Vũ Thất

Bảo Bình 1

Category Archives: Tạp Văn

Chúng đi buôn

Về trường hợp Will Nguyen

Bốn ngày, kể từ khi Will bị kéo lê trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, bị đánh vào đầu và trùm mặt lại đưa vào xe chở đi mất. Sau nhiều tìm kiếm của bạn bè và người thân; chiều 14.6 các hãng thông tấn nước ngoài và BNG Việt Nam đã lên tiếng [1]

Will 32 tuổi là người Mỹ gốc Việt sống ở Houston, Texas; gia đình di cư sang Mỹ sau 1975. Will đã tốt nghiệp ĐH Yale và vừa hoàn thành chương trình cao học tại Trường Chính sách công Lý Quang Diệu ở Singapore. Anh về Tp.HCM chơi hôm thứ bảy 9.6 trong thời gian chờ nhận bằng Thạc sĩ vào giữa tháng 7.

Đây là một trong nhiều người bị bắt giữ tại cuộc xuống đường ngày 10.6!

Chuyện là, Will cùng một người bạn đi tập Gym ra thì gặp đoàn biểu tình kéo từ công viên Hoàng Văn Thụ xuống quận I. Hai người nhập vào đám đông. Người bạn này kể lại: “Will chỉ dọn dẹp xe, che chắn giúp dân nhưng đã bị mấy người thanh niên kéo lê, vừa đánh vừa đạp vào mặt. Tôi có la lên là không được bắt người nước ngoài, anh ta không có làm gì sai hết; nhưng những người cưỡng chế Will chặn tôi lại.”.

Sau khi chứng kiến Will bị bắt, người bạn này đã chạy lại LSQ Hoa Kỳ báo tin và cầu cứu; đồng thời nhờ nhóm người Mỹ đăng tin lên trang Expats & Locals In Ho Chi Minh City (Saigon).

Sau hôm đầu tiên bị đưa về CAP.6 Quận 3. Qua ngày 11.6, sau khi nộp phạt hành chính 750.000 đồng, Will vẫn không được thả; và khoảng 20:00 cùng ngày Will được chuyển qua trại giam của BCA.

Bạn bè của Will cũng cho biết, công an hôm thứ Ba đã đến phòng trọ Airbnb mà Will đang thuê ở, đọc lệnh khám nhà và tịch thu laptop, hộ chiếu cùng một số tài sản cá nhân.

—-//—-

Hãng AFP đưa tin, Will đã hòa vào đám đông và tải lên Twitter nhiều bức ảnh biểu tình với caption: “This is #democracy in #Vietnam“.

Hình ảnh Will bị thương một bên đầu, mặt đầy máu, bị bắt mang đi vào ngày chủ nhật lan truyền rộng rãi trên mạng.

Hôm thứ năm 14.6, trong buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng nói với các phóng viên, Will Nguyen bị câu lưu vì “phá hoại trật tự công cộng”. Chị Hằng cũng cho hay, nhà chức trách đang dàn xếp cho Will gặp nhân viên lãnh sự Mỹ ở Tp.HCM, và còn khẳng định là “không có sử dụng vũ lực liên quan đến cá nhân này”. [2]

©https://www.nytimes.com/…/will-nguyen-vietnam-american-prot…
©https://www.afp.com/…/us-man-detained-vietnam-after-violent…

Trên mạng, xuất hiện thông tin Will Nguyễn bị bắt vì là thành viên của một tổ chức chính trị hải ngoại bị cấm hoạt động ở Việt Nam. Tuy nhiên, bà Vân mẹ Will cho hay, anh chỉ là một sinh viên bình thường, không tham gia tổ chức hay đảng phái nào và có lẽ chỉ có mặt trong đoàn biểu tình vì tính hiếu kỳ. Bà cực lực bác bỏ những tin đồn đó! Chiều 14.6, bà Vân cũng xác nhận là LSQ Hoa Kỳ đã tiếp xúc với Will, báo rằng sức khỏe ổn và họ đang làm việc với cơ quan có thẩm quyền VN.

Theo Facebook Lê Nguyễn Hương Trà

Advertisements

Chuyện biểu tình: Ngày đi – ngày về

Chuyện biểu tình: Ngày đi – ngày về

Bùi Thanh Thảo

Tôi xin kể lại hành trình từ lúc ra khỏi nhà đến khi rời khỏi trụ sở công an Phường 1 Quận 3 cho người thân và những người quan tâm được biết.

Đây là lần đầu tiên tôi bước chân xuống đường, thể hiện ý kiến cá nhân cho nhà cầm quyền và mọi người khắp nơi trên thế giới biết, tôi không đồng ý về việc thông qua luật đặc khu, không trung quốc, không luật an ninh mạng (hay nói chính xác hơn là dự luật giám sát tự do ngôn luận trên mạng).

Hành trang đi biểu tình của tôi gồm có: nón che nắng, biểu ngữ, 2 chai nước và vài gói bánh quy. Biểu tình ôn hoà đúng điều 25 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định (Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình).

Tôi đi cùng chồng (Tín) đến siêu thị Maximark Cộng Hoà (cũ) khoảng 8h30 sáng họp mặt với em (Thy) và bạn (Thành) (còn Bảo tới sau). Sau đó 4 người đi bộ về phía công viên Hoàng Văn Thụ, nơi đây mọi người đã tụ họp khá đông, chúng tôi cầm biểu ngữ và cứ thế cùng mọi người đi về hướng sân bay. Dọc đường các nhân viên của các cửa hàng và khách bộ hành quay hình, vỗ tay khích lệ tinh thần chúng tôi, trong đoàn thì nhiều người live stream, tôi cảm thấy yên tâm vì hình ảnh của mình đã được truyền đi, cả thế giới đều biết và đó cũng là mục đích của chúng tôi.

Mong muốn cả thế giới biết rằng người Việt Nam không muốn làm nô lệ cho trung quốc. Một chế độ không lắng nghe tiếng nói của người dân, cố tình đi ngược lại với mong muốn và lợi ích của người dân là một chế độ bỏ đi!

Trên đường ra sân bay, đoàn biểu tình đã đạp đổ 2 rào chắn và đi được một đoạn khá xa thì có 2 chiếc xe buýt chắn ngang đường, 2 hàng cảnh sát cơ động (cscđ) ở phía trước, hàng trước cầm khiên, hàng sau cầm dùi cui và cứ thế mà đập khiến đoàn biểu tình phải lùi về phía sau, 3 người đã bị bắt. Các cô các bà, người chửi người khuyên, hy vọng cảm hoá được các anh cscđ mở đường, anh bạn Thành và Thy cũng nói rất nhiều nhưng tất cả đều vô ích! Tôi thì nghĩ đầu họ đã bị nhồi nhét quá nhiều thứ đến nỗi không còn tiếp thu được bất kỳ thông tin gì. Họ xem dân là kẻ thù, người có ý kiến khác biệt là phản động. Biểu tình là gây rối trật tự công cộng. Đối tượng họ bảo vệ là Đảng, không phải người dân.

Xe phát loa tuyên truyền được đưa tới, phát ra rả lặp đi lặp lại điệp khúc “…Có người trà trộn kích động gây rối… Có người mang vũ khí, thuốc nổ … Mọi người đang vi phạm pháp luật… Hãy trở về nhà…” Mỗi đoạn được phát ra, mọi người lại đồng thanh hô vang “Bịa đặt”, “Phản đối”. Nhưng sức người làm sao chống lại với cái máy phát?

Mọi người bắt đầu nản, nhiều người đã quay đầu, không ai chịu ngồi xuống cố thủ, chúng tôi buộc phải quay về vì sợ lực lượng quá ích dễ bị đàn áp. Tôi nghĩ “Thế là hết! mất nước thật rồi sao? Sao dễ dàng đến thế?!”.

Đi về khoảng một đoạn tới Superbowl thì thấy mọi người vẫn còn rất đông, cả đoàn quyết định đi ra vòng xoay Lăng Cha Cả. Tại đây có sẵn một đoàn khác thế là lực lượng càng đông thêm. Vòng xoay đã bị chiếm đóng, giao thông tê liệt, xe tuyên truyền cũng được đưa tới nhưng bị mắc kẹt bên ngoài, phát ra rả nhưng không ma nào nghe.

Trên cầu vượt, hàng người đứng kéo dài. Nhiều người mang cờ đỏ sao vàng ra giăng, đám đông dưới đất hô vang “Bỏ đi, bỏ đi” Mỗi lá cờ được buông bỏ là đám đông hò hét, phấn khích. Nhiều người nói với nhau “Chúng ta biểu tình chống chế độ thối nát này thì không thể mang cờ của nó được”, “Cờ của Phúc Kiến, không phải của chúng ta!”. Sau đó mọi người hát những bài hát cổ vũ tinh thần như “Trả lại cho dân”, “Việt Nam tôi đâu”, “Triệu con tim”,… Tôi dám chắc có rất nhiều bạn trẻ lần đầu tiên được nghe những bài hát này, những bài hát chạm tới trái tim con người VN yêu nước ngay khi giai điệu đầu tiên được cất lên. Nhưng cũng có người hát quốc ca, VN HCM,… nhưng tất cả đều bị phản đối.

DHát hò một lúc, đoàn người lại quyết định ra đường Nguyễn Văn Trỗi, có người muốn cố thủ tại chỗ, nhưng được thuyết phục là muốn cả thành phố đều biết, để đánh động lòng yêu nước của người dân. Thế là đi!

Đoạn đường gian nan bây giờ mới thực sự bắt đầu. Tôi không nhớ nổi mình đã vượt qua bao nhiêu chốt chặn của công an, cscđ, trật tự, dân phòng… Toà nhà nơi tôi làm việc ở trước mặt, nhưng đi hoài không thấy tới! Trời nắng như đổ lửa trên đầu, mồ hôi nhễ nhại, bị đánh, bị chặn nhưng sao đoàn người vẫn cứ đi? Khát khao về một VN dân chủ, lòng tự tôn dân tộc thật không bút mực nào có thể tả hết. Tôi đi, nếu có chết tôi cũng cam lòng. Và tôi biết triệu triệu người VN cũng giống như tôi.

Chúng tôi đi biểu tình trong ôn hoà, không gây rối, không đập phá. Nhưng mọi thứ bắt đầu hỗn loạn, khi có người bị đánh và bị bắt, máu đã đổ! đám đông nhốn nháo, đá được ném đi liên tục từ những người phẫn nộ. Công an, cscđ bỏ chạy lên xe. Có một chi tiết thật mắc cười, thành phố thì lấy đâu ra nhiều đá như thế để ném? Các bạn quan tâm đến xh đều biết, nạn tham nhũng, rút ruột công trình là điều bình thường như cân đường hộp sữa, những miếng gạch lót đường được người dân tháo dỡ bằng tay rất dễ dàng để “trả lại” cho chế độ!

Chuyện xảy ra với chúng tôi bắt đầu từ việc tách đoàn để vào tiệm tạp hoá mua thêm nước và đi vệ sinh sau hơn 7 tiếng xuống đường. Sau đó chúng tôi đi nhanh về phía trước để nhập đoàn tại hồ Con Rùa, tới nơi đã nghe thấy những âm thanh chói tai mà lần đầu tiên tôi được nghe. Chúng tôi cầm biểu ngữ đứng trên vỉa hè trước quán cà phê. Đám đông rời rạc, người đứng trên vỉa hè, người đứng trên hồ, người đứng rải rác dưới lòng đường (sau này tôi mới biết nhóm này đã bị tách khỏi nhóm trước do bị chặn). Âm thanh vừa dứt, một đoàn cscđ lên tới vài chục tiến về nhóm người biểu tình đứng trên hồ, nhiều người bị rượt té xuống hồ. Một nhóm cscđ tiền về phía chúng tôi xua đuổi, tôi bảo “Chúng tôi có làm gì sai đâu sao các anh đuổi chúng tôi?”, một người trong số họ trả lời “biểu tình phải có nơi có chỗ”, tôi hỏi “Luật biểu tình chưa có làm sao chúng tôi biết biểu tình ở đâu mới đúng?”. Họ bỏ đi và rượt đuổi tất cả những người còn sót lại trong đoàn. Sau đó tất cả bọn họ đã quay lại phía chúng tôi (Tôi, chồng tôi, Thành, Thy và Bảo) với dùi cui và khiên trong tay. Tôi đã la lớn “Các người ở đây ai là người Trung Quốc? Tại sao lại sợ những người như chúng tôi?” Họ lao vào xô ngã chúng tôi, tôi té xuống đất, những chiếc xe của quán để trên vỉa hè cũng bị ngã đổ theo, ông xã đã ngồi xuống che cho tôi, sau đó tôi nghe tiếng chúng nó nói “Khiêng nó lên xe”. Tôi không biết có bao nhiêu người khiêng mình đi, trên đường bị khiên ra xe tôi đã la như một con heo sắp bị đem đi thọc huyết “CỨU TÔI VỚI” “CỨU TÔI VỚI” “CỨU TÔI VỚI” tụi nó đã bóp miệng tôi, cố nhét cái khẩu trang tôi đang đeo vào họng tôi, tôi vẫn cố la hét không ngừng, tôi loáng thoáng thấy đám đông đứng bất động trên đường, trong các hàng quán. Tôi bất lực như khi thấy tổ quốc lâm nguy nhưng rất nhiều người vô cảm và thờ ơ!!!

35225475_10211388246677927_5816797904030924800_n.jpg

Tôi bị quăng lên xe thua cả một con súc vật, giống tảng thịt thì đúng hơn, chúng bạt tai, đấm đá gì đó mà tôi cũng không còn cảm giác nữa. Tôi nhìn thấy ox đang bị đè đầu xuống sàn xe, một cái chân mặc đồng phục cảnh sát, nhưng tôi không thấy mặt. Tôi nằm đó, bất động, mắt vẫn mở, bao ý nghĩ ẩn hiện trong đầu “Con tôi sẽ ra sao? ngày mai tôi có đi làm không? Sao kết cục biểu tình ôn hoà lại là thế này?” Xe dừng lại tôi bị kéo xuống đất và kéo lê một đoạn trên đường. Ở phía ngoài trụ sở xe cộ vẫn lưu thông, có người nhìn vào nhưng họ có nghĩ tôi là người vô tội đang bị đánh đập hay không?. Sau đó tụi nó bảo tôi đứng lên và kéo tôi vào đẩy tôi ngồi xuống ghế, thì thấy chồng tôi và Bảo bị kéo vào và đấm đá túi bụi, miệng tụi nó không ngớt “ném đá nè, ném đá nè” mặc dù chúng tôi không ai ném đá gì tụi nó! Tôi bị một thằng đấm vào mặt ngay tại trụ sở công an Phường 1 Quận 3. Chưa hết choáng váng thì đèn được bật các anh mặc sắc phục công an với bảng tên đầy đủ xuất hiện bảo chồng tôi với em Bảo đang rất sợ hãi ôm đầu ngồi dưới đất lên ghế ngồi. “Các anh lên ghế ngồi đi, ở đây không ai đánh đập gì các anh đâu”. Nhóm tôi bị bắt gồm 4 người Tôi, Tín, Bảo và cô Hiếu. Các anh công an (CA) bảo chúng tôi đưa điện thoại ra bỏ vào bao thư, dán mép lại và viết tên mình vào. Người làm việc với tôi là anh La Minh Hùng, mới bị đánh nên tôi chỉ khóc mà không khai gì cả “Tôi có tội gì sao các anh lại đánh đập, bắt đem đưa về đây rồi bảo tôi làm việc”. Khóc cũng có lợi, nó giúp tôi có thời gian bình tĩnh và quan sát mọi thứ! Vì tôi không hợp tác làm việc nên bị đưa lên lầu. Trên lầu có cô Hiếu đang làm việc với CA Ngô Tấn Nhân với thái độ rất hợp tác. Có một bác lớn tuổi, tóc bạc muối tiêu, không mặc sắc phục, không biết là ai nhưng thường chỉ đạo mấy anh CA làm việc, tôi đoán là sếp của mấy ảnh nói với tôi:ông ấy: “Chị này (cô Hiếu) làm sao thì cô cứ làm như vậy”,Tôi: “Mỗi người khác biệt, sao tôi có thể thấy người ta làm cái gì thì cũng làm theo?”

Ông ấy: “Thuộc bài quá he?

“Tôi: “Người dân hiểu biết pháp luật các anh không mừng hay sao mà bảo người ta thuộc bài”.

Ông ấy: “Tôi đang nói chuyện với lính của tôi”

Tôi: “Tôi cũng đang nói chuyện với anh này (Hùng)”

Tôi không khai gì cả nên phải đưa tôi xuống lại tầng trệt, ngước nhìn đồng hồ khoảng 3h30 chiều. Dưới này chồng tôi và em Bảo đang cho lời khai. Người làm việc với em Bảo là Hồ Công Tùng. Người làm việc với chồng tôi là Trương Tấn Phúc. Bảo thì hỏi gì cũng trả lời. Ngược lại chồng tôi chỉ cung cấp những thông tin có trên giấy CMND, ngoài ra không nói gì thêm. Phúc bảo chồng tôi viết tường trình sự việc xảy ra trong ngày, chồng tôi bảo anh ấy không làm gì sai nên không viết, hắn bảo không viết thì ghi vào là “Không viết” rồi ký tên nhưng chồng tôi cũng không đồng ý. Em Bảo có khai nhưng cũng không đồng ý ký tên.

Tiếp theo Phúc tới làm việc với Bảo trước tiên, kêu em ấy mở điện thoại và nhập password, tôi gọi “Bảo” và Bảo trả lời “không biết pass”. Sau đó hắn nói:

Phúc: “Em đi ra ngoài đó làm gì, nhà trường đã nhắn tin sao em không nghe theo?”

Tôi : “Ủa anh, công nhân VN được quyền tự do đi lại bất cứ nơi đâu họ muốn, nhà trường nhắn như vậy là sai. Tại sao anh lại phổ biến thông tin sai đó cho người khác?”

Phúc: “Đó là chuyện của nhà trường, tôi không biết”

Tôi: “Anh là công an, anh phải biết luật, nhà trường đã làm sai, anh phải làm việc với nhà trường chứ không phải lại phổ biến thông tin sai đó cho người khác”

Phúc: “Tôi đang nói chuyện với em này chị đừng xen vô, chúng tôi đang tâm sự với nhau”

Tôi: “Tôi là dân, tôi có quyền giám sát các anh làm việc”. Và hắn không nói gì nữa.Sau đó hắn qua làm việc với tôi và tôi nói đây là tài sản cá nhân, thông tin cá nhân của tôi, tôi không đồng ý cho ai đụng vô. Và ox tôi cũng không đồng ý. Điện thoại “cùi bắp” (từ cô Hiếu dùng) của cô Hiếu thì không có password, nhưng cô không lưu tên ai trong đó. Tất cả điện thoại sau đó bị niêm phong và giữ lại, mặc dù trước đó họ cứ nhắc đi nhắc lại “tài sản của anh chị, anh chị cứ giữ đi, chúng tôi không giữ gì của anh chị”. Bảng tường trình của chúng tôi, đều do các anh CA tự viết lấy và nhờ các bác dân phòng tại đó ký tên xác nhận, bảng của tôi là do bác Phan Chí Nam ký. Ngồi được một lúc lại có người đến chụp ảnh và lăn tay, tôi và chồng không hợp tác chụp ảnh bằng cách không cầm số hiệu, họ tự cầm và tự chụp. Tới màn lăn tay, tôi và chồng cũng không đồng ý lăn tay. Có em Bảo và cô Hiếu đồng ý lăn, lúc này xuất hiện nhân vật thứ 5 “cũng bị” đưa tới “giống” chúng tôi, anh ấy cầm sổ hộ khẩu và giấy tờ gì đó, tôi KHÔNG nghĩ ảnh giống chúng tôi (ngoại trừ họ nói như thế). Sau khi lăn tay, ảnh không ngồi chung với chúng tôi mà được ngồi ngoài sân. Tôi còn tưởng ảnh là người dân bình thường tới làm giấy tờ (tới khuya tôi mới biết ảnh vẫn còn ở đây khi thấy ảnh nằm ngủ trên ghế đá). Tầm 6h, 3 anh em chúng tôi bị tách riêng ra. Tôi ở dưới đất, ox và Bảo được dẫn lên lầu.

Phúc làm việc với tôi, hắn biết tôi không khai gì nên đã lưu thông tin tôi trên điện thoại của hắn, rồi nhìn vào đó mà chép vào bản tường trình. Tôi đợi một lúc và hắn hỏi:

Phúc: “Sao chị lại bị đưa tới đây?”

Tôi: “Tôi đứng trên vỉa hè, không vi phạm pháp luật, rồi rất nhiều cscđ tới đấm đá, quăng tôi lên xe như một con thú, vào tới đây còn đấm vào mặt tôi, anh có biết họ là ai không?”

Phúc: “Tôi không biết”

Tôi: “Ủa, anh là công an ở đây sao anh không biết? anh không biết, vậy người dân bình thường như tôi sao biết được”

Phúc: “Chúng tôi chỉ tiếp nhận người thôi, còn những chuyện khác chúng tôi không biết”

Tôi: “Tại sao một người không có tấc sắc trong tay lại bị các anh đánh đập dã man như vậy?”

Phúc: “Nếu chị cầm cây sắt chị đã không phải làm việc với tôi mà với những người bên hình sự”

Tôi: “Ủa cầm cây sắt cũng có tội sao anh?”

Phúc: “Chị cầm cây sắt ra đó làm gì?”

Tôi: “Tôi nói là tay không tấc sắt”

Ông đầu bạc lúc chiều giờ đã mặc sắc phục có gắn bảng tên, nhưng tôi không đọc được vì bị cận, và mắt thì bị đánh tụ máu nên thị lực càng kém hơn, ống nói “Tay không tấc sắt, chứ không phải cây sắt anh ơi”

Tôi: “Cây sắt hay cây dao gì cũng không nguy hiểm nếu chúng ta sử dụng đúng mục đích. Cây dao dùng để sắc đồ ăn, rau, trái cây… thì có gì (nguy hiểm) đâu”.

Phúc: “Chị cầm con dao ở nhà thì được, nhưng chị cầm ra đường thì khác. Ra đường chị mang theo dao để làm gì?”

Tôi: “Mang dao ra đường là có tội hả anh?”Phúc: …Tôi: “Mang dao ra đường là có tội?”

Phúc: …

Tôi: “Tôi ra chợ mua con dao, tôi đang ở ngoài đường với con dao là tôi có tội?”

Phúc: “Thôi, bây giờ chị không làm việc với tôi đúng không?”

Tôi: “Các anh muốn người dân về làm việc, các anh phải có giấy mời, người dân đồng ý thì họ mới tới làm việc. Đằng này các anh đánh đập, cưỡng chế người khác về đây, tôi không đồng ý làm việc với các anh”.

Phúc: “Chị không đồng ý, thì tôi ghi vào đây là không đồng ý, đơn giản chỉ có vậy thôi à”.

Họ đã mời tôi về đây sai pháp luật một cách nghiêm trọng, nếu tôi đồng ý làm việc với họ chẳng khác nào tôi chấp nhận cách họ đối xử với mình như thế? Tôi “làm việc” rất nhanh, sau đó ox đi xuống, Bảo phải khá lâu sau mới xuống. Nhưng tất cả đều không ký gì cả.

Từ đầu đến cuối chỉ có cô Hiếu là làm việc rất hợp tác, kêu gì cũng làm. Nhưng cô xin về thì không được, câu cô thường nói “Hỏi đường cũng có tội sao anh?”

Chúng tôi không ăn gì ở chỗ của họ, nước chúng tôi mang theo chỉ cầm cự được khoảng 15 tiếng thì phải uống nước của họ. Bạn có bao giờ ăn sáng, trưa, chiều chỉ với 1, 2 cái bánh quy bé tí? Cô Hiếu không ăn gì suốt 27 tiếng, cô có uống 1 ly cafe đen và 1 ly cafe sữa sáng hôm sau.

Tôi biết chúng tôi sẽ bị giam rất lâu, nhưng bạn có bao giờ nghe câu “Một ngày ở tù bằng nghìn thu ở ngoài” chưa? trải qua rồi thì mới thấm thía câu ấy.

Tôi hỏi ox và Bảo có hối hận không? Câu trả lời là KHÔNG, chúng tôi không thấy hối hận. Những việc chúng tôi làm không là gì cả, nhưng nó sẽ góp phần cho mọi người thấy chế độ này thối nát ra sao. Chúng ta không thể để con cháu sống trong một xã hội bị cai trị bởi những người như thế được. Thế hệ của chúng ta, Trách nhiệm của chúng ta đừng đẩy vào con cháu. Hôm nay chúng ta bị đánh để ngày mai con cháu chúng ta được SỐNG.

Đêm đó chúng tôi “ngủ” trên ghế. Hàng ghế như trong bệnh viện, lồi lõm không sao nằm và ngủ được. Họ còn bảo chúng tôi nằm dưới đất, nhưng không ai đồng ý. Tivi được mở với âm thanh tối đa đến 4h, 5h sáng mới tắt. Họ phải trực suốt đêm để canh chúng tôi. Trước đó tôi được nghe kể, CA thường kêu người ta dậy làm việc lúc 3h sáng, khi đầu óc còn mơ mơ màng màng chưa tỉnh ngủ, để dễ dàng trả lời các câu hỏi mà không phải suy nghĩ được nhiều. Lần này thì ngược lại, tôi và cô Hiếu đã làm cả trụ sở phải thức giấc lúc 2h sáng vì những câu hỏi của cô Hiếu và tôi với tên Phúc, người trực chính đêm đó

“Chừng nào chúng tôi được về? Bây giờ 2 giờ đêm rồi, định giam chúng tôi tới chừng nào?” “Chúng tôi có tội gì?”

Hắn trả lời phải chờ bên phường xác nhận còn chờ đến bao giờ thì hăn không biết và gọi điện thoại cho những người khác dậy. Ông đầu bạc khá bực tức bảo chúng tôi về chỗ ngồi nhưng tôi không đồng ý cho đến khi ổng xài từ “giam” với tôi (từ lúc vào họ không chịu cái câu “Tôi chỉ hỏi đường thôi sao các anh lại giam tôi?” của cô Hiếu, họ luôn trả lời “Chúng tôi có giam gì cô đâu, cô vẫn được đi qua đi lại mà?”). Ổng còn hăm doạ sẽ còng tay tôi nếu tôi tiếp tục nói, tôi đã đặt 2 tay lên bàn “Các ông còng đi”, nhưng không thấy ai làm. Một ông bụng phệ, mặc đồ ngủ đi vào từ cổng sau, mặt khá bực tức nói với cô Hiếu “Đụ má cái bà này từ chiều bà nói nhiều tao đã bực mình lắm rồi!” và sấn tới cô Hiếu muốn đánh cô, nhưng mọi người can lại. Cô Hiếu nói “Sao ông lại nói đụ má với người dân?” Sau đó ông đầu bạc nói tôi bày đặt gây rối trật tự công cộng và nói thêm gì nữa đó tôi không nhớ rõ nhưng những điều ông ấy nói đều là vu khống và sai luật khi cấm tôi nói. Tôi không muốn ăn bạt tai lúc nửa đêm nên đã câm miệng.

Image may contain: 1 person, closeup

Sáng hôm sau có anh CA Nguyễn Thanh Sơn, người này được nhất trong tất cả những người tôi đã gặp tại đồn CA Phường 1. Điềm tĩnh và lịch sự, nhưng cs vẫn mãi là cs. Chúng tôi đã ngoan ngoãn ngồi chờ suốt buổi sáng khi anh ấy nói “Sẽ giải quyết cho mọi người trong sáng hôm nay”, điệp khúc “chờ một chút” được lặp đi lặp lại. Tôi bảo muốn gọi về cho người thân để báo tin nhưng không được. Tôi muốn được khám mắt nếu lỡ bị mù hay gì thì sao? Ảnh nói sẽ giải quyết sớm. 11h30 sáng, sau khi tôi và cô Hiếu khóc lóc đòi bác trực ban cho gọi điện về người thân nhưng bác ấy nói không có quyền. Sơn từ trong phòng bước ra nói với chúng tôi chiều sẽ có người bên quận xuống làm việc và lấy lời khai lại, nếu mọi người họp tác thì sẽ giải quyết sớm. Tôi nghĩ sự thật chỉ có 1, lấy 10 lần thì cũng chỉ có 1 mà thôi. 3h chiều tôi và cô Hiếu tiếp tục hỏi, họ nói mọi người đang họp trong phòng sẽ có kết quả sớm. 3h40 2 người không mặc sắc phục bước ra, tôi hỏi họ có phải là người bên quận hay không, một người nói phải, một người hỏi giày tôi đâu? Giày tôi màu gì? tôi nói “Màu hồng” rồi sực nhớ tại sao phải trả lời họ? Vì phòng làm việc phủ bằng kính nên người bên ngoài có thể nhìn vào trong, tôi thấy họ đang search gì đó trên điện thoại, tôi nghĩ họ đang tìm video cảnh tôi đi biểu tình. Và họ tìm được và họ ra. Họ mời tôi lên lầu làm việc, tôi nói anh không mặc đồng phục công an và đeo bảng tên đàng hoàng tôi không làm việc với anh, một tên ốm cao đưa ra những lời doạ nạt, một ông đầu hói mặc sắc phục nhưng không đeo bản tên bảo:

“Tôi có quyền cho anh này được làm việc với cô”

Tôi: “Tôi không làm việc với người không mặc đồng phục công an và đeo bảng tên, nếu tôi bị đánh đập hay làm gì đó trên lầu thì tôi biết kêu ai vì cả tên của người này tôi cũng không biết”

Ông ấy: “Tôi sẽ lên làm việc chung với cô”

Tôi: “Tôi sẽ làm việc với chú nhưng anh này có mặt trong phòng tôi cũng không làm việc, nếu mọi người không làm như vậy tôi sẽ im lặng ngay từ bây giờ”.

Tên ốm và cao nói với tôi hắn có chứng cứ chứng minh tôi có đi biểu tình, đi dưới lòng đường (haha). Tôi bảo “Biểu tình không có tội, hiến pháp có quy định, người dân được quyền đi biểu tình, ai cản trở quyền đó sẽ bị phạt tù từ 1 đến 5 năm”. Rồi hắn cho tôi xem những cảnh có tôi, nhưng tôi không nhìn và bảo không thấy (dĩ nhiên). Hắn bảo không ký cũng vậy thôi, hắn có bằng chứng cả rồi. Theo tôi được biết, chữ ký mới là quan trọng nhất. Nếu không như vậy thì làm sao có nhiều người bị bắt oan như anh Hồ Duy Hải, các bằng chứng đều không đầy đủ và thuyết phục, nhưng vì anh ấy đã ký tên nhận tội nên bị giam giữ oan sai hàng chục năm trời, mẹ anh phải chạy vại khắp nơi để kêu oan cho anh.

Không mời được tôi lên phòng làm việc, tên ốm bỏ cuộc, anh thứ hai hơi tròn, mặc áo sọc caro đỏ, nghe mọi người gọi là Phúc (không phải Trương Tấn Phúc). Tới làm việc với tôi, tôi ngồi giữa ox và em Bảo. Bằng nghiệp vụ hắn buộc tôi mở miệng vài câu, nhưng sau đó đành bất lực với tôi. Hắn từ cười vui vẻ (có gì vui đâu mà cười), đến lúc nghiêm nghị và hăm doạ sẽ tách 3 người chúng tôi ra nếu nói chuyện với nhau. Tôi đã nói với hắn một câu “Em tôn trọng anh, nên em mới nói với anh: em chỉ làm việc với người mặc đồng phục có đeo bảng tên, nếu anh làm được điều đó, anh hỏi câu nào em trả lời được thì em sẽ trả lời. Nếu không em sẽ im lặng không nói gì cả”. Khoảng 30 phút sau, hắn buộc phải lấy điện thoại ra bấm. Theo sát hắn có tên Xuân Mạnh, tên này người thấp, khuôn mặt hiền nhìn khá quen, hắn không mặc đồng phục nên không biết làm chức gì trong đó. Tôi đã thấy hắn từ lúc vào tới giờ, vì hắn cứ quanh quẩn chỗ chúng tôi làm việc. Tôi đoán hắn có thể là những tên hay trà trộn vào đoàn biểu tình. Khuôn mặt hiền lành nhưng những câu nói hắn nói với tôi, tôi sẽ không bao giờ quên được “Mới bị có một bên mặt thôi, vẫn còn thấy đường, cho nó bị bên kia nữa mới vừa”. Tôi thấy một con quỷ đang ở trước mặt mình chứ không phải con người. Chính nó chắc chắn là một trong những người chứng kiến cảnh tôi bị đánh, cả đồn công an Phường 1 Quận 3 đều thấy, vì hôm đó cả tổ phải trực 100% quân số, trên xe chở tôi về đây cũng có người mặc sắc phục CA. Đúng là quỷ đội lốt người.

Khoảng 5h35 tôi nghe tiếng than “chẳng lẽ phải ở lại trực nữa sao?” “Một ngày cho tôi trực 3 ca cũng được, nhưng đừng có ca nào như ca này”.

Khoảng 6h xung quanh tôi chỉ toàn những người mặc thường phục, duy còn có anh Sơn là mặc đồ CA. Bọn họ kêu người thứ 5 vào (tôi nghĩ là cò mồi) “ai làm tốt sẽ được về sớm, anh về trước đi” sau đó đến cô Hiếu, em Bảo thì bị cho ra ghế trước ngồi. Họ bảo tôi với chồng xuống đất ngồi, họ kéo ghế qua một bên. Tôi nghĩ chắc mình sẽ bị tra tấn tiếp đây, tôi vừa nói vừa khóc “Các anh đừng làm như vậy, đây là đồn CA mà”, thoáng thấy anh Sơn nhìn tôi nhăn nhó, tên Hùng nói lớn “LUẬT LÀ CỦA TỤI TAO”. Ox bị lôi lên trước. Tôi nghe như có xô xát trên lầu. Tôi nằm dài dưới đất, khóc than cho đời mình, cho chế độ thối nát sao vẫn tiếp tục đè đầu cưỡi cổ dân tộc của tôi. Ox xuống. Tôi mém bị đánh mấy lần, nhưng có người cản vì chắc khuôn mặt tôi đã thê thảm lắm rồi. Tôi tiếp tục bị tụi nó rinh như một con heo. Tôi không làm bất cứ cái gì để thể hiện sự vùng vẫy, tôi là một món đồ vật vô tri vô giác, một thứ đồ vật biết khóc. Trên lầu chúng lăn tay tôi, tôi nhìn xung quanh không có ai mặc đồng phục ngoài một bác dân phòng. Bác cũng là người rửa tay và dắt tôi xuống. Bác phục vụ cho chế độ này làm gì? hãy để phúc lại cho con cháu, tôi nghĩ thầm. Tôi được hầu hết mọi người tiễn ra cửa, nhìn lại lần cuối nơi mình đã bị giam giữ suốt 27 tiếng qua. Tấm bảng treo dòng chữ “VÌ DÂN PHỤC VỤ” to đùng, cảm thấy đời chưa bao giờ thật đến thế. Ra đến cổng thấy em Bảo đã đứng ngoài cổng, Trương Tấn Phúc cầm 3 cái điện thoại cũng đứng bên ngoài. Tôi quay vào “Tôi đã đưa điện thoại trong đây thì khi nhận cũng phải nhận trong đây” (tôi đã quên giấy cmnd, ox thị bị tụi nó quăng áo khoác có bằng lái xe và cà vẹt xe trong đó), họ phải gọi tên Phúc vào “Đưa điện thoại cho bả đi, bả diễn quá”. Trước khi tôi đi họ còn nói “Đừng để tao thấy mặt mày nữa nhe”. Tôi nghĩ TÔI CÒN CÓ SỰ CHỌN LỰA HAY SAO?

Ngày lịch sử 10.06.2018-

Những người có nhắc trong bài:

Hồ Công Tùng https://www.facebook.com/minh.cong.108889
Ngô Tấn Nhân https://www.facebook.com/nhan.ngo.92798
Xuân Mạnh https://www.facebook.com/profile.php?id=100005191719096
Trương Tấn Phúc https://www.facebook.com/truong.tanphuc1
La Minh Hùng https://www.facebook.com/minhhung.la.54
Phan Chí Nam https://www.facebook.com/chinam.phan.39

– Cảnh đổ máu của một anh người Mỹ gốc Việt mình có nhắc tới trong bài:
https://www.youtube.com/watch?v=YkxSHMhlOsU

– Cảnh ném đá sau khi nhiều người bị bắt và đổ máu:
https://www.youtube.com/watch?v=0LSQCE42kJo

– Âm thanh chói tai và quang cảnh tại Hồ Con Rùa vài phút trước khi tôi bị đàn áp:
https://www.youtube.com/watch?v=e6otn2LE5kA
https://www.youtube.com/watch?v=HBhqG3yfmEU

P/s: Rất cám ơn luật sư Luân Lê, chị Phạm Đoan Trang (tác giả sách Chính Trị Bình Dân), luật sư Võ An Đôn chính nhờ đọc nhiều bài viết của các anh chị đã giúp em có những kiến thức luật pháp cơ bản, cách làm việc với lực lượng bảo vệ chế độ. Khi bạn đã đối diện với Quỷ thì bạn còn sợ gì nữa?

Bùi Thanh Thảo

nguồn: danluan.org

Đồng bào ơi! hãy đứng lên chúng ta không còn gì để mất

Đồng bào ơi! hãy đứng lên chúng ta không còn gì để mất

Sau khi xem các youtube từ trong Quốc nội với những cuộc biểu tình chống đảng Cộng Sản VN cho thuê đất thời hạn là 99 năm thực ra đây là bán đất một cách gián tiếp cho Tàu cộng. Sự thật các đặc khu kinh tế này là một trong những kế hoạch thực hiện Hội Nghị Thành Đô để đồng hóa dân tộc Việt. Hội nghị Thành Đô là cuộc hội nghị thượng đỉnh Việt – Trung trong hai ngày 3-4 tháng 9 năm 1990, tại thành đô thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc, giữa lãnh đạo cao cấp nhất của hai Đảng Cộng sản Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc. Phía Việt Nam gồm có Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng. Phía Trung Quốc có Giang Trạch Dân Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng Lý Bằng Thù Tướng Quốc vụ Trung Quốc. Hội nghị Thành Đô là một bản mật ước, theo đó lãnh đạo CSVN đề nghị và lãnh đạo Trung Quốc đồng ý để Việt Nam trở thành một khu vực tự trị của Trung Quốc. Những tiến triển trong mật ước Hội Nghị Thành Đô Phía Trung Quốc đồng ý chấp nhận đề nghị của Việt Nam, là cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.…Theo mật ước thì năm 2020 Việt cộng sẽ ký thác sát nhập Việt Nam thành một tỉnh của Trung Quốc.

Hôm nay Đảng Cộng Sản VN thực hiện kế hoạch đó là cho Trung Cộng thuê 99 năm ba đặc khu kinh tế quan trọng của VN gồm:

1) Vân Đồn (Vịnh Hạ Long) tỉnh Quảng Ninh

2) Bắc Vân Phong, Nha Trang, Tỉnh Khánh Hòa

3) Đảo Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang.

Chúng tôi không nói đến Bauxite ở cao nguyên Trung phần, là kế hoạch Hán hóa trước đây mà bọn CS để cho Tàu Cộng khai thác. Đây là hình thức bóp yết hầu người Việt. Hôm nay cho thuê các đặc khu kinh tế là một hình thức chia vùng Bắc, Trung, Nam để chúng dễ bề kiểm soát và cai trị giống thời kỳ Pháp thuộc. Nhiều người làm tay sai cho Cộng Sản hiện nay đã ngụy biện cho rằng, mật ước hay Hội Nghị thì phải có văn bản đàng hoàng chứ không thể có hiệp ước bằng miệng. Chúng tôi nghĩ là quý vị đó quá ngây thơ. Đã là mật ước thì làm sao công khai cho công chúng biết được. Giống như Việt cộng cho rằng họ không bán đất cho Tàu cộng mà chỉ cho thuê thôi. Quý vị nghĩ xem, 99 năm thời gian quá lâu có thể hơn một đời người, một thế hệ. Nếu khi Trung Quốc thuê đất, họ có quyền di dân của họ đến đó làm việc hoặc sinh sống, thì sau 99 năm có bao nhiều người Tàu sống ở Việt Nam, hãy nhìn Chợ Lớn làm một ví dụ điển hình. Sau 99 năm nền kinh tế VN sẽ ra sao, an ninh đất nước như thế nào, văn hóa Việt có còn tồn tại nữa không? Qúy vị hãy nhìn thời điểm hôm nay để thấy hiện tình đất nước chúng ta ảnh hưởng Trung Quốc ra sao?. Việt Nam đã lụn bại từ kinh tế; giáo dục; ý tế; thực phẩm; tuổi trẻ mất hết lòng tự hào dân tộc; người dân vô cảm đến rợn người. Những tay sai chóp bu Cộng Sản thì ngu dốt làm tay sai cho Tàu cộng bảo sao nghe vậy. Tham nhũng lan tràn từ cấp nhỏ nhất đến trung ương đảng, người dân nghèo nàn không đủ cơm ăn áo mặc, con gái thì phải bán thân khắp nơi trên xứ người để có miếng ăn áo mặc.v.v. Việt Nam hôm nay là như vậy, nếu sau 99 năm tàu cộng đô hộ, quý vị hãy tưởng tượng xem VN sẽ ra sao không?. VN sẽ xóa tên trên bản đồ thế giới, con cháu chúng ta không còn VN để tự hào, không còn nơi gọi là quê hương đất tổ. Con cháu chúng ta sẽ là những kẻ lưu vong trên chính quê hương mình.

Tôi vừa nghe bài nói chuyện của Thủ Tướng CSVN Nguyễn Xuân Phúc trong đó có đoạn: chúng tôi sẽ điều chỉnh vấn đề thời gian cho thuê đất một cách hợp lý, phù hợp với nguyện vọng chính đáng mà nhân dân đã phản ảnh. Chuyện này đã quá rõ ràng, người dân đã biểu tình phản đối không thể cho thuê dù là một tất đất cho Tàu cộng, thì điều gì gọi là không chính đáng hay chính đáng. Nếu nhà nước có giảm xuống 75 năm hay 50 năm thì có gì quan trọng? Một tập đoàn lãnh đạo ngu dốt không đủ trí tuệ, kiến thức, tài năng để xây dựng đất nước mà phải cho thuê từng mãnh đất để kiếm tiền, để nhờ họ phát triển thì thật là một bọn đần độn hết thuốc chữa.

Chúng tôi đã theo dỏi một vài livestream trên internet, thật tình tôi xúc động vô cùng, khi thấy những người đàn bà yếu đuối mà dùng hết tâm huyết của mình để kêu gọi người dân đứng lên chống lại tà quyền CS hiện nay bán nước cho Tàu cộng. Chúng tôi thật khâm phục, đất nước vẫn còn những người yêu nước, thương dân tộc, họ không ngại làm bất cứ diều gì để cứu nguy dân tộc. Chúng tôi xem livestream của cô ca nhạc sĩ Lê Hoàng Trúc đã khỏa thân trước video thật tình tôi rất khâm phục. Chúng tôi hiểu, cô không còn gì để mất nữa, thân xác này đâu có nghĩa lý gì đâu, khi đất nước đang mất vào tay Tàu cộng nay mai. Hãy tự hỏi chúng ta sống để làm gì, chắng lẽ chỉ để ăn, để ngủ, để cúi đầu, để làm tôi tớ, nô lệ cho bọn tàu cộng. Con cháu chúng ta sẽ nghĩ gì về cha ông của nó, họ sẽ nghĩ gì với thân phận một người Việt hèn hạ không chút phản kháng. Trong ca khúc của Lê Hoàng Trúc có những câu như: … Biết là chết nhưng phải ngẩng đầu làm người, hay thà làm ma hơn là làm người đứng nhìn đất nước bị diệt vong. Chúng tôi ủng hộ hoan hô tinh thần một nữ giới đầy can đảm, có khí phách, có lòng nghĩ đến quê hương dân tộc. Chúng tôi đồng ý với cô, con người trước sau gì cũng trở về cát bụi, tại sao chúng ta không chết cho quê hương tổ quốc thân yêu của chúng ta? Để không hổ thẹn với hồn thiêng sông núi. Hay một livestream khác, một cô gái sống ở Thái Lan vừa kêu gọi đồng bào khắp nơi đứng lên để cứu đất nước sắp diệt vong mà hai dòng nước mắt cô tuôn chảy. Hình ảnh này làm lòng tôi đau xót đến nghẹn ngào. Có nhiều khi chúng tôi tự hỏi tuổi trẻ VN nghĩ gì với hiện tình đất nước hiện nay, mọi người có dám hy sinh cho quê hương Tổ quốc không? Nỗi sợ hải và vô cảm của họ có còn là rào cản ngăn họ đứng lên không?

Một bài học gần đây nhất là câu chuyện Formosa đã gây ra vụ cá chết và nhiệm độc môi trường. Theo chúng tôi được biết việc thuê mướn khu vực kinh tế Vũng Án Hà Tĩnh được cấp phép 70 năm, khi chuyện đã xảy ra thì nhà nước Cộng Sản đã làm gì với họ, có thể đuổi ra ra khỏi VN vì họ đã vi phạm hợp đồng. Hay chỉ phạt kỷ luật một vài cán bộ tép rêu cho có lệ. Ngay cả việc bước vào khu công nghiệp của họ cũng là một vấn đề khó khăn rồi, đừng nói đến chuyện là dùng luật lệ để đuổi họ đi.

Trong cuộc phỏng vấn Phó Thủ Tướng về 3 đặc khu kinh tế thì ông giải thích rằng: 3 đặc khu đó với sự ổn định về an ninh quốc phòng, vẹn toàn lãnh thổ đất nước theo thời gian 10 năm, 100 năm và lâu hơn nữa…. Ôi cha mẹ ơi ! Thủ Tướng mà nói câu ngu đến thế thì đất nước mất là phải rồi ….Hay chuyện mình lo ngại sẽ thành đất của họ, rồi công nhân lao động sinh sống ở đó, tôi cho rằng điều đó là suy nghĩ không thực tế vì mình có nhiều bộ luật khác để chế tài. Chẳng hạn như các quy định về thời gian lao động, quy định về xuất nhập cảnh… Đúng vây VN có luật rừng, hơn 42 năm qua nhiều luật rừng đã được ban bố dùng để giết chết dân oan, những người yêu nước, những kẻ tranh đấu, cửa khẩu biên giới mở cửa tự do cho tàu cộng qua lại..…Nhưng chưa có luật nào để bênh vực người dân hay bảo toàn lãnh thổ cả. Đối với Cộng Sản thì chỉ có khẩu hiệu nhai đi, nhai lại những câu nghe rất hay, rất dao to búa lớn nhưng thực chất rỗng tuếch, ba hoa chích chòe mà thôi. Hơn 42 năm rồi, hết chiến tranh họ đã làm gì cho đất nước? Một đất nước tụt hậu thua cả những nước lân bang như Cambodia, Phi luật Tân, Thái Lan, Lào, Singapore, Miến Điện, Nam Hàn.v.v. Tại sao bọn Cộng Sản chóp bu và những nhà trí thức có bằng tiến sĩ, thạc sĩ, không giải thích lý do tại sao nước chúng ta vẫn còn nghèo đói lạc hậu? Ngay cả một ốc vít, một cây đinh cũng không làm nổi thì tự hào về điều gì? Có bao giờ họ tự hỏi tai sao con gái VN bán ra xứ người để kiếm từng đồng bạc nuôi gia đình, những trẻ em thất học, nạn xì ke ma túy lan tràng, cướp bóc ngày đêm trên đường phố, trên các khu xóm.v.v.

Hởi các nhà kinh tế học, những giáo sư có bằng cấp cao có hiểu được thế nào là một Quốc gia phát triển không? Hay chỉ đánh giá chỗ có nhiều họp đêm, nhiều động mại dâm, nhiều tụ điểm cà phê, hay nhiều cô gái chân dài, nhiều quan chức tham nhũng, nhiều công an hà hiếp dân lành?

Càng nghĩ đến đất nước càng thấy đau lòng. Lý do tại sao VN có ngày hôm nay, câu trả lời chính xác nhất là vì đất nước dưới sự lãnh đạo của bọn CS ngu dốt, đần độn chỉ biết cúi luồn dưới bọn Tàu cộng để hưởng lộc mà thôi. Đây là nhóm người từ trong rừng bước ra cho nên họ không phải là người có dòng máu Việt, họ không có ngôn ngữ Việt, không Tổ Quốc, không quê hương, dân tộc….Họ là những thứ khác chúng ta không có nỗi đau, không có buồn vui, không biết thế nào là tủi nhục, căm hờn. Họ là những thứ không giống chúng ta trên trái đất. Bọn Cộng Sản ơi ! Hãy thức tĩnh đi đừng để quá muộn mà con cháu đời sau nguyền rũa khinh khi.

nguồn: baocalitoday.com

Góc Biển Chân Trời

Ngụy Xưa

Góc Biển Chân Trời

Bạn thân,

Hơn tháng nay tôi vắng bóng, không phải vì tôi quên bạn mà vì tôi “dại dột” vượt Pacific Ocean bằng con đường cực bắc nên bị sóng gió đại dương hành hạ tơi bời, bây giờ mới hồi tỉnh để tiếp tục tâm tình với bạn miền xa.

thieu.jpg

Con tàu Golden Princess cũng không hẳn là nhỏ bé, gần ba ngàn du khách, từ Japan qua Alaska với tốc độ tối đa (22 hải lý/giờ) cũng mất hết 7 ngày. Biển tên là “Thái Bình” nhưng những ngày đó chẳng thái bình chút nào, gió có lúc lên tới 60 dậm/giờ và sóng cao vài thước đập vào thành tàu, tiếng động nghe như ai đó đánh trống bên tai. Con tàu lắc lư khiến bạn tôi ở trên cao, từng 12, chịu không thấu, ban đêm phải xuống quán cà phê ở lầu 5 tìm chiếc ghế bành, ngủ vật vờ qua đêm. Hành khách than phiền quá nhiều nên cuối cùng thuyền trưởng cho giảm tốc độ xuống còn 13 hải lý/giờ, du thuyền mới bớt vặn vẹo “kêu gào”, và hành khách mới có được một ngày yên ả trước khi tàu tới Alaska.

Golden Princess khởi hành từ Singapore nhưng chúng tôi chỉ lên tàu tại Japan, sau vài ngày thăm viếng đất nước của con cháu của Thái Dương Thần Nữ. Những lần trước tới đây chúng tôi đều theo đoàn du lịch, “cưỡi ngựa xem hoa” nên cũng chẳng biết gì nhiều về nước Nhật, lần này tự lang thang thăm viếng Tokyo tôi mới nhận thấy là mình đã may mắn được tị nạn tại nước Mỹ chứ không phải vất vưởng nửa đời người tại Đông Kinh. Ngay từ sáng sớm, và nhất là vào giờ tan sở, những đoàn người lầm lì trong complet đen, giống  như một bầy quạ,  ào ra từ những train stations, đi như chạy, cuốn theo những du khách đi phất phơ ngắm phố phường như chúng tôi. Ai cũng cắm cúi, và hình như chẳng ai để ý đến gì đang xảy ra xung quanh.

Có lẽ vì đất đai chật hẹp, nhà cửa nhỏ bé, nên người Nhật ít nấu ăn tại nhà. Tầng hầm (basement) của những khu thương mại đầy những nhà hàng bé nhỏ với vài ba bàn lúc nào cũng đông khách ăn uống một cách vội vàng, Mọi người phải xếp hàng ngoài cửa, cứ thấy có chỗ trống là ngồi vào chứ chẳng hề quen biết nhau. Chung bàn nhưng họ không hề chuyện trò, như thể là ăn để mà sống chứ không phải để thường thức những gì thượng đế dành cho con người. Nước Nhật thật huy hoàng và người Nhật thật đáng phục nhưng đời sống  quá stressful, nhất là đối với giới trẻ làm việc trong các cao ốc của thành phố. Tôi nghĩ thầm nếu kiếp sau không được làm cây thông đứng giữa trời mà reo thì xin cho tôi lại được làm người Việt Nam.

Alaska biển êm đềm vì tàu hải hành trong inner passage,  giữa các đảo xanh phủ tuyết trắng đẹp như tranh vẽ. Không khí thật trong lành, nhưng quá lạnh nên chúng tôi cũng ít lên bờ phiêu lưu, chỉ quanh quẩn trong tại mấy phố chính mỗi lần tàu ghé bến, hoặc nấp trong phòng, qua cửa kính quan sát những tảng băng trôi trên biển. Sau biến cố tháng Tư năm 1975 Alaska đã có một thời là đất hứa cho người Việt tha hương tìm đến kiếm sống bằng nghề đánh bắt cua, đánh cá, nhưng hình như không chịu được khí hậu mùa đông khắc nghiệt nên bây giờ họ đã tìm về những vùng đất ấm như California, Texas, etc…

Tôi đi vì nhớ đường biển xưa. Tới vùng biển nào tôi cũng nghĩ thầm: “Chỗ này sao giống vịnh Cam Ranh … đảo này chẳng khác gì Cù Lao Chàm …”. Hơn mười năm hải vụ xuôi ngược bến bờ VN những địa danh đó đã in sâu vào tâm khảm, dù sóng gió, dù nhọc nhằn, và dù chỉ là một bãi san hô cũng vẫn là một mảnh đất của quê hương cho tôi thiết tha. Hoàng Sa và Trường Sa đã mất, mới đây lại nghe tin là Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc sẽ trở thành những đặc khu kinh tế, “người lạ” sẽ được phép thuê đất tới 99 năm với quyền tài phán, tôi đã thật nghẹn ngào vì đất nước đang mất dần về tay ngoại bang. Quê hương tôi đâu, và có còn một chỗ nào cho tôi trở về, dù chỉ là để thăm viếng cho nguôi niềm nhớ thương?

Bạn thân,

Tôi đi đã khá nhiều nơi nhưng có lẽ cũng đã gần tới ngày “dừng bước giang hồ” vì như trong thư trước gửi bạn, tôi đang nghĩ tới chuyện “thiên di” mặc dù chưa biết là sẽ tìm về nơi nào để sống cho đến lúc cuối đời. Hơn thế nữa “bạn ta” lúc này cũng đã khá mòn mỏi, sợ rằng ít lâu nữa sẽ chẳng còn ai để củng ngao du. Cá Sơn Q. đã đã phải hủy bỏ chuyến đi vừa qua vì tình trạng sức khoẻ. Mã Xa B. cũng bắt đầu thấy “mã thể bất an”, chắc là sau chuyến Dubai/Ấn Độ đầu năm tới cũng sẽ chỉ ở nhà làm bạn với keyboard, du lịch ảo mà thôi!

thieu.jpg.png

Thú thật với bạn là sống ở đất nước này gần 50 năm nhưng tôi cũng chưa biết hết các danh lam thắng cảnh của nước Mỹ. Nếu không thể ngồi máy bay hơn 10 tiếng đồng hồ để tới những nơi xa xôi, hoặc đã bắt đầu e ngại sóng gió đại dương, chúng mình vẫn còn có thể lái xe tìm đến những nơi yên bình để hoà mình với thiên nhiên cho tâm hồn thảnh thơi, hoặc là để nhớ về một nơi xa, rất xa …

Mùa hè sắp tới, ngày sẽ dài hơn cùng với những nỗi nhớ thương. Nếu có buồn bạn gọi tôi để chúng mình hàn huyên nghe.

Tình thân,

Ngụy Xưa

June 5, 2018

nguồn: http://vinasoft.com/GuiBanMienXa_P6.htm#_Toc516075583

Hình-tượng người LÍNH qua dòng nhạc Việt

Hình-tượng người LÍNH qua dòng nhạc Việt

Lê Hữu

Diễn đọc:

https://onedrive.live.com/?authkey=%21ABM2CCZ7msfgwNQ&cid=31EAFF5C58CA7239&id=31EAFF5C58CA7239%21170&parId=31EAFF5C58CA7239%21169&o=OneUp

nguoilinh-1

Xa nhìn thấp thoáng trong mây
muôn bóng quân Nam chập chùng…
(1)

Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi.

Câu chuyện bắt đầu từ những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là “Buồn-muôn-thuở”. Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ, nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.

“Đứng thẳng người,” thầy tôi dặn, “ngực ưỡn ra, miệng hát lớn, mắt hướng về lá quốc kỳ cho tới khi bài quốc ca chấm dứt.” Tôi đã làm theo đúng lời thầy, mắt dõi theo lá cờ từ từ, từ từ được kéo lên, nhẹ bay trong gió. Lá cờ màu vàng tươi phất phới bay trong nắng sớm giữa bầu trời lồng lộng, có từng cụm mây trắng lững lờ… Bỗng nhiên, trong một thoáng, câu hát ấy–không phải câu hát trong bài quốc ca–nghe vẳng lên trong đầu tôi, “Xa nhìn thấp thoáng trong mây / muôn bóng quân Nam chập chùng”… Cùng lúc, tôi như nhìn thấy, thoáng ẩn thoáng hiện trong những cụm mây nơi phía chân trời mờ xa, “chập chùng” những đoàn quân đang tiến bước.

Tôi không thể biết chắc những gì tôi nghe thấy và trông thấy ấy, là tiếng nhạc ở trong đầu, là “bóng mây ảo giác”, hay là những bài hùng ca, những bài học lịch sử mà chúng tôi học được từ những người thầy đã in hằn trong tâm trí, khiến mỗi lần dõi mắt trông theo lá cờ vàng phất phới trong nắng trong gió là mỗi lần câu hát ấy lại vẳng lên và đoàn quân ấy lại “thấp thoáng trong mây”.

Chúng tôi trông đợi những sáng thứ Hai, trông đợi những phút được đắm mình vào không khí đầy vẻ cuốn hút của buổi lễ thượng kỳ. Không khí ấy, với tôi, như mang một vẻ gì thiêng liêng, như nhuốm một vẻ gì bi tráng của những trang sử Việt hào hùng, của những chiến công thần kỳ và của những nợ máu xương chồng chất. Trong những phút ấy, lòng tôi bỗng dâng lên những cảm xúc thật kỳ lạ, vừa là niềm ngưỡng phục, vừa là niềm tự hào, vừa ngùn ngụt hào khí trong máu trong tim cậu học trò ở tuổi vừa lớn, hòa cùng tiếng nhạc trầm hùng như giục giã những bước chân đi tới.

Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!…

Những năm học nối tiếp theo nhau, và ngày tháng trôi đi bình lặng.

Thế rồi, những năm tháng êm đềm vụt biến mất, cơn bão của lịch sử đã cuốn phăng đi tất cả, cuốn phăng đi biết bao nhiêu là số phận. Không còn nữa lá cờ vàng phất phới giữa bầu trời lồng lộng, không còn nữa những đoàn quân “thấp thoáng trong mây”, không còn nữa ngôi trường chúng tôi yêu quý. Chúng tôi tan tác như bầy chim hoảng loạn.

Thế nhưng câu hát ấy, bài hát ấy và những bài hát về người lính, về những “đoàn quân ra đi”, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, mãi mãi không rời.

I. Hành trình của người lính

Đây đoàn quân ra đi nhịp nhàng
mang theo thiên hùng ca / thắm tươi trời Nam bốn phương
Ta anh hùng muôn quân phá tan cường binh
chí tang bồng đem theo khắp nơi tung hoành

Những câu hát “hào khí ngút trời” ấy ở trong bài “Lục quân Việt Nam” (1950) của Văn Giảng & Hương Việt. Những “đoàn quân ra đi”, những “thiên hùng ca”, những “anh hùng” xông pha trận mạc “phá tan cường binh” và “khắp nơi tung hoành”… đã làm dậy lên bầu máu nóng hừng hực và lòng yêu nước nồng nàn của bao thanh niên thuở ấy, những muốn đem tài trai phụng sự tổ quốc và vẫy vùng ngang dọc để thỏa “chí tang bồng”.

1. “Từng đoàn người trai đi viết sử xanh”(2)

Mai ra đi không chút vấn vương
chiến trường kia tranh đấu
Là tài trai chí bốn phương / một lòng quyết lên đường!…
Tiến bước lên! Chiến đấu cho
đất Việt bừng sáng muôn đời!

(“Quanh lửa hồng”, Nguyễn Thiện Tơ & Văn Khôi)wma_icon(Tiếng hát: Mai Hương)

(Mời bấm các nút wma_icon để nghe các nhạc phẩm được đề-cập)

“Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt / xếp bút nghiên theo việc đao cung”.(3) Người trai ra đi với lời thề sắt son ghi trên báng súng. Màu áo chiến binh thay cho màu áo học trò.

Xếp áo thư sinh vui bước đăng trình
mười sáu tròn trăng
Ghi trên báng súng lời thề chinh nhân
tám hướng thành gần…

(“Mười sáu trăng tròn”, Trần Thiện Thanh)wma_icon(Tiếng hát: Nhật Trường)

Phút tiễn đưa chỉ có ánh mắt vời vợi trông theo của mẹ già như trao gửi nỗi niềm tin yêu.

Nhớ lúc lên đường đưa tiễn chân tôi
thương lên khoé mắt mẹ nhắn đôi lời,
“Diệt thù lập công cho xứng tài trai
sắt son ghi lòng chớ phai”

(“Biệt kinh kỳ”, Minh Kỳ & Hoài Linh)wma_icon(Tiếng hát: Sĩ Phú )

“Hành trang giã từ” chàng trai mang theo luôn có lời dặn dò, nhắn nhủ thiết tha của người mẹ hiền yêu dấu.

Ra đi một sáng tinh sương
Mẹ ơi, con vẫn nhớ lời me khuyên,
“Con ơi, tình nước sâu hơn
hẹn ngày chiến thắng con về vinh quang”

(“Ai về quê tôi”, Tiến Đạt)wma_icon(Tiếng hát: Diễm Chi)

Những bà mẹ Việt Nam đều giống nhau. Lòng thương con vô bờ nhưng “tình nước sâu hơn”, mẹ giấu đi nỗi bịn rịn và giọt lệ tiễn đưa để đứa con yêu thong dong lên đường.

“Chàng trai đất Việt” trong câu hát của Thanh Châu được “minh họa” rõ nét là chàng “thanh niên Quốc Gia”, ra đi vì lý tưởng Quốc Gia.

Hôm ấy tay cầm tay trong thiết tha
anh là thanh niên Quốc Gia / lên đường vui xa quê nhà

(“Dặn dò”, Thanh Châu)wma_icon (Tiếng hát: nhạc sĩ Thanh Trang)

Những chàng trai trẻ đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân, cả những tháng năm tươi đẹp nhất của đời mình cho tình yêu đất nước. Những chàng trai “trong tim thì sôi máu / khóe mắt có trăng sao” (“Kỷ niệm”, Phạm Duy), đi dưới một “rừng cờ phấp phới”, một bầu “trời Việt mênh mang”.

Một đoàn người trai hiên ngang
đeo trên vai nợ máu xương
vui ra đi không buồn nhớ thương…

Một rừng cờ phấp phới / một mầu vàng chiêu dương
và một nền vinh quang bằng máu

Một trời Việt yêu dấu / một trời Việt mênh mang
giục đoàn người lên đường hiên ngang

(“Khởi hành”, Phạm Duy)wma_icon (Tiếng hát: Duy Quang)

Những đoàn người nối tiếp những đoàn người, mang tổ quốc trên vai, mang tình yêu nước trong tim, hàng hàng lớp lớp theo nhau lên đường theo tiếng gọi của non sông.

Người đi giúp núi sông
hàng hàng lớp lớp chưa về / hàng hàng nối tiếp câu thề
giành lấy quê hương

(“Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, Nguyễn Văn Đông)wma_icon(Tiếng hát: Hà Thanh)

Tiếng gọi giục giã, nao nức…

Em không nghe ngoài kia
trời đông đã lên rồi / bao lớp người đi…

(“Hành trang giã từ”, Trường Sa)wma_icon (Tiếng hát: Nhật Trường)

“Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”, ngưỡng cửa đầu tiên các chàng trai phải vượt qua là những rèn luyện và thử thách của “đoạn đường chiến binh” nơi các quân trường để trở thành người lính thực thụ.

Đây tiếng ca vang nơi quân trường đầy hào hùng
Vai sát vai / ta thi tài trong tình quân ngũ…

Anh em ơi! Anh em ơi!
Đem sức trai nêu chí hùng / lưu tiếng ngàn thu…

Cố lên! Cố lên! Dù nhọc nhằn
đem mồ hôi pha máu hồng / viết thành sử xanh

(“Thao trường vang tiếng gọi”, Trầm Tử Thiêng)

Như những mũi tên bắn đi bốn phương tám hướng trong ngày lễ ra trường, những chàng trai đất Việt “lên đường nhập ngũ tòng quân” vừa là “đứng lên đáp lời sông núi”, vừa để thỏa chí tang bồng hồ thỉ, vẫy vùng ngang dọc.

Vì thương nước thương dân, thương quê hương mịt mờ khói lửa, thương những kiếp người lầm than, những người trai hôm nay vào chiến dịch, nguyện thề “dâng cả đời trai với sa trường”. Những nắm tay xiết chặt, những bước chân đi tới, những ánh mắt rạng ngời.

Thương dân nghèo ruộng hoang cỏ cháy
thấy nỗi xót xa của kiếp đọa đày / Anh đi!…

Hành trang của người lính trong nhạc Phạm Đình Chương là lòng yêu nước thương dân, là “lòng súng nhân đạo cứu người lầm than”. Hành trang ấy là chính nghĩa, là lý tưởng của người lính miền Nam, là đối nghịch với sắt máu, với bạo tàn.

Dẫu biết rằng “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, người lính chiến trên những tuyến đầu lửa đạn vẫn không hề nao núng lòng.

Không quên lời xưa đã ước thề
dâng cả đời trai với sa trường
Nam nhi cổ lai chinh chiến hề
nào ai ngại gì vì gió sương

(“Anh đi chiến dịch”, Phạm Đình Chương)wma_icon(Ban Thăng Long hợp ca)

Nhạc điệu rộn ràng và hùng tráng như một khúc quân hành.

2. “Anh đi mai về chiến thắng”

Người lính vẫn miệt mài đi, với lý tưởng phụng sự đất nước, với tinh thần quyết chiến quyết thắng cho một ngày hòa bình về trên quê hương.

Anh đi xây chiến thắng / dưới màu cờ quật cường
cho loài người hòa bình

(“Dặn dò”, Thanh Châu)wma_icon(Tiếng hát: nhạc sĩ Thanh Trang)

Anh đi mai về chiến thắng
khi súng quân thù thôi vang trên non sông
Tươi thắm màu cờ vui reo trên kinh thành

(“Anh đi mai về”, Hoàng Nguyên)wma_icon(Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết song ca)

Những đoàn quân trùng trùng tiến bước, “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

Quân ra đi không luyến tiếc đời
Vui xa xôi xin nhớ phút về
đem vinh quang tô thắm nước nhà
Giờ đây đoàn quân cứ tiến!

(“Khởi hành”, Phạm Duy)wma_icon(Tiếng hát: Duy Quang)

Câu nhạc kết thúc với hai nốt nhạc cuối rướn cao đột ngột, mạnh mẽ, như bước chân dồn dập xốc tới… Những trái tim bừng bừng cảm xúc, những dòng máu sục sôi khí thế đã khơi nguồn nhạc hứng cho người nhạc sĩ để viết nên những bài hùng ca đẹp nhất và “hùng” nhất làm nức lòng chiến sĩ.

Ngày bao hùng binh tiến lên
bờ cõi vang lừng câu “Quyết chiến!”
Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành
Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành
Đi là đi chiến đấu! Đi là đi chiến thắng!
Đi là mang linh hồn non sông

(“Xuất quân”, Phạm Duy)wma_icon (Hợp Ca)

“Xuất quân” của Phạm Duy là tiếng trống thúc quân dập dồn hòa cùng nhịp bước quân hành.

“Thúc quân” của Văn Giảng & Hương Việt wma_icon (Hợp Ca) là điệu kèn xung trận, là lời thúc giục bao trai tráng lên đường “diệt tan giống tham tàn”.

Nhìn trong hơi gió thoảng / bóng quân Nam lướt đi
Thề cùng diệt tan giống tham tàn thúc quân vùng lên!
Nơi đây đất nước đang hiến bao đấng anh linh
Xương trắng xây thành / cố tâm đền núi sông ơn nhà

“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa / gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”, (3) người lính chiến vào sinh ra tử, luôn kề cận những bất trắc hiểm nguy, tuy không da ngựa bọc thây nhưng cũng lắm khi đi không ai tìm xác rơi như những người hùng không tên tuổi.

Dù thân này tan tành gói da ngựa cũng cam
Thề trọn niềm trung thành với sơn hà nước Nam!

(“Việt Nam minh châu trời đông”, Hùng Lân)wma_icon(Hợp Ca)

Người lính can trường xông pha trận mạc với tinh thần quyết chiến quyết thắng, với khí thế “đánh một trận, sạch không kình ngạc / đánh hai trận, tan tác chim muông” (4) làm khiếp đảm giặc thù.

Tiếng súng ta như mưa / khiến thù gục đầu
dường như vẫn còn nghe

(“Bài ca chiến thắng”, Minh Duy)wma_icon (Hợp Ca)

Như người lính chiến “ôm súng mơ ngày về quang vinh” trong nhạc Phạm Đình Chương, ngày vui chiến thắng, ngày thanh bình về trên quê hương là nỗi khát khao của cả một dân tộc trong một đất nước chiến tranh ròng rã bao năm.

Ngày mai ngày vui chiến thắng
đón anh về nắng vàng gieo nơi nơi
Ðàn bé đùa nô trước thềm
Mẹ già vui / thôi hết khóc chia phôi

(“Gửi người giới tuyến”, Nhật Lệ)wma_icon(Tiếng hát: Dạ Hương)

Những đoàn quân ra đi năm nào với niềm tin tất thắng, nay trở về ca khúc khải hoàn trong vinh quang chiến thắng.

Thủ đô ơi, thủ đô! Đoàn quân ta đã về đây!
Sau bao nhiêu ngày luôn ước mơ
ngày chiến thắng quay về chốn xưa

“Bài ca chiến thắng” của Minh Duy là một trong những bài hùng ca đẹp nhất làm dậy lên niềm tự hào về một quân lực “đi là đi chiến đấu! đi là đi chiến thắng!”.

Thủ đô ơi, thủ đô! Đoàn quân ta đã về đây!
Tiếng reo vang, vang dậy một trời
lớp lớp tinh kỳ bay trong gió!

Vòng hoa chiến thắng mà người dân hậu phương choàng vào cổ những người lính vừa trở về từ chiến trường lửa đạn là vòng hoa của tình quân dân thắm thiết, của lòng cảm phục, biết ơn và tin cậy.

Kìa đoàn quân chiến thắng trở về với xóm làng
thành công còn ghi dấu đầu súng
Những tấm gương kiêu hùng / phất phới vui trong lòng
Bầu trời thủ đô đón mừng!

(“Bài ca chiến thắng”, Minh Duy)wma_icon (Hợp Ca)

Còn nỗi mừng vui nào lớn hơn, còn nỗi xúc động nào lớn hơn được trông thấy lại lá cờ thân yêu bay lồng lộng giữa bầu trời tổ quốc, trên thành phố quê ta “vừa chiếm lại đêm qua bằng máu”. Lá cờ thấm máu đào còn tươi rói của những người lính kiêu hùng vừa ngã xuống đêm qua.

Cờ bay! Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu
vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…
Cờ bay! Cờ bay tung trời ta về với quê hương
từng ngóng đợi quân ta tiến về

(“Cờ ta bay trên Quảng Trị thân yêu”, Lê Kim Hoa)wma_icon (Hợp Ca)

Những người lính quả cảm dựng lại ngọn cờ vàng trên những thành quách tan hoang sau trận chiến khốc liệt giành lại từng tấc đất quê hương là một trong những cảnh tượng bi hùng nhất của những trang sử Việt.

“Lòng ta như thành này
Vinh quang trong tan nát!”

Câu thơ của Cao Tiêu là cảm xúc thực lòng của người lính trong những phút lặng nhìn ngọn cờ chiến thắng tung bay giữa hoang tàn đổ nát, khi chiến trận vừa kết thúc.

Vui bên nhau mắt lệ nghẹn ngào / quỳ hôn đất thân yêu
Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng!

(“Cờ ta bay trên Quảng Trị thân yêu”, Lê Kim Hoa)wma_icon(Hợp Ca)

Những hy sinh gian khổ, những máu xương người lính đổ ra nơi tiền tuyến để giữ yên bờ cõi và mang về cuộc sống yên lành, ấm êm cho hậu phuơng vẫn luôn được người đời khắc ghi.

Anh về thủ đô biết bao là vui
đã để lại đây mến thương đầy vơi
Người dân nước Việt ghi ơn các anh
đã hy sinh vì giống nòi

(“Anh về thủ đô”, Y Vân)wma_icon (Lâm Thúy Vân – Y Phụng hợp ca)

Chiến thắng nào, vinh quang nào cũng phải trả giá. Cái giá đắt nhất người lính chiến phải trả là máu xương, là xác thân mình. Có xác phơi thây chiến địa, dưới chiến hào hay trên bờ tường. Có xác nằm lại trên đồi cao hay dưới vực sâu, bên khe suối hay cạnh bìa rừng. Có xác của người chiến sĩ vô danh, máu thấm vào lòng đất mẹ, thịt xương rã mục lẫn vào cỏ cây hoa lá. Làm sao kể hết được những hy sinh đền nợ nước của những anh hùng liệt sĩ sống anh dũng, chết hiên ngang, “nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây”. (3)

Ngày nào phơi xác nhớ không! Thây rơi mênh mông trên khắp phố phường
Thân ôm tường / đầu gục đâu!
Ai trên đường / người nhuộm máu
Thây rơi trong đêm khuya lấp chiến hào

(“Khởi hành”, Phạm Duy)wma_icon(Tiếng hát: Duy Quang)

Biết bao người lính đi không hẹn ngày về, đi không về lại nữa. Biết bao người lính đã để lại một phần thân thể mình trên khắp các mặt trận để đổi lấy những chiến công rạng ngời.

Chàng về / chàng về nay đã cụt tay
Máu đào đã nhuốm trên thây bao nhiêu quân thù

(“Nhớ người thương binh”, Phạm Duy)wma_icon(Tiếng hát: Phương Dung)

Người lính miền Nam đã chiến đấu can trường và hy sinh anh dũng để gìn giữ từng tấc đất cha ông để lại và bảo vệ vùng trời, vùng biển quê hương, cho dù máu xương có hòa lẫn vào lòng đất mẹ, cho dù xác thân có vùi sâu dưới lòng biển cả hay tan biến vào không gian.

Chiều nao / thương ôi rụng cánh đại bàng!…
Chiều nao huy hoàng / bụi vàng bay khắp không gian

(“Huyền sử ca một người mang tên Quốc”, Phạm Duy)wma_icon(Tiếng hát : Hoàng Oanh)

Biết bao nhiêu khúc hát về người lính, biết bao nhiêu khúc nhạc hào hùng (chưa kể những khúc quân hành, những bài hùng ca, chiến đấu ca của các quân binh chủng) ngợi ca tinh thần chiến đấu và hy sinh cao cả của người lính chiến một lòng vì nước vì dân trong kho tàng âm nhạc Việt.

NguoiLinh-3

II. Bản trường ca về người lính

“Nhạc lính”, như cách gọi ở miền Nam Việt Nam từ những năm đầu thập niên 1960’s, được hiểu là những bài nhạc nói về người lính và đời lính, hoặc về những nỗi niềm, những tâm tình của người lính. Nhạc lính đã đi vào đời sống của người dân trong một đất nước chiến tranh triền miên, trong đó người lính trở thành hình ảnh thật quen thuộc trong mắt, và trong lòng mọi người.

1. Phác họa về người lính

Anh là người lính chiến
áo bạc mầu đấu tranh

(“Tình quê hương”, Ðan Thọ & Phan Lạc Tuyên)wma_icon(Tiếng hát: Mai Hương)

Câu hát ấy là một trong những nét ký họa hình ảnh người lính trong số bao nhiêu người lính thời chiến tranh ta vẫn gặp đâu đó trên khắp các nẻo đường đất nước.

Tôi lại gặp anh / người trai nơi chiến tuyến
súng trên vai bước về qua đường phố

(“Trăng tàn trên hè phố”, Phạm Thế Mỹ)wma_icon(Tiếng hát: Hoàng Oanh)

“Người trai nơi chiến tuyến” ấy, một chiều nào trên bước đường hành quân, ghé qua một thôn làng miền Trung. Làng quê nghèo xơ xác, nhưng ấm áp tình người. Một vạt nắng vàng, một bóng trăng lung linh, chút tình cảm vấn vương, xao xuyến.

Anh về qua xóm nhỏ / Em chờ dưới bóng dừa
Nắng chiều lên mái tóc / Tình quê hương đơn sơ

“Tình quê hương đơn sơ” như hạnh phúc thật đơn sơ, thật êm đềm làm ấm lòng người lính chiến.

Anh sẽ là anh đàn em nhỏ
là con của mẹ giữ quê hương

(“Tình quê hương”, Ðan Thọ & Phan Lạc Tuyên)wma_icon(Tiếng hát: Lệ Thu)

Là con của mẹ giữ quê hương”, có hình tượng nào gần gũi hơn, thân thiết hơn! Từ những mẹ già đến những em thơ, từ thành thị đến thôn quê, chàng lính chiến luôn luôn là hình ảnh thân quen, luôn luôn được nhắc đến với những tình cảm trìu mến, thương yêu và tin cậy. Người lính có thể là người chồng, người cha, người con, người anh, người em, người bạn, người tình…, những người đang nắm chắc tay súng giữ yên bờ cõi, đem yên vui về cho làng xóm ruộng vườn, cho người người được hít thở không khí tự do, cho nhà nhà được đêm đêm tròn giấc ngủ.

Bờ tre quê hương tay súng anh gìn giữ

(“Trăng tàn trên hè phố”, Phạm Thế Mỹ)wma_icon(Tiếng hát: Như Quỳnh)

Những đêm “trăng treo đầu súng”, những đêm trăng di hành thay cho những đêm trăng hò hẹn của những chuyện “tình thư sinh”.

Những đêm mười sáu trăng tròn
vượt con đường mòn đi giữ làng thôn

(“Mười sáu trăng tròn”, Trần Thiện Thanh)wma_icon(Tiếng hát: Nhật Trường)

Tình quân dân thắm thiết qua những ánh mắt trao gửi, dõi theo bước chân đoàn quân ra đi.

Bao em tôi đôi mắt sáng ngời
trông say sưa quân dồn bước tiến
Tóc bạc trắng đây là những me tôi
lòng già buồn vui nhìn toán quân xa vời

(“Đoàn quân đi”, Việt Lang)wma_icon(Tiếng hát: Mai Hương)

Cảm xúc “lòng già buồn vui” là cảm xúc nao nao của lòng thương mến và nỗi tự hào về đàn con yêu hiến dâng đời mình cho tình yêu tổ quốc.

Trong trái tim mơ mộng của những cô gái đương xuân thuở ấy là hình ảnh chàng lính chiến phong sương với “nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em”…

Chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ
ngoài chiến trường xa dãi nắng dầm mưa
Nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em
trong khi vang ca say theo chiến thắng

(“Chiến sĩ của lòng em”, Trịnh Văn Ngân) wma_icon(Tiếng hát: Qùynh Giao thâu âm trước 1975)

Bài hát một thời rất được yêu chuộng qua những giọng Tâm Vấn, Thái Thanh, Thúy Nga… (nhớ lối nhấn giọng ở hai nốt nhạc “đắm đuối” của Thúy Nga trong câu hát “… em đắm đuối ước mơ”, nghe rất là… đắm đuối).

Những câu hát về nỗi lòng các cô gái là “người yêu của lính” thuở ấy vẫn có những nhịp bước “oai hùng” như thế:

Chiều nay quân xuôi qua thôn vắng
có cô em ngây thơ dừng gót hồng
nhìn theo anh binh tươi trong nắng / bước đi
oai hùng

(“Mơ người lính chiến”, Mai Sơn)wma_icon(Hợp Ca)

Anh / nơi biên thùy xa / vắng muôn màu hoa
Không hề nao núng lòng /
oai hùng nơi chiến trường

(“Tôi nhớ tên anh”, Hoàng Thi Thơ) wma_icon(Tiếng hát: Mỹ Huyền)

Vẫn có khí phách “hiên ngang” như thế:

Lòng em say vì nhớ đến chàng
đang
hiên ngang tung hoành trong khói súng

(“Chàng đi theo nước”, Hiếu Nghĩa)wma_icon (Tiếng hát: Diễm Chi)

Khi nước nhà phút ngả nghiêng
em mơ người trai anh dũng
mang thân thế hiến giang san
chí quật cường
hiên ngang

(“Chiến sĩ của lòng em”, Trịnh Văn Ngân)

Tôi đi tìm anh / người lính quá hiên ngang
cầm súng giữ giang san xây Cộng Hoà

(“Tìm anh”, Hoàng Thi Thơ)wma_icon(Tiếng hát: Thanh Tuyền)

Người lính “quá hiên ngang” trong những câu hát ấy được “minh họa” rõ nét là người lính Cộng Hòa trên khắp nẻo đường đất nước. Tôi đã “đi tìm” và… “tôi đã gặp”:

Tôi đã gặp anh / người anh quá hiên ngang
đi xây cuộc đời / vì lứa tuổi đôi mươi.
Biên cương xa xôi / anh vì yêu sông núi
đem vinh quang gieo ngàn nơi

(“Tôi đã gặp”, Lê Dinh & Minh Kỳ)wma_icon(Tiếng hát: Sơn Ca)

Không chỉ “oai hùng”, “hiên ngang”, người “chiến sĩ của lòng em” ngày ấy còn đượm những nét “phong trần”, “phong sương” của mưa rừng gió núi, của nắng sớm sương chiều và những gian truân đời lính.

Ngắm em thơ ngập ngừng
nhìn người lính chiến
phong trần
niềm thương dâng lên mầu mắt

(“Chim trời chưa mỏi cánh”, Đào Duy)

Chợt thấy lòng lưu luyến / và tâm hồn xao xuyến
Trông anh trai
phong sương / em thấy mà thương

(“Đò chiều”, Trúc Phương)wma_icon (Tiếng hát: Thanh Tuyền)

Những đoàn quân ra đi trong tiếng nhạc hùng tráng, rộn rã, thúc giục, và những “khăn hồng” tiễn đưa.

Ra biên cương! Ra biên cương!
Thiết tha lòng gái / hôm nay nâng khăn hồng
đưa chân anh hùng ngàn phương

(“Ðường ra biên ải”, Phạm Duy)

“Ðường ra biên ải” có thể xem là bài hát đầu tiên về những “em gái hậu phương” tiễn đưa những anh trai tiền tuyến nô nức lên đường.

Ðoàn quân đi giữa sóng mến thương
Xuân về mùa thắm
Tôi thấy những nàng khăn hồng lệ thắm

(“Đoàn quân đi”, Việt Lang)wma_icon (Tiếng hát: Mai Hương)

Người ở lại vui trong nỗi đợi chờ, cầu mong người lính chiến lập nhiều “chiến công oai hùng”, với giấc mơ mùa xuân nào thanh bình chàng trở về chốn cũ, nơi “lệ thắm khăn hồng tiễn đưa”.

Rồi xuân đến dưới gốc mai xưa
nơi lệ thắm khăn hồng tiễn đưa
Em chào đón chàng về vinh quang
bên chàng say đắm một trời xuân thanh bình…

Em chúc cho chàng lập chiến công oai hùng
Vang vang lời chiến thắng
muôn thu danh chàng lừng lẫy núi sông

(“Chàng đi theo nước”, Hiếu Nghĩa)wma_icon (Tiếng hát: Diễm Chi)

Người ra đi không hẹn ngày về, không vướng bận tình thê nhi. Người ở lại vẫn một niềm son sắt thủy chung.

Anh ơi, anh cứ đi / mai về, em vẫn đợi
Anh cứ đi / anh cứ đi giết thù
không vấn vương / không luyến thương

(“Lời người ở lại”, Hoàng Nguyên)wma_icon (Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết song ca)

“Anh đi em ở lại nhà / Vườn dâu em hái, mẹ già em thương”. Nỗi lòng người chinh phụ thuở xưa và những “cánh hoa thời loạn” đời nay không khác nhau bao nhiêu.

Thương người gió lạnh đường xa
khuê phòng em đan áo
Thương đời bé bỏng miền quê / anh giữ yên biên thùy

(“Tình chàng ý thiếp”, Y Vân)wma_icon(Tiếng hát: Hương Lan)

Phía sau những chiến tích vẻ vang của người lính luôn có bàn tay góp sức của những người thân yêu, những người hy sinh hạnh phúc riêng tư, gánh chịu mọi thiệt thòi, chấp nhận mọi mất mát, rủi ro và chia sớt những nhọc nhằn của người lính trong cuộc chiến đấu gian nan chống kẻ thù xâm lược.

2. Nỗi niềm người lính

Tôi là lính / âm thầm tôi nghĩ thế thôi…

(“Lính nghĩ gì?”, Hoài Linh)wma_icon (Tiếng hát: Duy Khánh)

Câu hát ấy cho thấy người lính vẫn có những nỗi niềm, những tâm sự đầy vơi trong những lúc “bạn cùng cây súng”.

Những nỗi niềm ấy đọc thấy qua những dòng thư viết từ chiến trường gửi về người mẹ hiền yêu dấu nơi chốn xa quê nhà, hẹn ngày về bên mẹ khi non nước yên vui, khi quê hương không còn bóng giặc thù.

Mẹ ơi, thôi đừng khóc nữa!
cho lòng già nặng sầu thương
Con đi say tình viễn xứ / đâu có quên niềm cố hương
Thương ngóng về quê cũ / gót thù xéo thảm thê
Bầy trai thầm rơi lệ / súng gươm hẹn mai về

(“Lá thư gửi mẹ”, Nguyễn Hiền & Thái Thủy)wma_icon (Tiếng hát: Thái Thanh)

Hay trong những câu hát bày tỏ nỗi thương quê nhớ mẹ của người lính xa nhà.

Đây những chiều hành quân / Xóm nghèo dừng chân
nhớ thương mẹ già nơi quê nhà xa xôi lắm

(“Chiều biên khu”, Tuấn Khanh & Châu Ngân)wma_icon (Tiếng hát: Elvis Phương)

Nhớ thương là vậy, thế nhưng… “mẹ thà coi như chiếc lá bay” (7) khi quê hương còn tiếng súng, khi những đồng đội còn đón xuân ngoài chiến trường. “Mẹ thương con xin đợi ngày mai, câu hát réo rắt cất lên mỗi lần Tết đến xuân về, qua giọng chứa chan tình cảm của Duy Khánh làm chảy nước mắt những bà mẹ già ngày ngày tựa cửa ngóng tin con.

Con biết không về mẹ chờ em trông
nhưng nếu con về bạn bè thương mong
Bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
không lẽ riêng mình êm ấm
Mẹ thương con xin đợi ngày mai

(“Xuân này con không về”, Trịnh Lâm Ngân)wma_icon (Tiếng hát: Quang Lê)

Những nỗi niềm ấy cũng gửi gấm trong lá thư kể chuyện đời lính gửi về “người em nho nhỏ quê nhà”…

Đã cách xa bao năm / sống cuộc đời quân nhân
súng bên mình nay mai rày đây đó
Chiến đấu ngăn quân thù
vì anh xót thương khi quê hương lầm than

(“Lá thư người chiến sĩ”, Phạm Đình Chương)wma_icon(Tiếng hát: Duy Khánh)

NguoiLinh-2

“Cuộc đời quân nhân” là cuộc chiến đấu gian nan, là những cuộc hành quân lội suối băng rừng, là những “đoạn đường chiến binh” người lính đã vượt qua và những trăn trở về một quê hương rách nát vì chiến tranh.

Tôi thường đi đó đây / bùn đen in dấu giày…
Đêm đêm nằm đường ngăn bước thù
Áo nhà binh thương lính / lính thương quê / vì đời mà đi

(“Trên bốn vùng chiến thuật”, Trúc Phương)wma_icon (Tiếng hát: Chế Linh)

Những nỗi niềm ấy cũng là chuyện “buồn vui đời lính” của những lần về phép, những chuyến về thăm nhà.

Ngồi bên lửa bếp gia đình êm ấm
lặng nghe anh kể cuộc đời buồn vui

(“Chiều biên khu”, Tuấn Khanh & Châu Ngân)wma_icon (Tiếng hát: Thái Thanh)

Chuyện đời lính kể mãi kể hoài không hết, từ những mẩu chuyện chiến trường đến nỗi nhớ thương quê nhà canh cánh bên lòng.

Ngày trở về trong bếp vui / anh nói chuyện nghe
chuyện đời chiến sĩ / sống say mê
đường xa lắm khi nương hồn về quê

(“Ngày trở về”, Phạm Duy)wma_icon (Tiếng hát: Duy Khánh)

Những nỗi niềm ấy cũng là lời giải bày với người vợ hiền đầu gối tay ấp hay với người tình gắn bó thương yêu về những hoài bão và lý tưởng của người trai thời chiến.

Nếu biết người đi vì sông núi
Cách chia này cho hạnh phúc mai sau
chắc em không buồn vì người đi cho lý tưởng

(“Kể chuyện trong đêm”, Hoàng Trang)wma_icon(Như Quỳnh – Trường Vũ song ca)

Chiến tranh là cách ngăn, chia lìa. Chút niềm riêng đành gác lại, vì tình nước sâu hơn tình lứa đôi.

Đời dâng cho núi sông
Lòng này thách với tang bồng
đừng làm má thắm phai hồng / buồn lắm em ơi!

(“Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, Nguyễn Văn Đông)wma_icon (Tiếng hát: Hà Thanh)

Khi quê hương còn mịt mù khói súng, còn tơi bời lửa đạn thì mơ chi chuyện lứa đôi.

Nếu hiểu rằng / anh đi vì lũ giặc tham tàn
thì em ơi, em chớ sầu thương chi
Em thấy chăng khói súng của giặc thù
còn mịt mùng và còn che khuất mờ

(“Anh đi mai về”, Hoàng Nguyên)wma_icon (Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết song ca)

Lời hát và nhạc điệu nghe réo rắt, gợi nhớ tiếng hát đôi song ca Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết quyện vào nhau thật ngọt ngào, thật thiết tha một thuở nào.

Những lời vỗ về, nhắn nhủ thiết tha ân cần, và hẹn một ngày về không xa.

Em ơi, anh đi vì nước non mình đợi chờ
Muôn quân đang reo / lửa khói tung ngập mầu cờ
Thân trai ra đi nợ nước đôi vai gánh nặng
Buồn chi cách xa / vì ngày vui sẽ không xa

(“Buồn chi em ơi”, Lam Phương)wma_icon (Tiếng hát: Trường Vũ)

Những thoáng hạnh phúc hiếm hoi bên người mình thương yêu.

Đừng buồn khi xa nhau em nhé!
Thăm em đôi ngày rồi anh đi

(“Hoa soan bên thềm cũ”, Tuấn Khanh)wma_icon (Tiếng hát: Thanh Lan)

Những phút “tâm tình bên nhau” thật ngắn ngủi, và chia tay vội vã.

Nụ cười đầu môi anh khẽ nói
“Về thăm em chiều nay thôi
sông hồ mai sớm lại đi”…

(“Chiều mưa anh về”, Trần Thiện Thanh)

Con đường đấu tranh gian khổ còn dài, người lính chiến, những chàng trai ôm mộng hải hồ, bạn cùng sương gió, dừng chân phút giây thôi rồi lại lên đường, lại miệt mài đi trên những dặm sơn khê, trên khắp các nẻo đường đất nước để mang về mùa xuân mới cho quê hương.

3. Giấc mơ người lính

Ai nói với em lính không sầu nhớ / không có trái tim đắm say mộng mơ… (“Ai nói với em”, Minh Kỳ & Huy Cường), câu hát quen thuộc vẫn nghe trên các làn sóng phát thanh ở miền Nam một thời nào, cho thấy hình ảnh “cổ điển” của những người lính “lạnh lùng vung gươm ra sa trường” (“Chiến sĩ Việt Nam”, Văn Cao) đã… lỗi thời. Thay cho mẫu người lính sắt đá, lạnh lùng là hình ảnh gần gũi, thân quen, đẹp và đôi lúc pha những nét… “lãng mạn đời lính”.

Anh như ngàn gió / ham ngược xuôi theo đường mây
Tóc tơi bời lộng gió bốn phương

(“Mấy dặm sơn khê”, Nguyễn Văn Đông)wma_icon (Tiếng hát: Thái Thanh)

Trên “mấy dặm sơn khê”, trên bốn vùng chiến thuật, nơi đâu cũng in hằn dấu chân người lính. Cuộc đời lính chiến và những năm dài chinh chiến điêu linh đã khiến cho những lứa đôi yêu nhau phải… người ở một phương nhớ một phương.

Em biết chăng đời lính / nắng sớm với sương chiều
Gió rừng rồi mưa núi / đã làm anh vui nhiều

(“Niềm tin”, Anh Linh & Nhất Tuấn)wma_icon (Tiếng hát: Hoàng Oanh)

“Chí lớn chưa về bàn tay không” (5)thì sá gì chút tình riêng. Người trai ra đi mang trong tim hoài bão thiết tha phụng sự đất nước, nối chí người xưa để mang về một vận hội mới cho quê hương.

Còn đây đêm cuối cùng
nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha
ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em

(“Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, Nguyễn Văn Đông)wma_icon (Tiếng hát: Hà Thanh)

Những “em gái hậu phương”, như những đóa hồng bên những hầm hố và hàng rào kẽm gai, vẫn mong được bàn tay người trai hùng “đem tưới vun trong vườn”.

Xin anh che chở / tấm đời nhỏ bé hậu phương
như câu chuyện tình “Người hùng và giai nhân”
Những cánh hoa hồng / bên hàng rào kẽm hầm chông
vẫn mong bàn tay người đem tưới vun trong vườn

(“Cánh hoa thời loạn”, Y Vân)wma_icon(Tiếng hát: Giao Linh)

Chàng lính chiến vui say đời quân ngũ ngoài chiến trường xa vẫn có những phút thả hồn theo mây gió, trăng sao tìm về bên người mình thương yêu.

Bao tháng ngày phong sương đường xa
vui chiến trường quên áo hào hoa
Tôi sẽ về tìm em / khi trời lấp lánh sao đêm
và gió trăng theo từng bước chân êm…

(“Tôi sẽ về thăm em”, Hoàng Nguyên)wma_icon(Tiếng hát: Nhật Trường)

Nét “lãng mạn đời lính” còn theo bước chân người lính trên những dặm đường hành quân.

Ngày hành quân / anh đi về cánh rừng thưa
thấy sắc hoa tươi nên mơ màu áo năm xưa

(“Màu kỷ niệm”, Thơ: Thanh Tâm Tuyền, Nhạc: Phạm Đình Chương)wma_icon (Tiếng hát: Elvis Phương)

Hay trên những tiền đồn heo hút miền địa đầu giới tuyến.

Anh ở đồn biên giới / thương về một khung trời

(“Niềm tin”, Anh Linh & Nhất Tuấn)wma_icon (Tiếng hát: Hoàng Oanh)

Khung trời nào đây, nếu không phải là thành phố ấy, thành phố cao nguyên đầy mây trắng và sương mù. Câu hát làm nhớ câu thơ của “người lính” Vũ Thành.

“Nơi em về có gì vui
Nơi anh đồn trú suốt đời mây bay”

“Suốt đời mây bay” nên quên cả ngày tháng, quên cả bốn mùa, cho đến lúc trông thấy những nụ mai vàng mới nở nơi bìa rừng mới biết rằng… mùa xuân đang về.

Đồn anh đóng ven rừng mai
Nếu mai không nở / anh đâu biết xuân về hay chưa

(“Đồn vắng chiều xuân”, Trần Thiện Thanh)wma_icon (Tiếng hát: Duy Quang)

Giữa đêm giao mùa, giữa phiên gác đêm, giữa tiếng súng xa vang rền, người lính mơ về những ngày xuân êm đềm.

Xác hoa tàn rơi trên báng súng
ngỡ rằng pháo tung bay / ngờ đâu hoa lá rơi

(“Phiên gác đêm xuân”, Nguyễn Văn Đông)wma_icon(Tiếng hát: Khánh Ly)

“Rồi đây, khi mùa dứt chiến chinh / gió dâng khúc đàn thanh bình”, (6) là khi người chiến binh “giã từ vũ khí”, tìm về bên người mình yêu để tay trong tay đi xây lại chuyện tình và nối lại những giấc mơ chưa tròn.

Nếu một mai khi hòa bình
anh sẽ trở về như giấc mơ
cho từng ngón tay đan lại ái ân ngọt mềm…
Từng đêm không còn tiếng súng
Ngủ đi em / ngủ cho yên…

(“Lời cho người yêu nhỏ”, Trần Thiện Thanh)wma_icon(Tiếng hát: Nhật Trường)

Anh sẽ trở về như giấc mơ”, câu hát thật là đẹp! Giấc mơ ấy cũng thật là đẹp. “Đêm không còn tiếng súng”, quê mình thôi hết chiến chinh, giấc mơ ấy không chỉ riêng của người lính mà của triệu triệu người Việt, của cả một dân tộc khao khát tự do, mơ ước thanh bình sau bao năm dài dằng dặc quê hương chìm ngập trong khói lửa chiến tranh.

Mai đây núi sông yên vui
anh xong nhiệm vụ người trai
sẽ sống với em cuộc đời
hạnh phúc trong gió tự do muôn nơi
Em yêu, đợi chờ em ơi!…

(“Lá thư người chiến sĩ”, Phạm Đình Chương)wma_icon(Tiếng hát: Duy Khánh)

Em yêu, đợi chờ em ơi!Câu hát ấy, lời nhắn nhủ ấy nghe thiết tha đến chạnh lòng! Như người mẹ già ngày ngày tựa cửa ngóng tin con, “người chinh phụ” đời nay vẫn năm chờ tháng đợi mỏi mòn.

Người lính vẫn hẹn một ngày về, người vợ hiền ở miền quê xa xôi–như bao người vợ hiền thuở ấy–vẫn cứ đợi chờ, đợi chờ mãi trong giấc mơ ngày nào người lính trở về.

4. Màu cờ còn tươi, tình yêu còn thắm

Lòng yêu nước thương dân, tinh thần hy sinh gian khổ và chiến đấu anh dũng vì lý tưởng tự do và sự sống còn của đất nước trong những hoàn cảnh nghiệt ngã nhất, là những nét chính khắc họa nên hình tượng người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Chiến tranh đã đi qua nhưng những khúc hát về người lính quả cảm từng cầm súng chiến đấu dưới màu cờ tổ quốc để bảo vệ từng tấc đất quê hương, mỗi lần nghe lại vẫn nghe dậy lên niềm kiêu hãnh, nỗi tự hào về một thiên anh hùng ca của dân tộc.

Những lời ca tiếng nhạc ấy, “bản trường ca về người lính” ấy, hơn lúc nào hết, trỗi dậy trong tôi vào một ngày thật khó quên, ngày tôi được gặp lại lá cờ tôi yêu, gặp lại những người lính năm xưa “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

Những người lính năm xưa ấy, một số đã lìa đời, một số tóc đã điểm sương hay đã bạc trắng mái đầu, tôi vẫn gặp đâu đó, vẫn sống lặng lẽ đâu đó quanh đây trong buổi hoàng hôn của đời người.

Những người lính “một thời ngang dọc” ấy, những người lính “nợ nước vai mang” ấy, từng phụng sự cho những lý tưởng cao đẹp, từng trải những vinh quang và nhục nhằn của một thời kỳ bi tráng nhất trong lịch sử dân tộc.

Những người lính ấy hẳn phải có trái tim rất lớn.

Sau những vẻ mặt lặng yên, tưởng như bình thản ấy, là những tơi bời của lửa đạn đã im tiếng, là những giông bão của lịch sử đã lắng chìm. Những người lính cũ tôi gặp lại hôm nay, lòng vẫn hướng về quê hương tội tình, vẫn nhớ về những “mảnh đất chiến trường xưa” của một thời binh lửa, vẫn ngậm ngùi một nỗi tiếc thương những đồng đội đi mãi không về.

Hơn bao giờ hết, tôi nhận rõ một điều, những người cựu chiến binh ấy, những “người lính già” ấy “không bao giờ chết, họ chỉ nhạt mờ đi thôi”. Những người lính dũng cảm của một quân lực dũng cảm vẫn đang sống và còn sống mãi trong tâm tưởng người đời, như ngọn lửa vĩnh cửu vẫn tỏa sáng trên những đài tưởng niệm chiến sĩ anh hùng, như ngọn cờ màu vàng tươi vẫn bay ngờm ngợp trong nắng, trong gió giữa trời tự do.

Lá cờ phơi phới như mang theo niềm tin yêu mới.

Tôi hiểu được vì sao tôi vẫn gặp những người cựu chiến binh ấy trong những lễ chào quốc kỳ. Tình yêu của họ dành cho lá cờ ấy vẫn còn nguyên vẹn, vẫn không hề nhạt phai.

Ngước mắt trông theo lá cờ ấy, tôi vẫn còn trông thấy “muôn bóng quân Nam chập chùng”, vẫn còn trông thấy “thấp thoáng trong mây” những anh hùng tử sĩ, những chiến sĩ vô danh.

Ngước mắt trông theo lá cờ ấy, tôi vẫn còn trông thấy tình yêu của biết bao người, những người tôi thương tôi yêu và tôi ngưỡng phục. Những người đã dám sống và dám chết cho màu cờ ấy. Những người đã nằm xuống để giữ cho tình yêu ấy còn nguyên vẹn màu cờ.

Tình yêu ấy không mất đi, như lá cờ ấy không mất đi. Tình yêu ấy còn sống mãi, như lá cờ ấy còn sống mãi, còn bay bay mãi trong nắng sớm, trong gió chiều. Ôi những đoàn quân ra đi, ôi bao chiến sĩ hiên ngang đã “hiến thân dưới cờ” để giữ cho màu cờ ấy còn tươi mãi, cho tình yêu ấy còn thắm mãi.

Những trang sử Việt đời đời còn ghi mãi những chiến tích vẻ vang, những chiến công lừng lẫy một thời của biết bao người lính đã chiến đấu can trường, đã hiến dâng đời mình và cả máu xương mình cho tình yêu đất nước.

Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống
Bao mối thương vang động trong lòng!…
(7)

Lê Hữu

(trong sách “Âm Nhạc của Một Thời”)

_______________________________________________________________________________________________________________

(1) Lục quân Việt Nam, nhạc Văn Giảng & Hương Việt wma_icon(Hợp Ca)

(2) Nếu một mai anh biệt kinh kỳ, nhạc Minh Kỳ & Hoài Linh

(3) Chinh phụ ngâm khúc, Ðặng Trần Côn/Ðoàn Thị Ðiểm

(4) Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi

(5) Tống biệt hành, thơ Thâm Tâm, nhạc Trầm Tử Thiêngwma_icon(Tiếng hát: Khánh Ly)

(6) Tạ từ, nhạc Tô Vũwma_icon(Tiếng hát: Sĩ Phú)

(7) Hòn vọng phu III (Người chinh phu về), nhạc Lê Thương

nguồn:  https://baovecovang2012.wordpress.com

Hồi nhỏ cứ tưởng; Lớn lên mới biết

Hồi nhỏ cứ tưởng; Lớn lên mới biết

– Hồi nhỏ cứ tưởng học lịch sử là để biết về tổ tiên nòi giống,
Lớn lên mới biết cộng sản láu cá nhồi sọ;

– Hồi nhỏ cứ tưởng ráng học thành tài để phục vụ đất nước,
Lớn lên mới biết thành tài chỉ được phục vụ Nga Tàu và nước khác;

– Hồi nhỏ cứ tưởng công an bắt cướp, giúp dân,
Lớn lên mới biết công an ăn cướp, hại dân;

– Hồi nhỏ cứ tưởng công an là bạn dân,
Lớn lên mới biết công an là khuyển ưng của đảng;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Cờ đỏ sao vàng là Cờ tổ quốc,
Lớn lên mới biết đó là Cờ Phúc Kiến bên Tàu;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Mỹ-Ngụy là ác,
Lớn lên mới biết cộng sản mới ác;

– Hồi nhỏ cứ tưởng bán vàng giàu nhất,
Lớn lên mới biết bán nước giàu hơn;

– Hồi nhỏ cứ tưởng đánh trận, lập công lớn mới được lên tướng,
Lớn lên mới biết lòn cúi, hèn với giặc ác với dân mới lên tướng;

– Hồi nhỏ cứ tưởng chống Tàu là yêu nước,
Lớn lên mới biết chống Tàu là phản quốc;

– Hồi nhỏ cứ tưởng đảng giải phóng miền Nam đói rách,
Lớn lên mới biết là đảng cướp miền Nam giàu có;

– Hồi nhỏ cứ tưởng bác Hồ là người Việt Nam,
Lớn lên mới biết bác là người Tàu Hẹ;

– Hồi nhỏ cứ tưởng bác Hồ ‘đi xa’ nhằm ngày 03 tháng 9,
Lớn lên mới biết bác chết trùng ngày Quốc khánh, tháng 9 mồng 2;

– Hồi nhỏ cứ tưởng cán bộ là đầy tớ lo cho dân no ấm,
Lớn lên mới biết dân là đầy tớ lo cho cán bộ ấm no;

– Hồi nhỏ cứ tưởng yêu nước là yêu tổ quốc,
Lớn lên mới biết yêu nước là phải yêu đảng;

– Hồi nhỏ cứ tưởng những đồng bào Boat People là Việt gian,
Lớn lên mới biết đó là khúc ruột ngàn dặm;

– Hồi nhỏ cứ tưởng hy sinh xương máu đánh Mỹ là đánh cho dân tộc,
Lớn lên mới biết là đánh cho Liên Sô, đánh cho Tàu cộng;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Lê Văn Tám, Tô Vĩnh Diện, Hồ Thị Kỷ là anh hùng,
Lớn lên mới biết đó là sản phẩm tuyên truyền bố láo;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Trần Dân Tiên và T. Lan là hai nhà văn nào đó viết về bác Hồ,
Lớn lên mới biết cả hai đều là bí danh của bác Hồ tự ca tụng mình;

– Hồi nhỏ cứ tưởng CB là Carte Bleue (thẻ tín dụng bên Pháp),
Lớn lên mới biết CB cũng là bút danh Của Bác dùng khi viết báo trên tờ Nhân Dân, trong đó có bài Địa chủ ác ghê (2);

– Hồi nhỏ cứ tưởng đảng viên cán bộ hẳn phải cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư như lời bác Hồ trên giấy,
Lớn lên mới biết trong thực tế, đảng viên cán bộ cấp càng cao càng trây lười hoang phí, càng trí trá tham tàn, càng thiên vị bè lũ;

– Hồi nhỏ cứ tưởng trí thức xhcn là tầng lớp tinh hoa chính trực, uy vũ bất năng khuất,
Lớn lên mới biết chỉ là học giả, hương nguyện;

– Hồi nhỏ cứ tưởng CH xhcn VN là Độc lập, Tự Do, Hạnh Phúc,
Lớn lên mới biết là trừ (-) độc lập, trừ (-) tự do, trừ (-) hạnh phúc;

– Hồi nhỏ cứ tưởng công lý xhcn là bà cô thiết diện vô tư,
Lớn lên mới biết Công Lý là một ông chú diễn viên hài;

– Hồi nhỏ cứ tưởng bác Hồ vì nước vì dân nên trọn đời không vợ, không con,
Lớn lên mới biết là đếch phải vậy;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Hoàng Sa, Trường Sa, thác Bản Giốc, Ải Nam Quan là của Việt Nam,
Lớn lên mới biết bác và đảng đã ‘cầm cố’ cho Tàu cộng từ lâu;

– Hồi nhỏ cứ tưởng muốn thành tiên thành thánh thì phải tu thân tích đức,
Lớn lên mới biết gian manh xảo trá, độc ác nướng vài triệu người như bác Hồ, bác Giáp cũng được thành thánh thành tiên;

– Hồi nhỏ cứ tưởng tiền cứu trợ thiên tai là dành cho dân,
Lớn lên mới biết là để cứu trợ cán bộ;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Cờ vàng là Cờ của bọn “Ngụy”,
Lớn lên mới biết Cờ vàng đã có từ thời Vua Thành Thái;

– Hồi nhỏ cứ tưởng đảng tàn sát địa chủ trong Cải Cách Ruộng Đất là để chia ruộng, chia đất cho dân nghèo,
Lớn lên mới biết đó là để đảng thu gom về cho riêng đảng;

– Hồi nhỏ cứ tưởng đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ đất nước,
Lớn lên mới biết đảng lãnh đạo nhà nước, quản lý nhân dân, làm chủ đất nước;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Quốc hội là vì dân,
Lớn lên mới biết tất cả chỉ là Bonzaï của đảng;

– Hồi nhỏ cứ tưởng Hiến Pháp là văn kiện pháp lý cao nhất của tổ quốc,
Lớn lên mới biết Cương lĩnh đảng còn cao hơn nhiều;

– Hồi nhỏ cứ tưởng mình đang sống ở ngưỡng thiên đường cộng sản,
Lớn lên mới biết đang sống ở địa ngục trần gian.

[…]

Học sinh Miền Bắc & Đảng Còm Sỹ Lề Dân
danlambaovn.blogspot.com

Tâm sự của một cựu Sinh viên Luật khoa Sài Gòn

Tâm sự của một cựu nữ SV trường Luật Sài Gòn

Cao Đồng Phước

Chỉ vài ngày sau khi Sài Gòn mất là hai người bạn ấy đến thăm tôi. Phan hoạt động nội thành, còn Trần thì từ bưng biền trở về. Cả hai tiếp thu Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, và họ gặp em gái một người bạn thân của tôi lúc ấy hiện là Sinh Viên QGHC nên biết tôi đã di tản từ Đà Nẵng vào Sài Gòn, vì thế họ đã tìm đến thăm tôi. Biết tôi vừa sinh cháu trai chỉ được mười mấy ngày nên hai người khi đến, đã cầm theo quà tặng là một hộp sữa bột.
Tôi chua chát nghĩ thầm: “Hai người đến để nhìn cho thật rõ mặt kẻ thua cuộc hôm nay là tôi đấy à!” Nhớ ngày khi tôi vừa mới bước chân vào trường Luật Sài Gòn thì tất cả bọn họ đều là những học huynh của tôi, kẻ thấp nhất cũng học trên tôi một lớp. Có người năm thứ ba, và có kẻ đã cao học. Cả cái nhóm Ban Xã Hội Luật thuở ấy đã cùng nhau sinh hoạt thật là vui vẻ dễ thương. Những buổi sáng đến trường khi trời còn tờ mờ nên vào giờ đổi lớp đầu tiên là chúng tôi gộp tiền nhau lại để một người trong nhóm chạy ra bưu điện mua bánh mì Hương Lan đem về rồi cùng nhau ăn sáng, cười đùa. Cuộc đời sinh viên của chúng tôi đã mở ra êm ả theo với “con đường Duy Tân cây dài bóng mát”, rộn rã những tình thân và những giấc mộng đời xanh ngát.
Trong nhóm, tôi thân nhất với hai anh Phan, Trần, và với Lâm. Lâm sau này đã rẽ bầy, qua Quốc Gia Hành Chánh. Hiện nay Lâm đang sinh sống ở Melbourne, Australia, và hiện đang là “the webmaster” của một website chống cộng rất cực đoan, kiểu chống Cộng gây nơm nớp lo âu cho những bạn bè quan tâm. Khác với Lâm mà cuộc sống lúc bấy giờ có phần khó khăn, Phan và Trần đều là hai công tử con nhà giàu nhưng đã lao đầu vào những công tác xã hội một cách nhiệt tình và triệt để, khiến tôi lúc ấy vô cùng thán phục! Họ không giống như hầu hết các sinh viên thời thượng Sài Gòn thuở ấy, ngày Chủ Nhật là ra ngồi ngất ngưỡng ở Brodard, ở La Pagode, để tán hươu tán vượn và rửa mắt với phố xá dập dìu tài tử giai nhân, thụ hưởng thứ thanh bình xa xỉ trong lòng một đất nước đang lửa khói chiến tranh. Hai thanh niên này đã cùng với dăm ba người bạn của họ lần mò vào những khu xóm nghèo nàn để dạy đọc, dạy viết chữ, và dạy những phương pháp giữ gìn vệ sinh căn bản cho các trẻ em sống ở đó. Ôi những trái tim nhân ái tràn đầy lý tưởng bao la trong ngưỡng mộ của tôi!
Cho đến một hôm thì thông cáo dán đầy trường Luật, tố cáo những tên sinh viên Cộng Sản đã ẩn núp trong Ban Xã Hội, trong ấy có Phan, có Trần và một số các tên tuổi khác nữa! Tôi ngẩn ngơ để thấy rằng thì ra mình non nớt quá! Nhưng thật may, ngoài những công tác xã hội để phục vụ cho sinh viên lúc bấy giờ như liên lạc với Hợp Tác Xã Nguyễn Huệ để mua vải giá rẻ về bán cho sinh viên hay tham gia cùng với các trường bạn trong công tác quyên góp giúp đỡ các đồng bào bị thiên tai bão lụt thì tôi chưa hề bị họ lôi cuốn xa hơn vào những mục đích chính trị riêng tư của họ. Dòng đời cứ thế đã trôi nhanh, đẩy đám bạn bè chúng tôi mỗi người lưu lạc một hướng! Tôi yên thân vào làm việc ở một ngân hàng lớn. Phan và Trần sau đó cũng phải khoác vào người bộ quân phục. Một hôm Phan tìm đến thăm tôi, cho tôi biết Trần hiện đang sống ở Pleiku, không bị đưa đi tác chiến vì được một vị quan lớn giữ lại làm việc văn phòng để ngày ngày đến nhà dạy kèm cho các con của ông ta học. Còn Phan thì nhờ núp bóng cậu là một vị Đại Tá (cũng là cha nuôi anh ta từ ngày anh ta mồ côi cả bố lẫn mẹ) nên cũng được tạm yên thân. Bẵng đi một dạo, bỗng một hôm Phan lại đến tìm tôi để cho tôi biết rằng Trần đã trốn vào bưng! Phan nói: “Anh cũng muốn được như Trần nhưng anh không thể, vì anh không thể nào gây liên lụy đến cậu của anh!” Rồi Phan lại trầm ngâm bày tỏ thêm: “Anh bất lực và hèn quá phải không vì cứ phải cúi đầu nhẫy nhụa sống trong một xã hội quá thối tha và bất công!” Tôi khẳng định lập trường của mình: “Em thì lựa chọn Tự Do nên không thắc mắc gì khác hơn nữa hết! Xã hội này thối tha và bất công nhưng chúng ta cũng vẫn còn có thể xuống đường để chống đối kia mà!”
Tôi chỉ bày tỏ ngần ấy, còn đối với lựa chọn của họ, tôi không có ý kiến. Vì họ đều là những thanh niên trí thức và có lý tưởng nên tôi không ngu dại mất thì giờ để thuyết phục họ. Theo tôi thì tất cả mọi người hoàn toàn tự do trong chọn lựa của mình để đi con đường mà mình muốn đi.
Hôm ấy, sau ngày nước mất nhà tan 30 tháng 4 chỉ mấy hôm, hai vị học huynh này đến thăm tôi để ngầm cho tôi biết rằng tôi đã là kẻ thua cuộc trong chọn lựa năm xưa của tôi, hay nói rõ ràng và chính xác hơn, là kẻ chiến bại (?!)
Con đường tôi đã chọn lựa và đã đi, tôi sẽ vẫn mãi mãi đi, không bao giờ rẽ lối hoặc đổi chiều đâu, các anh ạ! Gặp lại các anh chỉ để tôi càng khẳng định hơn là mãi mãi chúng ta không bao giờ có thể đứng cùng chung một chiến tuyến! Không bao giờ! Gia đình tôi thuộc hàng ngũ “ đại ngụy” vì đã có đến bốn đấng nam nhi chi chí vác khăn gói cùng lên đường một lượt vào trại tập trung cải tạo: Hai ông anh ruột, một ông anh họ mà ba má tôi đã nuôi nấng từ thuở nhỏ, và phu quân của tôi. Ở nhà thì ông em út còn học lớp 11 của chúng tôi lại nổi loạn theo đám bạn bè đi dán truyền đơn “chống cách mạng” để rồi cuối cùng cũng theo chân các anh của mình vào nằm đếm rệp trong nhà tù!
Thêm một năm trôi qua, niềm hy vọng vào một sự lật đổ và đổi thay đến từ những sức mạnh vạn năng hải ngoại đã mỏi mòn dần, nhưng đôi mắt của đại đa số những người dân miền Nam chúng tôi thì mỗi lúc đã một sáng hơn để không còn một ảo tưởng nào về thiên đường Cộng Sản nữa. Ngay đến cả những cây cột đèn vô tri trên đất nước chúng tôi cũng ước muốn được rời bỏ quê hương, vượt biên tìm tự do, không phải có người đã nói như thế hay sao!
Một hôm, bỗng dưng tôi tình cờ gặp lại Phan. Tôi đã không thể ngăn được mình, buột miệng hỏi anh: “Cho đến hôm nay, anh vẫn còn thấy rằng con đường anh đã lựa chọn là lý tưởng hay sao?” Phan thành thật trả lời: Lý tưởng vì anh tưởng rằng có lý!” Lòng tôi đã chùng xuống trong một nổi cảm thương thay vì thù ghét bởi câu trả lời quá buồn bã, chua chát, và rồi chỉ nghe tội nghiệp cho một người đã một thuở nào trái tim mang đầy những mộng tưởng tốt đẹp. Anh ta chọn lầm con đường để đi, nhưng mộng tuởng của anh ta không sai trái. Công bằng để nói, cái xã hội mà trước đây chúng tôi đã sống quả thật cũng chả phải là một xã hội hoàn hảo gì. Xã hội ấy cũng đầy dẫy những bất công hiếp đáp, những cảnh con ông cháu cha bất tài vô tướng ăn trên ngồi trước, những mua quan bán tước, những lợi dụng chức quyền đến làm công phẫn lòng người ! Phan mơ ước một chế độ công bằng hơn, tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người dân, và điều này tôi có thể hiểu được. Nhưng tại sao Phan lại nghĩ rằng một chế độ độc tài sắt máu như chế độ Cộng Sản có thể giúp thực hiện giấc mộng này cho dân tộc thì quả thật tôi không cách nào hiểu được, không cách nào! Những ngày cuối còn ở Sài Gòn, tôi biết được rằng cả cái đám sinh viên Luật thiên tả ấy đang được đào tạo lại trong lớp pháp lý Cộng Sản để trở thành những viên chức hành chánh hay pháp luật thực thụ của chế độ vì đã bắt đầu bước qua giai đoạn mà đảng Cộng Sản Việt Nam phải sử dụng đến những người trí thức trong guồng máy của họ khi họ bắt buộc phải mở rộng cánh cửa ngoại thương để bước ra khỏi sự nghèo đói và lạc hậu.
Từ trại tị nạn Pulau Bidong, 3 mẹ con tôi đã được Canada tiếp nhận cho định cư, và hè năm 1999 tôi đã theo con gái tôi về Việt Nam để giúp cháu làm cái “tour package” của hãng “Premiere Tours” mà Việt Nam là một trong những địa điểm du lịch của “tour” này. Bạn tôi là Hoàng cứ khăng khăng bắt tôi phải đến gặp đám bạn cũ ở trường Luật ngày xưa: “Chị phải đến thăm họ với H. rồi mới biết! Các anh ấy vẫn quý chị lắm mà, để H. phone cho họ.”
Sự gặp gỡ thăm viếng này đều do một bàn tay sắp đặt của bạn tôi, và hai mẹ con tôi chỉ việc theo đuôi nàng mà thôi. Theo mệnh lệnh của Hoàng, chiếc taxi dừng lại trước một ngôi biệt thự kín cổng cao tường để cho 3 người chúng tôi bước xuống. Cái cổng sắt cao nghệu đến tôi không thể nào với tay qua được. Hoàng bấm chuông, và có gia nhân ra mở cửa. Trần và mấy người bạn nữa nghe tiếng chuông, cũng đang từ trong ngôi biệt thự to lớn, tươi cười bước về phía chúng tôi. Cánh cổng ngôi biệt thự vừa được mở ra là con gái tôi đã thảng thốt: “Eo ôi, nhà bạn của mẹ sao mà nguy nga và đẹp kinh khủng thế này!” Ấy là cháu đang sống ở Canada và đã được trông thấy bao nhiêu là nhà cửa to lớn đẹp đẽ nơi đây rồi!
Trước khi đến được ngôi nhà lớn, chúng tôi phải đi qua một khu vườn mênh mông có hồ nuôi cá sấu, hồ sen, hồ súng, và các loại cây kiểng được cắt xén tỉ mỉ thành hình chim công, chim phượng, cò, voi, thỏ, ngựa, vv….và vv…… Giữa khu vườn là ngôi nhà nghỉ mát hình bát giác với rất nhiều những hòn non bộ quanh đó. Quan sát tỉ mỉ khu vườn này một vòng, tôi hỏi Trần liền: “Anh làm sao có thể tự tay chăm sóc mấy con cá sấu và cắt tỉa các cây kiểng này chứ?” Trần cười: “Phải thuê người chăm sóc chứ!” Tôi nói: “Chắc tốn tiền bộn lắm!” Trần trả lời tỉnh bơ: “Mỗi tháng khoảng 1 cây vàng mà thôi!”
“Chỉ một cây vàng thôi!”, trái tim tôi bỗng dưng nhói thắt lại! Tôi nhớ đến bác xích-lô mà ngày mới về, hai mẹ con tôi đã gặp ở chợ Bà Chiểu, và từ đó sáng sớm tinh mơ nào bác ta cũng đến đậu xe ngay trước cổng nhà chúng tôi đang tạm ở. Chuyện trò hỏi han bác thì chúng tôi được biết mỗi ngày nếu may mắn, bác có thể kiếm được khoảng 1, 2 đô la Mỹ để đổi gạo cho gia đình. Có ngày không kiếm được một mối nào hết, bác phải vác xe về không, vì bây giờ các con đường mà xe xích-lô có thể chạy được bị giới hạn lắm nên ít du khách muốn đi xích-lô. Xích-lô chạy chậm, lại phải chạy lòng vòng trong trời nắng như thiêu như đốt và trong cả bụi bặm ô nhiễm của thành phố Sài Gòn, vì thế khó mời mọc được du khách! Mẹ con chúng tôi vì lòng “không nỡ” nên từ đó mỗi ngày đều phải ngồi xích-lô của bác để giúp, khiến mỗi buổi tối khi về đến nhà và lau mặt thì chiếc khăn mặt của cả hai đều đen như lọ nghẹ bởi khói xe Sài Gòn, còn da dẻ thì nước da trắng trẻo ngày mới về đã trở thành làn da rám nắng màu bánh mật! Vô vàn cảnh nghèo đói rất đổi thương tâm nữa được gặp ở ngay trong lòng thành phố Sài Gòn lộng lẫy mà tôi không thể nào kể xiết!
Bước vào bên trong nhà, sự sang trọng của giai cấp “quý tộc mới” này còn được trông thấy rõ ràng hơn với vô số đồ gỗ và các đồ vật quý giá được chưng bày khắp mọi nơi. Bắt đầu cuộc trò chuyện là tôi đã không ngăn được tôi phải mở miệng nói liền tức thì: “Nghe mấy bác xích-lô than thở mà tội quá, mỗi ngày lợi tức 1 đồng đô-la Mỹ có khi cũng không kiếm được thì làm sao có thể sống!” Trần trả lời ngay, cười cợt, dửng dưng: “Ồ, xạo đó, có khi họ kiếm được bộn lắm!” “Ba xạo? Bộn lắm là bao nhiêu hở? Có được 1 cây vàng như con số mà hàng tháng anh phải bỏ ra để nuôi cá sấu và chăm sóc cây kiểng hay không?” , tôi tự hỏi thầm trong nổi phẫn nộ đến lùng bùng tai óc! Nếu kẻ dửng dưng nói ra lời này chỉ là một tên VC tôi không quen không biết thì tôi cũng chẳng thèm lý đến để 3 có cái phản ứng giận dữ ấy vì với tôi: “Cái lũ đó, chúng là như thế mà!” Nhưng đây là vị học huynh mà tôi đã từng ngưỡng mộ. Vị học huynh khao khát công bằng xã hội và cơm ăn áo mặc cho dân tộc của anh ta. Vị học huynh đã từng hy sinh những ngày Chúa Nhật ngồi Brodard, Pagode, lặn lội vào những khu xóm nghèo nàn để lau tay, rửa mặt, để dạy đọc dạy viết cho những trẻ em lem luốc rách rưới không đủ điều kiện đến trường. Không phải là phẫn nộ mà là một nổi đớn đau thất vọng gần như là tuyệt vọng trong tôi! Một chế độ tham tàn đến như thế nào mà đã biến được người sinh viên quá trong sáng quá lý tưởng năm xưa trở thành một kẻ hoàn toàn không còn chút nhân tính hiện đang ngồi trước mặt tôi đây (???!!!)
Buổi tiệc chào đón tôi đã được bày biện trong căn nhà nghỉ mát hình bát giác (giống như lầu uống rượu ngắm trăng của các vị đại phú gia hay vua chúa Trung Hoa thời cổ xưa) với những món ăn đặc biệt và đắt tiền được nhà hàng đem tới. Bạn bè ngày xưa khá đông, trong số ấy dĩ nhiên có cả anh Phan. Nhưng cũng có dăm ba người lạ mặt với tôi mà tôi đoán là những kẻ đến để nịnh bợ chủ nhân lúc đó đang là một vị Giám Đốc Công Ty Xuất Nhập Khẩu TP HCM.
Tôi ngồi vào bàn và chỉ ăn uống lấy lệ vì không còn một chút hứng thú, điên tiết bởi câu bợ đỡ thối tha từ miệng ông thầy dạy Anh Văn của Trần khi tự cho rằng ông ta “đi Mỹ chỉ để làm một thứ ăn mày Mỹ mà thôi!” “Biết mình đi Mỹ chỉ để làm một thứ ăn mày mà vẫn đi thì đúng là một kẻ sĩ vô liêm sĩ!”, tôi búa liền một búa! Buổi tiệc hội ngộ từ giây phút ấy nặng nề mùi thuốc nổ từ vị khách quý được ưu ái mời đến là tôi, khiến mọi người yên lặng như tờ. Tôi cũng mong có người đứng dậy ra về để đứng dậy theo, nói lời cám ơn và giã biệt gia chủ cho thật nhanh. Cũng trong chuyến về Việt Nam rất ngắn ngủi này, tôi đã có cơ hội hơn những kẻ về thăm quê hương khác, được chứng kiến hoạt cảnh “tham nhũng tiếp nối tham nhũng!”
Hoàng không biết đã vô tình hay cố ý, đưa tôi đến nhà một vị luật sư tên tuổi của Sài Gòn ngay sau vụ án xử tử hình nhiều tay đầu sỏ tham nhũng của chế độ. Tôi ngồi đó để nhìn kẻ ra người vào lũ lượt suốt một ngày, mặc cả với vị “luật sư trung gian” về giá cả để án tử hình sẽ được giảm thành án chung thân, án chung thân thành án 30 năm, vv….và vv…., khi họ chống án.
Tôi ngồi để nghe họ mặc cả 300, 400, 500 cây vàng như chỉ đang nói đến 300, 400, 500 cây kẹo hay cây tăm thôi mà lạnh gáy!
Giai cấp tham nhũng này bị triệt tiêu chỉ để nuôi béo bở hơn một giai cấp tham nhũng khác mà thôi! Thật tội nghiệp cho đại đa số những người dân lao động Việt Nam lương thiện, dù quần quật đổ mồ hôi hay cả máu nữa, cũng vẫn không thểkiếm đủ cơm ăn áo mặc! Đó là kết quả sự chọn lựa của các học huynh tôi!
Một Phan rồi chỉ biết thụ động cúi đầu sống cho hết kiếp với sự chọn lựa sai lầm của mình, dù trong lòng có lắm chua chát và ít nhiều hối hận: ”Lý tưởng vì tưởng mình có lý!” Trần thì đã hoàn toàn thả trôi lương tri và mộng tưởng của anh ta theo với cái chế độ tham tàn để cùng quay khít khao một nhịp với cái guồng máy mà chắc chắn rồi một ngày cũng sẽ nghiến nát anh ta ra thành tro bụi mà thôi! Lại có một kẻ trăn trở chống chỏi trong chọn lựa để rồi cuối cùng đã phải buông tay ra đi trong tận cùng của tuyệt vọng!
Vĩnh Thọ là một phi công A-37 thuộc phi đoàn 524 tại căn cứ không quân Nha Trang. Anh đã thụ huấn ở Mỹ và trở về nước tháng 10/1968 với quân hàm Trung Úy. Trong một phi vụ bay huấn luyện đêm để duy trì khả năng và tái xác định hành quân bằng phi cơ A-37 thì không biết vì lý do gì, máy bay vừa cất cánh là bị rớt ở cuối phi đạo gần bờ biển. Thoát chết nhưng Vĩnh Thọ đã bị phỏng rất nặng ở đôi tay, khiến gân ở hai tay anh bị rút lại và gân các ngón tay cũng rút thành tật. Vì vậy mà từ đó, vị phi công A-37 này đã không thể tiếp tục nghiệp bay được nữa. Nhưng sau cái tai nạn máy bay A-37 bị rớt ngay tại bờ biển, đã nổi lên khắp mọi nơi ở Nha Trang quá nhiều những lời đồn đãi như những huyền thoại về vị phi công này: “Vĩnh Thọ là VC nằm vùng. Mỗi lần mang bom đạn đi hành quân thì Vĩnh Thọ thả bom lên quân bạn hoặc mang bom đi thả tầm bậy tầm bạ chứ không thả vào mục tiêu được phòng hành quân chỉ định, vv….và vv….”
Về chuyện Vĩnh Thọ có đích thực là VC nằm vùng hay không thì rồi từ từ chúng ta sẽ có nhận định chính chắn. Còn vấn đề cố ý thả bom ngoài mục tiêu chỉ định thì mới gần đây thôi, qua sự tìm hiểu với một người quen là một cựu Thiếu Tá Phi Công A-37 cũng cùng phi đoàn với Vĩnh Thọ ngày xưa, anh NVD hiện đang định cư tại Australia, tôi được biết một cách khẳng định rằng chuyện này tuyệt đối không thể nào! Theo anh NVD cho biết thì mỗi chiếc khu trục cơ khi đi hành quân chỉ có 1 pilot. Nhưng không bao giờ hành quân một chiếc đơn lẽ mà luôn luôn đi hợp đoàn tối thiểu là 2 chiếc, thường thì 3 chiếc. Lúc ấy Vĩnh Thọ chỉ là một “Phi tuần viên” phải bay theo sự hướng dẫn của “Phi tuần trưởng” thì làm sao anh ta có thể tách hợp đoàn để đi thả bom tầm bậy tầm bạ được chứ (???!!!) Anh NVD còn nói thêm: “Dẫn một hợp đoàn đi hành quân, vị Phi tuần trưởng để yên cho ai muốn làm gì thì làm à? Sau khi hoàn tất bất kỳ một phi vụ hành quân nào, nhiệm vụ của Phi tuần trưởng khi về đáp là phải báo cáo rõ ràng cho phòng hành quân : Phi vụ lệnh số mấy? Call sign là gì? Hợp đoàn bao nhiêu chiếc? Mang bom đạn loại gì? Toạ độ mục tiêu chỉ định là gì và ở đâu? Bom đạn thật sự đánh ở tọa độ nào, cách quân bạn bao xa (nếu có)…vv…và vv…
Tôi là một Phi tuần trưởng trước khi Vĩnh Thọ được bổ nhiệm về PĐ 524.” Sau khi anh Vĩnh Thọ không còn bay nữa thì thỉnh thoảng mỗi lần Ba tôi về Nha Trang nghỉ ngơi để viết lách và soạn bài vở cho khoá giảng tới, tôi vẫn thấy anh Thọ đến nhà đàm đạo học hỏi thêm với ông. Ba tôi vẫn khen anh Vĩnh Thọ thông minh và là người chịu khó đọc sách, khá có kiến thức. Nhưng ông lại lắc đầu: “Tiếc là hắn đang đắm chìm trong thiên đường ảo tưởng bằng pha lê của hắn!” Những lời đồn đãi nào rồi cũng phải lắng dịu xuống theo với thời gian. Về sau tôi không còn sống ở Nha trang nữa, và anh chị em gia đình tôi cũng di chuyển gần như toàn bộ vào Sài Gòn với Ba tôi, vì thế mà những việc đã xảy ra sau này ở Nhatrang, tôi không còn được biết gì hết.
Vận nước đổi dời, cuộc sống chúng tôi tất bật hơn xưa. Bây giờ ngày ba bữa lo cơm ăn áo mặc đã mệt nhoài, còn đâu thì giờ và tâm tư để thắc mắc đến chuyện của ai nữa cơ chứ! Thế mà bỗng một hôm, anh Vĩnh Thọ xuất hiện trước cổng nhà Sài Gòn của chúng tôi, ốm yếu và xanh xao như là một bóng ma! Bọn tôi đồng “Ồ!” lên một tiếng thảng thốt khi thoạt vừa trông thấy anh cà nhắc cà nhót, khập khểnh bước vào nhà. Ba tôi lúc ấy đang ngồi trong phòng khách nhìn ra bên ngoài nên trông thấy anh Vĩnh Thọ ngay, và ông cũng ngạc nhiên ú ớ không ra lời! “Thưa Bác, Bác có nhận ra con không?”, anh chào Ba tôi ngay. “À, Vĩnh Thọ phải không?”, Ba tôi cũng mừng rỡ lắm. Anh ngồi xuống và bắt đầu kể, không chờ đợi Ba tôi phải hỏi han: “Con lầm quá rồi Bác ơi! Con có tội! Con quá u mê! Bác ơi, con chính là người cương quyết trấn thủ Nha Trang và là một người trong đám tiên phong ra tận đèo rù rì nghênh đón bọn Vẹm vào! Con đáng chết!”
Rồi anh tiếp tục kể, như thể Ba tôi là cái hồ chứa để anh trút xuống nổi lòng, mong cầu vơi nhẹ bớt những ray rứt và hối hận: “Ban đầu con vào làm việc cho Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Khánh Hòa. Nhưng chỉ 3 tháng sau thôi, thưa Bác, là con đã thấy được bộ mặt thật của bọn Cộng Sản, và con quay qua góp ý, rồi phê bình, rồi chống đối! Kết cuộc chúng xiềng con vào chuồng cọp (phòng giam nhỏ xíu, chỉ đủ giam giữ 1 phạm nhân). Con chỉ được phép cho ra khỏi chuồng cọp vào những giờ giấc thẩm vấn mà thôi. Thay vì phải “phản tỉnh” thì con lại giận dữ chưởi bới tiếp tục nên lại bị cùm, rồi bị kéo lê kéo lết hết nhà tù biệt giam này đến nhà tù biệt giam khác, không một phút nghỉ ngơi! Cuối cùng, hai cái giò bị xiềng của con đã lúc nhúc giòi bọ, cơ hồ sắp phải cắt bỏ. Sau đó, con còn bị một cú tai biến mạch máu não tưởng đã đi theo ông bà, vì vậy chúng nó mới quyết định thả con ra vì con đã là người tàn phế rồi!”
Trong lần gặp gỡ này, Ba tôi chỉ lắng tai nghe anh Vĩnh Thọ nói chứ không hề phê phán hay góp ý, vì ông còn rất nghi ngại dè dặt. Ai là thù, ai là bạn của ta, thật khó mà có thể quyết đoán vội vàng trong không gian và thời gian này! “Bác ạ, con cho rằng muốn chống Cộng Sản thì chúng ta phải ở ngay trong lòng Cộng Sản, vì Cộng Sản nhìn từ xa xa thì rực rỡ như một con kỳ lân, dũng mãnh như một con sư tử. Hay nói cho có vần có điệu, chế độ Cộng Sản nhìn xa thì đẹp đẽ, nhìn gần thì chỉ là con chó ghẻ!”
Tôi nhớ mãi lời ví von cay đắng này của anh Vĩnh Thọ. Quả thật, anh Thọ đã là người hoàn toàn tàn phế khi được thả về! Áp huyết của anh cao đến đổi chúng tôi ai nấy đều lo sợ anh có thể ra đi bất cứ phút giây nào, và cơ thể anh suy nhược gần như toàn diện! Anh sống nương tựa người em trai còn độc thân ở một ngôi nhà nhỏ trên con đường Bắc Hải, gần Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa ngày xưa. Mẹ tôi nghe ai bày vẻ thức ăn hay món uống gì có thể giúp hạ áp huyết thì bà đều chính tay làm lấy rồi bắt chúng tôi đem đến cho anh, ước mong anh có thể kéo dài mạng sống. Nhưng rồi anh cũng phải ra đi! Tôi nhận được tin anh Vĩnh Thọ qua đời khi tôi đã định cư ở Canada. Giây phút nghe tin, tôi đứng lặng yên ở khung cửa sổ nhìn lên bầu trời xanh biếc đang trôi nhanh những đám mây trắng ngần như tuyết trắng, cầu nguyện cho linh hồn anh được an nghỉ trên đó, không còn phải trăn trở chống chỏi khổ sở với những ước mơ và lựa chọn quá hoang đường của anh nữa!
Dù lựa chọn của anh đã quá sai lầm và hoang đường, nhưng tôi thật sự ngưỡng mộ giấc mơ của anh cùng với ý chí cương quyết, dứt khoát không phản bội lại những điều tốt đẹp mà anh đã ôm ấp. So với biết bao nhiêu người mà lựa chọn chỉ là “làm kẻ đứng bên lề”, đất nước thịnh hay suy, mất hay còn, dân tình no ấm hay lầm than, đó chẳng phải là chuyện của họ mà chỉ là chuyện-phải-lo của một thiểu số người cầm quyền mà thôi, thì sự chọn lựa với một thái độ nhập cuộc thật tích cực và kiên cường của người phi công này xứng đáng được sự tha thứ cũng như ngưỡng mộ của tất cả chúng ta.
Tôi ước ao bài hồi ký này sẽ đến được tận tay hai vị học huynh Phan và Trần để có thể khơi dậy lại được trong trái tim họ một chút gì tốt đẹp còn rơi rớt lại của ngày xưa: Một chút lòng yêu nước thương dân. Một chút lý tưởng tranh đấu để thực thi công bằng xã hội, động cơ khởi đầu sự lựa chọn của họ. Xin cám ơn tất cả những “Chọn Lựa” đầy vị tha và tốt đẹp những “Chọn Lựa” đã vun đắp và tô điểm hoàn hảo lịch sử dân tộc tôi.
Cao Đồng Phước
Calgary, Canada
nguồn: PTAN

Tản mạn đôi dòng về cái sự “văn nô”

 

 Nguyễn Chính –

Tản mạn đôi dòng về cái sự “văn nô”

clip_image001_thumb

Có lần tôi được nghe ông K, một người rất mê đọc sách nói thế này : “Từ hơn ngàn năm trước, Khổng Tử đã dạy học trò của mình rằng, đã là trí giả thì không thể bị u mê, càng không thể vì mấy đấu gạo mà viết cho kẻ bất nhân …”. Tôi bảo : “ Chỉ vì được mấy đấu gạo mà viết cho bọn thất đức, thì là bồi bút rồi còn gì”. Ông K bảo ” Đúng vậy ! nhưng lũ bồi bút lại được sinh ra từ cái sự văn nô”. Tôi hỏi lại ” Văn nô là sao ?”. Ông K bảo ” Là sao, thì chú phải tìm hiểu. Chỉ biết cái sự ấy nó làm hỏng cả một nền văn học. Nó biến không ít kẻ cầm bút thành thứ mạt hạng. Nó …”. Tôi vội xua tay ” Thôi, thôi xin bác, xin bác, em sẽ tìm hiểu, sẽ tìm hiểu…”. Ông K liền nhìn tôi như kẻ xa lạ, nhìn từ đầu xuống chân, lại từ chân lên đầu, rồi chỉ vào tôi mà rằng : ” Nhìn chú kìa, mới nghe thế mà đã, trên thì mặt xanh như đít nhái, dưới thì vãi cả ra thế kia rồi, thì cầm bút thế đéo nào được”.

Hơn 20 năm đã qua, ông K bây giờ đã thành người thiên cổ. Còn tôi cũng dần ngộ ra rằng, thì ra cái sự “nô” ấy nó kinh khủng lắm. Cả một dân tộc, một đất nước đã từng là nô lệ. Bị nhốt chung trong cái cũi khổng lồ ấy nào là những nông nô, công nô, binh nô, trí nô và vân vân nô… Bằng núi xương, sông máu, lật đổ được cái kiếp nô lệ ấy rồi, thì không ai lại ngu muội chui đầu vào cãi cũi ấy nữa, trừ phi là bị phỉnh, bị lừa.

Còn cái sự văn “nô” ? Thấy tôi cứ lúng túng dây nhợ như gà mắc tóc mãi, một đồng nghiệp đã “đóng” vào tai tôi những lời như búa bổ : ”Nô, tức là cúc cung tận tụy, phụng sự cho bề trên, cho ông chủ. Như kiếp chó ấy. Bề trên bảo sủa to thì sủa to, bảo sủa nhỏ thì sủa nhỏ, bảo cắn thì cắn, thế thôi”. Nghe đồng nghiệp nói vậy thì biết vậy, nghĩ mình phận ếch ngồi đáy giếng, đọc chưa được bao nhiêu, viết cũng chẳng được bao nhiêu, lại toàn thứ vô bổ, chỉ đáng vứt sọt rác, nên nghe lời ông K, tôi phải tự lần mò tìm hiểu …

Khi cụ Đồ Chiểu vung bút với những câu âm vang như sấm ” Dù đui mà giữ đạo nhà …”, rồi ” Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” và khi cụ Tản Đà đầy khí phách “Xuống ngọn bút mưa sa, bão táp, vạch câu thơ quỷ thảm, thần kinh. Lũ mọt dân trừng trị bằng câu văn, người hiền sỹ tinh biểu bằng ngòi bút…” v.v…, thì cái sự “nô” ấy đã phải bạt xa rồi. Chưa hết, khi ở phương trời Âu đang ồn ào lý luận Mac-xít đưa quần chúng bần hàn lên tận mây xanh, bằng việc tấn phong họ là ” những người chân chính sáng tạo ra lịch sử”, thì cụ Tản Đà đã không ngần ngại chỉ thẳng ra cái sự thật bi thảm và “giáng” một búa nẩy lửa vào cái đầu còn tăm tối và cả tin của đồng bào mình, rằng ” Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn, Cho nên quân nó dễ làm quan”. Thiển nghĩ, với thiên chức góp phần hướng thiện con người, tôn vinh cái đẹp, thì người cầm bút phải tôn trọng sự thật, bảo vệ sự thật, vạch mặt giả dối, mị dân, bịp bợm. Mọi sự tô hồng, bôi đen, bóp méo sự thật nhằm phục vụ lợi ích của thiểu số kẻ cầm quyền, đều là kẻ thù của văn chương. Sự chân thực là phẩm giá của ngòi bút nên rất cao quý và thiêng liêng. Khi Liên Xô, thành trì của chủ nghĩa CS dưới thời Stalin mặc dù có cả một bộ máy KGB khổng lồ, nhưng một học giả người Nga vẫn lớn tiếng khẳng định ” Sự thật cao hơn tất cả, cao hơn nước Nga và cao hơn cả Lê-nin “. Được biết, lý luận văn học Xô-viết còn đẻ ra cái gọi là “hiện thực xã hội chũ nghĩa”, từng được các học giả Đông, Tây mổ xẻ xem nó là cái giống gì ? Đã “hiện thực” lại còn hiện thực nọ, hiện thực kia nữa. Cái ấm sứt vòi, nhìn từ mọi phía cũng không thể nào là cái bình pha lê được. Đúng là rặt một thứ “ný nuận nồn”, như cách nói ngọng của một bà bán mắm tôm nơi chợ quê. Cũng vậy, ở ta lâu nay còn có câu ” nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, một khái niệm không thể tìm thấy trong bất cứ học thuyết Đông, Tây, kim cổ nào. Ngay cả cụ tổ của CNCS là Kar.Max có tái thế chắc chắn cũng phải chào thua, không thể nào định nghĩa nổi. Nên nhà thơ Trần Mạnh Hảo mới có câu thơ thật mỉa mai ” khái niệm đưa ra không biết lối thu về”, là vì vậy.

Liên quan đến cái sự văn “nô”, có một vấn đề từng được nêu ra từ mấy chục năm qua, nhưng bị cho là “nhạy cảm” nên chỉ được “nhá xèng” lên tý rồi tịt luôn như pháo tịt ngòi. Đó là quan hệ giữa văn học và chính trị. Còn nhớ khoảng cuối 1990, một người bạn gặp tôi, hỏi : ” Này ! có một nhà thơ vừa đưa ra nhận xét là, văn học nghệ thuật cao hơn chính trị và xa hơn chính trị. Ông thấy sao ?”. Tôi liền khẳng định ngay : “Đúng ! đúng là như thế”. Không ngờ anh ta lồng lên ” Đúng, đúng cái con khỉ. Ông lúc nào cũng nằm mơ. Xa hơn, cao hơn cái nỗi gì. Chính trị là bố , là ông cố nội của văn học, thì có…”. Rồi anh dẫn ra nào Tần Thủy Hoàng; Hítler ; Mao v.v… Tôi liền hỏi lại : ” Vậy mấy bạo chúa ấy sống được 100 tuổi không ? Chết ngóm sau mấy chục năm cường quyền chứ gì ? Còn các tác phẩm văn học, nghệ thuật đích thực, thứ thiệt, thì sống muôn đời”. Và, để anh ta tâm phục, khẩu phục tôi đã lý giải nôm na thế này : Chính trị là phạm trù lịch sử, có nay không có mai. Lịch sử phát triển xã hội loài người hết chế độ này, thì đến chế độ khác. Triều đại nào thối nát, phản dân hại nước ắt sẽ sụp đổ và bị triều đại khác thay thế. Còn văn học nghệ thuật thuộc phạm trù vĩnh viễn. Các tác phẩm đích thực sẽ “bước” từ thời đại này qua thời đại khác, trở thành tài sản vô giá của nhân loại và bất tử. Các tác phẩm cổ điển, trung đại, cận đại v.v… là những minh chứng hùng hồn. Văn học nghệ thuật chân chính phản ánh chân thực ước mơ và khát vọng của nhân dân mình. Văn học, nghệ thuật chân chính (không phải thứ văn nô, bồi bút) luôn chỉ ra cho chính trị biết phải làm gì, làm thế nào để an dân, để được lòng dân. Bởi chính trị muốn tồn tại, thì phải được lòng dân. Nên văn học nghệ thuật cao hơn chính trị là ở cái lẽ ấy, vân vân và vân vân …

Cái sự văn “nô” còn liên quan đến bản lĩnh, khi phách người cầm bút. Phùng Quán , một nhà thơ “Nhân văn giai phẩm” rất đáng kính từng có tuyên ngôn rằng ” Dù ai ngon ngọt nuông chiều cũng không nói yêu thành ghét. Dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu…”. Ông Trường Chinh (Sóng Hồng), nếu tôi nhớ không nhầm cũng từng có câu : ” Lấy cán bút làm đòn xoay chế độ. Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”. Theo tôi, Những câu thơ này của Phùng Quán và Trường Chinh có giá trị thời đại rất cao, vì nói lên được bản lĩnh và tâm huyết người cầm bút. Không biết, Hội Nhà Văn VN có cho dịch ra nhiều thứ tiếng để gửi đến các văn nghệ sỹ đang phải sống trong những chế độ độc tài, phản dân chủ tại Hội nghị giới thiệu văn học VN ra nước ngoài vừa qua, hay in ra hàng ngàn bản cho bóng bay gửi lên kính cáo với trời đất, sông núi nước mình trong Ngày “Đại lễ thơ VN” hoành tráng rằm tháng Giêng Canh Dần vừa rồi ? Nhân đây xin nhắc lại một chuyện nhỏ. Trong một hội thảo ở Nha Trang về phát triển nông nghiệp của một tỉnh miền Trung hồi cuối thập niên 1980. Giờ giải lao, cánh nhà báo tụ tập ở hành lang, to nhỏ bàn chuyện trên giời, dưới đất, chuyện dân dã, chuyện triều đình … Anh Bốn T, tuy là một cán bộ chủ chốt của tỉnh PY, nhưng tỏ ra rất bình dân với cánh phóng viên, cũng đến góp chuyện. Chuyện trò một hồi, bỗng anh trầm ngâm giây lát rồi phán một câu xanh rờn : ” Đúng là cánh nhà văn, báo chí, văn nghệ sỹ chúng mày, thời nào cũng chống chính quyền …”. Lập tức một đồng nghiệp trong chúng tôi trả lời ngay : ” Anh Bốn nhầm rồi ! Không phải chống chính quyền mà là chống cường quyền. Thời nào những người cầm bút cũng chống lại cường quyền …”. Tất cả chúng tôi cùng cười vang tán thưởng.

Lẽ thường người cầm bút (nhà thơ, nhà văn v.v…) không thể làm điều ác, điều thất đức và càng không thể dùng ngòi bút để bảo vệ cái ác. Những nhà văn, nhà thơ nào còn coi CNCS là lý tưởng của đời mình , chắc càng không thể quên lời giáo huấn của cụ Kar.Max, rằng ” Chỉ có loài súc vật mới quay lưng lại với số phận người khác …”. Đến nay, ai cũng biết, “cải cách ruộng đất” từng được coi là ” cuộc cách mạng long trời lở đất”, là một đại họa đối với nông dân và nông thôn nước ta hồi giữa thập niên 1950. Vì thế, tôi không thể tin câu thơ đầy máu lạnh sau đây lại phát ra từ con tim của Xuân Diệu – một nhà thơ tình :

“Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay
Lôi cổ chúng nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống đọa đầy chết thôi”

Các nhà lý luận đã chia nền văn học nước ta theo từng giai đoạn, hoặc theo dòng này, dòng kia. Với riêng tôi, “Dòng hiện thực” (trước 1945) với những tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố; Nguyễn Công Hoan; Vũ Trọng Phụng ; Nam Cao v.v…là sáng giá nhất. Tác phẩm của các ông, chứng tích bằng văn học của một thời khốn nạn sẽ còn mãi với thời gian và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm của các ông, cho đến nay hình như vẫn còn đó :

“Đã rằng Bá Kiến hết rồi
Mà sao anh Chí ba đời còn đây ?”
(*)

Rõ ràng, trong đêm đen của “Tắt đèn”, trong hũ nút của “Bước đường cùng”, trong nhốn nháo, tha hóa, giả dối, đĩ điếm, lừa phỉnh, bịp bợp, mị dân, đạo đức giả … của “Số đỏ”, thời kỳ văn học này vẫn sản sinh được cho hậu thế những tên tuổi gắn liền với NHÂN CÁCH LỚN CỦA NGƯỜI CẦM BÚT.

Từng có người nói rất đúng rằng, nhà văn, nhà thơ là do “Tổ chức Trời” phân công. Thực ra là trời bắt “tội”, trời hành xác họ. Còn họ thì tự nguyện cho cái sự bắt tội và hành xác đó. Thế thì thì khuynh hướng sáng tác, quyền sáng tác phải thuộc về chủ thể sáng tạo là họ. Vậy tại sao cuối thập niên 1980 của thế kỷ trước, Nguyễn Minh Châu phải viết “lời ai điếu” cho một thời kỳ văn học? Có lẽ theo ông đó là thời “tụng ca,minh họa”. Nếu đúng vậy, thì thành tựu của thời kỳ này giá trị thế nào, hoành tráng đến đâu, có lợi cho ai, gây hại cho cái gì, đã được thời gian sàng lọc, trả lời rồi. Mọi người đều biết cả. Thiển nghĩ, dù Nguyễn Minh Châu không viết lời “ai điếu” thì những sản phẩm tụng ca, minh họa rẻ tiền một thời kiểu như … kiểu như … cũng sẽ lần lượt chết ngóm. Có những tên tuổi từng là trụ cột của nền văn học, nghệ thuật một thời như ông nhà văn Nguyễn Khải, đến cuối đời mới giật mình “Đi tìm cái tôi đã mất”, như ông nhạc sỹ Tô Hải mới cay đắng nhận ra mình là “một thằng hèn” (cho dù là trường hợp “thằng hèn” của ông Tô Hải đang và sẽ được lớp hậu sinh kính trọng), thì cũng là quá muộn. Lấy ngay ví dụ về tác phẩm “Tầm nhìn xa” minh họa, tụng ca cho phong trào hợp tác hóa nông nghiệp của Nguyễn Khải. Không biết ông nhà văn này có “tầm nhìn” xa cỡ nào, được mấy tấc, mấy thước, mà ngay hồi ấy trong dân gian đã có vè chửi cái mô hình hợp tác xã nông nghiệp “thằng còng làm, thằng ngay ăn” này rồi. Thôi thì “gặp thời thế, thế thời phải thế”, vì niêu cơm, vì mấy đấu gạo mà phải tụng ca, minh họa, còn cho là tạm thông cảm được. Nhưng đến cái sự văn “nô” hướng thượng, sun xoe, tới mức có cả một câu cửa miệng của người đời ” thằng đéo lào mà lịnh thế ?”, thì không biết còn có nền văn học thời hiện đại nào của nhân loại trên hành tinh này, nảy nòi ra được những văn sỹ như thế ? Vâng ! trăm năm bia đá cũng phải mòn . Nhưng những câu thơ “lịnh” mà tôi dẫn ra dưới đây của ông Tố Hữu, thì không biết đến kiếp nào “bia miệng” thế gian mới hết nói lời xấu hổ ? Quả thật, bất cứ người Việt Nam nào có lòng tự trọng với nguồn cội con Rồng cháu Tiên của mình, đều cảm thấy bị xúc phạm, khi phải lướt mắt thôi ( đọc lên là nhục lắm, xấu hổ lắm).

Lúc Stalin chưa chết và rất có thể ông ta vừa ký chưa ráo mực những sắc lệnh khủng khiếp, khiến hàng chục ngàn người vô tội bị khủng bố, bị sát hại, hoặc bị đưa đi lưu đày ở Xibêri ( trong đó có cả những văn nghệ sỹ nổi tiếng, sau này được nhận giải Nô ben). Chính Tổng thống Nga Putin cũng phải thừa nhận, rằng ” Những người bị thảm sát, khủng bố là những con người ưu tú nhất, có trí tuệ nhất và là những người can đảm nhất của nước Nga và Liên Xô thời đó”. Vậy mà, không biết xuất phát từ tình cảm gì Tố Hữu, một nhà thơ của cách mạng lại có mấy câu thơ hướng thượng, nghe vong bản đến buồn nôn là : ” yêu biết mấy nghe con tập nói, tiếng đầu đời con gọi Stalin”. Còn khi Stalin chết, không biết có họ hàng hang hốc gì với ông ta không mà Tố Hữu, một người Việt Nam (chắc chắn là chưa hề được gặp Stalin) đã có thơ khóc với theo quan tài cách cả hàng ngàn cây số đường chim bay, bằng những lời đại bất hiếu với người ruột thịt trực hệ của mình, thế này: ” Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một, thương ông thương mười”. Ôi! Lời thơ khóc mới thê lương, thảm thiết làm sao, nếu át được tiếng phèng la, tiếng nhạc chói tai, nhức óc của đội kèn đồng đưa đám, để Stalin nghe thấy, chắc “ngài” cũng thấy nhột, phải lập tức bật nắp quan tài ngồi dậy, mà rằng ” thằng đéo nào ở đâu mà lịnh thế !”.

Khoảng thời gian 1985 – 1990, bắt đầu xuất hiện và sau đó người ta nói nhiều đến hai từ “cởi trói”. Nào là, cởi trói cho nền kinh tế; cởi trói cho nông dân, cởi trói cho … v.v. Và, văn nghệ đã mừng húm vì cũng được “ban” cho hai từ “cở trói” này. Câu hỏi đặt ra là, ai đã “trói” văn nghệ ? “Trói” bằng cái gì ? Trả lời ư ! Ai cũng trả lời được, nhưng không ai trả lời. Lại cũng không ai muốn/dám trả lời cái mà mình có thể trả lời. Bi kịch thế đấy. Nhưng cũng có người phán tỉnh queo, rằng “có ai trói các anh đâu ! Tự các anh trói mình, rồi còn “trói” lẫn nhau đấy chứ ?”. Thế là thành bi, hài kịch. Than ôi! Có lẽ, chung quy cũng tại bởi cái tư duy văn “nô” của cái sự văn “nô”.

Tôi đã mang tất cả những “tản mạn” nói trên trao đổi với một bạn viết. Sau giây phút trầm ngâm, ông bảo ” Ừ ! kể cũng phải. Tiên trách kỷ hậu trách nhân, cái mình nghĩ trong đầu thì cường quyền, thời thế đéo nào “trói” được…. Chẳng qua là mình cứ tự huyễn hoặc mình, tự lừa mình, rồi lại mang cái sự lừa ấy để lừa nhân dân mình. Thế là giả dối, là khốn nạn, là lưu manh đấy ! “. Nghe ông nói, tôi giật mình nhớ đến bài thơ “Bi kịch hót” của anh Bùi Minh Quốc :

Tưởng bay ngàn dặm thơ
Hóa vòng vo nhảy nhót
Giữa cái lồng rất to
Tự đan bằng tiếng hót.

Bài thơ chỉ có mấy dòng mà cứa vào ta bao nỗi xót sa, cười ra nước mắt, thương cho con chim không tự biết rằng, nó đang “hót” theo, nhảy nhót theo, nhại theo lời ca và cái vũ điệu lăng nhăng, bát nháo, vô cảm của một thằng hề./.

(*) Thơ – Nguyễn Chính

Cá Rồng Đỏ & Điệp vụ Biển Đỏ

Việt Nam ‘bỏ dự án Cá Rồng Đỏ’ ở Biển Đông

Bill Hayton BBC News

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) yêu cầu hãng năng lượng của Tây Ban Nha, Repsol, ngưng một dự án ở khu vực ngoài khơi phía đông nam, một nguồn đáng tin cậy trong ngành nói.

Điều này đồng nghĩa với việc Repsol và các đối tác có thể sẽ thiệt hại khoảng 200 triệu đô la đã đầu tư vào dự án.

Đây là tin không ai ngờ, bởi vì các công tác chuẩn bị cuối cùng cho việc khoan thương mại đã diễn ra.

Có thể Trung Quốc xem diễn tiến này là thắng lợi quan trọng.

Quyết định của Việt Nam dường như cho thấy sự phô trương sức mạnh của Hoa Kỳ tại Biển Đông trong thời gian gần đây đã không làm thay đổi các tính toán chiến lược của Việt Nam.

‘Trả giá đắt’

Kể từ 2009, Việt Nam đã tìm cách thăm dò, phát triển mỏ dầu khí Cá Rồng Đỏ.

Inline image

Một phần của dự án Cá Rồng Đỏ, giàn khoan có tên Ensco 8504, theo dự kiến lẽ ra khởi hành từ Singapore tới địa điểm khoan vào hôm thứ Năm.

Địa điểm đặt giàn khoan nằm trong Lô 07/03, nơi Việt Nam và các công ty con của Repsol trước đó từng ước tính là có trữ lượng 45 triệu thùng dầu và 172 tỷ feet khối khí gas.

Hãng đã thuê công ty Yinson của Malaysia cung cấp một bể chứa dầu nổi (Floating Production Storage and Offloading – FPSO) tại địa điểm này trong 10 năm, với chi phí ước tính trên 1 tỷ đô la.

Hơn nữa, Repsol đã thuê hãng Keppel FloaTEC của Mỹ xây một giàn kỹ thuật (production platform) để phục vụ cho địa điểm này với mức chi phí có lẽ là hàng chục triệu đô la.

Theo nguồn tin BBC có được, nhìn chung, Repsol và các đối tác trong dự án (gồm Mubadala Petroleum và PetroVietnam) nhiều khả năng bị thiệt hại khoảng 200 triệu đô la.

Repsol và các công ty liên đới hiện chưa hồi đáp các câu hỏi của BBC về những diễn biến mới nhất này.

Đây là lần thứ hai Repsol bị yêu cầu ngưng hoạt động khoan.

Hôm thứ Năm, 29/3/2018, nhà báo và học giả Bill Hayton cũng nói với Bàn tròn thứ Năm của BBC với chủ đề ‘Việt Nam ngừng dự án Cá Rồng Đỏ và Trung Quốc tập trận ở Biển Đông’ rằng ông tin rằng việc phô trương diễn tập quân sự này là một biểu trưng và chỉ dấu cho thấy Trung Quốc đang ‘đe dọa’ chính Việt Nam.

BBC Tiếng Việt: Kể từ bài báo được đăng trên BBC hôm 23/3, ông có thêm cập nhật, quan sát gì mới xung quanh sự việc với dự án Cá Rồng Đỏ tại Biển Đông?

Bill Hayton: Mọi chuyện có vẻ trôi qua khá im ắng. Tôi vẫn chưa có thêm được nhiều thông tin từ nguồn của tôi và phía Việt Nam cũng chưa đưa ra một tuyên bố chính thức nào.

BBC Tiếng Việt: Tại sao lại không có tuyên bố chính thức nào, thưa ông?

Bill Hayton: Tôi cho rằng, một lần nữa đây là tình huống khó cho các nhà lãnh đạo Việt Nam. Và có thể thậm chí còn khó khăn hơn so với hồi tháng Bảy năm ngoái khi Việt Nam cho tạm dừng việc khoan của Repsol lần trước

BBC Tiếng Việt: Theo ông, sắp tới các bên sẽ có động thái như thế nào?

Bill Hayton: Các bên vẫn sẽ tỏ ra khá im ắng. Tôi không cho rằng các bên thực sự muốn gây khó cho nhau, đưa ra bất cứ thông tin nào hay thương lượng về các điều khoản thương mại tốn kém, hay ai sẽ trả tiền bồi thường cho số tiền đã được đầu tư cho phát triển giếng dầu cho tới thời điểm này.

Có bằng chứng hay không?

BBC Tiếng Việt: Có người cho rằng Trung Quốc có động thái gây áp lực buộc phía Việt Nam phải dừng dự án, có bằng chứng từ chuyện đó hay không thưa ông?

Bill Hayton: Từ những gì tôi đã được nói bởi nguồn của tôi, mà là chính xác. Tôi nghĩ rằng đây là lời giải thích hợp lý duy nhất rằng Việt Nam đã dừng việc khai thác cực kỳ đắt đỏ và quan trọng này.

Tôi muốn nói là ngân sách chính phủ cần nguồn thu mới từ lĩnh vực dầu vì hiện tình là nguồn thu xuống thấp nên chính phủ đang phải đối mặt với vấn đề cân bằng thu nhập, thu nhập đang giảm mà chính phủ lại cần chi nhiều tiền hơn.

Đây sẽ là một dự án hoàn hảo để chính phủ đạt được điều đó. Hơn nữa, để đạt được an ninh năng lượng, họ cần phải kiểm soát nguồn năng lượng đến từ đâu và họ cần phải dự án mà không thực sự đưa ra một lí do công khai, do đó tôi nghĩ rằng câu trả lời là áp lực từ Trung Quốc.

BBC Tiếng Việt: Có người cho rằng Việt Nam đang gặp một thế lưỡng nan, chẳng hạn dừng lại như vậy thì Việt Nam thua thiệt không chỉ kinh tế mà còn về chủ quyền, pháp lý. Nhưng nếu Việt Nam có động thái cự lại thì có thể gặp thêm áp lực từ Trung Quốc, dẫn tới tranh chấp xung đột mạnh hơn? Ông nghĩ sao về điều này?

Bill Hayton: Tôi nghĩ rằng, lần trước, tôi hình dung rằng mối đe dọa từ Trung Quốc thực sự sẽ liên quan đến mối đe dọa quân sự. Tôi không có bằng chứng trong dịp này nhưng tôi nghĩ nó phải là một phần của tính toán.

Có khả năng rằng để cho Việt Nam thấy, Trung Quốc sẽ nghiêm túc trong việc thách thức giếng dầu này.

BBC Tiếng Việt: Trong câu chuyện này, nếu như có xung đột xảy ra, có người cho rằng Việt Nam không nên tin rằng thể tin cậy và yêu cầu sự can thiệp hay hậu thuận từ Mỹ. Ông nghĩ như thế nào?

Bill Hayton: Tôi nghĩ điều quan trọng nhất ở đây đó là việc Việt Nam ngưng dự án Cá Rồng Đỏ chỉ một tuần sau khi hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson tới Đà Nẵng. Việc Việt Nam muốn hải quân Mỹ tới để chứng tỏ, ra dấu với Trung Quốc rằng họ có những người bạn rất mạnh mẽ và sẽ được Mỹ bảo vệ chống lưng trước áp lực từ Trung Quốc.

Nhưng mọi chuyện dường như lại không phải như vậy. Mỹ dường như không đưa ra bất cứ sự hậu thuẫn bảo vệ nào cho Việt Nam. Và họ có lẽ đã đưa ra quyết định rằng họ không muốn làm như vậy. Việc Việt Nam mời tàu Mỹ không tạo ra bất cứ sự khác biệt gì và mọi người đã hiểu được lý do.

BBC Tiếng Việt: Nếu như có áp lực từ phía Trung Quốc để chặn Việt Nam khai thác ở dự án Cá Rồng Đỏ thì họ căn cứ hay dựa vào đâu?

Bill Hayton: Trung Quốc nói về việc có những tuyên bố lịch sử, những quyền lịch sử nhưng thực sự, trong nghiên cứu của riêng tôi, tôi chưa thấy có bài báo khoa học nào từ trong lịch sử mà Trung Quốc tuyên bố ở đây, mà làm cơ sở cho việc Trung Quốc đưa ra lời tuyên bố chủ quyền ở vùng biển này, thực sự là do lỗi diễn dịch, được thực hiện trước hết bởi chính phủ và sau đó bởi giới hàn lâm, tính từ thập niên 1930.

Đây thực sự là một chuyện cũ rích. Đó là một sai lầm và tôi không nghĩ rằng chính phủ Trung Quốc thực sự hiểu căn cứ vì sao họ đưa ra yêu sách cho vùng biển này

BBC Tiếng Việt: Có một học giả người Pháp cho rằng để giải quyết điều tương tự như ở dự án Cá Rồng Đỏ thì không riêng cho Việt Nam mà cả trong khu vực ASEAN, chẳng hạn Philippines, phải giải quyết câu chuyện đánh đổtuyên bố chủ quyền bằng bản đồ đường lưỡi bò hay đường chín đoạn của Trung Quốc, đừng kí ngay thỏa thuận bộ Quy tắc Ứng xử (COC),như vậy có thể gây ra những bất lợi lâu dài, ‎ý kiến của ông thế nào?

Bill Hayton: Cảm giác của tôi, tôi thực sự hoài nghi về viễn cảnh COC đang được ký kết thực sự có ý nghĩa. Tôi muốn nói quan điểm của COC từ phía ASEAN là kiểm soát hành vi của Trung Quốc.

Nhưng rõ ràng, từ phía Trung Quốc, họ không muốn kiểm soát hành vi của họ. Vậy tại sao họ nên ký COC mà không đạt bất kỳ mục đích thực sự hay đem lại quyền lực nào. Trung Quốc, họ không muốn COC với tranh cãi về cơ chế giải quyết, họ chỉ muốn một cơ chế quản lý tranh chấp vì vậy thực sự là họ sẽ không giải quyết vấn đề cơ bản là yêu sách lãnh thổ.

Kiện hay không kiện?

BBC Tiếng Việt: Có người nói tại sao Việt Nam đến thời điểm này không tính đến chuyện theo chân Philippines kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế như Philippines đã từng làm liên quan đến câu chuyện đường lưỡi bò, ông nghĩ sao?

Bill Hayton: Tôi nghĩ rằng bây giờ cũng đến mức mà Việt Nam nghĩ rằng họ không có nhiều để mất. Ý tôi muốn nói là luôn luôn có một giả định rằng bằng cách đưa ra một vụ kiện pháp lý thực sự sẽ phá hủy mối quan hệ với Trung Quốc.

Vì vậy, câu hỏi mở ra với lãnh đạo Việt Nam, tôi nghĩ, là đó vẫn còn là một trường hợp mà họ sẽ mất nhiều hơn được. Và tôi nghĩ từ khía cạnh pháp lý, nếu họ chọn đưa vụ kiện ra đặc biệt về riêng vùng biển này thì họ sẽ giành chiến thắng rất dễ dàng nếu họ có những thẩm phán giống như như Philippines từng có. Một vụ kiện thực sự là giống nhau.

Tôi nghĩ rằng họ đã phải suy nghĩ về mối quan hệ tổng thể với Trung Quốc và thiệt hại sẽ ra sao nếu họ đưa ra một vụ kiện như vậy.

BBC Tiếng Việt: Ông dự phóng gì về toàn bộ vấn đề trong thời gian tới?

Bill Hayton: Tôi nghĩ một điều rất quan trọng là nhận thấy rằng bất chấp những áp lực này, không có quốc gia nào ở Đông Nam Á, Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippines, đã thực sự xem xét việc cùng hợp tác, phát triển với Trung Quốc.

Điều Trung Quốc muốn là các chính phủ này muốn nói: “Được rồi, chúng tôi có một vùng đặc quyền kinh tế và chúng tôi sẽ chia sẻ nó với bạn”. Không ai trong số các chính phủ này nói rằng họ sẵn sàng làm điều đó.

Và tôi nghĩ rằng điều quan trọng là phải nhận ra rằng bất chấp tất cả áp lực từ Trung Quốc, họ vẫn giữ nguyên lập trường căn bản. Rõ ràng, Trung Quốc đã thành công trong việc ngăn chặn các nước này phát triển, khai thác các mỏ dầu khí thuộc sở hữu của họ. Và có vẻ như đó sẽ là vấn đề khó cho tất cả các nước này.

Nhưng, họ dường như không thể có được một phản ứng chung của ASEAN bởi vì vấn đề chỉ ảnh hưởng đến một nửa số thành viên của ASEAN và các nước khác như Campuchia có nhiều lợi ích hơn từ việc không chỉ trích Trung Quốc hơn là hỗ trợ các đồng nghiệp ASEAN của họ.

Luôn luôn có cơ hội mà tôi cho rằng trong tương lai Trung Quốc có thể sử dụng ưu thế thượng tôn của họ về mặt số lượng tàu để khoan dầu khí tại các khu vực của các nước khác để tuyên bố chủ quyền và đó sẽ là một mối đe dọa lớn đối với an ninh toàn khu vực.

Thông điệp gửi cho ai?

BBC Tiếng Việt:Ông nhận xét về việc Trung Quốc đưa một hải đội hạm đội rất là hùng hậu, được cho là trình diễn hơn là tập trận ở vùng biển khu vực thì Trung Quốc đang muốn gửi tín hiệu cho bên nào là chính?

Bill Hayton: Tôi nghĩ rằng Trung Quốc đang gửi thông điệp tới nhiều quốc gia cùng một lúc: Việt Nam, Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước khác, cho thấy họ có thể tập hợp được lực lượng và hàng không mẫu hạm “Liêu Ninh” mà thường gắn với hạm đội phía Bắc của Trung Quốc đã được điều về phía Nam để tham gia hoạt động đột ngột.

Tôi nghĩ rằng đó là cách cho thấy rằng Trung Quốc có thể củng cố hải quân khi cần thiết.

BBC Tiếng Việt: Có ‎tuyên bố nói Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận, thao diễn để chuẩn bị cho chiến tranh, vậy liệu có nguy cơ chiến tranh nào không?

Bill Hayton: Nếu quí vị có thể tưởng tượng rằng Việt Nam đang chuẩn bị cho những việc khoan dầu khí tới đây sắp diễn ra và họ phải nghĩ tới việc họ phải bảo vệ như thế nào với tàu bè của các lực lượng tuần duyên và hải quân, thì Trung Quốc cũng cho thấy họ rất nghiêm túc về răn đe quân sự của họ.

Và họ phải tập hợp một lực lượng quan sự đáng kể, do đó nghi ngờ của tôi mà tôi không có bằng chứng nào, là lực lượng này là một biểu tượng để đe dọa Việt Nam.

Điệp vụ Biển Đỏ

Bài viết đăng trên trang web Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết “hải quân Trung Quốc tích cực ủng hộ bộ phim này”. “Trong đoạn cuối phim, còn có cảnh tàu tuần tra hải quân Trung Quốc trên vùng biển Nam Hải (cách Trung Quốc gọi Biển Đông), trục xuất tàu lạ nước ngoài tự ý xâm nhập vào khu vực quần đảo Nam Sa và các đảo đá liên quan: ‘Hãy lập tức rời khỏi đây’”, bài viết mô tả.

“Quần đảo Nam Sa” là cách Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thời gian qua, Trung Quốc đã bồi lấn phi pháp và triển khai vũ khí trên 7 đảo nhân tạo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hành vi của Trung Quốc bị cộng đồng quốc tế lên án là đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định khu vực.

Ra mắt tại Trung Quốc vào dịp Tết Nguyên đán 2018, Điệp vụ Biển Đỏ (Operation Red Sea) – bộ phim của đạo diễn Lâm Siêu Hiền – bán được tới hơn 562 triệu USD tiền vé, trở thành phim Hoa ngữ ăn khách thứ hai trong lịch sử, chỉ sau Chiến lang 2 (2017).

Bo Quoc phong Trung Quoc ca ngoi ‘Diep vu Bien Do’ hinh anh 1
Điệp vụ Biển Đỏ là phim ăn khách thứ hai trong lịch sử phòng vé Trung Quốc.

Là tác phẩm được Bộ Quốc phòng Trung Quốc đặt hàng, Điệp vụ Biển Đỏ mô tả câu chuyện biệt đội Giao Long của hải quân Trung Quốc giải cứu kiều dân nước này và người dân Yemen khi xung đột xảy ra ở quốc gia Trung Đông.

Bài bình phim Điệp vụ Biển Đỏ đăng trên phiên bản tiếng Anh của tờ báo Hong Kong Bưu điện Hoa Nam buổi sáng số 1/3 mô tả đoạn về Biển Đông ở cuối phim thể hiện “chủ nghĩa sô vanh hiếu chiến rõ ràng”.

“Đó là cảnh cảnh tàu tuần tra hải quân Trung Quốc xuất hiện trên vùng biển Nam Hải (Biển Đông theo cách gọi Trung Quốc), trục xuất những tàu nước ngoài chưa được Trung Quốc cho phép đi lại trên khu vực quần đảo Nam Sa và các đảo đá liên quan. Nam Sa chính là tên mà Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam” Một bộ phim cổ súy cho sự thị uy vũ lực đầy hiếu chiến, bất chấp luật pháp quốc tế và lợi ích của các quốc gia như thể hiện trong Điệp vụ Biển Đỏ, rõ ràng không nên trình chiếu tại Việt Nam.

Câu hỏi đặt ra là, tại sao Bộ Văn hóa lại cho chiếu phim về Hải quân Trung Quốc, khi mà lực lượng này đánh chiếm Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam?

 Sự thật rành rành, ấy vậy mà, Cục Điện ảnh vẫn dối dân, cho rằng, việc duyệt phim là đúng quy trình. Điều đáng sợ nhất là, trong cái “quy trình” mà Bộ Văn hóa thể thao và du lịch phát đi lại có các thành phần quan trọng: “Hội đồng trung ương thẩm định và phân loại phim truyện với 7/11 thành viên, trong đó có các thành viên là lãnh đạo cấp Vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội; Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Điện ảnh Việt Nam cùng các nhà chuyên môn uy tín đã thẩm định đúng quy trình hiện hành”.

Chính vì thời gian qua đã xảy ra quá nhiều sai phạm trong quá trình bổ nhiệm cán bộ mà hễ nhắc đến cụm từ “bổ nhiệm đúng quy trình”, là người dân ngao ngán. Bây giờ, thêm cụm từ “thẩm định đúng quy trình” mà Cục Văn hóa biện hộ cho việc cho phép công chiếu bộ phim “Điệp vụ Biển Đỏ” của Trung Quốc sản xuất, tuyên truyền phi pháp về biển Đông, càng làm cho lòng dân hoang mang. Liệu mất nước chúng ta sẽ mất về tay Trung cộng đúng quy trình như đồn đại?Điệp vụ Biển Đỏ được khởi chiếu tại Việt Nam từ ngày 16/3. Từ tối 24/3, nhà phát hành thông báo ngừng chiếu phim vì lý do vắng khách và muốn tập trung cho các tác phẩm khác.

Thứ đáng sợ nhất của đời người là dối trá. Bởi người dối trá khi có cơ hội sẽ trở thành kẻ lừa đảo, bán nước.

Tin tổng hợp.

Từ HÀ KỲ LAM đến VÙNG ĐÁ NGẦM

Từ HÀ KỲ LAM đến VÙNG ĐÁ NGẦM
 
Vũ Thất
 
Mùa hè 1990, nghe tin người bạn cố tri cùng gia đình đi HO đến cư ngụ ở Philadelphia, tôi vội đưa vợ con từ Maryland lên ra mắt. Chúng tôi học chung trường Võ Tánh ở Nha Trang, thậm chí có thời gian cả năm tôi ở trọ nhà hắn. Sau trung học chúng tôi cùng vào quân đội và sau 75 cùng vào tù cộng sản.
 
Năm 84, tôi được thả, mấy lần tìm đến nhà hắn để bàn chuyện vượt biên, lần nào cũng thấy cửa khóa then cài. Tôi nghĩ là hắn đã ra đi nên quyết định binh theo hắn. Nào ngờ hắn còn kẹt lại và nhờ HO đến Mỹ sau tôi những 5 năm. Hắn và tôi cùng cấp bậc nhưng “được” học trường đảng lâu hơn nhờ thành tích oai hùng tái chiếm Cổ thành Quảng Trị. Hắn là nhà văn Huỳnh Văn Phú, tác giả các tập truyện Mùa Xuân Âm Thầm (1969), Cuộc Tình Dấu Mặt (1971) … Và quyển Phóng Sự Chiến Trường đoạt giải nhì (1972).
Đến nhà Huỳnh Văn Phú lúc 2 giờ trưa, hàn huyên tâm sự đến 5 giờ thì chúng tôi mời gia đình Phú một chầu liên hoan tối. Phú cười khà khà:
   Phải liên hoan chớ! Liên hoan để cám ơn Thượng đế đã tạo ra … quả đất tròn!
 
Phú hướng dẫn chúng tôi chạy vòng vòng thăm trung tâm thành phố, qua khu treo Chuông Tự Do mà vì hết giờ nên hẹn vào xem dịp khác. Cuối cùng hắn đưa chúng tôi vào một nhà hàng rất khang trang: Việt Nam Palace. Một người đàn ông trung niên đang đứng ngay cửa tươi cười, vồn vã bắt tay Phú và tôi:
    Đợi có hơi lâu. Thôi mời vào bàn.
Sau khi mọi người an vị, Phú nhìn tôi:
    Mày không nhận ra Hà, Nguyễn Đình Hà, cùng Võ Tánh?
Tôi ngạc nhiên:
    Nguyễn Đình Hà nào? Đâu?
    Là đứa ở cửa bắt tay chào mừng mày và đang đứng sau lưng mày!
 
Tôi vội đứng lên, xoay trực diện và ngắm nghía người bạn cùng trường. Hà cũng đăm đăm nhìn tôi. Cả họ tên và dáng vóc không gợi nên một quen biết nào. Hà cũng thú nhận không nhận ra tôi. Hỏi han nhau thì hóa ra chung trường nhưng không chung lớp. Lên đệ nhị cấp, Phú chọn ban văn, tôi ban toán. Năm đó, Hà từ Quảng Nam vào nhập lớp của Phú. Mà có cần gì chung lớp, chỉ nhắc đến tên trường là đủ quá thân thương. Thế là mày tao ròn rã. Thì ra sau Võ Tánh, Nguyễn Đình Hà cũng nhập ngũ mà chọn thứ dữ hơn Thủy Quân Lục Chiến của Huỳnh Văn Phú: Lực lượng Đặc Biệt. Tôi đùa, chọn Lôi Hổ, rốt cuộc cũng bị… hổ lôi qua Mỹ! Hà cười cho biết còn một nhân vật Võ Tánh khác, không bị hổ lôi nhưng bị hà bá kéo cũng ở gần đây, có được mời đến chung vui nhưng chàng ta bận. Hóa ra là Trần Văn Tâm cùng Quân chủng Hải Quân với tôi, đang nổi tiếng là nhà văn Trần Quán Niệm.

Hà giới thiệu phu nhân vừa xuất hiện, tươi cười chào mọi người. So với cái tuổi ngũ thập nhi bất hoặc của chúng tôi, Nguyễn Đình Hà phu nhân trông trẻ hơn nhiều. Rất ân cần và tự nhiên. Chị bắt đầu đóng vai chính trong việc tạo bầu không khí gia đình ngay trong nhà hàng đông khách của chị. Chị đích thân chuẩn bị những món ăn mà chị cho là để nhớ hương vị miền Nam: món gỏi ngó sen tôm thịt nhậu với heiniken, món canh chua cá kho tộ, món xoài tượng cá chiên dầm nước mắm, món tráng miệng bánh lọt chè ba màu… Buổi liên hoan kéo dài mà không ai cần biết là đã quá nửa đêm. Chỉ có tôi đường xa, phải mất 3, 4 tiếng lái trở về nhà mới dứt khoát đứng lên. Ở quày trả tiền, tôi bị… từ chối! Trở lại bàn ăn, khiếu nại chị Hà, chị bảo cơm gia đình mừng Võ Tánh hội ngộ mà!
 
Tôi quen thân ông bà chủ nhà hàng từ hôm đó mà không ngờ rằng cũng đương nhiên quen thân nhà văn Hà Kỳ Lam. Từ Nguyễn Đình Hà đến Hà Kỳ Lam chỉ là một lời… xúi dại: cứ viết thử đi! Và truyện ngắn đầu tay “Từ Sài Gòn đến Denver” mở đầu với lời tặng người xúi dại: “Tặng Huỳnh Văn Phú, người thích một truyện như thế.” Rồi từ một truyện như thế đăng trên bán nguyệt San TỰ DO ở Texas, anh viết tiếp và liên tục gửi đăng trên các tập san văn nghệ các tiểu bang. Nguyệt san Thế Kỷ 21 luôn có bài mới. Đúng ba năm sau Hà Kỳ Lam tuyển chọn các bài đã viết để tạo nên một Vùng Đá Ngầm.
 
Inline imageInline image

Tuyển tập VÙNG ĐÁ NGẦM gồm 10 truyện ngắn, do nhà xuất bản THẾ KỶ ấn hành và do nhà văn LÊ VĂN LÂN đề tựa. Bìa và phụ bản của họa sĩ NGUYỄN ĐỒNG. Sách in rất đẹp, trình bày trang nhã. Nhưng theo tôi đẹp và trang nhã nhất là lời đề tặng trang trọng của tác giả ngay trang đầu của quyển sách: “Tặng người bạn đời và hai con, nguồn an ủi, khuyến khích và an tâm”.  Tôi yêu cái từ “người bạn đời”. Nghe như là biết bao âu yếm, nồng nàn, gắn bó. Nghe như tiếng thì thầm nghĩa nặng tình sâu.
 
Mười truyện ngắn gồm: (1) Người Láng Giềng  (2) Từ Sài Gòn Đến Denver  (3) Nỗi Buồn Thế Kỷ  (4) Con Chó Đại Đan Mạch  (5) Bóng Mát  (6) Vùng Đá Ngầm  (7) Băng Giá  (8) Chu Mom Rây  (9) Bỗng Dưng Người Đàn Bà Cuối Đời  (10) Ba Điều Ước.
 
Truyện VÙNG ĐÁ NGẦM nằm vị trí thứ sáu nhưng tôi chọn đọc trước tiên, một phần do cái tựa của nó được chọn làm tựa chung cho tập truyện, phần khác vì nó đụng chạm đến… nghề xưa của tôi. Đó là câu chuyện của một chuyến vượt biên bằng ghe của bốn mươi lăm người liều chết lánh nạn cộng sản. Ghe bị chết máy ngay sau ngày đầu ra khơi. Rồi cứ thế người với ghe lênh đênh. Người thì hết lương thực từ ngày thứ hai mươi và cố cầm cự sự sống bằng mọi khả năng. Ghe thì bập bềnh mãi đến ngày thứ bốn mươi sáu mới chịu tấp vào một vùng đá ngầm. Nơi đây người và ghe cùng chờ … an giấc nghìn thu!
 
May thay “Trời cứu các ông đấy.” Đó là kết luận của một thủy thủ chiếc tàu buôn tình cờ đổi hướng sang vùng đá ngầm. Nhưng thoát vùng đá ngầm của biển khơi, được đến xứ tự do, họ lại bị rơi vào vùng đá ngầm của cuộc đời.
 
Trong mười truyện, đây là truyện duy nhất Hà Kỳ Lam cho nhân vật chính kể chuyện ở ngôi thứ nhất. Danh xưng Tôi gần gụi, kết hợp với tài sử dụng chính xác các hình dung từ (tiều tụy, hốc hác, gầy đét, èo uột, lờ đờ, ngắc ngoải…) làm cho câu chuyện phiêu lưu thêm gian nan hãi hùng thương tâm sầu thảm. Nhưng đó không phải là chủ tâm của tác giả. Điều tác giả muốn nêu lên là lời nhắn nhủ của Nguyễn Du: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”.
 
Nếu theo thứ tự trong mục lục mà lần lượt điểm hết 10 truyện thì e rằng quá dài. Tôi xin tự ý chọn lựa bằng phượng pháp tình cờ. Tôi sẽ mở quyển sách, trúng bài nào đọc bài nấy.
 
CON CHÓ ĐẠI ĐAN MẠCH
 
Truyện thật đặc biệt, nói lên niềm đam mê chó của nhân vật gọi là Ông Tư mà thực tế chắc hẳn chính là tác giả. Niềm đam mê đó từ còn nhỏ tuổi ở quê nhà và mỗi ngày một tăng thêm khi mang tuổi già ở quê người. Ông Tư mê chó đến độ thấy chó là biết chó thuộc giống nào, Đức quốc hay Anh Cát Lợi, chó Ta hay chó Tây. Ông còn rành rọt tính tình từng loài chó và cả tài phân biệt loại nào là chó tác chiến loại nào là chó văn phòng.
 
Nhưng đam mê mấy cũng vẫn là đam mê, cũng vẫn là ông Tư sống trong mơ ước nuôi chó của mình. Là bởi vì ông không muốn trái ý người bạn đời ông hết lòng thương yêu từng tỏ ra… không ưa chó.
 
Vì vậy, mỗi khi có dịp đi ngang qua nhà người hàng xóm chủ nhân con chó thần tượng của ông, ông đứng ngắm nó qua cái hàng rào thưa đến mãn nhãn mới chịu rời. Chẳng khác nào nhân vật bác Chính trong Con Trâu của Trần Tiêu mê mẫn ngắm trâu hàng xóm: “Con trâu nằm gặp hai chân trước, một chân sau hơi ruỗi để lộ bộ vú hồng phơn phớp lông tơ trắng. Nó không buồn để ý đến bác, tư lự như một nhà hiền triết, cặp mắt lờ đờ nhìn đâu đâu… Từ hôm ấy không mấy chiều là bác không dừng chân đứng ngắm con trâu của Cân sau những buổi làm lụng vất vả. Bác mê nó như mê gái. Chiều nào không gặp nó, bác nhớ ngẩn ngơ như người thiếu thốn sự gì.”
 
Ông Tư cũng chiêm ngưỡng con chó thần tượng Đại Đan Mạch mê mẩn không thua: “Giống vật này không tỏ ra rụt rè, sợ sệt, cũng không hề lộ vẻ hung hãn, đố kỵ đối với người mới gặp lần đầu, như thái dộ cố hữu ở một số loài chó… Cặp mắt nó, không nhỏ ti hí như mắt heo, nhưng cũng không to quá và lộ như mặt của loài chó nhỏ… Thân thể nó trông chắc nịch với những đường bắp thịt cuồn cuộn ở hai đùi sau, ở hai vai, ở chiếc cổ lớn ngẩng cao. Lông nó rất ngắn, bóng loáng, ôm sát da và đen nhánh, không một chấm trắng dù chỉ bằng hạt cát. Vóc dáng nó to lớn nhưng… không gây cho người đối diện sợ hãi… cái nhìn lúc nào cũng trực diện nhưng không hau háu… mà chỉ biểu lộ một nhiệt tình “làm bạn”… Phong thái điềm đạm, hiền lành, quý phái”.
 
Tôi vốn người không ưa chó mà đọc bài Hà Kỳ Lam cũng bắt đầu chao đảo. Thảo nào khi ông hàng xóm ngỏ ý muốn tặng ông Tư con chó do thiếu người trông coi, bà vợ ông Tư bất chợt vui vẻ khuyên ông Tư đem “nó” về nhà…
 
TỪ SÀI GÒN ĐẾN DENVER
 
Như đã nói ở trên, đây là truyện mở đầu nghề văn của Hà Kỳ Lam. Đọc xong câu chuyện tôi càng thích cái tựa. Từ Sài Gòn đến Denver không nhằm nêu lên khoảng cách không gian mà lại là độ dài thời gian. Nó ghi dấu một chuyện tình đẹp mà… lạ vào năm 1960 tại Sài Gòn. Chuyện tình của một sinh viên Việt nghèo với cô nữ sinh giàu người Mỹ. Họ yêu nhau được một năm thì nàng bị đưa về xứ để vào đại học. Cái lạ là dù học trường Mỹ và được bu quanh bởi các sinh viên Mỹ, dù xa cách muôn trùng, nàng vẫn không quên chàng sinh viên Việt. Thậm chí sau khi chàng trở thành sĩ quan ngang dọc 4 vùng, thư của nàng vẫn chịu khó bay lên tận A Sao, A Lưới, rồi lại lặn lội xuống Bình Giả, Đồng Xoài… Chàng bận chiến chinh nên cứ phải xin lỗi về sự chậm trễ hồi âm. Nàng âu yếm bảo chàng: “Điều quan trọng là em biết anh còn sống ở nơi nào đó…” Nàng cứ tiếp tục viết thư và đến một lúc chàng thấy mình quá vô lý, quá ích kỷ! Chàng muốn chấm dứt cuộc tình vô vọng để … trả tự do cho nàng. Thế là chàng im lặng như một cách báo tin rằng chàng đã tử trận…
 
Rồi bỗng thời thế đẩy đưa, hai mươi bốn năm sau chàng tự mang thân đến định cư trên đất nước của nàng. Chàng cứ đêm ngày thao thức, xao xuyến, băn khoăn. Hẳn nhiên giờ đây nàng cũng đã có chồng có con như chàng đang có vợ có con. Thì gặp nhau lại để làm gì! Chàng cố quên những kỷ niệm xưa cứ thường xuyên về quấy rối, cố dồn hết tâm trí vào việc học việc làm để sớm tạo điều kiện bảo lãnh vợ con còn kẹt lại Việt Nam.
 
Sáu năm sau, chàng tình cờ biết được số điện thoại của nàng qua người bạn thân sống gần nhà nàng ở thành phố Denver thuộc Tiểu bang Colorado. Coi như trời dun rủi, chàng quyết định gọi nàng như một thăm hỏi xã giao. Giọng nàng vô cùng nồng nhiệt tiếp nhận tin chàng. Nàng đã sốt sắng mời chàng sang chơi với gia đình nàng.
 
Và chàng đã đến, đã ở nhà nàng trọn buổi chiều và buổi tối. Có lúc có mặt chồng con nàng, có lúc chỉ có riêng nàng và chàng. Cả hai nhiệt thành nhắc lại những kỷ niệm xưa, trao đổi nhau vui buồn về dòng đời qua thời gian xa cách như hai người bạn chí thiết. Cuộc hành trình từ Sài Gòn đến Denver để tái ngộ người xưa dài dến 30 năm, rốt cuộc chỉ để hai người lại nói lời chia tay và chúc nhau luôn hạnh phúc và nhiều may mắn.
 
Tôi không nghĩ Hà Kỳ Lam chỉ muốn kể lại một chuyện tình. Người ta thường vẫn cho rằng, trong xã hội tạp chủng như Hoa Kỳ, tình yêu và hôn nhân chỉ là cái gì tạm bợ, từ đó người ta lợi dụng “đặc tính” tạm bợ được gán cho nó. Hà Kỳ Lam hẳn muốn cho thấy điều ngược lại: chính người Mỹ lại càng biết thủy biết chung.
 
BÓNG MÁT
 
Bóng Mát cũng là một truyện tình mà theo tôi đây là chuyện tình đẹp hơn bất cứ chuyện tình nào! Một truyện được viết ra như là một cách biểu lộ lòng biết ơn sâu xa. Chuyện của một đôi vợ chồng từ độ tuổi hai mươi chia sẻ nhau vui buồn, vinh nhục qua suốt hai mươi năm. Nói cho đúng là là chuyện của một người vợ trung trinh, kiên trì vững bước trên con đường dài đầy chông gai, hiểm trở, thậm chí còn có lúc không biết rồi sẽ về đâu!
 
Suốt mười năm đầu, nàng thường làm một… chinh phụ. Chàng hết bận hành quân lùng diệt địch ở rừng núi Tây nguyên thì lại bận đi … tù cải tạo tận núi rừng Việt Bắc. Ngày xưa, người chinh phụ của Đoàn Thị Điểm khoe làm 2 việc: “Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam, dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân” mà đã được ngợi khen giỏi dang thì đem so với chinh phụ ngày nay có nhằm nhò gì. Chinh phụ ngày nay, ngoài việc phụng dưỡng mẹ cha, nuôi dạy con cái, còn phải xoay sở kiếm tiền mua thực phẩm không chỉ nuôi gia đình mà còn phải gồng gánh lội ngược Trường Sơn ra tận Ải Nam Quan để thăm nuôi chồng. Không một lần mà nhiều lần cho chồng khỏi nhận… nơi này làm quê hương! Chưa kể một lần đi là một lần liều mạng với bao bất trắc nảy sinh từ một chế độ còn tàn bạo hơn cả thời Tần Thủy Hoàng!
 
Mười năm kế là thế bơ vơ trên một đất nước xa lạ. Người chồng phải trở lại trường để hy vọng tìm được một việc làm ưa thích hơn là lao động chân tay. Vì vậy, người vợ lại tiếp tục lặn lội bờ ao để nuôi sống gia đình: may vá, bán thức ăn lề đường, lau chùi nhà cửa… Cái hình ảnh đẹp “Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ” vẫn chỉ là một  mơ ước ca dao!

Thế nhưng cho dù đã phải trải qua bao gian nan, cho dù cuộc sống còn lao đao lận đận, cuộc đối thoại ngắn ngủi ở luống hoa trước nhà vào một buổi sáng sau hai mươi năm chồng vợ cho thấy lúc nào hai người cũng hạnh phúc tràn trề.
 
“Phương đưa tay vuốt nhẹ lên một đóa hoa và nói:
– Anh nhớ tưới đều kẻo nó héo thì uổng lắm!
Trương im lặng, nheo mắt nhìn Phương. Chỉ cần một ngày em ra thăm chúng là đủ rồi, không cần đến nước. Em là sự tươi mát, là cơn mưa rào mùa hạ cho những cánh đồng khô hạn… Em có bao giờ nghe anh nói đến ý niệm bóng mát của cuộc đời chưa? Nhưng cần chi. Em là thế đấy, Phương ơi!”
 
Từ lâu tôi vẫn nuôi cái ý viết một truyện như thế để tặng “người bạn đời” của tôi nhưng cứ loay hoay không biết diễn đạt thế nào cho xứng với những gì nàng đã dành cho tôi. Lại nữa, viết xong rồi liệu có tìm ra được cái tựa mang hình ảnh ẩn dụ rất tuyệt như Bóng Mát. Nội cái tựa không thôi đã đủ mát dạ mát lòng. Tôi chỉ còn cách nói với người bạn đời của tôi:
– Này em, hãy đọc Bóng Mát của Hà Kỳ Lam. Đó cũng là những gì anh muốn nói với em.
 
Và đó cũng là những gì mà mọi người tù cải tạo muốn biểu lộ lòng biết ơn với các chinh phụ đã dám thách đố thời gian, không gian và lao khổ để cho chồng được sống còn…
 
CHU MOM RÂY
 
Cái tên truyện nghe lạ đến nỗi mười lần như chục, khi đề cập đến truyện này tôi cứ nêu bằng cái tên quen thuộc Chu Mơ Rong. Vâng, thì CHU MOM RAY. Đây cũng là một câu chuyện tình, chuyện tình thời chiến được xét qua góc cạnh nhân bản và đạo lý và được diễn đạt bằng những phân tích tâm lý đầy ngõ ngách rắc rối. Nhân vật chính được tác giả gọi là ông Bân, vốn là cựu Trung sĩ trung đội trưởng ngày xưa và nay cư trú ở miền Đông Hoa Kỳ. Một hôm ông được người đệ tử ruột từ tiểu bang khác đến thăm. Thoạt thấy một đứa con gái của ông thầy, người đệ tử đã thốt lên: “Chào Miss Kontum”. Và thầy trò lai rai nhậu, lai rai nhắc nhau về các trận đánh qua các làng người Thượng vùng này. Họ nhắc đến chiến dịch Sóng Tình Thương kéo dài bốn tháng, mà người Trung đội trưởng vì quá thèm đàn bà, đã dụ dỗ một cô gái Thượng thật thà… Rồi đơn vị về hậu cứ nghỉ ngơi, Trung sĩ Bân quên mất cô gái…
 
Bẳng đi một thời gian, đơn vị hành quân qua một vùng khác. Sau trận chiến, khi lục soát, Trung sĩ Bân lần dò theo tiếng đứa con nít khóc và tìm thấy một đứa bé gái trần truồng đang ôm cứng người đàn bà đã chết. Anh lặng người khi nhận ra người đàn bà đó là người ông từng… dụ dỗ. Vì cuộc hành quan còn diễn tiến, Trung sĩ Bân nhờ người đệ tử mang đứa bé về hậu cứ và sau đó từ hậu cứ Trung sĩ Bân mang về nhà, nói dối vợ là ông “lỡ tay” bắn chết người mẹ, nên muốn nuôi đứa bé để chuộc lỗi lầm. Mười chín năm trôi qua, đứa bé lúc nào cũng cận kề mà ông thì không hề dám hé môi cho nó biết ông chính là cha ruột của nó.
 
Tôi cho rằng Hà Kỳ Lam đã rất độc đáo khi cho ông Bân mượn hơi rượu để nói rất nhiều, nói thật, nói hết với người đệ tử mà rốt cuộc ông vấn không nói được gì hơn. Người đệ tử đã biết chuyện này từ 19 năm trước. Cái ông cần là lời thú tội với vợ ông, con ông, nhưng ông không can đảm. Phải chăng đó là hình phạt nặng nề mà Hà Kỳ Lam muốn ông Bân đeo mãi cho đáng với tội tình…
 
Tuyển tập đầu tay của Hà Kỳ Lam đã gây cho Huỳnh Văn Phú và tôi niềm ngạc nhiên thích thú. Suốt 10 truyện, tuy nội dung khác nhau, chủ đề khác nhau nhưng không ra ngoài một đề tài: người tỵ nạn. Người tỵ nạn với ông láng giềng thiếu thân thiện. Người tỵ nạn với người yêu thuở học trò nay lấy chồng Mỹ. Người tỵ nạn với tình nghĩa vợ chồng gắn bó thủy chung. Người tỵ nạn trong xã hội mới. Người tỵ nạn với những ước mơ đời thường. Người tỵ nạn rồi sẽ dần quên tiếng Việt. Vân vân…
 
Ngoài khả năng diễn đạt tâm lý sắc sảo, tài dùng chữ chính xác, cấu trúc hợp lý, tạo dựng tình tiết hấp dẫn, tác giả còn tỏ ra là một cây viết đầy triển vọng nghệ thuật.
 
Qua VÙNG ĐÁ NGẦM, tác giả đã chính thức gia nhập văn đàn hải ngoại. Từ ngày phát minh mạng lưới toàn cầu, tên tuổi Hà Kỳ Lam càng lan rộng qua việc hầu hết các diễn đàn văn nghệ chọn đăng các truyện ở tuyển tập này và các truyện được viết sau đó mà vài năm sau hợp thành tuyển tập thứ hai NÚI VẪN XANH.

Điều khiến tôi vui nhất là cái danh sách văn thi sĩ xuất thân từ trường Trung học Võ Tánh Nha Trang vốn đã dài nay càng dài: Thanh Nhung, Cao Hoành Nhân, Duy Năng, Sao Trên Rừng Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Huỳnh Văn Phú, Trần Quán Niệm, Điệp Mỹ Linh, Việt Phương, Cung Thị Lan, Quan Dương, Vũ Hoàng Thư, Nguyễn Thanh Ty, Phạm Tín An Ninh, Vũ Thất, Hà Kỳ Lam…
 
Tôi thật sự thấy tiếc một điều. Lẽ ra cái bút danh HÀ KỲ LAM đã phải xuất hiện từ khuya ở Sài Gòn chớ đâu cần chờ đến… Denver!
 
Vũ Thất
25/6/2017
nguồn: Đặc san Áo Trắng Ngày Xưa 2017