu đựng biết bao gượng ép.

Mẹ nhìn tôi dò hỏi. Tôi nói:

“Con mới mất anh Huy. Con cần một thời gian yên tĩnh.”

“Mẹ cũng cần có thời gian sắp xếp mọi việc ở Việt Nam. Năm tới mẹ trở qua sống hẳn với con. Con đồng ý chứ?”

Tôi không biết nói gì hơn. Tôi như nghe tiếng Huy văng vẳng: “Đừng làm mẹ buồn!” Tôi cố nhìn vào bóng đêm loang loáng tìm hình bóng Huy nhưng chỉ thấy ánh đèn đỏ vừa bật ở ngã tư…

Sau năm ngày dạo chơi phố xá và ngắm cảnh Nữu Ước, chúng tôi dành hai đêm thử thời vận ở sòng bạc Atlantic City. Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, cả hai mẹ con thắng lớn. Chúng tôi về đến nhà, tẩy rửa xong lớp bụi đường thì trời tối hẳn. Tôi thấy mệt mỏi nhưng mẹ tỉnh bơ đề nghị để mẹ nấu ăn ở nhà. Tôi nói sẽ ăn ở nhà nhưng mẹ khỏi nấu. Mẹ không tỏ gì ngạc nhiên khi tôi gọi thức ăn bằng điện thoại. Bà ngồi thoải mái trong bộ ghế êm ái, xem truyền hình đưa tin thế vận hội. Tôi sắp đặt chén đũa, khăn ăn và nước ngọt rồi ngồi xuống cạnh mẹ. Chợt mẹ quay sang tôi, giọng ngập ngừng thiếu tự nhiên:

“Mẹ phải nói với con chuyện này. Em trai con muốn nhờ mẹ hỏi con giúp nó một việc.”

Em trai tôi? Tôi từ từ hình dung đứa em trai của mình. Tôi đã nhớ ra một hình dáng hiền hòa thường quanh quẩn gần tôi. Cũng như cậu và mẹ, em tôi nhỏ thua tôi năm tuổi. Nhưng nó khác với tất cả chúng tôi là đã không chào đời ở miền Nam. Tôi nhìn mẹ chờ đợi. Giọng mẹ đều đều:

“Đứa con gái út của nó học rất giỏi. Năm tới lên đại học. Nó muốn nhờ con giúp cháu qua học bên này. Nó không muốn cho cháu ở nội trú. Nó xin cho cháu ở với con. Cơ bản là con không phải tốn kém gì hết. Mẹ sẽ lo đi chợ, nấu ăn cho cả nhà…”

Cơn giận chợt ứ lên ngực làm tôi khó thở. Tôi hít vào một hơi thật sâu. Tôi biết là mở miệng lúc này tôi sẽ nói ra lời cay độc. Tôi nhìn ra ngoài trời đang đổ mưa với những ánh chớp liên hồi. Tôi nhớ tới những cơn mưa đầy sấm sét trong căn nhà thênh thang thuở lên mười. Thuở đó cậu tôi đổi đi đơn vị xa và mợ theo cậu. Người giúp việc thì ngủ gần bếp, xa căn buồng riêng biệt của tôi. Tôi đã vô cùng sợ hãi và từng ước ao có được một đứa em. Bây giờ tôi đâu còn cần. Tôi nói chầm chậm:

“Thì ra mẹ qua đây không phải vì con mà vì tương lai cháu nội của mẹ!”

Bà nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên:

“Con nói gì lạ vậy. Tất nhiên mẹ qua đây là vì con, bởi vì mẹ muốn bù lại thời gian ba mẹ bỏ bê con. Mẹ không hề vì cháu nội. Nó chỉ ngỏ lời sau khi biết ý định của mẹ.”

Mẹ đưa tôi lá thư cầm sẵn:

“Đây là thư nó gửi cho vợ chồng con.”

Tôi hững hờ nhận. Mẹ tiếp:

“Thật ra nó cũng đã hỏi các thủ tục xin ở nội trú. Không có con ở đây, con của nó vẫn qua đây học. Mẹ thấy điều quan trọng là có người ruột thịt cận kề, coi sóc, nhắc nhở.”

Tôi cười chua xót, không còn ngăn được lời mai mỉa:

“Ruột thịt? Có là ruột dư với thịt thừa! Và mẹ đã từng cắt bỏ không thương tiếc!”

Mẹ nhìn tôi đăm đăm:

“Con vẫn còn giận mẹ đến thế sao? Lần con về, mẹ đã hết lời giải thích…”

“Con vẫn nhớ các lời giải thích đó: Ba mẹ đâu có muốn xa con, chẳng qua chỉ vì muốn góp phần giành độc lập, thống nhất đất nước. Thì đất nước đã độc lập thống nhất, sao mẹ và cháu nội không ở Việt Nam mà hưởng.”

Mẹ buông tiếng thở dài. Tôi cũng chợt nhận ra mình vừa buông lời xỉa xói hỗn hào.

Tôi trầm giọng:

“Con xin lỗi. Hễ nhớ đến những ngày con bị bỏ rơi là cứ muốn nổi xung thiên…”

“Mẹ phải làm gì để được con tha thứ, quên đi chuyện cũ. Con nghĩ lại đi. Ba mẹ đâu có gửi con cho ai xa lạ. Người đó chính là ba mẹ ruột của mẹ. Con lúc nào cũng nhận được trọn vẹn tình thương và chăm sóc…”

Tôi cố giữ giọng bình thường:

“Ba mẹ ruột của mẹ chớ đâu phải ba mẹ ruột của con! Suốt tuổi thơ của con, con bị bạn bè cười nhạo là đứa trẻ mồ côi, là con không cha không mẹ!”

Nước mắt tôi tự dưng ứa ra, rơi dài xuống. Mẹ đứng lên, bước lại ôm choàng lấy tôi.

Tôi khóc nức nở trên vai mẹ. Khi muộn phiền đã dịu xuống, tôi nhìn thẳng vào mắt mẹ:

“Mẹ không thấy là mẹ không công bằng sao? Lúc con ở cái tuổi rất cần sự săn sóc của ba mẹ thì ba mẹ bỏ đi biền biệt. Còn bây giờ, khi mẹ muốn ở gần con thì mẹ đã bước vào cái tuổi gần đất xa trời, cái tuổi mẹ cần con chớ con không cần mẹ. Thật lòng mà nói, cho tới giờ phút này, con không một mảy may cảm thấy chút gì thương yêu mẹ, thì nói chi thương yêu cháu.”

Mẹ ôm mặt, thân hình thả rơi lên ghế. Tôi nghe tiếng nấc của mẹ và nghe lòng chùng xuống. Tôi nói nhanh như sợ không còn nói được:

“Nhưng có điều chắc chắn là con cũng không thể chối bỏ mẹ không phải là mẹ của con. Chừng nào mẹ muốn ở với con, mẹ cứ ở. Chừng nào mẹ muốn đi, mẹ cứ đi. Điều em con muốn, cháu con muốn, con khó mà nói được lời từ chối!”

Mẹ vẫn ngồi yên, thút thít khóc. Đúng lúc tôi muốn ngồi xuống ôm lấy mẹ thì tiếng chuông reo. Tôi thở hắt ra, bước về phía cửa nhận thức ăn mang tới…

Rời San Francisco trên chiếc xe chở khách chúng tôi ôn lại những địa điểm đã viếng thăm qua ba ngày ở vùng vịnh. Mẹ tỏ vẻ hài lòng đã được chính mắt chiêm ngưỡng chiếc cầu nổi danh Golden Gate. Mẹ cũng yêu thích cái công viên cùng tên với khung cảnh nên thơ thanh bình mà mẹ gọi là hồ Tịnh Tâm. Hai ngày ở San Jose, ấn tượng nhất đối với mẹ là những hình ảnh sinh động, huy hoàng và lạ mắt của vô số loài sống dưới nước hiển hiện ngay trước mắt trong Monterey Bay Aquarium.

Khi chúng tôi về tới quận Cam. Cậu và các con cháu đón chúng tôi ở bến xe, chỉ thiếu có mợ. Khi tôi thông báo mẹ sẽ sang thăm gia đình cậu, cậu nói sẵn sàng gặp mẹ nhưng từ chối cho chúng tôi tạm trú. Nhà cậu mợ rất rộng, nhiều buồng ngủ. Vợ chồng con cái tôi mỗi khi qua Cali là ở nhà cậu mợ hà rầm. Cậu mợ hẳn phải đau lòng khi lần này để tôi ở khách sạn chỉ vì… có mẹ!. Mợ không muốn chứa mẹ trong nhà. Hai đứa em trai của mợ đều bị tập trung, một bỏ xác trong rừng Yên Bái.

Mỗi ngày trong suốt một tuần, cậu lái xe đến khách sạn đón chúng tôi đi viếng thăm hết nơi này đến nơi khác. Ngày đầu, cậu dành cho khu Little Saigon. Mẹ thú nhận là rất ngạc nhiên về mức phát triển quy mô và sự phồn vinh sang giàu của người Việt tỵ nạn. Những ngày kế dành cho danh lam thắng cảnh. Có ngày chúng tôi bay khỏi thành phố đỏ đen Las Vegas về phía Bắc để chiêm ngưỡng Grand Canyon vô cùng kỳ vĩ ngoạn mục.

Cậu thường dùng khoảng thời gian di chuyển để hỏi mẹ về gia đình và dòng họ ở quê nhà. Cậu cũng kể về cuộc đời của cậu trong suốt nửa thế kỷ không gặp chị. Tôi vô cùng thú vị được nghe hai chị em nhắc lại những kỷ niệm thời họ sống bên nhau. Thỉnh thoảng cậu và mẹ “đụng” nhau về đề tài chính trị thường là do cậu khởi xướng.
Một lần đang lái xe, cậu bỗng nhái cái giọng bắc của mẹ: “Thật đáng tiếc! Nếu chị cả đừng… vớ phải cái ông trí ngủ nằm vùng thì giờ chị em gặp lại dung dăng dung dẻ biết bao!”. Mẹ nở ngay nụ cười đáp trả: “Thì cũng lỗi ở em. Phải chi em không làm tay sai cho Mỹ Ngụy”. Cậu gật gù ra vẻ tán thưởng rồi bắt sang chuyện khác.

Hôm đứng trước trường đại học California ở Los Angeles cậu cười nói: “Ngắm nhìn trường này chị có nhớ đến những năm chị dạy ở trường Đảng không? Phải công nhận duy vật biện chứng pháp hay tuyệt. Đảng Cộng sản chủ trương “không có người bóc lột người”. Thế mà ngày nay bản thân Đảng hóa thành “đảng bóc lột người”. Y chang… hủy thể của hủy thể!” Mẹ bật cười giòn tan: “Đúng ra là… phủ định của phủ định!”.

Một buổi tối về khách sạn còn sớm, cậu lân la ở lại. Không biết dẫn dắt từ đề tài gì, hai chị em bắt đầu bàn về Hoàng Sa, Trường Sa và sự hiếp đáp của Trung cộng.

Bỗng cậu đặt câu hỏi: “Ông Bush hứa với ông Dũng là sẽ ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Vậy giả sử Trung cộng tấn công Việt Nam và Mỹ đem quân qua giúp đánh lại Trung cộng, thì đối với hai quân đội ngoại nhập đó, theo chị thì phải gọi là gì? Tàu là quân xăm lăng, Mỹ là bọn xâm lược?” Mẹ cười duyên dáng: “Gọi thế là…đúng sách vở đấy”.

Vào ngày thăm viếng Getty Center, một công trình chi phí hàng tỷ đô la, vừa đồ sộ về kiến trúc tân kỳ, vừa là viện bảo tàng nghệ thuật cổ vật hàng thế kỷ, lại vừa quy mô về tổ chức, tất cả chi phí do nhà tỷ phú Paul Getty đài thọ, cậu tôi bất ngờ hỏi mẹ: “Nghe đâu chị đang là tỷ phú đỏ. Ngày xưa chị chống Mỹ cứu nước, ngày nay nhà tỷ phú Việt Nam đổi mới đã đóng góp được gì để dựng nước?” Mẹ cười: “Chị đang cho xây Đại Nam Quốc Tự thứ nhì. Hôm nào khánh thành chị sẽ mời em về dự”. Cậu cười ra vẻ đắc ý: “Xin hỏi lần này chị đặt ông Hồ ngồi ở đâu?” Tôi nhớ vừa đọc tin tức gần đây nói về ngôi chùa vĩ đại mới xây xong có đặt ba bức tượng từ thấp lên cao: Hồ Chí Minh, Khổng Tử, Phật Thích Ca. Tôi lo âu chờ câu trả lời. Mẹ nhởn nhơ: “Em về thì biết”.

Đêm chót trước khi rời Quận Cam trở lại Maryland chúng tôi được cậu mời một bữa tiệc cá 7 món, đặc sản Cali. Khi chúng tôi đến nhà hàng, tôi thật sự ngạc nhiên và vui mừng khi thấy có cả mợ hiện diện. Mợ đứng lên vui vẻ chào hỏi và mời mẹ ngồi bên cạnh. Mợ vốn hoạt bát, nên mẹ lúc nào cũng cười tươi. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Lúc chờ tính tiền cậu hỏi mẹ bao giờ về Việt Nam. Mẹ bảo còn lâu, khoảng sáu tháng nữa. Và năm tới có thể là qua ở luôn. Cậu gật gù nhìn mẹ rồi nhìn tôi. Tôi tưởng cậu tán thành quyết định của mẹ nhưng cậu chậm rãi nói: “ Phải nói là rất ngạc nhiên khi nghe chị tính qua Mỹ ở luôn. Chị biết không ông Hồ Chí Minh có làm một câu thơ rất nổi tiếng: đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào! Ba mươi ba năm qua, Ngụy đã nhào Mỹ đã cút. Thế mà giờ đây có người đánh đuổi Mỹ lại muốn… cút theo Mỹ!”

Tôi bật cười nhưng kịp hãm khi thấy mặt mẹ sa sầm…

Về Maryland, theo dự trù chúng tôi nghỉ ngơi ba ngày trước khi bay xuống Georgia và Texas. Nhưng chỉ mới qua đêm, buổi sáng mẹ buồn rầu đổi ý. Mẹ muốn về ngay Việt Nam. Tôi ngỡ ngàng. Nhưng tôi chợt hiểu ra. Câu trêu chọc của cậu đã chạm tự ái mẹ. Xa nhau quá lâu, mẹ không quen tính tình em mình. Cợt đùa, đốp chát vô tội vạ là thói quen của cậu. Hiểu cậu thì không ai giận cậu. Không hiểu cậu, giận cậu thì ráng chịu. Cậu nói đó rồi quên đó.

Tuy nhiên tôi vẫn không muốn thay cậu ngỏ lời xin lỗi mẹ. Tôi cũng không có ý định van xin mẹ khoan vội về Việt Nam. Tôi biết chắc nếu tôi năn nỉ, mẹ sẽ ở lại. Gần tháng qua tôi đã cảm thấy chút gì gần gũi mẹ nhưng xem ra vẫn còn một bức vách vô hình ngăn cản sự thoải mái, tự nhiên, thân mật. Thậm chí còn có cái gì khác nữa khiến tôi có lúc bứt rứt, bực mình. Không có mẹ, tôi ngủ nghê, ăn uống thế nào lúc nào tùy thích. Có mẹ, tôi phải hầu hạ, e dè, trông trước ngó sau. Mẹ ở lại lần này, lần tới sẽ ở lại mãi mãi. Mà xem ra thời gian để xây đắp tình mẫu tử chẳng còn bao nhiêu. Luật đời vốn trói buộc tôi vào kiếp nạn mồ côi từ đầu đời. Có gặp lại cha thì chỉ khi cha mất. Gặp lại mẹ thì mẹ lại bỏ đi. Thôi thì hãy coi mươi ngày bên mẹ đã là một hồng ân.

Phải mất một tuần tôi mới đổi được vé máy bay. Trong tuần cuối đó, mẹ chỉ thích đi mua sắm. Mỗi ngày tôi đưa mẹ vào một trung tâm thương mại khác nhau. Ăn thì mỗi bữa một nhà hàng khác xứ. Mẹ đã thưởng thức các món ăn Mỹ, Nhật, Thái, Đại Hàn, Mã Lai, Nam Dương. Đêm cuối cùng, tôi hỏi mẹ có muốn ăn phở lần chót ở Mỹ không, mẹ cười bảo muốn ăn canh chua cá kho tộ. Tôi thấy chút ấm lòng…

Hôm đưa mẹ ra phi trường, chúng tôi im lặng suốt đoạn đường. Gửi xong hành lý, tôi kéo chiếc va ly, tay kia nắm bàn tay mẹ bước chầm chậm về trạm kiểm soát an ninh cá nhân. Khi gần đến dòng người ngoằn ngoèo chờ qua trạm, mẹ dừng lại. Tôi nhìn mẹ dò hỏi. Ánh mắt mẹ ngập tràn âu yếm mà giọng cất lên trầm buồn:

“Chắc mẹ sẽ không qua đây thăm con nữa.”

Tôi nghe xao xuyến nhưng vẫn lặng thinh. Lời mẹ êm như tiếng thở dài:

“Và khi mẹ chết, con cũng không cần phải về…”

Tôi đứng chết lặng. Tôi có cảm tưởng như tôi đã cư xử quá tệ hại với chính mẹ mình. Ý nghĩ trở thành đứa con bất hiếu khiến tôi buột miệng:

“Mẹ! Con sẽ về. Thế nào con cũng về. Cậu đã dạy con nghĩa tử là nghĩa tận.”

Bà vòng tay ôm lấy tôi thật chặt, giọng êm đềm:

“Còn đây là lời mẹ dạy, lần đầu mà cũng là lời cuối. Con hãy luôn luôn ghi nhớ: “Chú như cha, cậu như mẹ”. Con gắng giữ sức khỏe. Thôi mẹ đi.”

Mẹ nắm chiếc cần va ly từ tay tôi. Tôi vụng về ôm lấy mẹ. Mẹ áp má vào má tôi. Tôi nghe chừng thân mình bay bổng. Khi tôi mở vòng tay, mẹ quay mặt bước đi. Tôi thấy mình quá bất nhẫn, khẽ gọi:

“Mẹ!”

Bà quay lui, chân vẫn bước, đôi mắt hiền từ. Tôi lúng túng vẫy tay, cố nở nụ cười:

“Chào mẹ!”

9.2008

© 2008 talawas

Xem Và Đọc MEMOIRS OF A GEISHA

Vũ Thất

Áp-phích phim Memoirs of a Geisha

Từ ngày sang Mỹ năm 1985, lu bu với sinh kế, năm khi mười họa tôi mới xem phim. Lần đầu xem ở rạp, dù được quảng cáo là phim rất hay, nhưng nghe toàn tiếng Anh, không phụ đề Việt ngữ như thời ở Sài Gòn, tôi thấy… uổng tiền. Nghĩ mình còn vô số phim hay chưa xem suốt mười năm bị cộng sản cầm tù thì tội gì không nằm nhà xem trên truyền hình, vừa đỡ tốn kém vừa muốn ngủ là ngủ. Xem phim ở nhà còn hưởng một món quà bất ngờ. Vài năm sau, ngoại trừ phim đang chiếu ở rạp, các phim cũ đều được Closed Caption mà tôi thường đùa là nói tiếng Mỹ phụ đề chữ Anh, nên từ đó xem phim nào cũng thấy… nội dung.

Cuối năm 2005, được về hưu, đúng lúc báo chí ồn ào về phim Memoirs of a Geisha (dịch tạm Hồi ức một ả đào Phù Tang), tự cho mình đã nghe được tiếng Anh sau 20 năm đi làm sở Mỹ, bèn xông xáo đi mua vé ngay ngày đầu khởi chiếu. Xem xong hiểu được phần nào! Tôi đổ thừa cho hai nguyên do. Một là, tiếng Anh của cả người xem lẫn người diễn xuất đều không phải là người Mỹ nên nghe tiếng được tiếng không. Hai là, vì chuyển biến của phim khá nhanh nên khó nắm bắt nội dung.

Phim và sách

Ấm ức, tôi bèn đến thư viện mượn quyển tiểu thuyết mà phim đã dựa vào để thực hiện. Phải chờ đợi mấy tháng vì đã có nhiều người ghi tên. Ngoài thị trường, sách được tái bản (hẳn tác giả đoán chừng ngay cả Mỹ chính cống xem phim cũng sẽ ngơ ngác như tôi?).

Đọc xong, thấy khỏe người. Câu chuyện trở nên sáng tỏ. Tóm lược là thế này:

Vào năm 1929 ở Nhật, trong một làng chài cá xác xơ, có một gia đình quá nghèo, người vợ đau yếu sắp chết, người chồng phải bán hai đứa con. Cô em lên chín, mỹ miều, được nhận vào một trú viện (tạm dịch chữ okiya, nơi ăn ở của ả đào). Cô chị lên mười lăm, bị đưa vào chốn lầu xanh.

Để được huấn luyện trở thành ả đào, nghĩa là được cho đi học trường dạy nghề ca, múa, hát, đàn, trà đạo, kiến thức, ăn nói… cô em Chiyo phải hầu hạ ả đào đàn chị Hatsumomo (do Củng Lợi đóng) và sau một năm, phải được cô này chứng nhận là… lao động tốt, hạnh kiểm tốt. Nhưng xui cho Chiyo, ả đào Hatsumomo bản tánh độc ác, đố kỵ, thấy Chiyo có thể trở thành đối thủ tương lai nên lúc nào cũng kiếm chuyện hành hạ, bêu xấu. Chưa có dịp minh oan thì Chiyo bị bắt trong lúc trốn đi với người chị, cô bé bị bà chủ trú viện đưa xuống hàng tôi tớ muôn năm.

Dù bị đày đọa, Chiyo vẫn lớn lên, càng xinh đẹp. Một ngày kia, nhân một buổi ra phố tạp dịch, thấy thiên hạ nhởn nhơ mà đời mình thì tàn trong ngõ hẹp, cô bé tủi thân ngồi khóc bên đường. Vị chairman của một hãng dụng cụ điện đi qua, thấy thương tình cho ít tiền mua… nước đá bào. Hình ảnh người đàn ông hào hoa đó bắt đầu ám ảnh cô bé mười hai tuổi, đồng thời cũng mang đến cho cô bé một vận may. Chỉ ít lâu sau ngày gặp gỡ, Chiyo được ả đào thời danh Mameha (do Dương Tử Quỳnh đóng), đối thủ số một của Hatsumomo, nhận làm em nuôi. Mameha cam kết với bà chủ trú viện là sẽ giúp Chiyo trả hết số nợ đã thiếu bà. Từ sau ngày đó, đời cô bé đi lên.

Trong hy vọng nhờ nghề ả đào mà có dịp gặp lại vị chairman, Chiyo tự hứa dù phải vượt… trường sơn cũng nhất định lấy cho được cái bằng… phó ả đào. Sau hai năm học tập… vượt chỉ tiêu, Chiyo tốt nghiệp, đổi tên thành Sayuri (Chương Tử Di đóng). Tuy còn là ả đào tập sự, nhờ vẻ duyên dáng và sắc đẹp trời cho, Sayuri được nhiều tai to mặt lớn săn đón. Lên mười lăm, chữ trinh của nàng được rao bán đấu giá. Người chị nuôi Mameha đảm trách giao dịch mà cả. Càng nổi danh, Sayuri càng bị Hatsumomo phá bỉnh. Hatsumomo phao tin Sayuri đã mất cái ngàn vàng. Báo hại bà chủ trú viện phải nhờ bác sĩ khám và được xác nhận vẫn… ngon lành. Càng muốn hại Sayuri, Sayuri càng đi lên trong khi Hatsumomo mỗi ngày một đi xuống và cuối cùng thì… đi luôn.

Có ba người có khả năng tài chánh gắm ghé trinh tiết của Sayuri. Vị Nam tước Nhật, chủ tịch Nobu và một vị bác sĩ thích phá trinh. Cuối cùng vị bác sĩ này đã trả với giá cao chưa từng có trước đó (11.500 yen, thời giá 1935, lúc đó ả đào được trả 4 yen một giờ, và một kimono đắt nhất 1.500 yen). Điều nghịch lý trong giới ả đào là cái giá bán trinh càng cao, nàng ả đào mất trinh càng… cao cấp. Cũng vì vậy mà chủ tịch Nobu vì yếu địa, vừa đành tiếc rẻ vừa đành không dám ngỏ lời… bao nàng (nhận nàng làm gái bao thì phải chuộc nàng khỏi trú viện, mua nhà cho nàng ở, trả tất cả mọi chi tiêu của nàng, bù lại được độc quyền… ngủ với nàng).

Thế chiến II bùng nổ. Các trú viện đóng cửa. Mọi người tản cư về miền quê lánh bom đạn Mỹ. Ả đào Sayuri tài sắc vẹn toàn biến thành kẻ lao động… vinh quang. Nhưng càng lao động vinh quang thì thân càng… tàn tạ. Cũng may, sau bốn năm, cuộc chiến cũng tàn theo. Nàng nghe tin các trú viện mở lại nhưng không nghe tin tức trú viện của nàng. Đúng vào lúc tuyệt vọng nhất thì chủ tịch Nobu xuất hiện. Ông cần nàng trở về Kyoto phục vụ giải trí cho một giới chức nhiều quyền lực mà nhờ vị này hãng đồ điện của ông sẽ được hưởng nhiều ưu tiên phát triển. Ông vui mừng báo cho Sayuri biết, một ngày rất gần ông sẽ trở thành triệu phú và chừng đó, nàng trở thành… gái bao của ông. Sayuri cảm thấy xót xa. Có bao giờ nàng muốn trở thành gái bao của ông đâu. Mọi mơ ước của nàng đều hướng về vị chairman, con người ngày nào cho nàng hương vị cà rem đầu đời! Mà muốn gặp lại người đó thì phải… đi theo người này. Họ là cặp bài trùng ở các trà thất.

Nàng gặp lại vị chairman nhiều lần. Nàng nhiều lần đắm đuối lén nhìn ông nhưng chừng như ông không còn nhận ra nàng. Một hôm, cùng với nhiều ả đào khác, Sayuri được mời phục vụ giải trí ở tư dinh của giới chức nhiều quyền lực. Nàng nghi ngờ đêm nay Nobu sẽ tuyên bố chính thức nhận nàng là gái bao. Từ chối thì nàng không đành trước một kẻ si mê chân tình. Nhận lời thì ước mơ gần gụi vị chairman sẽ tan vỡ. Sayuri chọn một giải pháp chẳng đặng đừng. Nàng nhờ Pumpkin, ả đào bạn, đúng giờ G dẫn vị chủ tịch đến tọa độ nàng sẽ… ăn nằm với giới chức nhiều quyền lực.

Đúng giờ G, đang chịu đựng trò ân ái, nghe tiếng chân người, Sayuri ngẩng nhìn ra cửa. Người ả đào bạn đang đứng với một người đàn ông mà nhìn kỹ, nàng ngơ ngẩn: vị chairman! Thì ra Pumpkin chơi vố này cốt là để trả đũa một cú đau trước đó Sayuri đã vô tình gây cho nàng.

Nhiều ngày chua xót, đau đớn trôi qua, Sayuri coi như định mệnh đã an bài. Nàng tìm vui với Mameha qua các trà thất. Bỗng một hôm, nàng nhận được lời mời của hãng dụng cụ điện, yêu cầu nàng đến trà thất quen thuộc. Đây là lần đầu nàng thấy vị chairman đến một mình. Ông thú nhận rằng ngay từ phút đầu gặp Chiyo còn bé bỏng, ông đã cảm thấy xao xuyến. Ông đã nhờ Mameha giúp đỡ Chiyo qua tài trợ của ông. Nhưng khi cô bé trở thành ả đào Sayuri thì ngay lần đầu tao ngộ, chủ tịch Nobu bị ngay tiếng sét ái tình. Nobu không chỉ là bạn thân của ông mà còn là ân nhân của hãng nên ông đành làm ngơ để nhường cho bạn mình…

Sayuri nghe ông mà bàng hoàng. Thì ra ông đâu có thờ ơ với nàng. Rồi nghĩ đến hành động xấu xa của mình, nàng xấu hổ giải thích (lời nói đúng như trong sách lẫn trong phim): “Thưa chairman, những gì em làm ở Amami, em đã làm vì những xúc cảm em dành cho ông. Từ ngày gặp ông khi còn bé ở Gion, mỗi bước đi của đời em đều nhằm vào hy vọng là nó sẽ mang em đến gần ông hơn”. (What I did on Amami, I did because of my feelings for you, chairman. Every step I have taken in my life since I was a child in Gion, I have taken in the hope of bringing myself closer to you).

Vị chairman bất ngờ ôm chặt Sayuri hôn say đắm. Sayuri ngạc nhiên. Ông cho biết Nobu đã bỏ cuộc. Giờ đây, ông không phải mang tiếng là chiếm đoạt người mà bạn mình yêu tha thiết… Ông giải thích (lời nói cũng đúng như trong sách lẫn trong phim): “Sau khi Pumpkin nói với anh là em muốn chính mắt Nobu trông thấy cảnh đó, anh quyết định kể mọi điều trông thấy cho Nobu. Và khi ông ấy tỏ ra vô cùng tức giận…, có nghĩa là, nếu ông ấy không thể nào tha thứ cho những gì em đã làm thì theo anh, rõ ràng ông ấy sẽ chẳng bao giờ thực sự là người chủ vận mệnh đời em”. (After Pumpkin told me you’d intended that encounter for Nobu’s eyes, I made up my mind to tell him what I’d seen. And when he reacted so angrily… well, if he couldn’d forgive you for what you’d done, it was clear to me he was never truly your destiny).

Chương Tử Di và Ken Watanabe ở đoạn cuối phim

Phim thì kết thúc bằng hình ảnh hai đôi môi lại gắn chặt. Còn truyện thì kéo dài thêm một chương nữa, kể tiếp rằng sau đó Sayuri chính thức trở thành gái bao của vị chairman, được ông mua cho căn nhà sang trọng, được ông trang trải mọi tiêu xài xa xỉ. Nhiều năm sau, lại được ông thu xếp cho qua sinh sống giàu có ở Nữu Ước, làm chủ một teahouse với nhiều geisha dưới quyền, nơi mà vào tuổi 60, bà kể lại cuộc đời ả đào của mình.

Nhưng đó không phải là sự khác biệt duy nhất giữa sách và phim. Nhiều chi tiết hay ho đã bị bỏ qua khi nhà soạn kịch bản giản lược quyển sách dày trên bốn trăm trang để làm cuốn phim dài hai tiếng đồng hồ. Lại thêm nhiều sửa đổi đến ngạc nhiên. Tôi chỉ nêu ba điểm sửa đổi thú vị nhất. Một là, trong truyện, vị chairman cho tiền để cô bé Chiyo tự đi mua cà rem. Còn ở phim, đích thân vị chairman mua cà rem và hai người cùng ăn vui vẻ. Theo tôi, hình ảnh sau rất đạt. Thứ hai, ở truyện, chủ tịch Nobu bị thương tích khiến một nửa mặt mang đầy thẹo và mất một cánh tay. Trong phim, mặt vị này cũng đầy thẹo nhưng lại đủ hai tay. Cũng dễ suy đoán: để vị chủ tịch còn đủ hai tay vừa đỡ mất công hóa trang, vừa bớt vẻ thê thảm không cần thiết. Ba là, trong truyện, giới chức nhiều quyền lực là vị thứ trưởng tài chánh Nhật. Ở phim, vị này hóa thành một ông đại tá Mỹ, xếp vùng chiếm cứ. Tôi thực sự không hiểu sao lại có sự sửa đổi… bất thường này. Thôi thì cứ luận theo lối thông thường rằng bằng cách làm như vậy, không chừng cả tác giả quyển tiểu thuyết lẫn nhà soạn kịch bản phim đều được hưởng chút… cháo!

Khen và chê

Xét về nội dung thì đây chỉ là một câu chuyện tình lãng mạng, thương tâm, gay cấn nhưng về phương diện văn học nghệ thuật thì truyện đáng được xem là một tác phẩm có giá trị văn học và phim xứng đáng là một tác phẩm nghệ thuật. Cả hai đều đáng đọc và đáng xem.

Tiểu thuyết Memoirs of a Geisha của Arthur Golden

Tác giả của quyển tiểu thuyết Memoirs of a Geisha là Arthur Golden. Ông tốt nghiệp đại học Harvard về lịch sử nghệ thuật, chuyên ngành nghệ thuật Nhật Bản. Năm 1980, ông lấy thêm bằng cử nhân về lịch sử nước này. Sau đó ông còn qua Tokyo làm việc một thời gian. Với kiến thức phong phú về nước Nhật như vậy, thế mà khi viết truyện này, ông còn dành suốt mười lăm năm truy cứu và phỏng vấn. Không ngạc nhiên khi quyển tiểu thuyết xuất bản năm 1997 trở thành một best seller. Tác giả được các giới phê bình văn học nhất loạt ngợi khen, thậm chí dùng đến cả từ ngoại hạng (outstanding). Mà quả thật, qua ngòi bút sắc sảo và tài diễn đạt lôi cuốn, ông còn giúp người đọc dễ dàng nhìn bao quát sự khác biệt của xã hội Nhật trước và sau thế chiến II, hiểu được một số truyền thống về tập tục văn hóa cùng thực chất cuộc đời tài hoa của các ả đào phù tang thường bị nhìn như các kỹ nữ lầu xanh. Tác giả cũng bàn qua về lịch sử và giá trị các bộ kimono

Từ những gì mô tả trong sách, nhìn sang cuốn phim, mới thấy đạo diễn Rob Marshall đã dàn dựng các màn trình diễn thật lộng lẫy, đầy ấn tượng. Như màn đô vật truyền thống sumo, màn ả đào trình diễn ca múa. Ông cũng ghi được những hình ảnh tuyệt vời của các cây hoa anh đào nở rộ khắp kinh đô văn hóa Kyoto, những bộ kimono đầy màu sắc mà vô cùng trang nhã. Ống kính của ông cũng thu những góc cạnh sắc bén của các ngôi chùa cổ nổi tiếng trong đó có chùa Kiyomizu-dera và đền Fushimi-Inari Taisha. Tất cả những hình ảnh độc đáo đó quá hiển hiện, người xem không cần vận dụng trí tưởng tượng như khi đọc. (Thật ra, khi đọc, hình ảnh tưởng tượng lắm khi mê mẩn hơn nhiều).

Đáp lại những lời khen nồng nhiệt là những lời chê bai cũng nhiệt tình không kém. Phải kể trước tiên là lời mỉa mai về những nghịch lý trong việc thực hiện phim này: đạo diễn là người Mỹ, ba vai chính là ba tài tử Tàu, nội dung phim lại là chuyện Nhật. Theo dư luận, đạo diễn có cái lý của ông: nước Nhật hiện nay không có nữ minh tinh… ăn khách. Nhà sản xuất đã không ngần ngại bỏ tiền để mướn hai ngôi sao “vĩ đại” Củng Lợi, Chương Tử Di của nước Trung Hoa “vĩ đại”. Thấy chưa chắc ăn, họ chọn luôn minh tinh Dương Tử Quỳnh, người Mã gốc Hoa, cựu hoa hậu Mã Lai, từng được tuần báo People bầu là một trong năm mươi người đẹp nhất thế giới như Củng Lợi trước đó. Quan điểm của nhà làm phim: người châu Á nào cũng giống nhau. Diễn viên nào cũng diễn đúng như vai trò được giao phó. Điều quan trọng là… lôi kéo khán giả. Phim đã lôi kéo khán giả nhưng có diễn đúng vai trò hay không lại là chuyện khác.

Kế đó là những xí xô xí xào từ Trung Quốc. Thay vì hãnh diện với hai siêu sao nước mình được kinh đô điện ảnh Hollywood tuyển chọn, thay vì các rạp hát Tàu được dịp hốt bạc (và chính phủ được tiền thuế), Trung Hoa đỏ vẫn đành lòng ban lệnh cấm chiếu phim này. Lý do được nêu ra rất là… vô văn hóa nghệ thuật: sợ có biểu tình chống Nhật vì phim gợi nhớ thời Nhật chiếm đóng đã bắt đàn bà Trung Hoa phục vụ sex cho quân đội Thiên Hoàng. Nhưng dư luận xầm xì: chớ không phải là cách trả đũa việc giới tư bản Mỹ đã sử dụng tài tử Trung Hoa đóng vai gái điếm?

Người Nhật cũng đưa ra phản ứng của họ. Các ả đào thứ thiệt thì bực tức khi cho rằng truyện thì đề cao ả đào, còn phim thì hạ thấp giới nghệ sĩ này.

Nhiều dân Nhật than phiền rằng Hồi ức của một ả đào Phù Tang chỉ là một phim thương mại. Họ chỉ rõ: nếu bạn càng hiểu biết về nước Nhật, bạn càng ít… ưa thích phim này. Nhận định đó coi như là… miễn bàn. Bởi vì mỗi dân tộc vốn mang sẵn trong người cái quốc hồn quốc túy, rất dễ nhìn ra những gì mà người nước ngoài cố bắt chước. Khán giả khắp thế giới có thể không thấy nhiều sai sót của cuốn phim nhưng hẳn ai ai cũng nhìn thấy một khuyết điểm tức cười: ba minh tinh đóng vai ả đào Nhật mà dáng đi lại như ả đào …Tàu!

Cuối cùng, dù dư luận khen hay chê, phim cũng đã được đánh giá bởi các tổ chức điện ảnh quốc tế. Phim được đề cử hai mươi hai giải và nhận được mười một giải, trong đó có ba Oscar. Bình thường, một phim chiếm được một Oscar đã là quá… đã!

Thưởng và phạt

Tiểu thuyết Memoirs of a Geisha được dịch ra nhiều thứ tiếng, dĩ nhiên không thể vắng tiếng Nhật. Sau khi bản dịch được phát hành, tác giả Arthur Golden… bị kiện về hai tội: một là vi phạm giao ước và hai là phỉ báng. Nguyên cáo là một ả đào hồi hưu, người đã kể chuyện đời bà cho tác giả viết thành tiểu thuyết. Theo khẩu ước, bà kể với điều kiện duy nhất là không được tiết lộ danh tánh của bà. Nhưng Arthur Golden đã làm một cử chỉ… đẹp bằng cách ghi đích danh bà trong sách để bày tỏ lòng biết ơn. Về tội phỉ báng thì bà tố cáo tác giả cố tình bóp méo nhiều sự việc khiến phẩm giá bà bị xúc phạm. Tội nghiệp tác giả. Ông đã rất cẩn thận. Cái tựa ghi là Hồi ức nhưng dưới tựa ghi rõ là tiểu thuyết. Đời thật bà kể nhưng được tiểu thuyết hóa. Nếu viết đúng như bà kể thì nó phải ghi là tự truyện! Tuy vậy, năm 2003, nhà xuất bản đồng ý giải quyết ngoài tòa án với một số tiền đền bù không được tiết lộ. Như để chứng minh mình thành thật khi kiện tụng, bà ả đào về hưu Mineko Iwasaki viết hai quyển tự truyện là Geisha, a Life, ấn hành ở Mỹ và Geisha of Gion ấn hành ở Anh. Cả hai quyển đều trở thành… ăn khách khắp thế giới.

Ngược với sự thiếu may mắn của tác giả người Mỹ Arthur Golden, hai năm sau, cũng tại Nhật, nữ minh tinh người Hoa Chương Tử Di lại được phần thưởng bất ngờ. Trong thời gian đến nước này giới thiệu cuốn phim, cô nhận được một lá thư kèm một kiện hàng. Trong thư, một bà ả đào già cho biết bà rất xúc động khi xem một đoạn phim quảng cáo và mong đợi cuốn phim sẽ đưa bà và bè bạn trở về những kỹ niệm nghề nghiệp thân thương ngày nào. Mở kiện hàng là món quà tặng cho người đẹp diễn viên: một chiếc áo kimono cổ kính tuyệt xảo. Chương Tử Di cảm động rơi nước mắt. Cô đã gửi thiệp mời bà dự khán buổi chiếu đầu tiên ở Nhật.

Còn tôi thì phải xuất tiền túi để xem buổi chiếu đầu tiên phim này ở Mỹ. Tuy nhiên, cũng như bà ả đào già, tôi cũng bị xúc động khi phim đưa tôi trở về với những thần tượng ngày nào. Xem Củng Lợi, Chương Tử Di, Dương Tử Quỳnh mà nhớ Chân Trân, Lý Thanh, Trịnh Phối Phối…

Tháng 7/2006 (Tu chính 3/2011)

© 2006 talawas