Vũ Thất

Bảo Bình 1

Category Archives: Thơ / Nhạc

Chiến thắng Vũng Rô

Chiến thắng Vũng Rô

Trần Quốc Bảo

https://vuthat.files.wordpress.com/2017/06/79fc6-vung-ro.jpg?w=630

Xin nhắc lại những dòng Quân Sử
Thật lẫy lừng “Chiến Thắng Vũng Rô”
Để Người Lính trên bước đường viễn xứ
Vẫn tự hào “Chiến sĩ dìệt Cộng nô”!
-o-
Nếu bạn đi trên Quốc lộ Số Một
Qua Khánh Hoà, đến dãy Trường Sơn
Gặp đèo cao nhất Nước, là Đèo Cả
Hùng vĩ quanh năm, gió hú mây vờn
Nhìn xuống chân Đèo … Tu Bông, Vạn Giả
Xa xa Đại Lãnh, xóm lá dân nghèo
Đến một vùng, vách đá cheo leo
Eo biển “Vũng Rô” hoang vu nằm giữa
Thấp thoáng sườn non, vài tiều phu chặt nứa
Dăm ba dân chài, ngoài bãi biển giăng câu
Ai ngờ … nơi đây là bí mật “bến tầu”
Cộng sản Bắc Việt chuyên chở vũ khí
Tiếp tế ngầm, cho bọn Cộng phỉ miền NamNgày 16 tháng 2 năm 1965
Trung úy Bowers lái trực thăng dọc bờ duyên hải (1)
Thấy một tầu khả nghi tại bãi Vũng Rô
Liền báo Cố vấn trưởng MACV, Thiếu tá Rodgers (2)
Cùng Hải Quân Thiếu tá Hồ Văn Kỳ Thoại (3)
Tư lệnh Vùng 2 Duyên hải, tại Nha-Trang
Lập tức, phi cơ thám thính phái tới hiện trường
Quan sát thấy, sườn núi nhiều địch quân ẩn nấp
Cuộc Hành quân quy mô liền được triệu tập
Phối hợp đủ thành phần: Hải Lục Không quânKhu trục AD-1 Skyraider cấp tốc thực hiện phi tuần
Oanh kích phủ đầu, nhận chìm tầu biển địch
Thiếu tá Thoại chỉ huy cuộc Hành quân xung kích (hình: B )
Quân số tham chiến rất hạn chế trong tay
Chiến trường nơi đây, sườn núi, rừng cây
Địch chiếm cao điểm, nhiều hang sâu ẩn trốn
Lực lượng cơ hữu của ta, có Duyên đoàn 24
Và Liên đoàn Nguời Nhái, quen hoạt động biển hồ
Được Hộ tống Hạm Tụy-Động (HQ-04) chở tới Vũng Rô
Gặp chiến địa núi rừng, vẫn xông pha dũng cảm
Đơn vị tiền kích, làm Cộng quân khiếp đảm
Là Lực lượng Đặc Biệt, do Trung úy Từ Vấn chỉ huy (4)
Được trực thăng vận bốc đến Đại Lãnh cấp kỳ
Lên Hải Vận hạm Tiền-Giang HQ-405 vào trận

Cuộc chiến diễn ra đã vô cùng gay cấn
Trung đoàn Cộng trên cao, xạ kích điên cuồng
Đợt xung phong đầu, hai chiến sĩ ta tử thương
Hạm đội: HQ-405, HQ-04 và Chi-Lăng II HQ-8
Nã đại bác, liên hồi vào khu rừng rậm rạp
Khoá miệng sơn pháo, hỏi tội quân thù
Thung lũng hoang vu, khói lửa mịt mù
Thêm hỏa lực không quân, dội long trời lở đất
Lực lượng Đặc biệt nương theo địa hình địa vật
Bung vào trận địa, cận chiến với Cộng nô
Tình báo cho hay: bọn địch ở Vũng Rô
1 Trung đoàn, thuộc Quân đoàn 5 Cộng sản
Nhiệm vụ tử thủ nơi đây giữ kho súng đạn
Từ Bắc chở vào cất giấu trong hang.

Những Chiến sĩ can trường “Lực Lượng Đặc Biệt”
Suốt 3 ngày quần thảo với lũ sài lang
Đến chiều 19 tháng 2 (1965), quân ta toàn thắng
Chiến lợi phẩm: Gồm 1 kho vũ khí hạng nặng
Đại bác 57 ly, 2 Đại liên, 1000 Trung liên,
1 hang chứa vũ khí cá nhân còn mới nguyên
Gồm 2000 Mauser, 150 Tiểu liên Trung cộng,
300 Carbine và Tiểu liên Tiệp Khắc
Trên 1 triệu đạn súng cá nhân cùng đại bác
1 kho mìn cùng chất nổ hiệu Nga sô (hình: C )
Ta đã xóa sổ gọn một Trung đoàn Cộng nô
Thắng lợi hành quân, được ghi nhận quá ư to tát
Đại Tướng Nguyễn Khánh đã đến tận nơi thị sát.(hình: D )
Tổng Tư Lệnh khen thưởng xứng đáng tất cả chiến binh (hình E & G)
Chiến thắng này, lột trần mặt nạ Hồ Chí Minh
Phản bội Hiệp định Genève, chủ trương xâm lăng binh biến
Ngày hôm sau, Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến
Đến chiến trường, xác nhận: CSBV xâm nhập Miền Nam
-o-
“Đại thắng Vũng Rô”, Một chiến tích vẻ vang
Chói lọi muôn đời những trang Quân Sử Việt
– Bằng chứng hiển nhiên cho ngàn sau rõ biết
Lũ Bắc Cộng đội lốt Giải phóng miền Nam
Gây nên cuộc chiến tranh Nam Bắc tương tàn
Đưa trọn Việt Nam vào ao tù Cộng Sản
– Người Lính VNCH, dù trên đường di tản
Vẫn luôn tự hào với “Đại Thắng Vũng Rô !”
Thực xứng danh: “Chiến Sĩ diệt Cộng nô”

Trần Quốc Bảo
Richmond,Virginia
Viết cho Ngày Quân Lực VNCH 19/6

Ghi chú:

Bài Thơ “Chiến Thắng Vũng Rô” này là một tài liệu Quân-Sử, tác giả đã tham khảo tư liệu và được sự hiệu đính trực tiếp của Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (Houston,TX) và Đại Tá Từ Vấn (Sacramento,CA)

(1) Trong một phi vụ tản thương, Trung Úy J.S.Bowers lái trực thăng UH1B đã bay qua vùng Vũng Rô, cách Nha Trang khoảng 50 dặm.
(2) Thiếu tá H.P. Rodgers, Cố vấn trưởng, Bộ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên hải tại Nha-trang
(3) Sau này ông Hồ Văn Kỳ Thoại là Phó Đề Đốc Hải quân/QLVNCH
(4) Ngay sau Trận Vũng Rô, Trung uý Từ Vấn được gắn lon Đại Úy (thăng cấp tại Mặt Trận) – Sau này ông Từ Vấn là Đại Tá/Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 5.BB /QLVNCH  (Tư Lệnh SĐ 5 là Thiếu Tướng Lê Nguyên Vỹ – đã tuẫn tiết 30/4/75)

Hình ảnh tư liệu do Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại và Đại Tá Từ Vấn  cung cấp


(B) Thiếu Tá Hồ Văn Kỳ Thoại (người thứ 1, trái) sau chiến thắng Vũng Rô, được ân thưởng Bảo-Quốc Huân-Chương kèm Anh-Dũng Bội-Tinh với nhành dương liễu, hình chụp chung với các Hạm trưởng Hải Quân (1965)

(C) Vũ khí, đạn dược, mìn chất nổ … tịch thu của VC sau trận Vũng Rô

(D) Thiếu Tá Hồ Văn Kỳ Thoại (quân phục mầu xanh,người thứ 2 từ trái) Chỉ huy cuộc Hành quân Vũng Rô và Đại Tướng Nguyễn Khánh (tay cầm thuốc lá,ngườì thứ 2 từ phải) đến thị sát Chiến trường Vũng Rô, đang xem chiến lợi phẩm.

(E) Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gắn Đệ  Ngũ Dẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh dũng bội tinh với nhành Dương Liễu cho Trung Úy Từ Vấn

(G) Trung Úy Từ Vấn (thứ 2 từ trái) và các Chiến Hữu tham dự trận Vũng Rô đứng trước Chiến lợi phẩm

nguồn: http://www.dslamvien.com/2017/06/chien-thang-vung-ro.html

Mời đọc: Chương 15, trân Vũng Rô qua thể hồi ký:

Đời Thủy Thủ, Chương 15

Kỷ Niệm Tháng Tư

Kỷ Niệm Tháng Tư

Tôi có người anh không chết trận
Tự xóa tên mình cuối tháng Tư
Sử sách lưu danh làm chi nữa
Cờ lau khát vọng đất Hoa Lư

Tôi có người cha giương súng lệnh
Chào lá quốc kỳ trước khi đi
Chỉa thẳng đầu mình viên đạn chót
Chết theo thành – bia chẳng cần ghi

Tôi có người mẹ nhìn quanh mãi
Nhà mình còn chi đáng giá không
Trước cái tủ thờ bà cúi lạy
Tổ tiên tha thứ buổi gạo đong

Tôi có người chị từ dạo ấy
Bán tà áo cưới đi thăm nuôi
Thất thân giữa dặm trường Nam-Bắc
Lòng men sông Hát giải oan thôi

Tôi có đứa em ra đầu chợ
Chờ miếng cơm thừa bên quán ăn
Tay mời vé số cầu người trúng
Vỉa hè chiếu rách khóc thiên đàng

Tôi có người yêu đêm từ tạ
Khuya em lên tàu đi vượt biên
Máu trinh loang xuống vùng biển Thái
Trả giá tự do rồi hóa điên

Tôi có thằng bạn đi trót lọt
Quay về kháng chiến giữa rừng hoang
Hoài bão quê hương cao chất ngất
Tử hình-tù ngục chẳng sờn gan

Tôi có mình tôi rất ngậm ngùi
Bốn mươi lần đếm tháng Tư rơi
Chén đắng sao ai mời uống mãi
Bên dòng bi sử dật dờ trôi .

PXT. Tháng tư, 2015

nguồn: batkhuat.net

Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái

Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái

Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
 
Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp học khắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
 
Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.
*
Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: “Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…” Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và “cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”
 
Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: “Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…” Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận “Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.” Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: “Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…” Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.” Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ!
 
Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam, Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên: “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân… Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”
 
Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên.

Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên Những Ngày Xưa Thân Ái của chúng tôi.
 
Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai 
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em 
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù 
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…
 
Các anh, những người anh miền Nam đã khoát áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.
 
Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống – “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”
 
Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.
 
*
 
Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi. Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những“cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh” cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.
 
Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được “Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những “Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!” Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát “Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”. Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát “Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.” Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng “Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.
 
Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những “Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”. Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là “ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”. Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết “bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…” Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.
 
*
 
Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy, Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc “anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…” khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:
 
“Nhưng anh bây giờ anh ở đâu 
con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm
tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ 
Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa
nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”
 
Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung ấy và “người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH.
 
Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại “Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo” để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.
 
*
 
Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu. 
 
Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt “Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”. Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những “Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…” Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: “Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố;  tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ,  tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ”.. Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ: “Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”… 

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những “Bác cùng chúng cháu hành quân” và “Tiến về Sài Gòn” thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.
 
*
 
Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.
 
Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975. Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.
 
Ai giải phóng ai? Hãy hỏi Con Đường Xưa Em Đi và đốt đuốc đi tìm xem Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!
 
24.03.2017

Nhạc lính Cộng hòa

Nhạc lính Cộng hòa:

Anh Đừng Nhận Anh Là…

Anh Đừng Nhận Anh Là…

 Trần Văn Lương
Sao anh bảo anh là dân Việt,
Mà anh đem bán hết cả giang san
Của tiền nhân gầy dựng thật gian nan, 
Cho lũ Chệt hung tàn từ phương Bắc?
 
Đem chủ nghĩa phi nhân vừa cóp nhặt
Từ Nga Tàu, anh áp đặt lên dân,
Rồi thực thi một chính sách ngu đần,
Khiến đất nước sa dần vô kiếp nạn.
 
Một dân tộc anh hùng và nhân bản,
Cùng mấy ngàn năm di sản tổ tiên,
Trong tay anh vỏn vẹn mấy thập niên,
Đã băng hoại suốt từ trên xuống dưới.
 
Người dân đen nghèo đói,
Phải liều mình khắp thế giới kiếm ăn,
Trai lao động nhọc nhằn,
Gái bán rẻ xác thân cùng trinh tiết.
                          x
                    x          x
Anh đừng nhận anh là dân Việt,
Khi ngày đêm chỉ cấu kết làm giàu,
Nhét hầu bao và để mặc giặc Tàu
Đầu độc giết những đồng bào vô tội.
 
Anh đã quên nguồn cội,
Đã phản bội quốc gia,
Đã đấu tố mẹ cha,
Đã biến quê nhà ra địa ngục.
 
Anh còn tạo cảnh tương tàn cốt nhục,
Vâng lệnh quan thầy ngoại quốc gian manh,
Hung hăng gây khói lửa chiến tranh,
Xem tính mạng dân lành như cỏ rác.
 
Anh bắt trẻ vượt Trường Sơn bỏ xác,
Lối dép râu qua, làng mạc tan tành,
Đặt mìn, bom… khủng bố khắp thị thành,
Đến trường học cũng nồng tanh mùi máu.
 
Thường dân chạy loạn tìm nơi ẩn náu,
Anh đang tâm nã đạn pháo lên đầu,
Đường Kinh Hoàng, vạn cái chết thương đau,
Tội ác đó ngàn sau còn khắc mãi.
 
Tàu với Mỹ bày âm mưu độc hại,
Ép miền Nam phải bại trận đau thương.
Hàng vạn người trốn bỏ quê hương,
Thân xác gửi đáy trùng dương oan nghiệt.
 
Kẻ kẹt lại gánh đòn thù khốc liệt,
Thảm thê thay cảnh người Việt giết nhau.
Trong trại giam rải rác khắp rừng sâu,
Thân chiến bại đành đớn đau nuốt hận.
 
Anh may được người ta cho “thắng trận”,
Đã vội làm chuyện táng tận lương tâm.
Thay vì cùng sát cánh chống ngoại xâm,
Anh hèn hạ giết ngầm người thất thế.
 
Rồi từ đó, anh trăm phương ngàn kế,
Vơ vét tiền, chẳng kể đến lương tri,
Sống bất trung, bất hiếu với bất nghì,
Luôn hành động chẳng khác chi cầm thú.
 
Những tội ác anh làm trong quá khứ,
Đến muôn đời sách sử mãi còn ghi.
Dù anh gian manh tìm cách xóa đi,
Nhưng sự thật đâu dễ gì bưng bít.
 
Anh vấy máu bao đồng bào ruột thịt,
Nào Quỳnh Lưu, Cải Cách, Tết Mậu Thân,
Nào Cổng Trời, Suối Máu với Hàm Tân,
Toàn những chuyện đáng quỷ thần tru diệt.
                          x
                    x          x
Anh không xứng được xem là dân Việt,
Khi anh còn gây chết chóc triền miên,
Còn phản bội tổ tiên,
Và gieo rắc oan khiên tội nghiệt.
 
Không! Anh chẳng phải là dân Việt,
Mà chỉ là một tên Chệt ngụy trang,
Dù mẹ cha anh và cả họ hàng
Mang dòng máu Văn Lang trong huyết quản.
 
Anh nhắm mắt theo bọn Tàu khốn nạn,
Để duy trì cái đảng Cộng của anh,
Mà thành phần toàn một lũ súc sanh,
Hệt tên cáo già lưu manh vô lại.
                          x
                    x          x
Dân Việt dẫu bị đọa đày bách hại, 
Không bao giờ biết sợ hãi ngoại xâm,
Cho dù là giặc Hán hoặc thực dân,
Tiền nhân quyết liều thân, không uốn gối.
 
Anh hãy chuẩn bị đợi ngày đền tội,
Khi toàn dân chịu hết nổi, vùng lên,
Thẳng tay quét sạch bạo quyền,
Và xét xử lũ đê hèn bán nước.
 
Miền Nam sẽ thanh bình như thuở trước,
Lá Cờ Vàng sẽ mãi được tung bay.
                 Trần Văn Lương
                     Cali, 8/2016

ĐẤT NƯỚC CỦA MA QUỶ

Mừng ngày Quân lực VNCH 19/6

Mừng ngày Quân lực VNCH

 

Thương về Miền Trung

ĐÚNG RỒI ĐÓ…. “THUỶ TRIÊU.. ĐỎ”
 
Đúng rồi đó!, cũng bởi vì “sóng đỏ”!
Nên  miền Trung, biển cát gió tanh nồng
Nước trong xanh, giờ cá nổi bềnh bồng,
Nhà máy thép tuôn sóng tràn ra đấy!?
 
Đúng rồi đó, bùn đỏ tràn nương rẫy,
Người Tây nguyên phải bỏ lánh buôn làng,
Trà, cà phê, xa lìa đất Ba – dan,
Quặng Bồ xit đỏ màu bùn mang lại!
 
Đúng rồi đó, dân biết rồi, tai hại,
Kể từ khi, làn sóng đỏ Cáo Hồ,
Bám gót giày của bè lũ Tàu, Sô.
Cờ máu đỏ đã lan về đất Việt!
 
Đúng rồi đó, súng Nga Tàu bắn giết,
Cướp miền Nam rồi dâng hiến ngoại bang,
Ngồi đầu dân, để theo đóm ăn tàn,
Bọn “có học” mà trong đầu đất sét.!
 
Đúng rồi đó, mặc cho dân gầm thét,
Lũ cường quyền miệng cứ phải ngậm câm,
Dân oan khiên thân xác bị dập bầm,
Nguyền rủa lũ tôn màu cờ máu đấy!!!!
Anh Ngoc Tran
nguon: TH

Lẩm bẩm

LẨM BẨM

Quan Dương
Như con gà mở cửa mả
Say xẩm chạy lòng vòng
Như con rắn mồng năm
Trốn mình trong ký ức
Như tên hề trong gánh xiệc
Giả đò vui giơ mặt nạ giữa đòi
Tôi đánh mất tôi
Giấu vào lòng tủi nhục
Nhưng không thể giấu tháng tư là có thật
Đóng dấu rõ ràng trong lịch sử muôn thu
Bốn mốt năm máu từ những nhát dao
Lại nhễu xuống như mới vừa bị chém
Nhức nhối chi khi tấn tuồng đã vãn
Kẻ thắng người thua ai nấy đều đã có phần
Những bé trai bảy lăm nay đã là đàn ông
Những bé gái nay đã là đàn bà
Lịch sử cũng đã lật qua
Gia tài được chia có vinh có nhục
Đứa nào hên thì no cơm ấm cật
Đứa nào xui thì tiếp tục đi cày
Có rảnh rang xúm lại uống quên đời
Một trăm phần trăm hồn ai nấy giữ
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử *
Đứa xứ người đứa trong nước có khác gì nhau
Bốn mốt năm vẫn lơ lửng một nhát dao
Chẻ dọc chẻ ngang rồi chẻ ngang chẻ dọc
Giá trái tim đừng nghe theo tiếng khóc
Làm đất đá vô tri thì đâu phải dập mình
Mà cũng giá như đất nước tôi đừng bị lịch sử cưỡng dâm
Thì đâu đẻ ra đám con đầu gà đít vịt
Những đứa con cười đùa trên xác chết
Rước đám Tàu sang cùng chia thịt đồng bào
Quan Dương
 4/2016
 * thơ Nguyễn Công Trứ

Đất nước mình…

Nhạc tưởng niệm Tháng 4 đen

 

Tử Sĩ Hoàng Sa – Nguyễn Thành Trọng

Lâm Hoài Thạch

WESTMINSTER, (NV) – Bà quả phụ Nguyễn Thị Lựa là vợ cố Trung Sĩ Nhất Nguyễn Thành Trọng, nhân viên trọng pháo của chiến hạm Nhựt Tảo (HQ-10), người tử trận trong trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19 Tháng Giêng, 1974. Hiện nay, bà sống với người con trai là anh Nguyễn Hoàng Sa, và cháu nội, tại ấp Thới Khánh, xã Tân Thạnh, huyện Thới Lai, Cần Thơ.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/226880-hoang-sa-01-60.jpg
Bà quả phụ Nguyễn Thị Lựa và con trai Nguyễn Hoàng Sa tại nhà mua bán phế liệu. (Hình: Nguyễn Hoàng Sa cung cấp)

Nhân chuyến về Việt Nam, phóng viên nhật báo Người Việt gặp anh Nguyễn Hoàng Sa tại huyện Ô Môn, Cần Thơ. Lúc ấy, chúng tôi chưa biết anh Hoàng Sa là ai, và rất tò mò vì cái tên của anh. Hỏi ra, mới thấy có nhiều thông tin bất ngờ.

Vào ngày 19 Tháng Giêng, 1974, ba của tôi là mộchiến sĩ Hải Quân VNCH, tử trận Hoàng Sa trên chiến hạm Nhựt Tảo (HQ-10), do cố Thiếu Tá Ngụy Văn Thà làm hạm trưởng. Ba của tôi tên Nguyễn Thành Trọng, nhân viên trọng pháo. Lúc đó ba của tôi mới có cấp bậc trung sĩ, sau khi tử trận, ba được truy thăng Trung Sĩ Nhất.” Hoàng Sa cho biết.

Anh kể: “Ngày ba mất, mẹ mang bu tôi mi có tám tháng. Ri sau đó, đến ngày 24 Tháng Ba, 1974, mẹ tôi sanh ra tôi. Bà vì đau lòng việc ba ca tôi không còn na, và đ kỷ niệm ngày ba tôi hy sinh tại Hoàng Sa, mi đặt cho tôi tên là Nguyễn Hoàng Sa.

Sau ngày chồng tử trận, bà Nguyễn Thị Lựa cố gắng sống, cuộc đời hẩm hiu, không chồng nuôi con, nhờ vào tiền tử của chồng. Ngày ấy, Hoàng Sa chưa đầy một tuổi. Ðến cuối Tháng Tư, 1975, Sài Gòn thất thủ, Cộng Sản vào miền Nam, bà không còn được nhận tiền tử của chồng nữa.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/226880-Hoang-Sa-05.jpg

Trung sĩ nhất Nguyễn Thành Trọng đứng trước quân trường Hạ Sĩ Quan. 

(Hình: Nguyễn Hoàng Sa cung cấp)

Những năm tiếp theo, bà Nguyễn Thị Lựa bươn chải với cuộc sống khó khăn để kiếm tiền nuôi Hoàng Sa. Mi lần gi chng, bà ôm đa con trai đu lòng và duy nhất, khóc: “Hoàng Sa ơi!” Không biết bà quả phụ khóc cho đa con m côi cha, hay khóc cho hải đảo Hoàng Sa, hay khóc cho vận nước điêu linh!

Hơn 40 năm qua, bà làm đủ mọi nghề, tần tảo nuôi con. Ðến nay, đã ngoài 60 tuổi, Hoàng Sa cũng đã ngoài 40. Tuổi của người con trai được đếm song hành với bao nhiêu năm tháng, kể từ ngày Hoàng Sa bị Trung Cộng cưỡng chiếm.

Nguyn Hoàng Sa trưởng thành trong ni đau ca mẹ. Khi trưởng thành, cuộc sống anh cũng vấp đầy khó khăn, như rất nhiều cô nhi cùng thế hệ, cùng hoàn cảnh.

Rồi anh lập gia đình, có hai con. Cách đây vài năm, gia đình tan v. Khi chia tay v, “tài sn” duy nht của Hoàng Sa là đa con trai 14 tui, học lớp Tám. Còn mt đứa con gái 4 tui thì người vợ mang theo.

Hoàng Sa làm rt nhiu ngh để kiếm sống. Ngh hin ti ca anh là mua bán ve chai.

Cách đây ba tuần, phóng viên Người Việt nhn một phong bì ln, bên trong có hồ sơ của chính ph và B Tư Lệnh Hi Quân VNCH vông Nguyn Thành Trng. Bà Nguyn Th Lựa ct gi h sơ này hơn 40 năm nay, giờ thì trao lại cho con trai ct gi.

Mặt trước và sau của tấm hình hộ tống hạm Nhựt Tảo (HQ-10). (Hình: Nguyễn Hoàng Sa cung cấp)

Trong hồ sơ chúng tôi nhận được có bn sao tm ảnh chiến hm Nht To (QH-10), phía trên góc phải của hình chiến hm có phù hiu ca Nht To (10), phía mt sau có hàng chữ: “K niệm Nguyn Thành Trng đã t trn ngày 19-1-1974. Tại đảo Hoàng Sa trên chuyến tàu Nht Tảo HQ 10.”

Một tấm ảnh của cố Trung Sĩ Nhất Nguyễn Thành Trọng đứng trước quân trường Hải Quân Việt Nam. Anh Hoàng Sa cho biết, hình này chụp lúc thân phụ anh mới ra trường hạ sĩ quan, nhưng anh không biết quân trường nào.

Ngoài ra còn có một bưu tín báo cáo tạ thế, bên trên góc phải đề:

“Việt Nam Cộng Hòa – Bộ Quốc Phòng – Bộ Tổng Tham Mưu – Quân Lực VNCH – Bộ Tư Lệnh Hải Quân. (số: 249/HQ/TQT/NSV/TH/TT).

Họ và tên: Nguyễn Thành Trọng, cấp bậc: Tr/Sĩ 1 TP (truy thăng). Số quân: 72A 700.861 Ðơn vị: HQ 10. Binh ngạch: hiện dịch.

Ðịa điểm, ngày, tháng, năm và duyên cớ sự chết: Hy sinh vì Tổ Quốc ngày 19-01-1974, tại hải đảo Hoàng Sa trong trận hải chiến với chiến hạm Trung Cộng để bảo vệ lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa.

Sinh ngày: 22-10-1952, tại Cần Thơ. Gia cảnh: vợ, 1 con.

Tên họ bà con thân thuộc với người chết và địa chỉ báo tin: ông Nguyễn Thanh Kỳ (cha), ngụ tại: 11/2 Duy Tân, Cần Thơ.

Trật lương: PKCM.2. Thâm niên công vụ: 04 năm 04 tháng 23 ngày.

Ngày và nơi mai táng: Thủy táng.

Quy trách về công vụ: Chết vì Tổ Quốc.”

Phía dưới bản báo cáo, nơi góc phải, ghi: Ðề Ðốc Trần Văn Chơn, Tư lệnh Hải Quân; Phó Ðề Ðốc Diệp Quang Thủy, Tham Mưu Trưởng; Hải Quân Ðại Tá Trần Bình Phú, Tham Mưu Phó. Nhân Viên (ký tên) và đóng dấu: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa-Bộ Tư Lệnh Hải Quân-Bộ Tham Mưu.


Buu tín báo tử của Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH. (Hình: Nguyễn Hoàng Sa cung cấp)

Thư bà Nguyễn Thị Lựa viết gởi Người Việt có đoạn, chồng “chết tại quần đảo Hoàng Sa, thi hài thủy táng, bỏ lại vợ yếu con thơ. Vợ chồng tôi sống chung nhau, tôi mang thai được tám tháng thì chồng tôi đã hy sinh trận đảo Hoàng Sa. Tôi phải cố gắng an ủi để sanh nở. Khi sanh ra rồi, tội cho đứa bé mở mắt chào đời mà không biết mặt cha. Không có cảnh nào khổ cho bằng cảnh nghèo sanh còn non ngày tháng, nước mắt chang cơm, ngậm ngùi ăn cay, nuốt đắng, ôm con vào lòng mà nước mắt cứ tuôn trào, bà con láng giềng đến thăm ai cũng an ủi, khuyên hãy cố gắng lên cho có tinh thần để lo cho con khôn lớn!

“Tôi mới lấy kỷ niệm của cha nó đã hy sinh vì Tổ Quốc. Ðứa bé tên Nguyễn Hoàng Sa, sinh 1974. Bỏ lại vợ góa, con côi không có một lời an ủi.

“Ðến năm 1985, đứa em chồng có vợ thì mẹ con tôi mới tách riêng ở đậu nhà bà thím, tôi mới đi làm mướn để lo cho con ăn học lây lất qua ngày, ai mướn gì cũng làm. Từ đó đến nay tôi không tái giá, mẹ con đùm bọc cùng nhau, đời sống rất vất vả, phải đi làm mướn mà không đủ ăn lây lất qua ngày.

“Năm 1990, cho con học nghề thúy (thí) công cắt kiếng. Ðến năm 2002, thì ngoại thấy mẹ con vất vả quá khổ, ngoại kêu về giúp đỡ cho miếng đất cất nhà mẹ con sinh sống làm ăn.

“Ðến năm 2014, có anh em bạn giúp đỡ ra mua phế liệu sống qua ngày…”

Thư bà Lựa viết ngày 14 Tháng Tư, 2016. Cứ thêm một ngày, Hoàng Sa thêm một ngày tuổi, và Hoàng Sa lại thêm một ngày xa rời tổ quốc.

Liên lạc tác giảtoasoan@nguoi-viet.com hoặc editors@nguoi-viet.com

nguồn:  http://navygermany.gerussa.com/

Nhạc ” Tưởng Niệm Tháng Tư Đen “

   huengodo@Gmail.com
http://www.youtube.com/user/Ngodanthanh