Vũ Thất

Bảo Bình 1

Category Archives: Điểm Sách & Phim

‘Người Đọc và Người Viết,’ một tác phẩm mới của Hai Trầu-Lương Thư Trung

‘Người Đọc và Người Viết,’ một tác phẩm mới của Hai Trầu-Lương Thư Trung
Trần Doãn Nho

 “Người Đọc và Người Viết” là tác phẩm thứ chín của Hai Trầu-Lương Thư Trung. Hai Trầu và Lương Thư Trung là hai bút hiệu của cùng một tác giả. Khi viết về văn chương, ông lấy bút hiệu Lương Thư Trung; khi viết đời sống ruộng đồng, ông ký là Hai Trầu.

Trong “Lời Nói Đầu,” Lương Thư Trung cho biết “Người Đọc và Người Viết” là sự “gom lại tất cả các cảm tưởng về các trang văn thơ mà tôi đã đọc trong vòng hai mươi năm qua cũng như thêm nhiều cuộc trao đổi mới với các tác giả khác trong vài ba năm trở lại đây.”

Ông khẳng định, “Người Đọc và Người Viết” “không phải là một cuốn sách phê bình văn học gì hết vì tự thân tôi, tôi chỉ là một người đọc bình thường chứ không phải nhà văn nhà chương gì và tôi cũng không có khả năng để làm những công việc cao siêu ấy.”

Tác phẩm rất đa dạng, cho thấy ông là một “người đọc” thực sự, nghĩa là một người “mê” đọc, đọc nhiều, đọc đủ thể loại, đọc đủ loại tác giả, xem đọc là một thú tiêu khiển trong đời sống. Không những thế, ông còn “mê” viết. Nghĩa là thích được bày tỏ cảm nghĩ của mình sau khi đọc.

“Người Đọc và Người Viết” được viết dưới nhiều hình thức khác nhau: Đọc lại, đọc, lá thư văn nghệ, thư trao đổi, mấy ý kiến, vài ghi nhận, trao đổi ngắn, hỏi thăm, trò chuyện, thư gửi… đọc một bài thơ, một truyện ngắn, đọc một tác phẩm, vân vân.

Không chỉ là đọc thơ, đọc văn mà Lương Thư Trung còn đọc các tác phẩm phi-hư cấu như “Nhật Ký Truyền Giáo,” “Vui Đời Toán Học,” hay sách viết về ẩm thực. Không chỉ là nhận định nhiều tác phẩm của một tác giả hay một tác phẩm riêng biệt nào đó, mà còn là những lá thư trao đổi với tác giả để bàn về một vấn đề đời sống nào đó, hay bàn về văn dịch, bàn về chữ nghĩa, bàn về cách dùng chữ ngoài đời và trong tự điển, trao đổi với tác giả về một mục trên báo. Chẳng những thế, đối với một số tác giả, ông còn tìm cách đào sâu hơn bằng cách trực tiếp trò chuyện hay phỏng vấn tác giả và đặt vấn đề về những gì tác giả và tác phẩm nêu ra.

Khác với một số tác phẩm biên khảo khác, qua đó, tác giả thường chỉ viết về một số nhà văn tên tuổi hay có ảnh hưởng trong dư luận, Lương Thư Trung hào phóng và đa dạng hơn. Ông viết về bất cứ tác giả nào ông thích, từ những người rất nổi tiếng cho đến những người chưa có tiếng tăm gì, cả trong lẫn ngoài nước. Và tác giả nào cũng được ông trân trọng đọc, trân trọng nêu ra ý kiến mình. Với ông, bất cứ tác giả nào cũng có cái hay để thưởng thức.

Với một tấm lòng trải rộng như thế, tác phẩm gồm hai cuốn của ông (hơn 1,000 trang) đề cập đến một số lượng tác giả khá lớn: hơn 70 tác giả, dưới dạng này hay dạng khác, cách này hay cách khác. Từ những cây bút nổi tiếng như Hoàng Lộc, Tô Thùy Yên, Song Thao, Ngô Thế Vinh, Hoàng Xuân Sơn, Lâm Chương, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Xuân Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Ngọc Tư… cho đến khá nhiều những người chưa được biết nhiều trên văn đàn.

Mỗi tác giả, Lương Thư Trung có một nhận định riêng. Khen có, chê có, nhưng Lương Thư Trung không có kiểu đưa người này lên trời hay dập người kia xuống đất. Ông luôn luôn giữ một giọng bình văn chừng mực, chân tình, tin cậy. Xin lướt qua vài tác giả:

-Đọc thơ Phan Nhiên Hạo, Lương Thư Trung nhận xét, thơ Phan Nhiên Hạo “không phải để cảm mà để nhận, không phải để ngâm nga mà để nghiền ngẫm, không phải để ca ngợi cuộc đời mà để nhận dạng cuộc đời” (…) Đó là một “tách trà đắng” làm tê đầu lưỡi dần dần nghe cái “hậu ngọt của trà” (trang 98-101, quyển 1).

-Về Nguyễn Thanh Trúc, Lương Thư Trung cho rằng thơ của Nguyễn Thanh Trúc “không sắc sảo tài tình, không trau chuốc bóng bẩy, không văn chương thời thượng,” mà “là tiếng hót lảnh lót của loài chim chìa vôi giữ rặng tre làng. Tiếng hót ấy sẽ mang đến cho đời một chút hương nội gió đồng, một chút hoa cau hoa bưởi…” (trang 394, quyển 1).

-Đọc “Cánh Đồng Bất Tận” của Nguyễn Ngọc Tư, Lương Thư Trung cho biết, “đọc thì thấy quá xá là hay” khiến ông cảm thấy “nhói nhói bên ngực trái” vì quá thương cho số phận của chị em thằng Điền, hai nhân vật chính trong truyện. Nhưng Lương Thư Trung không chịu được cách cách chấm, phết của Nguyễn Ngọc Tư. “Ở đây tui bị ngộp thở vì mấy chữ ‘và’ và mấy cái dấu chấm phết ào ào như mưa như nắng ở vùng kênh xáng” trong “mùa áp thấp nhiệt đới Tháng Tám” (trang 192, quyển 1).

-Về truyện dài “Đời Thủy Thủ” của Vũ Thất, Lương Thư Trung nhận xét: “Phải là một thủy thủ tài tình với óc quan sát và nhận xét khá tinh xác mới có thể viết chương sách về trận chiến cách nay tròn năm mươi năm (1965) mà đọc lại như mới xảy ra bây giờ” (trang 392, quyển 2).

-Đề cập đến hai tác giả Nguyễn Hiến Lê và Vương Hồng Sển, Lương Thư Trung nêu lên một nhận xét đáng quan tâm: hai học giả Nguyễn Hiến Lê và Vương Hồng Sển có những đóng góp lớn lao cho nền văn học miền Nam, nhưng “dường như bị các nhà viết văn học sử, các nhà phê bình, các nhà diễn thuyết không biết vì vô tình hay cố ý mà thường hay bỏ quên sự có mặt của họ” (trang 374, quyển 2). Chẳng hạn như trong lần hội thảo “Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam” (1954-1975) được tổ chức tại nhật báo Người Việt và nhật báo Việt Báo ở Westminster, California, trong hai ngày, 6 và 7 Tháng Mười Hai, 2014, “các diễn giả thuyết trình nhiều đề tài nhưng dường như quý vị ấy bỏ quên những đóng góp to lớn của nhị vị học giả này.” Mà ngay trong bộ Văn Học Miền Nam do Võ Phiến biên soạn, “hai vị này cũng chỉ được tác giả nhắc qua một cách rất sơ lược trong một hai trang giấy ngắn…” (trang 356, quyển 2).

Xen lẫn trong những bài viết về văn chương, Lương Thư Trung cũng có những bài viết bàn về chữ nghĩa khá thú vị. Chẳng hạn như bàn về việc dùng chữ trong sách vở và chữ ở ngoài đời trong “Giữa “Thiệt” và “Thật,” “Cái lợi của bút lục là chắc, nhưng cái hại của bút lục là quá nệ vào sách vở.” (trang 14, quyển 1).

Hay trong bài “Vài chữ dùng ngoài đời và trong tự điển,” đọc bài viết của Lê Mạnh Chiến, Lương Thư Trung nêu ra sự khác biệt của một số cách giải thích từ ngữ giữa các tự điển và giữa tự điển và ngoài đời và từ đó, nêu ra cái sai sót trong cách hiểu của một số từ như: ba đào, âm đức, bồng bột, chúng sinh, bình sinh… (trang 135-141, quyển 1).

Dù Lương Thư Trung khiêm tốn cho rằng ông chỉ ghi lại “cảm tưởng” của ông khi đọc, nhưng thực sự, với 95 bài viết về nhiều tác giả và tác phẩm, “Người Đọc và Người Viết” là một tập tiểu luận nhận định văn học. Dù không dựa trên một trường phái nào hay một quan điểm nào rõ rệt, nhưng khi phân biệt cái hay, cái dở, phê phán điểm này, khen ngợi điểm kia, tác giả cũng phải dựa vào một quan điểm nào đó. Chẳng hạn, Lương Thư Trung nhận xét rằng, văn chương hay văn học tựa hồ như “những dòng nước làm cho một dòng sông luôn đầy và chảy hoài bất tận,” không dễ gì “cắt lìa giữa cổ điển và hiện đại, giữa lãng mạn trữ tình và hiện thực tả chân, giữa triết lý và đời sống thường, giữa người đọc và tác giả.” Còn người đọc thì mê văn chương xưa hay nay miễn nó hay, cái hay tùy thuộc tâm hồn mỗi người. Mê đọc cũng tốn kém nhiều thứ. Tác giả tự nhận mình thuộc “người đọc đại chúng” và ông cho rằng đừng ai khinh thường người đọc đại chúng vì “chính họ là những người thầm lặng đã mang đến cho văn học những nhà văn tên tuổi” (trang 47-57, quyển 1).

Đó cũng có thể xem là một quan điểm văn học. Từ chỗ đứng này, Lương Thư Trung thẳng thắn phê phán sự áp đặt người đọc vào một “nhóm văn chương” nào đó, quy cho họ là không có văn chương. Nhà phê bình văn học, theo Lương Thư Trung, “chỉ là một người ngồi câu ở một bến sông,” là người  “không làm nên văn chương” mà cũng không là “vị thẩm phán cuối cùng ban phát văn chương cho mọi người” (trang 68, quyển 1).

Nhận định đó cho thấy Lương Thư Trung không chấp nhận lối phê bình văn chương độc đoán, nghĩa là chỉ đứng trên một quan điểm nào đó mà họ cho là đúng đắn, rồi sổ toẹt những cách phê bình văn chương khác hoặc là có cái nhìn thiên lệch đối với những tác phẩm không phù hợp với quan điểm mình.

Hai Trầu-Lương Thư Trung, sinh trưởng ở Tân Bình, Sa Đéc. Ông đã xuất bản chín tác phẩm ở Hoa Kỳ: Bến Bờ Còn Lại (2005), Tình Thầy Trò (2005), Lá Thư Từ Kênh Xáng 1 (2005), !4 Tác Giả, Mỗi Người Một Vẻ (2012), Nhớ Về Những Bến Sông (2013), Lá Thư Từ Kênh Xáng 2 (2013), Mùa Màng Ngày Cũ (2011), Một Chút Tình Quê (2015) và Người Đọc và Người Viết (2017).

Trần Doãn Nho
nguồn: nguoi-viet.com
Advertisements

Từ Hà Nội đến Sài Gòn. Từ di cư 54 đến di tản 75

Lời giới thiệu: Bài viết về năm di cư 1954 của tác giả Lữ Tuấn được coi là một tài liệu cô đọng nhất để thế hệ sau này hiểu rõ những gì đã xảy ra khi hiệp định đình chiến Geneve được ký kết. Tác giả là một thanh niên Bắc Kỳ di cư, nhập ngũ trường Võ Bị Đà Lạt, trải qua nhiều đơn vị và cuối cùng đã tồn tại sau 7 năm tù lao cải. Ông từ giã Hà Nội năm 1954 nhưng lại có dịp đi qua Hà Nội trong một đêm chuyển trại tù từ Việt Bắc vào miền Trung. Với những kỷ niệm đầy biến động và đau thương của cuộc đời một thanh niên, tác giả ghi nhận từng chi tiết đoạn đường đã trải qua với những nhận xét rất khách quan và chính xác. Lịch sử luôn luôn đã có những ngã rẽ khác biệt ảnh hưởng đến ngàn đời sau, bắt đầu từ một triệu người từ Bắc vào Nam 1954 và tiếp theo là 130,000 di tản đợt đầu năm 1975. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết đầy dữ kiện lịch sử 50 năm về trước của Lữ Tuấn.

Giao Chỉ
San Jose. Tháng 7, 2004

Tháng 6 năm 1954 đúng 50 năm về trước, là lúc mọi người trong vùng kiểm soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt cô cùng lo lắng và hoang mang sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng 20 tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan truyền nhanh chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia sẽ rút khỏi Nam Định và các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt doanh trại được tháo gỡ vội vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi Hà Nội. Kho đạn Nam Định cho phá hàng loạt đạn súng cối và đạn pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.

Bộ Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không hề lên tiếng về tình hình tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn tiếp tục công việc chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh Pháp, 14 tháng 7 năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin đồn ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác đác ở Nam Định.


Ba ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống liên tiếp. Khi đã chuyên chở gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân sự Nam Định bắt đầu cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ để đi Hà Nội.

Nam Định bắt đầu hoảng hốt thực sự từ ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối mù. Nhiều người chen chúc mua vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà Nội. Nam Định là nơi số doanh trại và binh lính dầy đặc nhất Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới nghiêm, thành phố vắng vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên tất cả chìm trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong bóng tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ giới nghiêm.

 
Đường phố Hà Nội, hình chụp vào tháng 7 năm 1954.

Gia đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công chức nơi mẹ tôi làm việc. Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người Pháp vào sở đưa một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này và gia đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải trưng dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi người phải có mặt đầy đủ trên xe.

Việc di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần lễ trước đó. Số người ngồi trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo đồ đạc gì nhiều ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn nhẹ.

Lệnh di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua trạm kiểm soát phía bắc hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà tôi nhớ là sau 8 giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe nào đến sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để tránh nhiễu loạn giao thông.

Hồi đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần áo, hình ảnh, giấy tờ cần thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và phải bỏ lại món nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố nói là để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi , người nuôi nấng tôi từ nhỏ không chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm cười can thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu.”

Mẹ tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với tốc độ không thua các tay đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô bạn mà tôi thương vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu đương.

Nàng đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu. Không rõ nàng có nhìn thấy tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu hết can đảm hôn gió trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió về nhà, trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến đi này sẽ lâu lắm., có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa bao giờ tôi phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình thế rất khó khăn nguy hiểm.

Quân cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy định. Tại trạm kiểm soát Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính hộ tống được cho khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ giải quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh đặt sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải phá nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua.

Buổi trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia đình tôi về ở nhà người thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt Minh tấn công. Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì còn lại.

Cuộc rút lui này tuy tiêu biểu cho việc Pháp thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành công. Dựa vào tài liệu của Pháp và thực tế quan sát thấy tại chỗ, cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân Khu Nam đã điều động cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất nhẹ không đáng kể. Đoàn quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch đánh chận.

Kế hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn thảo, trong đó chỉ có các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc đánh máy, chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc các tỉnh vùng này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt Minh bắt và giết hại.

Hà Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh bình không nghe tiếng súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo với những thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di tản 4 tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng vẫn không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật.

Lúc ấy hội nghị Geneve bắt đầu họp. Ai cũng thấy phe Cộng Sản đang nắm ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không biết sẽ đình chiến kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này năm 1972-73 người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào? Vĩ tuyến 13, 16 hay 19?

Đầu tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông đảo dân chúng chào đón ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn tình hình. Sau đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái chống Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn sàng tham gia việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ. Một số đông đảo đặt niềm hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ thay thế người Pháp.

Nhóm chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều hăng hái tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ Bắc Việt. Đêm đêm, chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc Sơn và nhiều nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu có không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.

Đường phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có những bóng dáng cảnh sát võ trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi tuần tiễu. Nhưng các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của Quân Đội Quốc Gia đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.

Ngày 14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình nắm đấm được thấy khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh phía Nam là bàn tay trước kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn. Tất nhiên ít ai tin vào luận điệu này.

Đám học sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng trước ngày 15 tháng 7 năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi tin tức và bàn luận về tình hình đất nước.

Chiều 21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ họp thì có tin trên đài Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời loan báo “Hiệp Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia ở sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.

Tân Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17/6/54, đã tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Geneve về Đông Dương được ký lúc sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng chạy từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.

Hà Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ Bắc Việt lịm tắt dần và dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một số bài trên báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt Minh. Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra vào Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có những chiếc máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn cờ đỏ sao vàng. Các cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.

Một số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi đến thăm và khuyên gia đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát ra đi. Sau đó 4 tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài Gòn. Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp thời ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.

Những gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày bán dọc bờ hồ Thiền Quang làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi những người đầu tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ đỏ sao vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi nóng trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.

Một trung tá người Pháp đi bộ ngang qua hung hăng can thiệp, lớn tiếng đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không được xúc phạm. Ông ta không ngờ những người bán chợ trời đều không ưa lá cờ máu ấy. Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.

Tin tức về di cư được loan báo chính thức vào đầu tháng 8. Nhiều nhà giầu đã đi vàoNam bằng phương tiện riêng. Đại đa số còn lại đợi ghi danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi từ Nam Định lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn cán bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã Hội thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm 1954 bốn đứa bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh quanh Hà Nội lần cuối.

Hình chụp vào tháng 9 năm 1954 với một số người Bắc di cư trên tàu USS Bayfield khi tàu vừa cặp bến Saigon. Sau Hiệp Định Geneve, tàu USS Bayfield là một trong những vận-chuyển hạm của Hải Quân Hoa Kỳ được giao phó nhiệm vụ chở người tị nạn từ Bắc vào Nam.

Sáng sớm 12 tháng 8 khi qua cửa kiểm soát phi trường Gia Lâm, một trung úy Nhảy Dù người Pháp hỏi chuyện chúng tôi vì thấy 25 đứa trong đoàn cán bộ xã hội toàn là thanh niên còn trẻ. Sau khi nghe chúng tôi nói rõ lập trường và mục đích ra đi, ông ta nắm tay chúng tôi giọng xúc động nói rằng, “Nước Pháp đã liên tiếp sai lầm để các bạn chịu hậu quả đau đớn hôm nay.” Nói xong không ai ngờ viên trung úy trẻ dưới 30 này bật khóc, nước mắt chảy dài trên má.

Chúng tôi cũng cảm động tuy nhiên vẫn còn cầm được nước mắt. Nhưng khi phi cơ lượn một vòng lấy cao độ, tất cả đều ngó xuống. Giữa tấm thảm mây mưa xám xịt che kín bên dưới phi cơ có một khoảng trống vuông vắn hiện ra Hồ Gươm và 36 phố phường. Cảnh tượng tuy tầm thường nhưng lại gây xúc động mạnh, khiến đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Đây là lần chúng tôi vĩnh biệt Hà Nội. Vĩnh biệt miền Bắc.

Sau những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất, cảnh những con rạch đỏ ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui hơn. Được đưa về nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội, ngày hôm sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của chính phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm 1954.

Nhờ vào dịp hè, các trường học vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để đón nhận người di cư đến bằng phi cơ quân và dân sự, các quân vận hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các mẫu hạm Anh và Pháp. Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều (sát trường đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn người.

Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5 đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.

Đời sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm, kết bạn, rã bạn, tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu. Những cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất sống động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.

Từ tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình hàng ngàn người từ Hà Nội và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và nhiều ngàn người mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành song song và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội trong nhiệm vụ chuyên biệt này.

Thời gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và các trường học được trả lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh. Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000 người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam.

Nếu tính theo giấy tờ, con số này có thể lên tới hơn 1 triệu vì có sự gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi dụng thủ tục khai và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di cư là tín đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di cư có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số.

Một điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di cư còn cao hơn nữa nhưng vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những cuộc giao tranh giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở Sài Gòn nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi ý.

Nói chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm và thái độ can dự của người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo người miền Bắc khiến họ yên tâm vàoNam. Đại đa số thành phần trí thức, chuyên viên cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã rời bỏ đất Bắc khiến chính quyền ông Hồ Chí Minh gặp khó khăn lớn trong mục tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là xương sống của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa.

Cuộc di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu rộng trong lịch sử Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra và những nét đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Geneve 1954 điển hình tại vùng thủ đô Sài Gòn.

Trước hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp hàn gắn những chia cách đáng buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia rẽ do hậu quả của những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau chóng. Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả nào nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển và chiến tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ mặt bề ngoài cũng như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong phú hơn.

Trước tháng 10 năm 1954, chính quyền địa phương còn gần y nguyên như thời Pháp Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở, phố xá còn dùng tiếng Pháp. Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền sau những âm mưu đảo chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh. Nhiều cải cách hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư, giấy tờ đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau vài giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành có kết quả tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư đối với chính phủ.

Cuộc đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam năm 1955 trong 3 ngày không giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa hàng tỷ bạc Đông Dương mà chính quyền Hồ Chí Minh thu gom được ở miền Bắc vì họ không kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5 cắc (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc một đồng. Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc mệnh giá trên một đồng.

Lúc ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất mạnh ở nam phần ngay tại Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà không ai bắt bớ. Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng Sản đã thật thà hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập rồi, mấy thầy cô dô đây làm chi?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ trong tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư một cách có thiện cảm hơn.

Trong bối cảnh ấy, lực lượng học sinh di cư đã dẫn đầu cuộc biểu tình vào dịp 20 tháng 7 năm 1955 đòi tống xuất các đoàn đại biểu của quân đội Cộng Sản từ Hà Nội trú đóng tại hai khách sạn Majestic và Galliéni (đường Trần Hưng Đạo). Khi bị khiêu khích, cuộc biểu tình biến thành bạo động, gây thiệt hại nặng cho hai khách sạn nhưng không có thương vong quan trọng. Những hành vi cương quyết của quần chúng khiến bọn thân Cộng Sản không còn nhởn nhơ tuyên truyền bán công khai như trước.

Người di cư tiếp xúc, trao đổi với dân chúng địa phương mau chóng tạo ra những hiểu biết và thông cảm. Về kinh tế thương mại, người Bắc vào Nam đã mở mang thương trường, ra các cửa hàng nhất là hàng ăn. Năm 1954 hầu hết cửa tiệm ăn do người Hoa kinh doanh, và họ dành độc quyền ngành lúa gạo cũng như các sạp thịt ở mọi chợ. Đời sống dễ dàng ở miền Nam khiến người Việt ít muốn cạnh tranh, ngay như ngành công chức cũng không hấp dẫn nhiều người. Bà con lao động xích lô kiếm đủ tiền tiêu trong ngày nhiều khi đẩy xe lên lề dưới bóng cây làm một giấc, khách gọi mấy cũng từ chối. Cách biệt giầu nghèo ở Nam Việt lúc ấy rất ít.

Các tầng lớp dân di cư cần cù chịu đựng tham gia thị trường lao động đã làm cho đời sống kinh tế miền Nam lên cao nhưng lại buộc mọi người phải làm ăn chăm chỉ hơn. Một số người địa phương không hài lòng vì nếp sống thong thả lè phè cũ đã mất đi không còn trở lại.

Hình chụp tại Saigon vào tháng 10 năm 1954 trong một trại định cư với hàng trăm căn lều. Lúc đó, một trong những trại định cư lớn nhất ở Saigon là trại Phú Thọ Lều được thiết lập tại Quận 10 sát bên trường đưa Phú Thọ. Trại này có lúc đã chứa đến 10,000 người di cư.

Trang phục phụ nữ hai miền khác nhau, nổi rõ nhất là giới nữ sinh trung học tuổi đôi tám. Nữ sinh Hà Nội làm dáng sớm hơn, quần hẹp, áo dài nở vòng số một. Nữ sinh Sài Gòn vận quần trắng rộng, áo bà ba trắng nhiều hơn áo dài được may vòng số 1 tương đối phẳng phiu có lẽ vì đó là cách tỏ ra là con nhà nghiêm túc. Sau hơn một năm các cô hai miền tự nhiên hòa hợp cách ăn mặc, bọn thanh niên sinh viên học sinh chúng tôi không còn phân biệt được gốc gác các cô qua y phục nữa. Điều quan trọng và dễ thương hơn hết là những câu chuyện tình Bắc duyên Nam đã nhiều khi hóa giải rất nhiều cho những mâu thuẫn văn hóa chính trị.

Các trường phía Bắc di chuyển vào Sài Gòn giữ gần y nguyên ban giám hiệu và tổ chức riêng. Từ Hà Nội vào, Chu Văn An tiếp tục tại cơ sở cạnh Petrus Ký. Trưng Vương học chung cơ sở nhưng khác giờ với Gia Long… sau hai ba năm mới ra học ở các cơ sở riêng trước Thảo Cầm Viên. Mấy năm sau nữa thì học sinh gốc hai miền dần dần pha trộn.

Chuyện đáng nhớ là năm 1955 học sinh Bắc vào Nam và các bạn gốc miền Nam mở chiến dịch phá bỏ tên đường tiếng Pháp. Nhờ đó mà việc đặt tên đường mới, vốn là việc mất nhiều công sức, đã được Tòa Đô Chánh Sài Gòn thực hiện trong vòng khoảng một tháng.

Về mặt văn hóa và báo chí, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ Bắc vào Nam đã hòa hợp với đồng nghiệp miền Nam tạo ra sinh khí mới, lối viết và văn phong, sắc thái trong sáng, có sức truyền đạt hơn. Sau một thời gian ngắn người đọc chỉ có thể nhận thấy một số khác biệt ít ỏi giữa bài vở sách báo do các tác giả gốc từ các miền khác nhau viết ra.

Đặc biệt là về tân nhạc, lớp nhạc sĩ và ca sĩ cũng như những người yêu nhạc từ miền Bắc vào Nam đã lôi cuốn được phong trào âm nhạc mới phát triển mạnh để tiến đến tới cao điểm nghệ thuật ca nhạc trong các thập niên sau. Và ngược lại số người Bắc di cư hâm mộ ca nhạc kịch cải lương cũng gia tăng nhiều.

Về mặt ăn chơi, sự thay đổi rõ rệt hơn. Sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới, khu mại dâm Bình Khang bị đóng cửa đầu năm 1955. Giữa năm 1954 cả Sài Gòn hình như chỉ có 2 hay 3 tiệm phở Bắc. Chỉ sau vài tháng số tiệm phở tăng đến hàng chục. Các quán cà phê cũng lục tục ra đời cùng với các ngành buôn bán khác. Các xuất gọi là phụ diễn tân nhạc trước khi chiếu phim chính ra đời dần dần tiến đến những buổi trình diễn âm nhạc chuyên nghiệp gọi là “nhạc hội” giúp vào việc phổ biến âm nhạc sâu rộng hơn. Trước đó hoạt động âm nhạc chỉ được biết qua các chương trình ca nhạc và các cuộc thi hát, tuyển lựa ca sĩ của các đài phát thanh quốc gia, đài quân đội và đài Pháp Á cùng hai đài Huế và Hà Nội.

Ngôn ngữ hai miền sau cuộc di cư cũng thay đổi và pha trộn về từ ngữ tuy vẫn giữ những nét độc đáo của từng vùng mà không lai giọng. Điểm đáng lưu ý là sau nhiều năm gia đình gốc gác miền Bắc di cư có con cái đứa thì nói giọng địa phương (Nam hay Trung), đứa thì nói giọng Bắc, đứa thì nói cả hai ba giọng tùy theo môi trưởng xóm giềng và trường học. Nhưng không mấy ai nói lẫn lộn cùng một lúc các giọng khác nhau.

Về mặt đời sống xã hội, người di cư dần dần và chậm chạp chịu ảnh hưởng bởi lối sống phóng khoáng, chân thật, thẳng thắn của dân miền Nam. Sau một thế hệ, tính nết người Bắc di cư khác hẳn tính nết của đồng hương của họ còn ở lại quê nhà. Đến sau 30 tháng 4 năm 1975 người ta càng thấy điều này rõ rệt hơn khi gặp đợt Bắc Kỳ mới vào Nam.

Trong đời sống tinh thần, có hai sự kiện đáng nhớ trong thời gian ấy. Một là trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội thì chùa Một Cột, di tích quý báu nhất của Việt Nambị kẻ vô danh phá bằng chất nổ. Rất may chùa chỉ hư hại một góc. Nghe tin ấy chúng tôi đều hết sức buồn phiền. Hai là giữa lúc nhịp độ di cư đang lên cao thì Hoàng Dương, em nhạc sĩ Hoàng Trọng cho ra đời ca khúc Hướng Về Hà Nội với lời ca tha thiết “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi… mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga… biết đâu ngày ấy anh về.” Ca khúc này khiến lứa tuổi 18, 19 chúng tôi cảm thấy rõ điều mà các văn thi nhạc sĩ gọi là “tan nát cõi lòng.”

Dĩ nhiên trong ngót một triệu người Bắc di cư có đủ mọi thành phần tốt xấu kể cả đầu trộm đuôi cướp, quan lại tham nhũng, trọc phú bất lương, tay sai thực dân và nội tuyến Cộng Sản. Nhưng so với số các phần tử tinh hoa của xã hội, số người yêu nước, chuyên viên giỏi các loại, các nhân sĩ, trí thức, chiến sĩ quốc gia chân chính, thì những phần tử xấu xa nói trên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé.

Một số người cho rằng người miền Bắc di cư đã là chứng nhân lịch sử khiến đồng bào miền Nam hiểu rõ bản chất của chế độ Cộng Sản. Điều đó có thể đúng một phần nhỏ. Phần quan trọng hơn là chính vì thực tế những đường lối mà Cộng Sản thi hành tại miền Nam tại nông thôn từ khoảng năm 1961 trở đi. Từ đó họ đã thấy rằng chế độ Cộng Sản đi ngược lại quyền lợi và sự an hòa của nhân dân ta nhất là giai cấp nghèo khổ ở nông thôn.

Tôi và các bạn cùng lứa tuổi di cư vào ở miền Nam gần 40 năm tính đến năm 1990 qua di trú sang Hoa Kỳ. Tuy sinh ra trên đất Bắc nhưng chỉ ở Bắc dưới 20 năm trong đó mới biết chuyện đời được dăm ba năm. Vì thế chúng tôi có hai miền quê quán. Quê quán thứ nhất ở miền Bắc còn ở trong tim nhiều hơn. Quê quán thứ hai ở miền Nam sau ngày di cư năm 1954 mới thực sự chứa đựng nhiều vui buồn, yêu thương, giận dỗi, vinh quang và tủi nhục vì trải qua quãng đường đời dài 40 năm với biết bao nhiêu là kỷ niệm.

Lữ Tuấn

nguồn: dsdatlanh.blogspot.com

“NGƯỜI ĐỌC VÀ NGƯỜI VIẾT”

Giới thiệu sách mới

“NGƯỜI ĐỌC VÀ NGƯỜI VIẾT”, bộ sách 2 quyển của nhà văn Hai Trầu Lương Thư Trung, mỗi quyển trên 500 trang. Tác giả đã dành nhiều thời giờ nghiền ngẫm và nhận định vô số các tác phẩm của các văn thi sĩ hiện thời. Bộ sách không thể thiếu trong tủ sách những người yêu văn học.

CoverSachAnhHai3.jpgCoverSachAnhHai4.jpg

Gía mỗi quyển: $25 (bao luôn cước phí)

Chi phiếu gửi về:

Tina Luong

13906 Eldridge Garden Circle

HoustonTX 77083.

“Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác”, nghĩ về những câu chuyện Thiền

(Trích trang 283-290, quyển 2)

Quyển “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” vừa mới được chùa Viên Giác tại Đức ấn hành vào những ngày cuối tháng 12 năm 2012, là một quyển hồi ký khá đặc biệt được Hòa Thương Thích Như Điển và nhà thơ Trần Trung Đạo cùng viết chung với nhau về những kỷ niệm dưới mái chùa Viên Giác ở Hội An cách nay gần năm mươi năm mà nhị vị có một thời tuổi thơ đã sống và tu học nơi mái chùa thân yêu ấy.

Về phần mình, nói về nguyên nhân nào Ngài viết tập sách này, Hòa Thượng Thích Như Điển viết:“Bây giờ tôi đã ở vào tuổi 63 và sau 48 năm xuất gia học đạo, có một chút niềm vui và kỷ niệm nào xin viết lại để kẻo sau nầy bị quên hoặc không viết được nữa do tuổi già sức yếu hay do vô thường thì uổng lắm. Cho nên tôi đã cố gắng viết lên những cảm nghĩ của mình nơi có ngôi chùa xưa, vị Thầy cũ, cây Đa già đã che chở cho tôi suốt cả đoạn đường đời với gió mưa gian khổ mà chúng tôi mới thành tựu được như ngày hôm nay; nên mỗi khi kỷ niệm hiện về là tôi lại nhớ nhớ mong mong về những hình ảnh cũ kỷ xa xưa ấy. Quả thậtt nó không là chuyện giàu có, cao sang, danh vọng gì; nhưng chính từ chỗ bùn lấy nước đọng ấy tôi đã đi và đang đến. Đây chính là chất liệu dưỡng sinh rất vô cùng quý giá cho cuộc đời hành đạo của chính mình tại xứ trời tây nầy.”

Còn nhà thơ Trần Trung Đạo thì tâm sự: “Dưới mái cong của ngôi chùa cổ đó, những quyết định quan trọng có ảnh hưởng cho sự tồn vong của đạo pháp được thư thi, những giấc mơ nhỏ bé được hình thành và lớn lên. Thời gian trôi trên sông đời bất tận. Kẻ đến người đi. Sư phụ đã viên tịch. Hòa Thượng Thích Tâm Thanh đã viên tịch. Hòa Thượng Thích Như Điển hành đạo phương xa. Kẻ viết bài này còn xa hơn nữa. Nhưng tinh thần Viên Giác vẫn bàng bạc đó đây trong mỗi chân tường, trong từng viên ngói đỏ. Những gì của quá khứ đã ngủ yên với duyên và nghiệp trên một chặng đường, những gì sẽ xảy ra không ai biết. Chỉ có hôm nay là quan trọng nhất. Giữ lại những nét đẹp của hôm qua và làm đẹp hơn cho các thế hệ tương lai, chính là tinh thần của chùa Viên Giác.

Nhắc về nhà thơ Trần Trung Đạo, Hòa Thượng Thích Như Điển kể lại: “Trần Văn Nhơn lúc nhỏ ở chùa cùng tôi vào khoảng 1968. Nhơn không xuất gia, chỉ là một Phật Tử do Thầy tôi nhận nuôi để Nhơn đi học trung học ở Trường Trần Quý Cáp. Có lẽ Nhơn thua tôi chừng 3 tuổi. Thuở ấy anh ta rất rụt rè; nhưng được Thầy tôi thương nhiều, có lẽ vì là con mồ côi và học giỏi. Sau nầy Nhơn vào Đại Học Vạn Hạnh và Văn Khoa. Còn tôi thì đi Nhựt và qua Đức, đã mấy mươi năm rồi đâu có cơ hội gặp lại nhau và chừng mười năm về trước chúng tôi có gặp lại nhau được mấy tiếng đồng hồ ở Boston, USA. Kể từ đó chúng tôi có liên lạc đều. Những bài thơ, những đoản văn mang tên Trần Trung Đạo chính là Trần Văn Nhơn nầy. Khi Thầy tôi viên tịch Nhơn có liên lạc và năm nay chỉ tình cờ thôi, tôi và Nhơn lại rủ nhau viết chung một tác phẩm lấy tên là “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” để ra mắt độc giả tại Hoa Kỳ và Âu, Úc Châu thì quả là một chuyện “bất khả tư nghì” không có thể dùng lời nói nào để diễn tả nổi hết sự vui mừng nấy.”(trang 80)

Với hoàn cảnh mồ côi từ rất sớm ấy, như lời giới thiệu của Hòa Thượng Thích Như Điền, phần viết về mình, nhà thơ Trần Trung Đạo qua hơn 152 trang sách với giọng văn như trải tấm lòng, tác giả đã ghi lại những ngày tuổi thơ khốn khó của mình vô cùng tha thiết, cảm động. Trường hợp tuổi già như tôi, nhiều lúc tôi tự đặt mình vào hoàn cảnh ấy của tác giả lúc thiếu thời, thú thật tôi cũng không biết phải làm sao!

Nhắc đến Hòa Thượng Thích Như Điển lúc ở chùa Viên Giác hồi còn nhỏ, nhà thơ Trần Trung Đạo viết:“Một vị khác là Hòa Thượng Thích Như Điển mà tôi vẫn quen gọi là chú Điển, là người đặc biệt. Mặc dù chỉ sống chung với chú một thời gian ngắn nhưng qua cách tu học của chú, ngày đó tôi đã nghĩ chú Điển sẽ trở thành một bậc tăng tài và sẽ đóng góp được nhiều cho dân tộc và đạo pháp.

Chú Điển học tập ngoại điển ở Trung học Trần Quý Cáp và năm nào chú cũng được trao phần thưởng. Mặc dù ở chung nhau một phòng nhưng góc phòng của chú Điển là một thế giới riêng, ngăn nắp và cẩn trọng. Từ chiếc bàn chải đánh răng, chiếc mùng ngăn muỗi, chiếc thau rửa mặt, chiếc khăn lau, cục xà phòng đều được chú đặt vào một vị trí thích hợp. Năm tôi vào là thời gian chú học Thủ Lăng Nghiêm để chuẩn bị đi thọ giới Sa Di. Đêm nào chú cũng học rất khuya. Chú là chúng trưởng của chúng tôi nên trên bàn chú có chiếc đồng hồ báo thức…

Chú Điển rất ít nói nếu không muốn nói là hơi khó tánh. Chú ít khi đi ra ngoài, ngoại trừ thỉnh thoảng các bạn học cùng lớp từ Hội An ghé thăm chú. Chú rất thương chúng tôi nhưng cũng rất hay la rầy. Mỗi khi bọn tôi được gọi vào gặp chú điển là biết có chuyện chẳng lành sắp xảy ra, nếu không đánh chuông thiếu vài tiếng thì cũng tụng kinh trễ…
….
Chú Điển không hẳn là thông minh xuất chúng nhưng sự chuyên tâm của chú hiếm ai bì kịp. Đêm nào chú cũng thức học bài và học kinh rất khuya nhưng thức dậy cũng sớm hơn mọi người
.”(trang 328)

Với ghi nhận vừa dẫn, qua cuốn sách này, được biết Hòa Thượng Thích Như Điển nói và viết được sáu, bảy thứ tiếng. Ngài viết và dịch kinh sách bằng tiếng Việt, Hán, Nhật, Đức, Pháp và Anh ngữ đủ loại mà cuốn “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” này là cuốn thứ 60 của Ngài.

Với gần 350 trang sách, “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác”, ngoài những câu chuyện liên quan về một khoảng đời, nhị vị tác giả còn phác họa lại bức tranh xã hội miền Trung, đặc biệt ở Hội An- Đà Nẵng, những năm 1963-1968 qua “Mùa Pháp Nạn, “Tết Mậu Thân” và nhiều biến cố lịch sử khác . Riêng về tính trung thực, trong phần của Hòa Thượng Thích Như Điển, Ngài viết:“Hồi ký là những gì thuộc về cá nhân và dĩ nhiên đa phần người ta viết về những cái tốt chứ chẳng ai dám viết về cái xấu bao giờ; nhưng tôi hy vọng với đoản văn trên 160 trang này không chia thành chương sẽ trung thực trên 90% theo cái nhìn chủ quan của mình.”(trang 80)

Với 10% còn lại của sự trung thực này, Hòa Thượng bày tỏ: “Còn những phần thiếu hoặc dở xầu chắc chắn không thể tránh khỏi. Với thành phẩm như thế nầy mà chỉ viết tay trong vòng năm ngày trên núi đồi Đa Bảo tại Sydney Úc Đại Lợi nhân lần nhập thất thứ 3 của tôi và cái tuổi học trò thuở ấy cũng đã hơn 40 rồi không thể tài nào nhớ hết nổi.”(trang 80)

Về văn cách của nhà thơ Trần Trung Đạo, chúng tôi đã khá quen nhưng với văn phong của Hòa Thượng Thích Như Điển, dù tài học cùng kiến thức uyên bác của Ngài như vừa kể, nhưng qua tác phẩm này, lần đầu tôi được đọc văn của Ngài, tôi nhận thấy cách hành văn của Ngài rất giản dị, bình dân, rõ ràng mà thân ái, gần gũi. Có những câu chuyện mà Ngài kể lúc mới xuất gia, hoặc lúc Ngài hay tin từ mẫu mất trong chiến tranh khi Ngài mới 17 tuổi, mà Ngài viết như kể với người thân, thật cảm động… Rồi những câu chuyện ở chùa lúc đầu, cảnh làm nhang, cảnh mỗi ngày tưới nước cây dương trên cát nóng, cảnh làm đậu hủ để chùa bán kiếm tiền mua sắm mọi vật dụng như nhang đèn cho chùa , cảnh ăn chay, cảnh học hành hoặc cảnh chầm nón lá lúc còn nhỏ ở nhà với các anh chị …; câu chuyện nào cũng như câu chuyện nào, qua những lời Ngài ghi rất rõ ràng và rất đơn giản ấy giống như những bài Pháp của một bậc cao tăng nhắn nhủ cùng các môn đệ của Ngài , nếu không muốn nói đó chính là những câu chuyện Thiền vô cùng ý nghĩa …

Chẳng hạn trong chương về “Thầy Tôi”, Ngài viết: “Trong nhà Thiền có cái quan niệm “ở đây” và “bây giờ” rất là quan trọng và cần thiết. Nếu mình không hiểu mình là ai và cái giá trị mình đang hiện có thì quả thật là chẳng tỉnh thức chút nào. Do đó sự tỉnh thức đối với Thiền không phải là lúc chết hay sau khi chết, mà lúc đang còn sống là vấn đề quan trọng.”(trang 88)

Một ví dụ khác, khi nói về cái tâm, Ngài cũng giác-đát theo hướng Thiền: “Không có bất cứ cái gì có thể tồn tại trong đời nầy ngoại trừ cái tâm. Tâm ấy dẫn đầu các pháp, tâm ấy tạo ra thiện ác. Do vậy tu tâm là quan trọng để chúng ta làm sao thoát khỏi vòng sinh tử, tử sinh nầy mới là điều đáng quý. Còn bao nhiêu Vua, Quan, Công, Hầu, Khanh,Tướng, Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh v.v… cuối cùng rồi cũng đi vào chỗ không to tướng mà thôi.”(trang 169)

Còn nhiều lắm những bài Pháp ngắn gọn và cô đọng, súc tích như thế với nhiều chủ đề khác nhau như về “có và không”, về “hoàn tướng, vãng tướng”, về “khen và chê”, về “duyên và nghiệp” v.v…

Về phần của tác giả Trần Trung Đạo, vì từ lúc còn nhỏ đã ở chùa, tuy không xuất gia, nhưng cậu bé ấy vốn là một Phật Tử, sống dưới mái chùa Viên Giác, có Thầy, có bạn, có kinh, có kệ, có công phu, có gõ mõ và làm tất cả những công việc giống như một người xuất gia đang làm, nên cái không khí nơi chốn thiền môn ấy dần dần thấm vào tâm hồn cùng trí não của đứa bé 13 tuổi ấy và cứ thế sự thẩm thấu ấy nó thấm dần, thấm dần như nước thấm vào từng thớ đất và khi có dịp ngồi ghi lại những ngày dưới mái chùa Viên Giác ngày nào, Trần Trung Đạo cũng viết ra những trang sách đầy chất Thiền ấy.

Chẳng hạn anh kể lại vai trò của Bà Chín ở chùa Viên Giác cùng thái độ của bà không ưa anh vì bà nhìn vào cái hình tướng bề ngoài của cậu bé mồ côi ngây thơ trong trắng ấy nhưng tóc để dài và đội cái mũ lính mà người ta cho khi lần đầu bước vào cổng chùa, trong khi Ngài Hòa Thượng trụ trì chùa Viên Giác lại rất thương anh như Hòa Thượng Thích Như Điển kể, chúng ta mới thấy đây có hai điều cần lưu ý. Thứ nhất, vì nhìn người từ cách ăn mặc để thương hoặc ghét một người, mà người ấy lại là một đứa trẻ mồ côi, lại càng không đúng lắm, nếu không muốn nó là hơi hẹp hòi. Thứ hai, là qua câu chuyện ấy, Bà Chín ghét, Thầy Trụ Trì thì thương, quả là dưới mái chùa cũng có thiện và không thiện trong chùa. Nhưng có lẽ đoạn đối đáp giữa tác giả và bà cô ruột vừa cảm động vô bờ về một cảnh đời, vừa chan chứa thiền vị rất thâm trầm:

Vài tháng một lần tôi được phép về Đà Nẵng thăm cô tôi, người gần gũi nhất còn lại của tôi lúc bấy giờ. Cô tôi bịnh thường xuyên. Cái chết của gia đình người chị họ tôi, con thứ bảy của cô, và rồi cái chết của cha tôi, em trai út của cô, đã làm căn bịnh của cô ngày thêm trầm trọng….Cô tôi có vẻ vui hơn trong những lúc tôi về. Biết tôi suốt tháng ăn chay nên dù rất nghèo, cô cũng ráng mua sắm thêm chút cá thịt cho bữa ăn. Cô thức khuya hơn, dặn dò tôi hằng trăm việc. Cố gắng nhịn nhục. Cố gắng chịu đựng. Cố gắng học hành. Cô hỏi thăm từng việc lớn nhỏ trong chùa tôi đang tá túc.

– Bà Chín có còn chửi mắng con không?
– Không, bà Chín chết rồi.
– Sao vậy?
– Xe tông chết.
– Có ai đánh con không?
– Không.
– Có ai bắt con làm chuyện gì nặng nề không?
– Không.
– Thầy có biểu con đi tu không?
– Có, nhưng không phải thầy Viên Giác.
– Thế ai biểu con?
– Thầy Giải Nguyên.
– Thầy Giải Nguyên là ai?
– Đệ tử của thầy Viên Giác.
– Con trả lời thầy Giải Nguyên sao?
– Con nói con không muốn đi tu.
– Thầy nói gì thêm?
– Thầy nói đi tu sẽ được các thầy lo lắng ăn học, mai mốt lớn sẽ được đi Huề hay Sài Gòn học thêm. Không đi tu chẳng lẽ ở trong chùa này hoài hay sao. Chùa chỉ dành cho người đi tu thôi, đâu có thể nuôi con hoài như vậy được.
– Thế con trả lời sao?
– Con không biết trả lời sao vì không biết nếu thầy đuổi sẽ đi đâu, nhưng con nhất định không đi tu.
– Thầy hay hỏi thế không hay chỉ hỏi một lần?
– Nhiều lần nhưng tháng này không hỏi nữa vì con đã bạch với thầy là con nhất định không đi tu.
– Con đừng bỏ đi. Nếu thầy đuổi thì về Đà Nẵng ở với cô.
– Nhưng ở Đà Nẵng với cô thì chỉ đi bán cà rem hay đánh giày chứ làm gì có trường công để học.
– Ừ thì lúc đó hãy tính.
– Con phải đi học.
– Cô biết, nhưng lúc đó hãy tính, giờ còn đi học được thì phải lo học.
– Dạ.

Hai cô cháu tôi thường ngồi như thế rất lâu trong căn nhà nghèo nàn phía trong Ngã Ba Huế. Một đứa bé bất hạnh ngồi bên người đàn bà bất hạnh trong một đất nước bất hạnh. Thỉnh thoảng cô đưa bàn tay gầy guộc cầm lấy tay tôi sợ rằng đứa cháu trai của cô sẽ khóc. Tôi không khóc. Cô không khóc. Không có hay vì không ai còn giọt nước mắt nào để nhỏ trong những đêm tôi về thăm cô. Nếu có chăng chỉ là những giọt nước mưa từ buổi chiều còn đọng trên mái tranh nghèo, như những nốt nhạc buồn, gõ từng nhịp đều vào chiếc lu hứng nước ngoài sân.
(trang 233-234)

Tóm lại, có thể nói “Dưới Bóng Đa Chúa Viên Giác” bàng bạc trên từng trang sách những câu chuyện Thiền như vừa kể, nhiều lắm! Ở đây tôi không dám so sánh với cuốn “Mỗi Ngày Một Câu Chuyện Thiền” của tác giả Akizuki Ryumin qua những câu chuyện Thiền ngày xưa bên Nhật, bên Trung Hoa , nhưng chắc chắn những câu chuyện Thiền trong “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” này rất gần gũi, rất bổ ích nếu chúng ta có dịp đọc nó !

Lương Thư Trung
Houston , ngày 10 tháng 01 năm 2013.

Ngô Thế Vinh: Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa

Ngô Thế Vinh: Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa

Trịnh Y Thư

1.

Văn học Việt Nam truyền thống không có bộ môn tiểu sử. Hay nói cho rõ hơn, không có những công trình dài hơi, thấu đáo, viết về chẳng những sự nghiệp mà cả thân thế đời sống riêng tư của các văn nghệ sĩ làm nên văn học sử nước nhà. Bên trời Tây, họ có truyền thồng này ngay từ thời Trung đại. Nhờ thế, qua Thayer, chúng ta biết những “Người tình bất tử” của Beethoven chẳng qua chỉ là sản phẩm tưởng tượng nằm bên trong khối óc âm nhạc kì vĩ nhất của nhân loại; và nhờ nữ sĩ Elizabeth Gaskell viết cuốn tiểu sử Charlotte Brontë chúng ta biết nhân vật Rochester trong cuốn tiểu thuyết kiệt tác Jane Eyre được xây dựng từ một hình tượng có thật, đó chính là ông thầy dạy học Charlotte thời bà còn là cô gái trẻ du học bên xứ Bỉ và cô nữ sinh trong trắng đem lòng yêu thầy mình, một người đàn ông đã có vợ. Hiểu biết tường tận hơn về con người cá thể của tác giả, các nhà nghiên cứu hai ba trăm năm sau có thêm trong tay cơ sở quy chiếu để đọc văn bản từ một góc độ độc lập nào đó, tâm lí học chẳng hạn, và rất có thể có cái nhìn phân tích thú vị và trung thực hơn về tác phẩm.

Trong khi đó bên ta, lúc hiệu khảo bộ Truyện Kiều, học giả Trần Trọng Kim chỉ có thể đưa ra một tiểu sử rất sơ lược về cụ Nguyễn Du, thậm chí cụ Nguyễn sinh tháng nào, cụ Trần cũng lúng túng, không biết tra cứu nơi đâu! Rồi đến thân thế nữ sĩ Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương, cách đây khá lâu, chính xác là năm 1958, trên tạp chí Sáng Tạo, ông Lữ Hồ còn tỏ ý nghi hoặc về một bà Hồ Xuân Hương có thật!

Bước sang thời hiện đại, tình trạng thiếu sót ấy phần nào được bổ khuyết bởi những tác phẩm được viết dưới dạng “chân dung,” một tập hợp những phác thảo đại cương, thay vì một nghiên cứu chuyên sâu, về nhiều văn nghệ sĩ, mà cuốn mới nhất trình làng năm 2017 này chính là tuyển tập nhan đề Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa (CDVHNT&VH) [Viet Ecology Press xuất bản] do nhà văn Ngô Thế Vinh biên soạn.

Nhà văn Ngô Thế Vinh sinh năm 1941 tại Thanh Hóa, theo học ngành y tại Sài Gòn. Thời gian học ông từng giữ chức chủ bút tờ Tình Thương, cơ quan tranh đấu văn hóa xã hội của sinh viên y khoa thời ấy. Tốt nghiệp năm 1968, ông gia nhập quân y, phục vụ tại Lực lượng Đặc biệt và giữ chức vụ y sĩ trưởng Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù. Nhưng Ngô Thế Vinh trước đó đã được biết đến như một nhà văn. Những tác phẩm của ông trong giai đoạn này gồm có các tiểu thuyết: Mây Bão (1963); Bóng Đêm (1964); Gió Mùa (1965); và Vòng Đai Xanh (1970). (Cuốn Vòng Đai Xanh được trao giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1971 bộ môn Văn.) Tuy vậy, trong vòng hơn 20 năm qua – với hai tác phẩm quan trọng gây tiếng vang không ít, Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch, cộng thêm hàng chục tiểu luận biên khảo, nghiên cứu giá trị về những biến đổi nguy hại của hệ sinh thái sông Mekong – ông mặc nhiên được xem như một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này, và một cách ưu ái hơn, con chim “báo bão” về mối đe dọa thường xuyên và ghê rợn từ phương Bắc đối với sự sinh tồn của đất nước và dân tộc. Để thực hiện các bộ sách về sông Mekong ông đã lặn lội từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc xuống các quốc gia Lào, Thái Lan, Cam Bốt và đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam. Qua các chuyến đi quan sát thực địa, ông đã tận mắt chứng kiến sự suy thoái bất khả đảo nghịch của con sông Mekong, “hậu quả dây chuyền của những bước khai thác tự hủy, tàn phá sinh cảnh, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường,” do chính sách phát triển kinh tế bất chấp hậu quả tai hại ra sao của nhà cầm quyền Trung Quốc, mà Việt Nam là quốc gia lãnh chịu hậu quả nặng nề và thiệt thòi nhất.

Tuy nhiên, tác phẩm nhà văn Ngô Thế Vinh xuất bản năm 2017 lại là một bất ngờ thú vị, một cuốn sách vẽ “chân dung” bằng chữ nghĩa các văn nghệ sĩ và các nhà văn hóa trong mắt nhìn của ông. Điều này cho thấy sự đa dạng, đa năng và tầm cỡ trong vóc dáng nhà văn của ông. Động lực nào như một duyên khởi đã thúc đẩy ông thu nhặt không biết bao nhiêu nguồn tư liệu để đặt bút thực hiện tác phẩm dày gần 500 trang ấy? Người ta có thể thắc mắc như vậy. Muốn biết, chúng ta hãy nghe ông tâm sự với nhà văn Phùng Nguyễn:

“Loạt bài chân dung văn nghệ sĩ đến với tôi như một sự ‘tình cờ.’ Khởi đi từ một bài viết ‘Nhớ về người bạn Tấm Cám Nghiêu Đề’; họa sĩ Nghiêu Đề là một cố tri từ tuổi rất thanh xuân, sau bài viết đó, tôi nhận được feedback từ mấy người bạn cũ của Nghiêu Đề; trong số đó có Đinh Cường, tỏ ra rất tâm đắc với bài viết và đã đưa ra nhận định: không thể viết về Nghiêu Đề hay hơn Ngô Thế Vinh nên Đinh Cường có đề nghị sẽ đưa vào cuốn sách Đi Vào Cõi Tạo Hình II sắp xuất bản viết về những họa sĩ cùng thời từ 1957 đến 1966, năm thành lập Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam. Với tôi, thì đề nghị của Đinh Cường là một niềm vui. Rồi phải kể tới những khích lệ của các bạn văn như anh Phạm Phú Minh Diễn Đàn Thế Kỷ, anh Phùng Nguyễn chủ biên Da Màu, nhà thơ Thành Tôn…”

Dự định khởi đầu là một bài viết về cố tri, nhưng rồi không tránh được, chữ của Ngô Thế Vinh, “như một flashback, có thêm những khúc phim trắng đen ngắn của hồi tưởng rất chung và cả rất riêng tư, khá rời rạc đổ tràn theo những trang viết.”

Cứ thế đổ tràn, cứ thế tuôn ra ào ạt để ngày hôm nay độc giả chúng ta có cuốn sách cầm trên tay với 18 chân dung gồm 13 nhà văn, nhà thơ, nhà báo (Mặc Đỗ, Võ Phiến, Mai Thảo, Linh Bảo, Nhật Tiến, Nguyễn Đình Toàn, Dương Nghiễm Mậu, Như Phong Lê Văn Tiến, Thanh Tâm Tuyền, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Xuân Hoàng, Cao Xuân Huy, Phùng Nguyễn); 3 họa sĩ (Nghiêu Đề, Đinh Cường, Nguyên Khai); và 2 nhà văn hóa, hai trí thức khoa bảng đáng kính bậc nhất của Việt Nam: Bác sĩ y khoa Phạm Biểu Tâm và giáo sư, nhà sinh học thực vật Phạm Hoàng Hộ.

Sự chọn lựa các chân dung đưa vào sách hiển nhiên là chủ quan bởi danh sách văn nghệ sĩ và nhà văn hóa hàng đầu của dân tộc trong vòng hơn nửa thế kỉ qua dài hơn thế nhiều. Chủ quan bởi yếu tố quan trọng nhất vẫn là mối quan hệ thân thiết giữa tác giả và những nhân vật được chọn. Ngô Thế Vinh bộc bạch điều này cũng với nhà văn Phùng Nguyễn: “… nhưng yếu tố quan trọng nhất là do tôi đã có mối liên hệ quen biết và thân thiết trước đó; và cũng từ đó tôi đã có thể dễ dàng tiếp cận với nguồn tư liệu cá nhân và cả những điều khá riêng tư.”

(Tuy vậy do quảng giao và đam mê văn chương ngay từ thuở còn là sinh viên y khoa, bàng bạc trong tác phẩm, tác giả cũng nhắc đến rất nhiều văn nghệ sĩ khác, có thể nói là không thiếu một ai, trong sinh hoạt văn nghệ miền Nam thời trước 1975 và sau đó ở hải ngoại. Ngoài những nhân vật “chính diện”, tác giả cũng không ngần ngại nhắc đến các thành phần “phản diện” như Vũ Hạnh, Phạm Xuân Ẩn, v.v…)

2.

Mười sáu chân dung văn học nghệ thuật và hai chân dung văn hóa, qua giọng văn đầy thân ái và nhân hậu của nhà văn Ngô Thế Vinh, là một công trình biên soạn phong phú tư liệu, một tập hợp quý hiếm quy tụ những khuôn mặt văn nghệ và văn hóa tiêu biểu của một thời đại vốn được xem là nhiễu nhương nhất của dân tộc, suốt nửa sau thế kỉ XX cho đến nay. Ngô Thế Vinh không khoác áo nhà phê bình, ông không làm kẻ đứng trên bục giảng nghiêm khắc phê phán tác phẩm hay sự nghiệp mỗi văn nghệ sĩ được nhắc đến. Ông không làm thế, bởi họ chẳng phải ai xa lạ mà chính là những bằng hữu văn nghệ, những vóc dáng tài năng, gần như trọn đời người, đã cùng ông dấn thân trên những chặng đường trắc trở nhất, trong những điều kiện ngặt nghèo nhất, để xây dựng một nền văn nghệ nhân bản đích thực và có giá trị nghệ thuật cao cho dân tộc. Ông mượn tác phẩm của họ như cái cớ để ngồi xuống nhẩn nha lần giở từng trang kí ức bộn bề, len lỏi vào từng ngõ ngách tâm hồn dưới lớp bụi dày thời gian, cố tìm lại những cung bậc hoài niệm mù tăm để làm nên những trang viết thật đẹp, thật ấm áp tình bằng hữu, thật chan chứa tình người. Tất cả những gì ông viết trong cuốn sách gần như chỉ là những nét phác họa đại cương về con người, khung cảnh sống, hoàn cảnh sáng tạo của những văn nghệ sĩ, mà chính ông cũng là một thành viên. Đan xen vào đấy là những không gian và thời gian kỉ niệm, đầy ắp kỉ niệm, kỉ niệm nào cũng được nâng niu, trân quý như món bảo vật khó tìm. Tuy thế, đọc kĩ hơn, chúng ta có thể cảm nhận ra một điều, là bên dưới lớp sắc màu tương đối hiền hòa, dịu êm ấy là niềm xác tín chắc nịch, một cái nhìn quả quyết cộng thêm chút tự hào, về một nền văn nghệ, văn hóa miền Nam Việt Nam tự do thời kì 54-75 và, trong chừng mực nào đó, vẫn tiếp nối ở hải ngoại, mà sự đột phá về các mặt tư tưởng, nghệ thuật, nhân sinh, tưởng như chưa thời nào qua mặt nổi.

3.

Trong số 18 chân dung, chỉ hai người thuộc thế hệ người viết sau 1975 được đề cập, nhà văn Cao Xuân Huy và nhà văn Phùng Nguyễn. Tuy vậy, dù trước hay sau, tất cả đều kinh qua thời đoạn lịch sử khốc liệt của dân tộc vào nửa sau thế kỉ XX. Bởi thế, dù muốn hay không, lịch sử hiện hữu khắp nơi và bám chặt lên đời sống mọi người. Sự hiện hữu của con người và thế giới xung quanh liên kết, thắt buộc vào nhau như con ốc sên đeo dính cái vỏ của nó. Thế giới là một chiều kích bất khả cách li của con người, thế giới biến đổi, cái hiện tiền oan khiên cũng biến đổi theo. Thế giới chúng ta đang hiện hữu có bản chất lịch sử, đời sống của tất cả chúng ta mở ra theo chiều thời gian đánh dấu bằng những cột mốc biến cố và ngày tháng (30/4/1975 chẳng hạn). Cuốn CDVHNT&VH của nhà văn Ngô Thế Vinh không đi trệch ra ngoài định đề ấy, nhưng nó hoàn toàn bác bỏ mọi giá trị sử học định kiến mà chỉ chú tâm đến những hồi đoạn trọng đại ở mặt nhân chủng nhưng bị quên lãng, không chút trọng lượng đối với sử gia hay nhà chính trị học.

Lịch sử ở đây hiện lên với bản di chúc viết tay của Nhất Linh kèm theo câu nói ngắn gọn “Nhờ Vinh giữ, khi cần Vinh đưa lại” giữa hai người sinh viên trước cửa cư xá đại học. Lịch sử hiện lên trong cuộc chia tay cảm động giữa cơn đại hồng thủy của nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến với gia đình Đỗ Thúc Vịnh trên đường Tự Đức. Lịch sử hiện lên “sau khi lệnh đầu hàng được phát đi, có thể thấy từ mấy tầng lầu cao là một cơn mưa confetti, chỉ một màu trắng của những mảnh vụn giấy tờ tùy thân của quân cán chính cần được xé hủy trước khi cộng quân hoàn toàn kiểm soát Sài Gòn.” Lịch sử hiện lên “những giày nón quân phục được cởi bỏ vội vàng vứt tả tơi trên đường phố.” Lịch sử hiện lên khi nhà văn Lê Tất Điều trông thấy nhà văn Võ Phiến ứa nước mắt khóc trên con tàu Challenger đậu ngoài khơi trong chuyến di tản rời bỏ quê hương không ngày trở lại. Lịch sử hiện lên khi nhà văn Phạm Việt Châu tuẫn tiết tại tư gia sau khi Cộng sản hoàn toàn chiếm Miền Nam. Lịch sử hiện lên với nỗi đau không ai biết của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền vì mất tích đứa con trai trên đường vượt biển, và suốt thời gian sau đó ông “đã không ngừng khắc khoải trong vô vọng lần tìm tin tức và dấu vết đứa con mất tích ấy.” Lịch sử hiện lên “những bao gạo in nhãn ‘Đại Mễ’ đầy mối mọt viện trợ của Trung Quốc được đưa vào nuôi tù cải tạo.” Lịch sử hiện lên lúc căn nhà của bác sĩ y khoa Phạm Biểu Tâm – một trí thức khoa bảng suốt đời tận tụy với bệnh nhân và nền y học nước nhà – trên đường Ngô Thời Nhiệm ít nhất hai lần bị công an thành phố xông vào lục xét. Lịch sử hiện lên hôm “tình cờ thấy thầy Phạm Biểu Tâm đang đi bộ rảo bước trên khúc đường Trương Minh Giảng gần Tòa Tổng Giám Mục nơi góc đường Phan Đình Phùng. Dừng chiếc xe đạp cũ kĩ bên lề đường, tôi chạy tới chào thầy. Thầy trò gặp nhau không nói gì nhiều nhưng tôi thì đọc được những xúc cảm trong ánh mắt của Thầy. Rất ngắn ngủi khi chia tay thầy chỉ nhắc tôi hai điều: Vinh nên đi chụp một hình phổi và ra ngoài rồi cũng ráng ăn thêm một chút thịt.” Lịch sử hiện lên lúc nhà văn Nhật Tiến cùng hai nhà báo Dương Phục và Vũ Thanh Thủy “viết từ trại tị nạn và gửi ngay ra ngoài những bản cáo trạng về thảm cảnh trên Biển Đông, đã làm rúng động lương tâm của thế giới và cũng là bước đầu hình thành Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển hoạt động nhiều năm về sau này.”

Lịch sử ấy được nhà thơ Thanh Tâm Tuyền gói ghém một cách tuyệt hảo trong 6 câu thơ viết năm 1988:

Như chim chao liệng chưa hừng đông
trên hoang phế cuối đêm thảm họa
buột tiếng kêu vô vọng thinh không.

Như con nước cuồng lưu mùa lũ
Trắng xóa bão gông mù mịt nguồn
Trôi giạt bến bờ đất khốn đọa.

Lịch sử ấy trong men say chiến thắng lên cơn đồng thiếp giở trò cưỡng bức vô-văn-hóa cực kì man rợ. Đó là chiến dịch đốt sách.

Đốt sách với mục đích triệt tiêu mọi di sản văn hóa của một dân tộc hay một sắc dân – phần nhiều chỉ xảy ra vào thời Cổ/Trung đại – là hành vi man rợ chưa từng thấy trong lịch sử loài người, như: vụ đốt sách Nho dưới triều Tần Thủy Hoàng Đế bên Trung Quốc; vụ đốt thư viện Alexandria xứ Ai Cập thời đế quốc La Mã; vụ đốt thư viện thành Baghdad năm 1258; vụ đốt dược thư của các sắc dân bản xứ Mỹ châu Aztec, Maya sau khi thực dân Tây Ban Nha chinh phục Tân Thế giới. Những vụ đốt sách như thế trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại xảy ra không nhiều, bởi ngay cả ở thời Cổ đại người ta cũng đã mơ hồ cảm thấy đốt sách là hành vi tồi tệ đáng khinh bỉ nhất, nó chỉ để lại vết nhơ khôn tẩy xóa cho hậu thế và bị xem là bề trái đen tối ngạo mạn của cái-gọi-là văn minh.

Thế kỉ XX chứng kiến hai vụ đốt sách: một, Quốc xã Đức thập niên 30; hai, Cộng sản Việt Nam thập niên 70. Vụ thứ nhất, cả thế giới rùm beng phản đối, kết án, để rồi sau đó xúm lại đập tan tành Hitler và bè lũ. Vụ thứ hai, chẳng ai thèm mở miệng, một phản ứng tiêu cực chiếu lệ cũng không, và những kẻ đốt sách cho đến ngày nay vẫn nhởn nhơ, trâng tráo.

Là nhà văn lại phải chứng kiến cái trò phản-văn-hóa man rợ đó, Ngô Thế Vinh đau xót là phải. Ông nhắc đến nhiều lần trong cuốn CDVHNT&VH. Hãy nghe ông miêu tả cảnh đốt sách và biểu lộ nỗi bất bình của mình:

“Những ngày sau 30/4/1975, hai đứa con Vũ Hạnh trong bộ bà ba đen, tay cuốn băng đỏ, tới tòa báo Bách Khoa cũng là nơi cư ngụ của anh chị Lê Ngộ Châu. Trước khách lạ, đứa con gái nói giọng hãnh tiến: ‘Tụi con mới từ Hóc Môn về, cả đêm qua đi kích tới sáng.’ Người dân lành nào vô phước đi lạc trên đường ruộng đêm đó có thể bị tụi nó coi là ngụy. Những tên nằm vùng cùng với đám ‘cách mạng 30’ này chỉ như phó bản đám Hồng Vệ binh của Mao nhưng lại sau cả thập niên. Cũng chính những đám này là thành phần khích động chủ lực trong chiến dịch lùng và diệt tàn dư văn hóa Mỹ-Ngụy, chúng giẫm đạp những cuốn sách, nổi lửa đốt từng chồng sách rồi tới cả những kho sách. Những cuốn sách mà đa phần chúng chưa hề đọc, trong đó có cả một tủ sách Học Làm Người. Sách của những ‘tên biệt kích văn nghệ’ còn được trưng bày trong tòa nhà triển lãm Tội ác Mỹ Ngụy cùng với vũ khí chiến tranh và chuồng cọp, dĩ nhiên có sách của Dương Nghiễm Mậu, có cả cuốn Vòng Đai Xanh của người viết.”

Hoặc ở một đoạn khác, ít phẫn nộ hơn nhưng đau xót không kém, trong bài viết về nhà văn Nguyễn Đình Toàn:

“Sách Nguyễn Đình Toàn được xếp vào loại văn hóa đồi trụy sau 1975; nên tất cả bị tịch thu và trở thành Tro Than, như tên một tác phẩm định mệnh Nguyễn Đình Toàn trong chiến dịch đốt sách lan rộng khắp Miền Nam thời bấy giờ.”

“Chúng ta cần có một lịch sử ở dạng toàn nguyên, để không rơi ngã trở lại vào nó mà để vượt thoát nó.” Triết gia Tây Ban Nha José Ortega Y Gasset có lần nói thế. Cái lịch sử nhân chủng suốt trăm năm qua của chúng ta có quá nhiều lỗ hổng, lỗ hổng nào cũng to đùng như động Phong Nha như nhà văn Ngô Thế Vinh trình bày. Làm sao có được một lịch sử toàn nguyên trong khi thay vì khâu vá những lỗ hổng cho lành lặn chúng ta lại phá ruỗng cho nó rách toác thêm? Ông Ortega Y Gasset nếu còn sống chắc phải lắc đầu ngán ngẩm với lũ chúng ta thôi. Và nhà văn Ngô Thế Vinh trước cuộc bể dâu ấy chỉ biết ngậm ngùi chua xót, và từ chua xót biến thành phẫn nộ:

“Không phải chỉ có oan nghiệt giam cầm hủy hoại những thân xác, họ còn giết chết sức sáng tạo của văn nghệ sĩ trong khoảng thời gian sung mãn nhất. Một nỗ lực hủy diệt cả một nền văn hóa đến tận gốc: trước lịch sử, ai phải nhận lãnh trách nhiệm cho những tội ác thiên thu ấy?”

4.

Ngô Thế Vinh không tuân thủ một công thức nhất định nào ở các bài viết trong bộ sách của ông. Ông viết tùy hứng và có lẽ cũng tùy cảm quan và quan hệ riêng tư giữa ông và các chân dung. Nhờ thế, chúng ta không phải đọc một bản báo cáo dài lê thê các lí lịch cá nhân đơn điệu chán ngắt. Ngược lại, ở mỗi chân dung ông đều có một cách xử lí riêng, hợp tình và thú vị. Mỗi chân dung là một câu chuyện kể với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, lúc sôi nổi, lúc u tình, lúc chua xót, lúc phẫn nộ, lúc cười mỉm nhưng cũng có lúc ứa nước mắt. Qua ngòi bút linh động nhưng chân thực của Ngô Thế Vinh, những chân dung ấy bỗng nhiên “sáng” hơn, gần gũi người đọc chúng ta hơn, và ở chừng mực nào đó, chúng ta “hiểu” tác phẩm của họ hơn.

Ông nói khá nhiều về thân thế cũng như sự nghiệp văn học của nhà văn Mặc Đỗ, ông không giấu giếm lòng tâm đắc và tâm phục của mình đối với nhà văn đàn anh trong nhóm Quan Điểm lừng lẫy của thời kì 20 năm văn học miền Nam này. Mỗi truyện ngắn của Mặc Đỗ được ông xem như một “viên ngọc của chuỗi ngọc” và “ngôn ngữ thì giàu hình ảnh nhưng cô đọng và trau chuốt.”

Ông cũng yêu thích những truyện dài, truyện ngắn của nhà văn Linh Bảo như các cuốn Gió Bấc, Những Đêm Mưa, Tàu Ngựa Cũ. Theo ông thì “ngòi bút của Linh Bảo thông minh sắc sảo, giễu cợt lật ra những mặt trái của cuộc sống, một cách tàn nhẫn với giọng nghịch ngợm tinh quái bất cần đời nhưng cũng thật là chua chát. Người phụ nữ trong tác phẩm Linh Bảo tuy cứng cỏi, chịu đựng nhưng vẫn luôn luôn là nạn nhân đáng thương của những hoàn cảnh.” Ông còn đi xa hơn khi đưa ra nhận định nữ sĩ Linh Bảo qua tác phẩm đã sớm là ngòi bút đấu tranh cho nữ quyền, một nhận định đáng lưu ý cho những ai có tham vọng nghiên cứu về khuynh hướng Nữ quyền trong sáng tác văn học của các nhà văn nữ Nam Việt Nam thời kì 54-75.

Giấc Ngủ Chập Chờn, một truyện dài của nhà văn Nhật Tiến viết về ấp Vĩnh Hựu, một ngôi làng xa xôi tan nát do hoàn cảnh một vùng xôi đậu ban ngày Quốc Gia ban đêm Việt Cộng, cũng được ông nhắc đến với nỗi niềm cảm hoài u uất:

“… dân chúng trong làng sống dở chết dở giữa hai lằn đạn với oán thù chồng chất vây bủa giăng mắc họ ngày đêm. Đám thanh niên và cả con nít ở cái làng đó vốn thân thiết với nhau nhưng đến lúc cuộc chiến tràn về thì hàng xóm giết nhau, anh em cũng giết nhau, gây ra bao thảm cảnh khổ đau.”

Ngô Thế Vinh cũng nói thêm cuốn sách này của nhà văn Nhật Tiến đã “nói lên một sự thực là không có phong trào quần chúng bất mãn chế độ mà nổi dậy trong cái-gọi-là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam,” và chính vì thế cuốn sách cũng như tác giả của nó đã bị tập đoàn Hà Nội kết án là cực kì phản động, một tội danh one-size-fit-all cho tất cả những kẻ nào không đồng ý với đường lối chính trị của họ.

Ngô Thế Vinh tự bản chất có lẽ là một nhà văn xã hội ưu thời mẫn thế, những tác phẩm của ông trong suốt quá trình viết chứng tỏ như thế, và chẳng có gì ngạc nhiên khi ông tỏ ra đồng cảm với những sáng tác như cuốn Giấc Ngủ Chập Chờn hay các cuốn Áo Mơ Phai, Đồng Cỏ của nhà văn Nguyễn Đình Toàn:

“Áo Mơ Phai là dự cảm về một thành phố Hà Nội sắp mất, Đồng Cỏ là một tác phẩm khác dự báo một Sài Gòn sắp mất. Nguyễn Đình Toàn mẫn cảm với thay đổi thời tiết cũng như với những biến chuyển của lịch sử. Dự cảm hay trực giác của nhà văn đi trước tấn thảm kịch, đi trước những đổ vỡ chia ly đã mang tính tiên tri.”

Ông đặc biệt tâm phục công trình biên soạn bộ sách 20 Năm Văn Học Miền Nam của nhà văn Võ Phiến. Đây là một công trình đồ sộ mà nhà văn Võ Phiến đã dốc không biết bao nhiêu công sức thực hiện. Khi bộ sách ra mắt quần chúng hải ngoại, nó bị một thiểu số rất ít phê phán là thiên kiến (gạt bỏ một số chân dung quan trọng), chật hẹp trong quan điểm về thơ (thiếu sót những nhà thơ cách tân), và thiếu tính phê bình nghiêm chỉnh (văn phong đôi lúc giễu cợt, châm biếm), v.v… Tuy vậy, đại đa số, giới cầm bút cũng như độc giả, đều nhiệt tình đón nhận bộ sách như một công trình giá trị to tát và xứng đáng, không phải ai cũng làm được. Ngô Thế Vinh thuộc đa số. Ông nêu ý kiến mình về cuộc tranh cãi ấy:

“Công trình nghiên cứu của Võ Phiến cần được đánh giá đúng vào giai đoạn
thập niên đầu ngay sau 1975 với hoàn cảnh ra đời của nó: khi mà trong nước
có cả một sách lược hủy diệt toàn diện, xóa sổ nền văn học miền Nam 20
năm ấy, công trình của Võ Phiến như một nỗ lực sưu tập và cứu vãn/rescue
mission, nên xem như một khởi đầu đáng được trân trọng. Ai cũng hiểu bộ sách Văn Học Miền Nam “không chuyên nghiệp” của Võ Phiến sẽ không bao giờ là bộ sách phê bình văn học duy nhất hay cuối cùng, nhưng đó là một bước tạo thuận /facilitation khởi đầu, một roadmap dẫn tới cả một khối tài liệu đồ sộ để tham khảo, nó như một giàn phóng cho những công trình hoàn chỉnh kế tiếp. Đây chính là phần trách nhiệm và nghiệp vụ của giới phê bình chuyên nghiệp, họ cần có hùng tâm để “bắt đầu nghiêm chỉnh” việc đánh giá nền văn học 1954-75 bằng những tác phẩm xứng đáng thay vì cứ mãi xoáy nhìn vào “nửa phần vơi” của bộ sách Võ Phiến. Một câu hỏi được đặt ra: Ai trong chúng ta có thể “bắt đầu nghiêm chỉnh” một công trình nghiên cứu như vậy? Một câu hỏi tiếp theo: Ai sẽ thừa kế kho tư liệu phong phú mà anh Võ Phiến có được trước khi rơi vào quên lãng?”

Câu trả lời cho cả hai câu hỏi của nhà văn Ngô Thế Vinh chỉ có thể là một tiếng “Chưa”. Chưa ai làm được dù 20 năm đã trôi qua từ ngày Võ Phiến hoàn tất tập sách cuối cùng trong bộ sách.

(Tưởng cũng nên nói thêm, mặc dù chế độ Cộng sản tìm đủ mọi cách xóa sổ nền văn học 20 năm miền Nam, nhưng sự thật là ngày nay nó vẫn tồn tại và được lưu giữ, yêu quý bởi thế hệ đi sau, cả hải ngoại lẫn trong nước. Quan trọng hơn, những luồng tư tưởng xuất phát từ nó, mà quan trọng nhất là tư tưởng tự do, đã mãi mãi ở lại với chúng ta. Tôi xin mượn câu phát biểu thật khảng khái của nữ sĩ Helen Keller, một nhà văn Mỹ, về vụ Quốc xã Đức đốt sách, “Các người có thể đốt sách tôi và sách của những bộ óc trí tuệ bậc nhất châu Âu, thế nhưng, các tư tưởng trong những bộ sách ấy đã tuôn chảy qua cả muôn triệu sông ngòi và sẽ tiếp tục chảy mãi không ngừng” để thêm một lần nữa củng cố lòng xác tín của riêng mình là, không một thế lực bạo tàn nào có thể vùi lấp những phẩm giá cơ bản cao đẹp nhất của con người.)

5.

Với những nhân vật khả kính suốt đời tận tụy đấu tranh hay công hiến tài năng, sở học của mình cho dân tộc, đất nước như nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, bác sĩ Phạm Biểu Tâm, nhà khoa học Phạm Hoàng Hộ, nhà văn Ngô Thế Vinh luôn luôn đặt sự trân trọng của mình lên hàng đầu. Nhưng với những bằng hữu văn nghệ – như họa sĩ Nghiêu Đề, mà ông gọi là người bạn tấm cám – thì khác. Ở đây chúng ta bắt gặp một Ngô Thế Vinh nhân hậu, thương quý bằng hữu, lo lắng cho bằng hữu, và thậm chí xem những tật xấu nho nhỏ nào đó của bạn mình như cái gì dễ thương, chẳng có gì đáng phiền hà.

Đặc biệt thú vị hơn các tác phẩm “chân dung” khác, ở cuốn này, nhà văn Ngô Thế Vinh còn cho chúng ta biết “tình trạng sức khỏe” của các văn nghệ sĩ ra sao. Ông bỏ ra khá nhiều chữ nghĩa với không ít thuật ngữ y học viết về một số ca bệnh hiểm nghèo đã cướp đi sinh mệnh người bạn văn. Cao Xuân Huy lì lợm cắn răng chịu đựng chứng ung thư “melanoma-mắt với di căn gan”; Nguyễn Xuân Hoàng lao đao trên con dốc tử sinh với chứng “sarcoma cột sống.” Ngô Thế Vinh đôi lúc nhìn bạn mình trong vai trò một y sĩ. Dễ hiểu thôi, ngoài đời ông là bác sĩ y khoa, và đối với “bệnh-nhân-bạn-văn,” ông chính là hình ảnh của một “lương y như từ mẫu.”

Tôi không rõ lắm sự nhân hậu nơi con người nhà văn/bác sĩ Ngô Thế Vinh đến từ bản chất con người ông; hay một nền giáo dục gia đình và xã hội nhân bản; hay những năm tháng bên cạnh giường người bệnh, đau với nỗi đau của nhân sinh; hay những tấm gương sáng như bác sĩ Phạm Biểu Tâm? Có thể là tất cả những điều trên. Sự nhân hậu ấy phản ánh trong mắt nhìn chiếc bàn viết lữ thứ của Mai Thảo lưu vong, phảng phất đôi nét u buồn, chua xót:

“Căn phòng nhỏ hẹp ngày nóng đêm lạnh ấy là không gian sống và cũng là tòa soạn báo Văn của Mai Thảo. Mỗi lần tới thăm anh, tôi vẫn để ý tới chiếc bàn viết lữ thứ của Mai Thảo kê sát khung cửa sổ thấp nhìn thoáng ra bên ngoài. Rồi tới kệ sách, không có nhiều sách Mai Thảo, chỉ có ít cuốn sách tiếng Pháp, mấy số báo Văn, đôi ba cuốn sách mới bạn văn gửi tặng anh.”

Hoặc, tại nhà Dương Nghiễm Mậu, trong bữa cơm gia đình sau những tang thương dâu bể mà thân phận mình, bằng hữu mình cũng như đất nước như đang hấp hối:

“Nếu không là ngày phải ra trễ, tôi ghé qua chợ mua một món ăn gì đó, đem tới bày thêm vào mâm cơm gia đình. Có thêm món thịt, thêm chút chất đạm thì hôm đó với hai đứa nhỏ như là bữa tiệc. Những lần gặp nhau, tôi và Nghiễm đều ít nói. Hình như Nghiễm có viết ở đâu đó là những điều không cần nói ra nhưng cũng đã hiểu nhau rồi.”

Vâng, cuốn sách có những trang viết chân tình, đẹp đến nao lòng. Tình bằng hữu, nhất là bằng hữu văn nghệ, không phải một sớm một chiều có ngay. Từ điểm hội tụ, nó cần được chưng cất, tinh luyện nhiều tháng năm với tấm lòng chân thành, tha thiết. Điểm hội tụ đó chính là lòng đam mê văn chương, nghệ thuật mà Ngô Thế Vinh cùng các bằng hữu của ông có thừa. (Không có đam mê, bạn đừng đặt chân vào khu vườn nghệ thuật làm gì. Triết gia Hegel bảo, “Không điều gì vĩ đại trên thế gian này thành tựu mà không có sự đam mê.” Nhưng ngay cả những điều nhỏ nhặt cũng chẳng ra hồn nếu bạn là hòn đá lửa nằm lăn lóc trong đám sỏi đá vô hồn khô khốc, không có lòng đam mê đập vào cho tóe lên tia lửa sáng tạo.)

Hình như cái chất đam mê đã chảy rất sớm trong huyết quản nhà văn Ngô Thế Vinh và các bằng hữu của ông. Thử nghe ông nhắc lại chuyện cũ hơn nửa thế kỉ:

“… Xóm Bùi Viện gần Ngã Tư Quốc Tế là khu giang hồ nơi chúng tôi thường lui tới lúc đó, họ tiềm ẩn tài năng nhưng còn như những ‘viên ngọc ẩn thạch,’ giới hội họa như Nguyễn Trung, Cù Nguyễn, Lâm Triết, Nguyên Khai; nhóm thơ văn Trần Dạ Từ, Nguyễn Đức Sơn/Sao Trên Rừng, Trần Tuấn Kiệt, Trần Đức Uyển/Tú Kếu, Nguyễn Nghiệp Nhượng, Nguyễn Thụy Long, mỗi người một vẻ với khao khát nghệ thuật là mẫu số chung mà họ hướng tới. Sức sáng tác của họ mạnh mẽ, sớm có tác phẩm và họ đều trở thành những tên tuổi…”

Sinh hoạt văn học nghệ thuật của miền Nam lúc đó như bừng lên tràn trề sức sống. Trước hết phải kể đến thành phần văn nghệ sĩ di cư từ Bắc vào Nam. Họ đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự khởi sắc đột khởi này. Chỉ một năm sau Hiệp định Geneva chia đôi đất nước, nhật báo Tự Do ra đời tại Sài Gòn với một ban biên tập hùng hậu và những người cộng tác gồm toàn những cây bút Bắc kỳ di cư nhiều kinh nghiệm với Cộng sản, như: Tam Lang Vũ Đình Chí, Mặc Đỗ, Đinh Hùng, Như Phong Lê Văn Tiến, Mặc Thu, Vũ Khắc Khoan, và ít lâu sau có thêm Hiếu Chân, Hi Di Bùi Xuân Uyên và họa sĩ Phạm Tăng. Thế nhưng, đáng chú ý nhất ở thời đoạn này là các nhóm văn chương. Nhờ hít thở bầu khí quyển tự do, tiếp cận trực tiếp với các trào lưu văn nghệ, tư tưởng lớn của Tây phương, mà điển hình là Pháp, các nhóm văn chương đã có cơ hội nở rộ, tạo môi trường thuận tiện, là chất xúc tác cho những sáng tạo đột phá, gây kinh ngạc lớn và có khả năng trường tồn. Theo Ngô Thế Vinh thì có các nhóm chính sau: 1) Tự Lực Văn Đoàn được tiếp nối với Văn Hoá Ngày Nay của Nhất Linh; 2) Sáng Tạo của Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền phủ nhận nền văn học tiền chiến với nỗ lực cách tân văn chương; 3) Quan Điểm của Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ; 4) Đêm Trắng (còn được gọi là nhóm La Pagode nơi họ tụ tập sinh hoạt) được xem như nhóm Tiểu Thuyết Mới của Sài Gòn.

Không nghe Ngô Thế Vinh nói ông thuộc nhóm nào, có thể ông đứng ngoài, nhưng xuyên qua vài cảm nghĩ rời người ta có thể phỏng đoán ông có cảm tình đặc biệt với nhóm Đêm Trắng gồm các nhà văn nhà thơ đa số xuất thân nhà giáo, như: Huỳnh Phan Anh, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Đình Toàn và Nguyễn Quốc Trụ. Người ông đề cao nhất trong nhóm là nhà văn Nguyễn Đình Toàn:

“Nổi bật trong nhóm này là Nguyễn Đình Toàn với kĩ thuật viết mới, viết truyện mà không có truyện, những trang chữ là một chuỗi những hình ảnh tạo cảm xúc và là một trải dài độc thoại nội tâm. Nguyễn Đình Toàn thành công trong nỗ lực tự làm mới văn chương nhưng không vì thế mà bảo ông chịu ảnh hưởng và chạy theo phong trào tiểu thuyết mới của Pháp.”

Tiện thể, ông nói luôn về những thành tựu làm mới văn chương của thời kì này:

“Thanh Tâm Tuyền và Dương Nghiễm Mậu là hai tên tuổi khác cũng được nhắc tới khi nói về khuynh hướng tiểu thuyết mới ở Sài Gòn lúc bấy giờ. Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây, Hoàng Ngọc Biên không ở trong nhóm Đêm Trắng nhưng chính anh là người đầu tiên thực sự nghiên cứu về phong trào Nouveau Roman của Pháp, vào giữa thập niên 1950’s với các tên tuổi như Alain Roble-Grillet, Nathalie Sarraute, Michel Butor, Claude Simon. Hoàng Ngọc Biên đã dịch một số tác phẩm của Alain Roble-Grillet và cũng thể hiện quan niệm tiểu thuyết mới ấy qua tập truyện Đêm Ngủ ở Tỉnh do Cảo Thơm xuất bản Sài Gòn, 1970. Cũng theo Hoàng Ngọc Biên, thì ngoài danh xưng, trong 20 năm Văn Học Miền Nam thực sự đã không có một phong trào Tiểu Thuyết Mới tại Sài Gòn ‘theo cái nghĩa thời thượng’ của phong trào Tiểu Thuyết Mới xuất phát từ Tây Phương.”

Hiện hữu chỉ vỏn vẹn 20 năm nhưng trước và sau nó chưa có thời kì nào trong văn học Việt Nam khởi sắc như thế, chưa có thời kì nào có nhiều tài năng hơn thế. Vậy mà nó bị gọi là đồi trụy và phản động để rồi bị vùi giập không thương tiếc, cả một nền văn hóa nhân bản tươi đẹp của dân tộc bị truy lùng, diệt trừ đến tận gốc. “… Trước lịch sử, ai phải nhận lãnh trách nhiệm cho những tội ác thiên thu ấy?” Nhà văn Ngô Thế Vinh vừa đau xót vừa phẫn nộ đặt câu hỏi.

6.

Chỉ thấy ba nhà họa tài ba của hội họa Việt Nam – Đinh Cường, Nguyên Khai, Nghiêu Đề – được nhắc đến trong bộ sách CDVHNT&VH. Là những họa sĩ Ngô Thế Vinh có mối quan hệ bằng hữu chân tình, nhưng qua đó ông cũng nhắc đến những tên tuổi lừng lẫy khác như Mai Trung Thứ, Tạ Tỵ, v.v… và nhất là quá trình xây dựng và phát triển trên bình diện nghệ thuật của hội họa miền Nam Việt Nam thập niên 60.

Đây là một điểm nhấn khác của Ngô Thế Vinh:

“Họ ở lứa tuổi 20-30, cho dù là hội viên của Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam hay không, một số tốt nghiệp trường Mỹ Thuật như Đinh Cường, Lâm Triết, Nguyễn Trung, Trịnh Cung, Nguyễn Phước, Nguyên Khai, hay bỏ học ngang như Nghiêu Đề, hoặc không xuất thân từ trường Mỹ Thuật như Cù Nguyễn nhưng họ đều là những ‘viên ngọc ẩn thạch,’ những khuôn mặt tài năng có cơ hội là phát triển với sức sáng tạo thăng hoa tới mức cao nhất để hình thành những tác phẩm hội họa có giá trị nghệ thuật trong không khí tự do của miền Nam.”

Một lần nữa chúng ta lại thấy yếu tố “không khí tự do” được nhà văn Ngô Thế Vinh nhắc đến như điều kiện cần và đủ cho bất cứ thể loại sáng tạo nghệ thuật nào. Họa sĩ Trịnh Cung nói nhiều về Hội Hoạ Sĩ Trẻ trong hai tác phẩm xuất bản ở hải ngoại – Mỹ Thuật Việt Nam, Những Vấn Đề Xoay Quanh và Nhận Định & Những Câu Hỏi về Mỹ Thuật – với ít nhiều tự hào. Nhưng, vẫn theo lời họa sĩ Trịnh Cung, hội họa miền Nam Việt Nam không phải đợi đến khi có mặt Hội Hoạ Sĩ Trẻ năm 1966 mới bắt đầu khởi sắc. Từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa, hội họa Sài Gòn đã có những thành tựu đáng kể mà cột mốc khó quên là cuộc triển lãm quốc tế lần thứ nhất tổ chức năm 1962 tại công viên Tao Đàn với sự tham dự của các nền hội họa hàng đầu thế giới như Ý, Hà Lan, Pháp, Tây Ban Nha… Tranh của các họa sĩ Việt Nam ngay từ thời điểm này đã được các nhà sưu tập nước ngoài tìm mua không ít. Kì thực, Việt Nam có một truyền thống hội họa phong phú mà bệ phóng chính là trường Mỹ Thuật Đông Dương do người Pháp thành lập năm 1924 ở Hà Nội. Trước Cách Mạng Tháng Tám đã có một đội ngũ họa sĩ nhiều tài năng như Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên… Thế nhưng con đường hội họa nhiều triển vọng tốt đẹp ấy đã bị con chó ngao biện chứng Hiện thực Xã hội chủ nghĩa từ lịch sử xông ra chặn đường.

Biện chứng Hiện thực Xã hội chủ nghĩa là gì? Bạn có thể hỏi ngược lại tôi như thế. Muốn tìm hiểu, tưởng không đâu bằng chính lời nói của cha đẻ cái chủ nghĩa ấy: nhà văn Maxim Gorky. Trong diễn văn đọc tại đại hội lần thứ nhất hội nhà văn Liên Xô năm 1934, ông phát biểu như sau:

‘Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội chủ nghĩa khẳng định tồn tại như là sự hoạt động, sự sáng tạo mà mục đích là liên tục phát triển những năng lực quý giá của cá nhân con người, vì thắng lợi của nó đối với các lực lượng tự nhiên, vì sức khỏe và tuổi thọ, vì cái hạnh phúc lớn nhất là được sống trên trái đất.’

Tôi vớ được câu nói trên từ một tài liệu văn học tiếng Việt. Không biết một chữ tiếng Nga lại thiếu nguồn đối chiếu, tôi không chắc người dịch có bao nhiêu phần đúng bao nhiêu phần sai. Cái mệnh đề “vì sức khỏe và tuổi thọ” khiến tôi thắc mắc. Sáng tác theo Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội chủ nghĩa sẽ khỏe như voi và sống lâu trăm tuổi ư? Còn nếu bạo gan đi ngược lại thì nhà nước sẽ cho đi cải tạo mút mùa, ắt hẳn sức khỏe sẽ yếu kém và chết sớm? Thú thật, tôi không đủ kiến thức và ngôn từ để phản biện cái triết học rối mù ấy. Vì vậy, tôi xin mượn lời nhà thơ Czeslaw Milosz. Ông này hay lắm, người ta gọi ông là nhà thơ của lương tâm nhân loại. Ông nói giản dị như thế này về Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội chủ nghĩa, dễ hiểu hơn cái ông Gorky kia nhiều, và chính xác trăm phần trăm:

“Biện chứng: Tôi tiên đoán căn nhà sẽ cháy; đoạn tôi đổ xăng lên bếp lửa, căn nhà cháy rụi; tiên đoán của tôi đúng. Biện chứng: Tôi tiên đoán một tác phẩm nghệ thuật mà không tương hợp với Hiện thực Xã hội chủ nghĩa thì chỉ đáng vứt đi; đoạn tôi bắt nhà nghệ sĩ sáng tác trong những điều kiện chỉ có thể tạo ra những tác phẩm đáng vứt đi; tiên đoán của tôi đúng.”

Stalin đã áp đặt cái chủ nghĩa ấy làm phương pháp sáng tác chủ đạo cho tất cả các bộ môn văn nghệ trong xã hội Xô Viết, và dần dà nó được truyền tụng sang các quốc gia khác trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, trong đó có Bắc Việt Nam. Kết quả như thế nào thì chúng ta đã quá rõ, chẳng cần nhắc lại nơi đây.

Trong khi đó, sau Hiệp định Geneva 1954, một số họa sĩ miền Bắc di cư vào Nam như Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng, Tạ Tỵ… cùng một số du học từ châu Âu trở về Sài Gòn đem theo những quan niệm sáng tác của Chủ nghĩa Hiện đại, tất cả đã góp phần tạo một luồng gió mới cho sự phát triển văn hóa miền Nam nói chung, mĩ thuật hiện đại Việt Nam nói riêng, mà trung tâm là thủ đô Sài Gòn lúc đó. Được tiếp cận với sách vở và tạp chí nghệ thuật Tây phương, được tham gia các cuộc triển lãm quốc tế (tại Việt Nam hoặc nước ngoài), không bị con chó ngao biện chứng Hiện thực Xã hội chủ nghĩa canh chừng ngày đêm, các họa sĩ miền Nam tha hồ tiếp cận và tiếp thu nhanh chóng các trường phái của Chủ nghĩa Hiện đại như Tượng trưng, Siêu thực, Trừu tượng, Biểu hiện, Biểu Trừu tượng, Dã thú, Lập thể, v.v… Nhờ thế, nền nghệ thuật tạo hình Sài Gòn từ chỗ còn non yếu đã mau chóng phát triển bằng những bước dài chững chạc, có khả năng diễn ngôn cùng một ngôn ngữ hội họa chung thế giới.

Sau cột mốc cuộc triển lãm quốc tế lần thứ nhất năm 1962 là cột mốc thứ hai, sự thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ năm 1966 với sự tham gia của hầu hết các họa sĩ tài danh lúc đó như Nguyễn Trung, Trịnh Cung, Nguyễn Lâm, Nguyên Khai, Đinh Cường, Ngy Cao Nguyên, Hồ Hữu Thủ, Rừng, La Hon, Đỗ Quang Em, Hồ Thành Đức, Nguyễn Phước, Hoàng Ngọc Biên… Âm vang của Hội Họa Sĩ Trẻ cho đến tận ngày nay vẫn còn, chứng tỏ tầm ảnh hưởng của nó là không nhỏ. Điểm khác đáng lưu ý là, song hành với những nỗ lực cách tân với ảnh hưởng Tây phương rõ rệt, hội họa mang tính mĩ cảm truyền thống vẫn không ngừng chảy với các họa phẩm giá trị của các họa sĩ như Tú Duyên, Nguyễn Siên, Trần Văn Thọ… Và đặc biệt Nguyễn Gia Trí, người được xem là tiên phong trong lĩnh vực làm mới sơn mài, chinh phục giới thưởng ngoạn bằng một cảm xúc sâu lắng, hòa phối từ hai trường phái Phục hưng và Hiện đại; hay tranh lụa Lê Văn Đệ với đường lối đặc trưng tỏa sáng hương sắc bình dị, nhẹ nhàng, sâu lắng.

Xem thế, sự lớn mạnh của nền hội họa miền Nam trong giai đoạn 54-75, như nhà văn Ngô Thế Vinh trình bày trong cuốn sách của mình và như họa sĩ Trịnh Cung xác nhận, là sự phát triển theo quy luật tự nhiên nhờ vào những điều kiện tạo thuận từ bình diện học thuật, tư tưởng cho đến chính trị. Song hành với văn học, có thể xem đó là thời đại hoàng kim của hội họa Việt Nam mà trước đó hay sau này đều không thấy.

7.

Tuyển tập Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hóa của nhà văn Ngô Thế Vinh không phải là một cuốn sách Who’s Who về các nhà làm văn nghệ, văn hóa Việt Nam. Nó không có tham vọng vẽ lại toàn cảnh hay nghiên cứu chuyên sâu một tác giả nào. Nó mang tính cách tâm tình nhiều hơn. Nó cũng không tán rộng các điểm phụ bên ngoài đời sống văn học nghệ thuật. Đọc xong cuốn sách, chúng ta không rõ trong hoàn cảnh nào nhà văn Nhật Tiến viết cuốn Thềm Hoang, hoặc nhân vật nữ trong tiểu thuyết Một Chủ Nhật Khác của Thanh Tâm Tuyền là ai ngoài đời, v.v… Những điều đó hình như không quan hệ lắm đối với giới nghiên cứu văn học Việt Nam. Nhưng nhà văn Ngô Thế Vinh đã cho chúng ta cái nhìn bao quát đa chiều kích về một thời kì văn học – theo lời nhà văn Võ Phiến – kém may mắn (vì thiếu phê bình) và bất hạnh (vì bị hủy diệt). Cuốn sách còn là một kho tư liệu rất quý, vô cùng hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu sâu thêm. Đối với bằng hữu văn nghệ, đối với những nhân vật nhà văn Ngô Thế Vinh hằng ngưỡng mộ và kính trọng, đối với người đọc chúng ta, ông quả đã làm tròn điều ông muốn làm, đó là, “Của tin gọi một chút này làm ghi.”

TRỊNH Y THƯ

10/2017

Đôi dòng tiểu sử nhà văn Ngô Thế Vinh:

Kết quả hình ảnh cho bác sĩ ngô thế vinh

Ngô Thế Vinh, sinh năm 1941 tại Thanh Hoá. Tốt nghiệp Y khoa Sài Gòn 1968. Trong ban biên tập, rồi chủ bút báo sinh viên Y khoa Tình Thương. Nguyên y sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Tu nghiệp Y khoa Phục hồi tại San Francisco. Sau 1975, tù ba năm qua các trại tù cải tạo. Tới Mỹ cuối 1983, bác sĩ nội trú rồi thường trú các bệnh viện Đại học New York. Tốt nghiệp Nội khoa, bác sĩ điều trị và giảng huấn tại một bệnh viện miền nam California.
Tác phẩm (Việt ngữ):
• Mây Bão (Nxb Sông Mã Sài Gòn 1963, Nxb Văn Nghệ California 1993);
• Bóng Đêm (Nxb Khai Trí Sài Gòn 1964);
• Gió Mùa (Nxb Sông Mã Sài Gòn 1965);
• Vòng Đai Xanh (Nxb Thái Độ Sài Gòn 1971, Nxb Văn Nghệ California 1987);
• Mặt Trận ở Sài Gòn (Nxb Văn Nghệ California 1996);
• Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng (Nxb Văn Nghệ California 2000, Nxb Văn Nghệ California tái bản 2001, Việt Ecology Press & Giấy Vụn VN tái bản 2014);
• Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch (Nxb Văn Nghệ Mới California 2007, Nxb Văn Nghệ Mới tái bản 2007, Nxb Giấy Vụn VN tái bản 2012);
• Audiobook Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch (Nxb Văn Nghệ Mới 2007, Việt Ecology Press & Nxb Nhân Ảnh 2017);
• Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hoá (Nxb Việt Ecology Press 2017).

Tác phẩm (Anh ngữ):
• The Green Belt (Ivy House 2004);
• The Battle of Saigon (Xlibris 2005);
• Mekong The Occluding River (iUniverse 2010);
• The Nine Dragons Drained Dry, The East Sea in Turmoil (Việt Ecology Press & Nxb Giấy Vụn 2016).

nguồn: danchimviet.info

Uwe Siemon-Netto và Chiến Tranh Việt Nam

Uwe Siemon-Netto và Chiến Tranh Việt Nam

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm
Cuốn sách nguyên bản  dày 306 trang với tựa đề “Duc, der Deutsche – Mein Vietnam. Warum die Falschen siegten “, đã từng được các dịch giả Lý Văn Quý&Nguyễn Hiền dịch lại với tựa đề “Vinh Quang của sự Phi Lý – Tình yêu của một phóng viên cho dân tộc Việt Nam bị bỏ rơi“, do chính tác giả Uwe Siemon-Netto trong dịp đến Berlin nói chuyện với Cộng Đồng Tỵ Nạn Việt Nam ký tặng  đề  ngày 23.03.2014,   được trân trọng để riêng trong tủ sách quý gia đình từ bấy lâu nay. Mỗi lần lấy sách ra đọc lại tôi vẫn cảm thấy xúc động trước sự đồng cảm, sự trân trọng quý mến dân tộc Việt Nam bị tổn thương và phản bội trong dư luận quốc tế.

Tuy bản dịch  tiếng Việt rất công phu nhưng nguyên bản mới diễn tả được sự điêu luyện sắc sảo trong lời văn ngôn từ và kỹ năng  của người viết. Thoạt nhìn hình bìa thì ai cũng  tưởng  đó chỉ là  là một cuốn sách viết về một đề tài chiến tranh khô khan, nhưng khi đọc người  ta mới cảm nhận được  sự thật kinh hoàng  của chiến tranh Việt Nam dưới cái nhìn của một Phóng Viên Chiến Trường có lương tâm nghề nghiệp  và  sự ấm áp tình người của một  người từng  đồng hành đồng khổ với người Việt miền Nam trong trận chiến  đó.

Ông Siemon-Netto  là người Đức, sanh ngày 25.10.1936   và có một thời thơ ấu  hồn nhiên   ở Leipzig. Thân mẫu của ông là một Ca Sĩ Hợp Xướng sau này sống ở  Frankfurt. Ông khởi nghiệp làm Phóng Viên Hải Ngoại ở Luân Đôn cho hãng truyền thông Đức Axel-Springer. Tại đây ông gặp người bạn đời Gillian vào năm 1962, một cô gái  người Anh vừa đẹp tính lại  vừa đẹp người. Hai người đã làm đám cưới vào cuối năm đó khi ông vừa 26 tuổi . Ngay sau đám cưới ông được hãng  thuyên chuyển sang New York làm Phóng viên chuyên về phóng sự chính trị tại Liên Hiệp Quốc.  Ba năm sau, đầu năm 1965 ,ông đặt chân lần đầu  đến Saigon với nhiệm vụ Phóng Viên chiến trường cho Axel Springer và tiếp tục đây đến cuối năm 1969.
Cuốn sách”Duc, der Deutsche “là một hồi ký, là những mảng  ký ức sống động được chép lại năm 2014 khi ông đã trở thành một Nhà Thần Học Tin Lành. Cũng nên nhắc lại là sau khi bỏ nghiệp nhà báo, ông Siemon-Netto đã theo học về Thần Học và chuyển sang làm nghề Chăm Sóc Tâm Linh  cho các Cựu Chiến Binh đã tham chiến Việt Nam tại Hoa Kỳ. Năm 1992 ông trình Luận Án Tiến Sĩ về Thần Học  và Xã Hội Tôn Giáo tại Đại Học Boston.

Xuyên suốt cuốn sách có một câu tuyên bố của Đại Tướng Cộng Sản Việt Nam Võ Nguyên Giáp  được Siemon-Netto  nhắc đi nhắc lại nhiều lần là: “kẻ thù ( nghĩa là kẻ Phương Tây ).. không có khả năng về tâm lý và chính trị để chịu đưng một cuộc chiến tranh trường kỳ “, và đó cũng là cái  cốt lõi và phương châm của Cộng Sản Việt Nam để liên tục  khiêu chiến và duy trì cuộc chiến kinh hoàng  với mục đích tối hậu là áp đật chế độ Cộng Sản lên toàn cõi Việt Nam.  

Siemon-Netto đã chỉ trích nặng lời với gíới chính trị Phương Tây là đã bỏ qua lời khuyên  của Sir Robert G.K. Thompson,  một chuyên viên  người Anh  về Chiến Tranh Du Kích đã rời Việt Nam  vào năm 1965 vì  Cơ Quan Tư Vấn của ông  bị đóng cửa. Theo chiến thuật của Sir Thompson thì chính việc loại bỏ  những tên Cộng Sản Nằm Vùng quan trọng hơn là việc diệt trừ những tên Cộng Sản Du Kích trong rừng sâu. Phương thức  “Clear and hold “là làm sạch mầm móng Cộng Sản nằm vùng (clear) thì dân chúng địa phương tại đó   sẽ đứng về phe chính phủ (hold ).Một hệ thống Cảnh Sát và Tình Báo hữu hiệu là yếu tố quyết định cho sự thành công của chiến thuật này. Trong chương 3  Siemon-Netto nêu lên sự thành công của  một Ấp Chiến lược năm 1965 của Đại Úy Ngữ ở làng Long Khốt, cách Saigon 137km về hướng tây gần biên giới Căm Bốt, hình thành đúng theo chiến thuật Thompson với lực lượng Nhân Dân Tự Vệ  bén nhạy  và ông đã tỏ  lòng hết sức kính phục  vị Đại Úy Việt Nam này.

Sự bỏ qua chiến lược này đã đưa đến những cái chết thảm thương của những người quốc gia chân chính sinh  sống nơi xa xôi. Trong chương 5 Siemon Netto ghi lại một hình ảnh kinh hoàng của một gia đình Xã Trưởng gồm  14 người  bị du kích Việt Cộng hành hình ở vùng Tây Nguyên xa xôi trước mắt dân làng như môt hăm dọa  cho ai không theo Cộng  : họ từ từ  giết cháu nhỏ nhất trước rồi tới các  cháu lớn, kế đó là vợ rồi ông Xã trưởng ; sự kinh hoàng không ngừng ở đó mà Việt Cộng đã hành hình vị Xã Trưởng  bằng cách  cắt lưỡi   rồi cắt bộ phận sinh dục nhét vào miệng trước khi treo cổ ; các người con  trai của ông ta chỉ bị cắt bộ phân sinh dục trước khi bị treo cổ. Người vợ và cô con gái thì bị xẻ vú trước khi treo cổ. Sự dã man này được thực hiện  như người ta thi hành một bản án thường nhật.
Trong một chương khác Siemon Netto nhắc lại ánh mắt căm thù sắt máu của những  bộ đội Bắc việt đối với bà Monika Schwinn, một nữ  Y Tá người Tây Đức  bị bắt khi đang phục vụ tai Việt nam trong chương trình nhân đạo của Malteser , trên đường dẫn độ ra Bắc trên con đường mòn Hồ Chí Minh. Là một nhà Thần Học ông biết  lòng căm thù và thú  tính giết ngừơi  không phải  tự trời sanh ra. Sự căm thù cũng như thú tính giết người này phải được gieo vào tim vào óc những  binh sĩ trẻ  Bắc việt với một khuôn phép giáo dục đặc biệt mà chỉ có  dưới chủ nghĩa độc tài toàn trị.

Trong chương 8 ông nhắc lại bài báo  “Đồng cỏ nhuộm đỏ“ của mình đăng trên Die Welt ngày 13.12.1965 mô tả hiện trường sau một cuộc giao tranh ác liệt giữa Quân Đội Bắc Việt và Quân Đội Hoa Kỳ. Hàng trăm xác chết Việt Cộng phơi thây máu nhuộm đỏ cả bãi cỏ voi cao cả mét. Quân nhân Hoa Kỳ tử trận hay bị thương đã được di tản bằng máy bay trực thăng. Khi khám nghiệm hiện vật trong túi áo quần và ba-lô các tử thi Bộ Đội người ta mới phát giác được nhiều tử thi chỉ mới 15 tuổi. Trong ba lô chứa  những bộ quần áo sạch xếp ngay ngắn hình như từ bàn tay của những người mẹ từ Vinh, Hải Phòng hay Hà Nội ;   có một số ba-lô  dấu  những tờ truyền đơn kêu gọi hồi chánh của Miền Nam. Sau khi kiểm soát người ta thấy có đến một phần tư các binh sĩ trẻ em  mang tờ truyền đơn này trong người để chuẩn bị cơ hội đầu hàng ; nhưng cơ hội lớn của  các em không dễ tìm ,vì chỉ cần một động thái khả nghi là các em sẽ bị đồng đội bắn ngay vào lưng.
Ngược lại Siemon –Netto cho người đọc thấy hình ảnh của những anh chàng GIs. Họ là những thanh niên còn quá trẻ để được phép uống bia rượu, nhưng đủ già dặn để đi quân dịch đem mạng sống giao cho rừng thẳm xa xôi. Phần lớn họ chỉ vừa đúng 18 tuổi và phải làm nhiệm vụ công dân. Những thanh niên này ngoài chút kiến thức căn bản về vũ khí chiến thuật, họ không được chuẩn bị tâm lý để đối phó với những sự tàn độc  của quỷ dữ. Trong một cuộc hành quân chung ở An Khê ông đã chứng kiến một cái chết của một thanh niên Hoa Kỳ 17 tuổi, viên đạn Kalaschnikow kẹt trong lá phổi của anh ta, anh ta nằm trong cơn hấp hối như một đứa trẻ thơ , anh ta gọi mẹ rồi kêu trời. Đó là một trong nhiều cái chết của những người lính trẻ mà Siemon-Netto đã chứng kiến. Trước khi chết họ thường gọi mẹ và kêu trời và phần lớn là theo thứ tự đó.
Sự tàn ác sâu độc của Việt Cộng còn được kể lại trong trận đánh tái chiếm Huế sau tết Mậu Thân. Khi những tay súng Việt Cộng nấp sau các cửa sổ phía bên bờ bắc sông Hương nã súng liên tục vào đoàn quân trong đó có Siemon-Netto đi theo, một binh sĩ Hoa Kỳ đã ném được một quả lựu đạn lọt qua một trong những  cửa sổ ấy. Lựu đạn nổ. Tất cả trở thành im lặng. Đoàn quân reo vui vì nghĩ là đã đã hủy được mục tiêu. Nhưng cánh cửa chính bỗng bật mở, một người đàn bà trẻ bước ra, tay giơ lên xác một đứa trẻ đẫm máu. Anh chàng quăng lựu đạn hồi nãy  chợt lên cơn khủng hoảng:”Trời ơi, tôi đã làm gì ? tôi đã giết một đứa trẻ. Trời hãy cứu tôi, trời ơi, trời ơi.. “anh ta quay cuồng, trong khi lính Bắc Việt từ những cửa sổ khác tiếp tục nã đạn vào phía chúng tôi. Ngừơi Trung Đội Trưởng phải dùng sức  đè anh lính xuống và sau đó cho anh rút ra khỏi vòng chiến. Người binh sĩ này đã bị hủy hoại linh hồn và có thể bị tổn thương tâm linh vĩnh viễn.
Trong cuộc chiến tranh tàn nhẫn đó  Siemon –Netto đã phân tích sự độc ác một cách khách quan  là: trong khi  Bắc Việt xem việc giết người là một một nhiệm vụ thi hành một chỉ đạo  một quyết định tối hậu  của nhà cầm quyền, kẻ giết người được ân thưởng tuyên dương công trạng. Còn người Mỹ xem chuyện giết người, điển hình là vụ Mỹ Lai, là một vi phạm pháp luật  phải được nghiêm minh  xét xử trước tòa án. Nhiều nhà báo quốc tế đã vô tình hoặc cố ý bỏ qua sự khác biệt về căn bản đạo đức này,  khiến cho nhiều binh sĩ Hoa Kỳ khi giải ngũ về nước bị công dân Hoa Kỳ sỉ vả và bị làm tổn thương tinh thần trong suốt cuộc đời.

Siemon-Netto cũng  phân tích tại sao chế độ Dân Chủ không đủ sức chịu đựng áp lực tâm lý và chính trị để chống lại cuộc chiến Partisan như Võ Nguyên Giáp đã tuyên bố. Nguyên do là chỉ vì nền Dân Chủ khác với Độc Tài ở điểm Hệ thống Dân Chủ lệ thuộc vào Cử Tri. Nhưng ai là kẻ đem tin tức đến Cử Tri. Chính là giới truyền thông. Và khi giới truyền thông loan truyền  là sự kiên trì trong  cuộc chiến tranh vũ khí không xứng đáng để kéo dài  vì người được bảo vệ không đáng được bảo vệ.  Như vậy là cuộc chiến phải chấm dứt, nếu cần thì thua thiệt cũng phải chấp nhận. Thế là Giáp thắng cuộc !.
Siemon-Netto lên án cực liệt giới truyền thông thuộc lớp trẻ, dưới ảnh hưởng của phong trào Hiện Sinh thập kỷ 1960, đã bóp méo hình ảnh chiến tranh Việt Nam đúng theo sự mong đợi như lời tuyên bố  của Giáp:“ Chiến tranh Việt Nam sẽ được đưa tới tận phòng khách  từng nhà mỗi gia đình Mỹ “. Giáp khẳng định : “giới truyền thông Mỹ sẽ là  một yếu tố quyết định trong sự thắng thế của Bắc Việt”.   Điển hình là cảnh một đoàn quay phim ba người của một đài truyền hình Hoa Kỳ đứng bên cạnh một ngôi mộ tập thể ở Huế. Ngôi mộ này vừa mới  được phát hiện sau trận đánh Mậu Thân. Tìm ra  do những ngón tay còn sơn móng đỏ giơ ra khỏi mặt đất của những người đàn bà đã bị chôn sống  khi đang cố bươi cào ra khỏi hố đất. Đoàn quay phim đứng hờ hững bên cạnh mộ và không có ý quay phim. Có người hỏi tại sao, thì họ trả lời: “Chúng tôi không đến đây để quay phim tuyên truyền chống Cộng Sản !!“.
Nhắc về Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, Siemon-Netto trách đám nhà báo đồng nghiệp chỉ luôn đi theo hành quân với quân đội Hoa Kỳ hoặc  quân đội Đồng Minh và gửi những hình của các Quân nhân này ra quốc tế,  mà quên hẳn đi hàng quân tinh nhuệ đã bảo vệ quê hương họ cho tới những giờ phút cuối cùng trước khi mất Saigon ngày 30.4.1975. Ông ca ngợi những gương anh hùng quân đội : Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú.. là những nhân vật mà ông đã từng gặp trên đường nghiệp vụ và giờ đây họ đã đi vào lịch sử.

Siemon-Netto yêu thương từ đứa trẻ bụi đời trên đường phố, đến thân phận những người đàn bà trong chiến tranh…Trong cuốn sách còn chứa đựng rất nhiều, về con người văn hóa lịch sử Việt Nam ,  về cái chết của vợ chồng Bác Sĩ người Đức Krainik và hai đồng nghiệp của họ: Alois Alteköster, Raimund Discher trong vụ tàn sát Mậu Thân Huế.
Trong vài hàng giới thiệu này tôi không thể chuyển tải tất cả chi tiết trung thực và đứng đắn trong cuốn sách của Siemon-Netto, người mang  sứ mạng cao cả của Nhà Báo và của nhà Thần Học  để trải lòng viết ra cuốn sách có giá trị lịch sử này. Tôi thiết nghĩ và cầu mong cuốn sách này sẽ là cuốn sách kinh điển để lại cho thế hệ mai sau một cái nhìn trung thực và có lương tâm về cuộc chiến Việt Nam. Các bậc phụ huynh của những thế hệ sanh sau cuộc chiến hãy khuyến khích con cháu  tìm đọc cuốn sách này để hiểu chính xác về chiến tranh Việt Nam. Cuốn sách được chính tay tác giả viết bằng hai thứ tiếng: tiếng Đức như đã nêu từ đầu: “Duc, der Deutsche – Mein Vietnam. Warum die Falschen siegten “ và tiếng Anh đã được xuất bản lần thứ hai là: “Triumph of the Absurd”

Mong lắm thay!!!

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm

Berlin, 27.11.2016

nguon: Vietbao.com

Hồn tử sĩ

Hồn tử sĩ:

KÍNH MỜI THAM DỰ và XIN PHỔ BIẾN 

VIETNAM FILM CLUB

***

HỒN TỬ SĨ

NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA

Thời gian: 1:00PM -Chủ Nhật 13 tháng 11 năm 2016.

Địa điểm: Westminster Civic Center

8200, Westminster Blvd., Westminster, CA 92683

Ban Tổ Chức:

TRẦN PHONG VŨ: (949) 485-6078 ; HUY PHƯƠNG: (949) 241-0488

NGÔ CHÍ THIỀNG (714) 548-2141 ;  NGỌC ĐAN THANH (714) 454-6171

Xin mời xem Trailer:

  VFC- Trailer – Hồn Tử Sĩ

https://www.youtube.com/watch? v=rfTtD7hOUdc

 




Vàm Kinh Cũ

Giới thiệu sách mới:

Lời Tựa Cuốn “Vàm Kinh Cũ”

Hai Trầu – Lương Thư Trung

Nếu bạn từ Long Xuyên lên Châu Đốc theo con đường Liên tỉnh lộ số 9 cũ, thì Thất Sơn-Châu Đốc là tên gọi chung một vùng đất với bảy ngọn núi nằm về hướng tây, phía tay trái của bạn, sát biên giới với Cao Miên, xa xa in hình lên bầu trời trong xanh một màu xanh thăm thẳm và bên tay mặt của bạn là hai nhánh sông lớn của con sông Cửu Long:Tiền Giang và Hậu Giang với mùa nước lên và nước giựt mang phù sa cùng tôm cá làm thành một vùng đất nơi này trù phú biết bao!

Cũng như nhiều làng quê vùng Long Xuyên, Châu Đốc, phần lớn cư dân các làng mạc hai vùng đất trù phú ấy họ sống với nghề làm ruộng rẫy, bắt cá tôm là chính; còn một số khác ở thành thị chợ búa thì sống với nghề buôn bán. Bên cạnh đó, phải công bằng nhận ra rằng  vùng đất Thất Sơn-Châu Đốc lại hơn hẳn các vùng đất khác là do ở đó có nhiều tác giả viết được nhiều sách vở về quê hương của mình.

Hồi đời trước, ở Tân Châu có Nguyễn Chánh Sắt; thời thập niên 1960 có thầy Nguyễn Văn Kiềm với cuốn sách quý Tân Châu Xưa (1964). Gần hơn chút nữa có nhà văn Vũ Thất gốc gác Tân Châu với cuốn Đời Thủy Thủ làm nên tên tuổi tác giả Vũ Thất một thời. Rồi sau này có thêm Phong Hưng-Lưu Nhơn Nghĩa ở Tri Tôn với Như Cánh Chuồn Chuồn, Con Đường Cũ đặc biệt ghi chép lại những nét đặc thù về miền đất Xà Tón, thuộc vùng Thất Sơn, không ai qua nổi. Ở vùng Bắc Nam (An Phú) có Khiêm Cung- Dương Văn Chung với tác phẩm Nội Ngoại Đều Thương, là một hồi ức về vùng An Phú rất phong phú! Viết về người Chàm Châu Giang với nhà văn Đỗ Hải Minh qua tác phẩm “Bangsa Champa, Tìm Về Cội Nguồn Cách Xa” là một cuốn sách của một tác giả vừa từng trải, vừa giàu kiến thức,  và nhứt là tác giả gốc gác người Chăm, nên những gì tác giả viết ra đều mạch lạc, tường tận…  Đó là nói về văn xuôi, còn về thơ thì một Phạm Yến Anh ngày nào, một Nguyễn Hải Thệ tức nhà thơ Ngy Do Thái (Long Sơn) làm xứ Tân Châu thêm nhiều hương sắc. Còn nữa, các tác giả như Hoài Ziang Duy, Ngô Nguyên Nghiễm, Trịnh Bửu Hoài, Song An Châu, Trúc Thanh Tâm… là những bông hoa trong vườn hoa văn nghệ Thất Sơn-Châu Đốc đã góp phần làm đẹp thêm góc vườn có núi, có sông ấy! Đặc biệt, vùng Thất Sơn-Châu Đốc còn có một tác giả còn rất trẻ, chẳng những mê đọc sách ngay từ hồi còn đi học, mà nhứt là sách văn học Miền Nam thời kỳ 1955-1975, với những nhận định vừa mới mẻ mà xác thực, vừa hiểu biết và cảm thông. Đó là bạn Thái Lý, quê Tân Châu (Châu Đốc) với những bài nhận định văn chương rất giá trị. Nhưng nếu tôi không kể thêm về một tác giả thuộc phái nữ giữa khu vườn hoa văn nghệ Thất Sơn-Châu Đốc ấy, quả là một điều vô cùng thiếu sót và bất công. Đó là tác giả Nguyễn Thị Lộc Tưởng với tác phẩm đầu tay Vàm Kinh Cũ.

Về tác giả Nguyễn Thị Lộc Tưởng, có lẽ tôi không cần phải dông dài giới thiệu với các bạn về chị vì chị là người vừa chủ trương Trang nhà Thất Sơn-Châu Đốc hơn mười năm qua và chị cũng vừa là bạn học với các bạn hồi còn là học sinh trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa những năm thập niên 1960-1970 nữa. Thành ra ai là đồng hương Thất Sơn-Châu Đốc, có lẽ ít nhất các bạn một đôi lần đã ghé lại trang nhà này và chắc chắn các bạn đã ít nhiều đọc được những gì chị Lộc Tưởng đã viết và đăng trên ấy. Nhưng có một chút này về tác giả mà tôi muốn nhắc qua cùng bạn. Tác giả vốn là cựu học trò trường Nữ Tiểu Học Tỉnh lỵ Châu Đốc khi mới rời trường sơ học ở Vàm Kinh Cũ (Châu Phong), rồi hết tiểu học, chị lại may mắn được thi đậu vào trường trung học Thủ Khoa Nghĩa. Hết bậc trung học, chị lại trúng tuyển vào học Khóa VIII Sư-Phạm Vĩnh-Long. Khi đang học khóa VIII Sư Phạm Vĩnh Long được hơn nửa năm, lúc bấy giờ ở Long Xuyên có mở thêm một trường sư phạm nữa để nhận thêm các thí sinh đậu dự khuyết, lấy tên trường Sư Phạm Long Xuyên và Nguyễn Thị Lộc Tưởng xin hoán chuyển về Long Xuyên học Khóa I ở trường này cho gần nhà; cùng học với chị có các bạn như Thanh Sương (Châu Đốc)… Khi ra trường, lúc đầu chị được bổ nhiệm về một ngôi trường làng nơi đèo heo hút gió; sau này chị lại được đổi về dạy ngay cái trường Nữ Tiểu Học ngày trước nơi chị đã từng theo học. Tôi nghĩ đó là cái duyên tiền định mà ít người có được!

Nhớ hồi ấy, những năm còn nhỏ, tôi rất mê ngôi trường Sư-Phạm Vĩnh-Long này của chị, nơi ấy là nơi hội tụ những giáo sinh sắp làm thầy cô giáo mà nghề mô phạm hồi ấy là nghề vàng son một thời, được học trò thương, được phụ huynh quý mến và được xã hội kính nể mà nhiều bậc phụ huynh có con em đi học đều mơ ước con em mình được trúng tuyển vào học nơi ngôi trường lý tưởng ấy. Chẳng những vậy, vào những năm thập niên 1960-1970, nơi ấy còn là nơi hội tụ hầu hết những nàng giáo sinh trẻ đẹp của vùng sông nước Miền Tây với bộ đồng phục áo dài trắng, quần trắng bay bay trong gió làm tăng thêm vẻ đẹp của các chị với dáng đi rất thướt tha, mà các chàng trai trẻ hồi ấy đều mê lắm! Có lần tôi cũng là thí sinh của trường Sư-Phạm Vĩnh-Long hồi Khóa II với cách thi trắc nghiệm (A, B, C, D khoanh) lần đầu tiên được áp dụng ở Việt Nam, nên tôi hiểu được niềm vui của chị những ngày theo học Sư-Phạm Vĩnh-Long… Làng quê tôi nhiều bạn cùng làng tốt nghiệp ngôi trường sư phạm này. Và họ là những giáo viên mẫu mực một thời về cả hai phương diện tài năng và đức hạnh! Tôi nghĩ bạn cũng sẽ rất vui là mình có được một người bạn như Nguyễn Thị Lộc Tưởng, xuất thân từ trường sư phạm mà thời ấy, cách nay hơn 45 năm, không phải ai dự thi cũng vào được!

Hôm nay, qua nhiều lần đề nghị của hai nhà văn thuộc vào lớp đàn anh là Vũ Thất (Hoa Kỳ) và Khiêm Cung-Dương Văn Chung (Úc Đại Lợi), chị đã chọn lọc và nhuận sắc lại những bài đã viết để in thành tác phẩm Vàm Kinh Cũ này. Điều đó cho thấy, nếu không có lời đề nghị của hai anh Vũ Thất và Khiêm Cung-Dương Văn Chung, chưa chắc Vàm Kinh Cũ đã có mặt. Vì theo chỗ tôi được biết, Nguyễn Thị Lộc Tưởng viết như chỉ nhằm mục đích để trang trải những nỗi niềm cùng nhân sinh quan của riêng mình về đời sống hơn là viết để in sách, để trở thành nhà văn! Điều đó rất hợp với nhận xét của nhà văn Nguyễn Hiến Lê về cái“duyên” ra đời của một cuốn sách: “Người xưa nói: “Phải có duyên mới viết được một cuốn sách.” Tôi muốn nói thêm: “Cũng phải có duyên mới xuất bản được một cuốn sách.”(**)

Về phần nội dung của Vàm Kinh Cũ và bút pháp của tác giả, có lẽ chúng tôi xin mời bạn đọc nên đọc hai bài nhận định khá đầy đủ và rất giá trị của nhà văn Lâm Chương (Boston) và nhà văn Khiêm Cung-Dương Văn Chung (Sydney) trong phần lời BẠT. Đặc biệt, theo chỗ giao tình giữa tôi và anh Lâm Chương trong khoảng thời gian gần hai chục năm qua, tôi biết chắc một điều là họ Lâm vô cùng thận trọng trong sáng tác cũng như trong các nhận định mang tính văn học của mình đối với các tác giả và tác phẩm và tôi ít thấy Lâm Chương viết giới thiệu cho bất cứ tác giả hoặc tác phẩm nào cho dù tác giả ấy là ai. Và qua bài viết của Lâm Chương về cuốn Vàm Kinh Cũ này, theo thiển ý của tôi, tôi nghĩ rằng đây là một điểm son đối với tác phẩm đầu tay của Nguyễn Thị Lộc Tưởng…

Tôi vẫn biết rằng, đọc sách là một trong những thú vui tao nhã ở đời; nhưng có một điều này cũng rất hiển nhiên là mỗi người đọc đều có mỗi sở thích riêng, do vậy mà bạn thường tìm đọc những sách nào bạn thích, kỳ dư không ai có thể ép buộc bạn nên đọc cuốn sách này mà bỏ cuốn sách kia được! Nhưng tôi biết chắc chắn một điều là cái tựa Vàm Kinh Cũ mà tác giả đã chọn, nó hàm chứa biết bao nỗi niềm trong chị. Bởi lẽ từ “Vàm Kinh Cũ” mới có Nguyễn Thị Lộc Tưởng, mới có những ngày đi học, đi thi, đi dạy rồi cũng từ đó mới có những bước chân đời qua những năm tháng lưu lạc nơi xứ người để rồi mới biết thế nào là đi lượm ghế mùa đông, những ngày mua rau cải ở cái chợ trời Haymarket (Boston), những ngày đi học lại nơi xứ người và rồi đi làm đủ mọi thứ nghề đến lúc về hưu ngồi nhớ lại những ký ức một thời mới đó đã qua rồi hơn sáu mươi năm!!! Chẳng những thế, rải rác trong các trang sách ấy nó còn tỏ bày rất rõ về nhân sinh quan của tác giả đối với xã hội, đối với cuộc đời và nhất là về thân phận con người giữa dòng đời không phải lúc nào cũng êm đềm trôi chảy, mà tôi cho phần này là một trong những phần quan trọng, giá trị và thú vị của Vàm Kinh Cũ…

Nhà văn Nguyễn Hiến Lê có lần đã nhận định: “Tinh thần phân-tích, phê-bình tuy là cần thiết trong việc đọc sách nhưng thiếu sự cảm-thông thì khó nhận được cái hay, cái đẹp mà tâm-hồn ta chỉ khô khan lần đi thôi. Ai cũng có thể viết một cuốn sách một trăm trang để phê-bình một cuốn sách ba trăm trang được; nhưng suy-tư để thấy dụng ý, nhân sinh quan của tác-giả thì là việc ít thấy, không phải vì nó khó mà vì ít ai chịu làm, ít ai chịu quên cái “bản ngã” của mình để tìm hiểu cái “bản ngã” của người.”(***)

Bạn có bao giờ dự định “viết một cuốn sách một trăm trang để phê bình một cuốn sách ba trăm trang” của tác giả Nguyễn Thị Lộc Tưởng không? Chắc chắn là không rồi! Và bạn có bao giờ thấy lòng mình “thiếu sự cảm thông” với người bạn đồng môn của mình như nhận xét của nhà văn Nguyễn Hiến Lê về người đọc mà tôi vừa mới trích dẫn không? Chắc chắn cũng không luôn! Vì tôi tin tưởng rằng người dân vùng Thất Sơn-Châu Đốc của bạn vốn giàu lòng nhân ái, hiền hòa, chơn chất, độ lượng và dễ mến nữa nên sự cảm thông của bạn dành cho những nỗi niềm của tác giả trên các trang sách Vàm Kinh Cũ là một điều gì rất tự nhiên như nước hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang đã mang lại phù sa cùng cá tôm bồi đắp cho vùng quê của bạn, của tôi, làm thành những cánh đồng đầy lúa vàng, những vườn cây trĩu trái, những khúc sông đầy cá vậy! Thì còn gì nữa mà bạn không mở lòng đón nhận Vàm Kinh Cũ, tác phẩm đầu tay của Nguyễn Thị Lộc Tưởng, vốn là cư dân Thất Sơn-Chấu Đốc của bạn, mà cũng là bạn học cũ của bạn những ngày Thủ Khoa Nghĩa ngày nào nữa!

Thú thật, tôi không phải là dân Thất Sơn-Châu Đốc và thuở nhỏ lúc còn đi học tôi chưa lần nào có vinh hạnh là học trò trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa, nhưng sau này khi vào đời với tuổi đời còn rất trẻ, tôi có dịp về thăm Tân Châu mấy lần và có biết qua Vàm Kinh Cũ. Hồi ấy, khi tới Châu Đốc, tôi mon men theo chiếc cầu nhỏ đi xuống bến đò Châu Giang; qua bên kia sông xóm người Chàm; tôi ngồi lên chiếc xe Honda kéo thùng chở đầy khách bộ hành nặng nhọc bò theo con đường lộ đá Châu Đốc-Tân Châu chưa tráng nhựa, mà bên tay trái với con Kinh Cũ (Vĩnh An Hà) nằm song song với lộ đá đâu chừng 17 cây số với nhà sàn san sát cặp mé kinh! Vậy mà rồi, nay khi tuổi đã già, cứ mỗi lần đọc lại tập bản thảo Vàm Kinh Cũ này của Nguyễn Thị Lộc Tưởng, sao tôi thấy lòng mình bồi hồi nhớ lại một bến đò ngang, một vàm kinh cũ, một chuyến xe qua và biết bao nỗi niềm khó tả về một khoảng đời với những ngày đầu làm quen với miền sông nước ấy, cách nay hơn bốn mươi lăm năm! Thời gian dù có đi qua, tóc xanh rồi sẽ bạc nhưng hồi ức thì vẫn còn, và còn mãi như những trang đời trong Vàm Kinh Cũ!

Hai Trầu-Lương Thư Trung

Kinh Xáng Bốn Tổng, ngày 24 tháng 09 năm 2015

Sách bán tại:  www.amazon.com

Hoặc  liên lạc tác giả: thatsonchaudoc@gmail.com

VÀI GHI NHẬN SAU KHI ĐỌC LẠI “ĐỜI THỦY THỦ” CỦA NHÀ VĂN VŨ THẤT

VÀI GHI NHẬN SAU KHI ĐỌC LẠI “ĐỜI THỦY THỦ” CỦA NHÀ VĂN VŨ THẤT

Hai Trầu Lương Thư Trung

Bìa truyện dài “Đời Thủy Thủ” của Vũ Thất do Thư Ấn Quán tái bản 2012

 Trong văn chương Việt Nam thập niên 1960-1970, khi nhắc đến đề tài chiến tranh không thể không nhắc đến các bút ký chiến tranh như Đời Phi Công của Toàn Phong-Nguyễn Xuân Vinh; Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số 1 của Phan Nhật Nam, Y Sĩ Tiền Tuyến của Trang Châu, và Đời Thủy Thủ của Vũ Thất. Hồi ấy, năm 1969, Đời Thủy Thủ có mặt nhưng thật tình ra lúc ấy dù tôi đã vào đời, đi đó đi đây cũng bộn, cứ mỗi lần ghé lại thành phố nào, tôi thường hay tìm vào các nhà sách để lựa mua vài cuốn sách để vừa làm kỷ niệm với nơi mình vừa mới ghé qua và cũng để đêm đêm sau giờ đi làm nơi nhiệm sở có dịp đọc lại các trang sách ấy; và tôi nhớ có đọc Đời Thủy Thủ của nhà văn Vũ Thất, và  thú thật mình đâu biết tác giả là ai và ở đâu; nhưng chắc chắn là nhớ lại những cuộc tình trong Đời Thủy Thủ như luôn luôn chực chờ nổ ra những trận chiến trong tình trường ở tuổi đôi mươi của những ngày cách nay gần nửa thế kỷ.

Câu chuyện kể ngay từ chương đầu đã cho thấy sự xung đột giữa nhân vật Hiền, Thanh và Bằng khi họ sắp chia tay:“… Thật ra, anh cũng hiểu từ ngày Thanh xuất hiện trong ngôi nhà này, thì sự hiện diện của anh chỉ là thừa. Tuần lễ vừa qua anh muốn trắc nghiệm một lần chót. Kết quả đã quá hiển nhiên. Hiền có thể cho anh vài phút nói mấy lời từ biệt?”( trang 9)

 Cuộc tình tay ba giữa Hiền, Thanh và Bằng còn kéo dài mãi về sau này, nhưng trước Hiền nhân vật Võ Bằng còn có Bạch Tuyết giữ chân chàng trai trẻ thôi hết lang bang qua lời văn trong Đời Thủy Thủ:“Hiền nhớ đúng. Thời đó chính Bạch Tuyết là người chấm dứt mọi lang bang của tôi với các cô gái khác, là người tôi vô cùng hãnh diện khoe khoang với bạn bè. Cuộc tình đang nồng thì Nha Trang hết lớp trung học, buộc tôi phải về Sài Gòn. Rồi đang khi thư qua thư lại thì đột nhiên Hiền nghênh ngang giẫm bước vào đời tôi. Tôi đau khổ vì Hiền và lãng quên Tuyết.”(chương 1, trang 10)

Dường như cái thời của những năm trong thập niên 1960-1970, qua niệm tình yêu trai gái được tác giả cho nhân vật Võ Bằng nói với Hiền hay nói với chính mình ngày xa xưa ấy như một bút tích về tình yêu mà tác giả để lại cho thế hệ hôm nay, bây giờ:

“Hiền ạ, tình yêu tự nó đến rồi tự nó đi và tự nó không có lỗi lầm gì. Tình yêu là những cuộc đuổi bắt. Người đuổi hay người bị bắt đều có quyền hoán đổi vị trí bất cứ lúc nào…” ( trang 11)

Dù nói là nói vậy thôi, dù “hoán đổi vị trí” nào đi chăng nữa nhưng người đọc vẫn thấy có cuộc đuổi bắt nào mà không mệt mỏi và có cuộc từ ly nào mà không đau thắt trái tim yêu:“Lần trước, sắp vào quân trường, anh được một vòng tay ôm tiễn đưa. Lần này, sắp về đơn vị mới, cũng vòng tay ôm đó. Anh không trở lại là đúng. Có trở lại thì vẫn nhìn thấy đôi môi thuộc về người khác.” (trang 13)

Bước qua chương 2 của tập truyên là khởi đầu đời binh nghiệp của Hải quân Thiếu úy Võ Bằng khi về trình diện đơn vị mới với một Thiếu tá hạm trưởng đầy uy quyền, nhưng khung cảnh ở đây cho thấy tình huynh đệ chi binh được hé lộ qua lời ông Hạm trưởng nói với vị tận sĩ quan mới về trình diện đơn vị mình,:“Tàu này, sĩ quan nào cũng bay bướm, nhất là ông hạm phó bất kể sắp cưới vợ nay mai. Riêng tôi dù đã có vợ, có con mà vẫn còn thích… độc thân tại chỗ. Nếu anh không bay bướm, anh hóa thành người hùng cô đơn! Tôi chủ trương làm việc hết mình thì chơi cũng phải hết mình. Cái khó là trong mọi trường hợp, anh phải biết đặt công vụ trước tư vụ. Cái khó hơn nữa là khi anh chơi hết mình, anh phải chơi cho đẹp, cho phong nhã, nghĩa là không được gây buồn phiền cho gia đình, gây tai tiếng cho Hải quân. Đồng ý?”

Cũng ở chương 2, tác giả còn nhắc nhở vị tân sĩ quan:“Theo thông lệ, chức vụ sĩ quan ẩm thực thường dành cho các sĩ quan mới ra trường. Một chức vụ không có gì khó khăn, là lo ăn uống cho toàn thể thủy thủ đoàn. Nó chỉ đòi hỏi ở anh đức tính liêm khiết và không ẩu tả. Tôi thích những người bay bướm nhưng lại ghét những người ẩu tả.” (trang 18)

 Các lời của vị Hạm trưởng nói với vị tân sĩ quan như vừa tâm tình, vừa ban lịnh ấy mà  tôi vừa trích dẫn, qua kinh nghiệm bản thân có thời cũng gặp các cấp chỉ huy rất trẻ thì tôi thấy rằng ở đây có thể nói là một trong những ưu điểm của phong cách chỉ huy của các cấp chỉ huy trẻ trong các đơn vị hành chánh cũng như quân sự lúc bấy giờ. Hay nói cách khác, tác giả ghi lại rất thực về những bỡ ngỡ của người mới về đơn vị và những ân cần của một cấp chỉ huy đầy kinh nghiệm dành cho một vị tân sĩ quan. Tình huynh đệ chi binh là ở chỗ khởi đầu và gần gũi ấy!

Ở chương 2, thiếu úy Võ Bằng khóa 11 Hải quân đã gặp lại Tâm hồi học lớp đệ Tam B3 ở Nha Trang, nay là sĩ quan hải quân tốt nghiệp trước Võ Bằng một khóa nhưng tới chương 3, hai người  bạn học ngày cũ mới sống lại thời còn là học sinh khi Võ Bằng yêu Tuyết. Mà cái nét tiểu thuyết nó cũng nằm ở đây thôi! Giữa Tuyết và Võ Bằng , giữa Tuyết và Tâm, đều có những trao đổi ái tình thì thử hỏi làm sao mà không có chút gì nhoi nhói trong lòng khi biết người yêu của mình không còn là của mình nữa rồi. Thế là lại phải gượng vui làm hòa và nhà viết truyện họ thành công khi người đọc thấy xót xa trong lòng về những mối tình ngang trái ấy!

Nhưng dù gì thì gì, tình bạn giữa Tâm và Bằng vẫn chưa đến nỗi tan tác như ở chương 4, Võ Bằng đã xác nhận:“Việc gặp lại Tâm đã giúp tôi đỡ ngỡ ngàng nơi chốn lạ.” Và bao giờ tiếng gọi của trái tim cũng mãnh liệt khi những người tình cũ có dịp gặp lại nhau, nhưng trớ trêu thay, lúc bấy giờ Võ Bằng lại nghĩ: “Tôi hình dung Tuyết qua lời mô tả của Tâm. Rồi không biết do mối liên kết nào mà thay vì hình bóng Tuyết hiện ra lại là vóc dáng của Hiền. và vóc dáng tuyệt vời đó mỗi lúc thêm rõ mồn một. Cùng với vóc dáng là cái cảm giác nhớ nhung da diết ào ạt xâm chiếm. Cuối cùng tôi gần ngộp thở với niềm khát khao gặp lại nàng”(trang 43)

Trong các chương kế tiếp, người đọc bị tác giả dẫn dắt qua hết những bất trắc này đến bất trắc khác trong các bước đường tình ái của nhân vật Võ Bằng. Ở chương 5, Tâm, Tuyềt và Võ Bằng; ở chương 6 lại có Hiền tìm thăm Võ Bằng và cũng có gặp Tâm, nhưng lần này Võ Bằng tỏ ý muốn rời Hiền nên cuộc gặp cũng chẳng có gì vui; rồi chương 8 lại Tâm, Tuyết và Võ Bằng; chương 10, chương 11, chương 12 và nhiều chương khác nữa, có thêm nhiều người đẹp nữa nhưng tôi không thể mất lịch sự đến độ quên để bạn tìm đọc những chương sách còn lại trong truyện dài “ Đời Thủy Thủ” này để biết cuối cùng Hải quân thiếu úy Võ Bằng sẽ ghé lại bến nào trong những ngày trái tim bị bầm giập ấy? Thành ra, tôi đành phải dành lại phần lần dỡ những trang sách còn lại trong Đời Thủy Thủ này cho bạn.

Nhưng có một điều này tôi xin thưa cùng bạn, vì “Đời Thủy Thủ” không phải chỉ viết về tình yêu của các nhân vật không thôi mà mục đích chính như tựa sách đã nói rõ đó là đời của một thủy thủ, nên rải rác trong các chương sách không thể thiếu những cảnh sinh hoạt trên chiến hạm, những cuộc hải hành trên sông, trên biển mà tôi tin chắc rằng từ trước tới nay, tức là từ lúc tôi còn nhỏ đi học, sau này lớn lên rồi vào đời, rồi về quê làm ruộng giăng lưới giăng câu và nay khi tuổi đã già, tôi chưa thấy ai tả lại trận chiến của các chiến hạm nói chung và trận chiến ở Vũng Rô, một vịnh nhỏ nằm giáp ranh Phú Yên và Nha Trang từ trên ngọn Đèo Cả cao chót vót nhìn ra ngoài vùng biển ấy, nói riêng, mà hay như vậy trong quyển sách này. Phải là một thủy thủ tài tình với óc quan sát và nhận xét khá tinh xác mới có thể viết chương sách về trận chiến cách nay tròn năm mươi năm (1965) mà đọc lại như mới vừa xảy ra bây giờ. Vừa hồi hộp, vừa lo sợ về mối hiểm nguy trong một vùng lửa đạn và nhất là vừa cảm động và nễ phục cái tình chiến hữu của những người lính và các cấp sĩ quan có mặt trong trận chiến này.

Ở đây tôi có một ghi nhận nữa là tài tả cảnh của tác giả, cảnh éo le trong tình trường thì rất éo le; cảnh chiến tranh thì thật là hãi hùngvà ghê rợn; cảnh thành thị ngựa xe thì cảnh nào cũng gợi cho bạn có chút bồi hồi nhớ lại có lần bạn đã đi qua những địa danh ấy đôi ba lần. Cái tài của nhà văn là ở chỗ làm người đọc không chán khi đọc sách và nhứt là người đọc lại nhận được ra chính mình nơi những cảnh, những tình trong sách ấy. Tôi nghĩ nhà văn Vũ Thất, ông đã làm được điều ấy cách nay gần nửa thế kỷ. Chẳng hạn khi ông tả Nha Trang, tôi nhớ những ngày của thập niên 1970, tôi có qua con phố Độc Lập nhiều lần, tôi có về Chụtt đôi ba lần với đôi ba lần sợ ma như trong sách, tôi có chiều chiều lang thang dọc theo bờ biển dài cát trắng mà nghe song biển rì rào; hoặc khi ông tả cảnh Vũng Rô, tôi nhớ có lần leo dốc Đèo Cả bên này Đại Lãnh (Nha Trang) qua bên kia đèo thuộc vùng Vĩnh Xương của Phú Yên, nhìn xa xa bên tay mặt là Vũng Rô nằm ngoài khơi vùng biển xa mùa ấy; hoặc như khi ông tả cảnh Năm Căn (Cà Mau), cảnh ủi bãi Đồng Tâm (Mỹ Tho) là tôi nhớ vùng đất phía Tây Nam này…, nhiều lắm không kể xiết.

Một ghi nhận khác theo tôi, truyện dài “Đời Thủy Thủ” hấp dẫn là nhờ  cái tài dựng truyện đã đành mà cách viết các câu đối thoại giữa các nhân vật, đặc biệt vai nhân vật nào có ngôn ngữ riêng của nhân vất ấy, mà cái hay là đối thoại hợp với từng hoàn cảnh, từng câu chuyện và từng cảnh đời lại ngắn gọn nhưng súc tích, đầy đủ, không dư, không thiếu. Tác phẩm đầu tay mà tác giả viết đối thoại được như vậy tôi nghĩ ông đã là một nhà văn khi chưa viết văn rồi! Vì tôi cũng thường đọc nhiều sách, nhứt là truyện ngắn truyện dài và cả tiểu thuyết trước đây cũng như sau này, tôi ít khi gặp được các tác phẩm có những câu đối thoại tự nhiên và hay như vậy, ngoại trừ Vũ Thất và Lâm Chương là hai nhà văn mà tôi đã được đọc.

Viết về Đời Thủy Thủ của nhà văn Vũ Thất, tôi không mơ mình sẽ đem lại cho bạn điều gì mới mẻ, bởi một lẽ giản dị là tác phẩm này in lần đầu vào năm 1969, tức đã lâu lắm rồi, làm sao mình có thể tìm ra được điều gì mới lạ sau khi cuộc chiến cũng đã tàn rồi sau bốn mươi năm?!? Nhưng có một điều là, sở dĩ tôi đọc lại Đời Thủy Thủ và ghi lại vài cảm tưởng này bởi vì khi tác giả sáng tác tác-phẩm này là lúc tôi cũng chỉ thua ông vài ba tuổi, và có thời tôi cũng ở Nha Trang ba bốn năm, và tôi có biết thế nào là tình yêu thuở đôi mươi và tôi cũng biết thế nào là chiến tranh khốc liệt khi mình còn rất trẻ nên khi đọc lại Đời Thủy Thủ và ngồi xuống ghi lại mấy cảm tưởng này không phải nhằm giới thiệu hay quảng cáo sách cho tác giả, bởi lẽ chắc ông nay cũng không còn cần ai quảng cáo hay khen chê gì về mình; mà ở đây tôi chỉ muốn ghi lại cho mình, cho chính mình mà thôi, và dịp này, cũng như một lời cảm ơn chân thành của một người đọc gởi đến tác giả khi tác phẩm của ông mang mình bồi hồi sống lại một thời hoa mộng của tuổi đôi mươi ngày nào, nay đã xa rồi, xa lắm hơn năm mươi năm!

Hai Trầu

Kinh Xáng Bốn Tổng, ngày 02 tháng 12 năm 2015

(Trích từ cuốn: “Người Đọc & Người Viết”)

nguồn: http://thatsonchaudoc.com/

 

 

 

Thập Toàn Lão Nhân

Thập Toàn Lão Nhân

(Trích Nhất Thống Sơn Hà – hồi thứ hai mươi sáu )

Vũ Thanh

…Đó là một quần đảo trên biển Đông, ngoài khơi Thuận – Quảng. Tín Nhi, Hoàng Nhi và Lương Văn Canh đứng trước mũi chiếc đại thuyền đang lướt sóng tiến gần đến bờ một hòn đảo lớn phía Tây Nam. Nhìn từ xa xa, các hòn đảo giống như những đụn cát vàng nổi lên trên mặt nước, lấp loáng ánh tà dương trông như những núi vàng vô cùng ngoạn mục. Hoàng Nhi không khỏi buộc miệng trầm trồ:

–  Đẹp quá! Thiên tổng và Tín ca xem chúng giống những núi vàng không kìa. Có tất cả bao nhiêu đảo, Thiên tổng?

Lương Văn Canh chỉ tay một vòng đáp:

–  Không biết chính xác được. Nhưng ít nhất phải trên trăm hòn. Thấy lá cờ Tây Sơn phất phới kia không? Đó là nơi đồn trú của thủy đội Hoàng Sa. Ngôi am nhỏ của Tịnh Quang sư phụ cách đó không xa.

Hoàng Nhi náo nức:

–  Nhanh lên. Chúng ta hãy ghé am gặp Lâm ca trước.

Tín Nhi nhắc:

–  Đã chắc đâu mà gặp Lâm ca. Huống chi anh ấy nay đã là Thiền sư đạo hạnh lánh đời. Chú mày đừng gọi là Lâm ca nữa. Nhất là những chuyện quá khứ.

Văn Chánh hỏi:

–  Vị Lâm ca mà quân trưởng nhắc tới đó là ai?

Tín Nhi nói:

–  Thiền sư đã không chịu nói ra, tôi cũng không dám nhắc đến. Đợi gặp mặt xem thế nào đã.

Chiếc thuyền cập sát vào một ghềnh đá san hô, nơi có một kè tàu. Ba người lên bờ. Văn Canh nói với Phàn Văn Tài:

–  Anh em lo phận sự của mình, ta đưa hai vị này sang thăm sư phụ trước đã.

Họ vòng qua một rừng cây rậm đến bờ một con suối. Phía bên kia là ngôi am nhỏ, chung quanh trăm hoa nở rực trông như cảnh tiên. Văn Canh đưa hai người qua chiếc cầu bắt ngang con suối đến trước cửa am, có tiếng chuông từ bên trong vọng ra. Văn Canh chắp tay xá vào trong bốn xá nói:

–  Bẩm sư phụ. Có người đến viếng am bái phật.

Tín Nhi và Hoàng Nhi đều hồi hộp nhìn chăm chăm vào cửa am. Một lúc sau vị thiền sư trong bộ cà sa mộc mạc hiện ra nơi cửa. Vừa trông thấy mặt, Hoàng Nhi đã buộc miệng reo lên:

–  Lâm ca! Đúng là Lâm ca rồi.

Chợt nhớ lại lời nói của Tín Nhi, nó vội đưa tay bịt miệng mình lại. Tín Nhí cũng không tránh được sự mừng rỡ, hai hàng lệ chợt lăn dài trên má, chàng nói nhỏ:

–  Tạ ơn trời phật! Anh ấy vẫn còn sống.

Vị Tịnh Quang thiền sư không ai khác hơn là Trần Lâm. Nhìn thấy Tín Nhi và Hoàng Nhi, nhà sư không dấu được vui mừng bước vội ra bên ngoài dang rộng hai tay. Tín Nhi và Hoàng Nhi nhào tới ôm chầm rồi cả hai cùng bật khóc. Ba vòng tay siết thật chặt. Tịnh Quang thiền sư nói:

–  Mối nhân duyên giữa chúng ta thật sâu đậm. Hai em tao ngộ thế nào?

Tín Nhi buông vòng tay, nhìn Tịnh Quang một lúc mới đáp:

–  Bọn em vẫn sống tốt. Mừng cho đại… ơ… Sư phụ pháp thể vẫn an khang.

Tịnh Quang mỉm cười:

–  Hai em không cần câu nệ việc xưng hô. Đại ca hay sư phụ cũng thế thôi, thuận miệng thì cứ gọi.

Hoàng Nhi cười:

–  Vậy em kêu sư phụ là Lâm ca như trước nhé.

Tín Nhi nói:

–  Gọi là sư huynh sẽ dễ nghe hơn.

Lương Văn Canh ngạc nhiên hỏi:

–  Thì ra sư phụ và hai người biết nhau từ trước à?

Tịnh Quang đáp:

–  Chúng tôi là anh em kết nghĩa.

Văn Canh chắp tay vái:

–  Mừng sư phụ gặp lại người thân. Đệ tử cáo lui để lo một số công việc.

Văn Canh đi rồi, Tịnh Quang nói:

–  Vào đây, chúng ta uống trà nói chuyện. Lúc mới đến đây anh chỉ dựng một căn nhà nhỏ để trú thân, sau anh em binh sĩ Tây Sơn dựng lên ngôi am này.

Họ ngồi dưới một chái hiên bên con suối nhỏ, Tịnh Quang rót trà ra ba chiếc tách nhỏ nói:

–  Ở đây chỉ có trà, hai em uống đỡ khát.

Hoàng Nhi hỏi:

–  Vậy là từ nay sư huynh phải cữ rượu thịt, chỉ ăn chay thôi phải không?

Tịnh Quang đáp:

–  Ăn chay rất tốt cho người đi tu, nhưng không nhất thiết phải cữ rượu thịt.

Hoàng Nhi trợn mắt lên tỏ vẻ kinh ngạc:

–  Không nhất thiết à? Sao em thấy mấy ông thầy chùa nói người đi tu buộc phải giữ giới, cấm sát sanh, cữ rượu thịt gì đó mà.

Tịnh Quang mỉm cười:

–  Bây giờ chú hãy tin như vậy đi. Mai này có cơ duyên, anh sẽ nói rõ hơn về sự khác biệt này.

Tín Nhi định nhắc đến mẹ con Đoan Trang nhưng nghĩ lại không tiện nên hỏi:

–  Nhìn sư huynh rất thanh sảng, anh định ở lại đây tu đến cuối đời sao?

–  Theo ý chú thì anh nên thế nào?

–  Em có cơ duyên gặp được vị sư tổ của Lía đại ca, sư tổ có nói đến việc thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Đại Việt ta vẫn chủ trương đem đạo vào đời. Vì thế, vị Phật hoàng Trần Nhân Tông đã vân du khắp nơi trong dân gian để hoằng dương đạo pháp.

Tịnh Quang gật đầu tán thành:

–  Lời dạy của Vô Danh sư tổ chí phải.

Tín Nhi sáng mắt hỏi nhanh:

–  Sư huynh có định hành đạo theo kiểu đó không?

–  Hai chú lúc nào cũng nhanh trí, nhanh miệng.

Tín Nhi hiểu ý nên hỏi:

–  Bấy nay anh em binh sĩ có cho anh biết tình hình trong nước mình không?

–  Có. Kể cả việc mẹ con Đoan Trang hóa đá.

Tín Nhi thấy Tịnh Quang nhắc đến nghịch cảnh xưa mà nét mặt vẫn thản nhiên như không thì ngạc nhiên lắm nên nhìn sững vào mặt nhà sư. Tịnh Quang mỉm cười:

–  Chắc hai chú ngạc nhiên vì sự bình thản như thờ ơ của anh về việc này phải không?

Tín Nhi ngần ngại nói:

–  Em cũng định báo tin cho sư huynh nhưng lại sợ khơi lại nỗi đau cũ nên…

Tịnh Quang nói:

–  Nhân quả luân hồi là điều không tránh được. Hạnh phúc và khổ đau vốn không có biên giới, nhắc lại hay không cũng vậy thôi. Khi anh ra đi, anh đã giũ sạch nợ trần, không còn vướng bận. Ý nghĩa của hai chữ xuất gia là như vậy đó.

Hoàng Nhi chen vào hỏi:

–  Giũ sạch nợ trần là sao sư huynh?

–  Là một sự thoát xác. Quên thân xác này đi, chỉ còn giữ cái tâm để đến với đạo.

–  Vậy nay mai sư huynh trở lại với đời, chẳng phải là trở lại con người lúc trước hay sao?

–  Không phải.

Hoàng Nhi nhăn mặt:

–  Em không hiểu. Mấy ông thầy tu như sư huynh thật khó hiểu.

Tịnh Quang vỗ vai nó:

–  Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, với bất kỳ một người xa lạ nào, em vẫn đối xử bằng một tình thương chân thật, rồi sẽ đến lúc em hiểu ra chân tướng sự việc khó hiểu này.

Quay sang Tín Nhi, ông tiếp:

–  Anh thật sự vui mừng về thành quả của Nguyễn Huệ đã mang lại cho đất nước. Con người này rất đáng để chúng ta bái phục.

Tín Nhi thở dài:

–  Tiếc rằng hoàng thượng không có đại chí nên Nguyễn Huệ đang gặp nhiều khó khăn trong việc nhất thống sơn hà.

–  Khó khăn gì?

–  Hiện nay bọn Nguyễn Ánh đã trở lại quấy phá trong Nam, Đông Định vương mất dần lãnh thổ. Phía Bắc thì sĩ phu Bắc Hà còn chống đối, chưa chịu theo về với Tây Sơn. Nhưng cái họa lớn nhất mà Nguyễn Huệ đang lo là bọn nhà Thanh.

–  Bọn nhà Thanh à?

Tín Nhi đem mọi việc kể lại và than:

–  Nguyễn Huệ đang lo Càn Long sẽ mượn cớ xâm lăng nước ta. Anh ta đang ở trong thế lưỡng đầu thụ địch, khó khăn vô cùng.

– Nhiệm vụ của chú và Hoàng Nhi chuyến này là nhờ bọn Lương Văn Canh đưa vào nội địa Trung Hoa để do thám phải không?

–  Cặp mắt quân sự của sư huynh vẫn tinh tường như thuở nào. Khi nghe Văn Canh nói có vị thiền sư ở đảo này, bọn em nghĩ đến anh nên tiện đường ghé ra cho biết. Không ngờ lại thật.

–  Vạn sự đều do một chữ duyên mà thành. Anh sẽ đi cùng hai chú.

Hoàng Nhi reo lên:

–  Thật chứ? Sư huynh bỏ tu để đi với tụi em à?

Tịnh Quang nhìn nó giải thích:

–  Không phải leo lên núi vắng, hay miệt mài ngồi gõ mõ tụng kinh trong chùa mới là tu chú em ạ. Phật giáo Yên Tử Trúc Lâm của Đại Việt, như Tín Nhi vừa nhắc đến lúc nãy, chủ trương đem đạo vào đời, tu ngay trong cuộc sống, hành thiện tức hành thiền. Với tinh thần đạo đời là một, hạnh phúc của vua quan cùng bá tánh là một… nên trên dưới một lòng, nhờ vậy mà vào đời nhà Trần, chúng ta đã ba lần chiến thắng quân Mông Cổ.

Hoàng Nhi không giằn được nỗi vui mừng:

–  Nếu bọn Càn Long dám đem quân sang, sư huynh cũng đem đạo vào đời, giúp Bắc Bình vương đánh cho chúng một trận chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn để chúng biết dân ta lợi hại thế nào.

Tịnh Quang không nín được cười hỏi:

–  Chú học ở đâu mấy câu nói hay ho này vậy?

–  Hi…hi… Là của Bắc Bình vương Nguyễn Huệ mới nói hôm trước đó. Em nghe đã tai quá nên học thuộc lòng ngay.

Tín Nhi hỏi:

–  Sư huynh là đệ tử thiền phái Trúc Lâm Yên Tử à?

– Sư phụ thuộc dòng Lâm Tế nhưng cuối đời nghiêng hẳn về Trúc Lâm. Anh đã dự trù sẽ trở về đất liền để tìm lên Yên Tử tu học thêm Phật pháp. Nay gặp cơ duyên này, anh muốn sang Trung Quốc tìm hiểu thêm về Phật pháp Trung Hoa để đối chiếu, thu thập thêm.

Có được một người tài trí như quân sư Truông Mây Trần Lâm đi cùng, Tín Nhi thêm vững lòng tin, chàng nói:

–  Đã có sư huynh, bọn em khỏi phải động não nữa. Mọi việc giao hết cho anh sắp đặt.

Tịnh Quang nói:

–  Hai em đi cùng Phàn Văn Tài giả làm thương buôn do thám tình hình Lưỡng Quảng. Anh và Lương Văn Canh sẽ là hai nhà sư vân du đến Bắc Kinh thăm dò phản ứng của Càn Long. Anh em Thiên Địa Hội của Văn Canh vẫn còn hoạt động ở Bắc Kinh. Sau ba tháng chúng ta gặp nhau ở Phú Xuân.

Hoàng Nhi hỏi:

–  Lương tổng binh cũng phải cạo đầu làm sư à?

–  Sau lần gặp anh, ông ấy đã có ý định xuống tóc quy y rồi. Con người này là một chí sĩ yêu nước. Đối với triều đình Mãn Thanh, ông ta có cả hai mối hận, nợ nước thù nhà.

Tín Nhí hỏi:

–  Ba tháng có quá trễ không?

–  Anh nghĩ là không. Để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh xâm lược, nếu có, chúng sẽ phải thư trình lên, chiếu dụ xuống, hoạch định kế sách, tập trung binh lính, chuẩn bị lương thảo. Anh còn lo với ba tháng chúng ta còn chưa nắm được hết tình hình của địch.

–  Nhưng chúng ta cũng cần có thời gian chuẩn bị để đối phó.

–  Cho nên hai em phải tùy tình hình mà hành động. Nay đã cuối tháng năm, thôi thì giữa tháng chín chúng ta có mặt ở Phú Xuân gặp Nguyễn Huệ.

Hoàng Nhi nói:

–  Nếu cần, Tín ca sẽ trở về Phú Xuân trước, em ở lại bên đó thu thập thêm tin tức.

***

…Chiếc thuyền lớn cập vào bến sông Hương gần cửa Tiền thành Phú Xuân. Tín Nhi, Tịnh Quang thiền sư, Lương Văn Canh  và Trần Thiêm Bảo bước lên bờ. Họ vào thành và chờ nơi tiền sảnh, toán cẩm vệ vội vã vào báo cho Nguyễn Huệ biết. Một lát sau Nguyễn Huệ bước vào, theo sau là Nguyễn Quang Thùy và Nguyễn Quang Hiển. Nhìn thấy hai nhà sư, ông thoáng ngạc nhiên nhưng chợt nhận ra nên mừng rỡ bước nhanh đến gần reo lên:

–  Anh Trần Lâm! Vậy là dạo đó anh đã gặp duyên lành rồi. Bây giờ tôi phải gọi anh là sư huynh mới phải. Pháp danh của sư huynh là…

Sư Tịnh Quang đứng lên chắp tay nói:

–  Mô Phật. Tôi bây giờ mang tên gọi mới là Tịnh Quang. Xin chào Bắc Bình vương gia.

Nguyễn Huệ chắp tay đáp lễ:

–  Trông thấy nghi biểu, Huệ xin chúc mừng cho thành tựu đạo pháp của sư huynh vậy.

Thiêm Bảo và Văn Canh cúi đầu chào:

–  Thuộc hạ ra mắt vương gia.

Quang Hiển và Quang Thùy cúi chào mọi người:

–  Hai cháu chào các chú, các bác ạ.

Chào xong, Quang Thùy chạy đến cạnh Tín Nhi mừng rỡ nói:

–  Chú Tín Nhi! Lâu quá cháu không gặp chú. Món phi đao chú dạy, cháu tập khá lắm rồi, xong việc ở đây chú có thể kiểm tra.

Tín Nhi ôm nó, thân mật:

– Cháu của chú giỏi lắm. Xem nào, đã trở thành chàng thiếu niên bảnh trai rồi đây. Lát nữa chú cháu mình nói chuyện thêm nhé.

Nguyễn Huệ dặn:

–  Quang Hiển đi mời bác Trần Văn Kỷ, Quang Thùy đi mời bác Quang Diệu và cô Xuân đến gặp cha.

Hai chàng thiếu niên dạ ran, chào mọi người rồi lui ra. Nguyễn Huệ hỏi:

–  Mọi người đều bình an chứ? Văn Canh cũng xuống tóc rồi à?

Lương Văn Canh chắp tay đáp:

–  Thuộc hạ vì công việc mà cũng coi đây là một cơ duyên để quy y nên đã xin sư phụ thí phát cho.

Nguyễn Huệ nhìn Tín Nhi nói:

–  Hãy vào bên trong chúng ta đàm đạo. Hoàng Nhi đâu?

Tín Nhi đáp:

–  Nó còn ở lại Quảng Tây để thu thập thêm tin tức.

Họ vào tới khách sảnh thì Trần Văn Kỷ, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân và Thu Cúc vừa đến nơi. Chờ hai thị nữ mang trà đến mời rồi lui ra, Nguyễn Huệ hỏi Thu Cúc:

–  Em mới về tới à? Tình hình Gia Định thế nào?

Thu Cúc đáp:

–  Bẩm vương gia, quân Nguyễn Ánh ngày một lớn mạnh, Đông Định vương sai Phạm Văn Tham đánh dẹp mãi không xong. Hiện Đông Định vương đã giao hết quyền hành cho Tham thái bảo để về Quy Nhơn rồi.

Nguyễn Huệ nghe nói lắc đầu than:

–  Anh Bảy vốn là người thích tu hành, không ham danh lợi, vùng đất Gia Định trù phú nhưng cũng lắm việc rắc rối nên anh ấy không kham nổi. Hà! Mặt Bắc chưa yên, mặt Nam lại có loạn. Tạm thời đành phải gác bọn thằng Chủng một bên, xong bọn Thanh cẩu rồi tính tới chúng sau vậy.

Quay sang Tín Nhi, ông hỏi:

–  Chuyến đi an toàn cả chứ? Công việc thế nào?

Tín Nhi đáp:

–  Công việc thì tốt nhưng tình hình rất xấu.

–  Bọn chúng dự tính ra quân thật à?

–  Đúng vậy. Hãy nghe Lương tổng binh nói về tình hình Bắc Kinh trước đã.

Nguyễn Huệ nhìn Lương Văn Canh:

–  Ta muốn biết càng nhiều càng hay về đất nước và nội bộ triều đình nhà Thanh, đặc biệt về con người của Càn Long.

Văn Canh nói:

–  Vậy chúng ta nên bắt đầu từ Càn Long. Năm nay là năm thứ năm mươi ba của đế chế Càn Long. Có thể nói đây là giai đoạn cực thịnh của nhà Thanh với bảy lần chinh phục các nước lân bang, để mở rộng biên giới.

Nguyễn Huệ ngạc nhiên hỏi:

–  Bảy lần đi chinh phục! Những nước nào?

Văn Canh đáp:

–  Hai lần chinh phạt Kim Xuyên (Tây Tạng) ở phía tây Tứ Xuyên, hai lần chinh phạt Chuẩn Cát Nhĩ, một bộ lạc người Mông Cổ phía Tây bắc, một lần đánh người Hồi Hồi ở Hồi Cương phía nam Thiên Sơn, một lần chinh phạt Miến Điện nhưng thất bại phải cầu hòa. Năm nay họ vừa đánh thắng Lâm Văn Sảng và thu phục Đài Loan. Bằng những chiến tích đó, Càn Long rất đắc ý với những võ công của mình, hiện ông ta đang ra lệnh cho Quân Cơ Xứ dự thảo kế hoạch đánh người Khuếch Nhĩ Khách ở Nê-pan vì chúng đang đánh chiếm một phần biên giới của Kim Xuyên (Tây Tạng).

Nguyễn Huệ gật gù khen:

–  Càn Long đúng là một ông vua giỏi. Quân Cơ Xứ tổ chức thế nào?

Văn Canh đáp:

–  Gồm tứ trụ đại thần, giúp Càn Long việc trị quốc như vai trò một tể tướng. Ban đầu Quân Cơ Xứ chịu trách nhiệm soạn thảo ra những kế hoạch quân sự, về sau họ còn đảm nhận thêm nhiều nhiệm vụ khác. Hiện nay A Quế đứng đầu Quân Cơ Xứ, gian thần Hòa Khôn đứng thứ nhì. Hai con người một trung một nịnh này tuy âm thầm chống đối nhau nhưng ngoài mặt vẫn sống chung hòa bình.

–  Quân Cơn Xứ đã có kế hoạch gì về chuyện xâm lăng Đại Việt chưa?

– Dạ chưa có gì rõ ràng cả. Dường như Quân Cơ Xứ không muốn đem quân xuống An Nam vì họ đang chuẩn bị để đánh Khuếch Nhĩ Khách. Tuy nhiên Càn Long lại đồng tình với những tấu chương yêu cầu động binh của Tôn Sĩ Nghị gởi lên.

–  Và ông ta quyết định tiến hành?

–  Thưa, đúng vậy. Càn Long nay đã gần bát tuần, ông ta có tham vọng sẽ thực hiện mười chiến công lớn trong đời mình để đạt được danh hiệu Võ Công Thập Toàn mà ông ta thường nói với quần thần.

Nguyễn Huệ mỉm cười:

–  Ông vua này có nhiều ý nghĩ hay đấy chứ? Với những chiến công và đóng góp của ông ta cho đất nước Trung Hoa, gọi như thế cũng xứng đáng lắm.

Lương Văn Canh nói, giọng có vẻ chua chát:

–  Người Mãn Châu may mắn đã có được ba ông vua rưỡi đáng được gọi là minh quân, cho nên người Hán chúng tôi mặc dù hết lòng nổi dậy đánh đuổi vẫn không thể đẩy họ trở về sa mạc được. Mối hờn vong quốc này không biết đến bao giờ mới rửa sạch.

Nguyễn Huệ an ủi:

–  Quý hồ còn những con người có lòng như tướng quân, chuyện phục quốc không phải là không có hy vọng. Ba ông vua rưỡi là sao?

–  Tạ ơn vương gia khích lệ. Họ là Thuận Trị, Khang Hy, Ung Chính và tuổi trẻ Càn Long.

–  Vậy ra hiện thời Càn Long đang là một hôn quân à?

–  Có thể nói như vậy. Càn Long vốn là một vị vua văn võ song toàn. Chỉ riêng về thơ, chưa có nhà thơ Trung Hoa nào sáng tác nhiều thơ hơn ông ta. Nghe đâu ông ta đã sáng tác hơn bốn vạn bài thơ.

Tín Nhi nhỏm lên khỏi ghế vì kinh ngạc:

–  Hơn bốn vạn bài thơ à?!

–  Dạ đúng vậy. Con số này gần tương đương với tổng số Đường thi của Hán tộc.

Nguyễn Huệ mỉm cười:

–  Ông vua già thật có lắm điều lý thú. Đúng là một vị Phong lưu Thiên tử.

Văn Canh nói tiếp:

–  Về võ công, trong ba mươi năm đầu, Càn Long đã kế tục được sự nghiệp của các tiên vương, mở mang nước Trung Hoa thành một đế chế vô cùng rộng lớn và hùng mạnh. Ông không ngần ngại chi hàng trăm triệu lượng bạc vào kinh phí chiến tranh. Nhưng càng về sau, ông vua này càng tỏ ra độc tài và hoang phí đến vô độ, chi tiêu rất hào nhoáng cho những cuộc du hành vào dân gian với hàng ngàn kẻ hầu người hạ đi theo. Ông cho xây khắp nơi những cung điện mùa hè để đến nghỉ mát. Mỗi một kỳ nghỉ hè hay du ngoạn như thế tiêu tốn hàng vài triệu lạng bạc là chuyện thường thình. Một trong những công trình vĩ đại và tốn kém nhất của Càn Long là khu nghỉ mát Viên Minh Viên cực kỳ tráng lệ ở phía Tây Bắc Kinh. Đã vậy, ông còn thẳng tay trừng trị bất kỳ ai dám lên tiếng ngăn cản hay chỉ trích những việc làm đó, bởi Càn Long lúc nào cũng muốn chứng tỏ mình là một bậc thánh quân, phải du hành vào dân chúng và phải được hưởng thụ đúng với những thành quả do mình tạo dựng nên.

Bùi Thị Xuân lên tiếng:

–  Con người khi lên đến tột đỉnh quyền uy và danh vọng thường vọng tưởng như vậy. Điều này chứng tỏ Càn Long không phải là một ông vua giỏi. Hẳn tình hình triều chính nhà Thanh đang có lắm chuyện bê bối phải không?

Lương Văn Canh khen:

–  Bùi đô đốc suy luận rất chính xác. Nhận định về con người của Càn Long và tình hình triều chính nhà Thanh xin mời sư phụ nói ra sẽ chuẩn xác hơn.

Nguyễn Huệ hỏi:

–  Nhận xét của sư huynh thế nào?

Tịnh Quang đáp:

–  Hiện tình nhà Thanh cũng giống như thời Võ vương của ta vậy. Đất nước Trung Hoa vào hai mươi năm trước đang ở đỉnh cao nhất của phồn vinh và hùng mạnh, uy vũ và danh tiếng của vua Càn Long cũng lên cao đến mức tuyệt đỉnh từ đó sinh ra kiêu ngạo và tự phụ. Càn Long tự ví mình là con trời và đất nước Trung Hoa mà ông ta cai trị là Thiên triều, là trung tâm của vũ trụ, bởi vậy ông ta ban hành chính sách bế quan tỏa cảng. Chính sách này phát sinh từ sự bảo thủ độc đoán của Càn Long, mặt khác nó cũng do tâm lý tự mãn quá độ, sợ phải nhìn thấy kẻ khác hơn mình và sợ kẻ đó nhìn thấy sự yếu kém của mình, từ đó đẩy đất nước Trung Hoa vào con đường nghèo khổ và lạc hậu hơn rất nhiều so với vùng đất Ma Cao đã cho người Bồ Đào Nha thuê.

Nguyễn Huệ hỏi:

–  Nghĩa là nạn tham quan và bạo chúa đang ngự trị cả đất nước?

– Đúng vậy. Càn Long tin dùng một cách mù quáng một tên Hồng Kỳ binh trẻ tên Hòa Khôn, đến độ chỉ trong vòng mười năm, từ một tên lính gác cung điện, nhờ dáng dấp thanh tú đã thăng đến chức Đại học sĩ, có thế lực nhất, giàu có nhất và thân cận nhất. Dưới quyền Hòa Khôn, nạn mua quan bán tước, hối lộ và bóc lột dân chúng còn hơn cả dưới thời Trương Phúc Loan trước đây.

Văn Canh chen vào:

–  Những tin tức nội bộ triều đình và Quân Cơ Xứ đều được anh em Thiên Địa Hội moi ra từ đường dây của tên Hòa Khôn này.

Nguyễn Huệ vừa xoa nhẹ hàm râu kẽm vừa lẩm bẩm:

–  Vua hoang phí, quan hối lộ, quân đội lại viễn chinh liên tục, vậy thì dân đen làm sao mà sống, quốc khố còn gì để lo cho bá tánh?

Văn Canh đáp:

–  Vua quan thì xa xỉ còn dân đen thì nghèo khổ cùng cực. Đã thế năm nào đê điều cũng bị vỡ, lũ lụt liên miên, vì kinh phí đắp đê đã bị bọn tham quan ăn bớt. Bá tánh kêu trời không thấu.

Tịnh Quang nói:

–  Nhìn vẻ ngoài to lớn và hào nhoáng, nước Trung Hoa trông rất huy hoàng, oai vệ, nhưng thực lực thì e rằng đã rơi vào chỗ có tiếng mà không có miếng. Sự huy hoàng đó đầy vẻ giả tạo. Càn Long như một thủy thủ già nua đang lái con thuyền rồng Trung Hoa lộng lẫy từ trên đỉnh cao của sự huy hoàng lao xuống vực thẳm hèn yếu, bạc nhược. Với một đất nước to lớn được tập hợp bởi nhiều chủng tộc có văn hóa khác nhau, sự yếu kém của triều đình trung ương rất dễ gây ra tình trạng phân hóa, dẫn đến nội loạn.

Ánh mắt Nguyễn Huệ chợt lóe lên tia sáng, ông nói:

–  Nhận định của sư huynh thật sâu sắc. Chúng đã có quyết định gì chưa?

Văn Canh đáp:

–  Trước khi hạ chức rời Bắc Kinh trở về thì Càn Long đã chấp thuận đề nghị động binh của Tôn Sĩ Nghị từ Lưỡng Quảng đệ lên. Họ dự tính sẽ dùng binh mã của Vân Nam – Quý Châu và Lưỡng Quảng, đặt dưới quyền điều khiển của tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị để tiến đánh chúng ta.

Bùi Thị Xuân nói:

–  Chiến trường Bắc Hà rất thuận tiện để dùng tượng binh. Lần này vương gia phải cho tượng binh dẫm nát bọn chó Ngô một trận cho chúng vỡ mật như bọn Xiêm La năm trước mới được. Cháu xin được lãnh nhiệm vụ này.

Nguyễn Huệ nói:

–  Việc này hãy chờ đến lúc biết rõ phương thức tiến quân của địch hãy quyết định. Tình hình Lưỡng Quảng thế nào?

Tín Nhi lấy trong người ra một tờ giấy đưa cho Nguyễn Huệ, nói:

–  Đây là tờ hịch của Càn Long sai tổng đốc Vân Nam và Quý Châu là Phú Cương tung ra để đánh một đòn tâm lý. Vương gia đọc đi.

Nguyễn Huệ mở tờ hịch đọc qua, có mấy đoạn sau:

… Bản bộ đường tổng đốc các tỉnh Vân Nam – Quí Châu cùng với tổng đốc Quảng Ðông – Quảng Tây họ Tôn đều trông coi hai tỉnh, cùng phụng thánh chỉ đem quân tiễu trừ bọn giặc.

…………..

…Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ các ngươi vốn là bầy tôi họ Lê, nay dám làm điều phản loạn, đem quân đuổi chủ, dân trong nước không ai là không phẫn hận, hiện nay Tôn tổng đốc đích thân dẫn đại binh tiễu trừ, lại có trấn mục Lạng Sơn là Phan Khải Ðức cùng nhân mã bảy châu, thêm xưởng dân châu Văn Uyên là Hoàng Liêu Ðạt, xã mục châu Thất Tuyền là Nguyễn Trọng Khoa tất cả kéo nhau đi trước. Binh mã Lưỡng Quảng uy phong cường tráng, liệu bọn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ yêu ma tiểu xú các ngươi, dám giơ cái càng bọ ngựa chống trả, một khi bắt được rồi ắt sẽ lập tức tru diệt, còn như trốn chạy vào nơi núi rừng, thì dân trong nước cũng sẽ bắt lấy đem hiến cho vua Lê, quốc vương các ngươi trước bị đuổi đi, lẽ nào bây giờ lại dung thứ?

…Nếu như Nguyễn Nhạc biết tức tốc quay đầu, bản bộ đường sẽ tâu lên đại hoàng đế mở cho một đường, tìm cách chiếu liệu. Bản bộ đường ngưỡng vọng đức hiếu sinh của đại hoàng đế như trời nên đặc biệt chỉ đường mê cho ngươi, tìm một sinh lộ mới, hoạ phúc hay không chỉ trong khoảnh khắc, chớ nên chần chờ, hãy vâng theo lời dụ này[1]

Nguyễn Huệ đọc xong cười lớn nói:

–  Chúng vừa hăm dọa các trấn mục biên giới đã theo về với Tây Sơn vừa dọa dẫm nếu hoàng thượng và ta có khiếp hãi thì quy thuận chúng. Ha…ha… Đã vậy ta cũng giả bộ như khỉ sợ rung cây để chúng sinh lòng kiêu ngạo.

Trần Văn Kỷ hỏi:

–  Vương gia định viết thư nhận tội với bọn chúng à?

–  Đúng vậy, nhưng không phải ta viết. Việc này hãy giao cho Ngô Văn Sở và bọn Lê Duy Cẩn đảm trách. Dặn họ dùng lời lẽ thật nhún nhường để thỏa mãn tính tự phụ của vua tôi Càn Long.

–  Vương gia thật cao kiến. Tôi sẽ gởi thư căn dặn Ngô Thời Nhậm.

Huệ lại hỏi:

– Các trấn mục biên giới đã đầu hàng Tôn Sĩ Nghị, việc này không có gì đáng nói, nhưng ta biết Phan Khải Đức, Trần Danh Bính là những người rất nghĩa khí, sao lại theo giặc dễ dàng như vậy?

Tín Nhi nói:

–  Vương gia đánh giá rất đúng. Hai người này nhất thời thấy thế giặc to nên quy thuận, nhưng nếu có thể thuyết phục, họ sẽ là những người tâm phúc của ta trong lòng địch.

–  Việc này giao cho ngươi. Tôn Sĩ Nghị là người thế nào?

– Tôn Sĩ Nghị người Hàng Châu, đỗ Tiến sĩ lúc tuổi đã bốn mươi. Nhơn chuyến du Giang Nam lần thứ ba của vua Càn Long, hắn dự một kỳ khảo thí đỗ đầu nên Càn Long khen và triệu về làm Nội Các Trung Thư, sau đó thăng lên Quân Cơ Chương Kinh cùng làm việc với Học sĩ Phó Hằng. Năm Càn Long thứ ba mươi ba. Sĩ Nghị cùng Phó Hằng đem quân chinh phạt Miến Điện, tuy không thắng nhưng khi trở về được thăng lên Hộ bộ thị lang trung, rồi tuần phủ Vân Nam. Lúc tổng đốc Lưỡng Quảng là Phú Lặc Hồn tham nhũng bị cách chức, Sĩ Nghị được bổ nhiệm giữ chức này.

Huệ hỏi:

–  Tính cách của hắn thế nào?

–  Hắn là người có nhiều tham vọng, muốn lưu danh hậu thế nên rất tận tụy với công việc. Trong chiến dịch Đài Loan, tuy tổng đốc Phúc Kiến là Phúc Khang An được chỉ định làm nguyên soái, Sĩ Nghị chỉ lãnh nhiệm vụ tiếp liệu cho cuộc chiến nhưng vì làm tốt công việc nên được Càn Long thăng chức Văn Uyên Các Đại Học Sĩ, tam đẳng nam tước và ban mũ với lông công hai mắt, một vinh dự đặc biệt đối với một quý tộc người Hán.

Nguyễn Huệ gật gù khen:

–  Tên này khá lắm.

–  Đúng vậy. Hắn lúc nào cũng muốn chứng tỏ mình là người văn võ song toàn nhưng chưa có dịp nào thực hiện. Năm rồi Phúc Khang An chiến thắng trong chiến dịch Đài Loan khiến họ Tôn có bụng ganh tức vì vậy khi hay tin bọn tông thất nhà Lê cầu viện, Sĩ Nghị nghĩ ngay đến việc xua quân xâm lấn An Nam để tạo danh tiếng cho mình. Hắn tin chắc cuộc viễn chinh sẽ rất dễ dàng nên viết ngay một tấu chương  trình lên vua Càn Long xin được ra quân.

–  Vua muốn đạt danh hiệu thập toàn, tướng biên cương muốn tạo cho mình một võ công hiển hách, hai chí lớn gặp nhau thì cho dù Quân Cơ Xứ có không muốn, việc động binh tất phải được thực hiện.

Tịnh Quang nói:

–  Đúng vậy. Càn Long ngoài giấc mơ đạt được danh hiệu Thập Toàn Lão Nhân, hắn còn có tham vọng đặt nền móng đô hộ trên đất nước ta. Hắn còn có một âm mưu khác cũng rất thâm hiểm, đó là muốn tiêu diệt tinh thần Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử của Đại Việt.

Nguyễn Huệ ngạc nhiên hỏi:

–  Sư huynh nói rõ hơn xem nào. Tiêu diệt tinh thần Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử là sao?

Tịnh Quang đáp:

–  Có lẽ nên sơ luợc qua nguồn gốc và nền tảng của Phật Giáo Trúc Lâm để vương gia biết và có kế hoạch bảo hộ và phát triển sau này. Phật giáo Yên Tử vốn được bắt đầu từ Thiền sư Hiện Quang, đời vua Lý Huệ Tông. Thiền sư Hiện Quang là Sơ Tổ dòng Thiền Yên Tử. Đến đời nhà Trần, vua Trần Nhân Tông sau khi lãnh đạo đất nước chiến thắng thêm hai cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ đã từ bỏ ngai vàng lên núi Yên Tử tiềm tu và viên thành chánh quả, pháp hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng và lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Sau ngài Điều Ngự truyền y bát xuống sư Pháp Loa rồi sư Huyền Quang – Lý Đạo Tái. Ba vị này là Tam Tổ Trúc Lâm. Chính Tam Tổ Trúc Lâm mới thực sự có công trong việc thống nhất các phái Thiền đã du nhập từ Trung Hoa và Ấn Độ để xây dựng thành Thiền phái Trúc Lâm. Tam Tổ đã thay đổi một vài nội dung để tạo nên một dòng Thiền đặc trưng của người Việt, nhất là trong bối cảnh Đại Việt trước hiểm họa Nguyên Mông lúc bấy giờ.

Bùi Thị Xuân hỏi:

–  Thiền đặc trưng của người Việt là thế nào?

–  Nét đặc trưng của Thiền Trúc Lâm là lấy đời làm đạo. Lấy hạnh phúc của người khác làm tiêu chí để tu hành. Tinh thần nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thể hiện rất rõ khi các Tổ đề xướng “Tâm Phật cũng là Tâm dân tộc”. Cho nên khi vua Trần Thái Tông lên Yên Tử cầu Phật, Quốc sư Trúc Lâm đã dạy: “Phàm là đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình và lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình. Nếu bệ hạ thực lòng hiếu Phật, thì không có gì bằng quay trở về lo cho bách tính, giảm nhẹ hình án, chăm lo cây đức của muôn nhà mãi mãi xum xuê, xin bệ hạ chớ nguôi quên”.

Ánh mắt của Nguyễn Huệ chợt lóe lên một tia sáng, ông cảm thán:

–  Một triều đình như vậy thì quân xâm lăng có mạnh đến thế nào cũng phải chuốc lấy thảm bại. Thật đáng để chúng ta tự hào và học theo.

Bùi Thị Xuân hỏi:

–  Cho nên bọn Càn Long sợ cái tinh thần ấy sẽ khiến cho dân Việt đoàn kết lại thì chúng sẽ bị tan tành như bọn Mông Cổ lúc trước nên tìm cách tiêu diệt?

–  Bùi đô đốc nói đúng. Chúng muốn đàn áp và hủy diệt tinh thần Phật giáo Yên Tử để đưa Phật giáo của Tịnh Độ tông Trung Hoa vào nước ta.

Trần Văn Kỷ ngạc nhiên hỏi:

–  Theo chỗ hiểu biết của tôi thì Phật giáo Trúc Lâm là sự kết hợp của ba tông phái Thiền tông, Tịnh Độ tông của Trung Hoa và Mật tông của Ấn Độ, như vậy việc chúng đưa Tịnh Độ tông vào nước ta có gì đáng lo?

Tịnh Quang đáp:

–  Tịnh Độ tông nguyên thủy do Thiền sư Huệ Viễn đời nhà Tấn – Trung Hoa sáng lập, là một pháp môn tu tập chính thống, giúp cho người chuyên tu rũ bỏ những phiền não thế gian bằng cách chí tâm đảnh lễ và niệm Phật A Di Đà để được vãng sanh nơi Cực Lạc. Tuy nhiên vào khoảng cuối thế kỷ thứ bảy, khi sư Pháp Minh dâng bộ Đại Vân Kinh lên Võ Tắc Thiên nhà Đường, truy tôn bà là một vị Phật Di Lặc Sống, Võ Hậu vì muốn che đậy phần nào những hành vi dâm, bạo của bà ta trong chính trường nên đã hạ sắc chỉ cho in bộ kinh này lưu hành rộng khắp dân gian, bà còn viết bốn câu kệ khai kinh vào đầu bộ Kinh Đại Thừa của Phật giáo Trung Hoa, từ đó pháp môn Tịnh Độ phổ biến rộng trong dân gian đã biến thể trở thành mê tín. Các vua chúa Trung Hoa theo gương Võ Hậu, lợi dụng lòng tham cầu Cực Lạc của đại đa số lão bá tánh tiểu trí, dùng nó như một phương tiện để phục vụ cho vương triều của mình.

Bùi Thị Xuân thích thú hỏi:

–  Vị Nữ hoàng duy nhất của Trung Quốc đó cũng có thể viết được kệ khai kinh Đại Thừa à? Thật ly kỳ!

–  Đúng vậy. Võ Hậu tuy là một người phụ nữ tàn ác trong chính trị nhưng lại có công phát triển, đưa Phật giáo Trung Hoa lớn mạnh, lấn át cả Đạo giáo và Khổng giáo truyền thống thời bấy giờ. Tuy nhiên, ngay trong bốn câu kệ khai kinh, ở hai câu sau bà ta đã hiểu sai ý Phật khi nói: “…Ngã kim kiến văn đắc thọ trì. Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa”. Nghĩa là: “Nay con nghe thấy chuyên trì tụng. Nguyện rõ Như Lai nghĩa nhiệm mầu”. Đạo Phật chính tông của Đức Bổn Sư Thích Ca không chủ trương hành ác như Võ Hậu rồi đêm về trì tụng để xóa bỏ ác nghiệp mà vãng sanh Cực Lạc. Tịnh Độ tông bị bóp méo biến thành mê tín, dối đời, khởi nguồn từ đó. Trên đã gian dối thì dưới sẽ lầm mê.

Trần Văn Kỷ chắp tay vái Tịnh Quang một vái, cung kính thưa:

–  Nghe lời giảng của sư huynh, kẻ mù lòa như tôi mới được mở rộng tầm mắt.

Nguyễn Huệ hỏi:

–  Công đức của Võ Hậu phát triển đạo Phật ở Trung Hoa có lẽ cũng giống như các đời chúa Nguyễn chúng ta rước hàng loạt các Thiền sư Trung Hoa sang truyền đạo và cho phép hàng ngàn ngôi chùa mọc lên để chứa chấp hàng vạn tăng ni mượn đạo lánh đời phải không?

Tịnh Quang đáp:

–  Đúng vậy. Ba tháng qua tôi đi được khá nhiều nơi, thăm thú và trao đổi với khá nhiều thiền sư, cư sĩ Trung Hoa nên có được một cái nhìn tuy tổng quan nhưng khá chính xác về tình hình Phật giáo bên đó. Những thiền phái, những chùa chiền, tu sĩ nào theo Phật giáo chính thống đều bị nhà Thanh đàn áp hoặc tiêu diệt. Điển hình là những ngôi chùa thuộc Nam Thiếu Lâm mấy lần bị đốt bỏ và tăng chúng bị truy sát, vì Phật giáo chính tông chủ trương sát cánh với đồng bào để đấu tranh cho sự trường tồn của dân tộc và hạnh phúc của bá tính. Số lớn còn lại thường là nơi mượn đạo lánh đời như vương gia vừa nói.

–  Âm mưu của chúng định đối phó với Phật giáo Trúc Lâm của ta thế nào?

–  Có lẽ chúng sẽ thực hiện biện pháp mạnh, đốt bỏ và tiêu diệt giống như đã đối phó với Thiếu Lâm Tự.

Nguyễn Huệ nhíu mày suy nghĩ một lát nói:

–  Quân Thanh tung tin sẽ mang tới năm mươi vạn quân tràn sang, tuy con số đó chỉ là tin thất thiệt để dọa dẫm tinh thần quân dân ta nhưng với khí thế mạnh mẽ của đoàn quân xâm lược, quân chủ lực của ta ở Thăng Long chỉ có dưới một vạn tất không thể ngăn cản nổi. Việc bảo vệ chùa Yên Tử và tăng ni ở đó e khó thực hiện, sư huynh có cách gì không?

Tịnh Quang đáp:

–  Quân đội nhà Thanh nếu có sang cũng sẽ không trực tiếp ra mặt đàn áp đạo pháp để tránh khích động thêm sự căm thù của dân ta. Việc đàn áp và phá hoại, như Tín Nhi đã thu thập được, họ sẽ giao cho các tăng lữ của chùa Hoa Đình ở Côn Minh, Vân Nam, đi theo đoàn quân. Việc này tôi có thể thu xếp được. Chúng ta cần phải tập trung bảo vệ Phật địa Yên Tử trước. Cái gốc mà còn thì mai này sẽ còn cơ hội tái sinh, những nơi khác có bị thiệt hại cũng phải chấp nhận như một ách nạn của đạo pháp mà thôi.

–  Sư huynh cần trợ giúp xin cứ nói ra.

Tịnh Quang hỏi Trần Văn Kỷ:

–  Tình hình tăng lữ Phật giáo ở Phú Xuân ngài nắm rõ chứ?

Văn Kỷ đáp:

–  Dạ rõ. Sư huynh định đưa họ ra bảo vệ Yên Tử à?

–  Tôi cần khoảng hai mươi tám vị tu sĩ có võ công giỏi nhất Phú Xuân, ngài tìm giúp cho?

–  Dạ được. Khi nào sư huynh khởi hành?

–  Chúng tôi sẽ lên đường khi nào có đông đủ.

–  Tôi sẽ cho người đến các ngôi chùa lớn Thuận Hóa hỏi thăm và mời họ ngay.

Tín Nhi hỏi:

–  Sư huynh cần hai mươi tám vị sư để lập thành Nhị thập bát tú trận phải không?

Tịnh Quang đáp:

–  Hy vọng từ nay đến ngày đó tôi có thể giúp họ thực hiện được trận pháp này.

Tín Nhi đùa:

–  Vương gia biết không, chùa Hoa Đình ở Côn Minh có tới năm trăm tượng La Hán, họ nổi danh khắp Trung Nguyên về Thập bát la hán trận, còn trên cả Thiếu Lâm ở Tung Sơn. Nay sư huynh dùng Nhị thập bát tú trận của Đại Việt để đánh các đệ tử kiệt xuất của những la hán tượng kia thì hẳn là một trận đấu kinh thiên. Nếu công việc cho phép, tôi nhất định đến tham dự cuộc vui này.

Nguyễn Huệ mỉm cười:

– Chính ta cũng háo hức muốn tham gia đừng nói chi ngươi. Hãy để xem tình hình thế nào đã. Tốt hơn hết là đừng để cho chúng có cơ hội thực hiện ý đồ đen tối này.

Trần Quang Diệu chợt lên tiếng:

–  Lực lượng quân Thanh lớn như vậy, quân Tây Sơn dưới quyền vương gia chỉ hơn hai vạn làm sao chống cự được chúng?

Nguyễn Huệ nói:

–  Một mặt phải xin viện binh từ Quy Nhơn, mặt khác phải cấp tốc tổng động viên các xứ từ Quảng Nam ra đến Thanh Hóa để huấn luyện cho kịp. Ông cùng Lý Văn Bưu và Võ Đình Tú tiến hành ngay cho ta.

Quang Diệu nói:

–  Hộ bộ Hồ Đồng vừa cho tôi biết, tráng đinh của Thuận Hóa và Nghệ An còn rất ít vì đã bị sung quân nhiều đợt. Muốn có đủ lực lượng chống giặc Thanh chỉ còn cách phải cầu viện quân chủ lực và tráng đinh ở Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên và Diên Khánh mà thôi.

Văn Kỷ lo ngại hỏi:

–  Biết hoàng thượng có chịu phái quân ra giúp mình không? Mặt trận Gia Định cũng đang khó khăn lắm.

– Ông phải vào Quy Nhơn một phen. Ta tin hoàng thượng không thể làm ngơ trước đại nạn của dân tộc. Tâu với hoàng thượng, đợi ta diệt xong lũ chó Ngô này sẽ vào Nam diệt bọn thằng Chủng sau. Trước mắt hãy điều Lê Văn Hưng đem quân Phú Yên và Diên Khánh vào giúp Phạm Văn Tham giữ cho được Gia Định.

Bùi Thị Xuân bàn:

–  Đông Định vương đã về Quy Nhơn, trường hợp khó khăn, chúng ta nên nhờ ông ấy tác động với Quốc mẫu và các quan cận thần thì việc cầu viện với hoàng thượng không khó gì.

Nguyễn Huệ nói với Trần Văn Kỷ:

–  Sai Hồ Đồng viết cho ta một lá thư nữa để gởi Nguyễn Thiếp nhắc việc chọn đất xây hành cung, phần ông cùng Quang Hiển vào Quy Nhơn lo việc viện binh. Tín Nhi đi cùng sư huynh ra Thăng Long, mọi việc ngoài đó dặn Ngô Văn Sở tùy cơ mà ứng biến và nhất nhất báo gấp về cho ta.

Thu Cúc hỏi Bùi Thị Xuân:

–  Đô đốc cho em theo quân trưởng ra Thăng Long chuyến này nhé?

Bùi Thị Xuân mỉm cười hỏi:

–  Lo cho Hoàng Nhi phải không? Được em cứ đi theo quân trưởng.

Thu Cúc e thẹn mỉm cười không nói gì.

…………

***

Trích hồi thứ hai mươi sáu – NHẤT THỐNG SƠN HÀ
Mộng thập toàn, Càn Long quyết chiếm An Nam

Mưu phục quốc, Lê thần đang tâm cõng rắn.

***

Sách do AMAZON phát hành khắp thế giới từ ngày 1-11-2015.

http://www.amazon.com/Nhat-Thong-Volume-Vietnamese-Edition/dp/099611131X

Ở Châu Âu, order theo link tiếng Pháp dưới đây:

http://www.amazon.fr/Nhat-Thong-Son-Ha-Thanh/dp/099611131X

*** Mọi chi tiết liên quan đến tác phẩm xin liên hệ:

Vũ Thanh

3096 Bayberry Way

Margate, FL 33063

Email:  thanhquang57@gmail.com

ĐT:  954-684-1875.

________________________________

[1] Bản dịch của Ts Nguyễn Duy Chính “Việt Thanh Chiến Dịch”

GIỚI THIỆU: Tiểu thuyết lịch sử NHẤT THỐNG SƠN HÀ

LỜI GIỚI THIỆU

Tiểu thuyết lịch sử NHẤT THỐNG SƠN HÀ

Nguyên Lương

NTSH

   Sau khi hoàn tất xuất sắc công việc biên soạn, xuất bản và ra mắt phần một Én Liệng Truông Mây của bộ trường thiên tiểu thuyết lịch sử  Tây Sơn Tam Kiệt, nhà văn Vũ Thanh đã miệt mài gần hai năm dài để hoàn thành tiếp phần hai Nhất Thống Sơn Hà mà quý độc giả đang có trong tay. Ðây là tác phẩm đồ sộ đã được tác giả nghiên cứu thật tỉ mỉ, sâu rộng và diễn dịch qua hàng ngàn tài liệu lịch sử từ Việt Nam, Tây Phương và Trung Quốc để sáng tác nên bộ tiểu thuyết lịch sử này. Một tiểu thuyết lịch sử mà phần lớn những sự kiện dựa vào chính sử, được tác giả khéo léo hư cấu thêm những tình tiết để câu chuyện thêm phần hấp dẫn và lý giải những khúc mắc trong chính sử đã không làm rõ.

   Tiếp nối tinh thần cách mạng của Chàng Lía và điều kiện thuận lợi của xã hội Đại Việt sau khởi nghĩa Truông Mây vào cuối thập niên 60’s của thế kỷ thứ 18, đã được mô tả trong phần một ÉN LIỆNG TRUÔNG MÂY, ba anh em họ Nguyễn ở đất Tây Sơn đã tập họp nhân tài, hào kiệt, đứng lên chống lại chính quyền Phú Xuân và chiếm được thành Quy Nhơn năm 1771, từ đó dần dần dẹp tan hai thế lực chúa Nguyễn Ðàng Trong và chúa Trịnh Ðàng Ngoài. Sau hơn 30 năm dựng nghiệp, nhà Tây Sơn đã thống nhất được đất nước sau khi đánh tan quân Xiêm La ở miền Nam, dẹp tan quân Thanh xâm lược từ miền Bắc, và phát triển đất nước trên mọi mặt. Chính sử, dù một số sử kiện đã bị nhà Nguyễn Gia Long sau này bóp méo, làm sai lệch, nhưng cũng không thể phủ nhận được những thành qủa vĩ đại của Nhà Tây Sơn đã để lại cho hậu thế. Ngoài tài cầm quân bách chiến bách thắng của người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ đã được thế giới ca tụng là một thiên tài quân sự vĩ đại vào bậc nhất của nhân loại, vua Quang Trung còn là một nhà ngoại giao khôn khéo, một lãnh tụ có tầm  nhìn xa trong việc cải cách và phát triển đất nước. Thêm vào đó, dưới ngòi bút tài tình của nhà văn Vũ Thanh, ngoài thiên tài quân sự, Quang Trung Hoàng Ðế còn được mô tả như là một nhà văn hóa lớn, người có tư tưởng cao thâm, với một tinh thần dân tộc tiến bộ; một nhà lãnh đạo rất am tường về tâm lý quần chúng, biết trong dụng nhân tài cho đất nước, biết  động viên để đoàn kết dân tộc thành một khối hầu tiến hành những công cuộc cải cách sâu rộng và giữ vững cõi bờ. Qua câu chuyện nhiều lần ra Bắc để mời cho được La Sơn Phu Tử ra giúp nước, Quang Trung đã chứng tỏ cho sĩ phu Bắc Hà thấy chủ trương cầu hiền của mình là quốc sách và là chiến lược hàng đầu để thu phục nhân tâm của cả hai miền sau hơn 200 năm đất nước bị chia đôi. Đối với Quang Trung, thống nhất đất nước không chỉ là thống nhất lãnh thổ mà cái chính là phải thu phục và đoàn kết được lòng mọi người dân. Có được một đại khối dân tộc thống nhất sau lưng, ông đã đứng thẳng người thách thức các nước lân bang, từ đó tạo nên một tinh thần và một hào khí Quang Trung uy nghi, lẫm liệt để lại cho cháu con hậu thế.

   Qua câu chuyện dài Nhất Thống Sơn Hà, Vũ Thanh đã không nhằm viết lại lịch sử mà dùng tư liệu lịch sử để lý giải những nguyên nhân đưa đến kết quả tốt đẹp trong quá trình mở cõi của dân tộc và những thành quả to lớn trong thời gian cai trị ngắn ngủi của nhà Nguyễn Tây Sơn. Bàng bạc trong gần 1.700 trang sách chia đều cho 4 tập, Vũ Thanh đã cho độc giả thấy rõ quá trình Nam tiến của dân tộc ta diễn ra hoàn toàn bằng con đường văn hóa và sự dung hợp đầy tình người. Tác giả đã nêu rõ tính ưu việt của nền Minh triết Việt có tự ngàn xưa, và với cá tính đặc thù của văn hóa Việt, người Việt đã sống Thuận rồi Hóa để rồi dung hợp với các dân tộc phương Nam. Với cái nhìn sâu thẳm vào tâm hồn Việt, tác giả đã khẳng định rằng: “Người Việt ta có một đức tính rất đặc biệt, rất quý, có thể gói gọn trong một chữ, đó là chữ Dung. Dung là chứa, là bao dung, là dung hòa, là trung dung. Cái gì mới nhập vào cũng được dung chứa, sự thù hằn do khác biệt mới lạ nào cũng được bao dung, rồi như tính cách của nước, chúng ta hòa tan, dung hợp mọi thứ, sau đó dùng làm của mình. Và cuối cùng là giữ một mức sống trung dung. Cho nên nhìn bề ngoài, xã hội Việt có cuộc sống rất hiền hòa, đa dạng, cả về văn hóa, tinh thần, tín ngưỡng, nhưng tiềm tàng bên trong là một sợi chỉ vàng nối liền những tâm thức của người Việt với nhau. Nhờ thế mà mỗi khi nước biến, ý chí tự cường bộc phát, sợi chỉ vàng kia đã cột chặt các điểm son tâm thức Việt lại thành một khối thống nhất, hùng mạnh, không gì phá vỡ nổi. Do đó mà Nguyễn Trãi đã mạnh dạn nói:vận nước có lúc cường lúc nhược, nhưng anh hùng thì đời nào cũng có”.

Bằng những suy luận hết sức logic, tác giả đã giải thích rất rõ ràng tại sao đã không có cảnh “nồi da xáo thịt” khốc liệt giữa ba anh em nhà Tây Sơn như sử gia nhà Nguyễn đã viết khi người anh cả Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc tự thoái vị xuống làm Tây Sơn vương, trao quyền cho người em út Nguyễn Huệ được đăng quang Quang Trung Hoàng đế để có thể hiệu lịnh và đoàn kết dân tộc trong công cuộc đối kháng với quân Thanh xâm lược. Không những thế, ông còn lý giải một cách rõ nét sự hình thành lòng thù hận của Nguyễn Ánh đối với nhà Tây Sơn hầu giải thích một phần lý do vì sao khi lên ngôi vua, Nguyễn Ánh đã trả thù những người Tây Sơn một cách tàn khốc mà đến nay hậu thế mỗi khi nhắc lại vẫn phải chau mày. Qua Nhất Thống Sơn Hà, chúng ta nhận rõ mối tình giữa Ngọc Hân Công Chúa và Nguyễn Huệ không đơn thuần chỉ là việc cưới gả chính trị giữa kẻ thắng và người thua mà là mối nhân duyên ngàn dặm của đôi trai tài gái sắc, của sự tương thông tri kỷ giữa Hào Kiệt và Giai Nhân. Đặc biệt hơn hết, qua tài liệu từ bộ Cao Tông Thực Lục đời nhà Thanh, tác giả đã cho ta thấy câu chuyện về vua Càn Long, dù rất uất hận do thất bại nhục nhã trong việc xua quân xâm lăng Ðại Việt, đã phải đổi thù thành bạn và dành cho vua Quang Trung tình cảm như cha con, tổ chức tiếp đón vô cùng long trọng, một phần là nhờ vị Hoàng đế Ðại Việt khéo dùng tài ngoại giao, nhưng phần lớn cũng bởi cái anh khí lẫm liệt của vị tướng bách thắng Long Nhương ở nước nhỏ phương Nam đã uy phục con người và nước lớn phương Bắc.

   Trong Nhất Thống Sơn Hà, Vũ Thanh đã xây dựng hình tượng và nhân cách của Nguyễn Huệ một cách hết sức khéo léo và thành công. Từ một thanh niên nông dân dù ít học, nhưng với cá tính giản dị, ham học hỏi, sống tận tụy, yêu thương, hòa đồng, dễ gần gũi đã giúp ông từ một tướng lãnh của “đám giăc cỏ” đã trở thành một nhà lãnh đạo đại tài trong giai đoạn đất nước nhiễu nhương. Bằng sự hình thành nhân cách từ thuở thiếu niên của Nguyễn Huệ cho đến khi trở thành Hoàng đế Quang Trung, Vũ Thanh đã nêu bật hết sức rõ nét “tinh thần Quang Trung”, một tinh thần bất khuất, tự cường, không hề khiếp sợ trước bất kỳ thế lực thù địch nào, dù kẻ thù đó có mạnh đến đâu đi chăng nữa. Đặc biệt hơn hết là tinh thần bài trừ Hán học, cái học “hủ nho” đã đẩy dân tộc ta vào vòng lệ thuộc người Hán gần hai ngàn năm. Ông đã mạnh dạn dùng chữ Nôm để làm quốc ngữ thay chữ Hán. Khi phát hiện ra sự xuất hiện của chữ La tinh, ông đã nhìn thấy ngay lợi ích to lớn của nó trong việc tạo cho dân Việt một chữ viết riêng, tách khỏi hẳn ảnh hưởng của người Hán, con người sáng suốt này đã nhiệt liệt hưởng ứng và khuyến khích việc phát triển loại chữ viết mới này. Tên gọi dòng sông La Tinh ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, là một minh chứng nơi phát tích chữ viết Quốc ngữ La tinh của chúng ta ngày nay. Nó còn là dấu ấn thực tiễn ghi nhận tầm nhìn sáng suốt, sâu rộng của vị vua Quang Trung vĩ đại của chúng ta đã để lại một di sản to lớn cho dân tộc.

  Tiếc thay, với định mệnh trớ trêu của dân tộc, với thù trong giặc ngoài, với những hoài bảo to lớn dành cho đất nước, với khối công việc đồ sộ đè nặng trong tim óc, nhà vua đã vắn số. Vua Quang Trung băng hà, công cuộc kiến thiết đất nước bỏ dở dang, nhà Tây Sơn sụp đổ, đưa nước Việt đến bao thăng trầm, tủi nhục, đau thương cho đến tận hôm nay. Nhiều nhà viết sử đã khẳng định chỉ cần Vua Quang Trung sống thêm 10 năm nữa thì Việt Nam đã có một Minh Trị Thiên Hoàng, đi trước Nhật Bản rất xa trong công cuộc chấn hưng đất nước.

  Đoạn Kết! Vũ Thanh tâm sự, ông đã viết bằng nước mắt. Và nỗi đau xé lòng của tác giả trải trên trang sách đã khiến cho chúng ta nhỏ lệ cùng với ông khi đọc đến đoạn nói về cái chết của vua Quang Trung: “Lời than vãn ai oán trong khúc bi ca Ai Tư Vãn không chỉ là tiếng nức nở của riêng Bắc Cung hoàng hậu Ngọc Hân khóc chồng, nó chính là tiếng nấc bi thương của toàn thể nhân dân Đại Việt trước sự ra đi đột ngột của vua Quang Trung, sự ra đi đã cắt đứt sợi dây neo con thuyền định mệnh của dân tộc vừa mới được nhà vua dùng nó để cột chặt toàn dân vào dải non sông mới được thống nhất. Người ra đi. Dây neo đứt. Giấc mộng “Nhất Thống Sơn Hà” vừa mới được thực hiện đã vỡ tan. Con thuyền định mệnh của dân tộc lại tiếp tục lênh đênh theo vận nước nổi trôi. Toàn dân Đại Việt, những người anh em trong cùng bào thai Mẹ Âu Cơ một lần nữa lại cảm thấy bấp bênh và lo sợ. Họ cùng nhau cất tiếng gọi Bố Lạc Long Quân trở về, như những người dân Âu Lạc tự thuở xa xưa vẫn thường gọi Bố mỗi khi có nạn lớn:

–  Bố ơi. Bố ở đâu, hãy mau về cứu chúng con”.

   Lịch sử hơn 200 năm trước, nay đã lập lại, vì áp lực của nước lớn từ phương Bắc ngày nay một lần nữa lại đè nặng trên vai dân tộc. Nhất Thống Sơn Hà ra đời giúp người dân Việt đọc lại lịch sử thời Tây Sơn để phục dựng lại hào khí Quang Trung, để ngẩng cao đầu hãnh diện, để không bị khiếp nhược, không chịu nhục và dũng cảm đứng lên sẵn sàng chống lại ngoại xâm, giữ vững cõi bờ tổ quốc. Cha ông ta đã làm được, hậu thế chúng ta cũng sẽ làm được. Lịch sử nước Việt cũng có lắm kẻ bán nước như Lê Chiêu Thống nhưng cũng không thiếu những anh hùng như Quang Trung. Chiều dài 4.000 năm của lịch sử đất nước ta là bài học, là tấm gương soi cho hậu thế, bởi vậy người Việt phải thuộc sử Việt.

  Câu chuyện dài trong Nhất Thống Sơn Hà mà tác gỉa Vũ Thanh đã cống hiến chúng ta cũng chỉ dành nhắc lại một thời đại vàng son trong hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân Việt.

  Nhất Thống Sơn Hà mang một thông điệp rất rõ ràng: “Trách nhiệm giữ nước là của toàn dân, nhưng trách nhiệm đoàn kết được toàn dân là của giới lãnh đạo. Khi người dân một nước đồng thuận một lòng thì lo gì việc giữ yên cõi bờ và phát triển đất nước”.

   Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả bộ truyện thứ hai của trường thiên TÂY SƠN TAM KIỆT tức NHẤT THỐNG SƠN HÀ, một bộ trường thiên tiểu thuyết lịch sử quý giá, hiếm hoi của dân tộc. Bộ truyện này sẽ mang lại cho quý độc giả nhiều cảm xúc đa chiều và sâu sắc, đặc biệt là trong bối cảnh đương đại của đất nước.

Horsham – Pennsylvania.

Ngày giỗ thứ 223 của vua Quang Trung:

29-7-Nhâm Tí (1792) – 29-7- Ất Mùi (11-9-2015).

Nguyên Lương

 

*** Mọi chi tiết liên quan đến tác phẩm xin liên hệ:

Vũ Thanh

3096 Bayberry Way

Margate, FL 33063

Email:  thanhquang57@gmail.com

ĐT:  954-684-1875.

ĐẠI PHÁ QUÂN THANH
Sáng tác: Hoàng Thi Thơ – Trình bày: Hợp Ca
*****

(1)
Ai phá tan quân Sầm Nghi Đống? (Vua Quang Trung)
Đất Đống Đa chôn vạn quân thù. (Nơi chôn bao nhiêu quân thù)
Ai phá tan binh đoàn giặc Thanh? (Vua Quang Trung)
Đất Hà Hồi còn vọng hồi chiêng
(2)
Ai nhớ chăng Quang Bình anh dũng? (Vua Quang Trung)
Đất Đống Đa chôn vạn quân thù. (Nơi chôn bao nhiêu quân thù)
Ai phá tan binh đoàn giặc Thanh? (Vua Quang Trung)
Đất Hà Hồi còn vọng hồi chiêng

Giặc nhà Thanh, đây Tôn Sĩ Nghị
Giặc nhà Thanh, đây Sầm Nghi Đống
Giặc tràn qua khắp bờ sông Nhị
Giặc tràn qua vây chặt thành Thăng Long

Mười vạn quân do ngài Quang Bình
Ào Ào đi ngăn đoàn quân tiến
Ào Ào đi đến miền Tam Điệp
Đợi mồng năm tiêu diệt sạch quân Thanh

Này bập bùng nhịp trống bồi hồi dòng chiêng
Vó ngựa hùng anh, vó ngựa dồn nhanh, vó ngựa tàn canh
Vó ngựa lừng vang rung rinh kinh thành
Nhằm Lục Đầu mà tiến, nhìn về Lạng Giang hướng về Hải Dương
Bắc Bình Đại Vương tiến Hà Hồi nhanh
đến Ngọc Hồi luôn quân Thanh tan tành

Ngàn quân Tàu vượt cầu như nước tràn
Hàng ngàn hàng ngàn quân Tàu vượt cầu trong gió ngàn
Ngàn quân Tàu sập cầu tô thắm màu Nhị Hà
Nhị Hà nước về đỏ ngầu thây chất tràn
Nào ngờ đâu bao mộng tan tành
Vạn giặc Thanh như là mây khói
Và từ đây nước Việt yên lành
Ngàn đời sau Bắc Bình còn vang danh