Vũ Thất

Bảo Bình 1

Category Archives: Truyện Ngắn

Đồ nói láo

Đồ Nói Láo! (Liar!)

 Nguyên tác: Isaac Asimov
 Bản dịch: Vũ Thất
Lời người dịch: Người máy Robot là nhân vật trong các truyện khoa học giả tưởng của nhà văn Isaac Asimov (1920-1992), tiến sĩ Hóa học, giáo sư Đại Học Boston.
Nhiều truyện của ông được quay thành phim. Cách đây không lâu, phim I, ROBOT, dựa vào tập truyện cùng tên của ông được tung ra thị trường, lôi cuốn hàng chục triệu khán giả khắp thế giới.
Robot là một công cụ dành cho con người sử dụng. Để con người khỏi phải trở thành nạn nhân của công cụ do chính mình tạo ra, bộ óc Robot được lập trình theo 3 điều luật:
1. Người máy không được gây tổn thương con người, cũng không được bất hoạt khiến con người bị thương tổn.
2. Người máy phải tuân thủ mệnh lệnh của con người trừ phi những mệnh lệnh đó đi ngược với điều luật 1.
3. Người máy phải tự bảo vệ quyền tồn tại miễn sao hành động tự vệ không đi ngược với điều luật 1 và 2.
Chính 3 điều luật ràng buộc khắc khe trên đã tạo ra những tình huống gây cấn, cảm thương mà người máy phải gánh chịu.
* * *
Alfred Lanning thận trọng châm điếu xi gà, nhưng các ngón tay run nhẹ. Cặp lông mày màu tro cong lại khi ông vừa bập khói thuốc vừa nói:
– Nó đọc được ý nghĩ. Mẹ kiếp, chả nghi ngờ gì nữa! Nhưng tại sao?
Ông nhìn nhà toán học Peter Bogert:
– Anh nghĩ thế nào?”
Bogert đưa hai tay vuốt mái tóc đen:
– Thưa ông Lanning, đó là kiểu RB thứ 34 vừa xuất xưởng. Những kiểu khác đều tuyệt đối chính thống.
Người thứ ba ngồi ở bàn, cau mày. Đó là Milton Ashe, thành viên trẻ nhất của Tổ Hợp Chế Tạo Người Máy Hoa Kỳ và anh rất hãnh diện với địa vị của mình:
– Này, Bogert. Trong suốt quá trình lắp ráp, không một vấp váp nào đã xảy ra. Tôi bảo đảm.
Đôi môi dầy của Bogert nở nụ cười kẻ cả:
– Anh bảo đảm? Nếu anh có thể trả lời thay cho toàn bộ đường dây lắp ráp, tôi sẽ đề nghị thăng chức anh ngay. Theo kiểm toán chính xác, có đến bảy mươi lăm ngàn, hai trăm ba mươi tư động tác cần thiết cho việc chế tạo một bộ óc điện tử, mà mỗi động tác riêng rẻ lại tùy thuộc vào việc hoàn thành một số yếu tố nào đó, từ 5 đến 105. Nếu chỉ cần một yếu tố sai lầm, bộ óc sẽ tiêu tùng. Tôi dẫn chứng từ chính tư liệu do anh phổ biến đấy, anh Ashe ạ.
Milton Ashe đỏ mặt nhưng tiếng nói thứ tư chận lời đáp của anh. Đôi bàn tay của Susan Calvin đan chặt đặt trên đùi, đôi môi mỏng lợt lạt mím lại:
– Nếu chúng ta sửa sai bằng cách đổ lỗi cho nhau thì tôi xin rời khỏi đây. Chúng ta có một người máy đọc được tư tưởng và theo tôi, điều quan trọng là chúng ta phải tìm cho ra tại làm sao mà nó đọc được tư tưởng. Chúng ta không làm việc đó bằng cách nói lỗi tại anh hay lỗi tại tôi!
Đôi mắt nâu lạnh lẽo của nàng dán chặt Ashe, và hắn cười nhăn nhở. Lanning cũng nở nụ cười toe toét và như thường lệ vào những trường hợp thế này, mái tóc bạc để dài và đôi mắt ti hí ranh mãnh tạo cho ông hình ảnh của một giáo chủ:
– Quả là chí lý, bác sĩ Calvin.
Ông đổi sang giọng giòn giã:
– Ở đây, mọi thứ đều trong dạng thức cô động như viên thuốc. Chúng ta đã sản suất một bộ óc dương điện tử được coi như đương nhiên là phải hoạt động bình thường, thế mà nó lại mang một đặc tính bất thường là có khả năng bắt được các làn sóng tư tưởng. Điều nầy hẳn là sẽ đánh dấu bước tiến quan trọng đi trước hằng thập niên trong ngành nghiên cứu người máy nếu ta hiểu được bằng cách nào việc đó đã xảy ra. Chúng ta hiện chưa biết và chúng ta phải tìm cho bằng được. Rõ ràng chứ?
Bogert hỏi:
– Tôi được phép nêu một đề nghị?
– Tự nhiên.
– Tôi muốn nói rằng cho tới khi chúng ta tìm ra đầu mối – và với tư cách một nhà toán học, tôi ngờ rằng đây là cái thứ rối rấm quỷ quái – chúng ta nên giữ bí mật về sự hiện hữu của RB-34. Bí mật ngay cả với các thành viên khác trong ngành. Trên cương vị là các trưởng ngành, chúng ta không được phép xem nó như là một vấn nạn không có cách giải quyết và càng nên có ít người biết chuyện này…
Bác sĩ Calvin lên tiếng:
– Bogert nói đúng. Từ ngày luật Liên Hành Tinh sửa đổi cho phép các mẫu người máy được xét nghiệm ngay trong các cơ xưởng trước khi chuyển vận ra ngoài, các chiến dịch tuyên truyền chống người máy đã gia tăng. Trước khi có đủ điều kiện tuyên bố rằng chúng ta đã nắm vững hiện tượng, chỉ cần một lời nào tiết lộ người máy có khả năng đọc được tư tưởng con người là chúng ta sẽ phải mất khá nhiều vốn liếng.
Lanning kéo một hơi xi gà và nghiêm nghị gật đầu. Ông quay sang Ashe:
– Tôi nhớ, anh có nói anh chỉ ở một mình khi lần đầu anh tình cờ khám phá ra cái vụ đọc được tư tưởng này?
– Đúng là tôi một mình. Tôi đã sợ gần chết. Thằng RB-34 vừa được nhấc ra khỏi bàn lắp ráp là họ cho mang đến tôi ngay. Oberman vừa đi đâu đó, vì vậy tôi tự mình mang nó xuống phòng thử nghiệm. Sự việc diễn ra ngay từ lúc tôi bắt đầu đưa nó đi.
Ashe ngưng lại, môi cố nở nụ cười mong manh:
– À này, có ai trong quý vị đã từng trải qua một cuộc đàm thoại trong đầu của mình mà lại không nhận biết?
Không ai buồn trả lời và anh tiếp tục:
– Thoạt đầu tôi không nhận ra việc đó. Nó cứ nói chuyện với tôi một cách có lý có tình như quý vị có thể hình dung và chỉ đến khi xuống tận phòng thử nghiệm tôi mới nhận ra tôi đã chẳng nói lời nào. Tất nhiên tôi đã suy nghĩ rất nhiều nhưng suy nghĩ đâu có nghĩa là nói, phải không quý vị? Tôi bèn khóa thằng người máy đó lại trong phòng và chạy tìm ông Lanning. Cứ nghĩ đến việc có nó đi bên cạnh, lặng lẽ săm soi vào tâm tưởng của mình, rồi moi móc, chọn lựa giữa các ý tưởng mà thấy hãi hùng.
Susan Calvin trầm ngâm, đôi mắt chăm chú dán chặt vào Ashe một cách lạ lùng:
– Tôi cũng thấy việc đó đáng sợ thật. Chúng ta đã có thói quen xem tâm tưởng của chúng ta là riêng tư.
Lanning nóng nảy chen vào:
– Thôi thì chỉ có bốn chúng ta biết chuyện này. Được lắm! Chúng ta hãy duyệt xét sự việc một cách có hệ thống. Ashe, tôi muốn anh kiểm lại đường dây lắp ráp, từ điểm khởi đầu đến điểm cuối cùng, từng động tác một. Anh loại bỏ các động tác xét ra không thể có sai lầm, rồi ghi chép các loại động tác có thể có cùng mức độ sai lầm của chúng.
Ashe càu nhàu:
– Việc mệt dữ đa!
– Tất nhiên! Anh phải xếp đặt nhân viên thuộc quyền làm việc này. Sử dụng hết mọi người nếu công việc đòi hỏi. Có trễ hạn việc khác cũng không sao.Và dứt khoát không một ai được biết lý do, anh thừa hiểu mà.
Chàng chuyên viên trẻ tuổi cười nhăn nhở:
– Hừm, được thôi! Nhưng nó vẫn là một việc phi thường.
Lanning xoay ghế, đối diện Calvin:
– Cô phải chận mọi việc từ các hướng khác. Ngoài ra, là nhà tâm lý học về robot, cô phải nghiên cứu đặc biệt thằng robot này, bằng cách đi ngược lại, bắt đầu từ điểm cuối. Hãy cố gắng khám phá xem làm sao mà nó làm được như vậy. Tìm xem có cái gì khác gắn bó với khả năng thần giao cách cảm, tới một chừng mực nào, tác động đến triển vọng của nó ra sao và chính xác là nó gây thiệt hại gì cho các đặc tính thông thường của loại robot này. Cô hiểu rồi chứ?
Không chờ bác sĩ Calvin trả lời, Lanning tiếp:
– Tôi sẽ điều hợp công việc và sẽ diễn giải các phát hiện một cách thích đáng.
Ông bập mạnh điếu xi gà và nói lầm bầm qua khói thuốc:
– Bogert sẽ tiếp tay tôi, dĩ nhiên.
Bogert chà bóng các móng tay bằng bàn tay ngắn ngủn ú nần, ôn tồn lên tiếng:
– Tôi nhận, nhưng có điều là tôi biết không nhiều về đường dây sản xuất.
Ashe đẩy chiếc ghế lui lại và đứng lên. Khuôn mặt vui vẻ dễ thương của anh gấp nếp với nụ cười tươi tắn:
– Vậy thì tôi bắt đầu đây! Tôi vớ phải cái phần việc đáng nguyền rủa nhất, vì vậy tôi phải biến ngay khỏi đây để tiến hành.
Anh rời phòng bằng giọng líu nhíu:
– Sớm gặp lại quý vị!
Susan Calvin đáp lễ bằng cái khẻ gật đầu nhưng đôi mắt vẫn nhìn theo cho tới khi anh khuất dạng. Và nàng cũng không buồn trả lời câu càu nhàu của Lanning:
– Cô có muốn lên xem thằng RB-34 bây giờ không, bác sĩ Calvin?
***
Cặp mắt quang điện của RB-34 rời khỏi quyển sách khi có tiếng xoay bản lề và nó đứng lên khi Susan Calvin bước vào. Nàng dừng bước, chỉnh lại tấm biển to lớn “Cấm Vào” trên cửa và tiến đến gần người máy robot:
– Tôi mang theo vài quyển sách viết về động cơ siêu nguyên tử, Herbie có muốn đọc chăng?
RB-34 – mang tên Herbie- nhấc ba quyển sách nặng nề khỏi tay nàng và mở một quyển, đọc tựa:
– Hừm! Lý Thuyết Về Siêu Nguyên Tử.
Trong khi lật từng trang giấy, nó lầm bầm gì đó rồi bỗng thốt lên qua dáng vẻ lơ đãng:
– Xin mời bác sĩ ngồi, chắc cũng phải mất vài phút tôi mới ngốn hết các quyển này.
Nhà tâm lý học ngồi lên ghế và tẩn mẩn quan sát Herbie từ lúc nó mang chiếc ghế từ bên kia bàn và ngồi đọc cả ba quyển một cách có phương pháp. Nửa giờ sau, nó bỏ sách xuống:
– Dĩ nhiên tôi hiểu vì sao bác sĩ mang mấy quyển nầy đến đây.
Góc môi của bác sĩ Calvin dúm lại:
– Tôi cũng e rằng chú đã rõ. Thật khó mà làm việc với chú, Herbie ạ! Chú luôn luôn tiến trước tôi một bước.
– Mấy quyển này cũng y như mấy quyển trước thôi! Chúng chẳng mang cho tôi ích lợi gì! Nội dung vẫn chỉ là con số không. Khoa học của bác sĩ chỉ là một khối dữ kiện cóp nhặt, được chắp vá với nhau bằng các lý thuyết tạm bợ và tất cả đều đơn giản đến không ngờ. Chắc chắn là không đáng để quan tâm. Chính các quyển tiểu thuyết mới gây cho tôi nhiều thích thú. Chính những nghiên cứu của bác sĩ về sự tác động lẫn nhau giữa duyên cớ và tình cảm con người…
Cánh tay đầy sức mạnh của nó làm một động tác mơ hồ như là nó cố tìm một từ thích hợp. Bác sĩ Calvin thì thào:
– Tôi nghĩ là tôi hiểu.
Thằng robot tiếp tục:
– Tôi đọc được tư tưởng con người, bác sĩ biết đó, nhưng hẳn không sao biết là chúng phức tạp đến chừng nào! Tôi không thể bắt đầu hiểu được mọi sự bởi vì tâm trí của tôi không có được bao nhiêu điểm tương đồng với tâm trí con người. Nhưng tôi hết sức cố gắng và các tiểu thuyết của bác sĩ đã giúp tôi.
Giọng Calvin đượm vẻ chua xót:
– Cứ cho là thế đi, nhưng tôi e rằng sau khi tiếp nhận vài kinh nghiệm xúc cảm, kinh nghiệm đớn đau từ các truyện tình thời đại, chú lại thấy rằng tâm tư trung thực của con người sao mà buồn nản, vô vị.
– Nhưng tôi không thấy buồn nản vô vị!
Câu trả lời đầy năng nổ, bất ngờ làm Susan đứng bật dậy. Nàng có cảm giác khuôn mặt mình đỏ rần và đầu óc nghĩ ngợi lung tung: “Nó hẳn đã biết!”
Herbie nhún người và hạ thấp giọng khiến cho cái âm sắc đầy chất kim khí biến mất:
– Hẳn nhiên là tôi biết, thưa bác sĩ Calvin. Bác sĩ luôn nghĩ đến chuyện đó, thì làm sao mà tôi không biết được.
Nét mặt Susan rắn lại:
– Thế chú mày đã có nói với ai khác không?
Herbie đáp với vẻ ngạc nhiên thực sự:
– Dĩ nhiên là không. Mà có ai hỏi đâu mà nói!
Bác sĩ như tự trách mình:
– Thế thì, tôi nghĩ, hẳn chú mày coi tôi như một người khờ dại.
– Thưa không! Đây là xúc cảm thường tình mà.
– Chính vì thường tình nên mới dại khờ đến thế! Tôi không phải là một phụ nữ được người ta gọi là… hấp dẫn.
Giọng Susan buồn thảm như làm lắng đọng mọi vật chung quanh. Nàng không biết rằng có biết bao phụ nữ đang thèm muốn địa vị của nàng.
– Nếu bác sĩ đề cập hấp dẫn như là sức mạnh lôi cuốn riêng về phần thể xác thì tôi không thể đánh giá được. Bởi tôi biết, trong bất cứ trường hợp nào, cũng đều có nhiều dạng hấp dẫn.
Bác sĩ Calvin hầu như không nghe lời nói của robot. Nàng tiếp tục ý nghĩ riêng:
– Cũng không còn trẻ nữa.
Giọng Herbie nài nỉ, đầy lo lắng:
– Bác sĩ chưa tới bốn mươi mà.
– Tính bằng niên kỷ thì tôi ba mươi tám. Còn tính bằng tình cảm thì tôi cằn cỗi đến tuổi sáu mươi. Một chuyên gia tâm lý thì cũng có được gì đâu?
Nhà tâm lý học tiếp tục bằng hơi thở dứt quãng, đắng cay:
– Còn anh ấy thì mới vừa ba mươi lăm, dáng dấp, cử chỉ còn trẻ trung. Chú mầy có cho rằng anh ấy xem tôi như… không là gì hết?
Bàn tay sắt của Herbie nện xuống mặt bàn bọc nhựa, kêu sầm:
– Bác sĩ nghĩ sai rồi! Xin nghe tôi…
Calvin vụt quay lại nó, mắt rực lên những tia đau đớn:
– Tại sao phải nghe chú mày? Chú mày biết gì về chuyện này. Nói gì thì nói, chú mày cũng chỉ là… cái máy! Hay chú mày coi tôi như một mẫu vật thử nghiệm, là con bệnh với bộ óc dị thường đầy hứng thú được trải rộng để chú mày khảo sát. Đó là một mẫu vật tuyệt vời về tâm trạng vỡ mộng, đúng không? Cũng hay ho như mấy quyển tiểu thuyết chú mày nghiền ngẫm chứ gì?
Giọng nàng nức nở vang lên rồi nghẹn ngào tắt dần. Thằng robot co rúm lại trước cơn giận đột phát đó. Nó lắc đầu van xin:
– Làm ơn nghe tôi nói mà! Tôi có thể giúp nếu bác sĩ chịu nghe tôi.
Nàng bĩu môi:
– Bằng cách nào? Bằng cách cho tôi những lời khuyên hữu ích?
– Không, không phải vậy. Quả đúng là tôi biết được những gì người khác suy nghĩ. Như Milton Ashe, chẳng hạn.
Một sự im lặng kéo dài, và đôi mắt của Susan bắt đầu nhỏ lệ. Nàng thổn thức:
– Tôi không muốn biết người đó nghĩ gì! Hãy im đi.
– Tôi biết bác sĩ muốn biết ông ấy nghĩ gì.
Đầu nàng vẫn cúi thấp nhưng hơi thở dồn dập dần. Nàng thì thào:
– Chú mày nói chuyện vô lý.
– Tại sao tôi nên nói ra. Tôi muốn giúp mà. Những ý nghĩ của Milton Ashe về bác sĩ…
Thằng robot ngưng lại. Và đến lúc đó, nhà nữ tâm lý học mới ngẩn đầu:
– Sao?
Thằng robot nói một cách bình thản:
– Ông ấy yêu bác sĩ.
Suốt trọn một phút, bác sĩ Calvin nghẹn lời. Nàng chỉ đăm đăm nhìn. Rồi bỗng thốt lên:
– Chú mày lầm! Chắc hẳn là lầm. Sao lại thế được?
– Thế mà đúng, ông ấy yêu bác sĩ. Chuyện như vậy khó che dấu, nhất là với tôi.
Nàng lắp bắp không thành lời:
– Nhưng tôi rất…rất…
– Ông ấy thâm trầm hơn là vẻ bên ngoài và biết ngưỡng mộ tài năng của người khác. Ông ấy cũng không thuộc hạng sẽ cưới bất cứ cô nào miễn cô đó có đôi mắt và mái tóc trên đầu.
Susan Calvin chớp mắt liên hồi và phải đợi một lúc mới lên tiếng được. Dù vậy, giọng nàng vẫn còn run run:
– Vậy mà anh ấy chẳng bao giờ tỏ dấu hiệu gì…
– Bác sĩ có cho ông ấy một cơ hội?
– Làm sao được? Tôi có bao giờ nghĩ rằng…
– Quả là vậy!
Nhà tâm lý học chìm đắm trong suy tư rồi bất thình lình ngẩn lên:
– Nửa năm trước, có một cô đến thăm anh ấy ở đây. Theo tôi, cô ấy đẹp, tóc vàng, dáng thon thả. Và dĩ nhiên, khả năng cùng lắm là biết cộng hai với hai. Anh ấy đã bỏ cả ngày, hết hơi hết sức cố giải thích cách thức chế tạo một robot.
Giọng cô trở nên đanh đá:
– Kết quả là cô ta chả hiểu tý gì! Mà cô ta là ai vậy?
Herbie trả lời không chút do dự:
– Tôi biết người đó. Cô nàng là em họ của ông ấy và chẳng có việc phiêu lưu tình cảm dính vào, tôi bảo đảm.
Susan Calvin đứng lên với một dáng vẻ rực rỡ đầy nữ tính:
– Quả lạ lùng! Đó chính là điều tôi tự bịa ra để an ủi dù chẳng tin chút nào. Thế rồi nay lại là sự thật.
Nàng chạy đến Herbie, hai tay nắm bàn tay lạnh lẽo,nặng nề của nó và thì thầm bằng giọng khản đục, khẩn nài:
– Cám ơn Herbie. Đừng nói với bất cứ ai việc này nghe. Coi như chuyện bí mật giữa chúng ta. Và một lần nữa, rất biết ơn.
Dứt lời, sau khi vụng về siết chặt những ngón tay kim loại vô cảm, nàng rời phòng. Herbie chầm chậm xoay lại quyển tiểu thuyết bỏ dở. Nhưng không một ai đọc được đầu óc nó đang nghĩ gì.
***
Milton Ashe chầm chậm vươn vai qua một động tác tuyệt đẹp hòa điệu với tiếng răng rắc của các khớp xương và khúc hợp âm của các lời cẳn nhẳn. Anh nhìn trừng trừng tiến sĩ Peter Bogert, rồi lên tiếng:
– Này! Cả tuần nay tôi bù đầu với vụ duyệt xét này gần như không chợp mắt. Tôi còn phải thức thêm bao lâu nữa đây? Tôi tưởng ông nói việc bắn phá các phân tử ở buồng chân không D đã có giải đáp kia mà.
Bogert kín đáo ngáp dài và nhìn đôi tay xanh xao của mình với vẻ thích thú:
– Đúng vậy. Tôi đang phăng lần manh mối đây.
– Tôi quá rành ngôn ngữ của các nhà toán học! Vấn đề là bao lâu nữa mới phăng xong?
– Cái đó còn tùy.
Ashe thả người lên ghế, duỗi dài đôi chân:
– Tùy cái gì?
Bogart thở dài:
– Tùy ở Lanning. Lão đó bất đồng ý kiến với tôi. Lão có phần cổ lỗ sĩ. Cái rắc rối là ở lão. Lão bám vào cơ học ma trận như là phương thức duy nhất trong khi sự việc rắc rối này lại đòi hỏi các phương tiện toán học có năng lực mạnh hơn. Lão ngang bướng quá!
Ashe thì thào giọng buồn ngủ:
– Vậy tại sao không hỏi thẳng Herbie và giải quyết toàn bộ vấn đề?
Bogert nhướn mày:
– Hỏi thằng người máy?
– Sao lại không? Người đẹp lỡ thời không nói gì với anh sao?
– Anh muốn ám chỉ Calvin?
– Đúng! Chính nàng ta nói đấy. Thằng người máy là một thiên tài toán học. Cái gì nó cũng biết mà biết dư thừa nữa. Nó làm ba bài toán tích phân nhẩm trong đầu và ngốn phép phân tích cơ trương như ăn tráng miệng.
Nhà toán học mở to mắt, ngờ vực:
– Anh nghiêm túc đấy chứ?
– Xin thề có Trời! Điều tức cười là thằng ngớ ngẩn này lại không thích toán. Nó chỉ khoái đọc tiểu thuyết tình cảm ướt át. Thật đấy! Anh phải thấy cô nàng Susan bệ rạc liên tục nuôi dưỡng nó: Nào là “Đam mê màu tím”, nào là “Tình trong không gian”…
– Bác sĩ Calvin đã chẳng một lời về việc này với chúng ta.
– Ờ, cô nàng chưa hoàn tất nghiên cứu thằng robot này. Anh biết nàng ta quá mà. Luôn luôn nắm chắc mọi thứ trước khi tiết lộ bí mật.
– Và cô nàng đã tiết lộ với anh.
– Chúng tôi chỉ nói đại khái. Gần đây tôi gặp cô nàng rất thường.
Ashe mở lớn đôi mắt và nhíu mày, tiếp lời:
– Nè, Bogert, gần đây anh có để ý thấy điều gì khác lạ ở cô nàng?
Bogert nở một nụ cười nhăn nhở:
– Cô ta tô son môi, nếu đó là điều anh ám chỉ.
– Quỷ thần ơi! Tôi biết mà! Má hồng, phấn tô, mày kẻ! Trông diêm dúa. Nhưng không chỉ thế. Tôi không thể giải thích rõ được. Đó là cái cách cô nàng ăn nói – cứ như là đang hạnh phúc một điều gì.
Ashe ngẫm nghĩ một lúc rồi nhún vai. Bogert ranh mãnh nhìn Ashe, lối nhìn của một khoa học gia ở tuổi năm mươi hiểu đời:
– Có thể cô nàng đang yêu.
Một lần nữa, Ashe nhắm kín đôi mắt:
– Khùng điên, Bogert! Đi mà hỏi chuyện với Herbie. Tôi muốn ở đây đánh một giấc.
– Nói y như thiệt! Tôi không chỉ không ưa thằng robot chỉ bảo cho việc phải làm, mà càng không tin là nó có khả năng chỉ bảo tôi!
Chỉ có tiếng ngáy đều đều đáp lời nhà khoa học.
Herbie chăm chú lắng nghe trong khi Peter Bogert, tay thọc vào túi quần, nói với vẻ thờ ơ đầy dụng ý:
– Chú mày đây rồi! Tôi nghe nói chú mày rành các việc này và tôi đang rất tò mò muốn hỏi chú mày. Tôi nhìn nhận rằng phương pháp lý luận của tôi, như tôi phát họa, có dính dáng vài bước đáng ngờ, là điều mà tiến sĩ Lanning không chấp nhận. Thành ra cái giải pháp vẫn còn chưa trọn vẹn.
Thằng người máy không nói gì và Bogert nhắc nhở:
– Sao?
Herbie nghiên cứu những con số viết nguệch ngoạc:
– Tôi không thấy sai sót gì.
– Tôi không nghĩ là chú mày có thể đi xa hơn những con số đó?
– Tôi không dám thử. Ông giỏi toán hơn tôi. Tôi ghét tự mình phơi bày cái dỡ của mình.
Một chút tự mãn hiện lên nụ cười của Bogert:
– Tôi nghĩ tình huống có thể là vậy. Nó còn sâu xa hơn nữa. Chúng ta hãy quên nó đi.
Ông vò nát tờ giấy, ném vào sọt rác, xoay người định rời phòng, rồi nghĩ sao ông đổi ý:
– Nhân tiện…
Thằng người máy chờ đợi. Bogert có vẻ như gặp khó khăn:
– Có một việc mà có lẽ chú mày có thể…
Ông ngừng lời. Herbie bình thản lên tiếng:
– Ý tưởng của ông đang rối rắm nhưng không chút nghi ngờ rằng tựu trung đều liên quan đến tiến sĩ Lanning. Thật là vớ vẩn nếu cứ ngần ngừ. Ngay khi ông bình tâm, tôi sẽ biết được ông muốn hỏi việc gì.
Bàn tay của nhà toán học lướt trên mái tóc bóng mượt bằng một động tác nhuần nhuyễn. Ông nói, làm như lời nói đó đã giải thích mọi chuyện:
– Ông Lanning có đến bảy mươi tuổi rồi!
– Tôi biết!
– Và ông cũng đã làm giám đốc cơ xưởng gần tròn ba mươi năm.
Herbie gục gặc đầu. Giọng nói Bogert trở nên đầm ấm:
– Vậy liệu chú mày có biết… có biết ông ấy đang nghĩ đến việc từ nhiệm? Có thể vì lý do sức khỏe hay lý do nào khác?
Herbie đáp gọn lỏn:
– Đúng!
– Nghĩa là chú mày biết?
– Tất nhiên.
– Vậy thì, nói tôi nghe?
Giọng thằng người máy hoàn toàn dửng dưng:
– Vì ông hỏi đấy nhé. Đúng, ông ấy đã xin về hưu!
– Cái gì?
Tiếng kêu vang lên rồi nghẹn lại. Nhà khoa học chòm đầu về phía trước:
– Nói lại lần nữa xem!
Giọng đều đều lặp lại:
– Ông ấy đã xin về hưu, nhưng chưa có hiệu lực. Như ông biết, ông ấy đang chờ giải quyết cho xong vụ rắc rối của chính…tôi ấy mà! Xong vụ này, ông ấy sẵn sàng bàn giao văn phòng giám đốc cho người kế vị.
Bogert phà mạnh hơi thở:
– Và người kế vị là ai vậy?
Cái đầu to lớn của Bogert đã rất gần thằng người máy, đôi mắt mê mẩn dán chặt vào các ổ điện quang màu đỏ đục, vô hồn. Lời nói chầm chậm vang lên:
– Ông là vị giám đốc kế nhiệm.
Và Bogert thấy vô cùng thư thái, nở nụ cười toe toét:
– Rất vui biết tin này. Tôi đã bao ngày mong đợi. Cám ơn nhiều, Herbie.
***
Peter Bogert làm việc đến tận năm giờ sáng mới về nhà và trở lại sở lúc chín giờ. Dãy sách tham khảo và đồ biểu không còn nằm trên hàng kệ ngay trước bàn. Tất cả đã lần lượt được Bogert nhấc xuống tra cứu. Trước mặt ông, các trang giấy dầy đặc những con toán có nét nhỏ dần theo từng hàng và dưới chân, những tờ nhàu nát, nguệch ngoạc chất cao thành núi.
Vào đúng ngọ, ông ngắm nghía trang cuối cùng, xoa đôi mắt có những tia máu đỏ, mở miệng ngáp và nhún vai:
– Càng lúc càng tệ, tiên sư nó!
Ông quay lại khi nghe tiếng cửa mở và gật đầu chào Lanning đang bước vào, hai bàn tay gầy gò bẻ răng rắc các đốt xương.
Vị giám đốc ghi nhận ngay tình trạng vô trật tự của căn phòng và đôi lông mày nhíu lại:
– Có manh mối gì không?
Một giọng trả lời đầy thách thức:
– Không! Mà có sự sai lầm gì trong các con toán trước đây vậy?
Lanning không buồn trả lời, cũng không có hành động nào khác hơn là liếc vào tờ giấy trên cùng ở bàn của Bogert. Ông nói qua ánh lửa của que diêm khi châm điếu xì gà:
– Calvin có nói với anh về thằng robot? Nó là một thiên tài toán học đấy. Quả là khác thường!
Bogert buông tiếng xì lớn:
– Tôi có nghe. Tuy nhiên tốt hơn hết là Calvin chỉ nên gắn bó với cái chuyên môn tâm lý về người máy của mình. Tôi đã kiểm nghiệm Herbie về toán và chắc chắn là nó không thể vật lộn với các phép tính vi-tích phân!
– Calvin không cho là vậy!
– Nàng ta ba trợn!
Đôi mắt của vị giám đốc híp lại một cách nguy hiểm:
– Tôi cũng không cho là vậy!
Giọng cứng cỏi của Bogert:
– Ông cũng không ư! Ông nói cái gì vậy?
– Suốt buổi sáng tôi đã đặt Herbie vào cuộc xét nghiệm và nó có thể làm nhiều trò mà anh chưa từng được nghe.
– Thật vậy sao?
Lanning rút nhanh tờ giấy từ túi áo vét và mở banh ra:
– Đây không phải là nét chữ của tôi, đúng không?
Bogert xem xét các ký hiệu lớn đầy góc cạnh trên khắp trang giấy:
– Herbie viết những thứ này?
– Đúng! Và nếu anh để ý, trong thời gian anh về nhà nghĩ, nó đã làm tiếp bài toán tích phân về thời gian của Phương Trình 22. Nó đã đạt đến…
Lanning gõ gõ ngón tay vàng khói thuốc vào phần cuối bài toán:
– Nó đã đạt đến cùng kết quả tính toán của tôi nhưng chỉ mất một phần tư thời giờ! Anh không có quyền bỏ quên hiệu ứng Linger khi bắn phá dương điện tử.
– Tôi đã không bỏ quên hiệu ứng đó. Trời ơi! Ông Lanning, hãy nhớ rằng hiệu ứng đó sẽ cân bằng…
– Ồ, chắc chắn rồi, anh đã giải thích điều đó. Anh đã sử dụng phương trình chuyển dịch Mitchell, có phải không? Thế thì…nó không áp dụng.
– Tại sao không?
– Bởi vì anh đã dùng quá nhiều các số ảo, đó là một việc…
– Dùng nhiều số ảo thì có dính dáng gì?
– Phương trình của Mitchell sẽ không hiệu lực khi…
– Ông điên chắc? Nếu ông đọc lại bản gốc của Mitchell trong quyển Kỷ Yếu Viễn…
– Tôi chả cần đọc. Tôi đã bảo anh ngay từ đầu rằng tôi không thích lý luận của Mitchell và Herbie đã làm hậu thuẫn cho tôi trong vấn đề này.
Bogert hét to:
– Vậy thì hãy để cái thằng người máy quỷ quái ấy giải quyết toàn bộ vấn đề cho ông. Cần gì làm rộn tôi với những việc vặt vãnh?
– Đúng y chang! Herbie đã không giải được vấn đề. Và nếu nó không thể, tự chúng ta cũng không thể! Tôi đang đệ trình toàn bộ nan đề lên Hội Đồng Quốc Gia. Nó đã vượt ngoài tầm tay của chúng ta.
Chiếc ghế của Bogert chạy vụt lui khi ông nhảy dựng, gầm gừ, đỏ mặt tía tai:
– Ông không thể làm ăn kiểu đó.
Lanning cũng đỏ mặt không kém:
– Anh dám bảo tôi điều tôi không thể làm à?
Bogert nghiến răng:
– Đúng! Tôi đã quá vất vả vì vụ việc này, ông không được lấy nó khỏi tay tôi, ông hiểu chứ? Đừng nghĩ rằng tôi không thấy rõ con người thật của ông, hỡi ông già hủ lậu, hết xí quách! Ông ghét bỏ tôi, muốn xóa bỏ hết, không để tôi có được uy tín do việc giải quyết tốt đẹp vụ thần giao cách cảm nầy!
Môi Lanning run lên vì tức giận bùng phát:
– Anh ngu quá là ngu Bogert ạ! Và tôi cất chức anh vì tội không tuân lệnh thượng cấp.
– Đó là điều mà ông sẽ không thực hiện được, ông Lanning ạ. Ông đâu còn giữ được điều gì bí mật với thằng người máy kề cận. Cho nên đừng quên rằng tôi quá biết việc ông từ chức.
Đoạn tro ở đầu điếu xi gà run lên và rơi xuống. Và điếu xi gà cũng rơi theo:
– Cái gì… Cái gì…
Bogert khúc khích cười một cách đểu cáng:
– Và tôi là vị giám đốc mới, xin hiểu biết cho. Tôi thừa biết việc này, đừng cho là tôi không biết. Hãy dương cặp mắt ra nhìn Lanning. Tôi sẽ ban hành mệnh lệnh về mọi việc ở đây và sẽ có một toán làm việc vui vẻ hữu hiệu mà ông chưa từng gia nhập.
Lanning tằng hắng lấy giọng rồi gầm lên:
– Anh đã bị sa thải, anh nghe không? Anh đã bị tước bỏ mọi nhiệm vụ. Anh tiêu tùng rồi, anh hiểu chứ hả?
Nụ cười hoang hoác trên môi người đối nhiệm:
– Giờ đây ông nói có ích gì? Sẽ chẳng đi đến đâu. Tôi đang nắm con bài chủ. Tôi biết ông đã từ chức. Herbie tiết lộ với tôi và nó lấy tin đó thẳng từ ông.
Lanning thấy mình cần dịu giọng lại. Ông trông già nua, với đôi mắt mệt mõi. Khuôn mặt đã biến mất nét hồng hào, nhường lại vẻ xanh xao vàng vọt của năm tháng chất chồng:
– Tôi muốn nói chuyện với Herbie. Nó không thể nào đã nói với anh một chuyện như thế. Anh đã chơi trò tháu cáy, Bogert, anh đúng là tên bịp. Hãy đi với tôi.
Bogert nhún vai:
– Đi gặp Herbie à? Tốt! Quá tốt là khác!
***
Cũng đúng vào trưa hôm đó, Milton Ashe rời mắt khỏi bản phát thảo vụng về, ngẩn lên nói:
– Cô hình dung được chứ? Tôi vẻ rất dở nhưng cũng ráng phát họa cho cô thấy nó ra làm sao. Đó là căn nhà thật tuyệt và tôi có thể mua với giá rẻ.
Susan đăm đăm nhìn Milton với ánh mắt thương cảm rồi bỗng thở dài:
– Căn nhà thật đẹp. Tôi thường nghĩ rằng tôi thích….
Giọng nàng ngập ngừng, chợt im bặt. Ashe bỏ cây bút chì qua một bên, giòn giã tiếp:
– Dĩ nhiên, tôi phải chờ đến dịp nghỉ phép. Chỉ còn hai tuần nữa thôi, thế rồi vì chuyện thằng Herbie mà mọi sự dở dang.
Milton nhìn xuống mấy ngón tay, tiếp lời:
– Ngoài ra, còn một điều nữa, một điều bí mật!
– Thế thì đừng nói.
Ashe nhe răng cười ngượng nghịu:
– Than ôi, tôi lại muốn nói. Tôi cứ muốn thổ lộ cùng một ai đó và cô đúng là người đáng tin cậy nhất ở sở này.
Tim Susan đập mạnh nhưng không đủ sức lên tiếng . Ashe kéo ghế gần hơn và hạ thấp giọng thành tiếng thì thầm cẩn mật:
– Thành thật mà nói căn nhà không phải chỉ dành cho một mình tôi. Tôi sắp cưới vợ!
Vừa dứt lời, anh chàng nhảy vụt khỏi ghế:
– Cô có sao không vậy?
Cảm giác choáng váng tan nhanh, cô nàng nghẹn lời:
– Không sao. Anh nói anh cưới vợ? Ý anh là…
– Đúng rồi! Cũng đã đến lúc, phải không? Cô còn nhớ cô gái đến đây thăm tôi vào hè năm ngoái? Chính nàng. Nhưng… hình như cô bị bệnh! Trông cô…
Calvin xua tay yếu ớt:
– Tôi bị nhức đầu! Gần đây tôi cứ bị nhức đầu luôn. Tôi muốn, muốn chúc mừng anh, dĩ nhiên là phải thế. Tôi rất vui…
Đốm phấn hồng tô vụng về tạo thành hai vệt đỏ trên khuôn mặt trắng phết. Đầu óc nàng lại quay cuồng:
– Xin anh tha lỗi…
Calvin lí nhí khi lảo đảo bước ra cửa như người đui mù. Sự việc đã xảy với đại họa bất thường của mộng đẹp, với ảo tưởng kinh hoàng của giấc mơ. Nhưng làm sao có thể như thế được? Herbie đã nói…Và Herbie đã biết! Nó đọc được ý nghĩ kia mà!
***
Nàng thấy mình đứng tựa thành cửa, không còn chút hơi thở nào, nhìn chòng chọc bộ mặt bằng sắt của Herbie. Calvin hẳn đã phải trèo suốt hai dãy thang lầu nhưng nàng đã không nhớ chút gì về việc này. Cái khoảng xa đã được che mờ trong một khoảnh khắc, như một giấc mơ.
Như trong một giấc mơ! Đôi mắt không chớp của thằng Herbie đang đứng im lìm hướng thẳng vào mắt nàng và màu đỏ đục của chúng chừng như làm nở phồng hai quả cầu lù mù trông ghê rợn.
Nó đang nói và nàng cảm thấy như có ly nước lạnh ấn lên môi nàng. Nàng nuốt nước bọt và rùng mình tỉnh thức, về với thực tại.
Herbie vẫn còn nói, giọng nói run run chừng như nó đang đau đớn, sợ hãi và van xin. Lời lẽ đã bắt đầu mang ý nghĩa. Nó nói:
– Đây chỉ là giấc mơ. Và bác sĩ nhất định không được tin vào giấc mơ. Bác sĩ sẽ bừng tỉnh và sẽ tự cười nhạo mình. Tôi nói ông ấy yêu bác sĩ. Ông ấy có yêu bác sĩ, có thực sự yêu nhưng không phải ở đây, không phải lúc này. Đó chỉ là một ảo mộng.
Susan Calvin gật đầu, chộp lấy cánh tay Herbie, bám chặt lấy nó, giọng thì thào lặp đi lặp lại:
– Đúng! Đúng! Nó không có thực, phải không? Nó không có thực, phải không?
Nàng không rõ bằng cách nào mình sực tỉnh nhưng nó tương tự như đang từ một thế giới mờ ảo chuyển sang một vùng ánh sáng chói chang! Nàng xô thằng người máy cho xa khỏi nàng, đẩy mạnh cánh tay sắt thép, mắt nàng mở lớn. Giọng nàng cất cao, cao vút:
– Chú mày muốn gì? Chú mày muốn gì hả?
Herbie lùi lại thật xa:
– Tôi muốn giúp.
Nhà tâm lý học nhìn trừng trừng:
– Giúp? Giúp bằng cách nói rằng đây chỉ là giấc mơ? Bằng cách cố đẩy tôi thành người loạn trí?
Cơn kích động xâm chiếm lấy nàng. Nàng la như cuồng dại:
– Việc này không mộng mơ gì hết. Tôi ao ước nó có thực.
Nàng hít một hơi thật mạnh:
– Xem nào! Tại sao…Tại sao… Tôi hiểu ra rồi! Cám ơn Thượng Đế, rõ ràng quá mà!
Thằng người máy nói bằng giọng kinh hoàng:
– Tôi phải nói thế!
– Và tôi lại tin chú mày! Tôi đã không hề nghĩ tới…
Có tiếng nói vang vang ngoài cửa làm ý nghĩ nàng đứt đoạn. Susan quay đi, bàn tay lúc nắm lúc mở, và khi Bogert cùng Lanning bước vào thì nàng đã đến tận cánh cửa sổ phía xa. Chẳng người nào mảy may để ý tới nàng.
Họ cùng lúc tiến đến Herbie; Lanning giận dữ và nóng nảy, Bogert khinh khỉnh lạnh lùng. Ông giám đốc lên tiếng trước:
– Bây giờ, Herbie, hãy lắng nghe tôi nói.
Đôi mắt Herbie đảo xuống nhìn người giám đốc già nua:
– Vâng, thưa tiến sĩ Lanning.
– Chú mày có luận bàn với tiến sĩ Bogert về tôi, phải không?
Câu trả lời phát lên thư thả:
– Dạ thưa không.
Nụ cười trên khuôn mặt Bogert vụt tắt. Bogert sấn lên trước vị giám đốc và đứng dạng chân trước thằng người máy:
– Gì thế hả? Hãy lặp lại đúng những lời chú mày nói với tao hôm qua.
– Tôi có nói rằng…
Herbie chợt nín bặt. Tận bên trong thân thể của nó, lớp cơ hoành xung động đưa ra những tiếng khua nho nhỏ, không đều.
Bogert gầm lên:
– Chú mày đã chẳng nói là ông ấy từ nhiệm là gì? Trả lời tao đi!
Bogert vung cánh tay một cách điên dại nhưng Lanning đẩy ông ta qua một bên:
– Anh định cố ép nó nói láo hả?
– Ông nghe mà, ông Lanning! Nó bắt đầu bằng từ “có” rồi không chịu nói thêm. Ông tránh ra. Tôi muốn nó nói lên sự thật, ông hiểu chứ?
– Để tôi hỏi nó.
Lanning hướng về thằng robot:
– Nè, Herbie! Cứ trả lời thoải mái! Có phải tôi đã từ chức?
Một cử động yếu ớt như là cái lắc đầu của robot. Hai người chờ khá lâu nhưng không có thêm dấu hiệu nào khác. Họ nhìn nhau và sự thù địch phát từ ánh mắt của họ trông thật lộ liễu. Bogert sửng cồ:
– Thật quái đản! Thằng robot bỗng phát câm! Mày không nói được nữa ư, thằng quỷ sứ?
Lời đáp như đã chuẩn bị sẵn:
– Tôi nói được chứ!
– Thì trả lời đi. Chú mày đã chẳng nói với tao là ông Lanning đã từ chức? Bộ ông ấy chưa từ chức sao?
Một lần nữa chỉ có sự lặng thinh buồn nản cho đến lúc, từ cuối phòng, tiếng cười của Susan bất thình lình vang lên cao vút gần như khùng điên. Hai nhà toán học nhảy dựng, đôi mắt Bogert nhíu lại:
– Cô cũng có mặt ở đây à? Cái gì mà xem ra vui thú quá vậy?
Nàng đáp bằng giọng không mấy tự nhiên:
– Có gì vui thú đâu! Chỉ cái điều tôi không phải là nhân vật duy nhất bị mắc lỡm. Thêm một điều mỉa mai -quả là mai mỉa- là có đến ba chuyên viên lỗi lạc của thế giới về robot lại bị sập chung một cái bẩy sơ đẳng nhất.
Giọng nàng lẩm bẩm, lắng dần, và đôi bàn tay xanh xao đặt lên trán:
– Có gì vui thú đâu!
Hai người đàn ông nhìn nhau. Lanning cất giọng một cách khó khăn:
– Có gì không ổn ở Herbie hả?
Susan chầm chậm bước lại gần họ:
– Không, không có gì không ổn ở Herbie hết. Chỉ chúng ta là không ổn thôi!
Bất thình lình nàng xoay người và hét vào thằng người máy:
– Cút đi! Lại góc đàng kia và đừng để tao nhìn thấy chú mày.
Herbie lùi lại trước các tia nẩy lửa từ đôi mắt Calvin và loạng choạng chạy xa bằng từng bước khua lách cách.
Giọng Lanning còn mang âm hưởng ghét bỏ:
– Đầu đuôi sự việc ra sao, bác sĩ Calvin?
Nàng nhìn thẳng vào mặt họ, giọng cay đắng:
– Chắc quý vị còn nhớ Điều luật Căn bản đầu tiên về việc chế tạo Người Máy.
Hai người gật đầu. Bogert cáu kỉnh:
– Tất nhiên là phải nhớ! “Một người máy không được gây tổn thương con người, cũng không được bất hoạt khiến con người bị thương tổn.”
Susan cười nhạo:
– Câu nói hay nhỉ? Nhưng mà tổn thương gì mới được?
– Đủ thứ tổn thương.
– Rất đúng! Bất cứ thứ tổn thương nào! Như cảm giác đau đớn, hạ nhục cá nhân, tan tành hy vọng, những thứ đó hẳn đều là tổn thương?
Lanning cau mày:
– Thằng robot có biết gì về…
Ông chợt hiểu ra và thở chừng như muốn hụt hơi!
– Ông nắm bắt được rồi phải không? Thằng robot này đọc được tư tưởng. Ông có cho rằng nó không biết gì về các tổn thương tinh thần? Ông có cho rằng nếu có người đặt cho nó một câu hỏi, nó sẽ không trả lời đúng cái ý mà người hỏi muốn nghe? Nó không biết câu trả lời không làm tổn thương người hỏi?
Bogert kêu lên:
– Thánh thần ơi!
Nhà tâm lý học ném tia nhìn diễu cợt về phía ông này:
– Tôi đoán ông hỏi nó có phải Lanning đã từ chức? Ông muốn được nghe đáp rằng ông ấy đã từ chức. Vậy là Herbie nói theo ý ông.
Lanning nói bằng giọng nhạt nhẽo:
– Cứ cho đó là lý do khiến vài phút trước nó không trả lời được. Nó không thể trả lời người này mà không làm tổn thương người kia.
Cả ba cùng im lặng, trầm ngâm nhìn thằng robot ở cuối căn phòng. Nó thu người vào chiếc ghế cạnh giá sách, đầu gục vào cánh tay. Susan dán mắt lên sàn nhà:
– Nó biết hết chuyện này. Thằng quỷ quái biết mọi thứ, kể cả việc sai sót trong cách lắp ráp nó.
Mắt nàng trở nên đen tối và tư lự. Lanning ngẩn lên:
– Điểm này thì cô trật rồi, bác sĩ Calvin. Nó không biết cái gì sai với nó. Tôi đã hỏi nó.
Calvin cao giọng:
– Câu trả lời của nó hàm chứa cái ý gì? Cái ý là ông không muốn nó cung cấp cho ông giải pháp. Trả lời biết, nó sẽ làm tổn thương cái tôi của ông vì một người máy làm được cái việc mà chính ông không thể làm.
Nàng hướng mắt về Bogert:
– Còn ông, ông có hỏi nó gì không?
Bogert tằng hắng, mặt đỏ nhừ:
– Theo một nghĩa nào đó thì có. Nó nói với tôi là nó biết đôi chút về toán học.
Lanning bật cười dòn và nhà tâm lý học mím môi chế nhạo. Nàng nói:
– Tôi sẽ hỏi nó. Lời giải đáp từ nó sẽ không tổn thương cá nhân tôi.
Nàng cất cao giọng, lạnh lùng ra lệnh:
– Đến đây ngay!
Herbie đứng thẳng, tiến về phía nàng bằng những bước ngại ngùng. Nàng nói:
– Tôi cho là chú mày biết, biết một cách chính xác, ở vào một thời điểm nào đó trong tiến trình lắp ráp, có một phần tử bất thường đã được dẫn nhập hoặc một phần tử thiết yếu đã bị bỏ qua.
Herbie đáp bằng giọng khó nghe:
– Thưa đúng!
Bogert cắt ngang, giận dữ:
– Khoan đã. Điều này không nhất thiết là sự thật. Các người muốn được nghe như thế. Và nó trả lời theo ý các người!
Calvin đáp lời:
– Đừng khùng điên! Tất nhiên là nó hiểu biết toán học nhiều bằng cả hai ông cộng lại vì nó có thể đọc được tư tưởng của hai ông. Hãy cho nó một cơ hội.
Cơn giận của Bogert dịu xuống và Calvin nói tiếp:
– Nói được rồi, Herbie. Chúng tôi đang chờ.
Nàng quay sang nói riêng với hai nhà toán học:
– Xin quý vị sẵn sàng giấy bút.
Nhưng Herbie vẫn im lặng. Giọng nói đầy vẻ đắc thắng của nhà tâm lý học vang lên:
– Tại sao chú mày không trả lời, Herbie?
Herbie mau mắn buột mồm:
– Tôi không trả lời được. Cô thừa biết là tôi không trả lời được. Tiến sĩ Bogert và tiến sĩ Lanning đều không muốn tôi trả lời.
– Họ đều muốn có giải pháp.
– Nhưng không phải từ nơi tôi.
Lanning xen vào, nói chầm chậm, rõ ràng từng tiếng:
– Đừng nói điên, Herbie. Chúng tôi đều muốn chú mày nói ra.
Bogert cộc lốc gật đầu. Herbie la lối:
– Nói ra thì có ích gì? Chẳng phải quý vị cho rằng tôi chỉ có thể nhìn thấu lớp ngoài tâm tưởng? Còn sâu hơn, quý vị lại không muốn tôi xuyên suốt. Tôi chỉ là một cái máy, được tạo ra theo phương thức bắt chước đời sống nhờ vào ưu điểm của các dương điện tác động qua lại trong bộ óc, một thiết bị do con người sáng tạo. Quý vị không thể bị mất mặt với tôi mà không bị tổn thương. Đó là điều đã in hằn trong tâm não của quý vị và sẽ không xóa bỏ đi được. Tôi không thể cho quý vị cái giải pháp.
Tiến sĩ Lanning lên tiếng:
– Hai chúng tôi sẽ rời khỏi phòng. Hãy nói cho Calvin biết.
Herbie kêu to:
– Có khác gì đâu! Rồi nhị vị cũng sẽ biết và tôi vẫn là thằng người máy đưa ra giải pháp.
Nhà tâm lý học Calvin lại lên tiếng:
– Nhưng, chú mày thừa hiểu mà, Herbie. Bất kể thế nào, tiến sĩ Lanning và tiến sĩ Bogert đều muốn có giải đáp đó.
Herbie cương quyết:
– Chính họ phải tự tìm lấy.
– Nhưng họ muốn có giải đáp, và sự thật là chú mày đang có nó. Việc chú mày nhất định không đưa cho họ sẽ làm tổn thương họ. Chú mày có thấy điều đó không?
– Có! Có!
– Còn nếu chú mày đưa giải đáp cho họ, thì việc này cũng lại làm họ bị tổn thương.
– Phải! Phải!
Herbie chầm chậm thục lùi theo từng bước tiến của Susan. Hai người đàn ông bàng hoàng nhìn cảnh tượng trước mắt.
Giọng nói của nhà tâm lý học chầm chậm, đều đều:
– Chú mày không thể nói cho họ biết vì nói sẽ làm họ tổn thương, và chú mày không được phép làm họ tổn thương. Nhưng nếu chú mày không nói cho họ, chú mày lại cũng làm họ tổn thương, vì vậy chú mày phải nói. Và nếu chú mày nói, chú mày sẽ làm họ tổn thương, là điều chú mày không được phép làm, nên chú mày không thể nói; nhưng nếu chú mày không nói, chú mày lại làm họ tổn thương, vì vậy chú mày phải nói; nhưng nếu chú mày nói, chú mày làm họ tổn thương nên chú mày không thể nói; nhưng nếu chú mày không nói chú mày lại làm họ tổn thương, vì vậy chú mày phải nói; nhưng nếu chú mày phải nói, chú mày….
Herbie bị dồn đến chân tường và tại đó, hai chân nó quỵ xuống. Nó hét lên:
– Đủ rồi! Xin đóng cái ý tưởng của bác sĩ lại! Nó chứa đầy những đớn đau, tuyệt vọng và thù ghét. Cho tôi xin nói, tôi đâu có ý như vậy. Tôi cố giúp cô mà. Tôi đã nói điều cô muốn nghe và tôi phải làm đúng như thế.
Nhà tâm lý học không quan tâm những lời phân trần của thằng người máy, nàng tiếp tục:
– Chú mày phải nói, nhưng nếu nói, chú mày họ làm tổn thương nên không thể nói; nhưng nếu không nói, chú mày làm họ tổn thương nên phải nói; nhưng…
Và Herbie thét lên! Tiếng thét giống của tiếng tiêu có âm độ cao nhất được nhân thêm nhiều lần, càng lúc càng thêm chói lói cho đến lúc nó biến thành tiếng rên la ghê rợn của người sắp trút linh hồn khiến cho căn phòng tràn ngập âm thanh đinh tai điếc óc.
Và khi tiếng thét tắt nghẽn vào cõi hư vô, Herbie sụp xuống thành một đống sắt hỗn độn, không còn động đậy.
Khuôn mặt Bogert không còn chút máu:
– Nó chết rồi!
Susan Calvin bật lên một tràng cười rũ rượi đến man dại:
– Chưa! Chưa chết đâu! Chỉ mới mất trí thôi! Tôi buộc nó phải đương đầu với một nan đề, một thế tiến thoái lưỡng nan và nó sụm! Ông có thể vứt nó ngay bây giờ vì nó chẳng bao giờ còn nói gì được nữa!
Lanning quỳ xuống bên cái vật từng được gọi là Herbie. Những ngón tay của ông sờ lên bộ mặt bằng kim loại vô tri lạnh ngắt và cảm thấy rùng mình.
Ông đứng lên, mặt nhăn nhúm:
– Cô cố tình làm thế!
– Nếu tôi cố tình thì sao? Giờ đây ông cũng chẳng đừng được.
Nàng buột thêm lời cay nghiệt:
– Đáng đời cho nó!
Vị giám đốc nắm lấy cườm tay của Bogert đang đứng tê liệt, bất động. Ông thở dài:
– Thì cũng thế thôi! Mình đi đi, Peter. Dẫu sao, một thằng người máy biết suy nghĩ loại này, xét cho cùng chẳng lợi ích gì!
Đôi mắt Lanning lộ rõ nét già nua, mõi mệt. Ông lập lại:
– Đi thôi, Peter!
***
Phải cần nhiều phút sau khi hai nhà khoa học rời phòng tâm trí bác sĩ Susan Calvin mới trở lại trạng thái quân bình. Hai mắt nàng từ từ hướng về robot Herbie đang sống dở chết dở và nét đanh đá lại hiện lên mặt nàng. Nhà tâm lý chăm chăm nhìn nó, rất lâu, trong lúc vẻ đắc thắng lụi tàn dần. Và nỗi tuyệt vọng đua nhau kéo về. Thế rồi giữa bao ý tưởng cuồng quay, chỉ một lời vô vàn đắng cay lướt qua môi nàng:
– Đồ nói láo!
Advertisements

Truyện 30/4: Núi Vẫn Xanh

Núi vẫn xanh 

    Núi Vẫn Xanh là tên một tập truyện của nhà văn Hà-Kỳ-Lam, trong đó tác-giả thuật lại chuyện một sĩ-quan Mũ Xanh, chỉ-huy một toán thám-sát bị địch-quân bao-vây. Sau khi chống-cự kịch-liệt, bị quân địch tràn ngập với quân-số gấp trăm lần quân mình, nghĩ không thể thoát được, ông gọi máy bay dội bom ngay trên đầu mình…Hai bên đều tan-nát. May-mắn bất ngờ, ông và một đệ-tử sống-sót. Sau nhiều ngày đêm vượt núi rừng về gần tới trại thì được dân chúng cho biết tin tan hàng, cờ địch đã treo trước trại. Ông sững-sờ nghĩ đến sự hy-sinh vô-ích của mình cùng các bạn đồng-ngũ.

     Người chiến-sĩ Mũ Xanh quay nhìn lại núi rừng, nơi còn nguyên thân-xác các bạn đồng-đội. Ông không đang tâm trở lại thị-thành một mình. Tất cả đều đã thay đổi, nhưng lòng ông không thể đổi thay . Ông lặng-lẽ trở lại núi rừng, nơi đất-nước đồng-đội Ông còn nằm lại. Chỉ ở nơi đó, Ông thấy không có gì thay đổi, Núi Vẫn Xanh như thuở nào.

    Bài thơ dưới đây cảm-tác sau khi đọc xong đoạn kết tuyệt-vời câu chuyện kể trên. Bài thơ để tặng nhũng chiến-sĩ vô-danh đã nằm xuống cho xanh núi rừng, và riêng tặng tác-giả tập truyện, nhà văn Hà-Kỳ-Lam.”

 Núi Vẫn Xanh 

Đất nước ta : đất nước hữu-tình,

Lịch-sử bao phen đã chuyển mình,

Lòng người thay đổi theo hồn nước

Núi vẫn muôn đời núi vẫn xanh.

Nước vẫn chảy xuôi, nước một dòng,

Lòng người chung-thuỷ một con sông.

Nào ai yêu nước ai bán nước,

Ai đẩy-đưa ai đến khốn cùng ?!

Núi vẫn xanh. . .và gã chiến-binh

Giờ tàn cuộc chiến đứng chênh-vênh,

Bạn-bè quân-ngũ ai còn mất ?

Ta kẻ lạc-loài, núi vẫn xanh.

Ta biết về đâu ? Hỡi Lạc-Hồng !

Hỡi dòng máu nóng giống Tiên-Long !

Từ đây ta hóa vào sông-núi,

Núi vẫn xanh hoài, suối vẫn trong. . .

Nguyễn Tường Vân

Nghe đọc truyện (click):

Núi Vẫn Xanh

CẢ BỐN TAY súng của toán thám sát Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bố trí lưng chừng đồi theo hình cánh cung để bảo vệ người toán trưởng và hiệu thính viên đằng sau lưng họ trên đỉnh đồi từ nãy giờ đang hướng mặt về phía đối diện để quan sát đám người lố nhố dưới kia, trong thung lũng trãi dài hai bên con suối ngoằn ngoèo như con rắn bạc lấp lánh dưới ánh nắng ban trưa chói chan của một ngày đẹp trời tháng tư. Hết quan sát những người xê dịch dưới thung lũng lại cúi nhìn đồng hồ, người trưởng toán có vẻ nôn nóng.

– Ít nhất là một tiểu đoàn. Có thể là K 25B công binh như tin tình báo cho hay. Mẹ kiếp, máy bay lên chậm thế này để chúng di chuyển hết thì hoài công.

– Không sao đâu, ông thầy. Bọn nầy có vẻ còn ở đây lâu đấy, vì nhiều tên còn đang tắm, thậm chí giặt giũ nữa kia.

Bỗng hiệu thính viên Thịnh đưa ống liên hợp cho thiếu úy Tuấn:

– Thằng L 19 đang lên vùng và cần gặp ông thầy.

Tuấn bóp chặt ống liên hợp, đưa lên miệng:

– Họa Mi đây Thạch Ðộ, trả lời.

Giọng miền Nam của viên phi công vang lên trong ống nghe:

– Thạch Ðộ đây Họa Mi, bạn điều chỉnh hướng bay khi bắt đầu thấy tôi để xác định vị trí bạn, trả lời.

– Họa Mi đây Thạch Ðộ. Tình thế khẩn cấp lắm, tôi sẽ nháy mắt để anh có thể thấy tôi nhanh hơn, trả lời.

– Tôi nhận bạn năm trên năm, và trực máy.

Tuấn đưa tay vẫy Tâm, một toán viên dưới lưng chừng đồi đang ngoái đầu nhìn lên anh. Khi người lính vừa bò đến gần Tuấn khẻ ra lệnh:

– Mày ra chỗ lúc nãy chờ, khi thấy thằng L 19 thì chiếu kiếng cho nó thấy mình.

Lần hành quân nào cũng vậy, Tuấn chỉ giao công tác chỉ điểm này cho Tâm. Không hẳn vì anh chàng làm công việc này giỏi hơn các toán viên khác – Tuấn có bao giờ sát hạch môn này cho cả toán đâu mà chấm điểm được – nhưng tình cờ một lần giao công việc này cho anh lính và thấy được việc nên Tuấn chẳng muốn “thay đổi nhân sự”.

Gài khẩu M 16 vào khoen leo núi móc gần vai bên phải, Tâm bò về phía mõm đồi cỏ tranh cách xa bên trái của Tuấn khoảng một trăm thước. Lúc mọi người vừa thoáng thấy chiếc máy bay quan sát màu trắng ở nẽo xa thì Tâm cũng vừa quỳ tại bải cỏ tranh ngập nắng, rút từ túi áo trên cái kiếng hình chữ nhật chỉ hơi lớn hơn chiếc hộp quẹt Zippo và nâng lên ngang mắt, nhìn từ phía sau kiếng qua lổ nhắm ở trung tâm kiếng để hướng cái chấm đỏ của tia mặt trời nằm thẳng hàng với phi cơ đang bay. Ðoạn anh ta khẻ lắc nhẹ để tạo sự nhấp nháy. Bỗng một tràng tiếng nổ dòn vang lên, cùng lúc Tâm bật ngữa ra sau rồi nằm bất động. Cả toán biết điều không lành đã đến với người đồng đội, ghìm súng ở tư thế đối đầu với mọi hướng. Thịnh nằm cạnh Tuấn khẻ nói:

– Ð.M. tụi nó ở đầy cả rừng rồi!

Tuấn chưa kịp đáp lời người lính mang máy truyền tin thì những quả đạn sơn pháo 75 ly, đạn cối 82 ly, và những loạt AK 47 thi nhau đổ về phía toán đang bố trí trên đồi. Cành cây, đất đá bắn tung tóe vào thầy trò Tuấn. Không cần lệnh của người toán trưởng, mỗi toán viên nằm thủ tại chỗ. Họ biết trong tình thế loại này tháo chạy hoặc co cụm lại với nhau chỉ tổ lãnh thêm thiệt hại. Tuấn nhìn qua các toán viên và thấy tất cả còn “nguyên”. Thịnh trao ống liên hợp cho Tuấn:

– L 19 gọi.

Tuấn chụp máy :

– Họa Mi đây Thạch Ðộ.

– Ðây Họa Mi, tôi vẫn chưa thấy bạn nhưng thấy nhiều cột khói và nhiều lằn chớp dưới đó.

– Ðang bị ném đá. Tôi đang ở hướng ba giờ của anh.

Sau hai lần “bẻ góc” nữa, chiếc máy bay quan sát từ xa gióng chính hướng ngọn đồi lướt tới. Tuấn cho viên phi công biết đang bay đúng hướng và sẽ báo cho anh ta biết khi nào máy bay vừa ngang qua đỉnh đồi. Súng địch vẫn nổ dòn, mưa đạn vẫn tới tấp đổ về ngọn đồi, khiến công việc điều không của anh càng khó khăn. Nằm dài trên mặt đồi để tránh tầm đạn đi, bên chiếc máy truyền tin, tay cầm ống nói áp sát một bên tai, mắt vẫn ngước lên dõi theo chiếc L 19 trên không đang tiến gần vị trí mình, rồi ngay lúc nó vừa ở trên đầu, Tuấn bóp ống liên hợp, nói như reo:

– Họa Mi, anh đang ở ngay trên đầu tôi, trả lời!

– Thạch độ đây Họa Mi. Nhận bạn rõ năm. Rất tốt.

– Họa Mi đây Thạch Ðộ. Cứ trực máy, tôi sẽ có việc cho anh.

Tuấn vừa trao ống liên hợp cho Thịnh tiếp tục liên lạc với máy bay để bò gần về phía bìa rừng quan sát trãng cỏ tranh, thì thình lình tiếng súng im bặt. Mấy giây sau cả rừng vang tiếng thét “xung phong”. Rồi trước mặt Tuấn, từ hướng mõm đồi cỏ tranh nơi Tâm quì chỉ điểm cho phi cơ vừa rồi, và từ hướng trước mặt toán lố nhố người cứ ùn ùn tiến tới. Hóa ra đợt bắn phá vừa rồi là trò đánh phủ đầu để bộ binh tiến sát. Bóng dáng những bộ quân phục kaki màu lá cây, nón tai bèo cứ xông lên bất kể những tràng đạn M 16 đốn ngã từng đợt người. Khoảng một trung đội địch tiến hàng ngang đã lên tới đỉnh đồi, cách bọn anh không đến mười thước, với tiểu liên AK kẹp nách bắn xối xả. Một tên địch gần Tuấn hơn ria một tràng đạn về phía anh, nhưng, như một phép lạ, anh vô sự. Thịnh nhanh tay siết cò súng hạ hắn đo đất. Nhiều tràng M 16 đáp lễ ngăn được chốc lát sự “tiếp cận” kia. Lúc này hai chiếc A 37 cũng vừa xuất hiện và bay cao hơn chiếc L 19. Trung sĩ Hiến báo cáo hai sự kiện dồn dập: Châu bị nguyên một tràng đạn AK vào ngực, chết ngay trên đồi, và địch bây giờ tràn lên đông hơn. Tuấn ra lệnh cả toán rút xuống triền dốc về phía thung lũng. Anh biết thung lũng đang có một đơn vị lớn của địch. Anh chỉ muốn bỏ ngọn đồi, men theo triền dốc, rồi xin phi pháo đánh ngay trên đồi để toán tiện bôn tẩu. Nhưng di chuyển một đoạn ngắn thì nhiều tràng AK từ dưới chân đồi khạc đạn xối xả về phía bọn anh. Không xong. Tứ bề thọ địch. Chỉ vỏn vẹn bốn tay súng mà tử thủ với biển người hay liều mạng phá vòng vây trùng trùng của địch thì phỏng ích lợi gì? Tuấn bấm ống liên hợp:

– Họa Mi đây Thạch độ.

– Họa Mi nghe. Bạn cho biết cần gì?

– Anh cho đánh ngay trên đầu chúng tôi.

– Không được! Bạn xác nhận lại, đánh ở đâu?

– Tôi, thẩm quyền Thạch Ðộ nhắc lại đánh ngay trên đầu chúng tôi và bất cứ chỗ nào có người. Ðịch tràn ngập rồi, không chần chờ gì nữa. Ðánh ngay đi. Dứt!

Tuấn trả máy cho Thịnh trước vẻ mặt hốt hoảng của anh này. Không có thì giờ và cũng không cần giải thích về quyết định của mình với người lính truyền tin của toán, Tuấn nép sau một thân cây to để tránh các tràng tiểu liên AK từ dưới chân đồi vẫn không ngừng quạt lên. Trên đỉnh đồi bây giờ đã lố nhố người của đối phương. Bốn người thám sát Biệt Cách Dù chỉ còn biết tử thủ: Hiến và Sắc chĩa súng về hướng đỉnh đồi, còn Tuấn và Thịnh quay súng xuống chân đồi. Cả bốn tay súng chiến đấu trong một ô vuông mỗi cạnh khoảng mười thước. Họ bắn dè xẽn từng ba phát một nhưng rất hiệu quả, và nhờ vậy đã làm chậm bước tiến của địch. Trong khi đó chiếc L 19 vẫn chưa chịu thi hành điều Tuấn yêu cầu, cứ bay lòng vòng bên trên. Anh “thông cảm” cho người phi công, nhưng không khỏi tức giận vì cảnh dầu sôi lửa bỏng của mình. Anh ta phải xin lệnh từ Trung Tâm Không Trợ về điều yêu cầu “điên khùng” kia, và chắc đang chờ trả lời. Tuấn cũng lấy làm lạ lần này không có biệt đội trưởng hay một sĩ quan của Liên Ðoàn bay L 19 hay trực thăng C&C như mọi lần. Thình lình mọi người cùng nghe rõ âm thanh “chéo-éo-éo … đoành!”. Một cột khói trắng bốc cao và cuồn cuộn tỏa ra như một đám mây, vươn lên khỏi tàng cây rừng ngay đỉnh đồi mà toán thám sát vừa rời bỏ. Tuấn biết viên phi công quan sát vừa bắn một trái khói chỉ điểm mục tiêu oanh kích. Ðiều yêu cầu của anh đang được đáp ứng. Tuấn vẫn nếp sau thân cây. Rồi anh bỗng thấy hành động nấp sau thân cây rõ lẩm cẩm vì biết bom sẽ rơi hướng nào. Nhưng đành phó mặc cho may rũi, anh cứ ngồi bên gốc cây. Tuấn tưởng chừng như anh đang gồng mình lại, các bắp thịt toàn thân như rắn lại, chờ đợi sấm sét giết người từ trời cao … Chiếc oanh tạc cơ thứ nhất đâm bổ xuống ngay trên đầu Tuấn, rồi hẳn nhiên đã đạt tới một độ thấp vừa đủ, con chim sắt ấy lại vút lên cao vài giây trước khi hai trái bom từ dưới cánh đâm thẳng xuống quả đồi của anh. Tuấn không dám tiếp tục ngẩng nhìn lên trời. Anh nằm cúi mặt xuống, thân chịu trên hai cùi chỏ để tránh áp ngực với mặt đất. Anh thấy vài con kiến ung dung bò trên nền lá khô. Thốt nhiên Tuấn cảm nhận được cái mong manh của thân xác mình lúc này – khác gì những cái kiến kia! Chỉ có mỗi một khác biệt là anh đau khổ chờ đón cái chết chóc, cái hủy diệt, còn chúng thì không hay biết gì cả, vẫn thản nhiên, vẫn ung dung cho đến khi nào cái chết xảy ra là xong, không còn cảm giác nữa. Chúng hạnh phúc hơn anh trong lúc này. Từng khuôn mặt thân yêu trong gia đình diễn hành nhanh qua trí anh: mẹ anh, các em, và chị. Rồi anh nghĩ đến Trinh thật xa xăm và cũng thật gần. Anh có còn trở lại cổng trường Trưng Vương nữa không? Rồi bên tai anh nghe mơ hồ giọng một ca sĩ quen thuộc với “em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại. Xin trả lời mai mốt anh về…” Tuấn lại nghĩ đến tập thể tuổi trẻ Sài Gòn: không có anh trong đó! Và trong cái khoảnh khắc chờ đón một sự hủy diệt khủng khiếp sắp giáng xuống mọi người, một khoảnh khắc rất ngắn nhưng cũng rất thiên thu, giác quan anh đón nhận cả một trình tự ngoại vật lướt qua chóng vánh: âm thanh động cơ phản lực gầm thét qua đầu, tiếng bom xé gió, hàng loạt tia chớp lóe lên, từng tràng tiếng nổ kinh hồn, và mă봠đất rung chuyển. Tuấn bị nhiều nguồn lực từ mọi hướng đẩy bật ngữa rồi xô tới trước hoặc xoay vòng; anh có cảm giác ngực bị ai đấm một quả rõ mạnh, tức đến khó thở. Ðất, sỏi ùn lên hắt vào người anh. Khói đen tỏa ra chung quanh, không khí khét lẹt mùi thuốc nổ. Tuấn biết một trái bom đã đáp cách anh không xa, đào một hố rõ to và làm dạt một mớ cây nhỏ bên trái anh, tung tóe đất lên quần áo anh. Riêng thân cây to vẫn đứng vững và hiển nhiên đã hứng hết những mãnh bom, đất đá và sức ép cho anh. Anh sờ khắp người để thấy mình vô sự. Trái bom khác rơi trên đỉnh đồi đã bật gốc một cây cổ thụ, tạo nên một âm thanh phụ nghe đánh ầm và làm trống hẳn một khoảng rừng.

Tuấn bò qua những cành cây gãy đổ ngổn ngang, tìm Thịnh nhưng không thấy hắn đâu cả. Trong mọi tình huống anh phải có máy bên cạnh mình. Nhưng chiếc A 37 lại đang đâm bổ xuống đầu Tuấn một lần nữa. Anh vội ngồi nấp sau một thân cây. Có lẽ đây là chiếc thứ hai, đang theo gót phi tuần trưởng của nó vừa rồi. Dù sao thì anh sắp hứng chịu một “trận đòn thù” nữa. Lại “ầm! ầm!” rồi mấy tiếng “ầm” phụ nổi lên. Tuấn lại bị lộn nhào một lần nữa, và anh giật bắn người khi thấy một cây cổ thụ vừa bật gốc ngã sóng soài cách anh không đầy một thước. Giá mà nó phang ngay anh thì còn gì nữa! Ngọn đồi bỗng “đổi mới”; cây ngã la liệt. Tuấn vẫn tìm Thịnh, tìm trung sĩ Hiến – người toán phó – và Sắc. Toán may ra thì còn được bốn mạng, kể cả anh. Tâm và Châu đã ra đi rồi! Nhưng sao thế này: im phăng phắc – địch đâu rồi, và ta đâu rồi? Bỗng lá cây lay động sột soạt sau lưng. Tuấn quay phắt lại, khẩu M 18 dưới nách chỉ thẳng vào bóng người từ trong bụi rậm vừa đứng lên.

– Sắc đây ông thầy.

Tuấn thở phào một cách dễ chịu. Anh khẻ nói:

– Mày không sao chứ?

Anh lính khẻ lắc đầu thay lời đáp. Tuấn biết mình vừa hỏi một câu không cần trả lời; nó chỉ có nghĩa của một câu xác định, “à, may quá còn có mày.” Anh đang lo cho số phận của các toán viên.

– Trung sĩ Hiến và Thịnh có sao không?

Sắc vừa nói vừa đưa tay chỉ về hướng hơi chếch đỉnh đồi:

– Ông Hiến bị thương nằm ở đằng kia. Ổng hỏi thăm ông thầy, và bảo em đi tìm.

Tuấn muốn đến gặp ngay trung sĩ Hiến xem tình trạng thương tích của ông ta ra sao, nhưng anh phải tìm Thịnh trước vì máy móc truyền tin là linh hồn của toán. Hai chiếc phản lực bây giờ đang ở tít trên mây; tiếng động cơ của chúng nghe nghe rất xa và đứt đoạn. Chiếc L 19 vẫn quầng trên đầu hai người. Có lẽ viên phi công đang gọi Thạch Ðộ khàn cả tiếng, Tuấn nghĩ thế. Quái, Thịnh biến đâu mất với chiếc máy truyền tin. Tuấn vẫn nhớ hắn chạy theo sau anh và nấp gần đây trước khi bom rơi. Tuấn bỗng nẩy ra ý nghĩ bới tìm trong mớ cây cối đổ ngổn ngang ngay cạnh hố bom. Và trong lúc hai thầy trò đang len lõi bò vào từng đống cây lá nằm bên trên hoặc bị vùi lấp dưới lớp đất mới thì phía trảng cỏ tranh một tiếng nổ phát ra và một cột khói trắng bốc cao. Anh biết viên phi công máy bay quan sát vừa bắn một trái chỉ điểm cho phản lực đánh bom xuống nơi anh ta vừa thấy địch ẩn núp đâu đó.

Trong tiếng rít của hai chiếc A 37 trên đầu, tiếng rền và chấn động liên hồi của bom, Tuấn chợt nghe giọng gọi đầy khích động của Sắc:

– Ông thầy ơi.

Tuấn nguớc nhìn theo ngón tay trỏ của người lính và thấy cách họ vài thước khúc cần ăng-ten của chiếc máy PRC 25 nhú ra khỏi mớ đất vàng tươi mới tinh khôi dưới mấy cành cây phủ lên. Anh lặng người mấy giây, cảm thấy đôi chân như không đứng vững nỗi. Giọng nói Tuấn nghe yếu ớt qua hơi thở:

– Moi đất ra.

Hai người hì hục lôi các cành cây bỏ sang một bên, dùng tay bới mớ đất bột lên. Chiếc máy truyền tin bị thủng, móp méo, vỡ nhiều chỗ, từ từ lộ ra, rồi màu áo rằn ri bày ra, dính đất và máu. Tuấn và Sắc cùng nâng người Thịnh đang nằm sấp lên. Xông pha trận mạc đã nhiều, đã trông thấy bao nhiêu xác chết của cả đôi bên, nhưng anh phải nhận chưa bao giờ thấy một xác người như thế này, nói chi xác ấy là đồng đội, là thuộc cấp của mình. Cả người Thịnh từ bụng lên vai bị mất tùng mãng thị lớn, và xương vai một bên bị gãy. Nhưng cái chân, ôi cái chân trái, anh không biết phải nói thế nào … đứt đến trên đầu gối, chỉ còn dính tòn teng với toàn thân bằng một mãnh da rộng bằng một bàn tay, và thịt chỗ hai đầu bị cắt lìa trở nên xám đen giống như vừa bị nướng trên lửa!

Sắc mở thử máy truyền tin. Chỉ là một cục kim khí im thin thít vô dụng. Chợt nhớ tới trung sĩ Hiến, hai người thận trọng di chuyển, và Sắc dẫn đường ngược lên đồi. Họ bước qua nhiều xác lính Bắc Việt nằm đủ vị thế – nghiêng, ngữa, sấp, hay cong queo. Tuấn cúi xuống bên người toán phó, xem xét vết thương ở bụng. Có vẻ một mãnh bom đã cứa một đường dài và sâu trước bụng. Anh thử xốc người thương binh lên nhưng anh ta nhăn nhó một cách đau đớn:

– Ối, ông thầy để tôi nằm đi.

– Trước khi bom nổ anh đã rút xuống triền dốc với toán mà sao lại ở đây?

Trên gương mặt tái xanh vì mất nhiều máu của Hiến Tuấn thấy một sự cố gắng dùng sức mới bật ra thành tiếng:

– Tôi chạy lên để.. kéo xác thằng Châu xuống.. kẻo bom dần nát mất nhưng..

Hiến ngưng nói, vẻ mệt nhọc, đưa lưỡi liếm quanh vành môi tái nhợt và khô khốc. Sắc mở nắp bi-đông, khẻ nâng đầu anh lên và kề miệng bình nước vào môi. Tuấn nhắc:

– Cho uống ít thôi để giữ cho máu bớt chảy.

Trong khi tháo cuộn băng cá nhân để băng cho trung sĩ Hiến, Tuấn vẫn thận trọng quan sát chung quanh. Anh thấy nhiều xác chết đối phương rãi rác khắp nơi. Xác Châu nằm cách trung sĩ Hiến khoảng năm thước, mắt còn nhìn lên trừng trừng. Anh rón rén bò đến bên người toán viên vẫn hay di chuyển hàng đầu trong các cuộc xâm nhập của toán, đoạn từ từ vuốt cho đôi mắt nhắm lại. Rừng im phăng phắt. Có lẽ chúng chỉ di tản những kẻ bị thương. Những người nằm kia đều “câm nín”. Sau khi đảo lại mấy vòng để bắn rocket và đại liên mười hai ly bảy xuống một điểm mới dưới thung lũng do phi cơ quan sát chỉ điểm, hai chiếc phản lực đã rời vùng. Chiếc L 19 vẫn còn lượn trên không phận hành quân. Tuấn vừa quay sang bảo Sắc lấy chiếc pa-nô tìm cách trãi để ra hiệu cho máy bay biết mình có mặt tại chỗ thì bỗng rừng núi lại rền vang từng tràng nổ. Tuấn nói:

– Mười hai ly bảy.

Chiếc L 19 vụt cất cao lên và mất hút vào khoảng không. Tuấn đề nghị khiêng trung sĩ Hiến men theo triền dốc về hướng Bắc cho xa vùng giao tranh được bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Anh đoán địch sẽ chiếm lại đồi này. Bỗng dưng trung sĩ Hiến quàng một tay ôm chặt chân Tuấn và thều thào nói:

– Ông thầy đi đâu anh em cũng đi theo ông thầy. Bây giờ ông thầy bỏ

anh em …

Tuấn định thốt một lời an ũi, hay trấn an nhưng bàn tay trung sĩ Hiến đã buông rơi khỏi cổ chân anh, đầu ngoẹo sang một bên, mắt nhắm nghiền như đi vào một giấc ngủ. Anh lay mạnh vai Hiến:

– Anh Hiến! anh Hiến!

Chỉ có tiếng gió ngàn xào xạt đáp lại. Rừng chiều hửng nắng ở những đồi xa. Sắc bỗng vỗ vào cạnh sườn Tuấn và chỉ về hướng trãng cỏ tranh. Lố nhố một đoàn quân dàn hàng ngang đang tiến lên đồi của anh. Họ vận kaki xanh, nón tai bèo, súng kẹp nách, vai đeo ba lô. Hai thầy trò vội lom khom chạy về phía triền dốc, rồi di chuyển về hướng Bắc men theo sườn đồi.

Ði được một giờ, vượt qua vài con suối, mấy quả đồi thấp, Tuấn dừng lại xem bản đồ, đoạn bảo Sắc đổi hướng, đi về đông theo phương giác 1800. Năm giờ chiều. Ðêm rừng bao giờ cũng đến nhanh. Trong ánh sáng nhá nhem hai thầy trò kẻ trước người sau cứ tiếp tục luồn lách qua cây lá, bụi rậm. Rồi sực nhớ phải có một độ quan sát tối thiểu mới có thể chọn một vị trí ngủ đêm an toàn, Tuấn khẻ nói với người toán viên đồng hành:

– Ta lên đỉnh đồi trước mặt tìm chỗ nghỉ đêm.

Mới hơn bốn giờ sáng Tuấn đã thức giấc. Bao giờ người lính hành quân cũng thức giấc sớm, vì giấc ngủ đến vào khoảng bảy giờ chiều thay vì một hai giờ sáng ở những “đêm đô thị”. Trời còn tối mịt. Anh nằm nghe ngóng một lát, đoạn đưa tay sờ lưng võng của Sắc. Một giọng nói rất khẻ:

– Ông thầy thức rồi hả?

Rồi ánh sáng nhờ nhờ đổi dần sang trắng đục. Rồi mọi vật bỗng hiện rõ trước một ngày đang lên. Có vài tiếng chim hót. Có vài tiếng hú đâu đó bên một ngọn đồi khác, rồi không biết bao nhiêu tiếng hú cất lên vang cả một vùng đồi núi, cơ hồ như tiếng hú này lây sang tiếng hú khác, và cứ thế truyền đi khắp nơi. Tuấn đã quá quen với các tấu khúc bình minh của rừng núi. Hai người cuốn võng bỏ vào ba lô, dọn dẹp “sạch sẽ” chỗ đất dưới chân, lùa mớ lá cây chung quanh phủ lên, không để lại một dấu vết nào có thể tố cáo sự hiện diện của hai thầy trò. Sắc mở một bịch gạo sấy, rót nước từ bi-đông vào bao làm một bửa ăn sáng. Tuấn chẳng thấy đói, tuy suốt ngày hôm qua anh chỉ ăn có một gói cơm sấy vào buổi sáng. Tâm trí anh quay về với những gì đã xãy ra. Bị lộ, trận oanh kích, những xác đồng đội bị bỏ lại, và bây giờ hai nguời lạc lỏng giữa rừng không máy móc liên lạc để biệt đội biết tung tích. Anh có trách nhiệm gì với những thuộc cấp vừa ra đi vĩnh viễn kia? “Ông thầy đi đâu anh em cũng theo ông thầy. Bây giờ ông thầy bỏ anh em …” Tuấn thấy miệng đắng khi nuốt nước bọt. Anh thèm một điếu thuốc, và một ly cà phê. Anh nhìn Sắc đang ngồi ăn, nhìn xuống khẩu M 18 gác trên đùi mình, ngước nhìn bầu trời xanh biếc ban mai. Sắc vụt hỏi:

– Bây giờ tính sao, ông thầy?

– Không có máy móc, không biết ở nhà thế nào, còn ở nhà cũng chẳng biết mình sống chết ra sao. Cứ tiếp tục đi về hướng Ðông, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, càng gần nhà càng tốt. Có trực thăng thì trãi pa-nô cho nó thấy mình. Thế nào biệt đội cũng cho máy bay đi tìm.

– Cha con nó bị thiệt hại nặng. Hai chiếc A 37 đánh hiệu quả thật. Sườn đồi bên kia và trãng cỏ tranh lãnh trọn mấy trái bom. Em thấy chung quanh chỗ ông Hiến nằm ít nhất cũng cả chục xác nằm la liệt. Ông thầy có để ý không? Ðợt bom đầu tiên chận đứng ngay cuộc tấn công. Em nghĩ có lẽ chúng kêu phòng không đến tiếp cứu sau này, vì suốt trong khi oanh kích đâu có khẩu mười hai ly bảy nào hoạt động đâu.

Tuấn đồng ý với phần lớn những lập luận của Sắc, nhưng anh chẳng thấy hứng thú bàn luận về chiến trận vừa qua. Tỷ số tử vong của chiến trường và tỷ số tử vong của lòng mình, cái nào làm nên chiến thắng? Ðợi cho người lính ăn xong và đào đất lấp mọi dấu vết, Tuấn đề nghị lên đường.

Sang đến ngày thứ ba hai người vẫn tiếp tục băng rừng, ngày đi đêm nghỉ. Còn khoảng hai chục cây số đường chim bay nữa mới về đến bộ chỉ huy của Liên Ðoàn. Cả hai đều thấy ngao ngán. Hai mươi cây số đường chim bay, điều đó có nghĩa là bốn, năm mươi cây số đường núi, mà tốc độ di chuyển băng rừng – chứ không phải theo theo đường mòn – có nhanh lắm cũng chỉ đạt tới bảy cây số một ngày.

Nhưng điều bất ổn trong lòng họ không phải đường về dịu vợi, đầy đe dọa, bất trắc, lương thực cạn. Cái bất ổn là không trung vắng lặn. Từ cái buổi sáng đầu tiên sau khi bỏ ngọn đồi và đồng đội ở lại anh và Sắc không hề thấy thấp thoáng, dù xa, bóng dáng một chiếc máy bay. Lạ thật. Không một chiếc trực thăng, không một chiếc L 19, không một chiếc vận tãi, không một chiếc oanh tạc cơ phản lực, thậm chí không một chiếc máy bay dân sự, không có gì ráo trên bầu trời quang đảng. Chưa bao giờ như thế, ít ra từ ngày Tuấn vào lính; chưa bao giờ có một ngày không có một hoạt động nào của không quân. Anh ngồi nghỉ mệt trên một ngọn đồi, tựa lưng vào một thân cây, dựng súng bên cạnh. Sắc ngồi xếp bằng trên mặt đất, cạnh Tuấn. Người lính cảm thấy bồn chồn khi nhìn vẻ tư lự của người chỉ huy. Anh ta không dám hỏi bất cứ điều gì lúc này. Tại sao bầu trời vắng lặng thế này? Sao không nghe một tiếng đại bác, một tiếng bom nổ xa xa? và vân vân. Cuối cùng, không nén nỗi những băn khoăn trong lòng, Sắc lên tiếng:

– Em thật không hiểu nổi. Chắc có chuyện gì đây, chứ không thể nào Liên Ðoàn đem con bỏ chợ như thế này.

– Tao cũng chịu thua, không hiểu nổi. Ðành rằng mình không có phương tiện liên lạc, không biết tình hình ở nhà hay các đơn vị bạn ra sao, nhưng Liên Ðoàn vẫn có thể cho trực thăng đi tìm. Ðằng này bặt vô âm tín. Mà cái điều lạ lùng nhất là không có bóng dáng một chiếc máy bay nào cả, chứ đừng nói trực thăng C&C của biệt đội. Tao cũng nghĩ như mày: chắc có biến cố gì đây. Ðiều cần nhất bây giờ là bằng mọi cách phải gắng về tới bộ chỉ huy Liên Ðoàn. Mầy còn mấy gói gạo sấy?

– Dạ ba gói, và không tới nửa chai xì dầu.

– Tao còn năm gói. Tao sẽ đưa thêm cho mày một gói. Mỗi thằng như vậy có bốn gói.Tao ước tính từ đây về tới Liên Ðoàn có thể mất sáu, bảy ngày nữa. Bây giờ tao tạm ấn định kỷ luật dùng lương khô là mỗi thằng chỉ được ăn nửa gói một ngày. Cố gắng chịu đựng như vậy thì mới đủ sức mà lết về tới nhà. Tao nói sáu, bảy ngày là trong giả thuyết di chuyển vô sự, không đụng địch.

Ðiều Tuấn nói sau cùng nhắc lại sự bất an của hai người. Trong ba ngày qua thầy trò anh đã né tránh mấy đoàn quân dài dằng dặc. Trong đời nhảy toán của mình Tuấn chưa bao giờ thấy địch chuyển quân rầm rộ như thế. Một điều lạ lùng nữa là những đoàn người cứ nườm nượp hướng về Ðông, cùng chiều với anh và Sắc, chỉ khác là họ dùng đường mòn. Tuấn đứng dậy tháo ba lô đặt xuống đất, lôi một gói gạo sấy đưa cho Sắc, đoạn cả hai lên đường.

*

* *

Tuấn nhìn đồng hồ tay: ba giờ chiều. Tuy gần cuối ngày, cái nắng như nung như đốt của tiết trời miền Nam đầu tháng Năm vẫn chưa dịu đi chút nào. Ðưa bi đông lên miệng tu một ngụm nước xong, anh xoay xoay tấm bản đồ, nhìn thật kỷ những vòng cao độ nâu lẫn xanh nhạt, rồi ngước nhìn địa thế chung quanh. Cho chắc chắn, anh mở cái địa bàn, xoay cho hướng bắc của bản đồ trùng với hướng mũi tên của địa bàn, đoạn anh đối chiếu chi tiết bản đồ với địa thế một lần nữa. Anh hân hoan nói với Sắc:

– Tới vùng Tân Uyên rồi!

– Chắc không, ông thầy?

– Bảo đảm!

Hai thầy trò bỗng thấy khỏe khoắn trong người, mặc dù mới trước đó mấy phút họ cảm thấy gần kiệt sức sau sáu ngày băng rừng lội suối với những cơn đói triền miên làm bủn rủn chân tay, hoa cả mắt. Nhìn lại đoạn đường dài gian nan, hiểm nguy, Tuấn thấy thương hại Sắc. Hắn ta to con, ăn khỏe, nên trong mấy ngày qua quả thật là một chuỗi ngày khốn khổ “tận cùng bằng số” đối với hắn. Tuấn bảo:

– Bây giờ mày có thể ăn nốt nửa bịch gạo sấy cuối cùng cho đỡ đói. Còn vài cây số nữa là tới chi khu rồi, tha hồ mà gọi mì, phở, hủ tiếu…

– Lạ thật, không thấy thèm nữa ông thầy ơi. Thôi, mình đi lẹ tới chi khu đặng báo Liên Ðoàn đón.

Hai người lội qua một con suối, tiếp tục đi về Ðông. Họ bước đi vững vàng hơn những ngày còn lếch thếch giữa rừng. Sau khoảng một tiếng đồng hồ di chuyển, nhìn xuyên qua một khoảng rừng thưa, hai người thoáng thấy mấy nóc nhà lợp tôn của chi khu Tân Uyên ở tít đằng xa, bên kia sông. Cùng với bước tiến của Tuấn và Sắc, mọi vật rõ dần. Rồi lá cờ phấp phới trên trụ cờ tuy vẫn còn mờ mờ trong quãng xa nhưng đã đủ để thấy không phải lá cờ vàng ba sọc đỏ quen thuộc. Hai người không tin nổi mắt mình: làm thế nào mà lá cờ nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao ở giữa lại ngang nhiên tung bay nơi này. Thầy trò nhìn nhau, nhưng mỗi người theo đuỗi những suy nghĩ riêng. Sắc bỗng vỗ vai Tuấn chỉ về phía con sông trước mặt, vẫn ở nẽo xa và chen vào giữa khoảng cách từ chỗ họ đến chi khu: vài chiếc ghe cũng treo loại cờ đó. Nhìn qua mấy mái nhà tranh gần bờ sông cũng lại thấy những lá cờ đó. Sắc khẻ nói:

– Chắc chúng chiếm vùng Tân Uyên rồi. Không khéo Biên Hòa cũng di tản chiến thuật nốt.

Tuấn nói, để tự trấn an hơn là làm yên lòng người thuộc cấp:

– Không thể có chuyện đó được.

Chợt nhìn bên trái, qua một khoảng rừng chồi lưa thưa, thấy có mấy người nông dân đang cuốc đất trong một thữa ruộng, anh chợt nẩy ra ý nghĩ đến tiếp xúc họ để dò hỏi tình hình. Tiến sát mãnh ruộng, để Sắc ngồi lại trong một bụi cây yểm trợ, Tuấn cầm khẩu M 18 trong tay phải, bước đến bên bốn người đang làm việc đồng áng. Họ ngừng tay, nhìn anh chằm chặp. Tuấn hỏi người lớn tuổi nhất trong nhóm người, một ông già khoảng năm mươi, xương xẩu nhưng còn nhanh nhẹn:

– Thưa Bác, hình như chi khu đã rút đi rồi, phải không ạ?

Gương mặt thoáng bối rối, ông nhìn Tuấn từ đầu đến chân rồi nói rất khẻ:

– Chú là biệt kích 81 trong rừng mới ra hả?

– Dạ phải.

– Ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng từ năm, sáu ngày nay rồi, từ hôm ba mươi tháng Tư. Ai nấy đều buông súng trở về nhà hết. Chính phủ Cách Mạng chẳng làm khó dễ gì cả. Anh em còn bao nhiêu người?

Tuấn chẳng còn nghe rõ ông già hỏi gì nữa. Anh cúi đầu rất lâu. Giòng ý thức của anh bỗng như ngừng lại – không hẳn là nó đặc quánh lại, cũng không hẳn nó trống rổng, chỉ biết nó tuồng như không còn khả năng suy nghĩ rõ ràng, mạch lạc nữa. Tuấn có cảm tưởng sau bao nhiêu suy đoán, thắc mắc, giờ đây được thực tế trả lời, trí não mình bỗng thấy “no” rồi, không đòi hỏi nữa, cũng không nhận dữ kiện nào từ ngoại giới nữa! Sắc từ trong bụi vội bước ra. Nhìn dáng điệu của người toán trưởng anh đã đoán tình hình hẳn là rất xấu. Trong ánh mắt ái ngại, ông cụ lặp lại cho người lính thứ hai nghe:

– Ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng hôm ba mươi tháng Tư rồi. Các chú nên bỏ súng ống đi, trở về gia đình thôi.

Ðến lược Sắc đứng đờ người ra. Lúc ngồi trong bụi anh đã đoán tình hình phải xấu, anh đã lờ mờ phát họa một vài viễn anh tệ hại, nhưng “xấu” như ông già này cho biết thì thật vượt quá xa dự tưởng của anh.

Ðột nhiên Tuấn ngước lên chào từ giã:

– Tụi cháu cám ơn Bác. Thôi, tụi cháu về.

Tuấn bước đi trước, và Sắc theo sau. Họ tiến về phía bờ sông. Hai người đứng nhìn giòng sông êm ả, trong vắt một hồi lâu. Rồi Tuấn nhìn Sắc, ngập ngừng vài giây, nói với một giọng hơi lạt đi, nhưng không kém dứt khoát:

– Qua bên kia sông, có thể đi bộ ra đến xa lộ, từ đó đón xe về Sài Gòn. Sắc, thôi thầy trò mình chia tay. Kể từ giờ phút này tao không còn là trưởng toán của mày nữa. Cứ tự do về với gia đình. Tao chỉ muốn nói một điều. Trong những ngày mày theo toán, nếu tao có làm những gì khiến mày buồn lòng, hoặc vì trách nhiệm, hoặc vì sai lầm, tao mong mày bỏ qua cho. Cầu chúc mày thật nhiều may mắn.

Sắc cố bậm môi để giữ cho miệng khỏi bị méo xệch. Anh ta muốn nói cả nghìn lời nhưng không thốt được một tiếng. Cúi gầm mặt xuống một lúc như cố đè cơn xúc động cứ chực bật ra thành tiếng nấc, cuối cùng anh ta hỏi:

– Còn ông thầy?

– Tao không thể bỏ toán còn nằm lại trong đó.

– Nhưng họ chết hết rồi mà.

– Chính vì vậy mà tao thấy mình không thể về nhà được. Lời nói sau cùng của trung sĩ Hiến rất đúng.

Tuấn ngập ngừng một lát, định nói thêm điều gì nữa nhưng lại thôi. Anh sẽ mang những đắng cay trong lòng mình vào rừng núi. Có lẽ anh chỉ cần nói điều đó với toán của anh vẫn còn lại trong rừng: người lính ở đâu cũng thế, chỉ là công cụ; thắng bại không phải do họ định đoạt, và vinh quang của chiến thắng cũng không thuộc về họ – có thuộc về họ chăng chỉ là những đau khổ của chiến bại và của hy sinh!

Tuấn quay lưng đi về hướng khi nãy hai thầy trò từ trong rừng ra. Trong một thoáng cõi lòng Sắc như hứng chịu bão táp tơi bời từ mọi hướng. Tìm về xa lộ sao ngập ngừng bước chân. Anh muốn rão bước theo sau người toán trưởng, nhưng hình ảnh những đường phố Sài Gòn thân thuộc giờ đây không xa lắm như níu chân anh, dù anh nghĩ nơi ấy chắc cũng đang phấp phới những lá cờ này. Rồi hình ảnh mẹ anh hiện ra thật rõ và bao trùm cả không gian. Sắc gọi:

– Ông thầy!

Tuấn quay lại. Sắc đứng ở thế nghiêm, đưa bàn tay phải lên ngang mày chào. Tuấn chào đáp lễ, đoạn quay gót tiến bước. Người lính đứng nhìn theo cái dáng gầy, phong sương xa dần rồi khuất sau ngàn lá. Anh ta lại nhìn những dãy núi xa xa ở chân trời.

… cái dáng gầy, phong sương xa dần rồi khuất sau ngàn lá.

Núi ở chân trời bao giờ cũng xanh lơ. Chắc toán của anh đang nằm trên một trong những dãy núi đó. Chắc người trưởng toán lại trèo lên nơi ấy. Sắc không sao ngăn nổi mấy giọt nước mắt từ từ lăn xuống, quyện với mồ hôi làm lưỡi anh mặn chát.

 Hà Kỳ Lam

Truyện 30/4: Mưa gió xa muôn trùng

LGT: Câu chuyện ghi lại một đêm mưa gió ở một quận lỵ nhỏ bé tại miền Nam Việt Nam, cái đêm tình cờ rạng ngày 30-4-1975 của hai người trẻ trong một gian nhà nhỏ. Rồi chia xa. Người hải ngoại, kẻ quê nhà. Nhưng cả “người đi theo mưa gió xa muôn trùng” và người ở lại, cứ mỗi 30 tháng 4 đều mặc nhiên cùng chung một hoài niệm … (blog cô gái Việt)

Mưa gió xa muôn trùng

Hà Kỳ Lam


Mới hơn tám giờ tối mà mọi nhà trong khu quận lỵ nhỏ bé này đều cửa đóng then gài. Chỉ có ánh đèn le lói qua các khe hở của vách ván hay qua các song cửa là dấu hiệu người ta còn thức. Mưa vẫn nặng hạt và đều đều với từng cơn gió thỉnh thoảng đẩy làn mưa thành những đường chỉ buông xiêng xiêng trước ánh đèn xe. Có lẽ một phần vì tình hình chiến sự có vẻ bất ổn sau một loạt đột biến như các vụ di tản chiến thuật ở miền Trung, rồi ở Cao Nguyên, và một phần vì trời mưa nên người dân ở đây đi nghỉ sớm. Chiếc xe jeep nhà binh dừng trước một căn nhà mái tôn với ánh đèn bên trong hắt qua các khe cửa sổ lá sách đã đóng lại. Rạng nhảy ra khỏi xe, và tài xế cho xe lao đi. Chàng dò dẫm mấy bực thềm trước khi có thể chạm tay vào cánh cửa. Chàng đứng im nghe ngóng mấy giây. Im phăng phắc – không có lấy một tiếng xầm xì bên trong. Dán mắt vào một khe hở của vách ván, Rạng vừa thoáng thấy bóng dáng Trâm đang ngồi chấm bài bên ngọïn đèn dầu hỏa. Trâm là một cô giáo mấy năm nay.
Rạng đưa tay định gõ cửa, nhưng dừng lại. Tiếng gõ cửa ban đêm thường làm người ta sợ. Chàng nói lớn nhưng ôn tồn:
“Trâm mở cửa cho anh. Rạng đây!”
Một cánh cửa sổ hé mở và một mái tóc xõa in hình trong khung cửa, rồi một giọng con gái reo vui:
“Anh Rạng!”
Cửa mở. Rạng bước vào nhà với bộ quần áo trận phong trần lấm tấm những hạt mưa, và Trâm đứng nép một bên nhường lối. Nàng nhìn Rạng từ đầu đến chân rồi hỏi:
“Thật là lâu anh mới đến. Đi công tác một mình hay cả đơn vị?”
“Bọn anh lại sắp được ném vào một lò lửa nào đây. Lâu quá nay mới có dịp qua vùng này nên ghé thăm hai bác và Trâm.”
“Ba má em lên Sài Gòn lo đám hỏi cho anh Trực, mai mới về. Tối nay anh ở lại đây nhé. Một năm rồi anh mới ghé. Đi đâu mà biệt tích lâu dữ vậy?”
Câu nói thân tình làm Rạng cảm thấy dễ chịu, thoải mái, một thứ cảm giác chỉ có mái ấm gia đình mới đem lại. Gia đình của Trâm là một mái gia đình thứ hai đối với quãng đời nhiều xê dịch của Rạïng. Trực, anh của Trâm, là bạn thân của Rạng từ thuở nhỏ. Nhưng chưa bao giờ ý nghĩ đi “cua” em gái bạn đến với Rạng.
Không phải vì Trâm không đẹp cỡ chim sa cá lặn. Thật ra, một nhan sắc ưa nhìn như Trâm cũng đủ cho những thằng con trai như Rạng dệt mộng ước, mặc dù tuổi trẻ nào cũng mang ảo tưởng mình không thiếu giai nhân. Có lẽ vì “lỡ” thân thiết với Trực quá, và “lỡ” cư xử thân tình với Trâm từ hồi nào không hay nên “trổ mòi” thì hơi kỳ! Rạng thấy chẳng cần phân tích làm gì. Có thể tình thế là như vậy, và có thể cũng không hẳn đúng, nhưng chàng biết mình mến mọi người trong gia đình này, chàng thấy mình quí Trâm vì sự chân thật của nàng. Chàng vẫn tìm thấy ở gia đình này một điểm tựa tinh thần, nhất là với Trâm. Rạng đáp:
“Anh là cá biển chim trời mà!”
“Hay bị cô nào xích anh lại bấy lâu nay?”
Đôi mắt Trâm long lang một vẻ mà Rạng không nói được là một tia nhìn diễu cợt hay thăm dò. Chàng nói:
“Chỉ có thằng Trực sắp bị một người con gái xích lại thì đúng hơn.”
Trâm cười:
“Bị xích hay được xích đấy? Cả anh nữa, phải được xích mới nên người!”
Rạng cười lớn và nhìn Trâm. Chắc đúng vậy. Em phải xích anh lại đi Trâm. Trong một thoáng Rạng nghĩ đến những người con gái khác mình quen biết. Chẳng ai có đủ “tư cách” buộc chân chàng lại. Trâm thì khác. Ô hay, sao lại đi so sánh như thế kia! Vấn đề không đặt ra như vậy. Trâm là Trâm. Trâm không nằm trong bảng sắp hạng những bóng hồng chàng chạy theo. Trâm mang một nghĩa lý khác đối với Rạng; không phải một cái đích chàng nhắm tới, nhưng cũng không phải là một đối tượng để đùa cợt; không phải là tình yêu để lo lắng, tận tụy, nhưng cũng không phải một hình bóng thoáng qua rồi mất hút trong quên lãng. Vị trí của nàng là một cõi nào đó trong ý thức của Rạng, ở đó mỗi lần bất chợt tìm đến chàng thấy một sự ấm áp, vỗ về. Trâm là một loại ốc đảo trong sa mạc của một lữ hành. Với Rạng, Trâm thật gần gũi, thân tình mà không là người tình. Tuy không lãng mạn, chàng vẫn thấy cái đường ranh mờ ảo trong tâm hồn mình có cái gì đẹp và dễ chịu hơn một tương giao xác định và kề cận của tình yêu trai gái. Đối diện Trâm chàng cảm thấy tự do, phóng khoáng, và cùng lúc, tương kính. Nhưng tất cả cái đó sẽ mất đi, hoặc sẽ hết nguyên vẹn với một lời tỏ tình, một cặp môi hôn, hay một vòng tay ôm siết cuồng si. Có thể đó chính là đường ranh mờ ảo và đẹp bắt chàng dừng lại. Và gặp lại Trâm sau một thời gian xê dịch đó đây bao giờ cũng là một hạnh phúc đối với Rạng. Trâm là một thứ em gái mà Rạng có thể thổ lộ tâm sự mà chính Lan, em gái Rạng, cũng khó có thể chia sẻ hay cảm thông.
Rạng kéo một chiếc ghế và ngồi đối diện với chồng bài vở Trâm đang chấm dở. Trâm đi rót nước trà vào tách, bưng đặt lên bàn trước mặt Rạng, đoạn, ngồi vào vị trí cũ. Nàng thu vén chồng bài vở, dẹp sang một bên, và rồi thôi thì đủ thứ chuyện: chuyện đời, chuyện nắng, chuyện mưa… Rạng có cảm tưởng cái giòng tương đắc giữa hai người không bao giờ bị cắt đứt, mà chỉ gián đoạn vì những năm tháng chia xa để lại tiếp tục khi tái ngộ.
Rạng chợt thấy một bản nhạc để ở góc bàn và với tay cầm xem: bản “Bến Xuân” của nhạc sĩ Văn cao. Đó là một trong số các bản ưa thích của Rạng và chàng nghĩ có lẽ cũng là một bản ưa chuộng của Trâm. Rạng không quên Trâm có một giọng ca khá điêu luyện. Có lúc Rạng đã nghĩ nếu Trâm quyết định đi theo nghề ca hát có lẽ nàng cũng đã thành công.
Trâm hỏi:
“Anh Rạng biết bản nhạc này không?”
“Biết thôi à? Còn mê nữa kia.”
Gương mặt Trâm thoáng vẻ hài lòng của một kẻ bắt gặp điều mình tìm kiếm. Nàng nói nhanh và khẽ:
“Em hát tặng anh nhé.”
Rạng trao bản nhạc cho Trâm, ngồi ngay ngắn như đón nhận một món quà. Liếc nhìn vẻ “nghiêm trang” của Rạng, Trâm mỉm cười rất tươi:
“Không có đàn thành ra hơi khó ca.”
Và giọng trong trẻo, truyền cảm của Trâm cất lên trong gian nhà nhỏ, giữa một không gian im vắng về đêm chỉ có tiếng mưa rơi, gió thổi bên ngoài, và chỉ có hai người với nhau…
“Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
Em đến tôi một lần…”
Âm thanh trầm bổng của lời ca ru Rạng vào một cõi mộng đẹp vô ngần. Chàng chiến binh Rạng giã từ những dốc cao, những lũng sâu, những con đường mòn tử địa với âm thanh chát chúa của đủ loại súng, với mùi khói súng khét lẹt, ở đó não cân tê dại hay căng thẳng, để:
“Dìu nhau theo dốc suối nơi ven đồi
Còn thấy chim ghen lời âu yếm
Tới đây chân bước cùng ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền soi nước…”
Rạng nghĩ chưa bao giờ giọng ca của Trâm hay đến thế, một giọng ca không kèn trống phụ họa, không có kỹ thuật âm thanh tăng cường. Nếu có bao giờ ta hy hữu chiêm ngưỡng một dung nhan Tây Thi không son phấn thì đó chính là cảm giác của Rạng lúc này đây, khi lắng nghe lời ca trần trụi của Trâm bằng xương bằng thịt! Lòng chàng lâng lâng. Đôi uyên ương với căn nhà bên suối mộng mị trong thế giới âm thanh kia ở trong cõi lòng của mỗi người nghe nhạc.
Rồi lời hai của bài ca làm tâm hồn Rạng chùng xuống một cảm xúc khó tả. Từ một trạng thái lâng lâng ngây ngất chàng bước vào một tình cảm nao nao. Cõi mộng chàng bước vào đầu bài ca bây giờ đã tan biến, đã ra đi theo bóng dáng giai nhân:
“Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác
Em vắng tôi một chiều
Bến nước tiêu điều còn hằng in nét dáng yêu…”
Giọng Trâm ngân dài với âm cuối bản nhạc, rồi nàng ngước lên nhìn Rạng, mỉm cười, khẽ hỏi:
“Nghe được không, anh Rạng?”
“Tuyệt. Anh nhớ lại, có lẽ chưa bao giờ Trâm ca hay như đêm nay. Bản “Bến Xuân” là một trong những bản yêu thích của anh, nhưng chưa lần nào câu ca
‘Người đi theo mưa gió xa muôn trùng
Dừng bước phiêu du về bến cũ…’
lại làm anh cảm xúc như bây giờ. Lời ca đã làm anh nao nao: anh cảm mà không diễn đạt được. Có lẽ anh đang sông trong câu ca đó, hay câu hát đã diễn tả hộ anh những gì anh thể nghiệm về một phần đời của mình, hay những linh cảm của mình về những ngày mưa gió đang chờ… Anh thật không biết diễn tả thế nào, nhưng cám ơn Trâm về một giọng ca cùng một bài ca hay.”
“Em tin là anh khen thật chứ không khen lấy lòng. Bỗng nhiên em thấy rung cảm theo từng lời ca, và có lẽ vì thế làn hơi có cảm hứng phải khác lạ hơn mọi lần. Có điều lạ là em cũng có cùng một ấn tượng như anh về hình ảnh ‘mưa gió xa muôn trùng’.”
Rạng im lặng, chẳng biết nói lời gì. Chàng đang tận hưởng một khoái cảm lâng lâng vì vừa có được một sự đồng cảm. Rạng nghĩ, nếu đời sống còn có những phút giây cộng hưởng hiếm hoi của hai tâm hồn thì vẫn còn nhiều lý thú, chứ không đến nỗi nhàm chán; đó là một thứ hạnh phúc mong manh và tiềm tàng. Rạng thấy từ trước đến giờ Trâm thường có cùng cảm ứng với chàng trước nhiều sự vật, từ dáng vẻ một giòng sông, đến cảnh trí buổi hoàng hôn, từ một cuốn phim đến một nhạc khúc như đêm nay… Chàng thấy tâm hồn Trâm là một tâm hồn đẹp và nhạy cảm; nó lai láng như sông nước vùng quê hương mưa nắng hai mùa trong đó nàng lớn lên.
Hai người lặng im nghe tiếng mưa rơi đều đều trên mái tôn hòa với âm thanh vi vu của từng cơn gió lướt qua vách ván. Tự nhiên Rạng thấy ngại bước đường “mưa gió xa muôn trùng” mà ngày mai, ngày kia, và biết đâu đêm nay chàng phải xông pha. Chàng bắt gặp ánh mắt Trâm, và bỗng nhiên chàng tin Trâm cũng đang “nhìn” mưa gió như mình. Tình yêu là sự hòa hợp của hai tâm hồn và thể xác. Có đúng như định nghĩa cổ điển kia không? Lại định nghĩa! Làm sao định nghĩa được điều không thể định nghĩa! Và tại sao mình lại moi ký ức ra cái câu quái đản kia? Đã có tình yêu chưa mà xao xuyến. Anh cũng muốn hỏi Trâm đấy. Rạng không biết mình đang nhìn Trâm hơi lâu. Lần đầu tiên từ ngày quen Rạng, Trâm cúi xuống tránh cái nhìn của chàng. Rạng lên tiếng phá tan sự im lặng:
“Thế là Trực quyết định lấy vợ. Cũng đương sự đó phải không?”
Trâm chưa kịp trả lời bỗng có tiếng gỏ cửa. Rạng đến bên cửa sổ nhìn và nhận ra chiếc xe jeep nhà binh đỗ trước nhà. Bên thềm chàng nhận ra dáng thấp bé của Cảnh, viên sĩ quan phụ trách kế hoạch hành quân. Rạng mở cửa bước hẳn ra đứng dưới mái hiên bên cạnh Cảnh. Cảnh bảo nhỏ:
“Về thôi. Lệnh khẩn cấp đêm nay lên đường. Kế hoạch trực thăng vận hủy bỏ.”
Rạng thấy tim mình đập nhanh lên một tí, không hẳn một nhói buốt. Chàng chẳng còn lạ với cái màn chợt đến chợt đi của kiếp sống quân ngũ thời chiến. Chỉ vì Rạng vừa nghĩ đến Trâm. Chắc nàng sẽ nhớ mãi đêm “mưa gió xa muôn trùng” này. Nhớ hay tiếc nhớ? Thôi đừng tiếc nghe Trâm. Hãy để cho đêm nay trở thành một hoài niệm đẹp về sau. Ý nghĩ ngủ lại đêm trong căn nhà chỉ có chàng và Trâm làm chàng lo sợ vẩn vơ, sợ biên giới mờ ảo trong lòng mình rồi sẽ mất… Thôi thế càng hay. Nhưng Rạng bỗng nghe lòng mình thầm hứa sẽ quay lại.
Từ sở làm ra, Rạng lái xe đến thẳng nhà vợ chồng Tùng, người bạn mà chàng quen biết mấy năm nay, từ khi “thiên đô” về vùng New England buốt giá này. “Bọn tớ vừa nhận được một bức thư từ Việt Nam, trong đó có một câu thật bất ngờ nhắn gửi cậu. Không thể đọc qua phone, cũng không tiện mang đến nhà cho cậu xem. Cậu ghé lại tớ đi… đàn ông hay đàn bà thì cậu sẽ biết, không muốn tiết lộ sớm!”
***
Suốt buổi tối hôm qua, rồi cả ngày hôm nay ở sở làm Rạng không ngớt nghĩ đến lời của Tùng. Có thật có một thư như thế hay tên Tùng này lại lừa mình đến để uống vài chai bia với hắn, như có lần hắn đã làm hồi năm ngoái. Nhưng Rạng có linh cảm lần này Tùng nói thật. Rạng moi ký ức nhưng đành chịu, không tìm nỗi một liên tưởng hợp lý. Chàng nhớ đến nội dung thường có của những bức thư từ Việt Nam: những lời cầu cứu, những chuyện chạy gạo kiếm cơm… Trong một xứ sở với kinh tế bi đát và một nền cai trị hà khắc, độc đoán, ít ai còn lòng dạ viết thư chỉ để khơi lại kỷ niệm xưa, chuyện cũ, nếu không vì một ẩn ý đánh thức chút tình cảm ở những thân nhân, bạn bè giờ đây đang no đủ ở ngoài nước. Có thể một lời nhắn gửi như thế lắm.
Vừa trông thấy Rạng, vợ Tùng tươi cười nói:
“Anh Rạng ngồi xuống đây, bình tĩnh lại nhé!”
Tùng cầm tờ thư bằng giấy mỏng, loại giấy viết thư ở Việt Nam người ta vẫn dùng, chi chít những chữ nhỏ li ti viết tràn ra cả ngoài lề, đưa cho Rạng:
“Cái câu liên quan tới cậu tớ gạch đít bằng bút đỏ. Nhưng cậu có thể đọc hết bức thư.”
Rạng dán mắt ngay vào hàng chữ có gạch đỏ. Chỉ vỏn vẹn một câu, không dài, không ngắn, thật đầy đủ, và cũng thật… khó tả! Nó sắc như nhát dao bổ đôi ý thức Rạng. Trâm! Có thế mà Rạng đã không nghĩ ra. Vâng, chàng chỉ không nghĩ ra, chứ không thể quên nàng. Làm sao có thể nghĩ đến được, vì đời sống là một chuỗi những tình cờ. Tình cờ chàng quen biết vợ chồng Tùng. Và Trâm là “tình cờ” như thế nào với hai người này? Rạng tò mò đọc bức thư từ đầu đến cuối để cuối cùng cũng phải hỏi Mai, vợ Tùng, về liên hệ họ hàng với Trâm. Mai và Trâm là đôi chị em con dì. Rạng đọc lại những chữ gạch đỏ một lần nữa trước khi trả tờ thư lại cho vợ chồng Tùng, “cho em gởi lời thăm anh Rạng và nhắn với ảnh rằng người đi theo mưa gió xa muôn trùng bao giờ mới về thăm lại Việt Nam.”
Mai hỏi một câu thăm dò:
“Chắc hai người có nhiều kỷ niệm đặc biệt với nhau lắm thì phải?”
Rạng mỉm cười, lòng phân vân, tự hỏi có nên kể lại cái điển tích “mưa gió xa muôn trùng” của một đêm năm xưa không. Chàng chẳng thấy hứng thú khơi lại chút tro tàn dĩ vãng của mình và Trâm. Rạng nghĩ có lẽ một ai đó đã đúng khi nói rằng đàn bà thường chắt chiu kỷ niệm mà đàn ông thì không thích sống với kỷ niệm nhiều. Rạng chậm rãi nói:
“Không có kỷ niệm gì đặc biệt cả, chị ơi. Cô ấy nhắc lại câu ca trong bản “Bến Xuân” của Văn Cao để trêu tôi đấy. Số là hồi đó tôi hay đến nhà chơi với Trực, và Trâm biết tôi rất thích câu hát đó, thế thôi.”
Dù không chắt chiu cái kỷ niệm năm xưa như Trâm, dù ký ức mình chẳng mấy khi khơi lại nó gần hai mươi năm nay, dù bây giờ bên cạnh mình đã có hẳn một người đàn bà và bốn nhóc, và dù cuộc sống xứ này như bánh xe lăn quay không cho chàng ngừng nghỉ, Rạng phải nhận rằng lời thư của Trâm đã len vào tâm tư chàng qua một ngõ ngách khác. Trâm không chỉ là kỷ niệm.
Đêm giã từ Trâm, Rạng đã theo đơn vị di chuyển về hướng Cần Thơ. Cả tiểu đoàn không ai biết mục đích chuyển quân, chỉ làm theo lệnh trên. Trưa hôm sau, khi còn cách phi trường Trà Nóc ba cây số, Rạng và đồng đội sửng sốt nghe lệnh đầu hàng phát đi từ Sài Gòn! Tại sao? Miền Tây mênh mông không hề nhận một dấu hiệu nào của chiến trận khốc liệt, đơn vị chàng còn nguyên vẹn, cả một quân đoàn còn nguyên vẹn, và bao nhiêu quân đoàn khác nữa. Tại sao?
Mọi người lặng thinh, trầm ngâm. Rạng nhìn lại những năm tháng miệt mài phong sương, nghĩ đến những đồng đội đã nằm xuống. Đơn vị trưởng đi họp ở trên về cho hay mọi người có thể tự do về nhà hay theo đến điểm hẹn để được tàu đón rời Việt Nam. Rạng đã thấy những giọt nước mắt long lanh trên nhiều bộ mặt. Dĩ nhiên Rạng chấp nhận ra đi. Từng khuôn mặt của người thân hiện về trong trí chàng. Rạng sắp bỏ lại tất cả. Bỗng khuôn mặt Trâm hiện ra rõ nét nhất và bao trùm cả không gian. Nàng sẽ ở lại hay cũng ra đi? Làm sao Trâm có thể có phương tiện. Hay là mình chạy về rủ Trâm cùng đi? Không được, trễ rồi! Bây giờ Rạng còn nhớ rõ lúc đứng trên tàu trực chỉ hướng Phi Luật Tân, nhìn trời nước mênh mông, chàng đã nghĩ đến Trâm nhiều hơn nghĩ về người thân của mình. Chàng không nhớ mình đang xa Việt Nam, mà chỉ thấy mình thực sự xa Trâm. Hình ảnh Trâm bị bỏ lại, xa dần, nhòa dần sau muôn trùng sóng. Và bây giờ Rạng còn nhớ rõ trên con tàu vượt trùng dương buồn bã năm ấy mình đã quay nhìn Việt Nam thầm nói, “Trâm ơi, giờ đây xa bến bờ anh mới thật sự đi theo mưa gió xa muôn trùng.”
Hà Kỳ Lam

Bạn 50 năm

Bạn 50 năm
Tràm Cà Mau
( Chuyện kể của ông Hai )
 
Dạo đó, tôi vừa mới trổ mã, bể tiếng, tay chân tự nhiên dài ngoằng ra, áo quần thành ngắn củn cởn. Tôi vụng về, ngơ ngác, làm cái gì cũng hư hỏng, má tôi cứ la rầy mãi. La rầy để quở trách mà cũng chan chứa tình yêu thương. Tôi ăn cái gì cũng ngon, đặt lưng xuống đâu cũng ngủ được say sưa.

Thời nầy, đệ nhị thế chiến vừa chấm dứt, nước Pháp đem quân trở lại Việt Nam để tái lập nền đô hộ cũ. Toàn dân đứng lên kháng chiến, cầm tầm vông vạt nhọn đánh nhau với Tây. Khí thế đằng đằng. Cũng như mọi thanh niên khác, tôi tham gia kháng chiến. Nói là đánh nhau với Tây, nhưng chạy thì nhiều hơn, vì lồ ô vạt nhọn không cự nổi với súng ống của Tây.
 
Tôi bị Tây bắt lãng xẹt khi đang ngủ giữa ban ngày. Bị trói ké, đem về giam tại thành phố. Trong trại giam, mỗi ngày phải đi làm lao động vệ sinh, dọn rác, quét lá, lấp các vũng bùn lầy, khai mương. Tôi làm quen được một ông lính kèn, mỗi ngày mượn cái kèn thổi tò te làm khổ lỗ tai mấy ông lính Tây chơi. Không có chi chói tai bằng nghe mấy anh tập kèn cứ ọ è từ giờ nầy qua giờ kia mãi.
 
Tập hoài rồi cũng thổi được. Một lần cao hứng tôi thổi khúc kèn báo hiệu tan giờ làm việc, tiếng kèn vang vọng, rõ ràng, làm mấy ông Tây tưởng đã hết giờ, rủ nhau ra về. Tôi bị phạt giam đói, và anh lính kèn cũng bị khiển trách, không cho tôi mượn cây kèn nữa. Nhưng sau đó hai tuần, tôi được cho ra khỏi tù. Họ phát cho tôi áo quần lính, và sung vào đội thổi kèn. Ban quân nhạc của Tây. Nhờ có một chút hiểu biết về âm nhạc Tây Phương, tôi học nhạc cũng khá dễ dàng, không như các ông bạn khác. Khi tập thổi kèn mà chơi, thì tôi cảm thấy vui, ham thích, thú vị, nhưng khi phải tập kèn vì bắt buộc, thì thật là chán nãn, mệt nhọc, bực mình. Ông trung sĩ chỉ huy đội quân nhạc không vui, vì đã chọn lầm người. Trước đó, ông tưởng tôi có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, nên đề nghị tuyển dụng. Về sau ông thường nói lời an ủi rằng, thiếu chó thì bắt bất cứ con gì ăn phân cũng được, miễn sao biết ăn phân thì thôi. Nghe ông nói vậy, tôi cũng tự ái, và bực mình. Thường thường,thì đội lính kèn được nhàn hạ. Mỗi ngày, mấy xuất thổi kèn báo hiệu buổi sáng thức dậy, như con gà gáy sáng, bao giờ làm việc, báo giờ nghỉ, giờ tan sở. Báo hiệu thật đúng giờ. Thế thôi. Còn ngoài ra thì chơi cờ, tán dóc, trêu ghẹo nhau, nhưng không được bài bạc. Mỗi sáng tiếng kèn vang vang: “ Tọ tè ti tọ tè ti.. ti tọ ti tè… “ Mà lũ con nít chuyển âm thành:“ Một ngàn, ba mươi vạn thằng Tây, xách cái bị, đi ăn mày. Mụ đi đâu tui bắt mụ lại, tui không cho mụ về.” Nghe y hệt tiếng kèn đồng.
 
Trong đám lính kèn, tôi chơi thân với Tư Thàn, vì anh cùng tuổi, cũng độc thân và cùng hoàn cảnh như tôi, bị Tây bắt và sung vào đội quân nhạc. Chúng tôi thường rủ nhau đi xem hát ban đêm. Chúng tôi biết và thuộc lòng tên đào kép của các gánh cải lương, hò quảng. Nhiều lần, Tư Thàn thổ lộ ước mơ của anh là được vào làm việc cho gánh cải lương, làm kép độc, nhờ đó, mà anh có thể mùi mẫn với các cô đào đẹp như tiên kia. Anh không có tham vọng được nổi tiếng, chẳng cần được khán giả mến mộ, chỉ mong gần gũi cái nhan sắc của các cô đào thôi.
 
Có lần, tôi nhặt được tấm ảnh của một cô gái nào đó. Hình chụp rất điệu, ngón tay trỏ tựa má, hai cái núng đồng tiền lún sâu rất duyên, mặt sáng và tươi, mắt ướt rượt. Có lẽ bên ngoài đẹp mê hồn. Tôi đưa tấm ảnh cho Tư Thàn xem, và bảo rằng đó là con Mười, em gái tôi ở Long Xuyên mới gởi lên. Kể từ khi thấy tấm hình nầy, Tư Thàn nể nang tôi lắm. Tôi có thể sai Tư Thàn làm những việc mà trước đây anh không bao giờ làm giúp. Tôi mượn tiền anh dễ dàng hơn, mà anh bớt nhăn nhó khó chịu. Tôi lờ mờ biết Tư Thàn mê cô gái trong tấm hình, và hy vọng được lòng tôi, thì sẽ được lòng em tôi. Vốn tính nhút nhát, nên Tư Thàn không bao giờ dám hỏi thẳng về em tôi. Chỉ một lần, anh đánh bạo hỏi tôi khi nào về thăm nhà, và có thể cho anh đi cùng, về chơi có được không. Tôi đáp rằng dĩ nhiên là được, và sẽ mời anh ở lại nhà vài hôm. Nghe vậy, Tư Thàn sướng đến đỏ cả mặt. Sau nầy, tôi cho Tư Thàn tấm ảnh đó, anh cất kỹ trong ví, lâu lâu mở ra xem mà mơ mộng. Buổi sáng, tôi và Tư Thàn thường hay ăn cháo trắng với hột vịt muối của cô Năm Cháo Trắng bán, cô nầy có nước da ngăm ngăm, duyên dáng. Hàng cháo gánh, ngồi chồm hổm ăn, hoặc ngồi trên các đòn gỗ thấp sát đất. Có nhiều anh lính trêu ghẹo, tán tỉnh cô, nhưng khi nào cô cũng vui vẻ, tươi cười, không làm mất lòng ai. Tôi cũng khoái cô nầy, thường giả vờ hết tiền, ăn thiếu nợ. Ðến tháng lãnh lương, thì trả, nhưng không trả hết, khi nào cũng xin khất lại một ít. Cứ nợ cô, thì cô phải nhớ đến số tiền nợ. Nhớ đến số tiền nợ, thì phải nhớ đến người mắc nợ, tức là cô phải nghĩ đến mình. Cái mưu kế nầy, tôi nghe được trong một tiệm hớt tóc mà mấy anh thủy thủ kháo nhau. Tôi có bày mưu nầy cho Tư Thàn, mà anh không chịu nghe theo, cứ sòng phẳng trả hết tiền, không bao giờ chịu thiếu một xu.
 
Một hôm tôi rủ Tư Thàn đi xem cải lương, anh viện cớ bận việc, tôi đi một mình. Khi ngồi trong rạp, nhìn xéo qua bên kia, thì tôi thấy Tư Thàn và cô Năm Cháo Trắng đang ngồi bên nhau. Tay Tư Thàn đưa lên chỉ trỏ, như đang giải thích gì đó. À thì ra Tư Thàn đã bí mật phổng được cô hàng cháo, mà anh em không ai hay biết. Tôi tránh mặt cho Tư Thàn làm ăn được tự nhiên.
 
Hôm sau, gặp Tư Thàn, tôi làm bộ giận, mà thực ra thì tôi cũng hơi ghen tức. Tôi thì đặt mưu tính kế, mà chẳng được cơm cháo gì, Tư Thàn cứ tự nhiên, thì vớ được cô hàng cháo. Tôi cứng giọng, nói với Tư Thàn:
“Mày phản bội em tao. Trả tấm hình con Mười lại cho tao. Tưởng mầy đàng hoàng, thì ra…”
“Tao làm gì mà gọi là phản bội?”
“Mầy còn giả vờ? Hồi hôm mầy đi đâu? Làm gì? Với ai? Có chối được không?”
“Ai nói với mầy?”
“Chính mắt tao thấy. Tao để yên cho chúng mày hú hí. Chối tội làm chi?”
Tư Thàn bẻn lẻn móc ví trả tôi tấm hình cô gái có hai cái núng đồng tiền. Anh có vẽ tiếc lắm. Cuối cùng anh nói:
“Em gái mày đẹp như thế nầy, thì chán chi người dòm kẻ ngó. Tao làm gì mà vói thấu. Trả hình lại cho mày là phải.”
“Mày định bắt cá hai ba tay sao? Con Năm Cháo Trắng cũng có duyên lắm đó chứ!”
“Ừ. Có duyên. Hồi hôm, em thú thật với tao em là ‘đầu gà đít vịt’ Mầy thấy da em ngăm ngăm không?”
Tôi hỏi Tư Thàn làm sao mà câu được em Năm Cháo Trắng? Trong lúc tôi bày mưu tính kế mà không được em đáp ứng. Tư Thàn cho rằng tôi ngu, đàn bà con gái không ưa những người bê bối, mang nợ mắc nần. Sau nầy về làm chồng quen thói nợ nần, ai mà chịu nỗi. Thì ra, tôi nhẹ dạ tin vào mưu kế tào lao của mấy anh thủy thủ gà mờ.
Từ ngày trả lui cho tôi tấm hình cô gái có núng đồng tiền, Tư Thàn không còn nể nang tôi như trước kia nữa. Tôi biết mình ngu, đòi lại tấm hình, chẳng ích gì, nhưng đã lỡ rồi, tiếc cũng không được.
Tôi thường ứng trực thế cho Tư Thàn, để anh có thì giờ đi chơi với cô Năm Cháo Trắng. Bỡi vậy, sau nầy cô thường múc cho tôi những tô vun, cháo muốn tràn ra ngoài. Từ đó, tôi không bao giờ thiếu nợ cô nữa.
 
Thường thường, Tư Phàn và tôi trốn trại đi xem đá gà ở xóm trong. Thiên hạ đánh cá ồn ào. Chúng tôi cũng thường bắt độ, khi ăn khi thua, mà thua thì nhiều hơn ăn. Những khi ăn tiền cá độ, chúng tôi dắt nhau đi ăn nhậu vui vẻ, ăn thâm cả tiền túi. Khi thua, thì hai đứa lủi thủi ra về, phải vay mượn tiền bạn bè để gỡ gạc. Có hai lần bị cảnh sát bố ráp, cả phường đá gà bỏ chạy, chúng tôi cũng sợ bị bắt, chạy trốn, cho nên mất luôn tiền cá độ. Từ đó, chúng tôi tìm ra một cách đánh cá khác, mà chủ cá độ không móc được của chúng tôi một xu. Hai đứa tôi đánh cá riêng với nhau, đứa nầy được, thì đứa kia thua. Chúng tôi gọi là lọt sàng xuống nia. Và sau cuộc đá gà nào, chúng tôi cũng có buổi ăn nhậu, vì một trong hai đứa thắng cuộc. Thời trước Tư Thàn có nuôi gà đá, nên nhiều kinh nghiệm, cứ nhìn vóc dáng bên ngoài, là biết ngay con gà có phong độ hay không. Thế là nợ Tư Thàn một số tiền bằng nguyên cả tháng lương. Nợ ít ít, thì còn nghĩ đến chuyện thanh toán, nợ nhiều quá, không còn muốn trả nữa. Tôi cứ khất mãi, và đến tháng lãnh lương cũng không trả bớt nợ cho Tư Thàn. Từ đó, giữa tôi và Tư Thàn có cái gì lấn cấn, tình bạn không còn như trước nữa. Tôi không dám ăn tiêu khi có mặt Tư Thàn, sợ bị hỏi nợ. Không phải tôi muốn giựt nợ, nhưng tôi tự bảo lòng, khi nào tiền bạc dư dả, thong thả mới trả
Một lần, Tư Thàn thấy tôi nói chuyện thân mật, cười nói với một cô nữ quân nhân. Giữa chỗ đông người, Tư Thàn hướng về tôi mà nói lớn:
“Sao mày nợ tao một tháng lương, lâu quá mà chưa trả? Phải vay mượn mà trả chứ?”
Tôi bị mất mặt trước đám đông, phát cáu, giận đỏ mặt. Tôi nghiến răng trả lời:
“Mầy còn đòi tiền nợ, thì tao đục cho trào máu.”
Tư Thàn lảng đi nơi khác, mà tôi thì cũng không hết giận, định đi theo gây sự thêm. Vì một món nợ đá gà, mà chúng tôi mất tình bạn.
 
Sau năm 1954, Tây rút về nước, chế độ Cộng Hòa được thành lập tại miền Nam. Chúng tôi được giải ngũ, về đời sống dân sự. Tư Thàn đem vợ là cô Năm Cháo Trắng về quê làm ăn. Tôi ở lại thành phố, làm đủ thứ việc, đủ sống qua ngày, nhưng vì con đông, cho nên khi nào cũng thấy thiếu thốn.
 
Mười mấy năm sau khi giải ngũ, một hôm tôi lái xe chuyển kinh sách cho hội Thánh Tin Lành về miệt Long Xuyên, trên đường trở về, chiếc xe làm nư, chết máy giữa đường, không biết làm sao mà sửa. Tôi ngồi bên vệ đường, dưới bóng cây nhỏ. Ðầu óc suy nghĩ, tính kế không ra. Tôi định bắt xe đò về tỉnh lỵ, rước thợ ra sửa xe. Chờ hoài mà không có xe qua. Phía dưới ruộng khô, có một nông dân đang cày đất với hai con trâu. Nắng cháy, cổ khát. Tôi thấy anh nông dân ngưng cày, lên bờ lấy bầu uống nước. Túng quá, tôi đánh liều kêu lớn:
“Nầy anh ơi, khát quá, cho tôi uống nước với”
Người nông phu mang áo đen, quần xà lỏn, chậm chạp băng ruộng, đem cái bầu nước đến cho tôi. Khi đến gần, thì anh reo lên:
“Mày đó phải không Quài. Sao biết tao cày ruộng ở đây mà ghé lại thăm?”
Tôi mừng quá, thét lớn:
“Tư Thàn! Mày! Ð. M. mày. Thằng quỷ. Mày ở đây hả? Chiếc xe nó biết có mầy ở đây, nên chết máy, để cho tao gặp mầy.”
Tư Thàn và tôi xoắn lấy nhau, nhắc chuyện mười mấy năm trước. Ðủ thứ chuyện. Nói cho nhau biết tin tức gia đình mỗi người. Tư Thàn có hai thằng con trai. Ðời sống của gia đình thong thả, nhờ cô Năm Cháo Trắng buôn bán thêm ngoài chợ quận. Gạo cơm đủ ăn. Mười mấy năm, Tư Thàn chưa về lại Sài Gòn lần nào, vì cũng không có chuyện gì, mà chẳng còn ai để thăm viếng.
Tư Thàn bỏ dở luôn buổi cày ruộng. Tôi cũng bỏ kệ cho chiếc xe nằm ụ bên đường, đến đâu thì đến, theo Tư Thàn đi vào làng. Nhà Tư Thàn trống trải, đơn sơ như tất cả mọi nhà nghèo miền quê.
 
Tư Thàn lấy cái nơm làm bẫy, rải lúa cho gà ăn, và bắt được một con gà trống thiến lớn. Làm thịt, bao đất sét, nướng lửa rơm. Tư Thàn đem ra hai lít đế trong veo. Khi gà chín, tôi đập cái vỏ đất sét, để cả con gà lên chõng tre có lát sẵn mấy tàu lá chuối tươi, mà Tư Thàn đã rửa sạch. Chúng tôi bốc tay mà ăn, cầm đùi gà nhai, rượu vào đều đều, cạn chai nầy, qua chai kia. Chúng tôi cùng nhắc chuyện xưa, chuyện không đầu, không đuôi, chuyện nầy lẫn qua chuyện khác. Hai đứa nhỏ con Tư Thàn đi học về, cũng nhào vào xâu xé con gà. Tôi ép thằng lớn hớp một ngụm đế, nó nhăn mặt phun ra. Tư Thàn và tôi cùng cười vang. Khi trời xế chiều, thì cô Năm Cháo Trắng cũng gánh hàng về. Cô nhận ra tôi, kêu thét lên vui thú, và phát vào vai tôi nhiều lần đau điếng. Cô mắng:
“Cái ông khỉ nầy, tưởng chết rấp đâu rồi chớ. Làm sao biết tụi tôi ở đây mà ghé chơi? Vui quá xá”
Ðêm đó, cô Năm Cháo Trắng nấu cháo vịt, mượn hàng xóm thêm mấy lít đế, chúng tôi ngồi ăn nhậu dưới trăng cho đến khuya. Ăn uống no say. Tôi chợt nhớ tới món tiền mà tôi nợ Tư Thàn, trị giá bằng một tháng lương vào thời gian mười mấy năm trước, mà chưa trả, và cũng chưa hề toan tính thanh toán cho sòng phẳng. Cũng vì món nợ đó, mà cái tình bạn thân thiết giữa chúng tôi có một thời lấn cấn, mất đi cái mặn nồng, không còn như trước. Tôi chậm rãi nói lè nhè trong hơi men:
“Tao bậy quá, còn mắc nợ mầy mà chưa có dịp trả. Công việc làm ăn, cũng không khá, mà con cái đông đúc, có cơm no bụng từng ngày là may lắm. Tiền không có dư…”
Tư Thàn cười hiền hòa, giọng ấm áp nói:
“Thôi, quên chuyện xưa đi. Nợ nần cái khỉ gì? Chuyện cờ bạc thời trai trẻ dại dột, để tâm làm chi? Bạn bè gặp lại nhau, là quý rồi.”
Có lẽ vì rượu đã ngấm nhiều, mà nghe lời nói chí tình của bạn, mắt tôi cay xè. May mà tối trời không ai thấy. Tôi xịt mũi. Ðêm đó, tôi ngủ lại nhà Tư Thàn, và nói chuyện rầm rì trong bóng tối cho đến khuya.
Sáng hôm sau tôi ra chỗ xe nằm ụ, thì thấy chiếc xe chỉ còn là một đống sắt cháy nham nhở. Thì ra đêm qua, du kích đặt mìn phá, mà ngủ mê quá, chúng tôi từ làng trong, không nghe biết. Tôi lấy xe dò về Sài gòn, và bị đuổi việc. Nhưng may mắn, không bị hội thánh bắt bồi thường. Có lẽ họ biết, tôi đưa mạng cùi ra, có bắt đền cũng không moi được một xu, thì tha làm phước. Vã lại thời buổi chiến tranh, không ai dự liệu trước được chuyện bom mìn.
 
Tháng tư năm 1975 tôi đem gia đình chạy, chưa biết sẽ chạy đi đâu, về đâu, và làm sao mà sinh sống sau nầy. Cứ chạy đã. Vì sợ phải đi tù như một số bạn tôi, họ đã trở về miền Bắc vào năm 1954, và nghe đâu một số đã chết trong tù, một số còn bị giam giữ hơn hai mươi năm chưa được thả. Ðó là tin tức chính xác đi quành từ miền Bắc qua Pháp, và từ Pháp về miền Nam. Tôi được nước Mỹ cho vào cư trú, đi làm đủ thứ nghề tay chân. Cuối cùng vào làm y tá cho một trung tâm dưỡng lão của quận hạt. Hai mươi mấy năm đòi sống yên lành, no ấm, hạnh phúc.
 
Năm 2001, sau hai mươi sáu năm xa quê hương, tôi về lại Việt Nam một mình, lần thứ nhất, để sắp đặt việc cưới vợ cho đứa con trai út. Khi đang ở Sài gòn, tôi nghe tin bọn khủng bố đánh sập tòa nhà đôi chọc trời ở New York. Ban đầu tôi không tin, và nghĩ rằng mấy ông Vẹm hay nói dối, đặt chuyện xạo tuyên truyền, nói xấu đế quốc Mỹ. Nhưng sau đó, xem truyền hình, tôi sửng sốt, bàng hoàng. Lòng tôi đau nhói, và nhận ra rằng, quê hương mới là nước Mỹ, cũng muôn vàn yêu mến, thắm thiết không thua gì quê hương cũ Việt Nam. Tất cả mọi chuyến bay đều bị hủy bỏ, việc vào ra nước Mỹ cũng tạm ngưng. Tôi chưa thể trở vể lại Mỹ được, và trong lòng cũng tràn đầy lo ngại, không biết có thể về lại Mỹ được không. Hay là kẹt lại ở Việt nam mãi, cho hết cuối đời. Bảy mươi mấy tuổi rồi. Một đêm mất ngủ, tôi ra đứng ở hành lang khách sạn. Từ trên cao nhìn xuống phố phường bên dưới, tôi chợt nhớ, hơn năm mươi năm trước, nơi đây còn lau sậy um tùm, đất thấp ngập nước, hoang vu. Từ bên trong phòng vọng ra tiếng ngâm thơ khuya qua cái radio nhỏ, giọng khàn đục buồn não nề:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Ðêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò..”(°)
 
Lòng tôi chùng xuống, và chợt nghĩ hơn nửa thế kỷ trôi qua, vèo mau như mộng. Mới ngày nào đó, tôi bị Tây bắt đi tù, sung vào đội lính kèn. Bao nhiêu là đổi thay, bao nhiêu bãi biển đã biến thành nương dâu, bao nhiêu trũng hoang đã trở thành phố thị. Những thế hệ trước tôi và đồng thời với tôi, có lẽ đa số đã về với lòng đất. Yên bề. Những người còn sống sót như tôi, bây giờ ở đâu, làm gì. Bỗng tôi chợt nhớ đến Tư Thà. Nhớ tha thiết. Nhớ đến món nợ ngày xưa mà chưa trả được, lòng buồn rưng rưng. Tôi quyết định ngay, mong cho trời mau sáng, để thuê xe đi tìm thăm Tư Thàn.
 
Chiếc xe thuê riêng, chở tôi chạy về miền Tây, đi tìm Tư Thàn. Anh tài xế nghe tôi nói đi tìm một người bạn cũ, gặp nhau lần cuối đã hơn ba mươi năm trước, anh lắc đầu, có lẽ anh cho tôi là một ông già khùng lẩm cẩm.

Tôi chỉ nhớ mang máng cái nơi mà chiếc xe tôi lái bị đặt mìn hơn ba chục năm trước. Tôi vào làng hỏi xem ai có biết ai Tư Thàn, nay chừng trên bảy mươi tuổi, hồi xưa làm lính kèn ở Bộ Tổng Tham Mưu. Mọi người đều lắc đầu, ngơ ngác. Tôi đi lang thang quanh làng, và hy vọng, còn có người biết Tư Thàn ở đâu. Khi tôi chán nản trở lại đường cái, ngồi trong cái chòi bán nước bên vệ đường, thì gặp một bà già. Tôi chận lại hỏi. Bà nhíu mày một hồi, suy nghĩ lung lắm. Bỗng bà la lên:
“Tôi nhớ ra rồi, từ lâu không ai gọi ổng là Tư Thàn nữa. Mà ông là ai, tìm Tư Thàn có chuyện chi không?”
“Tôi là bạn lính kèn với Tư Thàn khoảng hơn năm mươi năm trước. Bây giờ, nhớ bạn, ghé tìm thăm.”
“Trời đất! Năm mươi năm làm chi mà không thăm nhau, giờ mới trổ chứng đi tìm!”
Mấy đứa trẻ con chạy ra ruộng kêu Tư Thàn về, người ta nói anh đang cuốc đất thuê. Tôi nghĩ không phải là Tư Thàn bạn tôi, bảy mươi lăm tuổi, còn sức đâu mà đi cuốc thuê. Lũ trẻ đưa về một ông già ở trần, xương sườn đếm được, tay chân khẳng khiu, chỉ mặc cái xà lỏn ngắn, đi chân đất. Da nhăn nheo, khô khốc, đen đúa, gầy gò, hai má hóp, miệng móm xọm, chỉ còn hai cái răng, một cái của hàm trên, một cái của hàm dưới, rất là thiếu mỹ thuật. Không có một nét nào của Tư Thàn cả, có lẽ tuổi ông nầy già hơn nhiều. Tôi nheo mắt nói:
“Tôi tìm Tư Thàn, hồi xưa làm lính kèn ở bộ Tổng Tham Mưu, có vợ là chị Năm Cháo Trắng.”
Ông lão phều phào:
“Ông là ai? Tìm tôi có việc gì không?”
“Tôi tìm Tư Thàn. Tôi là bạn cũ.”
“Ông là bạn cũ của tôi? Chắc ông tìm lầm người rồi.”
“Ông biết Cô Năm Cháo Trắng?”
“Vợ tôi, má thằng Ðộ, thằng Rề.”
 
Bây giờ thì tôi chắc chắn ông lão ngồi trước mặt tôi chính là Tư Thàn, không ai khác. Tôi còn mơ hồ thấy vài nét hao hao của thuở nào. Bố thằng Ðộ, Thằng Rề, hai thằng nầy tôi đã gặp hồi xưa. Ngày trước, Tư Thàn mong sinh được bảy đứa con đặt tên là Ðộ, Rề, Mi, Pha, Xôn, La, Xi, nhưng mới có mới có Ðộ, Rề, thì bà vợ tịt ngòi. Tư Thàn ngồi co một chân lên ghế dài, rất tự nhiên, cái quần xà lỏn kéo nhăn nhúm lên cao, để lòi nguyên bộ phận kín ra ngoài, một khúc đen điu, nhăn nhúm, mằm tựa trên một đùm bao da lưa thưa lông bạc trắng. Tôi mừng quá, nắm lấy hai vai Tư Thàn mà lắc:
“Mầy không nhớ ra tao là ai hả Tư Thàn!”
“Không. Ông có lầm tôi với ai khác không? Ông là ai?”
“Thế thì mày không phải là Tư Thàn, lính kèn ở bộ Tổng Tham Mưu hả?”
“Tôi, Tư Thàn lính kèn đây.”
Tôi làm bộ buồn bã đổi giọng:
“Có lẽ ông không phải là Tư Thàn tôi quen, mà là người khác trùng tên chăng?”
“Lính kèn, ở bộ Tổng Tham Mưu, trước năm năm mươi tư. Chỉ có Tư Thàn nầy thôi”
Tôi nắm chắc hai vai Tư Thàn mà lắc, và hét lên:
“Ð.M. mầy không nhớ ra tao là ai, thật không? Hay mày giả bộ.”
Tôi đưa tay lên miệng, với dáng điệu như đang thổi kèn và ca: “Một ngàn, ba mươi vạn thằng Tây, xách cái bị, đi ăn mày. Mụ đi đâu, tui bắt mụ lại, tui không cho mụ về.”
Nghe tiêng chửi thề và điệu kèn Tây của tôi, Tư Thàn nhào đến ôm lấy tôi mà thét lên:
“Ð. M. mầy, chỉ có mầy mới nói cái giọng nầy. Thằng chó chết, thằng dịch vật. Thằng Quài, mầy, Quài. Mà mầy sang trọng, và trẻ quá, ai ngờ, ai mà nhìn ra.”
 
Ðám trẻ con đứng xem cười ầm lên khi thấy hai ông già văng tục và gọi nhau bằng mầy tao. Tư Thàn cảm động quá, cái miệng móm méo xẹo, và khóc thành tiếng hu hu, làm tôi cũng khóc theo. Tư Thàn nghẹn ngào:
“Mầy còn nhớ đến tao, tìm thăm. Ðồ dịch vật. Lâu nay mày chết rấp nơi nào?”
Tư Thàn nhìn tôi từ đầu xuống chân, nói nho nhỏ:
“Tóc tai cũng còn, răng cỏ hai hàm còn nguyên, mặt mày có da có thịt, áo bỏ vào quần, đi giày đàng hoàng. Có phải mầy là Việt kiều về thăm quê hương không? Bây giờ mầy ở đâu? Làm gì?”
Tôi sợ Tư Thàn buồn, nói dối:
“Việt kiều cái con khỉ. Tao ở Sài gòn, nhờ có mấy đứa con vượt biên ra nước ngoài, và mấy đứa ở nhà, buôn bán, ăn nên làm ra. Giờ già rồi, về hưu, không làm gì nữa cả.”
Tôi hỏi thăm gia cảnh, Tư Thàn cho biết hai đứa con trai đều đã chết. Thằng Ðộ đi lính quốc gia, đã đền nợ nước, thằng Rề “hy sinh” cho “cách mạng”. Cô Năm Cháo Trắng chết bệnh. Tư Thàn không có ai để nương tựa, phải đi cuốc đất thuê kiếm ăn qua ngày. Tôi nhìn cái thân thể xương xẩu của Tư Thàn, không biết anh lấy đâu ra sức mà đi làm lao động chân tay. Tôi nói:
“Thôi, mầy đưa tao về nhà, thay áo quần, rồi cùng qua Long Xuyên, lu bù một bữa, anh em hàn huyên chơi, bỏ mấy mươi năm xa cách.”
Tư Thàn ngự trong căn chòi nhỏ, bốn bề che lá đơn sơ. Không bàn, không giường, chỉ có cái võng treo xéo. Trên bếp có cái nồi đen điu, méo mó. Tôi dỡ nồi ra xem, thấy còn có miếng cơm cháy. Tôi bốc ăn, mà cứng quá, răng già không nhai nổi. Thế mà Tư Thàn không còn răng, ăn cách nào đây?
 
Khi xe vào tỉnh lỵ Long Xuyên, tôi nhờ anh tài xế tìm cho một quán ăn ngon. Anh đưa chúng tôi vào quán nướng Nam Bộ. Tư Thàn gạt đi, không chịu vào, và nói:
“Kiếm chai đế và vài ba con khô cá sặc là đủ vui rồi. Ðừng hoang phí tiền bạc. Vào làm chi những nơi sang trọng nầy cho chúng chém. Gặp nhau là vui rồi. Ăn uống là phụ.”
Tôi ép mãi mà Tư Thàn không chịu. Cuối cùng, chúng tôi ra chợ, ngồi trên ghế thấp ở quán lộ thiên, ăn nhậu và nói cười vui vẻ, tự nhiên. Tôi uống rượu thay nước, vì sợ đau bụng. Anh tài xế cùng ăn, mà tôi không cho anh nhậu rượu, anh tỏ vẻ khó chịu, vùng vằng.
 
Ðưa Tư Thàn về lại tận nhà, tôi móc trong cặp một gói bao, bằng giấy báo đưa tặng. Tư Thàn mở ra xem, và giật mình, xô gói quà ra về phía tôi:
“Cái gì đây? Tiền đâu mà nhiều thế nầy? Tôi không lấy đâu. Ðừng bày đặt.”
“Có bao nhiêu đâu. Ngày xưa, tao nợ mầy chưa trả được, bây giờ trả lại cả vốn lẫn lời. Tao tính rồi, mầy nhận đi cho tao vui, bỏ công tao lặn lội đi tìm.”
“Không. Nợ nần cái khỉ gì. Ăn thua đá gà, chuyện tào lao thời trẻ dại. Tao đã bảo mày quên đi từ lâu. Bày đặt. Lấy tiền làm chi? Không có chỗ cất, bọn trộm cắp nó lấy đi, uổng lắm. Tao không lấy đâu.”
Thấy bộ Tư Thàn cương quyết quá, tôi xuống giọng, giả vờ nói:
“Mầy mà không nhận, tao có chết nhắm mắt cũng không yên tâm. Chưa trả hết nợ, thì sau nầy phải đầu thai làm trâu cày cho mầy. Khổ lắm. Thương tao, mầy cứ cầm đi. Ðể mua gạo. Ðể khi đau yếu có chút thuốc thang. Nếu không có nơi cất, thì đem gởi bà con. ”
Ðôi mắt già của Tư Thàn chớp chớp, và nói giọng run run như sắp khóc:
“Ð.M, tao già đến thế nầy, mà mày cũng còn định gạt tao như hồi xưa nữa sao? Thằng chó chết. Cái tình bạn của mầy, còn quý gấp trăm ngàn lần gói tiền nầy. Tao sẽ làm mâm cơm cúng bà Tư Cháo Trắng, nói cho bà biết cái tình bạn của mày. Dưới suối vàng, chắc bà cảm động lắm.”
 
Tràm Cà Mau
 
(°) Thơ Trần Tế Xương.
nguồn: VNthuquan

Những vì sao

Những vì sao
Vũ Thất 
Image result for starry night sky
Ảnh :pcwwallart
Tôi cảm thấy mỏi mệt và buồn ngủ, muốn rời đài chỉ huy về phòng nhưng nghĩ đến những giờ phút lê thê một mình trên chiếc giường xa lạ trong căn phòng lạnh lẽo chật hẹp, tôi thấy rõ là còn tệ hại hơn ở đây. Và giả như có rơi được vào giấc ngủ, thì hẳn cũng lại mơ thấy những gì không muốn thấy. Thôi thì đành đứng đây tuy âm thầm lặng lẽ, nhưng ít nhất cũng có bóng dáng con người. Bằng đang đứng bên tôi, rất gần mà cũng rất xa. Dường như anh mãi mê theo dõi hai ánh đèn xanh đỏ hướng mũi tàu. Tôi nghe anh ra lệnh đổi hướng đi…
 
Tôi xoay người, khoanh tay lên thành đài, ngước nhìn bầu trời đầy sao. Bầu trời sâu thăm thẳm và vô vàn các vì sao rực sáng đến ngạc nhiên. Hình ảnh gợi tôi nhớ một câu trong truyện ngắn được học từ Hội Việt Mỹ năm ngoái: Chưa bao giờ tôi thấy bầu trời sâu thẳm và các vì sao rực rỡ đến thế’. Tôi ưa thích câu này và đã từng ngước nhìn bầu trời về đêm nhưng lúc nào không gian của thành phố cũng vàng úa che mờ những vì sao thưa thớt. Tôi đã nghĩ đó chỉ là lời hoa mỹ của một nhà văn. Nhưng đêm nay, ngoài biển khơi tăm tối, tôi thấy lời văn đó chừng như chưa diễn đạt đủ. Bởi vì chính mắt tôi đang chiêm ngưỡng bầu trời sao tuyệt vời… 
 
Vừa lúc Bằng quay lui nhìn tôi, tôi hỏi ngay:
– “Đại úy có đọc truyện The Stars của Alphonse Daudet?”
– “’The Stars’ thì chưa, nhưng ‘Les Étoiles’ thì có. Thời trung học của tôi còn ngoại ngữ Pháp văn nên Alphonse Daudet nằm trong chương trình.”
– “Tôi phải mượn câu nói của cô chủ Stéphanette với chàng chăn cừu để tạm diễn đạt những gì tôi đang chiêm ngưỡng: ‘Never had the heavens appeared to me so profound, never the stars so brilliant.’”
– “Tôi thì thích câu tiếng Pháp, nghe… Tây hơn: ‘Jamais le ciel ne m’avait paru si profond, les étoiles si brillantes…’”
Tôi cười thầm. Anh chàng có vẻ muốn khoe mình biết tiếng Pháp chăng? Vậy thì nói thêm một câu tiếng Anh nữa cho bỏ ghét:
– “If one has ever passed a night under the stars, one knows that during the hours when most people sleep a mysterious world awakens in the solitude and the silence.”
(Nếu có bao giờ thức ngoài trời một đêm đầy sao, bạn mới biết rằng trong lúc chúng ta ngủ, một thế giới huyền bí thức dậy trong cô đơn và tĩnh mịch)
– “Cô Phượng thuộc cả bài tiếng Anh?”
– “Tôi từng thuộc cả bài nhưng giờ thì quên nhiều, như câu tiếp theo!”
Bằng không đọc tiếp bằng tiếng Pháp mà… nhân nhượng dịch sang tiếng Việt:
 “Lúc bấy giờ những dòng suối có tiếng ngân trong trẻo hơn, những hồ nước lấp lánh những đốm lửa nhỏ. Các thần linh của núi rừng đi lại tự do; và trong không gian có những xao xuyến, những âm thanh không thể nghe được, tuồng như người ta nghe cây cối tăng trưởng, cỏ hoa mọc thêm’. Trong trường hợp đứng giữa biển mịt mùng như đêm nay, lời diễn đạt trên cần bổ sung thêm một đoạn nữa: tuồng như người ta nghe được cả nhịp tim của công chúa Thủy tề và nỗi hân hoan của người thủy thủ…”
Lời thêm thắt của Bằng mang cho tôi niềm hưng phấn và bạo dạn. Tôi cao hứng đọc tiếp, đổi tiếng ‘shepherd’ của cô chủ và thay bằng cấp bậc của Bằng:
– “How beautiful the stars are! I have never seen so many. Do you know their names, lieutenant?” (Đẹp quá. Chưa bao giờ tôi thấy nhiều như thế. Đại úy có biết tên tất cả các ngôi sao kia không?
“Mais oui, Mademoiselle Phượng. Tenez! Juste au-dessus de nous, voilà le Chemin de saint Jacques (la voie lactée).” (Thưa cô, biết chứ. Cô hãy nhìn kia! Ngay trên đầu chúng ta là con đường thánh Jacques -dải Ngân Hà)
Chúng tôi cùng cười phá lên. Tiếng cười đánh thức cảm giác gì đó rất mơ hồ trong tôi. Không ngờ Bằng lại nhạy bén đến thế. Tôi vui thích ngợi khen:
– “Xem chừng đại úy thuộc cả bài?”
– “Cũng không hơn gì cô!”
– “Tôi không tài nào nhớ cái đoạn anh chàng chăn cừu kể chuyện tình các vì sao! Vừa khó hiểu vừa có những danh từ riêng lạ lẫm…”
Anh nghiêng mặt nhìn tôi:
– “Phiên hải hành thì còn dài, để tôi thử đóng vai chàng chăn cừu tán hưu tán vượn thêm may ra… rõ hơn! Nhưng trước hết tôi phải giao quyền chỉ huy cho Thiếu úy Lâm. Cô chờ tôi một chút!”
 
Bằng bước sang bàn hải đồ, loay hoay đo đạc. Tôi tiếp tục ngước nhìn các vì sao, hít sâu làn gió nhẹ, cố đè nén xúc động. Sao bỗng dưng tôi lại gài Bằng và tôi vào hai nhân vật của một truyện tình tuyệt đẹp? Trong sâu thẳm của tâm hồn, tôi đang có ước muốn đó sao? Chưa bao giờ tôi và Hưng có những giây phút êm đềm thơ mộng như thế này. Hưng quá thực tế. Trong đầu Hưng lúc nào cũng đấu tranh cướp chính quyền, lúc nào cũng tìm phương cách đuổi Mỹ về nước, lúc nào cũng mộng mơ xây dựng một xã hội không có người bốc lột người. Trong suốt tuần bên anh, nếu Hưng không bàn chuyện làm cách mạng thì cũng trầm ngâm ưu tư, chưa từng được một lần cùng thưởng thức những ưa thích đời thường như Bằng và tôi hiện tại! Ngay cả khi ngồi bên nhau ở những quán cà phê ngoài trời, tôi cũng không nhận được một lời tình tứ ngọt ngào nào từ Hưng, trái lại có lần tôi phải mượn một câu trong một truyện của Bùi Quang Đoài để tỏ lòng mình: ‘Anh hãy đếm những vì sao trên trời, được bao nhiêu thì em yêu anh còn hơn thế nữa’. Anh nghe và chỉ cười trừ…”
Bằng trở lui đứng bên tôi, hỏi:
– “Cô Phượng thấy ‘The Stars’ ra sao?”
Tôi lại nhìn lên bầu trời rồi thú nhận:
– “Sao nhiều hơn và sáng tỏ hơn ở thành phố… vạn lần.”
– “Tôi muốn hỏi cảm nghĩ về truyện Les Étoiles”.
– “Rất tuyệt! Tôi mê lắm, mê đến thuộc lòng!” 
– “Chỉ câu kết thôi cũng đủ ăn tiền, phải không?” Bằng cười khẻ. “Có lúc tôi ngỡ rằng một trong những ngôi sao đó, ngôi sao đẹp nhất, sáng nhất, lạc đường đã đến tựa trên vai tôi mà ngủ….”
 – “Đẹp như mơ! Mọi người mê là vì vậy”.
– “Thời đó tôi cũng mê lắm, nhưng sau vào Hải Quân, được học hàng hải thiên văn, có dịp nghiên cứu các vì sao mới thấy anh chàng chăn cừu này có phần… ma giáo.”
– “Ma giáo, ma giáo là sao?” Tôi ngạc nhiên hỏi.
– “Cô chê anh chàng chăn cừu kể chuyện tình các vì sao khó hiểu. Tôi tạm tóm lượt đoạn khó hiểu đó:  «Cô hãy nhìn kia! Ngay trên đầu chúng ta là con đường thánh Jacques (dải Ngân Hà)… Chính thánh Jacques đã vạch con đường này cho hoàng đế Charlemagne tiến đánh bọn Sarrasins. Xa hơn, là cổ xe chở linh hồn (Ðại Hùng Tinh) với bốn trục bánh xe sáng rực. Ba ngôi sao đi đầu là ba con vật kéo xe, và ngôi sao bé tí gần ngôi sao thứ ba là người xà ích điều khiển xe… Thấp một chút là sao Ba Ông Vua…Thấp hơn một chút, vẫn về phía nam, là ngôi sao Jean de Milan, ngọn đuốc của các vì sao. Về ngôi sao này, các mục đồng có truyền tụng một câu chuyện như sau. Vào một đêm nào đó, Jean de Milan cùng với sao Ba Vua và sao Poussinière (sao Rua) được mời dự tiệc cưới của một sao bạn gái. Sao Poussinière vội vả hơn nên đi trước và chọn lộ trình cao… Sao Ba Vua đi đường thấp hơn và đuổi kịp; nhưng anh chàng Jean de Milan lười biếng này, vì ngủ dậy trễ, đi lẹt đẹt sau chót, giận dữ đưa cây gậy ra để chận các sao kia lại. Vì thế, sao Ba Vua còn được gọi là cây gậy của Jean de Milan. Nhưng ngôi sao đẹp nhất trong tất cả các vì sao, là ngôi sao của chúng tôi, Ngôi Sao của Kẻ Chăn Cừu (sao Hôm, sao Mai)… Chúng tội còn gọi sao đó là Maguelonne, nàng Maguelonne kiều diễm chạy theo chàng Pierre của xứ Provence (Thổ Tinh) và kết hôn với chàng ta cứ bảy năm một lần. » Câu chuyện mờ mờ ảo ảo, tính danh các vì sao không giống ai, kết cuộc chẳng đâu vào đâu! Vậy có khác gì những lời ru ngủ cho cô chủ vốn đang mỏi mệt vì lạc đường vì mưa lạnh! Ngồi cạnh kề nhau mà ngủ gục thì đương nhiên phải ngã vào vai… chàng thôi! Ma giáo là chỗ đó!”
– “Đại úy có ý tưởng… quỷ quái thật!”
– “Tôi chỉ bông lơn cho vui thôi. Huyền thoại của Pháp về các vì sao đến anh chàng chăn cừu mà cũng biết thì coi như người Pháp nào mà không biết! Chúng ta mù mờ chỉ vì chúng ta chỉ biết… truyện cổ nước Nam!”
Tôi vẫn cảm thấy bực dọc. Dù là ý nghĩ bông lơn nhưng vẫn là một xúc phạm đến nét đẹp của nội dung. Phải chọc quê cho bỏ ghét, tôi nói khích:
– Đại úy trách anh chàng chăn cừu ma giáo. Vậy, với cái tâm trong sáng, đại úy sẽ kể câu chuyện thế nào?”
– “À à! Cô Phượng làm khó tôi chi vậy; có là khùng mới sửa đổi một tuyệt phẩm văn chương. Tôi chỉ dám liều mạng lan man cái đoạn khó hiểu cho nó… dễ hiểu hơn thôi!”
– “Tôi xin lắng nghe.”
– Trường hợp việc tôi lan man càng khiến cô Phượng thêm khó hiểu, thì hãy như cô chủ của chàng chăn cừu, cô quá giang của chiến hạm cứ tự nhiên… tựa lên vai tôi mà ngủ!”
– “Đại úy! Xin làm ơn…” Tôi ngượng nghịu kêu lên.
– “Trước khi lan man,” Bằng thản nhiên tiếp, “tôi xin có vài lời phi lộ về thiên văn. Như cô đang nhìn thấy và như trong truyện kể, bầu trời quả là sâu thẳm với vô vàn các vì sao. Sâu thẳm là vì nó vô cùng tận. Rồi cô sẽ thấy vì đâu nó vô cùng tận. Còn với vô vàn các vì sao, thì ngay với kính thiên văn, cũng không ai đếm được hết. Tuy vậy, từ năm ngàn năm trước, các nhà thiên văn đã quan sát, nghiên cứu và chọn đặt tên cho chừng vài chục ngôi sao sáng nhất, có lợi ích nhất cho mùa màng và hàng hải. Nhưng việc nhận dạng từng vì sao lại là chuyện khó nên tùy vị trí của chúng, họ đặt chúng thành từng chòm, và hình dung mỗi chòm thành một con người hay một con vật. Và qua hình dạng của nó, họ bịa ra một câu chuyện thần thoại để dựa vào đó mà đặt tên cho chòm sao. Có tất cả 88 chòm sao thấy được bằng mắt thường trên bầu trời, gồm 12 chòm sao Hoàng Đạo, 29 chòm sao ở Bắc bán cầu và 47 chòm ở Nam bán cầu. Cô Phượng theo kịp chứ?”
– “Xin tiếp tục…”
– “Vào thời điểm anh chăn cừu ngồi bên cô chủ ở một trang trại nào đó trên nước Pháp nằm khoảng giữa Bắc bán cầu, bầu trời hiện ra những chòm sao như được kể trong truyện: Con đường của Thánh Jacques tức Dải Ngân Hà, Chòm Đại Hùng Tinh với Cổ Xe chở Linh Hồn, chòm Lạp Hộ với sao Ba Vua, chòm Đại Khuyển với sao Sirius, chòm Kim Ngưu với cụm sao Rua cùng hai hành tinh Sao Kim và Sao Thổ.Vậy, tôi bắt đầu bằng huyền thoại Dải Ngân Hà…”
Image result for starry night sky
Ảnh :pcwwallart
Tôi chận lời Bằng:
– “Huyền thoại dải Ngân Hà –con đường Thánh Jacques, theo ông thầy tôi giảng thì đó là con đường hành hương từ Pháp sang Tây Ban Nha mà vì tín đồ đi hành hương quá đông nên bụi bay mờ mịt thành một dải sáng trông như sữa trên bầu trời, nên được đặt tên là La voie lactée. Mình gọi là Dải Ngân Hà.”
– “Đó rất có thể là huyền thoại được kể trong truyện. Nhưng còn một huyền thoại khác cũng ‘trông như sữa’, mà hấp dẫn hơn. Đó chính là một trong các huyền thoại được sáng tác để đặt tên cho chòm sao. Thần thoại Hy Lạp kể rằng trên trời có một vị thần chúa tể tên Zeus, rất uy quyền mà cũng rất…. loạng quạng! Một hôm, một đứa con ngoại hôn của ông bị khát sữa vì mẹ đi vắng, ông liều mạng cho nó bú trộm vú hoàng hậu Hera đang ngủ say. Hoàng hậu giật mình đẩy đứa bé ra, khiến dòng sữa văng tóe lên bầu trời thành Milky Way.”
Bằng nâng ống dòm lên tìm kiếm rồi đưa cho tôi:
– “Cô Phượng nhìn kỹ hướng này sẽ thấy một dải sáng chạy dài từ hướng lái đến hướng mũi tàu. Đó là Milky Way.
Tôi nhìn qua ống dòm. Đúng là có một dải sáng, nơi thì rực trắng, chỗ thì ửng hồng quyện lẫn những làn mây đen nằm vắt ngang bầu trời. Một hình ảnh lạ lùng, tuyệt đẹp nhưng không có gì giống một đường sữa hay long lanh thủy ngân. Tôi hỏi:
– “Milky Way sao lại dịch là Dải Ngân Hà?”
– “Thì đông là đông, tây là tây mà! Người châu Âu thấy nó như dòng sữa nhưng người châu Á trông nó tựa như dòng sông! Phải chăng vì dân châu Á nghèo nàn ít thấy sữa nên chỉ có hình ảnh nước trong đầu? Nhưng chính nhờ nghĩ tới dòng sông Ngân Hà mà ngày nay văn học Việt Nam có được câu chuyện tình đẩm nước mắt mà đẹp hơn cả Les Étoiles. Đẹp hơn là cái chắc: Cô con gái út của Ngọc Hoàng yêu chàng chăn trâu. Và vì quá yêu nhau mà phải bị phạt xa nhau! Cô hãy nhìn lại dải Ngân Hà, và tôi sẽ chỉ cô đâu là Chức Nữ, đâu là Ngưu Lang…”
Tôi phản đối:
– “Đại úy ơi, đây chỉ là huyền thoại!”
– “Đúng là huyền thoại nhưng là huyền thoại về một một thực thể. Thực tế trên bầu trời có một ngôi sao mang tên Chức Nữ và một ngôi sao mang tên Ngưu Lang, mỗi ngôi sao nằm một bên dải Ngân Hà. Cô hãy nhìn dải Ngân Hà ở khoảng này.” Tôi hướng theo ngón tay Bằng. “Ngôi sao sáng nhất, lấp lánh ánh xanh ở bờ sông bên trên chính là nàng Chức Nữ. Còn ngôi sao dĩ nhiên sáng thua Chức Nữ đôi chút ở bờ bên dưới, phía phải chính là chàng Ngưu Lang. Và ngôi sao bên trái, nằm ngang sao Ngưu Lang là một tiên nữ tên Thiên Tân, là người được Ngọc Hoàng biệt phái để mỗi năm đưa đò cho ‘đôi trẻ’ gặp lại nhau. Cô nhận ra ba ngôi sao rồi chứ?”
– “Thấy rồi.” Tôi hăng hái gật đầu.
– “Cô có biết đôi uyên ương bị chia cách bao xa không?”
Tôi cười:
– “Chắc không quá xa. Xa quá thì tiên nữ Thiên Tân chèo gì nổi!”
Bằng hướng nhìn về vùng trời mông lung như đang đo lường khoảng cách giữa hai vì sao. Tôi nghe ấm ức với cách hỏi của Bằng, câu hỏi vô bổ, vô lý như muốn chọc tức người nghe. Có ai đi đo làm gì khoảng cách giữa hai vì sao! Tôi quay nhìn hướng mũi tàu. Đài chỉ huy lờ mờ bốn bóng đen. Một bóng đứng trước chúng tôi bên mạn tả là tên Mỹ da trắng. Hắn lên đài chỉ huy cùng Hạm trưởng  khi chiến hạm bắt đầu vào vùng nhiều ghe đánh cá và vẫn đứng im lìm như thế sau khi hạm trưởng giao trách nhiệm cho Bằng. Dường như hắn cũng thích ngắm sao và dường như cũng lắng nghe Bằng nói về các chòm sao. Ba bóng đen kế tiếp đứng dàn hàng từ cánh phải như ba pho tượng, mỗi pho tượng một thế đứng mà tôi nghĩ rằng trong tư thế đó, mỗi người hẳn tận dụng được tối ưu nhãn lực để quan sát và phát hiện mọi đối vật. Một người thì ngồi lù lù trên thành đài cánh hữu, tôi đoán là Thiếu Úy Lâm, ống dòm dán vào mắt. Chiếc ghế hạm trưởng trống vắng im lìm. Tiếng của Bằng kéo tôi xoay lại:
– “Muốn thấy được là xa bao nhiêu, tôi cần nói thêm đôi chút về dải Ngân Hà. Thứ nhất dải Ngân Hà có chừng vài trăm tỷ ngôi sao trong đó có ngôi sao Mặt Trời. Chúng ta đã học Thái dương hệ gồm Mặt Trời và 9 hành tinh quay quanh nó. Trái Đất chúng ta là một. Dải Ngân Hà thực ra là một khối hình trụ tròn, tựa như vòng thổi của khói thuốc, có đường kính khoảng 100.000 năm-ánh-sáng, có độ dày khoảng 1.000 năm nhưng vì chúng ta đang ở bên trong nó nên thấy như một… dải ngân hà! So với vũ trụ, dải Ngân Hà chỉ chiếm một khoảng trời quá bé nhỏ. Chỉ cần biết nó bé nhỏ cỡ nào là ta biết vũ trụ lớn cỡ nào. Cô hẳn còn nhớ tốc độ của ánh sáng là ba-trăm-ngàn-cây-số-trong-một-giây. Một năm-ánh-sáng là gần 10 ngàn tỷ cây số. Theo công thức tính thể tích hình trụ tròn, ta lấy bình phương của ‘10 ngàn tỷ cây số nhân cho bán kính 50.000 năm-ánh-sáng’ rồi nhân chiều cao là ‘10 ngàn tỷ cây số nhân cho 1.000 năm’ rồi nhân cho Pi thì… không tưởng tượng nỗi!”
– “Quả là không thể hình dung nó lớn cỡ nào!”
– “Với một dải Ngân Hà mênh mông như vậy thì khoảng cách xa nhau giữa Chức Nữ và Ngưu Lang là 16 triệu năm-ánh-sáng xem ra có bao!”
– “Xa như vậy thì làm thế nào một năm gặp một lần được?”
– “Thì như vậy mới gọi là huyền thoại! Ngọc Hoàng chỉ cần cho gặp là… gặp thôi!”
Bằng cười sảng khoái. Tôi cũng thấy vui lây, không ngờ trên trời lại có những con số hay ho như vậy. Tiếng Bằng lại cất lên như lời thì thầm:
 – “Trở lại bộ ba Ngưu Lang-Chức Nữ-Thiên Tân, về phương diện thiên văn, là một kết hợp lừng danh từ ba ngôi sao sáng của 3 chòm sao Thiên Ưng, Thiên Cầm, Thiên Nga. Nó mang tên là ‘Tam giác mùa Hè’. Cũng với những kết hợp tương tự, các ‘Tam giác mùa Xuân’, ‘Lục giác mùa Đông’ đã giúp cho những nhà hàng hải từ thời xa xưa cho đến khi… tận thế luôn luôn có phương tiện hải hành an toàn trên hải lộ!”
Sợ Bằng lan man vào chuyên môn, tôi vội hỏi:
– “Ngưu Lang, Chức Nữ mỗi năm được tái ngộ vào tháng bảy mưa ngâu, còn trong truyện của Alphonse Daudet, Kim Tinh và Thổ Tinh phải cần đến 7 năm mới kết hôn một lần là sao?”
– “Thực tình mà nói, tôi cũng… mù luôn!”
Tôi mỉm cười, nhớ ra Trung úy Bách cũng từng dùng từ ngữ này. Họ sống gần gụi nhau quá. Chỉ cần tôi ở thêm với họ vài ngày nữa, e rằng cũng khó tránh khỏi bị… mù!
– “Tuy nhiên,” Bằng nói tiếp, “theo tôi suy đoán thì chắc tác giả muốn nói về thời điểm gặp gỡ giữa Kim Tinh và Thổ Tinh được nhìn từ Quả Đất.”
Bằng lặng thinh một lúc như tìm giải đáp:
– “Cái rắc rối là người đẹp Kim Tinh –Vệ Nữ- không chịu quay quanh Mặt Trời cùng chiều với 8 hành tinh kia mà lại quay theo chiều ngược lại. Người đẹp này lại nhiều e ấp. Trong một thời gian nào đó, nàng vừa là sao Mai vừa là sao Hôm; một thời gian khác chỉ là sao Mai hoặc sao Hôm; lại có khi lâu vài ba tháng nàng biến mất trên bầu trời. Với người đẹp Kim Tinh thì vậy, còn người đẹp Kim Phượng cũng nào kém: lúc thì vừa quen vừa lạ, khi thì chỉ lạ hoặc chỉ quen và ngày mai đây sẽ vĩnh viễn biến mất khỏi con tàu này, trừ phi người đẹp để lại địa chỉ.”
Tôi cười:
– “Tôi được Ngọc Hoàng gửi tạm xuống chiến hạm này để đồng hành cùng đại úy một lần… rồi thôi. Còn đại úy muốn gặp lại, hãy nhìn ngôi sao bên sao Chức Nữ. Đó là nơi tôi ở: ‘Quê nhà ở phía ngôi sao. Qua sông mượn khúc ca dao làm cầu.’”
Bằng lắc đầu:
– “Đành thôi! Mượn tiên nữ đưa đò thì còn hy vọng được chứ mượn khúc ca dao thì Ngọc Hoàng lấy đâu mà cho mượn!” Anh buông tiếng thở dài. “Thôi thì đành… nói tiếp chuyện 7 năm kết hôn một lần. “Ngoài rắc rối quay ngược chiều, càng rắc rối hơn là mỗi hành tinh không chỉ có chu kỳ quay quanh Mặt Trời khác nhau mà còn khác nhau cả vận tốc tự quay quanh trục của chính mình. Đây là bài toán rắc rối mà tôi chưa có dịp nghiên cứu. Nhưng hãy cứ tin cái nhóm từ ‘cứ bảy năm cưới một lần’ là kết quả tính toán cho thời điểm nhìn từ Trái Đất thấy được Thổ Tinh nằm kề Vệ Nữ.”
– “Quả là rối rắm.” Tôi nhìn nhận. “Còn Đại Hùng Tinh là ngôi sao nào? Nó có nằm trong Dải Ngân Hà?”
Tiếng Thiếu úy Lâm vang lên sau câu tôi hỏi:
 “Trình Hạm phó, chiến hạm nằm lệch ngoài đường nửa hải lý.”
– “Anh cho lệnh lái vào hải trình.”
– “Đáp nhận.”
Bằng lặng thinh nhìn hướng mũi tàu như đang quan sát tác động của các lệnh Thiếu úy Lâm ban hành. Một lúc, anh quay sang tôi:
– “Còn câu chuyện của chúng ta, tôi có… lệch xa lắm không?”
– “Chừng trăm tỷ hải lý thôi!” Tôi cười giòn.
– “Vui lòng cho biết đang đến đâu để tôi tự lái vào.”
– “Trong truyện có nhắc tới sao Đại Hùng Tinh, xin đại úy chỉ cho thấy ngôi sao đó ở đâu?”
Ảnh Earthsky.com
– “Chỉ thì dễ mà thấy được hay không thì lại tùy sức… tưởng tượng! Trước tiên cần nói rõ nó không là một ngôi sao mà là một chòm sao và nó nằm ngoài dải Ngân Hà. Chòm Đại Hùng Tinh –Ursa Major gồm hai chục vì sao, mang hình tượng con gấu, gọi là Gấu Lớn đối diện một con gấu nhỏ hơn, tức Tiểu Hùng Tinh. Ngôi sao cuối cùng của cái đuôi của Gấu Nhỏ chính là sao Bắc Cực Polaris, vô cùng cần thiết cho người đi biển. Thế nhưng vì sao Bắc Cực không được sáng lắm, nên muốn tìm ngôi sao này cũng như muốn tìm các chòm sao khác gần đó, người ta phải nhờ đến chòm Gấu Lớn. Bằng cách nào? Ở bụng và đuôi Gấu Lớn có 7 ngôi sao sáng rất nổi tiếng cả trong thiên văn lẫn văn học, mang tên Thất Tinh Bắc Đẩu. Chúng xếp thành hình cái gàu múc nước –như cái muỗng- với ba ngôi sao làm cán và 4 ngôi sao làm chậu. Kéo dài 5 lần cạnh nối hai ngôi sao cuối về phía miệng chậu, sẽ gặp sao Bắc Cực.  Vì ở cách xa trên 400 năm-ánh-sáng nên dù ở bất cứ nơi nào trên Bắc bán cầu, ta luôn luôn nhìn thấy ngôi sao này. Độ cao của nó so với đường chân trời chính là vĩ độ của người ngắm nó.”
 
Bằng bước về bàn hải đồ, bật ngọn đèn nhỏ vài giây rồi bước sang chiếc la bàn điện đặt giữa đài chỉ huy. Anh loay hoay ngắm qua vòng chia độ của la bàn xuôi theo lái tàu rồi trở lại bên tôi:
– “Chiến hạm đang ở vĩ độ 100, suy ra sao Polaris có cao độ cũng100.  Cô nhìn đúng hướng Bắc,” tôi hướng mắt theo tay Bằng chỉ, “ngay sát chân trời là Bắc Đẩu Thất Tinh. Theo sách vở, cô ‘kéo’ một đường thẳng ở hai sao cuối đi ngược lên sẽ thấy sao Bắc Cực.”
Tôi đặt ống dòm, phải mất khá lâu tôi mới nhìn ra nó. Rồi theo hướng dẫn kế tiếp, tôi cũng nhận ra nó đúng là ngôi sao cuối ở cái đuôi của Gấu Nhỏ. Tôi không kềm được tiếng kêu thích thú:
– “Tôi đã hiểu vì sao các anh đi biển lâu ngày mà không chán rồi!”   
– “Đối với nhà hàng hải, chòm Đại Hùng Tinh còn cho biết thêm nhiều chòm sao lân cận bằng cách cứ kẻ đường kéo dài đi qua hai ngôi sao nào đó trong chòm. Còn đối với nhà nông,  cứ nhìn Thất tinh Bắc Đẩu là biết mùa: Vào lúc hoàng hôn, nếu thấy cái cán chỉ về hướng Đông thì nhân thế vào mùa Xuân, chỉ hướng Nam –mùa Hè, hướng Tây -mùa Thu và hướng Bắc –mùa Đông.”
Tôi lại thích thú khẽ reo:
– “A, hay quá!”
Giọng Bằng vẫn đều đều ấm áp:
– “Cái này còn hay hơn. Qua hình dạng của 7 ngôi sao này, các nhà thiên văn thời nhà Hán và Ả Rập cổ xưa lại không thấy giống cái đấu mà giống một chiếc xe với 4 ngôi sao là cổ quan tài và ba còn lại là ba con vật kéo xe. Còn người xà ích là ngôi sao nhỏ cạnh đó. Phải chăng đây là hình ảnh Cổ Xe chở Linh Hồn theo như truyện kể?”
 
Bằng nghiêng mặt nhìn tôi. Tôi vờ nhìn vào khung trời xa thẳm để tránh ánh mắt chừng như muốn thắp sáng khuôn mặt tôi. Qua một cử động đổi thế đứng, cánh tay tôi vô tình chạm vào cánh tay Bằng. Một đụng chạm rất nhẹ nhưng đủ để cảm giác êm đềm từ anh tuông sang. Một lằn sáng xẹt nghiêng bầu trời. Tôi mừng rỡ kêu lên:
– “Ô, sao băng. Một ngôi sao băng, thiệt đẹp.”
Bằng nói khẻ:
– “Cô Phượng ước điều gì đi. Thấy sao băng ước gì được nấy.”
Một ý tưởng chợt bật lên. Tôi lắc đầu buồn bã. Đã quá muộn, có Thánh cũng không thay đổi được.”
– “Cô ước gì, tôi biết được chăng?”
– “Không! Không thể!”
– “Sao lại không thể? Thông thường người ta ước là ước điều tốt đẹp.”
– “Tôi đã ước một điều tốt đẹp nhưng không nói ra được. Xin đừng ép.”
– “Còn tôi, tôi đã ước một điều rất tốt đẹp. Cô muốn nghe không?”
Óc tò mò còn mạnh hơn ý muốn từ chối. Vả chăng, đêm còn dài, thì cứ nghe cho qua thì giờ. Có thể Bằng đã ước… được tôi yêu; cũng có thể đã ước được tôi… làm vợ. Nếu thật vậy và nếu Bằng hỏi tôi có cảm nghĩ gì thì tôi sẽ trả lời sao? Tôi tự cười nhạo mình sao bỗng dưng lại có ý tưởng quá ngạo mạn. Hay chính tôi đang khao khát được như vậy?  Tôi gượng gạo khuyến khích:
– “Đại úy nói nghe thử!”
– “Nghe thử thì không nói!”
– “Thì nghe thiệt!”
– “Ước gì cô Phượng đã không xuống tàu…”
Tôi ngước nhìn muôn vạn vì sao. Dường như chúng đang chao đảo, nhòe nhoẹt. Thật lạ lùng, đó cũng chính điều tôi ước! Tôi đã ước giống Bằng nhưng không phải như mục đích của Bằng. Bằng chỉ muốn bày tỏ tình yêu dành cho tôi, còn tôi, chỉ vì yêu Hưng mà bước xuống tàu để rồi chính tình yêu đó không còn nguyên vẹn. Cả cái ý nguyện đuổi Mỹ xâm lược chừng như cũng không còn thuyết phục. Không có gì chứng tỏ người Mỹ chỉ huy trên con tàu này. Và thủy thủ đoàn, mỗi người một nghề, một nhiệm vụ, họ tận tâm, hãnh diện và chân thành, không một biểu hiệu cho thấy là lính đánh thuê. Cả đến chỗ ngồi ở bàn ăn tôi cũng được xếp ngồi trên tên Mỹ. Giọng cợt đùa của Bằng như ngọn sóng ập phủ lên tôi:
– “Ước một điều đã xảy ra để không xảy ra thì có Thánh cũng đầu hàng. Thôi thì cô Phượng đã xuống tàu, đã đứng cạnh tôi, thì hãy cứ như cô chủ của chàng chăn cừu chịu khó nghe mao tôn cương tiếp chuyện Les Étoiles. Chúng ta đã bàn qua dải Ngân Hà, chòm Đại Hùng Tinh, giờ xin tán rộng chuyện sao Ba Vua. Đó là ba ngôi sao thẳng hàng nổi bật trên cái đai lưng của người thợ săn Lạp Hộ Orion. Chòm sao này không chỉ giúp chàng chăn cừu biết giờ giấc mà còn tối cần cho các nhà hàng hải định vị và định hướng con tàu. Chòm sao này có lắm điều thú vị…

en.wikipedia.org

Tiếng còi vang lên, lồng lộng. Bằng ngưng nói, quay nhìn chiếc đồng hồ 24 giờ chiếu sáng bằng dạ quang: 3:45. Anh quay lại với tôi:
– “Còn 15 phút nữa tôi sẽ mãn phiên. Nếu cô Phượng muốn nghe tiếp, tôi rất vui…”
Tôi nhanh nhẩu:
 “Tôi cũng rất vui nếu đại úy không buồn ngủ…”
– “Không sao! Tôi sẽ ngủ bù sau khi cô rời tàu để có thể tiếp tục thấy cô trong mơ, để trong mơ thấy Ngọc Hoàng thương tình cho phép một năm gặp nhau đôi lần…”
Tôi dở cười dở khóc. Tôi muốn rút lại câu nói của mình. Trăng sao có dính dáng gì đến tương lai mà muốn biết để dây dưa… Tôi cũng muốn phản đối lối ăn nói sỗ sàng của Bằng nhưng giọng Bằng lại êm đềm cất lên, nương cơn gió mang theo rung động mơ hồ…
– “Cô Phượng chờ tôi một tý. Tôi cần làm vài thủ tục để bàn giao phiên hải hành. Rồi sau đó chúng ta sẽ tự do trôi theo dải Ngân Hà…”
Bằng bước sang bàn hải đồ… Tôi xốn xang trông theo dáng anh rồi gục mặt lên cánh tay cố ngăn những giọt nước mắt. Mày điên rồi sao Phượng? Có gì đâu mà mày khóc. Mày phải nhớ mày mới quen người ta một ngày. Mày phải nhớ mày xuống đây là để làm công tác chớ không để cảm thương. Tôi mở to mắt nhìn dải Ngân Hà và tôi thấy lời Bằng chí lý: thật là vui nếu chúng tôi cùng trôi theo dải Ngân Hà…
Khi chúng tôi ngồi mỗi người một ghế ở khẩu đại bác 76 ly2 trước mũi, Bằng nhìn bao quát bầu trời một lúc mới lên tiếng:
– “Thật không may là chúng ta ở gần xích đạo nên chỉ có thể thấy sao Ba Vua vào mùa đông. Vậy thì hãy tưởng tượng trên nền trời có ba ngôi sao sáng gần nhau và thẳng hàng. Rồi tưởng tượng tiếp có bốn ngôi sao sáng khác bao quanh: hai ngôi sao sáng ở phía trên là Bellatrix và Beltagueuse màu đỏ, mỗi ngôi sao nằm trên vai của một chàng hiệp sĩ và hai ngôi sao phía dưới, một không tên, một tên Rigel sắc trắng xanh sáng rỡ nằm trên hai đầu gối. Ba ngôi sao sáng thẳng hàng ở giữa chính là đai kiếm của chàng hiệp sĩ Lạp Hộ.”
 – “Nhưng chàng hiệp sĩ đâu?”
– “Phải tưởng tượng chứ! Nếu có cơ hội, tôi sẽ cho cô xem hình, còn bây giờ thì ráng tưởng tượng. Từ cái đai lưng Sao Ba Vua ta kéo dài ở hai đầu, sẽ gặp hai ngôi sao cũng được truyện nhắc đến là sao Jean de Milan tức sao Sirius sáng nhất bầu trời thuộc chòm Đại Khuyển và cụm Poussinière  tức cụm Thất Nữ tuyệt đẹp thuộc chòm Kim Ngưu. Cụm Thất Nữ chính là cụm sao mà người mình gọi là Sao Rua, hay Tua Rua. Quan sát bằng kính thiên văn, cụm sao này có đến 250 vì sao nhưng nhìn bằng mắt thường, có cái lạ là người ngoại quốc thì thấy 7 ngôi sao mà người mình lại thấy tới 9. Bởi vậy mới có các câu ca dao:
 
Sao Rua chín cái nằm kề
Thương em từ thuở mẹ về với cha.
Sao Rua chín cái nằm ngang,
Thương em từ thuở mẹ mang trong lòng.
Sao Rua chín cái nằm chồng,
Thương em từ thuở mẹ bồng mát tay.
Sao Rua chín cái nằm xoay,
Thương em từ thuở em hay khóc nhè.
Sao Rua chín cái nằm gần.
Thương em từ thuở bước chân xuống tàu.”
 
Tôi không nín được tiếng cười:
– “Hai câu chót chắc là ca dao mới, do đại úy Bằng sáng tác.”
– “Cô Phượng nhanh trí thật!” Bằng cười giòn… 
Sợ Bằng thêm sáng tác, tôi hỏi vội:
– “Đại úy nói là các nhà thiên văn đặt tên các chòm sao theo hình tượng con người và con vật. Xin cho vài ví dụ…”
– “Ví dụ như Xà Phu, Lạp Hộ, Song Nam, Bảo Bình; như Thiên Nga, Hổ Cáp, Bắc Giải, Song Ngư… Cả trong việc đặt tên, các nhà thiên văn còn thận trọng đặt cho đủ giống đực giống cái để giúp các chòm sao khỏi cô đơn. Ví dụ kể về vợ chồng thì có chòm Thiên Vương, Thiên Hậu; kể về bạn bè thì có Anh Tiên, Xử Nữ; kể về bồ bịch thì có Tiên Nữ, Mục Phu…”
– “Đại úy quả là có lòng quãng đại, cho Tiên Nữ có bồ…. cowboy!”
– “Thì truyện Les Estoiles đã chẳng gợi ý chàng chăn cừu mê cô chủ. Rồi thêm truyện con gái Ngọc Hoàng mê chàng chăn trâu. Còn truyện tôi đang tưởng tượng thì vai chính cũng đang mê một giai nhân…”
Tôi hốt hoảng đặt câu hỏi tránh né:
– “Đại úy có thể cho biết vì sao các anh phải học các… vì sao?”
– “Cô Phượng ngưng gọi tôi “đại úy” thì tôi nói.
Tôi đắn đo. Điều kiện dễ dàng mà nghe… kỳ kỳ! Nhưng chắc phải đành thôi. Bằng không nói thì tôi biết phải nói với ai cho hết đoạn đường xem ra còn quá dài. Có đi ngủ thì ngày mai cũng gặp Bằng. Tôi hứa hẹn lửng lơ:
– “Đại úy nói đi, rồi tôi ngưng…”
– “Nói tổng quát, các vì sao, các chòm sao giúp cho các nhà hàng hải ở mọi thời đại định được vị trí và hướng đi của mình. Vì vậy, đã vào hải quân thì phải học les étoiles, cũng như lên trung học là phải học the stars! Đành rằng ngày nay tàu bè đa số đều được trang bị máy Loran định tọa độ như chiến hạm này, hoặc tân tiến hơn là dùng vệ tinh nhân tạo, nhưng thói thường cái gì gọi là máy móc thì đều có thể bị hư hỏng hoặc bị phá hoại. Vì vậy phương pháp hải hành bằng thiên văn là phương pháp tuy cổ điển mà ăn chắc. Chỉ có trời mới ngăn được các nhà hàng hải sử dụng các vì sao. Mới đầu chúng tôi sợ lắm vì sao quá nhiều mà xem ra sao nào cũng giống sao nào. Nhưng càng học càng mê. Trừ các hành tinh, một đặc điểm rất đáng được biết ơn của các vì sao là vị trí của chúng trên thiên cầu không bao giờ thay đổi. Đặc điểm thứ hai, kể cả các hành tinh, là mỗi thiên thể có một độ sáng riêng, có màu sắc riêng và cả dung nhan riêng. Lại có các vì sao thực sự làm say đắm lòng người, khiến đêm mơ ngày tưởng như vì sao đi lạc ngủ trên vai chàng chăn cừu và vì sao lạc xuống tàu…
– “Đại úy! Xin đại úy…” Tôi nài nỉ. Tôi bắt đầu sợ lời bóng gió chừng như bất tận.
– “Cô Phượng có xem phim Anastasia, kể chuyện cô con gái út của Nga hoàng?”
Bằng hỏi đột ngột, có vẻ như chuyển đề tài, tôi mừng rỡ đáp ngay như thoát món nợ:
– “Có chứ, tôi cũng… mê phim này lắm.” Tôi nhận ra mình vừa dùng từ ngữ ‘mê’ của Bằng.
– “Cô mê gì nhất?”
– “Nữ tài tử Ingrid Bergman, đẹp mà diễn xuất tuyệt vời, đã nhận được giải Oscar.”
– “Còn ‘mê’ gì nữa?”
Bằng có ý gì? Sẽ dẫn tôi tới đâu? Tôi duyệt lại nội dung bộ phim. Đó là chuyện đời người con gái không biết có phải mình đã từng là một công chúa để rồi ngay trước khi ngôi vị đó được xác nhận trong một buổi lễ trang trọng, nàng lại từ chối để đuổi theo người mình yêu… Tôi nói:
– “Tôi mê phim nhưng chê đoạn kết! Tôi không thuộc loại quá tôn thờ tình yêu.”  
– “Còn bản nhạc nền có nhắc đến một vì sao?”
– “A!” Tôi nhớ ra kêu lên. “Tôi rất thích bản đó. Pat Boone hát thật tuyệt vời!”
– “Nếu chàng chăn cừu có đủ sức tưởng tượng một vì sao sáng nhất lạc đường ngủ trên vai của mình thì tôi cũng dám tưởng tượng có một vì sao đẹp nhất lạc vào tiếng hát nồng nàn của Pat Boone: ‘Anastasia. Tell me who you are? Are you someone. From another star? Anastasia. Beautiful stranger. Step down from your star. I only know I love you so. Whoever you are.’”
Tôi nghe rùng mình. Bằng gọi tên Anastasia mà tôi mơ hồ như anh đang gọi tên tôi. Đã đành tôi ưa lãng mạn mộng mơ nhưng chừng như tôi đang bước dần sang bến bờ ủy mị. Tôi nói nhỏ nhẹ mà dứt khoát:
– “Đại úy. Xin trở lại chuyện các vì sao. Đành rằng các anh phải học các vì sao nhưng học những gì?
– “Chúng tôi không học chuyên về thiên văn là môn học nghiên cứu và giải thích các chuyển động, các hiện tượng vật lý của các thiên thể trong không gian. Chúng tôi chỉ học về những gì có liên quan đến hàng hải, tức là phải biết nhìn sao để định hướng đi, phải biết đo cao độ sao để định vị trí con tàu. Học định hướng không khó, nhưng học đo cao độ mới là nhiêu khê. Thứ nhất, nếu không ‘nhận diện’ được thiên thể thì phải rành sử dụng bảng-tìm-sao hoặc bản-đồ thiên-cầu. Thứ hai, tìm được tên ngôi sao rồi, phải biết cách dùng kính lục phân sextant cho cao độ, dùng lịch The Nautical Almanac cho kinh tuyến Greenwich cùng độ phương vị, và dùng các dụng cụ lỉnh kỉnh khác…”
– “Đại úy nói bầu trời có 88 chòm sao, trong đó có 12 chòm sao Hoàng Đạo. Sao gọi là 12 chòm sao Hoàng Đạo?”
– “Ngày xưa cổ nhân cho rằng Trái Đất là trung tâm vũ trụ và mọi thiên thể quay quanh nó. Ai nói ngược lại thì bị tử hình. Tương truyền rằng nhà thiên văn học Galileo chịu tử hình chớ không nói khác sự thật: Mặt Trời mới là trung tâm và Trái Đất quay quanh Mặt Trời. Ông bị bắt giam. Đến khi bị mang lên giàn thiêu, người ta cho ông cơ hội nói lại để được sống, ông bảo, dù ông có chết Trái Đất vẫn cứ quay quanh Mặt Trời. Đúng là vậy nhưng, để cô Phượng dễ hiểu, tôi tạm để Trái Đất đứng yên và Mặt Trời quay quanh thiên cầu. Và trong khi du hành giáp vòng là một năm, Mặt Trời đi qua đúng 12 chòm sao trong số 88 chòm sao trên thiên cầu. Người ta gọi đó là 12 chòm sao Hoàng Đạo. Về phương diện chiêm tinh, 12 chòm sao Hoàng Đạo chính là 12 cung Hoàng Đạo của tử vi tây phương. Mỗi cung tương ứng một tháng…”
– “À ra thế!”
– “Cô có tin tử vi không?”
– “Không tin nhưng tuần nào cũng mua báo để đọc tử vi. Đó là mục giải trí ưa thích!”
– “Nếu ưa thích tử vi thì hẳn cũng ưa thích… Hải Quân vì Hải Quân lấy 12 chòm sao hoàng đạo đặt tên cho các khóa sĩ quan. Như khóa tôi thuộc cung thứ 11: Bảo Bình.
– “Ô, thật vậy sao?”
– “Tháng sinh của cô thuộc cung nào?”
– “Cung Sư Tử”. Tôi dùng từ ngữ bình dân để hù Bằng.
– “Không như cái tên nghe dễ sợ, người thuộc cung Hải Sư rất vui vẻ, dễ thương, thích văn chương thi phú và cũng là người khá lãng mạn và làm mọi điều để cho người mình yêu được hạnh phúc.”
Tôi trố mắt nhìn Bằng. Không lẽ anh rành cả khoa tử vi? Đó đúng là lá số vắn tắt cung tuổi của tôi. Nhưng giờ nghe anh nói khiến tôi giật mình. Câu chót xem ra quá đúng, vì yêu Hưng tôi đã bằng lòng làm một việc ngoài ý muốn để Hưng được vừa lòng.
– “Còn tôi, thuộc cung Kim Ngưu, là người đáng tin cậy và… đáng thương. Thương thiệt hay thương hại đều đáng thương cả!”
Tôi không thấy ánh mắt của Bằng nhưng chắc chắn nó phát ra những tia ranh mãnh dẫn đường cho lời nói. Tôi cằn nhằn vờ vĩnh:
– “Đang nói chuyện thiên văn, đại úy tự dưng chuyển qua tử vi.
– “Cô không muốn tôi coi tiếp sao? Thí dụ như cung Hải Sư có hạp cung Kim Ngưu?”
Tôi nghĩ tới Hưng và đùa một cách chua xót:
– “Chắc chắn là không hạp rồi vì ở giữa có sao… quả tạ!”
Bằng bật cười giòn khiến tôi cũng bật cười theo. Giọng Bằng vui vẻ:
– “Cho dù có sao quả tạ thì nó cũng chỉ là một trong muôn vàn tinh tú. ‘Em chớ hỏi: sóng đi trên biển lớn. Cớ làm sao thành nhã nhạc dâng lên. Cớ làm sao muôn tinh tú trong đêm. Bỗng rung động khi em cười rất nhẹ.’ Thơ Nguyên Sa đó, nghe tình quá phải không?”
Tôi thở hắt và thú nhận với chính mình: Chưa biết là của Nguyên Sa mà lòng đã xiểng liểng! Anh tàn ác quá… Anh nỡ bủa sao trời vây kín không cho tôi thoát. Nhưng tôi phải thoát, tôi chỉ mới quen anh, chưa từng biết gì về anh. Một câu ca dao chợt hiện. Tôi lấy giọng khiêu khích:
 “Anh về đếm hết sao trời.
Em đây kết tóc ở đời với anh.
Tôi nghe tiếng Bằng thở dài:
– “Cô Phượng ơi! Chỉ nội dải Ngân Hà không thôi đã có vài trăm tỉ ngôi sao mà cô lại đòi tôi phải đếm hết trọn cả bầu trời. Chắc phải hẹn gặp cô hàng tỉ tỉ kiếp sau…”
 
Chúng tôi cùng im lặng một lúc lâu. Dường như Bằng có ý chờ tôi nói một lời gì. Nếu tôi không tiếp tục hỏi, tôi phải ngưng gọi anh là đại úy. Không, không thể thay đổi. Tôi có định gặp lại Bằng đâu thì thay đổi để làm gì! Tôi đặt một câu hỏi để Bằng nói mãi về các vì sao, không còn thì gìờ để tạo trong tôi những xao xuyến ngoài ý muốn:
– “Đại úy nói là người xưa bịa ra những câu chuyện thần thoại để đặt tên cho 88 chòm sao. Phượng rất muốn nghe. Mỗi một truyện đại úy kể, Phượng hứa sẽ giảm số sao đại úy phải đếm…”
Tôi chợt nhận mình không còn xưng tôi mà lại xưng tên và may quá Bằng không để ý.
– “Tôi đã kể huyền thoại về Thất Tinh Bắc Đẩu mang hình ảnh cổ xe chở linh hồn nhưng chưa kể do đâu mà chòm sao chứa 7 ngôi sao này mang tên Gấu Lớn. Theo thần thoại Hy Lạp đã nói đến, ông vua Zeus lại léng phéng có con với một người đẹp khác, nên hoàng hậu Hera lại nổi cơn ghen và biến người đẹp này thành con gấu. Vua Zeus quá thương nên đưa lên trời. Về sau đứa con cũng được vua cha cho về gần mẹ qua hình tượng chòm sao Gấu Nhỏ. Nhưng cả hai vẫn không được yên thân. Hoàng hậu còn ấm ức nên nhờ anh mình là thần biển không cho phép họ uống nước. Vì vậy mà hai mẹ con Gấu cứ chạy lòng vòng trên bầu trời Bắc cực, không bao giờ được xuống dưới đường chân trời… Nhờ vậy mà sau này nếu cô có dịp quá giang vào bất cứ thời điểm nào trong năm, cho dù cô không thấy tôi trên tàu, cô cũng sẽ thấy tôi trên…cổ xe chở linh hồn!”
Tôi liếc xéo Bằng nhưng anh phớt lờ tiếp tục:
– “Còn về chàng thợ săn Lạp Hộ có đai lưng là sao Ba Vua thì thần thoại Hy Lạp kể rằng, bởi anh thợ săn này quá kiêu căng, tự xưng mình là tay săn bắn giỏi nhất trần đời nên Hoàng hậu Hera nổi sùng, bèn sai con Hổ Cáp Scorpio dùng nọc độc giết người thợ săn này. Vua Zeus nghe tin lấy làm thương xót và quyết định cho cả hai lên trời nằm ở hai vị trí đối nghịch. Hễ chòm sao này mọc thì chòm sao kia lặn để cho hai kẻ thù chẳng bao giờ thấy mặt nhau…”
 
Vẫn giọng êm ấm thân tình, Bằng kể tiếp qua thần thoại chòm Đại Khuyển với ngôi sao sáng nhất trong mọi vì sao là Sirius Thiên Lang… Có quá nhiều tên sao bằng tiếng ngoại quốc lạ lùng. Rồi tên của nhiều chòm sao khó nhớ khác. Nói cho đúng thì tôi không chủ tâm để nhớ. Chúng có liên quan gì đến cuộc sống của tôi đâu. Nhưng cách Bằng kể chuyện tạo cho tôi cái cảm tưởng như chính mình đang sống trong thần thoại. Tôi không biết Bằng có định kể trọn 88 chòm sao hay không nhưng tôi mong anh đừng bao giờ chấm dứt. Bởi vì chừng như anh không đang kể những gì tôi muốn anh kể mà là anh đang nói những gì anh muốn nói. Đến một lúc, tôi chợt nhận ra một điều khác thường. Không như cô chủ nghe chàng chăn cừu kể chuyện mà ngủ gục, tôi đã vô cùng vui thích lắng nghe. Có điều trong lúc lắng nghe, dù không chút nào buồn ngủ, tôi vẫn muốn được như cô chủ là tựa đầu lên vai Bằng!
 
Vũ Thất
Trích Trong Cơn Bão Biển
Truyện dài, Sài Gòn 1970
 

Về hưu

Về hưu

Vũ Thất

Vào đến sở, việc đầu tiên của tôi là gắn chiếc walkie-talkie vào thắt lưng rồi đi một vòng kiểm soát tình trạng khiển dụng của các máy in-chụp Xerox: bắt đầu từ tầng một lên đến tầng năm, mỗi tầng hai máy ở hai đầu. Hôm nay gặp may, không máy nào nổi đèn báo hiệu bị đứt cầu chì, bị kẹt, hết giấy, hết mực…; tôi chỉ phải “châm” thêm ít giấy mới. Dư thì giờ, tôi chợt thấy cũng nên lên từng chót xem có gì mới lạ. Tôi từng lên đây một lần ngày đầu mới đến. Hãng này trước đóng đô ở Maryland trong tòa nhà ba tầng, sau nhờ làm ăn khấm khá nên thuê một tòa nhà sáu tầng hoàn toàn mới ở Virginia. Trong hai năm, hãng bành trướng thêm hai tầng và dự trù năm tới sử dụng luôn tầng chót.

Tầng lầu vẫn thế, vẫn trống trơn, thênh thang, sạch sẽ. Ánh nắng phản chiếu lên lớp gạch nhựa màu lục có vân tỏa ra một độ sáng mát mắt. Tôi bước đứng sát khung kính khoảng giữa. Vách của tòa nhà được thiết trí toàn bằng kính nhuộm màu xanh nhạt ngăn tia tử ngoại.

Bên ngoài, cả một phần không gian tuyệt đẹp. Nền trời biêng biếc sau vô số tòa nhà vươn cao, treo lơi khơi vài đám mây trắng dị hình qua đó một chiếc phi cơ đang chúc mũi xuống phi trường Dulles. Những dáng cây trụi lá không che kín con lộ 66 rộn ràng. Mặt đất thường là hoa cỏ đầy sắc màu giờ đây chỉ là một thảm tuyết trắng xóa mênh mông. Chếch hướng hai giờ, gần gụi nhất là tòa cao ốc bề thế mang biển SpringHill Suites Marriott, nơi mười hôm trước hãng mở tiệc mừng Giáng Sinh cho bốn trăm nhân viên trong một ballroom lộng lẫy. Về phía trái, nằm dọc con hương lộ mới mở là khu townhouse rộng lớn đang xây cất, nghe đâu có đến ba trăm căn. Một tấm biển dựng ngay cạnh đường đề giá từ 250 ngàn. Tôi nhìn cái giá mà thấy mừng. “Từ 250 ngàn” có nghĩa đó là giá thấp nhất. Mười lăm năm trước, cũng một căn tương tự, chúng tôi mua với giá chỉ bằng một phần ba, và bảy năm sau đó, với số tiền 250 ngàn này chúng tôi mua được căn single house. Tôi mừng vì cái biển quảng cáo xác nhận chúng tôi ước tính đúng. Và đó chính là động lực khiến nhà tôi thúc đẩy tôi phải… về hưu: bán một căn, nhập tiền lời vào tiền an sinh xã hội là tôi có thể sống lâu… trăm tuổi!

Quyết định nghỉ việc thì không mấy khó nhưng mở lời với Sếp thì quá ngại ngùng. Mở lời thế nào cho Sếp khỏi giận khi mới tuần rồi tôi đã tỏ ra quá hài lòng khi được Sếp đề cử đi học hai tuần bổ túc nghiệp vụ để nhận chức giám thị, cái chức đồng nghĩa với lương bỗng cao hơn và công việc thì chỉ cần phụ tá Sếp… chỉ tay năm ngón.

Tiếng talkie reo khẽ. Tôi gỡ máy, bấm nút đáp “tôi nghe”, rồi áp vào tai. Sếp bảo cần gặp tôi ngay. Bình thường mà bị triệu hồi thế này là có rắc rối nhưng hôm nay thì còn sợ chi rắc rối, trái lại còn thấy vui mừng: cơ hội gặp Sếp không cầu mà được.

Văn phòng của Sếp và trung tâm ấn loát của tôi cùng ở tầng trệt, cùng nằm bên phải một hành lang ngăn đôi từ cuối quầy tiếp tân và phòng đợi. Đối diện với giang san của tôi là câu lạc bộ với chừng một trăm chỗ cho nhân viên ăn trưa.

Sếp ngồi kia, đang đọc gì đó. Nghe tôi gõ cửa, Sếp ngẩng lên ngoắt tay. Tôi bước vào mở lời theo thói quen:

– Good morning Mister White. How are you today?

Sếp đưa tay bắt, vui vẻ:

– I am fine. You?

Tôi nói “not very good” rồi im lặng.

Sếp mở mắt lớn nhìn tôi như nhận ra thứ ngôn ngữ tôi không dùng thường ngày. Ông mời tôi ngồi. Tôi ngại ngần thả người lên ghế. Sếp cười cười trước dáng điệu khác thường của tôi:

– Sao? “Không khá lắm” là sao?

Tôi vẫn không biết mở lời thế nào nên cười gượng:

– Ông muốn gặp tôi mà? Tôi có thể làm gì cho ông đây?

– À, tôi muốn nhờ anh coi giùm công việc của phòng. Tôi có buổi họp lúc 9 giờ.

 Sếp nhìn đồng hồ, nghiêm giọng:

– Còn nửa tiếng nữa. Nào, có chuyện gì?

Tôi ngồi nghiêng, khủyu tay chống lên tay ghế, ngập ngừng:

– Mister White, tôi rất tiếc phải thông báo cho ông biết rằng tôi muốn xin nghỉ việc.

Sếp ngạc nhiên kêu to:

– What! What are you talking about?

Tôi cười gượng:

– You heard me.

Sếp vẫn nhìn tôi đăm đăm:

– Anh không đùa chứ?

– Tôi rất nghiêm túc, thưa ông White.

Sếp tôi là Mỹ đen nhưng mang họ White nhìn vào màn hình trước mặt, tay gõ lộp cộp rồi ngã người tựa vào lưng ghế nhắm mắt. Bất ngờ ông chồm tới:

– Căn cứ vào năm sinh tháng đẻ của anh thì phải hai năm nữa anh mới đến tuổi về hưu…

Tôi lắc đầu:

– Chưa đến tuổi chính thức nhưng đã dư cho tuổi hưu non!

– Lãnh hưu non thì… có là bao! Còn đối với hãng, anh làm việc đã được 9 năm, chỉ cần thêm một năm nữa anh sẽ được hưởng hưu bỗng bốn trăm mỗi tháng. Nghỉ năm nay anh chỉ được hưởng một nửa theo thâm niên 5 năm.

Vợ chồng tôi đã có cân nhắc phúc lợi này nhưng xét thấy việc về hưu non vẫn có lợi hơn, nhất là bảo đảm mạng sống hơn. Mùa đông bão tuyết với bao hiểm nguy trên cuộc hành trình quá dài đến sở và trở về. Vì vậy, tuy có nao lòng với ân cần của Sếp, tôi vẫn dứt khoát:

– Chúng tôi có bàn tới điểm này nhưng…

– Hằng ngày anh vẫn thấy dăm ba nhân viên trên bảy mươi còn ngồi ở bàn của họ, mà anh thì mới sáu mươi ba rưỡi. Nghe tôi đi, một hai năm nữa có là bao, lại được thêm nhiều tiền… du hí!

Tôi nửa đùa nửa thật:

– Mister White, ở đây ông là Sếp nhưng ở nhà, vợ tôi là Sếp! Bà ấy đã hạ lệnh, tôi không thể không nghe!

Sếp ngửa mặt, cười ngất:

– Các bà là Sếp, đồng ý. Nhưng ít nhất anh cũng cho tôi biết lý do xin nghỉ…

– Tối thứ sáu, trên đường về bị snow trơn trợt nên xe tôi hun đít xe phía trước.

Sếp nhỏm tới, chống hai khủyu tay lên bàn:

– Mừng thấy anh vô sự. Xe ra sao?

– Hai xe trầy sơ sơ thôi, coi như huề. Nhưng bà nhà tôi lý luận: đụng một lần, sẽ có lần hai, lần ba. Bà ấy không muốn… chôn tôi sớm!

Sếp lắc đầu:

– Các bà bao giờ cũng quá lo! Tôi biết anh là good driver! Hãy tiếp tục đi làm, tôi cần anh.

Tôi ngẫm nghĩ mà buồn cười. Cũng cùng thời gian tận tụy 9 năm mà hãng trước lại lạnh lùng cho nghỉ việc dù tôi rất muốn được tiếp tục, còn hãng này tôi tự nguyện xin nghỉ thì lại cố giữ làm thêm.

Tôi thở dài:

– Mister White, ông thật tốt với tôi. Nhưng… xin chân thành cảm tạ nhã ý của ông.

Sếp gục gặc:

– Thì đành tiếc là không giữ được anh. Vậy theo thông lệ, hãng cần hai tuần để tìm người thay thế. Trong hai tuần đó, chúng ta xúc tiến thủ tục nghỉ việc. Anh cần nói gì thêm thì chốc nữa. Bây giờ thì tôi phải đi. Cám ơn anh.

***

Nói là làm thủ tục nhưng thật ra chẳng có gì nhiêu khê. Tuần lễ đầu, chỉ mỗi việc phải ký tên vào một tờ giấy xác nhận ngày nghỉ việc, còn thì mọi việc bình thường. Được cái hấp dẫn là chiều thứ sáu, khá đông nhân viên Phòng Dịch Vụ kéo tôi đi nhậu chia tay. Chỗ nhậu là một nhà hàng tôi chưa từng bước chân vào dù chỉ cách hãng 10 phút.

Một biển hiệu chữ nổi màu đỏ HOOTERS nằm bề thế rực rỡ chạy dài suốt chiều ngang cửa chính. Vừa bước qua cửa, nhạc xập xình và độ ấm áp nghe thật dễ chịu. Hình ảnh đầu tiên làm choáng mắt là các các cô chiêu đãi trẻ trung hấp dẫn. Tất cả mặc đồng phục, quần màu da cam cũn cỡn bó sát núi đồi; áo thung trắng ba lỗ, lồ lộ vú vê. Phần áo bên trái in hình con cú đen với hai mẫu tự O của thương hiệu HOOTERS thay cho cặp mắt cú vọ như cặp mắt của tôi.

Chưa kịp lớ ngớ thì một cô chiêu đãi bước đến niềm nỡ chào hỏi, hướng dẫn chúng tôi treo áo ấm trước khi tiến sâu vào bên trong. Khách hàng đông nghẹt đa số là đàn ông ở tuổi trung niên. Lớp tuổi của tôi thì ít hơn tổng số hiện hiện của các bà.

Quán được thiết kế đẹp mắt. Chiếm một khu rộng ngay giữa nhà là cái bar rượu và bếp. Ngay trên kệ bày rượu mẫu, ba TV gắn sát trần đang chiếu những màn thể thao khác nhau. Những màn hình tương tự đặt vòng quanh vách ngoài cùng. Vách là những tấm gỗ thông với những gân nổi tự nhiên. Sàn lót gỗ có vân đánh bóng. Bàn ghế được đặt chạy vòng theo quầy xen lẫn những cột trụ chống đỡ mái nhà. Sự sắp xếp khéo léo giúp thực khách ngồi nơi nào cũng xem được chương trình mình ưa thích.

Nhờ đặt bàn trước, mười sáu người của Phòng Dịch Vụ –mười hai ông, bốn bà- được gom vào trọn nửa cánh trái. Chưa kịp ngồi thì có nghe tiếng reo từ phía quầy:

– Hello! Hello Mister White, Mister Vo.

Người gọi là Rick Danton, vị Sếp mà chín năm trước đã phỏng vấn và nhận tôi vào làm ngay sau tôi bị hãng cũ cho nghỉ việc. Đúng là Tái Ông thất mã. Cuộc phỏng vấn lòi ra chúng tôi từng là chiến hữu trên kinh Đồng Tiến. Thời đó Sếp là lính trên một giang đỉnh nằm trong Task Force 116 mà năm 1969 được chuyển giao toàn bộ cho Hải Quân Việt Nam thành Lực Lượng Tuần Thám có tôi làm trưởng toán. Và cũng có thể chính nhờ sự hội ngộ tình cờ này tôi được mướn với giá cao hơn và được tăng lương hậu hĩ hằng năm. Bốn năm sau, ông thăng chức, thăng lên tầng 5 và gửi gấm tôi cho Ron đến thay thế. Chỉ đôi khi chúng tôi mới gặp lại nhau trong các buổi hội họp, tiệc tùng, như đêm nay. Sếp cũ nồng nhiệt xiết tay tôi:

– Nghe tin bạn ta về hưu, chúc mừng, chúc mừng. Đây là hậu cứ mà mỗi chiều chủ nhật Mister White và tôi đóng đô xem football. Có dịp, bạn ta cứ đến…

Tôi gật bừa. Chúng tôi ngồi vào chiếc ghế dài dành sẵn. Tôi ngồi giữa, hai Sếp tả phù hữu bật, một đen trung tuần, một trắng cao niên. Rick Danton say sưa nhắc nhở chiến trường xưa. Còn Ron White, chưa từng đi lính, thì kể chuyện tiếu lâm với ba nhân viên đối diện. Đôi khi hoặc mới hướng mắt vào trận Football sinh viên. Kể cũng lạ. Cứ ngỡ rằng thiên hạ chen nhau vào đây là để mãn nhãn trước các nàng Hooters nóng bỏng nhưng không hẳn thế. Chừng như họ đã quá quen, không nhìn vẫn thấy! Thảng hoặc họ mới ghé mắt vài giây. Và chừng như không ai còn nhớ cái giá món ăn thức uống vốn đã cộng thêm chi phí dòm ngó. Nhân lúc chờ cô chiêu đãi rót đầy ly bia mang đến, Ron bất chợt nghiêm giọng:

– Nè, tôi có thắc mắc muốn hỏi lâu rồi mà thấy không tiện. Trước khi chia tay, bạn ta có thể nào giải thích dùm. Tiền lương bạn ít hơn tôi, làm sao bạn làm chủ được ngôi nhà trong lúc tôi còn ở nhà cho mướn?

Tôi nhìn Ron đăm đăm, không tin là thật. Rick cười:

– Hắn nói thật đó! Tôi cũng vậy, cũng đang ở thuê. Hãy tiết lộ cho chúng tôi các đòn phép mua nhà…

Tôi ngại ngùng. Họ là Mỹ chính gốc, đều là Sếp của tôi mà đi hỏi một việc đúng ra tôi mới là người hỏi. Tôi cười:

– Tôi không dám…

Tôi định nói tôi không dám “múa rìu qua mắt thợ” mà không tìm ra thành ngữ tương đương. Ron nằng nặc:

– Theo cách… bất hợp pháp cũng được. Tụi này không tố cáo đâu!

Tôi giật mình. Thì ra cái từ “đòn phép” ẩn ý là thế. Sự thể đến mức này thì không nói không xong:

– Chả có gì bất hợp pháp! Ai có việc làm cũng đều mua được nhà, nếu muốn. Rất giản dị. Đành là tùy số lương, nhưng căn bản vẫn là tiền “down”; tiền down càng nhiều, nhà càng lớn! Mua được một căn thì cũng mua được căn thứ hai, bởi vì lương mỗi năm một tăng trong khi tiền nhà căn thứ nhất, người mướn đã trả giùm.

Rick gật đầu:

– Đúng. Nhưng lấy đâu ra tiền down?

– Thì để dành!

– Không đủ xài thì lấy đâu để dành!

– Xài thì bao nhiêu cho đủ! Chúng tôi có nhà là vì chúng tôi… dám để dành!

Họ ngẩn ngơ ra vẻ chưa hiểu. Tôi lên mặt thầy đời:

– Người Việt Nam chúng tôi có thành ngữ “An cư, lạc nghiệp”. Căn nhà là ưu tiên, bằng mọi giá phải có! Còn muốn để dành thì nhớ câu này: “Cơm nhà, quà vợ”…

– Hãy nói rõ hơn.

– Đây là kinh nghiệm cá nhân. Cứ làm thử một tháng, một tháng thôi. Sau một tháng, các ông thử tính xem để dành được bao nhiêu và bao lâu thì đủ tiền down cho căn nhà.

Thấy hai Sếp tỏ vẻ lắng nghe, tôi nói thật chậm:

– Đòn phép là đây. Thứ nhất, tuyệt đối tránh xa food machine, mang theo phần ăn trưa. Thứ hai, không xài phí bậy bạ, nhất là không để mang nợ sinh tiền lời tín dụng. Và thứ ba, giảm tối đa đi ăn nhà hàng và nghỉ hè tốn kém.

Tôi ra dấu cả hai chụm đầu gần vào rồi thì thầm:

– Nhất là đừng bao giờ bén mảng đến… HOOTERS!

***

Bắt đầu tuần thứ hai, tôi phải huấn luyện cho người thay thế tôi. Công việc cũng dễ dàng vì hắn đang là nhân viên dưới quyền và từng thường thay tôi khi tôi đi phép hay đau yếu. Còn việc huấn luyện cho tay mới tuyển thì do hắn đảm trách. Tôi tà tà đọc email, bài vở từ cái computer đã xóa sạch memory chờ tới giờ cơm gặp Juliet. Đó là cô bạn đồng nghiệp vong niên từ hơn năm qua. Gọi đồng nghiệp cho ngon chớ tôi vào hạng lao công cổ xanh, còn cô thuộc thành phần chuyên gia cổ trắng, làm marketing, trên cùng tầng một với văn phòng Chủ tịch…

Quen nhau cũng tình cờ. Ngay ngày đầu nhận việc của cô, giờ ăn trưa, chúng tôi vào câu lạc bộ cùng lúc. Trong khi tôi hâm nóng thức ăn thì cô đứng chờ đến lượt. Sau đó, thấy tôi ngồi một mình cô chào hỏi và xin phép được ngồi chung. Cô đặt hộp thức ăn và lon coke lên bàn, chìa tay ra trước:

– Tôi tên Juliet.

Tôi vẫn ngồi, vươn tay nắm lấy:

– Gọi tôi là Bang. Rất vui được gặp Juliet. Còn Romeo đâu?

Ánh mắt cô rực lên theo nụ cười vụt tắt:

– Romeo chết rồi!

– Thế sao Juliet còn ngồi đây?

Cô cười buồn:

– Ngu sao chết theo!

Thế là ngay buổi quen nhau đầu tiên đó, cô tuôn hết tâm sự. Cô vừa ra đại học thì bị tình phụ nên buồn tình xin việc ở hãng xa. Tôi không yêu cầu cô kể nhưng lại bị buộc phải hứa trưa mai sẽ đến lượt tôi. Thấy cô chân chất, tôi cũng thật lòng. Tôi nói tôi vừa ra trường thì cũng bị bồ đá nên gia nhập Hải quân như là một cách… trả thù! Nghe thế cô vui mừng, hãnh diện khoe rằng cha cô cũng là một sĩ quan Hải quân và đang phục vụ trên một hàng không mẫu hạm hoạt động vùng lò lửa Trung Đông. Cô ít gặp cha nên muốn biết các trải nghiệm hải nghiệp. Dần dần chúng tôi hiểu thêm gia cảnh của nhau. Cô cho biết gốc người Ý, các anh em đều sinh trưởng ở New York. Mẹ còn đi làm. Tôi cũng buộc phải kể lý do gia đình phải rời bỏ Việt Nam và được bảo trợ về Maryland…

Như thường lệ cô xuống đúng giờ. Vừa ngồi xuống ghế, tôi mở lời:

– Hai tuần phép cuối năm, gia đình họp mặt vui vẻ chứ? Mẹ cô thế nào? Anh em ra sao? Có tin chiếc mẫu hạm của ba cô về Mỹ nghỉ bến?

Cô im lặng nhìn món ăn. Một lúc lâu, cô hỏi nhỏ:

– Nghe đồn bác xin nghỉ việc?

Giọng trầm buồn như khuôn mặt. Hẳn cô nghĩ rồi đây phải ngồi ăn với… kẻ không quen. Mấy tên nhân viên của tôi từng nói tôi tốt số. Tôi bảo với họ tuổi cô ta còn nhỏ hơn tuổi con tôi. Chẳng qua cô thích ngồi ăn với tôi là vì cha cô với tôi cùng nghề lính biển. Phần tôi thì cho rằng trời đã giúp cho cơ hội tốt để luyện giọng. Nhưng họ vẫn cười cười. Mà việc gì phải đính chính…

 – Ừ, cuối tuần này là ngày chót.

– Thật ư? Đáng buồn cho cháu! Hết rồi những buổi ăn trưa vui vẻ, hết rồi những an ủi giúp cháu an tâm khi nhớ ba cháu.

Tôi cười đùa:

– Hãng có thiếu gì người trẻ tài hoa. Hãy chọn một và biết đâu tình yêu còn giúp cháu an tâm hơn nữa.

Tôi ngạc nhiên thấy cô tỏ ra bẽn lẽn:

– Cháu có… Romeo mới lâu rồi nhưng sợ bác cười nên giấu. Nhà hắn cùng tiểu bang với bác. Chúng cháu đang bàn làm đám cưới. Bác hứa dự nghe. Từ nay đến cuối tuần, xin vui lòng trao dần cho cháu những bí quyết nào đã giúp bác và bà nhà giữ được hạnh phúc trên 30 năm bất kể 10 năm xa cách?

***

Ngày làm việc cuối cùng rồi cũng đến. Khi chuông đánh thức reo 6:30, ý nghĩ đầu tiên bật lên trong tâm trí tôi là bữa nay ngày chót, có trễ cũng chẳng nhằm nhò gì! Việc huấn luyện cho người mới tiến triển suông sẻ, vào hãng thì chỉ mỗi việc nhận giấy tờ chính thức nghỉ hưu. Rồi bái bai. Rồi chẳng bao giờ trở lại. Tôi xoay người định ngủ tiếp nhưng tâm trí lại nghĩ lan man. Từ nay ta được phè cánh nhạn mãi tận… cuối đời. Chấm dứt thức khuya dậy sớm, không còn đường sá ngổn ngang. Thảnh thơi thơ túi rượu bầu… Hạnh phúc chợt ào đến mà nghe sảng khoái lạ thường. Cơn sảng khoái lan đi, tỏa ra rồi… vụt tắt. Tội nghiệp cho bà xã. Vẫn dậy sớm thức khuya. Vẫn data entry từ sáng tới chiều. Trẻ tuổi có khi là một tai vạ. Muốn được về hưu sớm như tôi, bà ấy còn phải “cày” thêm… 10 năm nữa. Mười năm, ôi mười năm! Mười năm bà ấy từng đơn thân xứ người vất vả nuôi con. Rồi nay lại mười năm vừa đi làm vừa hầu hạ ông chồng ích kỷ, chây lười! Ta là thứ gì mà lấy đó làm hạnh phúc cho mình? Sao không biết cảm thông, chia sẻ? Phải thức cùng vợ, phải cà phê cà pháo cùng “nàng” rồi ….chở đi làm, rồi đón về. Làm được như vậy thì lại có thể bán bớt một xe, giảm tiền bảo hiểm. Nghĩ ra điều này, tôi thấy mình đang… bay ra khỏi giường!

Bà ấy còn đang ngồi ăn sáng, ngạc nhiên nhìn tôi:

– Tưởng anh còn ngủ. Ngày chót mà…

Tôi ngường ngượng, dã lã:

– Ngày chót, càng cần nên đến đúng giờ… cho đẹp! Và từ ngày mai…

Không, không nên nói. Phải biết dành dụm cả ngạc nhiên… Bà ấy bận rộn, nên cũng lơ là… Do đường xa, tôi rời nhà trước. Vào đến sở, được Sếp mời ngồi. Sếp nhấc chiếc bao thơ để sẵn trên bàn, trao tôi:

– Văn kiện nghỉ việc đầy đủ trong bao thư. Thành thật chúc mừng. Tuy nhiên, trước khi ra về vĩnh viễn, làm ơn giúp tôi một việc, việc chót… Tôi có buổi họp đến trưa.

Tôi mừng, vì tôi cũng còn dịp chót ăn trưa với Juliet. Và tôi qua giang sơn của tôi đọc email cũng… lần chót!

Giữa trưa, Sếp trở lại vui vẻ tuyên bố Ông Chủ tịch đang chờ gặp tôi. Tôi nghe mà xúc động. Chỉ là một nhân viên cổ xanh mà cũng vinh dự được Chủ tịch ưu ái tiếp kiến giã từ. Tôi đi cạnh Sếp lên thang máy mà tưởng như mình đang lên mây. Nhưng sao thang máy không dừng ở lầu một, nơi đặt văn phòng Chủ tịch mà vẫn tiếp tục lướt qua. Cũng không dừng ở tầng hai thuộc bộ phận chuyển ngân và tồn trữ dữ liệu cho các ngân hàng, tầng ba của Phòng thanh toán lương bổng cho nhân viên các hãng xưởng, tầng bốn và năm rất hạn chế xuất nhập, nghe đâu chuyên về thảo chương cho DOD (Department of Defense- Bộ Quốc Phòng). Gần đến số 6, thang máy chậm lại. Không lẽ các Sếp lớn dời lên đây. Tầng cao nhất còn bỏ trống chờ được thêm khế ước kia mà!

Cửa thang máy chưa mở hết tôi đã choáng váng nghe tiếng hô đồng loạt của một rừng người trước mặt:

– Happy retirement!

Tôi chợt hiểu và nhận ra ngay hai khuôn mặt thường gặp: Ông Chủ tịch hãng và Bà Chủ tịch điều hành. Sếp đẩy lưng tôi, nhắc tôi tiến đến trước họ. Cả hai lần lượt bắt tay chúc tụng: “Happy retirement! You deserve it!” Đám đông vỗ tay vang dội. Tôi đã từng dự nhiều surprise party, vẫn cho rằng có gì đáng ngạc nhiên đâu mà cứ bày vẻ, nhưng giờ thì chính tôi ngạc nhiên thực sự và thấm hiểu ý nghĩa…

Ông Chủ tịch bước tới máy vi âm mời mọi người chọn thức uống. Rồi ông kêu gọi mọi người nâng ly. Thức ăn chọn lọc được mang từ nhà hàng láng giềng Marriott cùng người phục vụ. Tôi hòa vào đám đông, ăn uống cười giỡn. Thỉnh thoảng bắt tay vài người quen mặt không rõ tên. Lại thêm cả nhân viên tôi chưa gặp lần nào. Một số cô thì ôm tôi nồng nhiệt kể cả cô bạn thân thương Juliet. Cô nói khẻ: “I’ll miss you”…

Nửa giờ sau, tôi được mời nhận quà. Ông Chủ tịch đích thân trao hộp quà đầu tiên. Tôi mở ra. Đó là tấm biển đồng khắc mấy hàng chữ xanh với phù hiệu hãng ở cuối. Tôi nâng tấm biển hướng về đám đông, quét chầm chậm từ trái qua phải rồi xoay ngược lại, đọc to: “Presented to Bang Vo in honor of Your Retirement from Data Nework, Co.” Tôi nghe nhiều tiếng reo tán thưởng. Bà chánh văn phòng trao những món kế tiếp: đó là chiếc áo lạnh in tên hãng, một chiếc túi du lịch của ông A, khăn quàng cổ của bà B, đôi găng tay của cô C, chiếc đồng hồ để bàn của bà Chánh văn phòng, chiếc nón lưỡi trai có hàng chữ USS Harry S. Truman nằm trên phù hiệu và số tàu CVN 75 thêu chỉ vàng không đề tên ai tặng. Tôi nghiệm ra ngay một người. Chỉ người đó mới nghĩ đến món quà đặc sắc này. Tôi đưa mắt kiếm tìm. Từ giữa đám đông, Juliet giơ tay cao, vẫy vẫy. Tôi nói bằng đôi môi: “Thank you”.

Cuối cùng là những món quà cồng kềnh. Cồng kềnh mà thiết thực: các dụng cụ làm vườn. Tôi ngỡ ngàng. Những ngày tù tội ở núi rừng miền Bắc ập về. Chín năm nhục nhằn, đói khát. Nhìn cái cuốc, cái sẻng mà vừa thấy vui vừa thấy đau. Cũng những món đó, những người khác chủng tộc ở đây trao tôi qua mỹ ý giải khuây tuổi già trong khi 29 năm trước tại chính quê nhà, những kẻ gọi là đồng bào lại nhằm buộc tôi lao động cho tàn đời! Tại sao? Tại sao có sự nghịch đời như vậy?

Tôi cầm máy vi âm:

– Thưa nhị vị chủ tịch, thưa quý bà và quý ông. Tôi chân thành cảm tạ nước Mỹ đã cho gia đình tôi chốn dung thân. Xin đa tạ hãng Data Network cho cơ hội gia đình chúng tôi sinh tồn. Và xin cám ơn lòng ưu ái của quý bà quý ông hiện diện. Tôi sẽ không bao giờ quên quý vị. Năm mới chúc mọi người hạnh phúc. Xin từ biệt!

Tôi vừa dợm bước thì cánh tay bị ghị lại. Bà Chủ tịch điều hành trao tôi một phong thư đồng thời công bố trong bao thư là phần thưởng của Hãng đền đáp 9 năm tôi tận tụy. Đó là hai vé phi cơ và chi phí một tuần tận hưởng Bahamas. Tiếng trầm trồ, xì xào. Tôi chưa biết đáp lời ra sao thì cánh tay Bà choàng qua vai tôi và tiếng nói lại vang khắp phòng:

– Mister Vo, I have one last request to you. Please do as much as you can!

Mọi người ngạc nhiên hướng về Bà Điều Hành. Tôi cũng đứng lặng người chờ đợi. Sếp nhỏ mới nhờ tôi giúp lần chót, giờ lại tới Sếp lớn. Họ… câu giờ kỹ quá! Chờ khi gian buồng lặng im phăng phắc, Bà cất cao giọng:

– Enjoy your retirement!

 

Vũ Thất

(trích Làm Lại Từ Đầu, 2016)

BÍ MẬT CỦA NHÀ “NGOẠI CẢM”

BÍ MẬT CỦA NHÀ “NGOẠI CẢM”

Sơn Tùng

Vụ cháy ngôi biệt thự Hồng Dương vào ngày Mùng Một Tết không chỉ làm chấn động Thành phố Đà-lạt mà còn gây xôn xao cả nước. Ngay sau khi hỏa hoạn xảy ra, các cơ quan an ninh và thông tin văn hoá đã nhanh chóng làm nhiệm vụ, ngăn chặn việc phổ biến tin này, nhưng chỉ ngày hôm sau, trong hệ thống đảng, từ trung ương tới các cấp bộ địa phương, mọi người đều hay biết với những tin tức khá đầy đủ.

Ngôi nhà hai mươi phòng của Tướng Vũ Sơn đã bốc lửa vào lúc nửa đêm Mùng Một Tết, cháy cho đến chiều hôm sau, khói vẫn còn âm ỉ bốc lên từ những gì còn lại. Sở Phòng Cháy Chữa Cháy thành phố đã huy động tất cả phương tiện cơ hữu để cố đàn áp ngọn lửa nhưng chính họ đã bị ngọn lửa đẩy lui để bảo vệ khu rừng thông bên ngoài và các ngôi nhà chung quanh khỏi bị cháy lan.

Thiệt hại vật chất rất to lớn, chưa thể biết chính xác. Bốn năm trước, Thượng Tướng Vũ Sơn đã cho khởi công xậy dựng ngôi biệt thự này trên một đồi thông nhìn xuống Hồ Tuyền Lâm thơ mộng. Việc xây cất đã kéo dài hai năm mới hoàn tất với những vật liệu hiếm quý đắt tiền, với những tiện nghi xa hoa hiện đại. Các phòng ốc được trang trí với những báu vật mà Biệt điện của Vua Bảo Đại trước đây cũng chưa có. Tất cả nay đã thành tro than.

Nhưng thiệt hại nhân mạng cũng rất hãi hùng. Sau cơn tung hoành của lửa khói, khi các nhân viên chữa cháy đầu tiên vào được bên trong, họ đã chứng kiến một cảnh tượng giống như nơi đây vừa là mục tiêu của một trận pháo kích. Quá nhiều xác chết. Xác chết rải rác khắp nơi, nhưng nhiều nhất là tại căn phòng lớn được gọi là “hội trường”, nơi tổ chức những cuộc liên hoan, ca vũ.

Khi hoả hoạn xảy ra, căn phòng này có khoảng năm mươi người đang tham dự tiệc liên hoan đầu năm. Vợ chồng Tướng Vũ Sơn và người con trai, tổng giám đốc một công ty vận chuyển, cũng nằm trong số nạn nhân. Những nạn nhân khác đều là những người có quyền thế và có nhiều triệu đô-la mà ngôn ngữ thời thượng gọi là các “đại gia”, không những chỉ ở Đà-lạt mà còn từ Hà-nội và Sài-gòn lên đây ăn Tết do lời mời của gia chủ.

Nguyên nhân gây ra vụ hoả hoạn chưa được biết rõ, nhưng đã có lời đồn về một nghi án đốt nhà vì người ta ngửi thấy mùi xăng và tìm thấy vài tang vật đang được phòng giảo nghiệm khoa học hình sự phân tích để phanh ra manh mối.

Những thám tử giỏi nhất từ Hà-nội đã được phái tới Đà-lạt để tăng cường cho Sở Công an thành phố mở cuộc điều tra. Nhưng càng điều tra người ta càng có thêm nhiều câu hỏi mà không có câu trả lời. Nếu đây là một vụ đốt nhà thì thủ phạm là ai? Làm cách nào hắn đã đột nhập ngôi biệt thự có nhiều hệ thống an ninh mà không bị phát hiện? Ai đã khoá trái các cửa “hội trường” khiến không một người nào có thể thoát thân? Cuộc điều tra càng trở nên phức tạp khi phòng giảo nghiệm khoa học hình sự xác nhận những vật liệu gây cháy là của quân đội và thủ phạm phải là người ở trong quân đội hay đã từng là bộ đội. Và cuối cùng, động cơ của vụ đốt nhà táo bạo này là gì?

Nhiều người đã bị điều tra, thẩm vấn. Cuối cùng, sáu tháng sau, công an đã bắt một người không ai ngờ: nhà ngoại cảm Phan Quang Thế.

Ông Thế đã nổi tiếng khắp nước từ mấy năm nay như một người có “ngoại cảm” với cõi âm, có thể nói chuyện được với những linh hồn ở thế giới bên kia, và đã giúp nhiều gia đình tử sĩ tìm được hài cốt người thân bị vùi chôn đâu đó trong cuộc chiến đánh chiếm miền Nam đã qua.

Ngoài 60 nhưng nhà ngoại cảm Phan Quang Thế trông già hơn tuổi, với mái tóc bạc phơ thưa thớt trên đầu, với cặp kính lão ít khi rời khỏi đôi mắt nhỏ trên gương mặt trầm tư mang nhiều nếp nhăn. Ông có thân hình mảnh khảnh và chân đi khập khiễng, nghe nói do một tai nạn lưu thông đã lâu. Ông ít nói và nghe giống như giọng những người miền Bắc mới vào Nam sau ngày chiến tranh chấm dứt, nhưng ông Thế cho biết ông là dân “Bắc di cư” năm 1955.

Từ khoảng giữa thập niên 1990, ông Thế làm việc tại tiệm hớt tóc “Thời Danh” ở khu Ngã Bảy, Sài-gòn. Gọi là “tiệm” nhưng “Thời Danh” chỉ là một cái chái nhỏ trong con đường hẻm được che bằng vài miếng tôn dựa vào bức tường một căn phố ba tầng, và có hai ghế cho khách hớt tóc. Người chủ tiệm làm một ghế và ông Thế một ghế. Ông ta khéo tay và làm việc cần mẫn nên có nhiều khách.

Tiệm hớt tóc là nơi hàng ngày thu nhận nhiều tin tức thời sự, do khách đem tới, và cũng là nơi phát đi nhiều tin tức, do thợ hớt tóc truyền ra, nhưng ông Thế chỉ nghe nhiều hơn là nói. Ông ta có đời sống thầm lặng và kín đáo. Không ai biết nhà cửa ông ở đâu và gia cảnh ra sao. Khi có người hỏi thăm, ông chỉ nói quấy quá là sống độc thân với một người bạn già cùng cảnh ngộ.

Khi những câu chuyện về các nhà “ngoại cảm” được loan truyền, tiệm hớt tóc “Thời Danh” cũng là nơi thu nhận và phát đi nhiều tin tức nóng hổi, và khác với thường lệ, ông Phan Quang Thế có vẻ quan tâm và hỏi han tìm hiểu.

Vài tháng sau, ông Thế bỏ nghề hớt tóc và không còn xuất hiện ở khu Ngã Bảy. Bẵng đi một thời gian khá lâu, khi những người thường lui tới tiệm “Thời Danh” không còn nhắc nhớ đến ông thì có tin ông đã trở thành một nhà “ngoại cảm” sau khi tiếp thu một phép lạ khiến ông có thể nói chuyện với những linh hồn và đã giúp tìm được nhiều hài cốt của những bộ đội chết trên chiến trường miền Nam trước đây. Những vụ này đã được tường thuật trên báo chí với tên tuổi và đầy đủ chi tiết của từng vụ, kèm theo hình ảnh.

Đây là những chuyện có thật mà những người chứng kiến không thể nghi ngờ và khoa học cũng không thể giải thích. Có những cán binh từ miền Bắc vào chết mất xác trên rừng núi miền Nam hơn ba mươi năm trước đã được ông Phan Quang Thế tìm ra hài cốt và được gia đình xác nhận đúng là thân nhân của họ sau khi thử nghiệm DNA.

Ngay đến giới lãnh đạo Đảng Cộng sản và nhà nước, những con người theo chủ nghĩa vô thần, những kẻ gọi tôn giáo là thuốc phiện và xem bói toán, thờ cúng là dị đoan lừa gạt, cũng không thể bác bỏ những chuyện sặc mùi mê tín này và họ trở nên hoang mang, sợ hãi, vì biết đâu với khả năng nói chuyện được với những người ở cõi âm, các nhà “ngoại cảm” chẳng có thể tung ra những câu chuyện tác hại liên quan đến những lãnh tụ đã qua đời như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng……

Tướng Vũ Sơn cũng là một người quan tâm đến những câu chuyện “ngoại cảm”. Tuy đã về hưu, ông tướng cũng còn nhiều ảnh hưởng trong đảng và quân đội, do những vai trò quan trọng trong quá khứ của ông và các chức vụ lớn hiện nay của mấy người con. Trước hết, ông ta là một kẻ vô thần và tin rằng con người khi “chết là hết”, không có linh hồn mà cũng chẳng có thiên đàng hay địa ngục. Nhưng ông cũng không thể dựa vào lập luận nào để bảo rằng những câu chuyện về “ngoại cảm” như được thuật lại là bịa đặt hay lừa gạt. Ông ta muốn đích thân tìm hiểu, nên khi được tin ông Phan Quang Thế đang có mặt ở Đà-lạt vào những ngày cuối năm để giúp tìm hài cốt trong vùng cao nguyên, Tướng Vũ Sơn đã mời ông ta tới nhà để đàm đạo và trắc nghiệm về những khả năng huyền bí của nhà “ngoại cảm”.

Qua vài lần gặp gỡ, Tướng Vũ Sơn đã kinh ngạc khi chứng kiến tận mắt ông Thế nói chuyện với linh hồn của vài người thân của vợ chồng ông tướng và đã phát hiện những chi tiết mà người ngoài không thể biết.

Tướng Vũ Sơn đã theo đảng từ năm 17 tuổi, khi đang làm công cho một đồn điền trà ở Di-linh, từng vào tù ra khám, đã trải qua nhiều gian khổ, đã đương đầu với nhiều hiểm nguy, đã nhúng tay vào nhiều tội ác, nhưng đây là lần đầu tiên ông ta cảm thấy tinh thần bị lung lay dữ dội và sợ hãi như đang phải đối đầu với một kẻ thù vô hình. Nhà “ngoại cảm” Phan Quang Thế, qua những hồn ma, đã biết nhiều điều liên hệ đến quá khứ của vợ chồng ông. Nhưng con người với cái bề ngoài tầm thường vô hại này là ai, do đâu mà có những quyền năng huyền bí như vậy?

Bà vợ Tướng Vũ Sơn càng sợ hãi hơn khi ông Thế tiếp xúc với linh hồn của một người đàn bà mà ông ta nói là người đã cứu bà tướng khi còn nhỏ trong trận đói năm 1945 ở miền Bắc mà cho đến nay linh hồn người này chưa siêu thoát và vẫn lẩn khuất quanh đây.

Quả thật, năm ấy bà tướng là một cô bé mười tuổi đã được một bà chủ điền ở Sơn Tây đem về cứu sống trong lúc đang nằm chờ chết bên lề đường ở ngoại ô Hà-nội vì đã không có gì ăn hơn một tuần lễ. Bà đã trở thành con nuôi của bà điền chủ, và đã trả ơn người cứu mình bằng cách đấu tố người ấy trong cuộc “cải cách ruộng đất” năm 1956 ở miền Bắc. Khi ấy bà đã là một thiếu nữ xinh đẹp và sau đó không lâu được đảng xây dựng kết hôn với Tướng Vũ Sơn, lúc đó còn mang quân hàm đại tá.

Câu chuyện này tưởng đã chôn vùi trong màn đêm sâu thẳm của quá khứ nay được nhà “ngoại cảm” Phan Quang Thế làm sống lại khiến mấy đêm liên tiếp bà tướng không thể ngủ yên, mà hễ chợp mắt chỉ thấy toàn ác mộng.

Tướng Vũ Sơn ngoài mặt tỏ ra trọng vọng Phan Quang Thế và mời ông tới ở trong một căn phòng của biệt thự Hồng Dương để được thù tiếp, nhưng trong thâm tâm ông ta muốn sống gần để có điều kiện thử thách thêm và tìm hiểu lý lịch của nhà “ngoại cảm”.

Nhưng, vụ hỏa hoạn ngày Mùng Một Tết đã xảy ra bất ngờ và sau đó Phan Quang Thế đã biến mất khỏi thành phố Đà-lạt. Đó là một trong những lý do khiến ông ta bị nghi ngờ, bị truy nã, và bị bắt.

Ngồi đối diện với hai điều tra viên mặt lạnh như thép nguội đầy đe dọa, Phan Quang Thế không tỏ ra chút nao núng, sợ sệt. Ông ta ngồi thẳng lưng, chắp hai bàn tay đặt lên mặt chiếc bàn nhỏ trong phòng lấy cung, mắt nhìn thẳng vào mặt hai điều tra viên và nói với giọng vừa đủ nghe:

– Để khỏi mất thời gian của các ông, và các ông cũng không phải nhọc lòng nặng tay trên thân thể già nua, gầy còm này để cố moi những gì muốn biết. Tôi hiểu rõ tội của tôi và cũng biết rõ hậu quả sẽ dành cho tôi, và tôi sẽ nói tất cả sự thật. Vâng, tất cả sự thật, dù các ông có muốn nghe hay không, nhưng tôi muốn nói chuyện với ai đó cao hơn các ông một chút.

Hai viên công an, một người cao gầy và răng hô, một người to béo và mắt lồi, nhưng cả hai đều đỏ bừng mặt giận dữ. Hai người đều trẻ, đáng tuổi con của Phan Quang Thế. Sau một phút nghẹn họng, người cao gầy gằn giọng:

– Anh muốn nói chuyện với ai?

– Thí dụ viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân.

Người to béo xô bàn đứng phắt đậy, đôi mắt lồi muốn lọt ra ngoài, tát mạnh vào mặt Phan Quang Thế một cái và quát:

– Láo! Thằng này, mày là ai mà đòi nói chuyện với viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân?

Phan Quang Thế đưa tay quẹt giọt máu vừa ứa ra trên khoé môi, bình tĩnh nói:

– Tôi chỉ là “thằng dân”, chẳng là ai cả. Nhưng không phải là các ông bảo “nhân dân làm chủ”, và các ông chỉ là tôi tớ à? Các ông được gì khi đánh đập “thằng dân” này? Lỡ thân này chết đi thì các ông được gì? Những điều mà tôi đang muốn cống hiến cho các ông quý hơn cái thân già này nhiều.

Hai viên công an gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống nhà “ngoại cảm” nhưng đành nén giận, ngồi yên nghe tiếp:

– Hơn nữa, các ông đừng tưởng những gì các ông làm trong Sở Công an này mà bên ngoài không biết. Không cái gì còn có thể che giấu trong thời đại toàn cầu hoá và thông tin điện tử ngày nay. Trước sau gì thì tôi cũng chết: bị xử bắn, bị thủ tiêu trong nhà giam, hay tắt thở trong khi bị tra tấn. Nhưng cấp lãnh đạo của các ông cần biết nhiều sự thật trước khi tôi chết. Và các ông sẽ phải chịu trách nhiệm nếu tôi chết trước khi họ biết sự thật.

Anh công an cao gầy văng tục, xô ghế đứng lên, bước ra ngoài, gọi người đem Phan Quang Thế trở về phòng giam.

Nội vụ được trình lên Viện Kiểm Sát Nhân Dân vì đây là một vụ án quan trọng đang được các cấp lãnh đạo đảng đặc biệt theo dõi. Sau khi đọc hồ sơ và nghe báo cáo, viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân đã đích thân nghiên cứu và giải quyết. Từ ngày về cầm đầu cái cơ quan công tố tối cao của nhà nước, ông ta chưa gặp một vụ nào phức tạp như thế này. Thật ra, khi mà quyền làm luật và thi hành luật đều nằm trong tay đảng thì vai trò của “Viện Kiểm Sát Nhân Dân” không có gì nặng nhọc lắm. Nó có thể biến một nhà báo dám viết sự thật thành một tên gián điệp, hay một kẻ phản động, âm mưu lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa và lãnh án hai mươi năm tù. Nó có thể miễn tố một đảng viên thâm lạm công quỹ hàng tỉ đồng, hay giam giữ một người năm này qua năm khác mà không cần đưa ra toà xét xử… Mọi bản án đã được làm sẵn trước phiên tòa, tất cả chỉ là những trò hề tẻ nhạt. Nhưng, tên Phan Quang Thế này là ai? Do đâu hắn có những quyền năng huyền bí đáng sợ như vậy? Vì lý do gì hắn đã đốt nhà Tướng Vũ Sơn với mục đính giết chết nhiều người quan trọng như vậy, và đang còn nắm giữ những bí mật gì?

Theo báo cáo của công an, Phan Quang Thế đã trở thành nhà “ngoại cảm” sau một cơn bệnh nặng, và nói rằng trong mấy ngày hôn mê hắn đã được một vị thần ban truyền cho quyền năng “ngoại cảm”. Công an cũng xác nhận những việc nhà “ngoại cảm” Phan Quang Thế đã làm, như tìm ra những hài cốt bộ đội và nói chuyện với các linh hồn ở cõi âm, là có thật chứ không phải tin đồn nhảm.

Tất cả học thuyết Mác-Lê-nin, duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, chuyên chính vô sản… đều không giúp được gì trong vụ này. Và trong lúc Viện Kiểm Sát Nhân Dân đang lúng túng thì trên mạng điện tử xuất hiện một bức “thư ngỏ” của Phan Quang Thế gửi giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam với nội dung như sau:

“Thưa các ông lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam:

Tôi là Phan Quang Thế, đang bị giam giữ vì vụ đốt nhà Tướng Vũ Sơn. Như tôi đã nói với công an ngay trong ngày đầu lấy cung, tôi cần gặp các ông để nói những sự thật liên quan đến vụ án, nhưng đến nay các ông vẫn im lặng, trong lúc tôi tiếp tục bị tra khảo với đòn thù mà tấm thân già yếu của tôi không thể chịu được lâu. Vì thế tôi phải gửi thư ngỏ này để nói lên những sự thật mà các ông cần biết trước khi tôi chết.

Tên do cha mẹ đặt cho tôi lúc sinh ra đời là Nguyễn Văn Minh chứ không phải Phan Quang Thế. Quê ở Huyện Tùng Thiện, Tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt. Việc thay họ đổi tên tôi sẽ nói thêm sau.

Khi chiến dịch cải cách ruộng đất được Đảng Cộng sản phát động ở miền Bắc thì tôi mới lên mười, nhưng vẫn còn nhớ như in những gì đã xảy đến với bà nội tôi, một người đàn bà hiền hậu và đạo đức. Bà tôi chỉ có một mẫu ruộng, tự cày cấy lấy, và năm 1956 đã bị đấu tố vì tội địa chủ, và người đứng ra đấu là Nguyễn Thị Yến, người con nuôi mà bà tôi đã cứu khỏi nạn đói mười một năm trước. Bây giờ, do sự xúi giục của cán bộ cải cách ruộng đất, Thị Yến kết tội bà tôi là địa chủ gian ác, bắt nó lao động hơn mười năm không trả lương. Bà tôi chỉ khóc và nói rằng bà thương nó như con ruột, nó có phụ bà chăm lo vườn tược và làm công việc đồng áng thì cũng như con cháu khác trong nhà, đâu có ai lãnh lương. Nó chỉ vào mặt bà mà mắng: ‘Mày đâu có phải là mẹ tao mà bắt tao lao động không công? Mẹ tao đã chết trong trận đói năm ấy trong lúc bọn địa chủ chúng mày thừa lúa gạo cất trong kho. Mày là con địa chủ gian tham, mày cho tao ăn cho khỏi chết đói để đem về bắt tao làm nô lệ, chứ có nhân đức gì đâu!’. Sau màn đấu tố dã man, bà nội tôi bị đưa lên núi, nhốt trong một cái cũi bằng tre, bị bỏ đói cho đến chết. Hai ông chú tôi theo cách mạng từ ngày đầu kháng chiến nay trở về làng trở thành cán bộ nhà nước cũng không dám làm gì để cứu mẹ. Một chế độ đã đưa con người xuống thấp hơn loài dã thú. Con thú mà thấy mẹ nó gặp nạn cũng không thể đứng yên.

Cái chết thương tâm của bà tôi cùng với màn đấu tố man rợ đã nhuộm đen tâm hồn tuổi thơ trong trắng của tôi và đã không bao giờ mờ nhạt khi tôi khôn lớn. Năm 20 tuổi, tôi bị gọi đi nghĩa vụ và đưa vào giải phóng miền Nam. Trên đường mòn Trường Sơn tôi đã biết thế nào là địa ngục trần gian. Đi mười chết năm vì bệnh tật, rắn rết, bom trải thảm.

Tôi là một trong những người sống sót trong đơn vị để chiến đấu trên đất miền Nam trong hơn 5 năm, đã tham dự nhiều trận đánh ác liệt, kể cả trận Tết Mậu Thân tại Huế và trận tổng tiến công mùa hè năm 1972. Trận nào cũng thua và cũng chết quá nhiều. Những người chết bị bỏ lại chiến địa hay chôn lấp vội vã chung một hố trước khi đơn vị rút lui. Con người không có giá trị gì hơn là những công cụ của các ông. Các ông không cần biết tới đời sống của chúng tôi, tình cảm của chúng tôi, tâm tư chúng tôi, gia đình chúng tôi. Chúng tôi chỉ là những sinh vật biết cầm súng để đi vào chỗ chết theo lệnh của những lãnh tụ vô cảm, sau khi đã gây ra bao tội ác với đồng bào đang sống an bình ở miền Nam.

Tôi đã nuôi trong đầu ý định bỏ hàng ngũ sau trận đánh đầu tiên nhưng không có cơ hội thực hiện cho đến trận cuối cùng tại An Lộc năm 1972. Tôi đã bị thương nặng, và bị bỏ lại trước khi đơn vị rút lui. Sợ tôi sống sót sẽ tiết lộ những tin tức bất lợi, người trung đội trưởng đã cho tôi một phát súng ân huệ vào ngực, nhưng viên đạn không trúng tim và tôi đã được những người mà các ông gọi là “ngụy quân hung ác” cứu sống sau ba tháng nằm trong bệnh viện của họ, được họ tận tình cứu chữa và đối xử không phân biệt đầy tình đồng bào.

Tôi đã làm lại cuộc đời ở miền Nam. Với một cái chân què, tôi cũng kiếm được một nghề sinh nhai lương thiện, được sống ấm no trong tự do. Tôi lấy vợ và có con. Tháng 3 năm 1975, vợ và đứa con duy nhất một tuổi của tôi đã chết cùng với hàng ngàn người dân vô tội khác do chiến tích cuối cùng của Quân đội Nhân dân của các ông mà có thời tôi đã phải phục vụ. Khi các ông chiếm được miền Nam, tôi đã phải hối lộ để thay họ đổi tên vì sợ bị các ông trả thù.

Tôi là con vật khốn nạn đã bị các ông, nhân danh một chủ nghĩa viển vông điên rồ, cướp đoạt mọi cơ hội để được sống như một con người bình thường, khiêm tốn nhất. Các ông đã nhân danh công bằng xã hội để giết hàng triệu người vô tội, trong đó có bà nội tôi, để tạo nên một xã hội còn bất công và tồi tệ gấp trăm ngàn lần khi trước. Bà nội tôi đã bị các ông giết chết một cách nhục nhã đau đớn chỉ vì làm chủ một mẫu ruộng. Bây giờ nếu đem tất cả tài sản ruộng vườn của bà nội tôi hồi ấy tạo được sau bao năm làm ăn cần kiệm cũng không đủ để làm cái cầu tiêu trong ngôi biệt thự nguy nga của kẻ đã đứng ra đấu tố để giết bà tôi. Bên ngoài những ngôi biệt thự như vậy, hàng triệu dân nghèo sinh sống vất vả, bữa đói bữa no.

Đó là lý do tôi đã phải đốt ngôi nhà tội ác ấy và trừng phạt những con ác quỷ dành quyền đấng chí tôn đang ngự trị trên xã hội vô luân này. Còn vì sao tôi đã trở thành một nhà “ngoại cảm”? Đó là phương tiện được dùng để thi hành bản án của tôi. Tại sao tôi biết vị trí để tìm hài cốt của các đồng đội cũ? Trong thời gian còn bị các ông dùng làm công cụ để đánh chiếm miền Nam, tôi đã kín đáo viết nhật ký và ghi lại, khi có thể, những địa điểm chôn các người bạn đã bỏ xác trong Nam. Nhờ đó sau này tôi đã giúp gia đình họ tìm được nắm xương tàn của người thân, và tôi trở thành nhà “ngoại cảm” có thể tiếp xúc với những hồn ma ở thế giới bên kia. Và các ông, những con người không tin có linh hồn, nhạo báng thượng đế, cũng run sợ!

Mọi cái mặt nạ đã rơi xuống, những nhân danh cao cả đã không còn là bùa ngải để lừa gạt được ai. Nhân dân không còn sợ gông cùm và nhà tù của các ông. Họ đang đứng lên để đòi quyền được sống như những Con Người, trong đó có những người thuộc thế hệ trẻ không liên hệ gì tới “ngụy quân, ngụy quyền”, và có cả những người từng là đảng viên, cán bộ.

Ngày đền tội của các ông không còn xa.”

Công an đã dùng mọi phương cách để tìm biết làm cách nào Phan Quang Thế tức Nguyễn Văn Minh đã có thể viết và phổ biến bức “thư ngỏ” khi đang bị biệt giam trong nhà tù, nhưng không thể cạy được răng ông ta, dù có những cái răng đã cùng với máu ộc ra khỏi mồm khi bị tra khảo..

Một tuần sau, Sở Công an loan tin Phan Quang Thế tức Nguyễn Văn Minh đã chết trong tù vì chứng đau tim.

Nhà “ngoại cảm” đã đem theo bí mật xuống đáy mồ.


Sơn Tùng

(Viết để dâng lên hương linh Bà Ngoại kính yêu)

nguồn: http://gocsanchoihd.blogspot.com/

HÀ KỲ LAM – CÂU CHUYỆN GIỮA TRỜI

Câu Chuyện Giữa Trời

Hà Kỳ Lam

Những tảng mây khổng lồ nhiều tầng, trắng như bông gòn, lơ lửng trong bầu trời xanh lơ qua cửa sổ máy bay, ở một tầm nhìn gần kề không thể có được từ mặt đất, đã thôi thúc ông hành khách già lôi chiếc máy ảnh Polaroid trong túi xách tay dưới chân ghế ngồi. Ông muốn ghi lại cảnh trí này. Mây chập chùng trải rộng thành một bề mặt mênh mông; và bao trùm lên nền mây khói ấy là một màu xanh phơn phớt của bức màn trời cong vút huyền ảo chụp xuống. Người nữ tiếp viên phi hành trong trang phục áo dài Việt Nam màu hồng nhạt vẫn đứng cạnh cửa sổ mải mê nhìn ra ngoài kia. Ô hay, tại sao phải chờ cô ta rời bỏ khung cửa. Ông Khanh, người khách già ấy, đưa máy ảnh lên ngắm và thu toàn bộ khung trời qua cửa sổ vào máy, cả khuôn mặt nhìn nghiêng của người con gái. Máy tự động đẩy tấm phim vừa ghi hình nhô qua khe phía trước, bên dưới khẩu kính của máy. Ông Khanh dùng tay phải kéo nốt tấm phim còn nguyên màu trắng đục, chưa có nét hình nào kịp hiện lên. Cô gái, như sực nhớ mình đã nhìn trời mây khá lâu, quay phắc lại, nhoẻn một nụ cười tươi nhưng ngượng ngập với ông khách rồi tiến về phía cuối máy bay. Hiển nhiên cô ta không hay biết gì về sự việc chụp ảnh kia.

Đường nét, màu sắc của cảnh trí từ từ hiện ra, lộ dần bức ảnh màu trong đó khuôn mặt người con gái và khoảng trời mây chưa rõ nét lắm. Rồi màu sắc bức ảnh đậm dần. Tươi thắm nhất là những khoảng trời xanh xuyên qua những cụm mây trắng. Ông Khanh vẫn cho rằng đặc điểm của ảnh chụp bằng máy Polaroid là màu da trời bao giờ cũng trung thực hơn các màu khác. Và cuối cùng là một bức ảnh tuyệt đẹp: màu áo hồng phơn phớt với mái tóc xõa che một phần gò má của một khuôn mặt thiếu nữ nhìn nghiêng, sống mũi cao thanh tú, hai bờ môi hé mở vì chú ý quan sát; bên kia khuôn mặt là khung cửa, rồi xa hơn, tít tắp giữa không trung là mây trắng từng mảng lớn trên nền trời xanh lơ. Bức ảnh làm ông cảm thấy cộm một cảm giác thân quen mơ hồ. Rồi ông nhớ lại cách đây lâu lắm, dễ đã mấy mươi năm, mình đã từng làm một công việc tương tự trên một chuyến bay từ miền Trung vào Sài Gòn. Quái, tại sao lại cũng chặn đường Đà Nẵng – Sài Gòn, lại cũng loại máy ảnh Polaroid, và cũng một khuôn mặt con gái ngắm trời mây như hôm nay. Cái trùng hợp sau cùng này còn lạ lùng hơn nữa. Ngày xưa, động lực khiến ông chụp vội bức ảnh là người con gái đang đứng bên khung cửa, và trời mây “vô tình” bị kéo theo vào bức ảnh – dĩ nhiên, tuổi trẻ không quan tâm đến cảnh vật bằng quan tâm đến con gái! Bây giờ thì ngược lại – vì tuổi già thì ngược lại với tuổi trẻ, trong một chừng mực nào đó. Người con gái “vô tình” quá, nên cực chẳng đã ông đã đem cô ta vào bức hình. Ngày đó ông đã tặng bức ảnh cho người con gái tiếp viên phi hành trong chiếc áo dài màu xanh da trời mà bây giờ ông không tài nào nhớ mặt. Chi tiết độc nhất ông còn nhớ là vẻ mặt rạng rỡ vì vui mừng của người con gái cùng lời cám ơn rất chân tình.

Ông Khanh cố nhớ lại cái quãng thời gian mình chụp bức hình năm xưa. Cái mốc giúp ông nhớ là thời điểm ông mua chiếc máy ảnh Polaroid: năm 1969. Và cái mốc để ông đóng khung ký ức mình vào niên đại kia lại đến từ những gốc rễ mối mớ của một không gian trong đó hiện về những con người cùng những sự việc bây giờ đã xa khơi. Rồi ông nhớ lại khá rõ ràng chuyến bay năm ấy, năm 1969, cất cánh từ Đà Nẵng, như hôm nay. Có một khác biệt nhỏ về chỗ ngồi. Hôm nay ông Khanh ngồi ở hàng ghế sát phòng lái, về phía tay phải, và cả dãy ghế chỉ có mỗi một mình ông – một chuyến bay thưa khách – còn ngày ấy ông ngồi ở hàng ghế thứ nhì, bên tay trái và hàng ghế đầu bỏ trống – lại cũng thưa khách. Người con gái trong chiếc áo dài xanh da trời của Hàng Không Việt Nam thuở đó đứng ở khung cửa sổ bên trái và nhìn ra ngoài về hướng mũi phi cơ. Ông Khanh đã chụp ảnh khuôn mặt nhìn nghiêng của người con gái ở góc độ hơi chếch từ phía sau. Người con gái trong chiếc áo dài phơn phớt hồng của Hàng Không Việt Nam hôm nay đứng ở khung cửa sổ bên phải và nhìn ra ngoài trời theo hướng ngược chiều bay của phi cơ. Ông Khanh vừa chụp ảnh người con gái ở góc độ nhìn nghiêng hơi chếch từ phía trước.

        Người con gái lúc nãy lại xuất hiện. Khi vừa bước đến ngang chỗ ông Khanh ngồi, đôi môi chợt hé mở như trong hình – vì đang chú ý quan sát – cô gái nhìn bức hình rồi thốt lên:

        – Ồ chú vừa chụp lúc nãy đấy à? Bức hình đẹp quá. Chú cho cháu mượn xem một tí nhé?

        Người khách trao bức ảnh cho cô gái. Cô nhìn chăm chú bức hình một lúc rồi trả nó lại cho ông Khanh, vẻ mặt bỗng hơi xa vắng:

        – Cháu thấy một sự trùng hợp lạ lùng, chú ơi. Mẹ cháu cũng có môt bức hình giống hệt. Để cháu lấy cho chú xem.

        Cô gái thoăn thoắt đi về phía đuôi máy bay. Ông Khanh nhìn theo, cảm thấy tim mình như đập sai nhịp. Hoài niệm trong trí mình và những lời cô gái vừa thốt ra giống như hai mảnh vỡ của cùng một viên đá, viên gạch của ký ức; đem chúng ráp lại sẽ trùng khít. Và biết đâu hai người con gái đứng ở hai cửa sổ đối diện, ở hai thời điểm cách nhau hai mươi bốn năm, và in hình trong ống kính máy ảnh ở hai góc nghịch đảo lại chẳng là hai thế hệ tiếp nối! Tự nhiên ông Khanh nghĩ thế,  dù ông chợt thấy ý nghĩ thật lãng mạn, viển vông. Cô gái trở lại với chiếc ví tay và lôi tấm ảnh nhỏ, cũ kỹ đưa ông Khanh xem. Một bức ảnh màu Polaroid, với màu sắc hơi phai, nhưng không có một vết nào làm vẩn mặt ảnh, một điều chứng tỏ sự gìn giữ kỹ lưỡng. Ông Khanh nhìn tấm ảnh, bàng hoàng. Không thể lầm được. Chính bức ảnh ông chụp cách đây hai mươi bốn năm. Cũng người con gái mặc chiếc áo màu xanh da trời đứng ở khung cửa sổ bên trái nhìn ra ngoài về hướng mũi phi cơ, cũng khuôn mặt được thu vào ống kính từ một góc độ hơi chếch từ phía sau. Bức hình trong ký ức ông Khanh và bức hình người con gái vừa đưa ra đã trùng nhau. Có điều là bức hình hiện tại đã mô tả rõ hơn chân dung người trong trí nhớ của ông. Mây trắng ngày xưa, con người ngày xưa với màu áo thiên thanh gieo vào lòng ông một tình cảm khó tả. Lật tấm ảnh lại, ông liếc vội nhóm số viết nắn nót với mục đen, một lối viết rất con gái, 16-9-69. Ông Khanh biết được một điều “mới”: đó là ngày của chuyến bay năm xưa. Ông thấy lòng bồi hồi, bâng khuâng. Ông mơ hồ thấy lại một mảng không gian của tuổi trẻ mình. Cô gái nhìn chăm chú ông khách trong khi ông này đang trầm ngâm với bức ảnh. Cô nghĩ chắc ông khách không ngờ lại có kẻ thứ hai làm cái công việc giống hệt như mình. Ông Khanh chợt hỏi:

        – Thì ra người này là mẹ của cô?

        Cô gái cảm thấy hơi ngỡ ngàng vì câu hỏi không được “thông thường” cho lắm. Tại sao lại “thì ra”, tại sao không là một câu hỏi thuần túy nghi vấn như cô đã chờ đợi, một câu đại khái như “mẹ cô trước kia có làm tiếp viên phi hành không?”, hoặc cùng lắm cũng là “người trong ảnh là mẹ cô?” và vân vân. Nhưng cô vội gạt bỏ ngay điều thắc mắc kia mà cô cho là vớ vẩn.

        – Dạ phải.

        Ông Khanh im lặng. Chuyện khó tin mà lại có thật. Làm thế nào sự tình cờ lại có thể xảy ra như trong mơ. Ông cầm hai tấm ảnh để kề nhau, hai tấm ảnh do ông chụp cách nhau hai mươi bốn năm – ảnh hai mẹ con cách nhau ngần ấy thời gian dù người con không nhất thiết phải hai mươi bốn tuổi. Cô gái nói tiếp:

        – Má cháu mất cách nay bảy năm rồi.

        Tự nhiên ông thấy buồn, một nỗi buồn không đâu, vì “cố nhân” trong ảnh không còn nữa. Ông Khanh hỏi:

– Chắc vì bệnh

– Vâng ạ

– Lại im lặng. Cô gái hỏi:

        – Chú thấy cảnh trí của hai bức ảnh giống nhau không?

        Bối rối, nhưng ông Khanh cũng bình tĩnh đáp:

        – Nó giống bức hình tôi vừa chụp quá, làm tôi ngạc nhiên.

– Thoạt nhìn cháu đã thấy nó giống ngay. Không ngờ mẹ cháu và cháu lại giao nhau trên cùng một chặn đường như thế này.

– Ông Khanh chưa vội xác nhận với cô gái mình là tác giả bức ảnh. Biết đâu đây chỉ là một sự trùng hợp kỳ lạ – một bức ảnh khác cũng giống như đúc là một điều rất hi hữu, nhưng cái việc từ xa nửa vòng trái đất về thăm quê nhà để cầm lại tấm ảnh ngày xưa mình chụp giữa tầng không là một tình cờ còn hi hữu hơn nữa kia. Ông hỏi thăm dò:

– Bức ảnh chắc là do một người bạn của má cô chụp?

– Theo mẹ cháu kể thì bức ảnh do một hành khách trên một chuyến bay chụp, trên lộ trình Đà Nẵng – Sài Gòn. Bức ảnh chụp tình cờ này rất vừa ý mẹ cháu. Mặc chiếc áo dài màu xanh của tiếp viên phi hành, đứng cạnh cửa sổ máy bay, nhìn ra không trung mây trắng vần vũ trong bầu trời bao la, bức hình đã nói lên được mộng ước và thỏa nguyện của mẹ cháu. Bà trân quí nó lắm.

        – Sau chuyến bay hai người có quen thân nhau không?

       Cô gái khẽ nghiêng nghiêng đầu nhìn ông Khanh và cười rất hóm hỉnh, lộ ra hai hàm răng trắng và đều:

        – Người hành khách tình cờ đó chẳng để lại một ấn tượng gì rõ rệt trong trí mẹ cháu; thậm chí mẹ cháu không biết tên, cũng không nhớ rõ khuôn mặt ông ta. Nhưng bà không quên ông ta mỗi khi nhìn bức hình. Ở nhà còn một tấm mà mẹ cháu đã cho chụp lại và rọi lớn ra.

        Ông Khanh lại hỏi một câu thăm dò khác:

        – Mẹ cô không biết gì về người khách ấy?

        – Mẹ cháu chỉ biết ông ta là một sĩ quan dù, căn cứ theo quân phục đang mặc. Mẹ cháu kể rằng lúc bà hỏi ông khách vì sao không đáp máy bay quân sự cho đỡ tốn tiền thì ông khách trả lời, “phải đi máy bay này mới chụp ảnh người đẹp được.”

        Đến đây thì ông Khanh không còn hồ nghi gì nữa. Ông không nhớ đã nói những gì với người con gái. Nhưng “sĩ quan dù” thì không trật đi đâu được. Ông tin mình đã nói mấy lời kia. Hơn ai hết, ông hiểu mình thời trai trẻ lắm: về ngôn từ thì luôn luôn “rộng rãi” với phái nữ. Ôi, một lời nói bình thường như trăm nghìn lời nói có tính cách phản xạ của một người con trai trước một người con gái, nhưng người đón nhận lời nói đã trang trọng nó trong ký ức. Người con gái nào lại không thích được khen đẹp. Ông Khanh chăm chú nghe. Mắt ông nhìn thẳng vào gương mặt xinh xắn có đôi mắt đen to và nụ cười lúc nào như cũng sẵn sàng nở trên đôi môi hay hé mở khi nghe chuyện hay khi nhìn người đối diện. Ông không dằn được nữa:

        – Tôi là tác giả bức hình này.

        – Sao cơ? Chú vừa nói gì? Chú đã chụp tấm ảnh này ngày xưa? Chú là người khách tình cờ kia?

Chú không đùa với cháu đấy chứ?

       – Tôi nói thật đấy. Nãy giờ những câu hỏi có vẻ bâng quơ của tôi là để kiểm chứng lại xem mình có lầm không. Những gì cô cho biết đều ăn khớp với những gì tôi đã làm. Thật tôi không ngờ có ngày mình còn nhìn lại được bức hình đã xa lắc xa lơ trong quên lãng…

        Giọng một xướng ngôn viên nữ báo máy bay “sắp vào không phận thành phố Hồ Chí Minh.” Cô gái nói:

        – Cháu phải đi làm việc. Tiếc quá, phải chi có thì giờ. Cháu muốn nói chuyện nhiều với chú.

        – Cũng như tôi chụp bức ảnh cho cô bây giờ, hồi đó tôi cũng không biết gì về mẹ cô cả.

        – Không chỉ hỏi chuyện về quãng đời nghề nghiệp của mẹ cháu; tự nhiên cháu thích cái lối của chú. Cháu tên Vân. Chú có bút không? Để cháu ghi số điện thoại của cháu.

        Ông Khanh bỗng thấy mình trẻ lại. Lòng tự ái đàn ông được vuốt ve vì câu nói có lẽ vô tư của một cô bé chỉ trạc tuổi con mình! Ông rút cây bút từ túi áo, trao cho cô gái. Ông trả bức ảnh cũ lại cho cô tiếp viên và, trong mối cảm tình nẩy sinh thoáng chốc, ông kèm theo tấm ảnh mới của mình:

        – Tặng cô để kỷ niệm một chuyến bay.

        Người con gái lộ vẻ vui mừng:

        – Cám ơn chú. Cháu không ngờ người chụp bức ảnh cho mẹ cháu hôm nay lại chụp cho cháu một tấm giống hệt như vậy.

        – Hy vọng sau này cô sẽ kể lại lai lịch bức ảnh cho các con của mình, như mẹ cô đã kể cho cô nghe về bức ảnh kia.

        Cô gái thoáng một vẻ cảm động, cười nhẹ, bước đi:

        – Dạ…

        Một nam tiếp viên vừa bước đến nhắc ông Khanh cài dây an toàn. Qua cửa sổ ông Khanh thấy những thửa ruộng loáng nước trải dài bên dưới. Ông lại nghĩ ngợi. Sự việc vừa xảy ra thật lạ lùng. Tình cờ, may rủi, định mệnh, vân vân, vốn là những gì con người vẫn gọi một khi không giải thích nổi những sự kiện khó hiểu trong đời sống. Ông Khanh cũng tin tình cờ, may rủi, hoặc định mệnh chi phối vạn vật, duy có điều những gì ông gặp cách đây hai mươi bốn năm lại đối xứng với những điều vừa xảy ra hôm nay làm ông càng thấy khó quan niệm nổi “luật” tình cờ của sự vật. Mẹ đối xứng với con, hai tấm ảnh polaroid đối xứng nhau qua hai khung cửa sổ, hai  chuyến bay trong hai xã hội đối xứng nhau, và chính ông đang đối xứng với ông của hai mươi bốn năm xưa! Thật ly kỳ, từng cặp sự vật lẫn sự việc đều đồng bộ với nhau, vì nếu không “cùng loại’ thì sự đối xứng đã không có.

        Bảo rằng mọi sự đều có nguyên ủy của nó là một lối nói mơ hồ. Một viên gạch rơi xuống vì chịu tác động của một lực nào đó. Một người bước đi vì cơ bắp được ý chí điều khiển. Nhưng làm sao giải thích tại sao bước chân đã xê dịch tấm thân người ấy đến vừa vặn điểm giao nhau với viên gạch đang rơi từ trên cao độ ba mươi thước, gây nên cái chết bất đắc kỳ tử của một thiếu nữ tên Trang, nhân vật trong một truyện của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn? Ngày xưa ông Khanh chụp bức ảnh người thiếu nữ đứng bên cửa sổ máy bay vì cảnh trí ấy quyến rũ ông. Ngày nay cảnh trí ấy lại hiện ra, niềm ham thích, niêm say mê cảnh trời mây trắng bên khung cửa vẫn chưa bị thời gian đào thải, và ông đã làm lại cái công việc xưa cũ. Nhưng còn đối tượng trong hình, và bao nhiêu yếu tố khác xoay quanh tấm ảnh bây giờ, làm sao giải thích được sự đan bện, tròng tréo giữa chúng với nhau. Với sự kiện đơn lẻ thường dễ hiểu nguyên ủy. Nhưng những sự kiện đơn lẻ ấy tập họp lại để làm nên những sự việc, những biến cố của đời sống, ai có thể giải thích được lý do quần tụ của chúng? Chúng quần tụ do ngẫu nhiên? Vâng. Nhưng ngẫu nhiên là gì? Nó có nguyên lý, định luật của nó không? Hình như chưa có nhà luận lý học nào giải đáp thỏa đáng cho chúng ta. Hay chúng quần tụ do một bàn tay siêu nhiên nào sắp đặt? Máy bay vừa chạm đất, làm sàn phi cơ khẽ rung theo đường lăn bánh, cắt đứt giòng suy nghĩ của ông Khanh. Hành khách lao xao chuẩn bị rời ghế. Máy bay dừng hẳn, ông Khanh đứng dậy, nối đuôi theo giòng người tiến ra cửa. Các tiếp viên phi hành đứng thành hàng dọc lối ra để tiễn khách. Đi ngang qua trước mặt cô con gái của “cố nhân”, ông Khanh chỉ kịp mỉm cười từ giã, trong khi bên tai nghe một câu nói khẽ, “cám ơn chú về bức ảnh.” Người hành khách già lững thững bước xuống cầu thang phi cơ, thấy lòng mình không tẻ nhạt như mọi lần; hình như ông vừa có một niềm vui nho nhỏ. “Tự nhiên cháu thích cái lối của chú.”

Hà Kỳ Lam

nguồn: diendantheky.net

Phan Lạc Tiếp: HOA BƯỞI NGÀY XA

Thêm ảnh Đại hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân VNCH:

YOU JUST SHARED YOUR PHOTOS
You’re invited to view my pictures at Shutterfly. Enjoy!
PICTURE
SEE PHOTOS
Album link:
http://share.shutterfly.com/action/welcome?sid=0BbMW7RuxcsW__

HOA BƯỞI NGÀY XA

Phan Lạc Tiếp

Ở tuổi trên 60 không thể còn viện một lý do gì để bảo mình còn trẻ cả. Trên 60 năm của cuộc sống đã qua, trong đó có hơn 20 năm ở miền Nam. Đó là thời gian trai trẻ, bay nhảy. Vậy mà suốt thời gian đó, với bao thăng trầm, hoạt động, tôi vẫn thấy tôi là một người “Bắc Kỳ.” Bạn bè tôi, bao nhiêu người thân thiết là người Nam. Thân lắm, hiểu nhau, giúp nhau cũng nhiều, nhưng họ vẫn “thấy” tôi là một “thằng bạn Bắc Kỳ”. Yêu miền Nam lắm lắm, chịu ơn miền Nam cũng nhiều, “bị” gọi là “thằng Bắc Kỳ”, tôi chẳng bao giờ buồn cả. Vì quả thật, tôi rất là “Bắc Kỳ”. Bắc Kỳ từ giọng nói, cách cư xử. Nhất là qua sách báo mà các bạn tôi muốn biết về Bắc Kỳ, đó là lúc tôi “thao thao bất tuyệt”. Các bạn cứ ngồi im mà nghe. Có lúc các bạn Nam Kỳ kêu lên: “Mẹ! Nghe thằng Bắc Kỳ nó nói cứ như hát …” Lời nói có phần khen mà cũng có phần chê. Chê là nói có vẻ dóc tổ quá. Biết thế tôi chỉ đành cười. Vì quả mình Bắc Kỳ thật. Một thứ Bắc Kỳ chính hiệu, như Nguyễn Bính viết:

“Hoa chanh nở ở vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê

Từ 1975 đến nay, tôi đã trên 20 năm ở Mỹ, và sẽ còn ở Mỹ cho đến già, điều đó có lẽ khó mà thay đổi được. Và trên pháp lý, tôi cũng đã là công dân Mỹ gần 20 năm rồi. Hơn 20 năm đó, đã có một lớp người Mỹ sinh ra, lớn lên và trưởng thành, đi làm và tôi thường gặp. Một số điều về nước Mỹ tôi nói ra, các bạn trẻ cười và nói: “Tôi không biết. Lúc đó tôi mới sinh ra …!” Suốt hơn 20 năm đó, tôi cũng đã lăn lộn kiếm sống, lúc “cổ xanh”, lúc “cổ trắng”. Hơn 20 năm đó, dù chỉ “ghé mắt mà nhìn”, tôi cũng đã có những lo toan, vui buồn với những thăng trầm của nước Mỹ. Lúc kinh tế suy sụp hồi đầu thập niên 80, tôi thất nghiệp, buồn. Lúc kinh tế lên, dễ kiếm việc, tôi có việc tốt, mua nhà. Lúc quân Mỹ ồ ạt chinh phạt tại Vùng Vịnh, tôi hân hoan … Những điều ấy đã diễn ra trong cuộc sống này, tại đây, nước Mỹ, làm sao mà không ảnh hưởng, không lưu lại trong lòng chúng ta những vui buồn. Như thế, trên pháp lý và đời sống, tôi chắc chắn là Mỹ.

Đi chơi ngoài nước Mỹ, với thông hành Mỹ, tiêu tiền Mỹ, người các nước khác đã nhìn tôi như một thứ Mỹ mà tiếng Mỹ nói cứ như tiếng gì, giống như tiếng Pháp. Làm sao được. Nhưng khi từ nước ngoài “về Mỹ” thì dù có đưa thông hành Mỹ ra, quan thuế Mỹ cũng nhìn tôi khác. Họ xét hành lý của tôi kỹ hơn. Họ hỏi tôi kỹ hơn. Và chính tôi cũng thấy điều đó là một lẽ tất nhiên. Bởi, dù sống ở Mỹ, đã là dân Mỹ, tôi vẫn chỉ là một anh Bắc Kỳ gốc nhà quê. Dù có “nhí nhố thế này, thế khác” tôi vẫn biết và thấy mình là một người Việt Nam, sinh ra và lớn lên tại một làng quê Bắc Việt.

Rồi thời cuộc đổi thay, năm 1994 tôi đã có thể về lại Việt Nam, thăm lại Hà Nội, và về quê Tây Sơn thăm lại nhà cũ, nắm lại bàn tay gầy ốm của anh, của chị, của em. Đứng bùi ngùi giữa cánh đồng xanh, thắp nén hương trên mộ đấng sinh thành … Lúc ấy tôi thấy bao nhiêu năm tháng đã qua ở miền Nam, ở bên Mỹ, như một giấc mộng. Trong làn gió mát, toàn thân tôi như “ngửi” thấy cả một mùi nắng nào đó rất đỗi thân quen … Bồi hồi khôn tả, rồi tôi trở lại Mỹ, trở lại cuộc sống thường ngày, bật dậy theo tiếng reo của đồng hồ báo thức. Theo thói quen đầu ngày đi làm, này là con đường đầy xe. Góc ngã tư đèn đỏ … quen lắm lắm, nhìn qua kính xe, tôi lại thấy ông già râu bạc đi xe đạp, đội cái mũ có hai cái râu con bọ của hãng trừ mối mọt. Tôi gặp ông ở đầu xa lộ, ấy là tôi đi hơi sớm. Gặp tại ngã tư vào nghĩa trang là vừa. Gặp sau đó, coi chừng đến sở không còn thì giờ uống cà phê …

Tôi là một phần tử đóng góp vào nếp sống thân quen ở góc phố này. Tới sở, đưa tấm thẻ vào cái “mắt xanh”, cửa quen người, bật mở. Những tiếng chào đầu ngày. Hôm nay là thứ Hai, ai nấy quần áo chỉnh tề, đàn ông thì cà vạt, đàn bà thì váy mới thơm lừng. Thứ Sáu, ồ, cám ơn Chúa đã là thứ Sáu, mọi người lại ăn mặc làm ra luộm thuộm. Quần jean, giày vải. Và ngày Valentine đến, có những đóa hồng trên góc bàn của các cô gái … Tôi coi đã quen, đã thấy như từng thấy … Tôi là một người Mỹ mà. Nhưng không đâu. Chỉ qua vài câu xã giao đầu ngày, tôi cặm cụi vào màn ảnh máy điện toán để xem có tin tức gì liên hệ đến mình không. Sau đó tôi bận bịu với công việc của tôi. Đầu óc tôi thênh thang, phiêu lưu về một miền đất xa xôi: Quê nhà. Ôi quê nhà. Suốt trên 60 năm qua, từ mấy năm còn bé, học tiểu học và những ngày hè, tôi đều xa quê rất nhiều. Hà Nội, Sài Gòn, các vùng sông nước, các cửa biển. Và Mỹ, những ngày lao đao mới đến. Những xa lộ xe chạy như một cơn mê … nhiều lắm chứ. Nhưng trong lúc thảnh thơi “nhàn du” ấy, tôi chỉ “trở lại” nơi quê nhà. Bao nhiêu điều nhớ lại, đã viết ra, mà hầu như chẳng thể nào hết. Mà lạ! Những điều kể như vui sướng, hầu như chẳng lưu lại trong trí nhớ của tôi bao nhiêu. Điều làm tôi nhớ nhiều đến lại là những ngày bé mọn nơi quê cũ. Tôi nhớ đến một ngọn cây xoan thả những hoa tím xuống đầy mặt con đường đất có lấm tấm mưa xuân:

Hoa xoan lớp lớp được vơi đầy

Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ … (1)

 Vâng, cái cây xoan ấy mọc sau một bức tường đất đã có nhiều chỗ vỡ, lở. Cạnh đó là cây bưởi tỏa ngát một mùi hương. Mảnh tường đất ấy ở phía tay phải kể từ cổng nhà tôi, đi ra phía Đồng Mát. Và cũng từ đó, đường lát gạch đã hết. Con ngõ đất ấy nằm dài một quãng, đi ngang nhà Cô Thầy ở bên tay mặt. Và một quãng nữa là đến nhà chú Tòng. Nhà chú ở ngay lối rẽ. Ở đó có cái cổng tán bằng những ngọn tre khô dựng lên. Từ đó nhìn lên, tre bao kín cả trời. Thân tre cọ vào nhau kêu cót két như “ma nó đưa võng”. Thỉnh thoảng có một cái mo nang long khỏi mấu tre, chao chát rơi xuống ở sau lưng, làm tôi hốt hoảng như ma nó dọa mình.

Vâng, chính các khúc rẽ ấy là nhà chú Tòng tôi. Khác với các nhà ở “trong làng”. Nhà chú toàn bằng tre. Cột tre, rui mè cũng bằng tre. Cái cánh dại cũng bằng tre. Và mái nhà thì lợp rạ. Tường đất bằng bùn trộn với rơm. Nhưng nhà chú cũng tươm tất, ba gian hai chái. Chú tô một lượt vôi lên mặt tường, quét vôi trắng trắng lốp. Giữa là bàn thờ, cũng bằng tre, án gian tre. Bàn thờ tre, và cái mâm chõng để bày cỗ cúng cũng bằng tre. Tường trong, sau bài vị, là một bức tam sự bằng giấy vẽ cảnh núi non, sông nước, ngũ sắc, chỉ Tết chú mới treo lên. Hai gian bên là hai cái giường, vừa làm chỗ tiếp khách, vừa làm chỗ ngủ. Trên tường, chú vẽ một con cá hóa long, màu sắc xanh tím, râu, vảy óng ả, đang thả những cái bong bóng lên cao giữa những hàng thủy ba rộn rã. Nhà chú không có nhà ngang, mà chỉ có một cái bếp nhỏ. Trước nhà là một mảnh sân đất. Vào ngày đầu xuân, nền đất khô, nứt những đường nhỏ như vết chân chim. Ở đó, tôi có thể đi chân đất để thấy cái mát lạnh và rất êm, hiền như một bàn tay của chị. Ở cái sân ấy, tôi tùy thích, có thể vạch một đường ngang để đánh đáo. Vì bao giờ cũng thế, Tết tôi đến nhà chú, chú đứng sẵn ở hiên, cười khà khà và móc túi và cho tôi một đồng xanh-căng (50 xu) trắng xóa. Đồng xanh-căng tôi có thể đổi được 50 đồng xu đồng, hoặc 100 đồng chinh màu vàng. Một mình chú mừng tuổi bằng nửa số tiền cả họ đã cho tôi. Và mùng Hai, chỉ mùng Hai thôi, chú đã làm lễ tạ các cụ.

Tết nhà chú chỉ có hai ngày, mùng Một và sáng mùng Hai là hóa vàng. Chú bảo: “Thôi thì tùy gia phong kiệm … xin các cụ đại xá cho.” Lễ tạ ở nhà chú, bao giờ chú cũng gọi tôi xuống ăn cỗ. Tất cả chỉ có một con gà. Gà luộc, lấy nước làm canh, thả mấy lát bí vào, ngon mắt. Con gà ấy, chặt vội ra, mỗi miếng như một nắm tay nhỏ, bỏ vào cái rá, ném một nhúm muối vào, xóc lên, đơm vội ra đĩa lớn, bày lên mâm, và chú bảo: “Các đứa đâu, vào ăn cỗ.” Chú gắp cho tôi miếng thịt gà để lên bát cơm trắng có ngọn. Cơm nóng, thịt gà còn nóng, ngon một cách đơn giản mà đầy đặn …

Hôm sau, mùng Ba Tết, chú đội cái nón rộng, choàng cái khăn nhiễu, ra cái điều còn ăn mặc theo lối ngày tư, ngày Tết. Chú quảy một gánh, hai đầu gánh là hai cái sọt to. Chú làm nghề đổi đồng. Chú đi mua các nồi đồng cũ, về sửa lại, vá lại các chỗ rò, đem bán. Sáng chú quảy gánh đi, tối mới về. Chú đi suốt các làng quanh đây. Gần thì Vĩnh Lộc, Yên Thôn. Xa chút nữa là bên làng Chàng, quê ngoại của tôi. Xa nữa là làng Núc. Làng Núc, tên gọi của mấy làng như Hương Ngải, Canh Nậu, Dị Nậu, Bến Thôn … Từ cánh Đồng Mát, nhìn qua cánh Đầm Bùi, những mùa nước lên, trắng xóa những nước, làng Núc hiện ra mờ nhạt. Khi nước đã lắng trong, mặt nước như có sương phủ. Mấy con chim bồ nông màu nâu pha trắng đâu như từ núi Tản Viên bay về bơi nhởn nhơ ở giữa khoảng mây nước ấy. Chú bảo “Thiên hạ họ ăn Tết lâu hơn làng ta. Đến hạ nêu rồi họ mới động thổ …” Tôi nhìn lũy tre xa lắc ấy, những con cò trắng bay siêu cánh mất hút ở mảnh trời bên ấy. Xa thật. “Thiên hạ” của chú xa quá, đi từ sáng đến gần trưa, có khi ăn mấy miếng trầu mà chưa đến… Những ông Chánh, ông Bá, những người có máu mặt ở các làng ấy, chú đều có quen, “cũng là chỗ đi lại mua bán cả …” Chú đi như thế, quen như thế, bao giờ tôi mới đi được. Cái Đầm Bùi mờ mịt kia bao giờ tôi mới có dịp vượt qua.

Có lẽ tôi phải nói rõ thêm một chút về chú. Chú là chú họ tôi, có lẽ gần lắm. Vì cứ nghe nói lại, thì từ nhỏ đến lớn, nhà tôi, nhà bác tôi có việc gì là có chú. Lúc bác tôi mới làm  xưởng trà trên mạn ngược cũng có chú. Chú bảo, ở với người Mọi, cần nhất phải thật thà. Nói sai một lần họ không tin, họ thư cho đến chết. Chú lại bảo, có lần chú đi ngựa từ mạn ngược về, con ngựa của bác cả đưa cho chú cưỡi. Lúc leo lên, nó để yên, đến khi chú rung cương là nó phóng nước đại. Chú ghìm cương lại cứng ngắc, nó càng tế tợn. Chú hoảng quá, nằm rạp xuống yên ngựa. Nó cứ thế vùn vụt, nó mà vật mình ngã xuống, chắc chết. Đầu tóc chú xổ tung. Chiếc khăn lượt nhiễu tám vuông vướng vào chân con ngựa. Chú hoảng quá, muốn “họ” nó lại mà không biết làm sao. Tới một đầu kẽm(2), một người Thổ vẫy nón và kêu lớn: “Tr…ung già…” Tiếng nói lơ lớ, chú vội buông chùng cương, thế là nó đi nước kiệu, rồi từ từ đứng lại … Một lần khác chú kể lại: Khi bác cả làm nước mắm. Các thùng nước mắm to bằng cả gian nhà, cao vút đầu. Tây nó bảo có đứa báo là trong thùng nước mắm ấy có để khí giới của tụi làm việc kín. Chú lại phải tắm rửa sạch sẽ, rồi hụp xuống đáy thùng mò. “Đâu có gì …”

Rồi những năm loạn lạc, đói năm Ất Dậu, Nhật lật Tây, rồi Việt Minh lên. Loạn lạc liên hồi. Chú chạy qua, chạy lại. Nghe ngóng có gì lạ là chú lên nói nhỏ cho thầy tôi hay. Tây càn qua, bắt thầy tôi đi. Tây thả về, Việt Minh lại bắt. Ông cụ ốm rồi mất. Khi thầy tôi mất, hầu như cả làng, cả họ đều đến thăm ông cụ. Bác tôi ngồi mài quế vào cái vung sành, và thắp hương lên bàn thờ các cụ. Còn chú Tòng, chú chạy qua chạy lại. Khi thầy tôi mất, lúc ấy là nửa đêm, được báo, chú lên ngay. Chú điềm tĩnh thay quần áo cho thầy tôi. Lấy vải quấn quanh người. Chú đi xin đất. Chú đặt áo quan. Chú nói hàng mã làm nhà táng. Chú cho sửa cơi trầu để thưa với hàng giáp. Khi hạ huyệt chú xem anh em đô tùy có xuống đều tay không. Khi áo quan đã xuống lòng huyệt, chú đứng ở đầu huyệt, ngắm lại cho ngay ngắn rồi trình với cụ Tú Kép, để cụ phân kim cho đúng hướng, rồi mới lấp đất. Mộ đắp xong, cao ráo đâu đó, chính chú cắm hai chữ Trung, Tín vào hai bên mộ của thầy tôi, rồi mới ra về.

Anh em tôi còn bé, hoặc mới lớn, mất mẹ, mất thầy, thấy mình như một con diều đứt dây. Chúng tôi buồn bã đi từ ngoài mộ về nhà. Tới nhà, nơi căn buồng mà thầy tôi vừa mất, đã được  dọn dẹp sạch sẽ. Ở đó bây giờ bày một bàn thờ vong. Có hình thầy tôi ở trên bàn. Anh em tôi dựng các cây gậy tre và mũ rơm vào hai bên bàn thờ và đứng đó lễ tạ các người đến viếng. Những mâm cỗ đơn sơ, gọi là “tạ ơn hàng giáp”, cũng do chú lo lắng. Chỗ nào cần là có chú. Chú tỉnh táo và lo toan như thế, tôi có cảm tưởng như chú sành việc quá, quen quá, và chả có chút thương xót gì thầy tôi.

Khi đêm đã sâu, khách tới viếng đã vãn. Trên bàn thờ các cây hương đã lụn, lúc ấy chú mới bảo các anh em tôi: “Các cháu vào cả đây, ngồi sau chú để lễ thầy cháu …” Anh em tôi áo sô, mũ rơm ngồi sau chú. Chú quỳ trước bàn thờ, thắp một tuần hương mới. Một khắc im lặng trôi qua, tôi như nghe thấy được tiếng con dời bay, xà vào ngọn nến rồi chết dính ở đó. Bổng chú nấc lên và kêu: “Ô hô! Ô hô! Anh ơi là anh ơi! …”  Tiếng kêu thống thiết vỡ ra giữa ban đêm, làm tất cả anh em chúng tôi òa khóc …

Chú Tòng, chột mắt, mặt rỗ chằng, ngày thường trông đã xấu. Giờ chú vật vã khóc lóc thảm thương, tóc xổ tung, càng xấu, mà tôi thương chú quá, yêu chú quá.

Lúc bé, tôi có thấy thím Tòng, người cao lỏng khỏng, răng đen, và nghe nói thím chẳng phải người nhẹ tay, nhẹ chân, nên những tấm vải của thím dệt chỗ dầy, chỗ mỏng, khó bán. Do đó thím xoay ra buôn bán vải, nay chợ Nủa, mai chợ Săn. Hàng họ thì “vặt đầu cá, vá đầu tôm,” thím mượn vải của người làng đem bán. Bỗng một hôm không thấy thím đâu nữa, cả nhà bổ nhào đi tìm, kiếm cả bờ ao, chuôm, đầm. Vẫn biệt tăm. Và đúng lúc đó, người làng đến đòi nợ chú Tòng nườm nượp. Thôi thì vợ làm chồng chịu, “cháo nóng húp quanh, công nợ trả dần”, chú Tòng xin khất, để từ từ tính lại. Lại có người bảo, thím vỡ nợ nên thím trốn lên rừng ở với Mọi rồi. Hư thực ra sao, đành chịu. Chú Tòng hằng ngày vẫn quảy hai cái sọt đi đổi đồng. Có lúc chú đi đâu vắng đến cả tháng. Người ta bảo chú lên rừng tìm thím ấy đấy. Ai hỏi, chú chỉ ừ hữ cho qua. Mặt chú rỗ, mắt lác, nên khó đoán được chú lo buồn ra sao. Đôi lúc buồn quá, chú hát:

Ba bốn năm ăn ở trên rừng,

Chim kêu (mà) vượn hót (chứ) nửa mừng, nửa lo.

 Mẹ tôi mất sớm, rồi thầy tôi lại mất. Thời cuộc loạn lạc. Quê hương chìm trong cuộc tương tàn khốc liệt, và quê hương cũng chẳng dung nổi mình. Anh em tôi phân tán. Tôi và anh hai tôi vào Nam, vừa làm việc vừa học và luôn luôn nhớ lời thầy tôi nhắc nhở: “Các con cố mà làm những điều lành…”

Giờ cuộc chiến đã tàn. Bao nhiêu người đi, hăm hở ra đi và chẳng bao giờ trở về. Giờ tôi còn sống đã là một điều may mắn. Tôi lại còn về lại được quê nhà, thăm lại nhà cũ, thăm lại quê hương. Nói thế nào cho hết nỗi bồi hồi. Quê nhà giờ quá đông đúc, chật hẹp. Tôi nhờ người anh em họ, ông Cửu Phỗng, đưa đi thăm nhà chú Tòng. “Ờ! Cụ Tòng mất đã lâu. Có ông Tục đây, để ông Tục đưa ông về thăm nhà.” Vâng, Tục, con trai của chú. Chú đặt tên con là Tục, lấy lý rằng con chú là em tôi. Tôi tên là Tiếp, thì em nó là Tục. Ông Tục, em tôi cũng già. Em nói: “Nhờ tổ ấm thì nhà em cũng đủ bát ăn. Nhà em nó xoay xở buôn bán được …” Vợ của chú Tục, em dâu tôi, ngồi đó cười nhẹ nhàng. Người đàn bà nhà quê được chồng khen như thế thì hả dạ lắm, ngỏn ngoẻn cười. Tôi có hỏi thím buôn bán gì, thím bảo: “Em buôn đủ thứ hàng mua từ Trung Quốc…” Ngoài em Tục ra, chú Tòng của tôi còn có mấy người con gái nữa, mà lúc bé tôi chỉ thấy các đứa bé em gái mặc áo nâu, tay áo đặc quánh những nước mũi. Tôi có hỏi thăm, chú Tục nói: “Dạ thưa anh, các cô ấy cũng ở quanh đây …” Ông em tôi dẫn tôi tới thăm nhà của một người em gái, cô đang ốm nặng. Tôi vén tấm màn buông thõng, và gọi tên cô. Cô mở mắt ra nhìn tôi rồi khép mắt lại. Cô nói: “Tưởng anh chết rồi mà …”

Tôi bàng hoàng như vừa nghe một lời nói quở. Chú Tục kéo tôi và nói lại việc này.

Vâng, quả có thế!

Năm 1965 tôi đóng ở Mỹ Tho, Giang Đoàn 21 Xung Phong. Vùng hoạt động của Giang Đoàn này bao gồm vùng sông ngòi liên hệ đến con sông Cửa Tiểu, bao gồm đến các tỉnh Định Tường, Gò Công, Bến Tre … Một lần tôi theo anh bạn đem đồ tiếp tế cho một đơn vị Duyên Đoàn này là anh Nguyễn Đức Bổng, Khóa 10, trước tôi một khóa. Anh nhỏ con, nắng mưa làm da anh nâu. Anh nhỏ nhẹ, nhưng gan dạ. Tôi có ăn với anh một bữa cơm gồm nhiều cá tôm hơn là rau trái. Anh bảo, các thứ này dân họ cho cả. Chỉ một tuần sau chúng tôi lại phải đến đơn vị anh đưa xác anh về. Anh bị nội tuyến, trận chiến diễn ra giữa trưa, sau bữa cơm cá tôm do dân cho. Anh chiến đấu gan dạ, và tự mình bắn viên đạn cuối cùng trên chiếc ghe chủ lực. Xác anh bị nhiều vết đạn giữa ngực và nằm vắt ở mạn ghe. Chúng tôi đến nơi, trận chiến đã tàn. Đêm đã xuống, chở xác bạn về. Xác anh nằm đắp chăn ở sân trước chiếc soái đĩnh. Máu chảy ướt một bên chăn và chảy ra cả mặt sàn sắt.

Sông nước Cửa Tiểu đục ngầu cuồn cuộn. Những đóm hỏa châu lơ lửng ở những mảnh trời xa. Gió sông lạnh giá. Tôi thấy cuộc chiến tàn nhẫn quá, đau đớn quá. Tôi nhớ lại dáng đi êm ả của anh trong sân trường Trung tâm Huấn luyện Hải Quân. Anh là đàn anh, khóa trên. Khi chúng tôi nhập học, các “đàn anh” đã leo lon vàng sinh viên sĩ quan Chuẩn úy. Trên mũ đã có một đai vàng trông sáng ngời. Tuần lễ Huấn nhục diễn ra. Thôi thì “đàn anh” tha hồ bày các trò quỷ quái để hành đàn em. Qui luật nhà trường là thế, nhưng cũng không thiếu những ác ý tinh quái làm đau đớn kẻ mới vào trường. Các “đàn anh” hò hét, xỉ vả đủ điều. Anh Bổng, Nguyễn Đức Bổng, không thế. Anh nhìn các bạn cùng khóa “hành” đàn em, anh chỉ cười phô hàm răng có kẽ hở ở giữa hai răng cửa. Cuối tuần, anh còn mua vài ổ bánh mì “Chụt”, một loại bánh mì gà nổi tiếng ở chợ Cầu Đá, Nha Trang, dúi cho các “đứa con” của anh. Anh nói nhỏ “Ráng đi. Sau hai tháng là hết, tha hồ đi bờ(3) như tụi này …” Giờ nhìn xác anh nằm đó bất động. Nghe nói anh sắp lấy vợ, tôi càng buồn hơn. Do đó tôi có viết một bài với nhan đề: “Kẻ Đã Nằm Xuống Bên Kia Rạch Sọ Dừa”, dưới đề người viết: Phan Lạc Tiếp. Bài ấy in trên tờ Tiền Tuyến, và đài Quân Đội đã đọc lại qua phần phát thanh vào một buổi chiều. Trong cả bài viết tôi chỉ nêu tên anh một lần, mà chỉ nói đến những hành động của anh. Do đó người nghe dễ hiểu lầm “người đã nằm xuống bên kia rạch Sọ Dừa” là Phan Lạc Tiếp.

Các sự việc trên diễn ra khi tôi ở Mỹ Tho, sau được biết như sau. Người anh em bà con của tôi (kẻ đã chứng kiến anh P.T.Tr. bị đem ra chân núi Sài Sơn, hai anh du kích kéo dây thắt cổ chết), anh nghe được bài phát thanh trên. Anh vội đến nhà chị tôi, lúc đó độ 4 giờ chiều. Cửa hàng đang đông khách. Chị tôi chào anh, có ý bảo “anh đợi em một chút”. Nhưng anh đã không đợi. Anh nói: “Việc chú Tiếp tính sao?” Chị tôi dừng tay lại. Anh nói: “Tôi vừa nghe đài, chú Tiếp đã bị phục kích, mất …” Chị tôi hốt hoảng, vội đóng cửa tiệm và đi xe taxi đến báo Tiền Tuyến báo cho anh tôi hay. Phản ứng đầu tiên của anh tôi là ngồi lặng hồi lâu, rồi gục đầu xuống bàn và khóc. Lúc ấy đã gần mãn giờ làm việc. Anh tôi nhấc điện thoại gọi qua Bộ Tư Lệnh Hải Quân, không được trả lời thỏa đáng, và “Các sĩ quan trực về ăn cơm … Chúng tôi không ghi nhận được việc này, để xin phối kiểm lại …” Biết làm sao hơn. Sau 8 giờ tối, anh tôi liên lạc lại, biết đó là tin sai. Anh tôi gọi điện thoại xuống Mỹ Tho, gặp tôi, giọng anh tôi còn xúc động: “Tiếp hả. Có phải Tiếp không … Thôi được. Cuối tuần này có về không …?” Từ trước tới nay anh tôi có liên lạc với tôi như thế bao giờ đâu. Lạ!

Lúc ấy các báo Sài Gòn ra buổi sáng, nên mọi việc phải làm cho xong buổi tối hôm trước. Bạn bè nhà văn, nhà báo nghe thế , vội vã đăng lời phân ưu. Suốt đêm ấy, anh tôi phải liên lạc với các báo ở Sài Gòn để “xin đục bỏ”. Vậy mà còn một tờ, tờ nào tôi không còn nhớ, đã “chạy” lời phân ưu với anh tôi nhân sự hy sinh vì Tổ quốc của tôi. Cũng đêm ấy, vợ chồng Nguyễn Đình Toàn và mấy người bạn thân tìm đến nhà tôi ở Gia Định thăm. Tới nơi thấy vợ tôi bụng mang dạ chửa đứa con đầu lòng, đang cúi xuống lau nhà. Toàn hỏi: “Tiếp thế nào?” Vợ tôi ngửng lên và nói: “Tuần trước có về …” Thấy vợ tôi bình tĩnh như không, mọi người nháy nhau về và quay mặt đi rồi khóc: “Nó chưa biết tin …” Ít lâu sau, anh Mai Trung Tĩnh, đang làm việc cho tờ Phụng Sự, liên lạc với Nguyễn Đình Toàn: “Mầy thân với Tiếp. Có bài nào cũ của nó và có cái ảnh nào của nó cho tao để tao làm một số báo đặc biệt về Phan lạc Tiếp …” Toàn cười: “Bố khỉ. Tin sai.” Tin sai ấy chỉ được cải chính tại Sài Gòn. Các nơi khác, bạn bè tôi cũng đã khóc thương tôi. Và ở tận quê nhà xa lắc, cách trở nghìn trùng, tin dữ ấy cũng đã lọt về. Lọt về đến tận miền quê hẻo lánh của tôi. Tin ấy được âm thầm loan đi, đau khổ loan đi. Vâng, tại căn nhà mà thầy tôi đã mất, một buổi tối, anh cả tôi, các em tôi, cô tôi và cả chú Tòng đã ngồi lại. Một bát cơm, quả trứng đã được bày lên. Tên tuổi cũng được vội vã và lặng lẽ viết lên một bài vị. Lễ phát tang lặng lẽ, đau đớn đã diễn ra. Ở đây, chú Tòng tôi lại lặng lẽ rồi bật khóc: “Ối cháu ơi là cháu ôi …”

Không biết tin đau buồn này đã đọng lại với anh em tôi, họ hàng tôi ở ngoài Bắc bao lâu. Bắc Nam cách trở. Sau đó cuộc chiến cứ lan dần. Người miền Bắc dồn dập qua đường xương trắng Trường Sơn vào xâm lấn miền Nam. Hải Quân Bắc Việt cũng lén lút xâm nhập bờ biển miền Nam. Một số tàu bè Bắc Việt bị Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa săn đuổi và đánh chìm. Các biến cố trên biển ấy, đa số tôi đều có cơ hội theo dõi tường tận và đã viết lại. Các bài viết này đã đăng trên Tiền Tuyến, phát lại đài Quân Đội, đài Gươm Thiêng Ái Quốc, đài Tiếng Nói Tự Do. Dưới các bài tôi đều ký tên thật với cấp bậc. Vì thế, sau này tôi được biết, anh em tôi ở ngoài Bắc đã tươi tỉnh lại dần, vì biết tôi còn sống. Khi con gái tôi đầy năm, hai bố con tôi chụp tấm ảnh, và tôi bổng nhớ: giỗ đầu anh Nguyễn Đức Bổng đây rồi.

Tôi còn sống đã là điều may mắn. Năm 1994 tôi lại có cơ hội về thăm lại quê cũ làng xưa. Tôi ra Đồng Mát. Lối đi xưa lá cây che phủ. Hai bên đường có những bụi cúc tần quấn quýt những dây tơ hồng màu vàng óng. Giờ nhà mọc chen nhau. Ra khỏi cổng làng, những mảnh ruộng xưa trước mặt. Cây đa Lò Ngói không còn. Làng Thạch, làng của anh Trần Lê Nguyễn, gần xịt. Cái vó bè cao ngất, giơ cái vó lên trời. Đầm Bùi đấy ư? Xưa, với tôi mênh mông là thế. Nay chỉ là một cánh đồng trũng mà “lâu nay nước cạn, cá mú chẳng còn.”

Tôi hướng tầm mắt xa hơn. Làng Núc ở phía chân trời ấy, cách độ 3 cây số. Nơi mà ngày xưa, với tôi là “thiên hạ xa xăm”, nơi chú Tòng tôi quảy hai cái sọt đi đổi đồng … Chú đã mất. Tôi đứng đó khá lâu. Gió thổi hiu hiu. Mây trời như ngưng đọng. Những thửa ruộng nằm êm đềm, những bờ ruộng nhỏ bé, cỏ gà mọc lơ thơ khuất dần vào đồng lúa. Một đám mây nào bay qua, bầu trời sẫm lại. Xa, về phía trái, trên con đường từ Giếng Bìm qua làng Thạch, có mấy người đàn bà quảy gánh lặng lẽ bước đi, rồi rẽ vào lối làng Yên Thôn, và chìm vào đám cây đã sẫm. Trời tối hơn, những con nhái bén trong ruộng lúa bỗng kêu lên inh ỏi. Chốc chốc lại có tiếng con ễnh ương kêu ọp oạp như lời đe dọa của đêm. Tôi bỗng nhớ đến hai câu thơ của một thi sĩ người làng, Hoàng Quân:

Xa xa tiếng ếch chìm trong lúa

Đổ cái hoàng hôn xuống tịch liêu

Cả tập thơ mấy chục bài, tôi chỉ nhớ có vậy, nhưng bài tựa của Đinh Hùng thì tôi lại nhớ nhiều hơn. Đinh Hùng viết về tập Hoàng Ca: “Màu vàng đằm thắm của lúa chín. Màu vàng vấn vương của hoa đồng. Màu vàng của chiều thu tâm sự …” Nghe đâu Hoàng Quân đã bán đi mấy sào ruộng hương hỏa để in tập thơ này …

Thấy tôi đứng thẫn thờ khá lâu, ông em nhắc: “Thôi về chứ ạ …” Tôi tỉnh lại. Trước mặt tôi cảnh Đầm Bùi nhạt nhòa trong đêm. Dưới chân tôi là mấy ngôi mộ nằm chơ vơ  trong ruộng lúa cấy muộn. Chúng tôi quay về. Con đường đất len đi giữa những căn nhà tranh lô xô. Tới ngã rẽ, tôi biết xưa là nhà của chú Tòng đây. Giờ cây cối chẳng còn. Nhà cửa xen nhau kín mít. Tôi hỏi ông em: “Nghe nói sau này mẹ em có về lại mà.” Ông em vừa đi vừa đáp: “Vâng. Mẹ em có về. Mấy anh em em đang lúi húi dệt vải, thì thấy con chó vàng xồ ra sủa ầm ĩ. Một bà già cầm cái nón chảo che chân và nói: chó này, chó này … Tụi em đều dừng tay, bỡ ngỡ, vì chưa biết đó là mẹ em. Vì như anh biết đấy, mẹ em bỏ nhà ra đi lúc tụi em còn bé cả, lại chả có tấm ảnh nào, lâu quen và quên đi rằng chúng em đã có một bà mẹ. Vừa lúc ấy thì bố em về. Ông đặt gánh đồ đồng đứng trước sân và nhìn sững. Hai ông bà nhìn nhau, chả nói được câu nào. Rồi thầy em nói như quát: “Mẹ mầy về này.” Tụi em ùa ra bồi hồi. Một lát sau mấy đứa em gái mới xà vào mẹ em và òa khóc …” Ông em tôi kể thong thả, đều hòa như câu chuyện của ai đâu đã xa. Rồi lại tiếp: “Cái số của bố mẹ em nó thế. Xa nhau thì thế. Lúc gặp lại chưa được bao lâu hai ông bà theo nhau mất cả …”

Lòng tôi trôi đi miên man theo với ngày tháng cũ. Hai chúng tôi vẫn bước trên đường về nhà. Con ngõ đã mở ra rộng thoáng, lát gạch. Xưa khúc đường này hoa xoan rụng đầy. Hoa bưởi ở trong vườn nhà cụ Tú Kép tan loãng mùi thơm vào hơi mát của đêm … Bây giờ, lối vào cổng nhà tôi ánh đèn tỏa ra sáng trưng. Bà con, bạn bè nghe tôi từ Mỹ về đang kéo tới chơi. Không hiểu sao, tôi như thấy có chú Tòng thấp thoáng trong đám người ấy. Trong thinh không tôi như nghe thấy tiếng chú cười khà khà, và nói: “Nhờ phúc đức tổ tiên, hôm nay anh cháu đã về …” tôi choáng váng kinh sợ, bồi hồi. Tôi nghĩ đến chú Tòng nhiều quá. Tôi nói nhỏ: “Thưa chú, cháu về muộn quá …”

PHAN LẠC TIẾP

Chú Thích:

  • Nguyễn Bính
  • Kẽm: hẻm núi
  • Đi phố chơi: tiếng của Hải Quân

Mưa gió xa muôn trùng

Mưa gió xa muôn trùng

Hà Kỳ Lam

Audio :http://hakylam.com/?cat=10

Qua truyện này tác giả xin thắp một

nén hương lòng cho nhạc sĩ Văn Cao

        Mới hơn tám giờ tối mà mọi nhà trong khu quận lỵ nhỏ bé nầy đều cửa đóng then gài. Chỉ có ánh đèn le lói qua các khe hở của vách ván là dấu hiệu người ta còn thức. Mưa vẫn nặng hạt và đều đều, với từng cơn gió thỉnh thoảng đẩy làn mưa thành những đường chỉ buông xiêng xiêng trước ánh đèn xe. Có lẽ một phần vì tình hình chiến sự có vẻ bất ổn sau một loạt đột biến như các vụ di tản chiến thuật ở Miền Trung, rồi ở Cao Nguyên, và một phần vì trời mưa, nên người dân ở đây đi nghỉ sớm. Chiếc xe jeep nhà binh dừng trước một căn nhà mái tôn với ánh đèn bên trong hắt qua các khe của cửa sổ lá sách đã đóng lại. Rạng nhảy ra khỏi xe, và tài xế cho xe lao đi. Chàng dò dẫm mấy bực thềm trước khi có thể chạm tay vào cánh cửa. Chàng đứng im nghe ngóng mấy giây. Im phăng phắc – không có lấy một tiếng xầm xì bên trong. Dán mắt vào một khe hở của vách ván, Rạng vừa thoáng thấy bóng dáng Trâm đang ngồi chấm bài bên ngọn đèn dầu. Trâm là một cô giáo mấy năm nay.

        Rạng đưa tay định gõ cửa, nhưng dừng lại. Tiếng gõ cửa ban đêm thường làm ngưòi ta sợ. Chàng nói lớn nhưng ôn tồn:

  • Trâm mở cửa cho anh. Rạng đây!

Một cánh cửa sổ hé mở, và một mái tóc xõa in hình trong khung cửa, rồi một

giọng con gái reo vui:

  • Anh Rạng!

Cửa mở. Rạng bước vào nhà với bộ áo quần trận phong trần lấm tấm những

hạt mưa, và Trâm đứng nép một bên nhường lối. Nàng nhìn Rạng từ đầu đến chân rồi hỏi:

  • Thật là lâu anh mới đến. Đi công tác một mình hay cả đơn vị?
  • Bọn anh lại sắp được ném vào một lò lửa nào đây. Lâu quá nay mới có dịp qua vùng này nên ghé thăm hai bác và Trâm.
  • Ba má em lên Sài Gòn lo đám hỏi cho anh Trực, mai mới về. Tối nay anh ở lại đây nhé. Một năm rồi anh mới ghé. Đi đâu mà biệt tích lâu dữ vậy?

Câu nói thân tình làm Rạng thấy dễ chịu, thoải mái, một thứ cảm giác chỉ có

mái ấm gia đình mới đem lại. Gia đình của Trâm là một mái ấm gia đình thứ hai đối với quãng đời nhiều xê dịch của Rạng. Trực, anh của Trâm, là bạn thân của Rạng từ thuở nhỏ. Nhưng chưa bao giờ ý nghĩ đi “cua” em gái bạn đến với        Rạng. Không phải vì Trâm không đẹp cỡ chim sa cá lặn. Thực ra, một nhan sắc ưa nhìn như Trâm cũng đủ cho những thằng con trai như Rạng dệt mộng ước, mặc dù tuổi trẻ nào cũng mang ảo tưởng mình không thiếu giai nhân. Có lẽ vì “lỡ” thân thiết với Trực quá, và “lỡ” cư xử thân tình với Trâm từ hồi nào không hay nên “trổ mòi” thì hơi kỳ! Rạng thấy chẳng cần phân tích làm gì. Có thể tình thế là như vậy, và có thể cũng không hẳn đúng, nhưng chàng biết mình mến mọi ngưới trong gia đình này, chàng thấy mình quí Trâm vì sự chân thật của nàng. Chàng vẫn tìm thấy ở gia đình này một điểm tựa tinh thần, nhất là với Trâm. Rạng đáp:

  • Anh là cá biển chim trời mà!
  • Hay bị cô nào xích anh lại bấy lâu nay?

Đôi mắt Trâm long lanh một vẻ mà Rạng không nói được là một tia nhìn diễu

cợt hay thăm dò. Chàng nói:

  • Chỉ có thằng Trực sắp bị một người con gái xích lại thì đúng hơn.

Trâm cười:

  • Bị xích hay được xích đấy? Cả anh nữa, phải được xích mới nên người!

Rạng cười lớn và nhìn Trâm. Chắc đúng vậy. Em phải xích anh lại đi Trâm.

Trong một thoáng Rạng nghĩ đến những người con gái khác mình quen biết. Chẳng có ai đủ “tư cách” buộc chân chàng lại. Trâm thì khác. Ô hay, sao lại đi so sánh như thế kia! Vấn đề không đặt ra như vậy. Trâm là Trâm. Trâm không nằm trong bảng sắp hạng những bóng hồng chàng chạy theo. Trâm mang một nghĩa lý khác đối với Rạng; không phải một cái đích chàng nhắm tới, nhưng cũng không phải một đối tượng để đùa cợt; không phải là tình yêu để lo lắng, tận tụy, nhưng cũng không phải một hình bóng thoáng qua rồi mất hút trong quên lãng. Vị trí của nàng là một cõi nào đó trong ý thức của Rạng, ở đó mỗi lần bất chợt tìm đến chàng thấy một sự ấm áo, vỗ về. Trâm là một loại ốc đảo trong sa mạc của một lữ hành. Với Rạng Trâm thật là gần gũi, thân tình mà không là người tình. Tuy không lãng mạn, chàng vẫn thấy cái đường ranh mờ ảo trong tâm hồn mình có caí gì đẹp và dễ chịu hơn một tương giao xác định và kề cận của tình yêu trai gái. Đối diện Trâm chàng cảm thấy một tự do, một phóng khoáng, và cùng lúc, một tương kính. Nhưng tất cả cái đó sẽ mất đi, hoặc sẽ hết nguyên vẹn với một lời tỏ tình, một cặp môi hôn, hay một vòng tay ôm siết cuồng si. Có thể đó chính là đường ranh mờ ảo và đẹp bắt chàng dừng lại. Và gặp lại Trâm sau một thời gian xê dịch đó đây bao giờ cũng là một hạnh phúc đối với Rạng. Trâm là một thứ em gái mà Rạng có thể thổ lộ tâm sự mà chính Lan, em gái Rạng, cũng khó có thể chia sẻ hay cảm thông.

        Rạng kéo một chiếc ghế và ngồi đối diện với chồng bài vở Trâm đang chấm dở. Trâm đi rót nước trà vào tách và bưng đặt lên bàn trước mặt Rạng, đoạn ngồi vào vị trí cũ. Nàng thu vén chồng bài vở, dẹp sang một bên, và tiếp chuyện Rạng. Thôi thì đủ thứ chuyện, chuyện đời, chuyện nắng, chuyện mưa … Rạng có cảm tưởng cái giòng tương đắc của hai người không bao giờ bị cắt đứt, mà chỉ gián đoạn vì những năm tháng chia xa để lại tiếp tục khi tái ngộ.

        Rạng chợt thấy một bản nhạc để ở góc bàn, và với tay cầm xem: bản “Bến Xuân” của nhạc sĩ Văn Cao. Đó là một trong số các bản ưa thích của Rạng, và chàng nghĩ có lẽ cũng là một bản ưa chuộng của Trâm. Rạng không quên Trâm có một giọng ca khá điêu luyện. Có lúc Rạng đã nghĩ nếu Trâm quyết định đi theo nghề ca hát có lẽ nàng cũng đã thành công. Trâm chợt hỏi:

  • Anh Rạng biết bản nhạc này không?
  • Biết thôi à? Còn mê nữa kia.

Gương mặt Trâm thoáng một vẻ hài lòng của một kẻ bắt gặp điều mình tìm

kiếm. Nàng nói nhanh và khẽ:

  • Em hát tặng anh nhé.

Rạng trao bản nhạc cho Trâm, ngồi ngay ngắn như đón nhận một món quà.

Liếc nhìn vẻ “nghiêm trang” của Rạng, Trâm mỉm cười rất tươi:

  • Không có đàn, hơi khó ca.

Và giọng trong trẻo, truyền cảm của Trâm cất lên trong gian nhà nhỏ, giữa

một không gian im vắng về đêm chỉ có tiếng mưa rơi, gió thổi bên ngoài, và chỉ có hai người với nhau…

        “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước

         Em đến tôi một lần…

        Âm thanh trầm bổng của lời ca ru Rạng vào một cõi mộng đẹp vô ngần. Chàng chiến binh Rạng giã từ những dốc cao, những lũng sâu, những con đường mòn tử địa với những âm thanh chát chúa của đủ loại súng, với mùi khói súng khét lẹt, ở đó não cân tê dại hay căng thẳng, để:

        “Dìu nhau theo dốc suối nơi ven đồi

         Còn thấy chim ghen lời âu yếm

         Tới đây chân bước cùng ngập ngừng

         Mắt em như dáng thuyền soi nước…

        Rạng nghĩ chưa bao giờ giọng ca của Trâm hay đến thế, một giọng ca không kèn trống phụ họa, không có kỹ thuật âm thanh tăng cường. Nếu có bao giờ ta hy hữu chiêm ngưỡng một dung nhan Tây Thi không son phấn thì đó chính là cảm giác của Rạng lúc này đây, khi lắng nghe lời ca trần trụi của Trâm bằng xương bằng thịt! Lòng chàng lâng lâng. Đôi uyên ương với căn nhà bên suối mộng mị trong thế giớ âm thanh kia ở trong cõi lòng của mỗi người nghe nhạc.

        Rồi lời hai của bài ca làm tâm hồn Rạng chùng xuống một cảm xúc khó tả. Từ một trạng thái lâng lâng ngây ngất, chàng bước vào một tình cảm nao nao. Cõi mộng chàng bưóc vào đầu bài ca bây giờ đã tan biến, đã ra đi theo bóng giai nhân:

        “Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác

         Em vắng tôi một chiều

         Bến nước tiêu điều

         Còn hằng in nét dáng yêu…

        Giọng Trâm ngân dài với âm cuối bản nhạc, rồi nàng ngước lên nhìn Rạng mỉm cười, khẽ hỏi:

  • Nghe được không, anh Rạng?
  • Tuyệt! Anh nhớ lại, có lẽ chưa bao giờ Trâm ca hay như đêm nay. Và bản “Bến Xuân” là một trong những bản yêu thích của anh, nhưng chưa lần nào câu ca

                      “Người đi theo mưa gió xa muôn trùng

                       Dừng bước phiêu du về bến cũ…

     lại làm anh cảm xúc như bây giờ. Lời ca đã làm anh nao nao; anh cảm mà

     không diễn đạt được. Có lẽ anh đang sống trong câu ca đó, hay câu hát

     đã diễn tả hộ anh những gì anh thể nghiệm về một phần đời của mình, hay

     những linh cảm của mình về những ngày mưa gió đang chờ… Anh thật

     không biết diễn tả thế nào, nhưng cám ơn Trâm về một giọng ca cùng một

     bài ca hay.

  • Em tin là anh khen thật chứ không khen lấy lòng. Bỗng nhiên em cảm thấy rung cảm theo từng lời ca, và có lẽ vì thế làn hơi có cảm hứng phải khác lạ hơn mọi lần. Có điều lạ là em cũng có cùng một ấn tượng như anh về hình ảnh “mưa gió xa muôn trùng”.

Rạng im lặng, chẳng biết nói lời gì. Chàng đang tận hưởng một khoái cảm lâng lâng vì vừa có được một sự đồng cảm. Rạng nghĩ, nếu đời sống còn có những phút giây cộng hưởng hiếm hoi của hai tâm hồn thì vẫn còn nhiều lý thú, chứ không đến nỗi nhàm chán; đó là một thứ hạnh phúc mong manh và tiềm tàng. Rạng thấy từ trước đến giờ Trâm thường có cùng một cảm ứng với chàng trước nhiều sự vật, từ dáng vẻ một giòng sông đến cảnh trí một hoàng hôn, từ một cuốn phim đến một nhạc khúc như đêm nay, v.v. Chàng thấy tâm hồn Trâm là một tâm hồn đẹp và nhạy cảm; nó lai láng như sông nước vùng quê hương mưa nắng hai mùa trong đó nàng lớn lên.

        Tiếng mưa rơi đều đều trên mái tôn hòa với âm thanh vi vu của tưng cơn gió lướt qua vách ván làm hai người lặng im nghe. Tự nhiên Rạng thấy ngại bước đường “mưa gió xa muôn trùng” mà ngày mai, ngày kia, và biết đâu đêm nay chàng phải xông pha. Chàng bắt gặp ánh mắt Trâm, và bỗng nhiên chàng tin Trâm cũng đang “nhìn” mưa gió như mình. Tình yêu là sự hòa hợp của hai tâm hồn và thể xác. Có đúng như định nghĩa cổ điển kia không? Lại định nghĩa! Làm sao định nghĩa được điều không thể định nghĩa! Và tại sao mình lại moi ký ức ra cái câu quái đản kia? Đã có tình yêu chưa mà xao xuyến. Anh cũng muốn hỏi Trâm đấy. Rạng không biết mình đang nhìn Trâm hơi lâu. Lần đầu tiên từ ngày quen Rạng, Trâm cúi xuống tránh tia nhìn của chàng.

        Rạng lên tiếng phá tan sự im lặng:

  • Thế là Trực quyết định lấy vợ. Cũng đương sự đó phải không?

Trâm chưa kịp trả lời, bỗng có tiếng gõ cửa. Rạng đến bên cửa sổ nhìn và

nhận ra một chiếc xe jeep nhà binh đổ trước nhà. Bên thềm chàng nhận ra dáng thấp bé của Cảnh, viên sĩ quan phụ trách kế hoạch hành quân. Rạng mở cửa bước hẳn ra đứng dưới mái hiên, bên cạnh Cảnh. Cảnh bảo nhỏ:

  • Về thôi. Lệnh khẩn cấp đêm nay lên đường. Kế hoạch trực thăng vận hủy bỏ.

Rạng thấy tim mình đập nhanh lên một tí, nhưng không hẳn một sự buốt nhói.

Chàng chẳng còn lạ với cái màn chợt đến chợt đi của kiếp sống quân ngũ thời chiến. Chỉ vì Rạng vừa nghĩ đến Trâm. Chắc nàng sẽ nhớ mãi đêm “mưa gió xa muôn trùng” này. Nhớ hay tiếc nhớ? Thôi đừng tiếc nghe Trâm, để cho đêm nay trở thành một hoài niệm đẹp về sau. Ý nghĩ ngủ lại đêm trong căn nhà chỉ có chàng và Trâm làm chàng lo sợ vẩn vơ, sợ biên giới mờ ảo trong lòng mình rồi sẽ mất…

Thôi thế càng hay. Nhưng Rạng bỗng nghe lòng mình thầm hứa sẽ quay lại.

        Từ sở làm ra Rạng lái xe đến thẳng nhà vợ chồng Tùng, người bạn chàng quen biết mấy năm nay, từ lúc “thiên đô” về vùng New England buốt giá này. “Bọn tớ vừa nhận được một bức thư từ Việt Nam, trong đó có một câu thật bất ngờ nhắn gửi cậu. Không thể đọc qua phone, cũng không tiện mang đến nhà cho cậu xem. Cậu ghé lại tớ đi… đàn ông hay đàn bà thì cậu sẽ biết, không muốn tiết lộ sớm!”

        Suốt buổi tối hôm qua, rồi cả ngày hôm nay ở sở làm Rạng không ngớt nghĩ đến lời của Tùng. Có thật có một thư như thế hay tên Tùng này lại lừa mình đến để uống vài chai bia với hắn, như có lần hắn đã làm hồi năm ngoái. Nhưng Rạng có linh cảm lần này Tùng nói thật. Rạng moi ký ức nhưng đành chịu, không tìm nỗi một liên tưởng hợp lý. Chàng nghĩ đến nội dung điển hình của những bức thư từ Việt Nam: những lời cầu cứu, những bức thư kể chuyện chạy gạo kiếm cơm. Trong một xứ sở với những thực tại kinh tế bi đát, và một nền cai trị hà khắc, độc đoán, ai còn lòng dạ viết thư khơi lại những kỷ niệm xưa, những ân tình cũ, nếu không một ẩn ý đánh thức chút tình cảm còn sót lại ở những thân nhân, bạn bè giờ đây đang no đủ ở ngoài nước. Có thể một lời nhắn gửi như thế lắm.

        Vừa trông thấy Rạng vợ Tùng tươi cười nói:

  • Anh Rạng ngồi xuống đây, bình tỉnh lại nhé!

Tùng cầm tờ thư bằng giấy mỏng, loại giấy ở Việt Nam người ta vẫn dùng để

viết thư, chi chit chữ nhỏ li ti viết tràn ra cả ngoài lề, đưa cho Rạng:

  • Cái câu liên quan tới cậu tớ gạch đít bằng bút đỏ. Nhưng cậu có thể đọc hết bức thư.

        Rạng dán mắt ngay vào hàng chữ có gạch đỏ. Chỉ vỏn vẹn một câu, không dài, không ngắn, thật đầy đủ, và cũng thật…khó tả! Nó sắc như nhát dao bổ đôi ý thức Rạng. Trâm! Có thế mà Rạng đã không nghĩ ra. Vâng, chàng chỉ không nghĩ ra, chứ không thể quên nàng. Làm sao có thể nghĩ đến được, vì đời sống là một chuỗi những tình cờ. Tình cờ chàng quen biết vợ chồng Tùng. Và Trâm là tình cờ như thế nào với hai người này? Rạng tò mò đọc hết bức thư từ đầu đến cuối để cuối cùng phải hỏi Mai, vợ Tùng, về liên hệ họ hàng với Trâm. Mai và Trâm là đôi chị em con dì. Rạng đọc lại những chữ gạch đỏ một lần nữa trước khi trả tờ thư lại cho vợ chồng Tùng. “Cho em gửi lời thăm anh Rạng và nhắn với ảnh rằng người đi theo mưa gió xa muôn trùng bao giờ mới về thăm lại Việt Nam.

        Mai hỏi một câu thăm dò:

  • Chắc hai người có nhiều kỷ niệm đặc biệt với nhau lắm thì phải?

        Rạng mỉm cười, lòng phân vân, tự hỏi có nên kể lại cái điển tích “mưa gió xa muôn trùng” của một đêm năm xưa không. Chàng chẳng thấy hứng thú khơi lại chút tro tàn dĩ vãng của mình và Trâm. Rạng nghĩ có lẽ một ai đó đã đúng khi nói rằng đàn bà thường chắc chiu kỷ niệm mà đàn ông thì không thích sống với kỷ niệm nhiều. Rạng chậm rãi nói:

  • Không có kỷ niệm gì đặc biệt cả, chị ơi. Cô ấy nhắc lại câu ca trong bản “Bến Xuân” của Văn Cao để trêu tôi đấy. Số là hồi đó tôi hay đến nhà chơi với Trực, và Trâm biết tôi rất thích câu hát đó, thế thôi.

Dù không chắc chiu cái kỷ niệm năm xưa như Trâm, dù ký ức mình chẳng

mấy khi khơi lại nó trong gần hai mươi năm nay, dù bây giờ bên cạnh mình đã có hẳn một người đàn bà và bốn nhóc con nhi nhô, và dù cuộc sống xứ này như bánh xe lăn quay không cho chàng ngừng nghỉ, Rạng phải nhận rằng lời thư của Trâm đã len vào tâm tư chàng qua một ngõ ngách khác. Trâm không chỉ là một kỷ niệm.

        Đêm từ giã Trâm ra đi, Rạng đã theo đơn vị di chuyển về hướng Cần Thơ. Cả

tiều đoàn không ai biết mục đích chuyển quân, chỉ làm theo lệnh trên. Trưa hôm sau, khi còn cách phi trường Trà Nóc ba cây số, Rạng và tất cả đồng đội sửng sốt nghe lệnh đầu hàng phát đi từ Sài Gòn! Tại sao? Miền Tây mênh mông không hề nhận một dấu hiệu nào của chiến trận khốc liệt, đơn vị chàng còn nguyên vẹn, cả một quân đoàn còn nguyên vẹn, và bao nhiêu quân đoàn khác nữa… Tại sao? Mọi người lặng thinh, trầm ngâm. Rạng nhìn lại những năm tháng miệt mài phong sương, nghĩ đến những đồng đội đã gục ngã. Đơn vị trưởng di họp về cho hay mọi người có thể tự do về nhà hay theo đến điểm hẹn để được tàu đón rời Việt Nam. Rạng đã thấy những giọt nước mắt long lanh trên nhiều khuông mặt. Dĩ nhiên Rạng chấp nhận ra đi. Từng khuông mặt của người thân hiện về trong trí chàng. Rạng sắp bỏ lại tất cả. Bỗng khuông mặt Trâm hiện ra rõ nét nhất và bao trùm cả không gian! Nàng sẽ ở lại hay cũng ra đi? Làm sao Trâm có thể có phương tiện. Hay là mình chạy về rủ Trâm cùng đi? Không được, trễ rồi! Bây giờ Rạng còn nhớ rõ lúc đứng trên tàu nhìn trời nước mênh mông chàng đã nghĩ đến Trâm nhiều hơn nghĩ về người thân của mình. Chàng không nhớ mình đang đi xa Việt Nam, mà chỉ thấy mình thực sự xa Trâm. Hình ảnh Trâm bị bỏ lại xa dần, nhòa dần sau muôn trùng sóng. Và bây giờ Rạng còn nhớ rõ trên con tàu vượt trùng dương buồn bã năm ấy mình đã quay nhìn Việt Nam thầm nói, “Trâm ơi, giờ đây xa bến bờ anh mới thực sự đi theo mưa gió xa muôn trùng…

                                                                                                          Hà Kỳ Lam